1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố tác động đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam

130 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài yếu tố chính trên, vẫn còn một số yếu tố tồn tại và tác động trực tiếp đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp phải kể đến như vấn đề sở hữu nhà nước, yếu tố đòn bẩy tài chính, cường

Trang 1

NGUYỄN DIỄM THI

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TRÁNH THUẾ THU

NHẬP DOANH NGHIỆP:

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN DIỄM THI

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TRÁNH THUẾ

THU NHẬP DOANH NGHIỆP:

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ QUANG CƯỜNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Tác động của tỷ lệ sở hữu nước

ngoài đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý

thuyết và thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Quang Cường

Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của đề tài này

Tp.HCM, ngày… tháng……năm 2018

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU LUẬN VĂN 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Phạm vi thu thập dữ liệu và đối tượng nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Kết cấu của luận văn 4

1.7 Ý nghĩa luận văn 5

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 Tránh thuế 6

2.1.1 Khái niệm 6

2.1.2 Lợi ích và chi phí thực tiễn của việc tránh thuế 6

2.2 Lý thuyết về các yếu tố tác động đến tránh thuế TNDN 9

2.2.1 Các học thuyết liên quan về tỷ lệ sở hữu của doanh nghiệp và tránh thuế TNDN 10

2.2.1.1 Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory)………10

Trang 5

2.2.1.2 Học thuyết giá trị các bên liên quan (Stakeholder value theory)………11

2.2.2 Đòn bẩy 13

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 13

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 19

3.1 Dữ liệu 19

3.2 Mô hình nghiên cứu 20

3.2.1 Mô hình hồi quy cơ bản 20

3.2.2 Biến phụ thuộc 21

3.2.3 Biến độc lập 22

3.3 Phương pháp phân tích 26

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Thống kê mô tả 30

4.2 Phân tích bằng đồ thị 32

4.3 Hồi quy system GMM theo cta1 38

4.3.1 Hiện tượng phương sai thay đổi 38

4.3.2 Hiện tượng tự tương quan 40

4.3.3 Kết quả ước lượng mô hình system GMM 41

4.3.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình theo cta1 42

4.4 Hồi quy theo cta2 42

4.4.1 Hiện tượng phương sai thay đổi 43

4.4.2 Hiện tượng tự tương quan 44

4.4.3 Kết quả ước lượng mô hình system GMM 45

Trang 6

4.4.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình theo cta2 46

4.5 Hồi quy theo cta3 47

4.5.1 Hiện tượng phương sai thay đổi 47

4.5.2 Hiện tượng tự tương quan 49

4.5.3 Kết quả ước lượng mô hình system GMM 49

4.5.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình theo cta3 50

4.6 Hồi quy với cta4 51

4.6.1 Hiện tượng phương sai thay đổi 51

4.6.2 Hiện tượng tự tương quan 53

4.6.1 Kết quả ước lượng mô hình system GMM 53

4.6.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình theo cta4 54

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Đề xuất và kiến nghị 61

5.3 Đóng góp của nghiên cứu 63

5.4 Hạn chế của nghiên cứu 64

5.5 Hướng phát triển nghiên cứu 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Tên viết tắt Tên gọi đầy đủ

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

NSNN Ngân sách nhà nước

OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất

FEM Fix effect model - Mô hình ảnh hưởng cố định

REM Randam effect model -Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên GMM General Method of Moments – Mô hình dữ liệu bảng

động tuyến tính

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Dữ liệu thu thập 19

Bảng 3.2 Bảng kì vọng dấu của các biến 24

Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả các biến định lượng trong mẫu dữ liệu 30

Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 35

Bảng 4.3 Kiểm tra đa cộng tuyến của các biến bằng VIF theo CTA1 37

Bảng 4.4 Kiểm tra đa cộng tuyến của các biến bằng VIF theo CTA2 37

Bảng 4.5 Kiểm tra đa cộng tuyến của các biến bằng VIF theo CTA3 37

Bảng 4.6 Kiểm tra đa cộng tuyến của các biến bằng VIF theo CTA4 38

Bảng 4.7 Kiểm định Breusch-Pagan / Cook-Weisberg về phương sai thay đổi theo cta1 39

Bảng 4.8 Kiểm định Wald về phương sai thay đổi theo cta1 39

Bảng 4.9 Kiểm định Breusch and Pagan (kiểm định nhân tử Lagrange) theo cta1 40

Bảng 4.10 Kiểm định Wooldridge về tự tương quan trong dữ liệu bảng theo cta1 40

Bảng 4.11 Kết quả hồi quy trong mô hình system GMM theo cta1 41

Bảng 4.12 Kiểm định Breusch-Pagan / Cook-Weisberg về phương sai thay đổi theo cta2 43

Bảng 4.13 Kiểm định Wald về phương sai thay đổi theo cta2 43

Bảng 4.14 Kiểm định Breusch and Pagan (kiểm định nhân tử Lagrange) theo cta2 44

Bảng 4.15 Kiểm định Wooldridge về tự tương quan trong dữ liệu bảng theo cta2 45

Bảng 4.16 Kết quả hồi quy theo cta2 45

Bảng 4.17 Kiểm định Breusch-Pagan / Cook-Weisberg về phương sai thay đổi theo cta3 47

Bảng 4.18 Kiểm định Wald về phương sai thay đổi theo cta3 48

Bảng 4.19 Kiểm định Breusch and Pagan (kiểm định nhân tử Lagrange) theo cta3 48

Bảng 4.20 Kiểm định Wooldridge về tự tương quan trong dữ liệu bảng theo cta3 49

Trang 9

Bảng 4.21 Kết quả hồi quy theo cta3 49

Bảng 4.22 Kiểm định Breusch-Pagan / Cook-Weisberg về phương sai thay đổi theo cta4 51

Bảng 4.23 Kiểm định Wald về phương sai thay đổi theo cta4 52

Bảng 4.24 Kiểm định Breusch and Pagan (kiểm định nhân tử Lagrange) theo cta4 52

Bảng 4.25 Kiểm định Wooldridge về tự tương quan trong dữ liệu bảng theo cta4 53

Bảng 4.26 Kết quả hồi quy theo cta4 53

Bảng 4.27 Tổng hợp kết quả hồi quy 55

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 4-1 CTA2 và fo1 33

Hình 4-2 CTA1 và fo1 33

Hình 4-3 CTA3 và fo1 33

Hình 4-4 CTA4 và fo1 33

Hình 4-5 CTA1 và fo2 34

Hình 4-6 CTA2 và fo2 34

Hình 4-7 CTA3 và fo2 34

Hình 4-8 CTA4 và fo2 34

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU LUẬN VĂN 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là khoản thu phát sinh từ hoạt động kinh doanh và các khoản thu nhập khác Hiện nay, bên cạnh vai trò là đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước, phân phối thu nhập thì thuế TNDN còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thu hút và thúc đẩy đầu tư ở Việt Nam

Bằng nhiều cải cách trong chính sách thuế trong những năm qua, nguồn thu ngân sách đã tăng lên đáng kể Năm 2012, tổng thu thuế của Việt Nam đạt 638.000 tỷ đồng, gấp gần 3,3 lần so với số thu thuế năm 2005 Mức tăng trưởng thu thuế phù hợp với mức tăng trưởng GDP, vì vậy tỷ lệ động viên từ thuế trên GDP trong 10 năm qua khá

ổn định, ở mức 23% - 24% tổng GDP Riêng trong năm 2013, tổng thu NSNN của cả nước đạt hơn 816800 tỷ đồng, bằng 101 % dự toán năm, tăng xấp xỉ gần 10% so với cùng kỳ năm 2012 (Tạp chí tài chính ngày 30/06/2014) Với những điều kiện tự nhiên thuận lợi và gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từng bước hội nhập khu vực và thế giới (Văn kiện Đại hội XII)

Vì vậy, Việt Nam đã trở thành một quốc gia thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài trên nhiều lĩnh vực Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng, trở thành một trong những động lực tăng trưởng kinh tế đất nước và tăng số thu thuế cho NSNN Theo báo cáo từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư), cả nước có 4.551 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp gần 5,28

tỷ USD từ đầu năm 2018 đến nay, tăng 50,9% so với năm 2017 Việc nhận được đầu tư

từ các nhà đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, phát triển công nghệ, nâng cao chất lượng lao động, giải quyết tình trạng việc làm và gia tăng thu nhập cho người dân

Trang 12

Tuy có nhiều đóng góp to lớn, song nó cũng mang lại nhiều tác động tiêu cực như chất lượng môi trường giảm sút, cạnh tranh không lành mạnh, dễ xảy ra các hiện tượng chuyển giá, rủi ro về thuế thu nhập doanh nghiệp do chi phí đại diện hoặc thông qua việc lợi dụng những khoảng trống hoặc sơ hở trong luật thuế để giảm thiểu số thuế thu nhập doanh nghiệp đáng kể Thông thường, với uy tín và thương hiệu của mình, các công ty đa quốc gia thường được cho là xây dựng hình ảnh tuân thủ các quy định, pháp luật quốc tế và có trách nhiệm xã hội trong mắt người tiêu dùng Đó là tiền đề cốt lõi cho sự phát triển bền vững sau này Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hiểu là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà nước, cộng đồng và môi trường của nước đầu tư Những năm gần đây, vấn đề này càng trở nên bức thiết ở Việt Nam, đặc biệt là các hành vi trốn thuế, tránh thuế nhằm làm giảm số thuế phải nộp, thể hiện sự thiếu trách nhiệm xã hội của các công ty đa quốc gia này đến các quốc gia đầu tư Do đó, đối với một tổ chức hoạt động hợp pháp, điều cần thiết là phải thực hiện trách nhiệm xã hội của mình đối với cộng đồng bằng cách tuân thủ các quy định về thuế (Preuss, 2010; Williams, 2007)

Ngoài yếu tố chính trên, vẫn còn một số yếu tố tồn tại và tác động trực tiếp đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp phải kể đến như vấn đề sở hữu nhà nước, yếu tố đòn bẩy tài chính, cường độ vốn,… Thực tế cho thấy một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động yếu kém, làm ăn thua lỗ, tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu thấp hơn chi phí vay vốn trung bình của các tổ chức tín dụng, tỷ lệ nợ phải trả/tổng tài sản cao Tại một số doanh nghiệp nhà nước còn xảy ra tình trạng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, làm thất thoát tài sản nhà nước Từ đó, để có cái nhìn chính xác hơn về bối cảnh của Việt Nam

hiện tại, tác giả tiến hành nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến tránh thuế thu nhập

doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” để kiểm tra xem các yếu tố

nào tác động đến tránh thuế TNDN và tác động như thế nào ở các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 13

Bằng cách tiến hành phương pháp hồi quy GMM hệ thống trên dữ liệu bảng, căn

cứ độ lớn và ý nghĩa của các hệ số hồi quy trong nghiên cứu, tác giả tìm thấy mức độ tác động của các yếu tố đến việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp ở các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu này đóng góp vào việc xác định các yếu tố nào có ảnh hưởng đến việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp và ảnh hưởng như thế nào ở các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam Bài nghiên cứu này sử dụng bốn phép đo lường liên quan đến tránh thuế (được đề cập trong nghiên cứu của Ibrahim Aramide Salihu, Hairul Azlan Annuar, Siti Normala Sheikh Obid, 2015) để cụ thể hóa việc đo lường tránh thuế thu nhập doanh nghiệp

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm chỉ ra các yếu tố có ảnh hưởng đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ rút ra những kết luận, hạn chế chính sách và từ đó đề xuất một số quy định chính sách thuế liên quan đến các doanh nghiệp

để góp phần thu hút vốn đầu tư hiệu quả và tránh tình trạng thất thu thuế cho ngân sách nhà nước

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Các yếu tố nào có tác động đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam? Các yếu tố này tác động như thế nào đến việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp

ở Việt Nam?

1.4 Phạm vi thu thập dữ liệu và đối tƣợng nghiên cứu

Phạm vi thu thập dữ liệu: Dữ liệu về tỷ lệ sở hữu nước ngoài của 353 doanh nghiệp niêm yết được thu thập từ các báo cáo của doanh nghiệp trong giai đoạn 10 năm

từ năm 2008 - 2017

Trang 14

Các doanh nghiệp này phải thỏa điều kiện có quy mô lớn ở Việt Nam, có sở hữu nước ngoài trong cơ cấu vốn được niêm yết trên 2 sở giao dịch chứng khoán HOSE và HNX Các doanh nghiệp được chọn sẽ thuộc nhiều lĩnh vực, với nhiều mức tỷ lệ sở hữu nước ngoài khác nhau Dữ liệu về các doanh nghiệp này sẽ được thu thập từ trang web http://finance.vietstock.vn

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Bài viết tiến hành nghiên cứu định lượng phân tích các yếu tố tác động đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam Theo đó, tác giả sử dụng phương pháp GMM cho mô hình hồi quy bảng động để tìm ra các yếu tố tác động đến hành vi tránh thuế TNDN ở các doanh nghiệp Việt Nam được khảo sát

Biến phụ thuộc: Tránh thuế thu nhập doanh nghiệp được đại diện bằng tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận trước thuế

1.6 Kết cấu của luận văn

Để đảm bảo những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tác giả quyết định sử dụng kết cấu

5 chương cho nghiên cứu của mình Theo đó, nội dung của nghiên cứu sẽ được triển khai như sau:

Chương 1: Giới thiệu luận văn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Mô hình nghiên cứu

Trang 15

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận

1.7 Ý nghĩa luận văn:

- Về mặt lý luận: Nghiên cứu góp phần củng cố cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam

- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mức

độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam Từ đó, tác giả đưa ra những khuyến nghị về chính sách

để đạt hiệu quả cao nhất trong việc thu hút vốn đầu tư

Trang 16

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tránh thuế:

2.1.1 Khái niệm

Tránh thuế là thuật ngữ ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới Các định nghĩa

về tránh thuế đã được công bố bởi nhiều nhà nghiên cứu như Dyremg, Hanlon và Maydew (2008) và Hanlon và Heitzman (2010), Salihu, Sheikh Obid và Annuar (2013); Salihu (2014) Theo đó, tránh thuế là việc sử dụng các công cụ pháp lý để trả

số thuế ít nhất có thể Điều này cần được phân biệt với trốn thuế, đó là việc sử dụng các phương pháp bất hợp pháp để tránh việc chi trả các khoản thuế cho chính phủ

Việc đo lường yếu tố tránh thuế này đã được thực hiện bởi các nghiên cứu của Grantley Taylor, Grant Richardso (2012), Hairul Azlan Annuar, Ibrahim Aramide Salihu, Siti Normala Sheikh Obid (2014), David A Guenther (2014) Theo đó, một số biện pháp đo lường việc tránh thuế TNDN có thể kể đến phương pháp sử dụng thuế suất hiệu dụng ETR (được hiểu là tỷ lệ thuế TNDN chia cho thu nhập chịu thuế hoặc lợi nhuận) Theo đó, ETR bao gồm ETR kế toán, ETR tiền mặt dài hạn Ngoài ra, một

số nghiên cứu còn sử dụng biện pháp xem xét lỗ hổng thuế (book tax gap)

2.1.2 Lợi ích và chi phí thực tiễn của việc tránh thuế

Lợi ích rõ ràng nhất của việc tránh thuế là tiền tiết kiệm từ các khoản thuế tránh được Việc tiết kiệm tiền mặt dẫn đến dòng tiền gia tăng tạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội đầu tư hơn nữa và dẫn đến làm tăng giá trị của công ty Sự giàu có của các cổ đông cũng tăng lên vì họ nhận được cổ tức nhiều hơn và giá trị cổ phiếu tăng lên Các nhà quản lý cũng được hưởng lợi từ việc này do họ được trả thù lao cho việc quản lý thuế hiệu quả Trên thực tế, thù lao của người quản lý là yếu tố quyết định hành vi tránh thuế trong hầu hết các trường hợp

Như vậy, một số nghiên cứu đã ghi lại mối liên hệ giữa tránh thuế và các ưu đãi của nhà quản lý từ các quan điểm khác nhau Ví dụ, Phillips (2003) nhận thấy rằng thù

Trang 17

lao của các nhà quản lý dựa trên kết quả lợi nhuận sau thuế có liên quan đến thuế suất hiệu dụng thấp hơn (ETR) Tương tự, Slemrod (2004) đã phát triển một mô hình cho mối liên hệ giữa tránh thuế và thù lao cho người quản lý Mô hình tương tự cũng đã được thực hiện bởi Desai và Dharmapala (2006), dựa trên mối liên hệ giữa các ưu đãi

về vốn chủ sở hữu và tránh thuế Cả hai mô hình trên đều dẫn đến kết quả có một mối liên hệ giữa tránh thuế và thù lao của người quản lý Sử dụng cách tiếp cận khác, Frank, Lynch và Rego (2009) đã tìm thấy một mối quan hệ giữa quản lý thu nhập và tránh thuế Điều này cho thấy rằng các nhà quản lý đang được trả thù lao cho việc lập

kế hoạch thuế hiệu quả Nghiên cứu của Rego và Wilson (2010) đã ghi nhận mối quan

hệ tích cực giữa việc lập kế hoạch thuế và lựa chọn của các nhà quản lý

Các nghiên cứu này đều cho thấy rằng các nhà quản lý được trả thù lao xứng đáng cho việc hoạch định thuế dựa trên việc tiết kiệm thuế từ các khoản tránh thuế và các chủ sở hữu doanh nghiệp thường rất hài lòng về việc này Tuy nhiên, lập luận cho thấy rằng bản chất của các khoản thù lao trong hợp đồng lao động giữa các chủ sở hữu

và các nhà quản lý chuyên nghiệp dường như không đầy đủ Điều này là do các chủ sở hữu thiếu hiểu biết đầy đủ về hoạt động lập kế hoạch thuế của các nhà quản lý có thể gây bất lợi cho sự tồn tại của công ty (Croker và Slemrod, 2005) Ngoài ra, Chen và Chu (2005) lập luận rằng việc tránh thuế dẫn đến mất kiểm soát nội bộ trong trường hợp các nhà quản lý hành động ích kỷ vì bản chất không đầy đủ của hợp đồng lao động Do đó, có thể nói rằng mặc dù được trả thù lao xứng đáng cho việc quản lý thuế hiệu quả, các nhà quản lý vẫn có thể theo đuổi lợi ích cá nhân của họ thông qua lập kế hoạch thuế

Việc tránh thuế thuế TNDN gây ra mộ số hệ quả nghiêm trọng Ngoài chi phí đại diện của tránh thuế và mất kiểm soát nội bộ nêu trên, vẫn còn tồn tại các chi phí phi thuế khác liên quan đến hoạt động tránh thuế của công ty (Scholes, Wolfson, Erickson, Maydew & Shevlin, 2005) Ngoài chi phí cơ hội được sử dụng để quản lý thuế, một trong những chi phí phi thuế quan trọng nhất là hình phạt có thể được áp dụng bởi cơ

Trang 18

quan thuế (Chen và cộng sự, 2010) Điều này có thể phát sinh sau khi các hoạt động tránh của công ty được phát hiện thông qua việc thanh tra Các khoản thanh toán thuế

bổ sung và tiền phạt do cơ quan thuế áp đặt có thể ảnh hưởng đến dòng tiền có sẵn và danh tiếng của công ty

Rủi ro danh tiếng về tránh thuế có tác động kép đến sự tồn tại của công ty Đầu tiên, tính hợp pháp trong công ty đang được công chúng đặt câu hỏi Công chúng nhìn nhận một công ty hợp pháp và có trách nhiệm xã hội bằng cách đóng góp vào sự phát triển kinh tế của xã hội nơi nó hoạt động (Christensen và Murphy, 2004) Do đó, bất kỳ hành vi tránh thuế nào cũng có thể đe dọa sự tồn tại của công ty (Preuss, 2010) Tuy nhiên, điều này chỉ có thể xảy ra khi công chúng trở nên nhận thức được sự vô trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp này, thông qua các phương tiện truyền thông khi các hoạt động tránh thuế của doanh nghiệp được công bố

Chi phí và lợi ích của việc tránh thuế cho các doanh nghiệp có thể khác nhau tùy thuộc vào bản chất của cơ cấu sở hữu Điều này được giải thích trong các lập luận của Shackelford và Shevlin (2001) Họ cho rằng cơ cấu sở hữu là một yếu tố quyết định tiềm ẩn của việc tránh thuế Lý do khác là việc quyền sở hữu doanh nghiệp là “vấn đề cốt lõi trong quản trị doanh nghiệp” (Hua & Zin, 2007) và xác định bản chất của các vấn đề phát sinh trong môi trường doanh nghiệp

Tóm lại, tuy tránh thuế mang lại lợi ích cho công ty và cổ đông dưới hình thức tiết kiệm thuế, các chi phí phi thuế tiềm năng phát sinh liên quan đến việc tránh thuế cũng có thể lớn tùy thuộc vào cấu trúc quyền sở hữu và kiểm soát của công ty Các chi phí phi thuế này bao gồm mất hiệu quả trong kiểm soát nội bộ, chi phí đại diện, hình phạt tiềm năng, giảm giá trị tiềm năng của doanh nghiệp và thiệt hại về tính hợp pháp của tổ chức

Chi trả thuế là một trong những phương tiện quan trọng mà một công ty hoàn thành trách nhiệm công dân của mình đối với xã hội nơi nó hoạt động (Preuss, 2010; Williams, 2007a) Điều này xuất phát từ hợp đồng xã hội rõ ràng giữa công ty và xã

Trang 19

hội nói chung Do đó, các nhà nghiên cứu thuế gần đây đã lập luận cho việc xem xét các vấn đề liên quan đến thuế trong các chiến lược trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Avi-Yonah, 2008; Desai và Dharmapala, 2006; Freedman, 2003) Trong thực

tế, Christensen và Murphy (2004) lập luận rằng bất kỳ hành động tránh thuế nào cũng dẫn đến vô trách nhiệm xã hội

Ngoài ra, Huseynov, Klamm (2012) và Lanis và Richardson (2011, 2012) đề xuất xem xét cơ quan thuế là một bên liên quan của công ty Họ cho rằng cơ quan thuế hành động thay mặt chính phủ, đại diện cho công chúng Hơn nữa, việc thu thuế của cơ quan thuế có nghĩa là tăng phúc lợi của cộng đồng nói chung và không vì lợi ích duy nhất của cơ quan thuế Landolf (2006) thì mô tả việc tránh thuế “là tội ác chống lại quốc gia” thay vì chỉ chống lại các cơ quan thuế Trong điều hành doanh nghiệp, thành viên hội đồng quản trị và người điều hành công ty là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của công ty Nếu mục đích duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi ích của cổ đông, nghĩa vụ của các thành viên hội đồng quản trị sẽ là tối đa hóa lợi ích của

cổ đông trong đó có nghĩa vụ nâng cao giá trị cổ phiếu của công ty Ngược lại, nếu mục đích của công ty là mang lại lợi ích cho tất cả các bên có liên quan thì khi đưa ra các quyết định, doanh nghiệp cần quan tâm đến lợi ích của các bên có liên quan, bao gồm cả việc chi trả thuế TNDN cho NSNN

2.2 Lý thuyết về các yếu tố tác động đến tránh thuế TNDN

Có nhiều yếu tố tác động đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp Trong thực tế, ngoài các yếu tố trực tiếp tác động đến việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp như lợi nhuận, quy mô doanh nghiệp, cường độ vốn (liên quan đến chi phí khấu hao nhanh căn

cứ vào vòng đời tài sản), theo một số nghiên cứu của Ibrahim Aramide Salihu, Hairul Azlan Annuar, Siti Normala Sheikh Obid (2015) hoặc Grantley Taylor, Grant Richardson, tồn tại các yếu tố quan trọng khác tác động đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm tỷ lệ sở hữu nước ngoài, yếu tố chính trị (tỷ lệ sở hữu nhà nước) và đòn bẩy

Trang 20

2.2.1 Các học thuyết liên quan về tỷ lệ sở hữu của doanh nghiệp và tránh thuế TNDN

Các học thuyết chủ yếu đề cập đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao

gồm Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory) và Học thuyết giá trị các bên liên

quan (Stakeholder value theory)

2.2.1.1 Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory)

Lý thuyết hợp pháp được bắt nguồn trong nghiên cứu về tính hợp pháp trong chính trị của nhà kinh tế và xã hội học người Đức Max Weber (1922) “Các khái niệm

xã hội học” (Concepts in Sociology) Vào năm 1975, Dowling and Pfeffer đã nghiên cứu và phát triển các khái niệm liên quan đến tính hợp pháp của tổ chức và là tiền đề

để phát triển lý thuyết hợp pháp Theo đó, lý thuyết hợp pháp cho rằng, các tổ chức hoạt động phải đảm bảo tuân theo các giá trị hay các chuẩn mực xã hội mà tổ chức đó hoạt động Trường hợp các doanh nghiệp không tuân thủ các giá trị hay chuẩn mực xã hội này có thể dẫn tới việc gây ra những khó khăn cho tổ chức đó trong việc đạt được

sự ủng hộ của cộng đồng và xã hội để tiếp tục hoạt động Hợp đồng xã hội (Social contract) được hiểu là những mong muốn của xã hội với tổ chức, có thể mong muốn này là rõ ràng hoặc ngầm định được thiết lập giữa tổ chức và xã hội Doanh nghiệp tuân thủ các điều khoản của hợp đồng xã hội, tuân thủ pháp luật trong hoạt động kinh doanh sẽ nhận được tín nhiệm của xã hội và cộng đồng, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Những mong muốn của xã hội luôn thay đổi liên tục theo từng thời kỳ nên hợp đồng xã hội thì không bất biến, và vì thế, doanh nghiệp cần thường xuyên cập nhật kịp thời những thay đổi để đảm bảo hoạt động hợp pháp Nhằm tạo ra sự minh bạch liên quan đến các vấn đề, doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin qua hệ thống báo cáo trách nhiệm xã hội Lý thuyết hợp pháp này được các nhà nghiên cứu (đặc biệt là Deegan) sử dụng rất sớm để giải thích cho việc thực hành các báo cáo trách nhiệm xã hội (trong đó có báo cáo môi trường) Ngoài ra, lý thuyết này cũng được sử dụng để giải thích cho nhóm nhân tố nhận thức của nhà quản trị (đặc biệt

Trang 21

là nhà quản trị cấp cao) ảnh hưởng tới việc công bố thông tin của doanh nghiệp Nhận thức của nhà quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sự thay đổi nhằm đáp ứng cho tính hợp pháp và mong muốn của xã hội trong doanh nghiệp

2.2.1.2 Học thuyết giá trị các bên liên quan (Stakeholder value theory)

Lý thuyết các bên liên quan được khởi đầu trong nghiên cứu của Freeman (1984) Strategic Management: A Stakeholder Approach, đây là lý thuyết về quản trị tổ chức và đạo đức kinh doanh Học thuyết này đề cập tới vấn đề đạo đức và các giá trị trong quản trị tổ chức Trong lý thuyết này, khái niệm "các bên liên quan" là bất kỳ cá nhân hay nhóm người bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi những hành động của

tổ chức Theo lý thuyết các bên liên quan, quá trình hoạt động của doanh nghiệp ngoài các cổ đông còn có các đối tượng khác có liên quan đến quá trình hoạt động bao gồm

cơ quan chính phủ, các nhóm chính trị, các hiệp hội thương mại, công đoàn, cộng đồng, các công ty liên quan, khách hàng tiềm năng, và công chúng

Nhìn nhận từ quan điểm đạo đức, các tổ chức có nghĩa vụ phải đối xử công bằng giữa các bên liên quan Trong trường hợp, các bên liên quan xung đột lợi ích, doanh nghiệp là thành phần phải có nghĩa vụ đạt được các thỏa thuận nhằm tạo ra sự cân bằng tối ưu giữa chúng

Từ quan điểm quản trị, các nhà quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu các bên liên quan để đạt được mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải liên tục điều chỉnh các chiến lược điều hành phát triển và công bố thông tin để đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan vì kỳ vọng của các bên liên quan thay đổi theo thời gian Các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển, đưa đến những tác động trực tiếp và gián tiếp đến các bên liên quan, bao gồm thuế và môi trường, nên các quy định pháp luật về thuế và môi trường từ cơ quan pháp luật ngày càng khắt khe với doanh nghiệp Do đó, để đạt được lợi ích của mình, các bên liên quan luôn mong đợi doanh nghiệp có những ứng xử phù hợp với trách nhiệm xã hội để đạt được sự đồng thuận trong xã hội qua đó giúp họ đạt được các

Trang 22

lợi ích kinh tế khác Các bên có liên quan cũng sẽ đánh giá việc thực hiện trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp, thông qua các thông tin mà doanh nghiệp công bố Cũng theo học thuyết này, khi tiến hành ra quyết định, công ty cần trung hòa lợi ích của các bên liên quan như lợi ích người lao động, chủ nợ, nhà nước và các bên liên quan khác Như vậy, học thuyết giá trị các bên liên quan cho thấy việc không một bên nào có đóng góp cho sự thành công của công ty bị gạt ra ngoài quá trình ra quyết định

Những ưu điểm của học thuyết giá trị các bên liên quan:

Thứ nhất, học thuyết giá trị các bên liên quan phản ánh xu thế mới của xã hội hiện đại trong đó các công ty hiện đại phụ thuộc nhiều hơn vào trách nhiệm xã hội mà

nó thực hiện vì con người hiện nay quan tâm đến xã hội nhiều hơn

Thứ hai, học thuyết giá trị các bên liên quan đề cao và thúc đẩy các chiến lược phát triển dài hạn thông qua việc xem xét đến những vấn đề có khả năng tác động đến thành công trong dài hạn của công ty

Ngoài những ưu điểm nêu trên, học thuyết giá trị các bên liên quan cũng có những nhược điểm sau:

Một là, theo học thuyết này thì người quản lý, điều hành công ty phải cân bằng rất nhiều lợi ích của các bên liên quan, do đó trong nhiều trường hợp là vượt quá khả năng kiểm soát của họ Điều quan trọng và khó khăn là khi lợi ích của các bên liên quan lại thường xung đột với nhau Ví dụ, khi lợi nhuận giảm sút thì một trong các biện pháp quan trọng là cắt giảm chi phí, trong đó có chi phí lao động Trong trường hợp này, lợi ích của người lao động và cổ đông công ty rõ ràng là xung đột trực tiếp với nhau Việc cân bằng được lợi ích các bên liên quan trong doanh nghiệp là một nhiệm

vụ hết sức khó khăn và nhiều thử thách đối với người quản lý

Hai là, việc quy định người quản lý, điều hành công ty phải xem xét đến lợi ích của các bên liên quan sẽ dẫn đến kết quả là họ sẽ không bao giờ vi phạm nghĩa vụ Khi

cổ đông cho rằng, quyết định của Hội đồng quản trị không vì lợi ích của mình thì Hội đồng quản trị sẽ cho rằng, họ ra quyết định vì lợi ích của người lao động và ngược lại

Trang 23

Kết quả, quyết định được đưa ra không có khả năng bị cưỡng chế và do đó nó không có giá trị

2.2.2 Đòn bẩy

Một vấn đề chung về thuế thu nhập doanh nghiệp là vốn của công ty được góp bởi cổ đông và vốn từ các trái chủ trong các hình thức vay vốn Đòn bẩy tài chính là khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu Đối với vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên vốn là một phần của lợi nhuận doanh nghiệp và bị đánh thuế Trong trường hợp đi vay, trái chủ nhận được khoản thanh toán lãi suất, trong trường hợp này, nó được coi là chi phí được trừ để tính thu nhập chịu thuế của các công ty Các công ty có tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao hơn hiệu quả hơn trong việc giảm thiểu thuế doanh nghiệp Trong một bối cảnh hội nhập quốc tế, vấn đề này trở nên trầm trọng hơn, bởi vì các khoản vay từ các trái chủ nước ngoài có thể dẫn đến tình huống trong đó lợi nhuận trên vốn được miễn thuế một cách hợp pháp từ ở nước nhận đầu tư (Thiess Buettner, Michael Overesch, Ulrich Schreiber, Georg Wamser, 2012)

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

Một số nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế TNDN Các nghiên cứu này đã tiến hành kiểm tra một số yếu tố như quy mô doanh nghiệp và quy mô hoạt động quốc tế (Rego, 2003; Richardson và Lanis, 2007; Zimmerman, 1983), cường độ vốn, đòn bẩy (Noor, Mastuki và Bardai, 2008; Richardson và Lanis, 2007; Stickney và McGee, 1982), vai trò của giám đốc điều hành

và thù lao, hình thức tổ chức hợp pháp (Tedds, 2006) và các yếu tố chính trị (Adhikari, Derashid & Zhang, 2006) để tìm hiểu các yếu tố nào tác động đến gánh nặng thuế trên toàn ngành Tuy nhiên, các nghiên cứu giả định rằng các công ty đưa ra các thông tin là không đầy đủ Do đó, họ cung cấp ít thông tin chi tiết về các yếu tố quyết định tránh

Trang 24

thuế trong bối cảnh doanh nghiệp, nơi có sự tách biệt quyền sở hữu khỏi các vấn đề kiểm soát và tính hợp pháp

Sử dụng thông tin được cung cấp bởi cơ sở dữ liệu Amadeus- chuyên cung cấp bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của các công ty châu Âu tại 34 quốc gia, Huizinga và Nicodeme (2006) đã điều tra mối liên hệ giữa tỷ lệ sở hữu cổ phần của các tổ chức nước ngoài và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các nước châu Âu thông qua phương pháp ước lượng OLS kết hợp một số biện pháp kiểm tra tính vững của mô hình Nghiên cứu cho thấy rằng các quốc gia có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao hơn có mức thuế cao hơn Do đó, một mối quan hệ bổ sung được ghi nhận giữa sở hữu nước ngoài và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

Tương tự, Egger và cộng sự (2010) tìm thấy tỷ lệ tránh thuế cao hơn liên quan đến các nước có thuế suất cao khi tiến hành kiểm tra tác động của quyền sở hữu các doanh nghiệp nước ngoài đối với việc tránh thuế doanh nghiệp ở các nước châu Âu Nghiên cứu sử dụng tập hợp dữ liệu của 507.542 nhà máy sản xuất thuộc sở hữu nước ngoài và trong nước ở châu Âu Sử dụng phương pháp ATT (Average Treatment Effects on the Treated), kết quả cho thấy việc sử dụng các chiến lược chuyển lợi nhuận

ra nước ngoài được ghi nhận là một trong những phương tiện tránh thuế Một nghiên cứu trước đó của Mỹ bởi Kinney và Lawrence (2000) cũng tìm thấy các công ty có quyền sở hữu nước ngoài đáng kể thường tránh thuế Nghiên cứu điều tra ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài đối với cổ phần trên gánh nặng thuế của một số công ty Mỹ Nghiên cứu ghi nhận việc chuyển lợi nhuận được sử dụng như là một phương tiện cho gánh nặng thuế thấp hơn sau khi kiểm soát quản lý thu nhập

Demirguc-Kunt và Huizinza (2001) xem xét mối quan hệ giữa quyền sở hữu nước ngoài và việc tránh thuế TNDN ở một số ngân hàng ở 80 quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1988-1995 Bằng hồi quy pooled OLS, kết quả phân tích cho thấy rằng các ngân hàng liên kết nước ngoài phải trả ít thuế hơn so với các ngân hàng trong nước Các kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy rằng các ngân hàng này sử dụng chiến lược

Trang 25

chuyển dịch lợi nhuận để tránh các khoản chi trả thuế Mặc dù nghiên cứu này công bố tác động của quyền sở hữu nước ngoài đối với việc tránh thuế doanh nghiệp, từ các nền kinh tế của các nước phát triển và đang phát triển, tuy nhiên nó chỉ tập trung vào lĩnh vực ngân hàng Đáng ngạc nhiên là ngành ngân hàng mang tính chất nghiêm ngặt và đặc thù của các quy định pháp lý, việc tránh thuế doanh nghiệp được cho là có liên quan tích cực đến quyền sở hữu nước ngoài Do đó, nó thôi thúc việc tiến hành nghiên cứu ở các lĩnh vực khác của các nền kinh tế các nước

Theo Demirguc-Kunt và Huizinza (2001), nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ giữa lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài và việc tránh thuế doanh nghiệp ở các nước đang phát triển hầu như không tồn tại Ngoài ra, nghiên cứu của Demirguc-Kunt và Huizinza (2001) và các biện pháp được sử dụng để tránh thuế chỉ có thể nắm bắt được một phần của việc tránh thuế

Ibrahim Aramide Salihu, Hairul Azlan Annuar, Siti Normala Sheikh Obid (2015) đã tiến hành nghiên cứu ở Malaysia giai đoạn từ năm 2009-2011 Các dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này đã được thu thập từ các công ty niêm yết trên FTSE Bursa Malaysia Top 100 Index Chỉ số FTSE Bursa Malaysia Top 100 Index là một dấu hiệu của "những công ty có vốn hóa hàng đầu, mà đạt yêu cầu về kích thước, thả nổi và kiểm soát thanh khoản" Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa tỉ lệ sở hữu

cổ phần của các doanh nghiệp FDI đến việc tránh thuế thuế thu nhập doanh nghiệp qua việc sử dụng mô hình hồi quy GMM Kết quả cho thấy một mối liên hệ tích cực có ý nghĩa giữa tỉ lệ sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp tại Malaysia

Slemrod (2001) tuyên bố rằng các công ty đa quốc gia sử dụng một tập hợp các phương pháp lập kế hoạch thuế và định hướng trên toàn cầu để giảm thiểu thuế thu nhập doanh nghiệp Mức thuế suất khu vực khác biệt giữa các vùng lãnh thổ là nguyên nhân dẫn đến một công ty theo đuổi chiến lược tránh thuế Rego (2003) đã đưa ra thực tiễn bằng việc xem xét các kế hoạch thuế của các công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ để

Trang 26

hỗ trợ tuyên bố của Slemrod Nghiên cứu chọn tất cả các quan sát của công ty trong năm từ nguồn dữ liệu Compustat cho giai đoạn 1990 - 1997, với tổng quan sát là 52.125 Vì hoạch định thuế của các tập đoàn nước ngoài có thể khác với hệ thống hoạch định thuế của các tập đoàn Mỹ, nghiên cứu đã xóa các công ty hợp nhất của nước ngoài khỏi mẫu ban đầu (2.249 quan sát), xóa các quan sát có giá trị bằng không (3,885 quan sát) và quan sát thiếu dữ liệu ETR (122 quan sát) Nghiên cứu cũng loại bỏ các ngân hàng, bảo hiểm vì Compustat không cung cấp thu nhập trước thuế trong nước

và nước ngoài của các công ty này (4.631 quan sát) Nghiên cứu đưa ra bằng chứng rằng các công ty đa quốc gia với các hoạt động ngoài nước rộng có thuế suất hiệu dụng dài hạn ETRs trên toàn cầu thấp hơn Rego (2003) lập luận rằng những kết quả này cho thấy quy mô nền kinh tế trong hoạch định thuế Ngoài ra, Mills và Newberry (2004) tìm thấy rằng mức thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

ở Mỹ có xu hướng thay đổi đáng kể khi đầu tư vào các khu vực có ưu đãi về thuế trên toàn thế giới

Dyreng, Hanlon, và Maydew (2008) thấy rằng tùy vào ngành cụ thể, độ mạnh quyền mua cổ phần của nhân viên, đòn bẩy, quy mô doanh nghiệp, và các tài sản vô hình là các biến giải thích cho ETRs dài hạn Cụ thể, với mẫu 2.077 công ty, họ thấy rằng quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ thu nhập trên giá cả, lợi nhuận trên tài sản, đòn bẩy, chi phí phát triển và quảng cáo có liên quan đáng kể với ETRs dài hạn Dyreng, Hanlon, và Maydew (2010) cũng nhận thấy rằng giám đốc điều hành của công ty có tác động lớn vào mức độ tránh thuế giữa các doanh nghiệp, không phải vì ảnh hưởng trực tiếp của họ vào thuế, mà bằng cách thiết lập một môi trường với các hành vi đạo đức của công ty Văn hóa doanh nghiệp và hành vi quản lý có thể ảnh hưởng đến mức độ

và bản chất của việc tránh thuế doanh nghiệp (Dyreng và cộng sự, 2010)

Frank, Lynch, và Rego (2009) tìm thấy một mối quan hệ tích cực mạnh mẽ giữa việc làm giảm thu nhập chịu thuế và báo cáo tài chính của các công ty của Hoa Kỳ Cụ thể, các doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận về thuế và lợi nhuận tài chính khác nhau

Trang 27

trong báo cáo tài chính cho các cổ đông và báo cáo thuế cho cơ quan thuế Sự khác biệt trong việc ghi nhận về lỗ hổng thuế (Book-tax gap) và cung cấp bằng chứng về mối liên hệ giữa thuế và báo cáo tài chính (Frank và cộng sự, 2009)

Trong một nghiên cứu gần đây của Shackelford và Shevlin (2001); Shackelford, Slemrod và Sallee (2007) ở Hoa Kỳ, chúng ta thấy quan hệ mật thiết về thuế thu nhập chủ yếu nảy sinh từ chiến lược và quy trình tài chính của công ty Ví dụ, một công ty

có thể vay nợ cả trong nước và quốc tế để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình, nên trong chiến lược thuế có thể có một tác động lớn đến báo cáo tài chính trong lĩnh vực công Kế toán tài chính và quản lý thuế phụ thuộc lẫn nhau Vấn đề lập kế hoạch thuế điều khiển sự lựa chọn trong kế toán tài chính và chiến lược tránh thuế của công

ty và nó thường dẫn đến việc thu nhập được khai thấp hơn

Từ một số nghiên cứu trước đây được tác giả tổng hợp, có thể thấy tồn tại rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tránh thuế TNDN ở các thời điểm khác nhau Tuy nhiên, xét theo bối cảnh hiện tại ở Việt Nam, tác giả nhận thấy Việt Nam là quốc gia đang phát triển, đầy tiềm năng trong khu vực Đông Nam Á, thu hút được một lượng lớn các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư thông qua các hình thức trực tiếp và gián tiếp Vì vậy, cần thiết tiến hành nghiên cứu về sự tác động của yếu tố này đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp ở các doanh nghiệp Việt Nam nhằm xác định yếu tố nào ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến số thuế TNDN phải nộp của các doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy tồn tại nhiều mâu thuẫn trong kết quả, tùy từng khu vực quan sát

Vì những lý do trên, bài nghiên cứu này sẽ tiếp tục phân tích để tìm ra kết luận

về vấn đề này ở Việt Nam Luận văn này sử dụng phương pháp được kế thừa trên nghiên cứu của Ibrahim Aramide Salihu, Hairul Azlan Annuar, Siti Normala Sheikh Obid (2015) đã tiến hành nghiên cứu ở Malaysia giai đoạn từ năm 2009-2011 Theo đó,

do tương đồng về điều kiện kinh tế và hệ thống các quy định về pháp luật kinh doanh,

Trang 28

nghiên cứu kì vòng tìm được tác động của các yếu tố tỷ lệ sở hữu nước ngoài, lợi nhuận, quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy và cường độ vốn đến tránh thuế TNDN ở Việt Nam hiện nay

Trang 29

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 3.1 Dữ liệu

Để tìm hiểu các yếu tố tác động đến tránh thuế TNDN, bài nghiên cứu đã lựa chọn đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu thập dữ liệu như sau:

- Đối tượng nghiên cứu: 353 doanh nghiệp lớn của Việt Nam có sở hữu nước ngoài trong cơ cấu vốn được niêm yết trên 2 sở giao dịch chứng khoán HOSE

và HNX Các doanh nghiệp được chọn sẽ thuộc nhiều lĩnh vực (y tế, công nghiệp, tài chính, nguyên vật liệu, công nghệ thông tin…), với nhiều mức tỷ lệ

sở hữu nước ngoài khác nhau Cụ thể như bảng 3.1

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

- Dữ liệu về các doanh nghiệp này sẽ được thu thập từ trang web

http://finance.vietstock.vn

Trang 30

- Phạm vi thu thập dữ liệu: Dữ liệu về tỷ lệ sở hữu nước ngoài của 353 doanh nghiệp niêm yết được thu thập từ các báo cáo tài chính và báo cáo lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp trong giai đoạn 10 năm từ năm 2008 - 2017

3.2 Mô hình nghiên cứu

3.2.1 Mô hình hồi quy cơ bản

Để đánh giá các yếu tố tác động đến hành vi tránh thuế TNDN, tác giả đề xuất

sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp GMM của Ibrahim Aramide Salihu, Hairul Azlan Annuar, Siti Normala Sheikh Obid (2015) Lý do tác giả lựa chọn mô hình này

là do tính chất tương đồng về kinh tế của các nước nằm trong khu vực Đông Nam Á,

sự tương quan về chọn mẫu dữ liệu Theo đó, mô hình hồi quy được đề xuất như sau: CTAit= αi + γCTAit-1+ β1fo1it + β2fo2it + β3polconit + β4fsizeit + β5profitit + β6levit +

- CTA: biến phụ thuộc tránh thuế

- CTAit-1: Biến trễ biến phụ thuộc tránh thuế

- fo1 và fo2: tỷ lệ sở hữu nước ngoài

- polcon: yếu tố chính trị

- fsize: quy mô doanh nghiệp

- profit: lợi nhuận

- lev: đòn bẩy

- capint: cường độ vốn

Trang 31

Để tiến hành nghiên cứu này, tác giả sử dụng các biến phụ thuộc và biến độc lập như trình bày bên dưới Định nghĩa và đo lường các biến cụ thể như sau:

3.2.2 Biến phụ thuộc:

Biến phụ thuộc cho mô hình này là tránh thuế TNDN (CTA) Tuy nhiên, tránh thuế là một yếu tố trừu tượng, không có sự đo lường cụ thể Vì vậy, để dễ dàng trong việc đo lường, luận văn dựa trên yếu tố tỷ lệ thuế TNDN mà các doanh nghiệp đã chi trả (thuế suất hiệu dụng ETRs) Theo đó, tỷ lệ thuế TNDN mà các công ty đóng góp càng cao tương đương với việc các công ty này ít có hành vi tránh thuế TNDN

Nghiên cứu sử dụng một số thước đo tránh thuế doanh nghiệp đã được sử dụng trong các tài liệu trước là biến phụ thuộc (Manzon và Plesko, 2002; Desai và Dharmapala, 2006; Dyreng và cộng sự, 2008) Cụ thể, nghiên cứu sử dụng thuế suất hiệu dụng ETR (được thể hiện bằng tỷ lệ thế thu nhập doanh nghiệp/ lợi nhuận), bao gồm ETR kế toán, ETR dựa trên dòng tiền hoạt động Mỗi biến phản ánh hoạch định thuế làm giảm nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Cụ thể, biến phụ thuộc này được đo lường như sau:

- Phép đo đầu tiên về tránh thuế thu nhập doanh nghiệp được tính bằng tổng chi phí thuế (bao gồm cả chi phí thuế hiện hành và thuế hoãn lại) chia cho tổng thu nhập kế toán trước thuế

- Phép đo thứ hai của tránh thuế thu nhập doanh nghiệp được tính bằng tỷ lệ thuế chi trả trong kỳ chia cho tổng thu nhập trước thuế

- Phép đo thứ ba về tránh thuế doanh nghiệp được tính bằng tỷ lệ tổng chi phí thuế chia cho dòng tiền hoạt động trong kỳ

- Phép đo thứ tư về tránh thuế doanh nghiệp được tính bằng tỷ lệ thuế đã chi trả chia cho dòng tiền hoạt động trong kỳ

Các phép đo lường trên sử dụng phép đo ETRs cả hai phương tiện là kế toán và tiền mặt trong dài hạn để hạn chế bất lợi của việc sử dụng chi phí thuế kế toán vì nó

Trang 32

bao gồm thuế hiện hành và chi phí thuế hoãn lại và sau này có thể là kết quả của việc điều chỉnh thuế thu nhập hoãn lại lớn (Hanlon, 2005)

3.2.3 Biến độc lập

Biến độc lập chính của mô hình là tỷ lệ sở hữu nước ngoài (fo1 và fo2) Biến độc lập này được đo lường như sau:

- Phép đo lường đầu tiên về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài được đo

lường bằng tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài / tổng số

cổ phần của công ty

- Phép đo lường thứ hai về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, biến giả sẽ

được gán giá trị là 1 đối với các công ty có tỷ lệ sở hữu nước ngoài từ 10% trở lên và 0 cho các công ty có tỷ lệ này ít hơn 10%

Như đã trình bày, có nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để tìm ra tác động của

sở hữu nước ngoài đến tránh thuế TNDN ở các quốc gia và vùng lãnh thổ Kunt và Huizinza, 2001; Mahenthiran và Kasipilai, 2012; Demirguc-Kunt và Huizinza, 2001) Tuy nhiên, kết quả tìm được là khác nhau tùy thuộc vào chính sách và điều kiện khác nhau giữa các vùng lãnh thổ Vì vậy, không có bằng chứng để đưa ra kì vọng dấu

(Demirguc-về tác động của sở hữu nước ngoài đến tránh thuế TNDN

Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng một số biến độc lập dựa trên các nghiên cứu trước đây của Ibrahim Aramide Salihu, Hairul Azlan Annuar, Siti Normala Sheikh Obid (2015); Grantley Taylor, Grant Richardson (2014) như sau:

- Yếu tố chính trị (Polcon): Yếu tố chính trị được đại diện bởi quyền sở hữu của

chính phủ, được tính bằng số lượng cổ phiếu thuộc sở hữu của các tổ chức

chính phủ và cơ quan được chính phủ kiểm soát/tổng số cổ phần của công

ty Đối với các nền kinh tế đang phát triển, sự tham gia của chính phủ trong các

hoạt động kinh doanh không thể loại trừ (Adhikari và cộng sự, 2006; Gomez,

Trang 33

2002) Như vậy, các nghiên cứu như Chen và cộng sự (2013); Kim và Zhang (2013); Law và cộng sự (2012); Wu và cộng sự (2013); và Zhang và Han (2008)

đã điều tra mối quan hệ giữa quyền sở hữu của chính phủ và sự tránh thuế của các công ty ở Trung Quốc và ghi nhận mối quan hệ tiêu cực ngoại trừ Zhang và Han (2008)

- Lợi nhuận, được đo lường bằng lợi nhuận/ tài sản (ROA): kiểm soát sự hoạt động và sự biến động trong hoạt động của doanh nghiệp Nghiên cứu mong đợi một mối liên hệ tích cực giữa ROA và tỷ lệ thuế TNDN (Richardson và Lanis,

2007) ROA được đo bằng tổng lợi nhuận trước thuế chia cho tổng tài sản

- Quy mô doanh nghiệp: cho thấy tác động quy mô công ty đến tránh thuế TNDN Nghiên cứu trước đây trên quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ thuế TNDN đã đưa ra các kết quả trái ngược nhau (Gupta và Newberry, 1997; Porcano, 1986; Zimmerman, 1983) Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Ibrahim Aramide Salihu, Hairul Azlan Annuar, Siti Normala Sheikh Obid tồn tại mối quan hệ cùng chiều

giữa quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ thuế TNDN Nghiên cứu đo lường SIZE là

logarit tự nhiên của tổng tài sản

- Đòn bẩy: các công ty có tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao hơn hiệu quả hơn trong việc giảm thiểu thuế doanh nghiệp ( Lanis và Richardson, 2012; Rego,

2003) Đòn bẩy được đo lường bằng tỷ lệ tổng nợ dài hạn/tổng tài sản

- Cường độ vốn:cường độ vốn có tác động làm giảm tỷ lệ thuế TNDN của các doanh nghiệp do phương pháp khấu hao nhanh sẽ làm tăng chi phí được trừ khi tính thuế Theo các nghiên cứu trước đây của Grantley Taylor, Grant Richardson (2014), cường độ vốn có mối quan hệ tiêu cực với tỷ lệ thuế TNDN

(Chen et al., 2010; Derashid and Zhang, 2003) Capint được đo lường bằng

TSCĐ/ tổng tài sản

- Lợi nhuận: được đưa vào mô hình để cho thấy sự hoạt động và biến động trong hoạt động công ty Nghiên cứu mong đợi một mối liên hệ tích cực giữa ROA và

Trang 34

CTA (Richardson và Lanis, 2007) ROA được đo bằng tổng lợi nhuận trước

thuế chia cho tổng tài sản

- Biến trễ của biến phụ thuộc CTAit − 1 được đưa vào để nắm bắt động lực trong hoạch định thuế của doanh nghiệp và được chỉ ra như là môt cách để tránh hiện tượng nội sinh giữa biến giải thích và sai số Roberts và Whited (2012) đã xác định ba nguồn gốc của nội sinh trong các nghiên cứu liên quan đến tài chính doanh nghiệp là bỏ sót biến, tính đồng thời của biến và sai số đo lường Do đó, Wintoki và cộng sự (2010) đã lập luận rằng mặc dù các nguồn nội sinh này ảnh hưởng đến hầu hết các nghiên cứu quản trị doanh nghiệp nội bộ, nhưng rất ít nhà nghiên cứu kiểm soát nó Tuy nhiên, Minnick và Noga (2010) đã xem xét vấn đề này trong nghiên cứu của họ về quản lý thuế doanh nghiệp ở các công ty

Mỹ

Theo đó ta có bảng tóm tắt các biến và kì vọng dấu của các biến như sau:

Bảng 3.2 Bảng kì vọng dấu của các biến

Biến phụ thuộc

Tránh thuế 1 (CTA1) Tính toán của tác giả dựa

trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Tránh thuế 2 (CTA2) Tính toán của tác giả dựa

trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Tránh thuế 3 (CTA3) Tính toán của tác giả dựa

trên báo cáo tài chính của

Trang 35

doanh nghiệp Tránh thuế 4 (CTA4) Tính toán của tác giả dựa

trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Biến độc lập

Tỷ lệ sở hữu

nước ngoài

fo1 Tính toán của tác giả dựa

trên thông tin của doanh nghiệp

Tỷ lệ sở hữu

nước ngoài

fo2 Tính toán của tác giả dựa

trên thông tin của doanh nghiệp

Yếu tố chính trị Polcon Tính toán của tác giả dựa

trên thông tin của doanh nghiệp

+

Quy mô doanh

nghiệp

Fsize Tính toán của tác giả dựa

trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

+

Lợi nhuận Profit Tính toán của tác giả dựa

trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

-

Đòn bẩy Lev Tính toán của của tác giả

dựa trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

-

Trang 36

Cường độ vốn Capint Tính toán của tác giả dựa

trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

-

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

3.3 Phương pháp phân tích

Trong mô hình hồi quy cổ điển, chúng ta cần xem xét các lỗi có thể xảy ra của

mô hình như: (1) vấn đề đa cộng tuyến do các biến độc lập lại phụ thuộc lẫn nhau; (2) vấn đề phương sai sai số thay đổi do phần dư của mô hình là không ổn định và phụ thuộc vào các biến độc lập; (3) Tự tương quan do phần dư của mô hình lại biểu diễn được qua các phần dư cấp n của chính nó

Tuy nhiên trong các mô hình hồi quy hiện đại, chúng ta còn phải xem xét thêm các vấn đề khác của mô hình như vấn đề nội sinh - do các tính chất, quy luận thực tiễn của các biến gây ra, mà khiến một vài biến lại sinh ra từ chính mô hình Về mặt thống

kê, ước lượng, vấn đề nội sinh mô hình được coi là một trong những vi phạm nghiêm trọng các giả định hồi quy Và để xem xét mô hình có gặp vấn đề nội sinh hay không chúng ta thường xem xét: Mối quan hệ tương quan của biến độc lập và phần dư của mô hình Vấn đề nội sinh trong mô hình thường xuất hiện dưới 3 dạng sau:

- Thiếu vắng biến độc lập trong mô hình và do đó phần giải thích của biến này sẽ nằm ở sai số (phần dư) Khi đó có mối tương quan chặt giữa biến độc lập và phần dư

- Sai số trong đo lường hay sai lệch do lựa chọn

- Vấn đề đồng thời và hệ phương trình đồng thời

Để giải quyết vấn đề nội sinh, ta có thể sử dụng một số cách cơ bản sau để xử lý:

- Sử dụng dữ liệu bảng với một mô hình có thể giải quyết vấn đề nội sinh (tức là chọn phương pháp xử lý dữ liệu phù hợp với vấn đề)

Trang 37

- Tìm một biến đại diện khác phù hợp để giải quyết mô hình

- Sử dụng mô hình với biến công cụ chẳng hạn như: Hồi quy 2 giai đoạn 2SLS, Hồi quy 3 giai đoạn 3SLS, Hồi quy GMM, System GMM, Difference GMM Thông thường khi tiến hành nghiên cứu với dữ liệu bảng, mô hình ảnh hưởng cố định FEM và mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên REM thường là phương pháp được sử dụng nhiều nhất Sau khi tiến hành ước lượng theo hai mô hình trên, các nghiên cứu này sẽ sử dụng kiểm định Hausman để đánh giá và lựa chọn mô hình Tuy nhiên, đối với trường hợp dữ liệu dạng bảng với số quan sát lớn nhưng lại trong khoảng thời gian ngắn thường phát sinh hiện tượng phương sai sai số thay đổi Hơn thế nữa, việc tồn tại vấn đề nội sinh trong mô hình sẽ làm cho các ước lượng FEM và REM không còn hiệu quả Cụ thể, tác giả tiến hành xem xét hiện tượng nội sinh của mô hình dữ liệu bảng động như sau:

Mô hình dữ liệu bảng động có dạng:

Yit = β0 + β1X1it + β2X2it + … + βkXkit + Uit+ γYit-1 + Uit (1)

(với Uit thỏa các giả thiết cổ điển)

Yit-1: dữ liệu bảng có chứa biến trễ của biến phụ thuộc đóng vai trò là một biến độc lập

Xét trường hợp 1: Nếu phương trình (1) là REM

Đặt vit = αi + uit là sai số gộp

Khi đó Yit-1 có chứa αi (vì Yit-1= β1 + β2X2it-1 + β3X3it-1 + … + βkXkit-1 + αi + Uit-1)

Và vit = αi + uit

Yit-1 có tương quan với sai số gộp vit nên Yit-1 bị nội sinh

• Xét trường hợp 2: Nếu phương trình (1) là FEM

Trang 38

Ta có 3 cách ước lượng:

- Cách 1: Dùng LSDV

Nickell (1981) chứng tỏ rằng khi n lớn, nếu dùng LSDV để ước lượng FEM thì ước lượng thu được sẽ bị chệch và không vững trong trường hợp mô hình có dạng bảng động

- Cách 2: Dùng hồi quy trong cùng nhóm (within regression)

Yit = β1 + β2X2it + … + βkXkit + γYi t-1 + αi + Uit

Yi = β1 + β2X2i + … + βkXki + γYi t-1 + αi + Ui

Yit - Yi = β2(X2it - X2i )+ … + βk(Xkit - Xki) + γ(Yi t-1 - Yi t-1) + (Uit – Ui )

Nhận xét: Yi t-1= ∑ có chứa các Uit-1 nên tương quan với Ui = ∑ Từ

đó suy ra (Yi t-1 - Yi t-1) có tương quan với (Uit – Ui) dẫn đến nội sinh

- Cách 3: Dùng phương trình sai phân

Yit = β1 + β2X2it + … + βkXkit + γYi t-1 + αi + Uit

Yi t-1 = β1 + β2X2i t-1 + … + βkXki t-1 + γYi t-2 + Ui t-1

ΔYit = β2ΔX2it + … + βkΔXkit + γΔYi t-1 + ΔUit

Vì ΔYi t-1 = (Yi t-1 - Yi t-2) có tương quan với ΔUit = Uit - Ui t-1 dẫn đến nội sinh

Để khắc phục hiện tượng trên, nghiên cứu này sẽ tiến hành kiểm định các khuyết tật của các mô hình nghiên cứu, sau đó sử dụng mô hình ước lượng GMM được phát triển bởi các nhà nghiên cứu Arellano và Bond (1991) và sau đó là Arellano và Bover (1995) để phân tích chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố

Trang 39

Với dạng dữ liệu bảng động không cân với rất nhiều quan sát (353 công ty), dữ liệu bảng này cho phép kiểm soát những khác biệt không quan sát được giữa các công

ty và các yếu tố không quan sát được theo thời gian

Như mô hình đã đề xuất, nghiên cứu có sử dụng biến trễ của biến phụ thuộc Việc đưa thêm biến trễ của biến phụ thuộc tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp vào nhằm xử lý hiện tượng tự tương quan trong dữ liệu bảng (Arellano, 2003; Baltagi, Song, Jung, và Koh, 2007) Với dữ liệu bảng cho nhiều doanh nghiệp có thể xuất hiện hiện tượng phương sai thay đổi, đồng thời đó các biến sẽ có mối quan hệ tương hỗ (Ahmed, 2010; Berdiev và cộng sự, 2013), do đó sẽ tồn tại hiện tượng nội sinh nếu sử dụng các kỹ thuật ước lượng như OLS, FEM và REM cho dữ liệu bảng Để xử lý hiện tượng nội sinh trong dữ liệu bảng, bài viết sử dụng kỹ thuật ước lượng GMM Phương pháp GMM được sử dụng phổ biến trong các ước lượng dữ liệu bảng động tuyến tính hoặc các dữ liệu bảng vi phạm tính chất phương sai thay đổi và tự tương quan Khi đó, các ước lượng tuyến tính cổ điển của mô hình dữ liệu bảng như tác động cố định hoặc tác động ngẫu nhiên sẽ không còn kết quả ước lượng tin cậy, hiệu quả

Sau khi tiến hành hồi quy theo phương pháp GMM, tác giả sử dụng kiểm định Sargan/Hansen kiểm tra tính bền vững của ước lượng GMM hệ thống và kiểm định tương quan chuỗi bậc 2 AR(2) (Getzmann và Cộng sự)

Trang 40

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thống kê mô tả

Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả các biến định lượng trong mẫu dữ liệu

Biến Trung bình Độ lệch chuẩn nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Số quan sát Giá trị

Nguồn: Thống kê của tác giả dựa trên mẫu phân tích

Theo thống kê mô tả ở bảng 4.1, ta có một số nhận định sau:

- Biến CTA1 được quan sát có mức trung bình là 18,34% Điều này cho thấy rằng các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam có một phần 18,34% tổng thu nhập dùng cho nghĩa vụ thuế

- Biến CTA2 cho thấy tỷ lệ chi phí chi trả cho thuế thu nhập doanh nghiệp trên tổng thu nhập trước thuế của công ty có trung bình là 12,74% Nói cách khác, một phần 12,74% thu nhập của công ty dùng để chi trả thuế thu nhập doanh nghiệp

- Biến CTA3 cho biết phần dòng tiền hoạt động thực sự được dùng để chi trả thuế

là 17,52%

- Biến CTA4 cho biết tỷ lệ tiền mặt dùng để trả thuế thực sự từ dòng tiền hoạt động là 10,97%

Ngày đăng: 18/09/2020, 08:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w