1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hoàn thiện công tác quản lý đấu thầu tại ban quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn oda thuộc tổng cục giáo dục nghề nghiệp

98 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 127,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình triển khai các hoạt động quản lý dự án, bước đầu tiên và quan trọng nhất của Ban QLCDA cần thực hiện đó là thực hiện công tác đấu thầu, quản lý đấu thầu trong đó bao gồm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG

ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VỐN ODA THUỘC TỔNG CỤC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

TRẦN HOÀNG DIỆU

Trang 2

Ngành: Kinh doanh Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 8340101

Họ và tên: Trần Hoàng Diệu Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Tuyết

Trang 3

Nhung

Hà Nội - 2018

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy

và trung thực

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2018

Trang 4

Trường Đại học Ngoại thương đã tạo điều kiện về tinh thần và thời gian cho học viên; tới Ban chủ nhiệm Khoa Sau Đại học và toàn bộ đội ngũ cán bộ Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Ngoại Thương vì những hỗ trợ, giúp đỡ cần thiết cho học viên trong thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn đến Quý thầy cô Trường Đại học Ngoại

thương, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt

nghiệp Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía các nhà khoa học, các bạn đọc và những người quan tâm tới luận văn này./

Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2018

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG viiDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN ix

LỜI MỞ

ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU THẦU 5

1.1 Lý luận chung về đấu

Trang 6

1.2 Lý luận chung về công tác quản lý đấu thầu các dự án vốn ODA

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU TẠI BAN

QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VỐN ODA 40

2.1 Giới thiệu về Tổng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Ban Quản lý các dự án giáo

Trang 7

2014 – 2017

52

2.2.2 Công tác quản lý đấu thầu các dự án ODA của Ban Quản lý các dự

án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU

TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VỐN ODA 76

3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển của Ban Quản lý các dự án giáo dục

nghề nghiệp vốn ODA trong thời gian tới

Trang 8

3.2.4 Giải pháp tăng cường tính cạnh tranh công bằng, bình đẳng trong đấu thầu 85

3.3 Một số kiến nghị

87

3.3.1 Đối với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các nhà tài trợ 87

3.3.2 Đối với Nhà nước

Ký hiệu Tên Trang

Hình 1.1 Tiến trình của công tác quản lý đấu thầu 31

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ban QLCDA 50

Hình 3.1 Quy trình đấu thầu điển hình 80

Trang 9

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Ký hiệu Tên Trang

Bảng 2.1 Bảng thống kê thông tin các dự án thực hiện (2014-

2017)

53

Bảng 2.2 Bảng thống kê số lượng Kế hoạch lựa chọn nhà thầu

được phê duyệt giai đoạn 2014-2017

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

AFD Cơ quan Phát triển Pháp

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Ban QLCDA Ban Quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA

EDCF Quỹ hợp tác Phát triển Kinh tế Hàn Quốc

HSDT Hồ sơ dự thầu

Trang 10

HSĐX Hồ sơ đề xuất

HSMT Hồ sơ mời thầu

HSYC Hồ sơ yêu cầu

KfW Ngân hàng tái thiết Đức

KHLCNT Kế hoạch lựa chọn nhà thầu

Bộ LĐ-TB&XH Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức

TCGDNN Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp

UBND Ủy ban nhân dân

UNCITRAL Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế

USD Đồng đô la Mỹ

ix

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Nghiên cứu này nhằm phân tích thực trạng công tác quản lý đấu thầu tại BanQuản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA trong giai đoạn 2014-2017 từ

Trang 11

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt hơn 20 năm qua, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

đã

hỗ trợ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam Nguồn vốn này góp phầnkhông nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạo hóa, phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo; rất nhiều các hoạt

động hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng đào tạo nghề nói

riêng đã và đang được triển khai và phát huy tác dụng tích cực Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các dự án sử dụng vốn ODA đang gặp nhiều vấn đề như Chính

phủ tiếp nhận nguồn vốn ODA sau đó vừa phải quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA

này theo quy định của pháp luật (như: Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư, Luật

đấu thầu và các luật khác có liên quan); vừa phải theo quy định của Nhà tài trợ theo

điều ước quốc tế được ký kết, đồng thời chịu sự quản lý và giám sát từ cả hai phía

Trang 12

Ban Quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA trực thuộc Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (Bộ LĐ-TB&XH), được Bộ LĐ-TB&XH giao giúp

TCGDNN quản lý các dự án sử dụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề Trong quá trình triển khai các hoạt động quản lý dự án, bước đầu tiên

và quan trọng nhất của Ban QLCDA cần thực hiện đó là thực hiện công tác đấu thầu, quản lý đấu thầu trong đó bao gồm hoạt động xây lắp, mua sắm hàng hóa

tổ chức thực hiện và cuối cùng là kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện Việc lựa chọn được nhà thầu có năng lực, kinh nghiệm tốt giúp đảm bảo được chất lượng

hiệu quả của dự án

Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quản lý đấu thầu, Ban QLCDA đã được tiếp cận nguồn vốn ODA vào Việt Nam dành riêng cho lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tuy đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn tồn

tại nhiều hạn chế cần được khắc phục, nhiều điểm chưa đáp ứng được các yêu cầu

2

của nhà tài trợ và chủ đầu tư, đặc biệt là công tác đấu thầu cần phải hoàn thiện hơn

nữa

Trang 13

Chính vì vậy đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý đấu thầu tại Ban Quản

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong lịch sử nghiên cứu, đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến quản

dự án nói chung và quản lý đấu thầu nói riêng, các nghiên cứu hầu hết tập trung xoay quanh công tác quản lý các dự án đầu tư, quản lý công tác đấu thầu các công

trình nói chung, tiêu biểu như một số đề tài sau:

- Đề tài “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động đấu thầu ở Việt Nam” (Nguyễn Thị Xuân Thủy, 2014) phân tích những thực trạng hoạt động đấu thầu tạiViệt Nam trong những năm gần đây, luận văn đi sâu phân tích một số giải pháp

Trang 14

phần Xây dựng công trình Giao thông 228 và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn

thiện quản lý Nhà nước về đấu thầu các công trình xây dựng cơ bản ở Việt Nam như: (1) Tăng cường công tác hướng dẫn thực hiện quy chế đấu thầu, (2) Tổ chức

tốt công tác thanh tra kiểm tra, thanh tra về đấu thầu, (3) Tăng cường tính công khai

hóa, minh bạch trong công tác đấu thầu, (4) Tăng cường việc chỉ đạo của các cấp

có thẩm quyền, (5) Cần theo dõi kiểm tra năng lực các nhà thầu, (6) Hoàn thiện quy

chế đấu thầu trong xây dựng ở Việt Nam

Các luận văn đều tập trung khai thác thực trạng công tác quản lý và thực hiện

đấu thầu tại Việt Nam trong thời gian gần đây, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Nhu cầu ngày càng tăng về nguồn lao động chất lượngcao dẫn đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy tại các cơ sở giáo dục ngày càng

được chú trọng, đòi hỏi cần có sự đầu tư mạnh mẽ của các cá nhân, tổ chức đặc biệt

là nhà nước Thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, rất nhiều

Trang 15

các

cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã được đầu tư và phát triển Hiện nay, việc sử dụngnguồn vốn ODA cho các dự án giáo dục nghề nghiệp làm thế nào để phát huy hiệu

quả tối đa luôn được các nhà tài trợ và xã hội quan tâm Để đạt được điều đó, cách

thức quản lý nguồn vốn ODA thông qua công tác quản lý đấu thầu tại các dự án

- Thu thập, tổng hợp các nghiên cứu, số liệu để đánh giá thực trạng công quản

lý đấu thầu các dự án có vốn ODA tại Ban Quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp

vốn ODA giai đoạn 2014-2017

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đấu thầu tại Ban

Quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA

Trang 16

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Về thời gian: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu công tác quản lý đấu thầu

các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA trong giai đoạn 2014 đến

.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp thu thập, xử lý và phân tích tài liệu để kết hợp

nghiên cứu giữa lý luận và thực tiễn công tác quản lý đấu thầu trong dự án; phương

pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê nhằm chỉ ra những bất cập giữa thực

Trang 17

tế đấu thầu và những quy định về đấu thầu trong dự

án

6 Bố cục của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của

Luận văn được chia làm 03 chương:

Chương 1: Lý luận chung về công tác quản lý đấu

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU THẦU

1.1 Lý luận chung về đấu thầu

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm về đấu thầu

Thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện trong thực tế xã hội từ xa xưa Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1998) thì đấu thầu được giải thích là việc:

“đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua

hàng)” Như vậy bản chất của đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sự ganh đua (cạnh tranh) để được thực hiện một việc nào đó, một yêu cầu nào đó

Trang 18

Trên thực tế đã tồn tại một số định nghĩa về thuật ngữ đấu thầu trong các văn bản khác nhau Tuy nhiên, bản chất của thuật ngữ về đấu thầu dù dưới dạng Quy chế hay Luật cũng đều sử dụng một thuật ngữ có xuất xứ từ tiếng Anh là

“Procurement” (nghĩa là mua sắm) Như vậy, Quy chế đấu thầu, Luật Đấu thầu đồng nghĩa với Quy chế Mua sắm (Procurement Regulation) hoặc Luật Mua sắm (Law on Procurement) Trên góc độ khoa học pháp lý, "đấu thầu" có thể hiểu dưới các góc độ sau:

Thứ nhất: đấu thầu là một định chế của pháp luật kinh tế nên được hiểu là toàn bộ các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể kinh tế trong quá trình thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước, chẳng hạn chế định về mời thầu, dự thầu trong đầu tư và xây dựng cơ bản được quy định tại điều 43 Quy chế Quản

lý đầu tư và xây dựng, ban hành kèm theo Nghị định 52/NĐ-CP/1999 ngày

8/7/1999 và được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 12/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của Chính phủ Theo đó các dự án sử dụng vốn Nhà nước đều phải tổ chức theo quy chế đấu thầu, trừ các dự án có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, có tính chất cấp bách do thiên tai, địch họa; có tính chất bí mật quốc gia, an ninh quốc

phòng và những dự án đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quy định hoặc bên mời thầu phải chuẩn bị hồ sơ (Điều 152 Luật Thương mại, 2005)

Trang 19

nước, trong đó có hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống

cơ quan quản lý hành chính, cơ quan quản lý ngành (kinh tế), lĩnh vực của cả nước (Điều 52, 53 Nghị định 88/NĐ-CP về quy chế đấu thầu hàng hoá được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 66/NĐ-CP) Như vậy, theo nghĩa này hoạt động đấu thầu hàng hóa có nội dung rất rộng vì là hoạt động nhằm thu hút nhiều thành phần kinh tế có khả năng, điều kiện tốt tham gia để thực hiện chức năng kinh tế chung của Nhà nước

Đấu thầu còn được hiểu là một thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có chức năng kinh tế nói riêng, ví dụ như Bộ Kế hoạch

và Đầu tư, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Hội đồng quản trị (hoặc người được Hội đồng quản trị uỷ quyền) của doanh nghiệp liên doanh, công ty cổ phần, đại diện hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh Tuy nhiên quan niệm này cũng có thể hiểu ở phạm vi rộng hẹp khác nhau do các cơ quan, tổ chức này một mặt vừa thực hiện các hoạt động mang tính tổ chức, đầu tư, xây dựng, phân phối tiêu thụ (cả quá trình kinh tế), còn hoạt động đấu thầu chỉ là một bộ phận thuộc chức năng thực hiện nhiệm vụ kinh tế của Nhà nước

Thứ ba: xét trên góc độ quản lý hành chính Nhà nước thì khái niệm về đấu thầu hàng hóa chỉ là xâu chuỗi các trình tự, thủ tục mà các bên tham gia phải thực hiện trong quá trình đấu thầu

Đấu thầu là một hình thức kinh doanh dựa vào tính chất cạnh tranh công khai của thị trường, không có cạnh tranh thì không có đấu thầu và cũng không cần đến đấu thầu Có thể nói đấu thầu là phương thức giao dich đặc biệt Trong một vụ kinh doanh mua bán hay xây dựng các công trình dân sự có liên quan đến nhiều người, nhiều bên khác nhau thì người ta thường áp dụng hoặc bắt

Trang 20

buộc phải áp dụng hình thức đấu thầu cạnh tranh công khai

7

Đấu thầu là một quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu về giá

cả, điều kiện kinh tế - kỹ thuật do bên mời thầu đặt ra trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu Như vậy, với hai khái niệm trên, đấu thầu hàng hóa về bản chất thì không có sự khác biệt, song hình thức thể hiện thực chất đó chỉ là việc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền lựa chọn các chủ đầu tư là các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia cạnh tranh trên cơ sở các điều kiện về vốn, điều kiện về kinh tế, kỹ thuật để cung cấp hàng hóa và thực hiện các công trình xây dựng cơ bản nhằm bảo đảm chất lượng cho các dự án đầu tư của bên mời thầu

Trong nghiên cứu này khái niệm đấu thầu được hiểu theo Luật Đấu thầu

2013 đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua như sau: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” Định nghĩa này đã nói tới tổng quát các yêu cầu cơ bản của hoạt động đấu thầu hiện nay ở Việt Nam Đây

là một định nghĩa khá chi tiết, khác hẳn với định nghĩa tổng quát của

UNCITRAL rằng: “đấu thầu là tiến hành mua sắm hàng hóa, xây dựng và dịch

vụ theo một cách nào đó” (UNCITRAL, 2011)

1.1.1.2 Khái niệm về dự án sử dụng vốn ODA

a Vốn ODA

Trang 21

Vốn ODA, vốn vay ưu đãi là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ phát triển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội (Nghị định 16/2016/NĐ-CP, 2016) b Dự án sử dụng vốn ODA là tập hợp các đề xuất sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi, vốn đối ứng của Việt Nam có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu nhất định, được thực hiện trên địa bàn cụ thể, trong

8

khoảng thời gian xác định và dựa trên nguồn lực xác định Căn cứ vào tính chất, dự án được phân loại thành dự án đầu tư và dự án hỗ trợ kỹ thuật (Nghị định 16/2016/NĐ-CP, 2016):

- Dự án đầu tư là dự án tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định

- Dự án hỗ trợ kỹ thuật là dự án với mục tiêu hỗ trợ công tác nghiên cứu chính sách, thể chế, chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực con người hoặc

để chuẩn bị thực hiện chương trình, dự án khác thông qua các hoạt động như cung cấp chuyên gia trong nước và quốc tế, đào tạo, hỗ trợ một số trang thiết

bị, tư liệu và tài liệu, tham quan khảo sát, hội thảo trong và ngoài nước Dự án

hỗ trợ kỹ thuật bao gồm dự án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng vốn ODA viện trợ không hoàn lại và dự án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi

1.1.1.3 Khái niệm đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA

Căn cứ vào các khái niệm về đấu thầu, dự án sử dụng vốn ODA có thể rút

ra, khái niệm về đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA như sau: Đấu thầu các

dự án sử dụng vốn ODA là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện

Trang 22

hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi, vốn đối ứng của Việt Nam theo hình thức đối tác công tư trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

Với khái niệm như vậy, có thể thấy rằng đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA có sự khác biệt so với đấu thầu sử dụng các nguồn vốn khác chính là ở nguồn vốn sử dụng Điều này dẫn đến việc đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA không chỉ chịu các quy định của pháp luật Việt Nam mà còn phải tuân theo các quy định khác của Nhà tài trợ Thông thường khi có sự xung đột giữa các quy định của hai bên thì quy định của Nhà tài trợ sẽ được áp dụng

9

1.1.2 Mục tiêu của đấu thầu

- Đảm bảo tính cạnh tranh: Qua tổ chức đấu thầu đòi hỏi các nhà thầu phát huy hết khả năng của mình về trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ và tiềm năng sẵn có, hoặc liên danh để cạnh tranh với các nhà thầu

- Đảm bảo tính công bằng: Đấu thầu tạo ra được một cơ sở hợp lý để nhà thầu có điều kiện bình đẳng với nhau Các nhà thầu có đủ điều kiện theo yêu cầu của HSMT đều có thể tham gia, không phân biệt với các thành phần kinh tế hoặc loại hình doanh nghiệp

- Đảm bảo minh bạch: Đấu thầu được tiến hành công khai thể hiện trong suốt quá trình từ mời thầu đến việc mở và xét chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng đều được thực hiện có sự kiểm tra, đánh giá của cấp có thẩm quyền theo quy định của quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Tránh được sự thiên vị, cảm tính,

Trang 23

đặc quyền đặc lợi, móc ngoặc riêng với nhau

- Đảm bảo hiệu quả kinh tế: Đấu thầu tạo cơ hội cho các nhà đầu tư thực hiện được dự án của mình với giá thành hạ, đảm bảo được yêu cầu về kỹ thuật

và chất lượng

1.1.3 Vai trò của đấu thầu

1.1.3.1 Đối với nhà nước

Đấu thầu mang lại cho nhà nước những đầu tư mới về công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại tạo điều kiện cho việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa

và hiện đại hóa của đất nước

Là cơ sở để đánh giá đúng, chính xác năng lực thực sự của các đơn vị kinh

tế cơ sở, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực diễn ra, tránh được sự thiên vị của chủ đầu tư với các nhà thầu

Mặt tích cực nhất mà phía nhà nước thu được thông qua đấu thầu là tích lũy và học hỏi được kinh nghiệm về biện pháp quản lý nhà nước đối với các dự

án đặc biệt là quản lý tài chính, tăng cường các lợi ích kinh tế xã hội khác

10

1.1.3.2 Đối với chủ đầu tư

Chọn lựa được nhà thầu có năng lực đáp ứng được yêu cầu của mình về

kỹ thuật, chất lượng, đảm bảo tiến độ thi công đồng thời giá thành hợp lý Khắc phục tình trạng độc quyền về giá cả của các nhà thầu

Khắc phục tình trạng độc quyền về giá cả của các nhà thầu Mang lại hiệu quả của dự án đầu tư cao nhất

Trang 24

1.1.3.3 Đối với nhà thầu

Đảm bảo tính công bằng đối với các thành phần kinh tế, không phân biệt đối xử giữa các nhà thầu

Kích thích các nhà thầu nâng cao trình độ kỹ thuật, áp dụng công nghệ và các giải pháp thực hiện tốt nhất, tận dụng tối đa mọi nguồn lực sẵn có của mình Học hỏi nhiều kinh nghiệm qua thực tế, có cơ hội để nâng cao trình độ, năng lực về quản lý và khoa học công nghệ trình độ chuyên môn cho cán bộ công nhân viên

Nâng cao uy tín và vị trí của mình trên thương trường trong nước và quốc

tế

1.1.4 Các hình thức lựa chọn nhà thầu

1.1.4.1 Đấu thầu rộng rãi

Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó không hạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự (Luật đấu thầu, 2013) Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu Hình thức đấu thầu này có ưu điểm nổi bật là tính cạnh tranh trong đấu thầu cao, hạn chế tiêu cực trong đấu thầu, kích thích các nhà thầu phải thường xuyên nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại hiệu quả cao cho dự án

11

1.1.4.2 Đấu thầu hạn chế

Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao

về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng

Trang 25

yêu cầu của gói thầu (Luật đấu thầu, 2013)

- Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản;

- Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và tương đương nhau về chất lượng;

- Gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt

Chào hàng cạnh tranh được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Có kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt;

- Có dự toán được phê duyệt theo quy định;

- Đã được bố trí vốn theo yêu cầu tiến độ thực hiện gói thầu Mua sắm trực tiếp

Được áp dụng trong trường hợp bổ sung hợp đồng cũ đã thực hiện xong (dưới một năm) hoặc hợp đồng đang thực hiện với điều kiện chủ đầu tư có nhu cầu tăng thêm số lượng hàng hóa hoặc khối lượng công việc mà trước đó đã

Trang 26

được tiến hành đấu thầu, nhưng phải đảm bảo không được vượt mức giá hoặc

2013) 1.1.4.6 Mua sắm trực tiếp

Mua sắm trực tiếp được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa tương

tự thuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắm khác (Luật đấu thầu, 2013)

Mua sắm trực tiếp được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: a) Nhà thầu đã trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu trước đó

b) Gói thầu có nội dung, tính chất tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% so với gói thầu đã ký hợp đồng trước đó;

c) Đơn giá của các phần việc thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không được vượt đơn giá của các phần việc tương ứng thuộc gói thầu tương tự

đã ký hợp đồng trước đó;

d) Thời hạn từ khi ký hợp đồng của gói thầu trước đó đến ngày phê duyệt kết quả mua sắm trực tiếp không quá 12 tháng

Trang 27

Trường hợp nhà thầu thực hiện hợp đồng trước đó không có khả năng tiếp tục thực hiện gói thầu mua sắm trực tiếp thì được áp dụng mua sắm trực tiếp đối với nhà thầu khác nếu đáp ứng các yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật và giá theo HSMT và kết quả lựa chọn nhà thầu trước đó

1.1.5 Các phương thức đấu thầu

1.1.5.1 Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ

13

a) Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong các

trường hợp sau đây (Luật đấu thầu, 2013):

- Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ;

- Chào hàng cạnh tranh đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp;

- Chỉ định thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;

- Mua sắm trực tiếp đối với gói thầu mua sắm hàng hóa;

- Chỉ định thầu đối với lựa chọn nhà đầu tư

b) Nhà thầu, nhà đầu tư nộp HSDT, HSĐX gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của HSMT, hồ sơ yêu cầu (Luật đấu thầu, 2013) c) Việc mở thầu được tiến hành một lần đối với toàn bộ HSDT, HSĐX (Luật đấu thầu, 2013)

1.1.5.2 Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ

Trang 28

a) Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong các

trường hợp sau đây (Luật đấu thầu, 2013):

- Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;

- Đấu thầu rộng rãi đối với lựa chọn nhà đầu tư

b) Nhà thầu, nhà đầu tư nộp đồng thời HSĐX về kỹ thuật và HSĐX về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của HSMT (Luật đấu thầu, 2013)

c) Việc mở thầu được tiến hành hai lần HSĐX về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu Nhà thầu, nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật sẽ được mở HSĐX về tài chính để đánh giá (Luật đấu thầu, 2013)

14

1.1.5.3 Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ

- Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp (Luật đấu thầu, 2013)

- Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính theo yêu cầu của HSMT nhưng chưa có giá dự thầu Trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định HSMT giai đoạn hai

(Luật đấu thầu, 2013)

- Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp HSDT HSDT bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của HSMT giai đoạn hai, trong đó có giá dự thầu và bảo đảm dự thầu (Luật đấu thầu, 2013)

Trang 29

1.1.5.4 Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ

- Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù (Luật đấu thầu, 2013)

- Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời HSĐX về kỹ thuật và

HSĐX về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của HSMT HSĐX về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu Trên cơ sở đánh giá đề xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giai đoạn này sẽ xác định các nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật so với HSMT và danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai HSĐX về tài chính sẽ được mở ở giai đoạn hai (Luật đấu thầu, 2013)

- Trong giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một được mời nộp HSDT HSDT bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài

chính theo yêu cầu của HSMT giai đoạn hai tương ứng với nội dung hiệu chỉnh

về kỹ thuật Trong giai đoạn này, HSĐX về tài chính đã nộp trong giai đoạn

Trang 30

Vậy việc đánh giá hiệu quả công tác tổ chức đấu thầu thì phải xem xét được mức giá của gói thầu theo kế hoạch đấu thầu đã được duyệt so với giá ký kết hợp đồng với Nhà thầu, chất lượng công trình như thế nào và tiến độ thi công có đảm bảo hay không?

Trong thành công của mỗi phần dự án hay cả dự án thì vai trò của công tác đấu thầu có ý nghĩa quan trọng Nếu công tác đấu thầu được tổ chức và thực hiện tốt sẽ chọn được Nhà thầu tốt, chất lượng công trình sẽ được đảm bảo và tiết kiệm vốn đầu tư, rút ngắn thời gian thi công công trình và ngược lại

Chất lượng công tác đấu thầu các dự án nói chung và các dự án ODA nói riêng được đánh giá theo các tiêu chí sau:

Bộ ngành đã ban hành như: Nghị định 52, 88, 66, 63 và Hướng dẫn đấu thầu của các nhà tài trợ như Hướng dẫn về mua sắm (Procurement Guidelines) của Ngân hàng Phát triển châu Á, Hướng dẫn sử dụng Tư vấn đối với Ngân hàng Phát triển châu Á và các bên vay vốn, hay văn bản quy định về thực hiện dự án

16

nguồn vốn ODA giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Phát triển châu Á

Trang 31

như Cẩm nang hướng dẫn chuẩn bị và thực hiện dự án nguồn vốn ODA do ADB tài trợ tại Việt Nam

- Trong quá trình đấu thầu, Ban QLCDA có tiến hành theo đúng nội dung của quyết định đầu tư dự án hay không? Nếu có phát sinh từ phía Ban QLCDA hay Nhà thầu thì Ban QLCDA phải tiến hành các hành động phê duyệt hoặc thông báo kịp thời đến phía đối tác

- Ban QLCDA cần cập nhật các thông tin liên quan về đấu thầu và thực hiện các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tăng cường năng lực cho các cán bộ thực hiện công tác đấu thầu trong việc nắm vững và tuân thủ các quy định của Nhà nước và nhà tài trợ về đấu thầu

1.1.6.2 Tính hiệu quả

- Tiết kiệm vốn đầu tư:

Như đã nêu trên, hiệu quả công tác đấu thầu cũng được thể hiện ở mức tiết kiệm chi phí đầu tư Mức tiết kiệm trong đấu thầu được thể hiện thông qua 2 tiêu chí sau:

Mức tiết kiệm = Giá gói thầu – Giá trúng thầu

Tỷ lệ tiết kiệm: (Mức tiết kiệm / Tổng giá trị gói thầu kế hoạch) x 100%

Trang 32

thầu có chất lượng phù hợp yêu cầu về chất lượng gói thầu; (2) Công khai, minh bạch và cạnh tranh: Thông tin về mời thầu, kết quả đánh giá cần công khai đăng tải rộng rãi trên các kênh truyền thông theo quy định của cả nhà tài trợ và chính phủ Việt Nam, nhưng cũng phải đảm bảo các thông tin không cần

17

thiết về quá trình đánh giá, đánh giá HSDT, giá thầu không có cá nhân, tổ chức nào biết trong quá trình đánh giá HSDT

1.1.6.3 Công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện

Một mục tiêu được coi là cơ bản trong quy định về đấu thầu là làm sao chống được sự thất thoát vốn của Nhà nước thông qua các hoạt động lựa chọn Nhà thầu Đây là một thách thức cho bất kỳ một tổ chức, một quốc gia nào Trong quá trình thực hiện đấu thầu, Ban QLCDA cần công khai dự án, đảm bảo tính đúng đắn, minh bạch cho dự án, tránh các biểu hiện tiêu cực, bảo

vệ quyền lợi các bên tham gia, không liên kết với nhà thầu để thông thầu,vv Kết quả đấu thầu cần được thông báo rộng rãi tới các Nhà thầu, kể cả nhà thầu trúng thầu và không trúng thầu và có lý do giải thích đầy đủ, rõ ràng, đồng

thời, được đăng trên các trang thông tin đấu thầu chính thức do Chính phủ và Nhà tài trợ quy định

1.1.6.4 Môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các nhà thầu Vấn đề cạnh tranh là nội dung cơ bản nhất để đảm bảo công tác đấu thầu thực sự có hiệu quả Một gói thầu mà nhiều Nhà thầu tham dự thì sẽ có sự cạnh tranh gay gắt Các nhà thầu tham dự đều mong muốn trúng thầu, vì thế họ phải phát huy tối đa năng lực Từ đó, Chủ đầu tư có thể chọn ra được một nhà thầu

Trang 33

có khả năng nhất, đảm bảo công trình, thiết bị, dịch vụ tư vấn thực hiện có hiệu quả

Ban QLCDA cần có các biện pháp để kích thích sự cạnh tranh lành mạnh giữa các Nhà thầu tham gia Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh chính là tiền

đề cho quá trình thực hiện dự án có hiệu quả về mọi mặt

1.1.7 Quản lý nhà nước về đấu thầu

1.1.7.1 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu

- Ban hành, phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về đấu thầu

- Cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu

18

- Quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng về đấu thầu

- Tổng kết, đánh giá, báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu

- Quản lý hệ thống thông tin và các cơ sở dữ liệu về đấu thầu trên phạm vi

cả nước

Theo dõi, giám sát, kiểm tra, thanh tra, giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trong đấu thầu và xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan

- Hợp tác quốc tế về đấu thầu

1.1.7.2 Bộ máy Quản lý

- Chủ thể quản lý đấu thầu: Tổ chức, cá nhân trưc tiếp hoặc gián tiếp thực

Trang 34

hiện công tác quản lý nhà nước về đấu thầu

- Đối tượng: Công tác đấu thầu trong các dự án đầu tư: Bao gồm các gói thầu xây lắp công trình, các gói thầu dịch vụ tư vấn và phi tư vấn

- Bộ máy quản lý:

Bộ máy quản lý đấu thầu trực tiếp là bộ phận đấu thầu trong các Ban Quản

lý dự án - Đội công tác được thành lập và giao phó trách nhiệm điều hành và quản lý các hoạt động của dự án Có những mô hình Ban Quản lý khác nhau:

Mô hình Ban Quản lý dự án không chuyên trách (Chủ đầu tư thành lập ra ban quản lý dự án gồn các thành viên làm việc kiêm nhiệm, chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện một phần hoặc toàn bộ các công việc của dự án) và mô hình Ban Quản lý dự án chuyên trách (Chủ đầu tư thành lập ra ban quản lý dự án chuyên trách, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ các công việc của dự án) Ban Quản lý dự án chuyên trách sẽ gồm Trưởng Ban, (các) Phó Trưởng Ban và các bộ phận chức năng, trong đó, bộ phận quản lý đấu thầu sẽ chuyên trách thực hiện công tác quản lý đấu thầu trong toàn bộ quá trình, từ khi bắt đầu lập Hồ sơ mời thầu/ Hồ sơ mời nộp đề xuất đến khi trao thầu và phối hợp với các phòng chức năng trong công tác quản lý Hợp đồng

19

1.1.8 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đấu

thầu

1.1.8.1 Nhân tố khách quan

a Môi trường pháp lý về quản lý đấu thầu

Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho hoạt động đấu thầu đi

Trang 35

vào nề nếp Những quy định pháp luật về đầu tư xây dựng và đấu thầu được thiết lập tạo hành lang pháp lý để giải quyết các tranh chấp thường xảy ra trong quá trình đấu thầu Thể chế luật pháp, chính sách, quy định của Nhà nước là cơ

sở pháp lý, là kim chỉ nam cho việc thực hiện các hoạt động đấu thầu

Chủ đầu tư càng hiểu rõ về các thể chế chính sách, quy định của Nhà nước thì tiến trình chuẩn bị, tổ chức thực hiện hoạt động này càng mang tính khoa học và luôn đảm bảo chất lượng cao Cùng với những văn bản pháp lý về đầu

tư như: Nghị định số 42/NĐ-CP, số 92/NĐ-CP và số 52/NĐ-CP quản lý đầu tư

và xây dựng kèm theo các thông tư hướng dẫn lập và thẩm định dự án đầu tư, những văn bản pháp luật về đấu thầu thường được ban hành dưới các hình thức sau:

- Luật đấu thầu: Đây là hình thức cao nhất trong các văn bản pháp luật về đấu thầu được sử dụng ở những nước có hệ thống pháp lý đấu thầu đầy đủ Ở nước ta, chỉ có Quốc hội mới có đủ thẩm quyền ban hành Luật đấu thầu Trải qua một quá trình thử nghiệm và hoàn thiện hơn 15 năm qua, đến nay Việt Nam

đã có văn bản Luật đấu thầu đầu tiên: Luật Đấu thầu 61/2005/QH11 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2006 Luật Đấu thầu số 43/2014/QH13 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2013 có hiệu lực từ ngày 1/7/2014

- Pháp lệnh đấu thầu: Pháp lệnh đấu thầu là loại hình văn bản pháp luật có tính khái quát và pháp lý thấp hơn Luật đấu thầu, nhưng cao hơn Nghị định đấu thầu Pháp lệnh đấu thầu do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành

- Nghị định đi kèm hướng dẫn thực hiện Quy chế đấu thầu: Đây là loại văn bản mà nội dung quy định có tính chất cụ thể, chi tiết hơn hai loại văn bản

Trang 36

trên và dễ được điều chỉnh, bổ sung hoặc thay đổi khi cần thiết Nghị định do

20

Thủ tướng Chính phủ ban hành Sau nhiều lần sửa đổi, chỉnh lý bổ sung, ngày 12/6/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định

88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999, Nghị định 14/2000/NĐ-CP của Chính

phủ và Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014, gồm 15 Chương với 130 điều quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu thực hiện các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 1 của Luật Đấu thầu Đó là các văn kiện pháp lý được ban hành dưới hình thức này ở nước ta thời gian qua Có thể nói đây là một bộ luật quan trọng giúp cho các bên tham gia đấu thầu có cơ hội, có điều kiện để thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ của mình; là cơ sở để các cơ quan pháp luật xử lý khi có các trường hợp sai phạm xảy ra

Hệ thống văn bản pháp luật ra đời để quy định và ràng buộc các hành vi liên quan đến nhà thầu Tuy nhiên, do Nhà nước nhiều lần thay đổi các quy chế đấu thầu nên quá trình quản lý đầu tư và tổ chức đấu thầu những năm qua vẫn còn một số nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý và tổ chức đấu thầu

b Chất lượng các nhà thầu

Nhân tố không kém phần quan trọng góp phần đóng góp vào sự thành công của hoạt động đấu thầu chính là các nhà thầu Tất cả các công ty, doanh nghiệp, các tập đoàn, công ty tư vấn xây dựng tham gia vào tổ chức thực hiện các gói thầu có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đấu thầu Việc hiểu biết luật pháp, việc lãnh đạo tham gia một cách nghiêm túc các cuộc thầu, chất lượng

Trang 37

chuẩn bị và chất lượng hồ sơ tham dự thầu của họ là nhân tố quyết định đến chất lượng đấu thầu

Việc tham dự với nhiều HSDT do nhiều đơn vị khác nhau trong một tổ chức thống nhất, việc chủ trương hoặc làm ngơ trước các hoạt động móc ngoặc với những người có trách nhiệm thuộc bên mời thầu để thắng thầu như mua chuộc các thành viên trong Tổ chuyên gia đấu thầu, thống nhất tỷ lệ ăn chia giữa nhà thầu với các đại diện bên mời thầu Việc chủ động dàn xếp phân chia

21

phần thắng các gói thầu trong một nhóm các nhà thầu với nhau như hiện tượng dàn dựng quân xanh, quân đỏ là những hiện tượng làm suy giảm chất lượng hoạt động đấu thầu

Việc bố trí lựa chọn các chuyên gia có đủ trình độ, việc tăng cường bảo mật thông tin về chuẩn bị HSDT, việc chú trọng đúng mức đến vấn đề nghiên cứu khảo sát kỹ lưỡng trước khi xây dựng phương án xây dựng, việc đầu tư công sức cho khâu chuẩn bị HSDT là những biện pháp tăng cường khả năng thắng thầu của các nhà thầu

1.1.8.2 Nhân tố chủ quan

a Nguồn lực con người của Ban quản lý dự án:

Trước hết đó là số lượng về cán bộ trong ban quản lý Một ban quản lý cần phải có đủ các phòng ban chức năng, cán bộ cần thiết cũng như là số lượng nhân sự phục vụ quá trình đánh giá từng gói thầu nói riêng và thực hiện các phần công việc khác của ban quản lý dự án

Thông thường của các Ban quản lý dự án có cơ cấu tổ chức bao gồm:

Trang 38

- Giám đốc Ban quản lý dự án: Phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước các cấp có thẩm quyền, về toàn bộ các hoạt động của Ban quản lý dự án theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao

- Phó Giám đốc Ban quản lý dự án: Mỗi ban quản lý thường có từ 2 đến 3 Phó giám đốc giúp việc cho Giám đốc

- Ban QLCDA được tổ chức các phòng nghiệp vụ gồm: Phòng Kế hoạch – Đấu thầu, Phòng Kỹ thuật – Nghiệp vụ, Phòng Tài chính – Giải ngân, Phòng Hành chính – Phiên dịch

Yếu tố tiếp theo là về trình độ của đội ngũ cán bộ trong ban quản lý: Nhân

sự của ban quản lý để có thể đánh giá hồ sơ thầu chính xác, khách quan, đúng các quy định của nhà tài trợ cũng như luật pháp của nhà nước Việt Nam cần đảm bảo rất nhiều yếu tố:

- Đã thực hiện những gói thầu tương tự nhưng với tư cách là nhà thầu tham gia dự thầu tại các ban quản lý dự án khác: Yếu tố này ở nước ta lại đặc biệt cần thiết vì có rất nhiều đơn vị tham gia thầu năng lực kém nhưng trên hồ

sơ lại viết rất tốt Việc đã thực hiện nhiều gói thầu tương tự với tư cách tham

Trang 39

gia đấu thầu là nhà thầu sẽ giúp người cán bộ của ban quản lý đưa ra những quyết định chính xác, khách quan hơn

Một nhân tố quan trọng nữa là năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính Nếu như đội ngũ này có trình độ chuyên môn cao, xử lý kịp thời các vấn

đề liên quan thì có thể góp phần tiết kiệm thời gian cũng như nâng cao được chất lượng công tác đánh giá HSDT thông qua việc phối hợp đánh giá năng lực tài chính các nhà thầu tham dự

Nếu nguồn nhân lực của Ban quản lý dự án có ưu thế về kinh nghiệm và

sự năng động của đội ngũ cán bộ trẻ được đào tạo thì sẽ là một ban quản lý dự

án có sức cạnh tranh cao đối với các ban quản lý dự án khác, được trung ương cũng như địa phương tin tưởng giao những dự án quan trọng, quy mô lớn Tuy nhiên một ban quản lý dự án muốn phát triển mạnh hơn nữa thì cán

bộ lãnh đạo chủ chốt cần phải đoàn kết nhiệt tình và phải đưa ra được các chính sách, nội quy cụ thể khuyến khích học tập, làm việc để những thành viên trong ban quản lý đạt được kết quả cao hơn nhằm tạo thành một ê kíp năng động, hiệu quả và tự chủ trong mọi tình huống

b Khả năng tổ chức quản lý hiệu quả, linh hoạt của ban quản lý dự án:

23

Một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý sẽ giúp ban quản lý dự án nâng cao được hiệu quả của mọi hoạt động Nhờ đó tạo ra sự linh hoạt khi xử lý các thay đổi của các nhân tố bên ngoài cũng như bên trong của ban quản lý làm giảm những thiệt hại không đáng có

Tính hiệu quả: Cơ cấu tổ chức phải đảm bảo thực hiện những mục tiêu của

Trang 40

Ban quản lý với chi phí thấp nhất; cơ cấu tổ chức có đầy đủ các bộ phận và con người (không thừa mà cũng không thiếu) để thực hiện các hoạt động cần thiết Giữa các bộ phận và cấp tổ chức đều thiết lập được những mối quan hệ hợp lý với số cấp nhỏ nhất Hiệu quả và hiệu lực luôn là mục đích và mục tiêu tiến tới của bất kỳ tổ chức nào Mỗi tổ chức luôn đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định để đạt tới Vì thế tổ chức bộ máy của ban quản lý phải:

- Tăng cường sự lãnh đạo tập trung thống nhất ở cấp cao nhất, phát huy được tính tích cực của các cơ quan quản lý ở các cấp, khiến cho họ tận tâm tận lực với công việc và phối hợp chặt chẽ với nhau trong công việc Dựa trên nguyên tắc nâng cao hiệu quả quản lý để xác định biên chế tổ chức và chế độ quản lý Đảm bảo phối hợp giữa các cấp một cách tốt nhất ,phải lựa chọn

phương thức truyền tin, trao đổi nghiệp vụ trong doanh nghiệp một cách nhanh nhất và phân công hợp lý để mỗi bộ phận ,mỗi công việc đều có người phụ trách - Gắn các cấp quản lý thành một dây xích, trách nhiệm, quyền hạn giữa các bộ phận, các cấp rõ ràng, gắn bó với nhau Mỗi cấp chỉ có một người ra lệnh, tránh mâu thuẫn và làm tổn hao công sức và phải tăng cường sự hợp tác trong ban quản lý Việc gắn trách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân với công việc, gói thầu cụ thể trong dự án giúp ban quản lý đánh giá đúng năng lực của các bộ phận, cá nhân đó để đưa ra các quyết định điều chỉnh phù hợp, ngoài ra gắn trách nhiệm cụ thể cùng với chế tài khen thưởng kỷ luật rõ ràng cũng hạn chế các tiêu cực nảy sinh trong quá trình đánh giá HSDT, làm việc giữa các cá nhân trong ban quản lý với nhà thầu

24

- Gọn nhẹ phải có số lượng rõ ràng, tổ chức công việc và biện pháp kiểm

Ngày đăng: 18/09/2020, 08:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w