Nhận thức được vấn đề này, trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách và ban hành các văn bản pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH,
CÁ NHÂN QUA THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật Kinh tế
NGUYỄN VĂN LONG
Hà Nội - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH,
CÁ NHÂN QUA THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy
Tác giả
Nguyễn Văn Long
Trang 4Tôi xin cảm ơn đồng nghiệp, bàn bè, cơ quan và gia đình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian qua để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Long
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM 8
1.1 Khái niệm và đặc điểm của đất nông nghiệp 8
1.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp 8
1.1.2 Đặc điểm của đất nông nghiệp 10
1.2 Khái niệm và căn cứ pháp lý để thu hồi đất nông nghiệp 12
1.2.1 Khái niệm về thu hồi đất nông nghiệp 12
1.2.2 Căn cứ pháp lý để Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp 14
1.3 Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân 16
1.3.1 Khái niệm về hộ gia đình, cá nhân 16
1.3.2 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 18
1.3.3 Nội dung của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 24
2.1 Một số nét về thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 24
2.1.1 Vị trí địa lý 24
2.1.2 Đất nông nghiệp 24
Trang 62.1.3 Các văn bản hướng dẫn bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 25
2.2 Thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 26
2.2.1 Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của
hộ gia đình, cá nhân 26 2.2.2 Điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 29 2.2.3 Cách tính thiệt hại để được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 31 2.2.4 Trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 32 2.2.5 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp 36
2.3 Thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 37
2.3.1 Thực tiễn thi hành các nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 37 2.3.2 Thực tiễn thực thi các quy định về điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 38 2.3.3 Thực tiễn thực thi quy định về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 39 2.3.4 Cách tính thiệt hại để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 47
Trang 72.3.5 Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long,
tỉnh Quảng Ninh 50
2.3.6 Đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 56
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 56
3.2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 59
3.2.1 Kinh nghiệm từ Trung Quốc 60
3.2.2 Kinh nghiệm từ Hàn Quốc 61
3.2.3 Kinh nghiệm từ Singapore 62
3.3 Các giải pháp cụ thể 63
3.3.1 Nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 63
3.3.2 Nhóm giải pháp nâng cao khả năng thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 69
và nhân dân 71
3.4 Một số kiến nghị 73
3.4.1 Đối với UBND thành phố Hạ Long 73
3.4.2 Kiến nghị đối với Phòng TN&MT, phòng QLĐT và Trung tâm PTQĐ thành phố Hạ Long… 74
KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu viết tắt Nội dung viết tắt
2 HGĐ, CN Hộ gia đình, Cá nhân
4 FAO Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê về các dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố Hạ Long giai đoạn 2013 - 2017 45Bảng 2.2 Kết quả thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Hạ Long 45Bảng 2.3 Tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long 47Bảng 2.4 Đơn giá các loại đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố hạ Long năm
2014 48
Trang 10TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đề tài luận văn: “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp của hộ gia đình, cá nhân qua thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”
1 Kết quả đạt được của Luận văn
- Luận văn đã phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp như: khái niệm và đặc điểm của đất nông nghiệp, khái niệm của HGĐ, CN có quyền SDĐ nông nghiệp, khái niệm và đặc điểm của pháp luật về Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và vấn đề bồi thường;
- Luận văn đã phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, cá nhân, bào gồm: (i) Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN; (ii) Điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN; (iii) Cách tính thiệt hại để được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN; (iv) Trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN; (v) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp;
- Luận văn đã phân tích và làm rõ thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; chỉ ra những bất cập của pháp luật và những vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật;
- Luận văn đã đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
2 Khả năng ứng dụng thực tiễn của Luận văn
- Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN
Trang 11- Luận văn là tài liệu có tính ứng dụng trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất của HGD, CN trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cũng là tài liệu tham khảo cho các cơ quan cấp tỉnh nói chung trong việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập KTQT và trong quá trình CNH, HĐH đất nước Do yêu cầu phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển là một thực tế khách quan Tuy nhiên, quá trình trên cũng đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế,
xã hội rất bức xúc ở các địa phương, nhất là ở những nơi có tốc độ CNH và đô thị hoá diễn ra nhanh chóng Mặt khác, nước ta là một trong những nước đi đầu về tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nhất là cây lương thực Từ một nước phải nhập khẩu 1/3 lương thực mỗi năm đã vươn lên đứng thứ 2 về xuất khẩu lúa gạo (Bộ Công Thương, 2017) Với một nước nông nghiệp như nước ta, lấy sản xuất lúa nước làm chính, với hơn 70% số dân sống ở nông thôn, 23% là hộ nghèo, 57% lực lượng xã hội làm trong ngành nông nghiệp, thì thành tựu này có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội Nhưng trước thách thức về đất đai nông nghiệp ngày càng thu hẹp, vấn đề việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi đất nhưng không được bồi thường thỏa đáng được coi là vấn đề bức xúc nhất Đây cũng là thách thức lớn đối với chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng và phát triển đất nước nói chung
Nhận thức được vấn đề này, trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước
đã có nhiều chính sách và ban hành các văn bản pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của người sử dụng đất, lợi ích của Nhà nước và lợi ích của nhà đầu tư Mặc dù vậy, việc thi hành các quy định về đất đai nói chung và thi hành các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế Theo Thanh tra Chính phủ, khiếu kiện về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vẫn chiếm 70% tổng số các vụ khiếu kiện về đất đai (Tổng cục quản lý đất đai, 2017) Điều này có nguyên nhân là do các quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp vẫn còn nhiều bất cập và cũng có cả các nguyên nhân
do công tác thu hồi đất nói chung và bồi thường đối với việc thu hồi đất nông
Trang 13nghiệp nói riêng còn nhiều yếu kém Tình trạng này tồn tại ở khắp các tỉnh, địa phương trong cả nước, trong đó có thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh
Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là địa bàn có tốc độ đô thị hóa và CNH tương đối nhanh Cùng với đó là việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội cũng diễn ra mạnh mẽ Thực tế này đã dẫn đến nhiều hạn chế, vướng mắc trong thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trên thực tiễn là cần thiết, nhằm góp phần tìm ra giải pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót nói trên và nâng cao khả năng áp dụng các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng
Ninh Với ý nghĩa đó, tác giả đã chọn vấn đề “Pháp luật về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân qua thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài cho Luận văn Thạc
sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Do tầm quan trọng, tính phức tạp của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN, vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu phân tích từ nhiều góc độ Cụ thể:
Báo cáo về “Tình hình thu hồi đất của nông dân, thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa” được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố vào năm 2007 Báo cáo
này đã đưa ra những số liệu rất cơ bản về tình hình thu hồi đất của nông dân, về những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong đó đề cập vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất Tuy nhiên, do được tiến hành từ năm 2007 nên cho đến nay nhiều số liệu trong Báo cáo đã không còn cập nhật Ngoài ra, Báo cáo này cũng không đề cập đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 14Bài viết “Bình luận và góp ý đối với các quy định bồi thường về đất khi Nhà
nước thu hồi đất trong dự thảo Luật đất đai sửa đổi” của PGS TS Nguyễn Quang
Tuyến (2013) đăng trong Hội thảo Khoa học có tên gọi “Góp ý dự thảo Luật đất đai sửa đổi” tại Đại học Luật Hà Nội Bài viết đã làm rõ những quy định của pháp luật
về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, những hạn chế trong dự thảo Luật đất đai sửa đổi và nêu ra các định hướng để khắc phục những hạn chế này Tuy nhiên, bài viết chưa phân tích thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và bồi thường đối với việc thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN nói chung và tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng
Năm 2012, Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Thu Trang về “Pháp
luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn
áp dụng tại Nghệ An” đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, thực trạng áp dụng các quy định này tại tỉnh Nghệ An và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN
Năm 2014, tác giả Phạm Thu Thủy đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ
(Đại học Luật Hà Nội) với đề tài “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp ở Việt Nam” Luận án đã trình bày cơ sở lý luận về pháp luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam, thực trạng áp dụng các quy định này ở Việt Nam và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
ở Việt Nam Tuy nhiên, luận án không phân tích vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đối với HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Năm 2017, tác giả Lê Ngọc Thạnh đã bảo vệ Luận án tiến sĩ Luật học với đề
tài “Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam” (Đại học Luật TP Hồ Chí
Minh) Trong luận án, tác giả này đã phân tích vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và chỉ ra những điểm mới của Dự thảo Luật Đất đai năm 2013,
so sánh với những quy định có liên quan trong Luật Đất đai năm 2003 Tuy nhiên, Luận án này không phân tích vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 15Ngoài ra, có thể kể đến một số bài viết có liên quan đến thu hồi đất, thu hồi
đất nông nghiệp…, như “Chính sách hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất” của TS Trần Quang Huy (Tạp chí Luật học số 10/2010); “Vấn đề xung quanh khái niệm bồi
thường xung quanh khái niệm bồi thường khi thu hồi đất” của PGS TS Nguyễn
Quang Tuyến (Tạp chí Luật học số 01/2009); bài viết “Pháp luật về hỗ trợ khi nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp” Th.S Lê Ngọc Thạnh đăng trên Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật tháng 4/2013,…
Các nghiên cứu trên đã làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và đánh giá thực trạng áp dụng trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực cũng như chưa có công trình nghiên cứu nào về thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ,
CN trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Điều này cho thấy tính mới của đề tài nghiên cứu của Luận văn Thạc sĩ này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN và chỉ ra những bất cập của pháp luật cùng những khó khăn trong thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, đề tài đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao khả năng thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Phân tích để làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp như: Khái niệm và đặc điểm của đất nông nghiệp; khái niệm của HGĐ, CN có quyền SDĐ nông nghiệp, khái niệm và đặc điểm của pháp luật về Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và vấn
đề bồi thường;
Trang 16- Chỉ ra những nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN;
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; chỉ ra những bất cập của pháp luật và những vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật;
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
4 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến thu hồi đất nông nghiệp và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN Đối tượng nghiên cứu của luận văn còn bao gồm các văn bản pháp luật có liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN cũng như thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Về nội dung, phạm vi của luận văn bao
gồm 5 vấn đề: (1) Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN; (2) Phạm vi, điều kiện bồi thường; (3) Trình tự, thủ tục bồi thường; (4) Cách tính thiệt hại để được bồi thường; (5) Giải quyết khiếu nại khi bồi thường
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận văn nghiên cứu pháp luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN nói chung và thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Khi đánh giá thực trạng pháp luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN và thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, luận văn lấy mốc là năm 1987 -
Trang 17năm ban hành Luật Đất đai đầu tiên của Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh từ năm 2013
- năm ban hành Luật Đất đai mới cho đến nay
Khi đề xuất giải pháp, luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và giải pháp nâng cao khả năng thực thi pháp luật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ nay cho đến năm 2023
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu Đặc biệt, phương pháp
so sánh luật học được sử dụng để so sánh các quy định có liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp qua các thời kỳ ở việt Nam Cụ thể:
- Phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích luật học được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam nhằm làm rõ các khái niệm về đất nông nghiệp, về nội dung của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp, về căn cứ và các cơ sở đề Nhà nước và về nghĩa vụ bồi thường của Nhà nước trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN Tại Chương này, phương pháp so sánh luật học cũng được áp dụng để phân tích các qui phạm pháp luật nhằm so sánh, đối chiếu để thấy được những thay đổi của pháp luật khi quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại thành phố Hạ Long, Quảng Ninh
- Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật về 5 nội dung được nghiên cứu trong Luận văn và thực trạng thực thi pháp luật
và thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Phương pháp luận giải và phương pháp hệ thống hóa được sử dụng trong Chương 3 khi nghiên cứu để lập luận cho các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao khả năng thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 186 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao khả năng thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 19CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và đặc điểm của đất nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp
Theo cách hiểu truyền thống của người Việt Nam, đất nông nghiệp thường được coi là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như ngô, khoai, sắn và những loại cây được coi là lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp khá phong phú, không chỉ đơn thuần là trồng lúa, hoa màu mà còn được sử dụng để trồng các loại cây lâu năm hay dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp): “Đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất được xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi, bảo
vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ” ( Viện khoa học pháp lý năm 2006)
FAO không đưa ra khái niệm về đất nông nghiệp mà chỉ phân chia đất nông nghiệp thành 4 loại như sau:
(i) Đất canh tác như đất trồng cây hàng năm, chẳng hạn như: ngũ cốc, bông, khoai tây, dưa hấu, loại hình này cũng bao gồm cả đất sử dụng được trong nông nghiệp nhưng tạm thời bỏ hoang (đất hoang hóa, đất thoái hóa)
(ii) Vườn cây ăn quả và những vườn nho hay cánh đồng nho (thông dụng ở Châu Âu)
(ii) Đất trồng cây lâu năm ví dụ như cây ăn quả
(iv) Cánh đồng, thửa ruộng và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc
Tùy thuộc vào việc sử dụng hệ thống tưới tiêu nhân tạo, đất nông nghiệp được chia thành đất có tưới tiêu và đất không có tưới tiêu (không thường xuyên) Ở
Trang 20các nước đang khô hạn và bán khô hạn, đất nông nghiệp thường được giới hạn trong phạm vi đất tưới tiêu
Cùng với sự phát triển kinh tế và vai trò của đất nông nghiệp ngày càng quan trọng, vì vậy tại Việt Nam, đất nông nghiệp là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật đất đai ở nước ta Điều 42 Luật Đất đai 1993 quy định
về đất nông nghiệp như sau: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp” Với quy định của Luật Đất đai năm 1993, đất đai ở Việt Nam được chia làm 6 loại: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn và đất chưa sử dụng, căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu của các loại đất
Theo sự phân loại này, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được tách riêng thành hai loại đất trong số 6 loại đất thuộc vốn đất quốc gia và được định nghĩa theo Điều 42 và Điều 43 của Luật Đất đai năm 1993 Với quy định về đất nông nghiệp trong Luật Đất đai năm 1993, ở nước ta quan niệm đất nông nghiệp dựa vào tiêu chí mục đích sử dụng chủ yếu (mục đích chính, mục đích cơ bản nhất do Nhà nước với
tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai xác định và được ghi rõ trong quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) Điều 13 Luật Đất đai năm 2003 cũng căn cứ vào mục đích sử dụng để chia đất đai thành 3 nhóm: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng
Căn cứ vào mục đích sử dụng, Luật Đất đai năm 2003 đưa ra khái niệm về đất nông nghiệp rộng hơn với tên gọi “nhóm đất nông nghiệp”, theo đó, nhóm đất nông nghiệp bao gồm 8 nhóm là: (i) Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; (ii) Đất trồng cây lâu năm; (iii) Đất rừng sản xuất; (iv) Đất rừng phòng hộ; (v) Đất rừng đặc dụng; (vi.) Đất nuôi trồng thủy sản; (vii) Đất làm muối: (viii) Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ
Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục giải thích đất nông nghiệp dưới dạng nhóm đất, bao gồm các loại đất: (i) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất
Trang 21trồng cây hàng năm khác; (ii) Đất trồng cây lâu năm; (iii) Đất rừng sản xuất; (iv) Đất rừng phòng hộ; (v) Đất rừng đặc dụng; (vi) Đất nuôi trồng thủy sản; (vii) Đất làm muối; (viii) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh (Điều 10 Luật Đất đai năm 2013)
Như vậy, về cơ bản, cách hiểu về đất nông nghiệp theo Luật Đất đai năm
2013 không có nhiều điểm khác biệt so với năm 2003 Chỉ có điểm khác biệt so với Luật Đất đai năm 2003 là Luật Đất đai năm 2013 Luật hóa quy định về đất nông nghiệp khác để tránh cách hiểu hạn hẹp, không bao quát được hết các loại đất nông nghiệp Theo đó, cách hiểu về đất nông nghiệp khác không còn mang nặng ảnh hưởng về địa lý, đó không chỉ là các loại đất chỉ có ở nông thôn mà còn là đất có xây dựng công trình để trồng trọt, chăn nuôi ở cả đô thị và nông thôn
Từ phân tích ở trên, người viết cho rằng có thể hiểu về đất nông nghiệp như
sau: Đất nông nghiệp là tập hợp các loại đất phù hợp với sản xuất vào mục đích
nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định mục đích sử dụng thông qua công cụ quy hoạch sử dụng đất
Ở Việt Nam, đất nông nghiệp chiếm một tỷ lệ tương đối lớn trong vốn đất đai và được phân bố rộng khắp trên phạm vi cả nước Việc quan niệm đất nông nghiệp ở phạm vi rộng như trên là cần thiết và phù hợp với thực tế khai thác và sử dụng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong thực tế khi xác định đất bị thu hồi là loại đất nào trong nhóm đất nông nghiệp để làm cơ sở cho việc xác định cách thức và mức bồi thường
1.1.2 Đặc điểm của đất nông nghiệp
Ngoài những đặc điểm chung của đất đai, như đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước là đại diện của chủ sở hữu đất đai (Điều 53, Hiến pháp năm 2013) là
Trang 22tài sản không do con người tạo ra, có tính cố định và không thể di dời,… đất nông nghiệp còn có những đặc điểm riêng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đất nông nghiệp là loại đất mà giá trị sử dụng phụ thuộc chủ yếu
vào chất lượng đất đai, độ màu mỡ phì nhiêu của đất
Giá trị của đất đô thị, đất ở hay một số loại đất chuyên dùng khác phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như vị trí địa lý của khu đất đó, khả năng sinh lợi, mức độ hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng, hướng, hình thể, kích thước, diện tích,… Đối với đất nông nghiệp, do sử dụng làm tư liệu sản xuất, nên giá trị của loại đất này lại phụ thuộc vào các yếu tố nông, hóa, thổ nhưỡng như độ phì nhiêu, tầng dày của lớp đất mặt, độ dốc, độ PH (độ chua),… Độ phì hay độ màu mỡ là một thuộc tính tự nhiên của đất nông nghiệp và là yếu tố quyết định chất lượng của đất Đây là một đặc trưng của đất nông nghiệp, thể hiện khả năng cung cấp thức ăn, nước cho cây trồng trong quá trình phát triển
Đặc điểm này của đất nông nghiệp đã cho thấy rõ vì sao trong các quy định của pháp luật hiện hành về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, về các trường hợp thu hồi đất, về chuyển mục đích sử dụng đất thì đối với loại đất nông nghiệp có giá trị cao, đặc biệt là đất trồng lúa nước - loại đất mà nguồn sống và thu nhập của gần 70% dân số trông chờ vào đó, được Nhà nước quy định hết sức nghiêm ngặt, với chủ trương hạn chế thu hồi để đảm bảo đời sống cho họ và cao hơn là vì sự an toàn lương thực của quốc gia
Thứ hai, đất nông nghiệp được sử dụng làm tư liệu sản xuất trực tiếp và
không thể thay thế được trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối
Như đã đề cập trong phần khái niệm đất nông nghiệp, đất nông nghiệp là tổng thể của nhiều loại đất được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Có loại đất được sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, có loại đất được sử dụng không vì mục đích kinh doanh nhưng nó là địa bàn, nền tảng để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp; có loại đất được sử dụng cho mục đích ngắn hạn hoặc trồng các loại cây hàng năm, có loại đất được sử dụng cho mục đích dài hạn và
Trang 23trồng các loại cây lâu năm Tuy nhiên, trong thực tế khai thác và sử dụng đất của các tổ chức, HGĐ, CN, có những loại đất mà khởi nguồn chúng được sử dụng cho mục đích chính là sản xuất nông nghiệp như: Trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng các loại cây ăn quả hay các loại cây lâu năm, song do nhu cầu tự thân của mỗi chủ thể muốn thay đổi mục đích sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hoặc trong nhiều trường hợp vì lợi ích của những loại đất sử dụng cho mục đích khác có giá trị cao hơn so với đất nông nghiệp mà họ đang sử dụng nên các chủ thể
đã tự ý thay đổi mục đích so với ban đầu - và chúng trở thành đất phi nông nghiệp
Sự thay đổi mục đích này có thể Nhà nước kiểm soát được và cho phép, song cũng có trường hợp Nhà nước không kiểm soát được Trong trường hợp này, mục đích sử dụng đất trong hồ sơ, giấy tờ là đất nông nghiệp, song trên thực tế họ lại sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp như: Sử dụng đất vườn ao để làm nhà ở, sử dụng đất nông nghiệp tiếp giáp với trục giao thông để làm địa điểm kinh doanh phi nông nghiệp, chuyển từ loại đất trồng cây hàng năm sang loại đất trồng cây lâu năm,… Với những trường hợp này, việc nghiên cứu đặc điểm của đất nông nghiệp
là loại đất được sử dụng cho mục đích "chủ yếu" là sản xuất nông nghiệp sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định loại đất được bồi thường và mức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Điều này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừa các sai phạm của người có đất bị thu hồi, cố tình kê khai gian dối loại đất
có giá trị cao hơn, để được bồi thường nhiều hơn khi Nhà nước thu hồi đất
1.2 Khái niệm và căn cứ pháp lý để thu hồi đất nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm về thu hồi đất nông nghiệp
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thu hồi đất được hiểu là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ
sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (Viện khoa học pháp lý năm 2006)
Trang 24Trong Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993, đã đề cập vấn đề thu hồi đất, nhưng chưa định nghĩa rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ liệt kê các trường hợp bị thu hồi đất (Điều 14 Luật Đất đai năm 1987 và điều 26 Luật Đất đai năm 1993)
Khái niệm thu hồi đất lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2003: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền
sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này” Khái niệm này cho thấy 3 nội dung quan trọng (i) Người có quyền thu hồi đất là Nhà nước và quyết định thu hồi đất là quyết định mang tính hành chính; (ii) Đối tượng bị thu hồi đất là người sử dụng đất chứ không phải đất; (iii) Người bị thu hồi đất là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền SDĐ nhưng sử dụng sai mục đích Điểm bất cập trong quy định này là sẽ dẫn đến cách hiểu người sử dụng đất bị thu hồi chỉ là tổ chức hay Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn Ngoài ra, khái niệm này cũng chưa bao quát được các trường hợp
bị Nhà nước thu hồi đất
Khoản 11 Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 đưa ra khái niệm về thu hồi đất như sau: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” Người viết cho rằng khái niệm này có tính bao quát hơn, tiến bộ hơn vì nó loại bỏ được bất cập trong Luật Đất đai năm 2003
và ghi rõ cả trường hợp người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai
Từ những nghiên cứu ở trên, có thể đưa ra khái niệm về thu hồi đất nông nghiệp như sau: “Thu hồi đất nông nghiệp là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất nông nghiệp đã trao cho các chủ thể sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật đất đai”
Thu hồi đất nông nghiệp gây ra những hậu quả tiêu cực cho người bị thu hồi đất Họ bị mất tư liệu sản xuất, không có công ăn việc làm dẫn đến đời sống gặp nhiều khó khăn Vì vậy, việc thu hồi đất nông nghiệp cho dù là Nhà nước quyết
Trang 25định thu hồi nhưng việc thu hồi đất nông nghiệp cũng phải dựa trên các căn cứ pháp
lý cụ thể của pháp luật quy định
1.2.2 Căn cứ pháp lý để Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Nếu như giao đất, cho thuê đất là cơ sở để làm phát sinh quan hệ pháp luật đất đai, phát sinh quyền SDĐ của người được Nhà nước trao quyền sử dụng thì thu hồi đất là một biện pháp làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai bằng một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thông qua những hoạt động này, Nhà nước thể hiện rất rõ quyền định đoạt đất đai với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai
Sau khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, với đặc thù chế độ sở hữu toàn dân
mà Nhà nước là đại diện sở hữu, có khá nhiều bàn luận khác nhau về căn cứ pháp lý này Có quan điểm cho rằng thu hồi đất chỉ thực sự phù hợp trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất do có hành vi vi phạm pháp luật đất đai và thu hồi do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật đất đai hoặc tự nguyện, bởi lẽ Nhà nước giao đất, mặc dù người dân không có quyền sở hữu nhưng đã được xác lập quyền chiếm hữu
và quyền sử dụng, họ có quyền định đoạt quyền sử dụng đất hợp pháp của mình Tuy nhiên, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, căn cứ để thu hồi đất nói chung
đã được thể hiện tại Điều 54 Khoản 3 theo đó “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”.b
Như vậy, căn cứ để Nhà nước thu hồi đất trong đó có đất nông nghiệp là trong trường hợp thật cần thiết do pháp luật quy định Đối với đất nông nghiệp, Luật Đất đai năm 2013 quy định 3 trường hợp thu hồi đất, đó là: (1) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; (2) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; (3) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người
Để cụ thể hóa 3 căn cứ thu hồi đất nói chung, thu hồi đất nông nghiệp nói riêng, Luật Đất đai năm 2013 cũng làm rõ các căn cứ này tại các điều từ Điều 61 đến Điều 65
Trang 26Sở dĩ, quy định về các căn cứ để thu hồi đất là quy định có tính Hiến định và còn được cụ thể hóa trong Luật Đất đai năm 2013 là bởi vì hệ quả của thu hồi đất nông nghiệp cũng giống như thu hồi các loại đất khác đó là làm chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng thửa đất Như đã phân tích, vai trò của đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất, là nguồn sống, là truyền thống của người dân, hệ quả của việc thu hồi đất nông nghiệp là rất lớn đặc biệt là ảnh hưởng tới đời sống của người nông dân Nói cách khác, hệ quả của việc thu hồi đất nông nghiệp là khá nghiêm trọng, đó là:
Thứ nhất, xét về mặt tài sản, người có đất nông nghiệp bị thu hồi sẽ mất đi
quyền SDĐ, chịu thiệt hại về các kết quả đầu tư đã bỏ công sức xây dựng như công trình hạ tầng, cây cối, thiệt hại do không được khai thác hoa lợi, lợi tức phát sinh từ đất So với các loại đất khác thì khi thu hồi đất nông nghiệp, thiệt hại về công trình
hạ tầng, công trình kiến trúc không lớn như đất ở, các loại đất phi nông nghiệp khác nhưng đất nông nghiệp với vai trò tư liệu sản xuất chính trong nông nghiệp, những thiệt hại về cây cối, nông sản, hoa lợi, lợi tức trong tương lai lại vô cùng lớn
Thứ hai, thiệt hại về chi phí đầu tư vào đất Giá trị của đất nông nghiệp chủ
yếu phụ thuộc vào độ màu mỡ, phì nhiêu của từng loại đất Con người không những chỉ sử dụng độ màu mỡ tự nhiên của đất mà còn có khả năng tăng thêm độ màu mỡ của đất Để sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp, người sử dụng phải đầu tư điều chỉnh
độ màu mỡ, giá trị dinh dưỡng của đất nông nghiệp cho phù hợp với các loại hình chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp Có thể nói, các chi phí đầu tư vào đất mà người sử dụng đất nông nghiệp bỏ ra như phí san lấp, phí cải tạo đất,… là không hề nhỏ Khi thu hồi đất nông nghiệp, cần có sự xem xét chính xác các chi phí đầu tư này dựa trên các hồ sơ, chứng cứ chứng minh
Thứ ba, thiệt hại do ngừng việc sản xuất, kinh doanh nông nghiệp khi người
sử dụng bị thu hồi đất nông nghiệp là rất lớn Thu hồi đất nông nghiệp chính là thu hồi tư liệu sản xuất của người nông dân, họ sẽ bị mất cơ hội lao động, mất nguồn sống So với việc thu hồi đất khác, thu hồi đất nông nghiệp không chỉ gây thiệt hại trước mắt mà còn ảnh hưởng lâu dài do khó có sự thay đổi, chuyển đổi việc làm cho người nông dân
Trang 27Chính vì vậy, pháp luật không chỉ quy định về các căn cứ để thu hồi đất nông nghiệp mà còn quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
1.3 Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân
1.3.1 Khái niệm về hộ gia đình, cá nhân
Theo Từ điển Luật học, thì hộ gia đình là “tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng” (Viện Khoa học pháp lý 2006, Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khóa)
Điều 106 BLDS 2005 quy định như sau: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” BLDS năm 2015 không đưa ra khái niệm HGĐ mà chỉ ghi nhận HGĐ không phải là pháp nhân, do đó vừa xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của HGĐ sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai (Điều 101 BLDS năm 2015)
Trên khía cạnh pháp lý, hộ gia đình có các điều kiện sau sẽ có thể là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự (vay vốn, mua, bán, thuê, mượn,…) với đặc điểm: Các thành viên có tài sản chung; cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định
Bộ luật Dân sự 2015 không quy định tài sản chung của HGĐ theo phương pháp liệt kê như Bộ luật Dân sự 2005 mà quy định tài sản chung của HGĐ gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và tài sản khác được các thành viên thỏa thuận là tài sản chung Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên HGĐ được thực hiện theo thỏa thuận của các thành viên
Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở
Trang 28lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý” Do không có bất kỳ văn bản hướng dẫn cụ thể tài sản nào là tư liệu sản xuất và tài sản nào được coi là có giá trị lớn, đã dẫn đến sự áp dụng pháp luật không thống nhất Bộ luật Dân sự 2015 quy định HGĐ là chủ thể không có tư cách pháp nhân - đây là vấn đề chưa được xác định rõ tại Bộ luật Dân sự 2005 Theo đó, các thành viên trong HGĐ phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình, trong trường hợp tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ
Theo quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.” tức HGĐ theo Luật Đất đai được xác định dựa trên sổ hộ khẩu, nhưng phải tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng, nhận chuyển quyền sử dụng đất Đồng thời Điều 98 Luật Đất đai 2013 quy định phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sở hữu đối với thửa đất nhiều người có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Tuy nhiên, thực tế áp dụng pháp luật còn thiếu đồng nhất, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của HGĐ chỉ ghi tên một người đại diện; trong khi đất là tài sản chung được sử dụng ổn định, lâu dài nên thành viên trong sổ hộ khẩu có rất nhiều thay đổi Nếu khi thực hiện giao dịch chỉ căn cứ vào sổ hộ khẩu thì không hợp lý, nên căn cứ thêm vào quyết định cấp đất, giao đất, cho thuê đất của nhà nước để xác định những người có quyền sở hữu chung
BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 sử dụng khái niệm cá nhân để phân biệt với khái niệm pháp nhân Theo đó, cá nhân bao gồm cả công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch, trong đó công dân là loại chủ thể cá nhân chủ yếu của quan hệ pháp luật dân sự Việc xác định tư cách chủ thể cả cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự được dựa trên cơ sở năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết và
Trang 29năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ
có được khi đạt độ tuổi nhất định
1.3.2 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Theo Từ điển tiếng Việt, bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra cho người khác Trong cuộc sống thường ngày, bồi thường được sử dụng trong trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và phải đền bù cho người bị thiệt hại những tổn thất do hành vi của mình gây ra
Trong quan hệ pháp luật, trách niệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể
có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác Đó có thể là bồi thường thiệt hại dân sự hay bồi thường do vi phạm hành chính, bồi thường do vi phạm pháp luật Hình sự,…
Trong quan hệ pháp luật đất đai, khái niệm bồi thường đã được đề cập đến từ rất sớm Tuy nhiên, khi Luật Đất đai 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/05/1990 quy định “Về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác”, thuật ngữ bồi thường được thay thế bằng thuật ngữ đền bù thiệt hại Khi Luật Đất đai được sửa đổi năm 2001, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội ban hành, thuật ngữ bồi thường được sử dụng và tiếp tục xuất hiện trong Luật Đất đai năm 2003 Theo đó, “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất”(Khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003)
Khái niệm này chưa thật toàn diện, bởi lẽ nếu quy định bồi thường là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền SDĐ là không đúng Giá trị của đất, đặc biệt là đất nông nghiệp không bao giờ giữ nguyên giá trị ban đầu mà luôn tăng thêm do có sự cải tạo, đầu tư của con người Bên cạnh việc bồi thường giá trị quyền sử dụng đất, Nhà nước còn có các chính sách bồi thường với tài sản trên đất, những chi phí đầu
tư vào đất
Trang 30Nhằm có cách hiểu rõ ràng hơn về định nghĩa này, tách bạch rõ bồi thường
về đất và bồi thường về tài sản, Luật Đất đai năm 2013 tại Khoản 12 Điều 3 đã giải thích rõ: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” còn những vấn đề bồi thường tài sản gắn liền với đất, những chi phí đầu tư vào đất được quy định cụ thể hơn tại các điều luật khác Từ khái niệm này có thể thấy vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất về cơ bản có những đặc điểm sau:
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước, nó chỉ phát sinh sau khi có quyết định hành chính về thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
- Bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất nông nghiệp do bị thu hồi;
- HGĐ, CN bị Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp không chỉ được bồi thường
về đất mà còn được bồi thường về tài sản trên đất, và còn được xem xét giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như ổn định sản xuất giải quyết việc làm
- Việc bồi thường của Nhà nước chỉ áp dụng đối với các đối tượng bị thu hồi đất nông nghiệp là HGĐ, CN đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật
Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu đầy đủ về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN là việc Nhà nước bù đắp những thiệt hại về đất và tài sản, bao gồm cả các chi phí đầu tư vào đất nông nghiệp do việc thu hồi đất nông nghiệp gây ra cho HGĐ, CN sử dụng đất khi HGĐ, CN đáp ứng các quy định của pháp luật về đất đai
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN
là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình Nhà nước bồi thường về đất, tài sản, chi phí đầu tư trên đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN
có 3 đặc điểm chủ yếu như sau:
Trang 31- Về chủ thể: Tham gia vào quan hệ pháp luật ở lĩnh vực này có Nhà nước – Nhà nước là chủ thể có thẩm quyền giao đất nông nghiệp, cho thuê đất nông nghiệp Tuy nhiên, khi thực hiện quyền này của Nhà nước, Nhà nước trao lại cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện quyền hạn và trách nhiệm trong việc bồi thường cho HGĐ, CN bị thu hồi đất
Tham gia vào quan hệ pháp luật này còn có HGĐ và cá nhân – những chủ thể được trao quyền SDĐ nông nghiệp là những đối tượng thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp
- Về nguồn luật: Nguồn của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN bao gồm hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật
có liên quan Trước tiên là Hiến pháp năm 2013 với ý nghĩa là đạo luật cơ bản, xuyên suốt có giá trị pháp lý cao nhất Tiếp đến là BLDS 2015 với ý nghĩa là bộ luật chung, quy định các vấn đề về tài sản, về đất đai, về quyền sử dụng đất, về HGĐ, về CN,… Cuối cùng là các luật chuyên ngành như Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thực hiện về thu hồi đất nông nghiệp và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
- Vê cách thức tính tiền bồi thưởng khi Nhà nước thu hồi đất của HGĐ, CN:
Do đất nông nghiệp cũng là đất công do Nhà nước thống nhất quản lý và việc thu hồi đất nông nghiệp cũng phải căn cứ theo những quy định của pháp luật nên cách tính tiền bồi thường cũng là một đặc điểm riêng có
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là một lĩnh vực chịu sự chi phối bởi hình thức sở hữu toàn dân về đất đai còn có những đặc trưng riêng như: Cơ sở để bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp không chỉ dựa trên những thiệt hại thực tế mà người nông dân phải gánh chịu ngay tại thời điểm thu hồi đất mà còn tính đến cả những thiệt hại trong tương lai bởi vai trò không thể thay thế được của đất nông nghiệp đối với người nông dân, khác với chủ thể khác, các loại đất khác, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chính của người nông dân Ngoài ra, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp áp dụng chủ yếu với cá nhân, hộ nông dân ở nông thôn, là sự kết hợp đan xen nhiều biện
Trang 32pháp khác nhau như: Biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, biện pháp tuyết phục
và cưỡng chế Đặc biệt, ở mỗi địa phương khác nhau khi thực hiện về bồi thường đối với người nông dân khi bị thu hồi đất thì bên cạnh việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật cần chú trọng đặc điểm vùng miền, đặc điểm của các loại đất
để có những định hướng giải quyết phù hợp Nội dung này sẽ được phân tích cụ thể
ở Chương 2 của Luận văn
1.3.3 Nội dung của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp
Thu hồi đất nông nghiệp có liên quan đến nhiều chế định pháp luật, quy định
về cơ sở pháp lý để thu hồi đất, các nội dung đảm bảo thẩm quyền của Nhà nước và quyền lợi của người có đất bị thu hồi Các nội dung cơ bản của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp bao gồm:
(i) Quy định về quy định sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp – cơ
sở pháp luật thu hồi đất nông nghiệp;
Thứ nhất, quy hoạch đất đai là việc tính toán, phân bổ đất đai cụ thể về số
lượng, chất lượng, vị trí, không gian cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo cơ sở khoa học và mục tiêu kinh tế xã hội để việc sử dụng đất phù hợp với các điều kiện về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và từng ngành sản xuất
Thứ hai, quy hoạch sử dụng đất có thể hiểu là việc xác định mục đích sử
dụng của các loại đất trên những tính toán khoa học và dựa trên nhu cầu thực tế kinh tế xã hội
Thứ ba, theo quan điểm của các nhà lập pháp lần đầu tiên được đưa ra tại
Khoản 2 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 với giải thích:
Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo
vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu
sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định
Trang 33Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian
để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất
(ii) Quy định về nội dung, trình tự, thủ tục sử dụng đất nông nghiệp;
Về quy phạm nội dung, các trường hợp thu hồi đất phải được xem xét, xuất phát từ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hay phát triển kinh tế để Nhà nước có cách ứng xử phù hợp
Về quy phạm hình thức, tức là những quy định về trình tự, thủ tục khi thu hồi đất nông nghiệp, cách thức thực hiện thẩm quyền của từng cơ quan Nhà nước, cá nhân được trao quyền và trách nhiệm của người sử dụng đất phải tuân theo để đảm bảo cho các quy phạm nội dung được thực hiện hiệu quả đáp ứng các yêu cầu thực tế
(ii) Quy định về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp;
Hiến pháp nước ta hiện nay đã khẳng định quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ và việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp phải đảm bảo đáp ứng quyền lợi của người bị thu hồi đất nông nghiệp, quyền lợi của Nhà nước với tư cách
là chủ sở hữu trong việc thực hiện quyền điều tiết phần giá trị gia tăng từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại và đảm bảo cho khả năng sinh lợi của nhà đầu tư khi bỏ vốn thực hiện dự án
(iv) Quy định về khiếu nại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp;
Ngoài việc đáp ứng nhu cầu khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại khi bị xâm phạm, hoạt động áp dụng pháp luật về khiếu nại khi Nhà nước thu hồi đất cần hướng đến: (i) Việc kiểm soát hoạt động của bộ máy hành chính nhằm hạn chế sự tha hóa quyền lực, (ii) Phát hiện những bất cập, hạn chế, xung đột trong hệ thống pháp luật, (ii) Tuyên truyền ý thức pháp luật đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân trong việc thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình
Trang 34Luận văn cũng đưa ra khái niệm về đất nông nghiệp, khái niệm pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp; đặc điểm và nội dung của Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN Do tính đa dạng về nội dung của Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp nên luận văn đã lựa chọn 5 nội dung của Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của HGĐ, CN Đó là nguyên tắc bồi thường; phạm vi bồi thường; trình tự, thủ tục bồi thường; cách tính thiệt hại để được bồi thường và giải quyết khiếu nại về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Một số nét về thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Hạ Long ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích đất là 27.195,03 ha, có quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của thành phố, có cảng biển, có bờ biển dài 50km, có vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên của thế giới với diện tích 434km2 Với vị trí địa lý thuận lợi và nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế - xã hôi, giao lưu văn hóa, trong những năm vừa qua thành phố Hạ Long đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của tỉnh Quảng Ninh Cơ cấu kinh tế của thành phố được xác định là: công nghiệp - du lịch, dịch vụ, thương mại, nông - lâm nghiệp và thủy sản Năm 2015, GDP của thành phố đạt 22.000 tỷ đồng chiếm 41% toàn tỉnh (trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 31%, dịch vụ và du lịch chiếm 53%), chiếm 69,3% trong tổng thu ngân sách toàn tỉnh Quảng Ninh Tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố bình quân là 12%/năm (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh 2015)
2.1.2 Đất nông nghiệp
Với mục tiêu phát triển kinh tế theo hướng tập trung phát triển các ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành dịch vụ du lịch, trong những năm vừa qua, cơ cấu đất đai của thành phố Hạ Long có sự thay đổi rõ rệt Theo thống kê, năm 2009, thành phố
Hạ Long có tổng diện tích đất tự nhiên là 27.195,03 ha, bao gồm các loại đất sau: đất nông nghiệp 9.544,86 ha; Đất phi nông nghiệp 16.254,92 ha, đất chưa sử dụng 1.395,25 ha Đến năm 2017, tổng diện tích đất tự nhiên là 27.558 ha bao gồm: đất sản xuất nông nghiệp (1.860ha), đất lâm nghiệp (6.907ha), đất chuyên dùng (11.099ha), đất ở (1.049ha) Có thể thấy, diện tích đất nông nghiệp của thành phố đã giảm còn 1/5 trong vòng 8 năm vừa qua Trong đó, một phần được quy hoạch để
Trang 36phát triển đô thị, một phần được thu hồi để thực hiện các dự án phát triển kinh tế -
xã hội, an ninh quốc phòng và các mục đích khác
Đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong kinh tế nông nghiệp, vì vậy
để đảm bảo phát triển, là vành đai kinh tế quan trọng đồng thời ổn định đời sống cho người nông dân là một vấn đề lớn đối với chính quyền thành phố Hạ Long Nếu không thực hiện tốt việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, chính trị của địa phương mà còn có nhiều ảnh hưởng đến dân số, việc làm, an ninh xã hội của tỉnh Quảng Ninh Chính
vì vậy, công tác thu hồi, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng luôn được thành phố Hạ Long quan tâm thực hiện
2.1.3 Các văn bản hướng dẫn bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trước khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành, việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hạ Long được áp dụng Trên cơ sở Luật Đất đai năm 2003 cùng các văn bản hướng dẫn như Quyết định số 4005/2004/QĐ ngày 04/11/2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành Bộ đơn giá bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Quyết định số 499/2010/QĐ của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ngày 11/02/2010 về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Ngày 29/11/2013, Quốc hội thông qua Luật Đất dai năm 2013 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014, để thực hiện đồng bộ các quy định của Luật Đất đai năm 2013 trên phạm vi cả nước, trên cơ sở các văn bản hướng dẫn, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành quy định hướng dẫn cụ thể về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Quyết định số 1766/2014/QĐ của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ngày 13/8/2014 về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; (i) Quyết định số 4234/2015/QĐ của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ngày 28/12/2015 về ban hành bộ đơn giá bồi thường tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước
Trang 37thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh;; (ii) Quyết định số 3000/2017/QĐ của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ngày 02/8/2017 về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh thay thế cho Quyết định số 1766/2014/QĐ nêu trên
Về cơ bản, các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh có sự thống nhất với các quy định chung của pháp luật Các quy định này là sự chi tiết các quy định chung của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung, trong đó thể hiện sự phù hợp với tình hình trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn khá chung chung, mang tính nguyên tắc,
đa phần nhắc lại các quy định của các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn mà thiếu
đi những quy định riêng Ngoài ra, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cũng chưa có những quy định cụ thể các mức hỗ trợ khác nhau với hoàn cảnh của từng địa phương về chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất của người dân có đất bị thu hồi
2.2 Thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
2.2.1 Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp phải đảm bảo những nguyên tắc nhất định Nếu như quy định về nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng nằm rải rác trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 (Điều 14, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 và Điều 18 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004) thì Luật Đất đai năm 2013 đã luật hóa những nguyên tắc này, đồng thời tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành hai điều riêng biệt (Điều 74 và Điều 88 Luật Đất đai năm 2013) Theo đó, về cơ bản, khi bồi thường thì Nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước chỉ bồi thường khi HGĐ, CN có đủ các điều kiện theo
quy định của pháp luật
Trang 38Theo nguyên tắc này, việc bồi thường được đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và vào mục tiêu phát triển kinh tế Tuy nhiên, để được bồi thường thì HGĐ, CN bị thu hồi đất phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định Khoản 1 Điều 72 Luật Đất đai năm 2013 khẳng định nguyên tắc: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường”
Thứ hai, việc bồi thường của Nhà nước phải đảm bảo bồi thường đầy đủ các
thiệt hại phát sinh
Khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, HGĐ, CN không chỉ chịu thiệt hại về đất mà còn chịu thiệt hại về các tài sản trên đất, các hoa lợi, lợi tức thu được do việc
sử dụng đất Nguyên tắc bồi thường đầy đủ các thiệt hại mở rộng sang phạm vi bồi thường không chỉ dừng lại ở đất bị thu hồi mà còn có bồi thường những tài sản sản xuất, kinh doanh Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể nguyên tắc bồi thường về đất và về tài sản nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người có đất nông nghiệp bị thu hồi
Nguyên tắc này được quy định: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất” (Khoản 2 Điều
74 Luật Đất đai năm 2013)
Nguyên tắc này tạo sự linh hoạt khi cho phép cơ quan có thẩm quyền cũng như HGĐ, CN bị thu hồi đất nông nghiệp lựa chọn được phương án bồi thường phù hợp Việc bồi thường đất có cùng mục đích sử dụng cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp được coi là quy định tích cực nhằm tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất nông nghiệp tiếp tục kinh doanh, sản xuất nông nghiệp Ngoài
ra, để tránh những tiêu cực hay tranh chấp trong việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, pháp luật quy định rõ người sử dụng đất nông nghiệp theo quy
Trang 39định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất phi nông nghiệp thì chỉ được bồi thường theo đất nông nghiệp
Đối với bồi thường về tài sản, Điều 88 Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ nguyên tắc: “Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường.”
Nếu chỉ bồi thường về giá trị sử dụng của đất mà bỏ qua những thiệt hại về tài sản gắn liền với đất và thiệt hại do ngừng sản xuất, kinh doanh sẽ là một tiếu sót trong pháp luật về bồi thường Việc bồi thường tài sản gắn liền với đất được xem xét khi chủ sở hữu tài sản đó hợp pháp Việc bồi thường trong sản xuất, kinh doanh được đặt ra khi người có đất bị thu hồi phải ngừng sản xuất kinh doanh mà có thiệt hại
Thứ ba, việc bồi thường phải theo giá thị trường
Nguyên tắc này là cơ sở để đảm bảo lợi ích cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi Đối với trường hợp bồi thường về đất, Luật Đất đai năm 2013 quy định:
“được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất bị thu hồi do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi” (Khoản 2 Điều 74) Nghị định 47/2014/NĐ-CP cũng quy định: “Chi phí đầu tư vào đất còn lại được tính phải phù hợp với giá thị trường tại thời điểm có quyết định thu hồi đất”
Thứ tư, việc bồi thường phải đảm bảo công khai, minh bạch, dân chủ, kịp
thời và đúng quy định của pháp luật
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Khoản 3 Điều 71 Luật Đất đai năm 2013:
“Việc bồi thường phải đảm bảo công khai, minh bạch, dân chủ, kịp thời và đúng quy định của pháp luật” Việc tuân thủ nguyên tắc này là một đòi hỏi khách quan trong quá trình thực thi các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và là cơ chế giám sát hoạt động này Xét về khía cạnh thực tế, bồi thường cho HGĐ, CN bị thu hồi đất nông nghiệp thực chất là một giao dịch, cân bằng lợi ích giữa người có đất nông nghiệp bị thu hồi và Nhà nước Người bị thu hồi đất nông nghiệp chỉ chấp nhận chấm dứt quyền sử dụng đất nông nghiệp khi các lợi ích
Trang 40của mình được giải quyết một cách minh bạch, dân chủ, kịp thời và đúng quy định của pháp luật
2.2.2 Điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Luật Đất đai năm 2003 quy định 12 trường hợp thu hồi đất, Luật Đất đai năm
2013 quy định rất rõ ràng từ Điều 61 đến Điều 65 như: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế, xã hộ, vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất không vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các nghị định hướng dẫn, Nhà nước chỉ xem xét việc bồi thường khi thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng Ngoài ra, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chỉ được thực hiện trong trường hợp HGĐ, CN
bị thu hồi đất nông nghiệp có quyền SDĐ nông nghiệp hợp pháp Căn cứ pháp lý để xác định quyền sử dụng đất hợp pháp là phải có các giấy tờ sau:
Một là, Giấy chứng nhận quyền SDĐ (nay là giấy chứng nhận quyền SDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất – sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận quyền SDĐ) Đây là giấy tờ có giá trị pháp lý cao nhất, là cơ sở để người SDĐ nông nghiệp thực hiện các quyền do pháp luật quy định
Hai là, các giấy tờ hợp lệ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách quản lý đất đai qua các thời kỳ
Căn cứ vào điều 100 Luật Đất đai năm 2013, diện tích đất đủ điều kiện để được cấp chứng nhận quyền SDĐ được hiểu là người sử dụng diện tích đất bị thu hồi có những giấy tờ sau:
- Những giấy tờ về quyền SDĐ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan
có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam