1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại công ty cổ phần xi măng và xây dựng quảng ninh

106 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giải pháp cụ thể cho các loại hợp đồng tiêu biểu đã đề cập ở nội dung chính của luận văn; Đánh giá các quy trình, quy định và đề xuất giải pháp sửa đổi bổ sung các quy trình, quy địn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi, Nguyễn Ánh Dương - Học viên Cao học khóa 2017-2019, Chuyên ngành Luật Kinh tế, Trường Đại học Ngoại thương

Tác giả luận văn: Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh

Xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài, tác giả xin được trân trọng cảm ơn PGS, TS Nguyễn

Minh Hằng, Trưởng khoa Luật, Đại học Ngoại thương, Trọng tài viên VIAC

cùng các Thầy giáo, Cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp đang làm việc tại Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh đã tạo điều kiện cho tác giả được học hỏi, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và số liệu trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành đề tài

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ - LƯU ĐỒ viii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 8

1.1 Khái niệm về hợp đồng thương mại 8

1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại 9

1.2.1 Chủ thể của hợp đồng thương mại 10

1.2.2 Đối tượng của hợp đồng thương mại 10

1.2.3 Luật điều chỉnh hợp đồng thương mại 11

1.3 Các vấn đề chung về giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại 12

1.3.1 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng thương mại 12

1.3.2 Trình tự giao kết hợp đồng thương mại 18

1.3.3 Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại 22

1.3.4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại 25

1.4 Kỹ năng đàm phán hợp đồng thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro 29

1.5 Kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 38

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG VÀ XÂY DỰNG QUẢNG NINH 39

2.1 Giới thiệu chung về QNC 39

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 39

2.1.2 Lĩnh vực hoạt động 42

2.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của QNC 44

Trang 6

2.2 Trình tự giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại QNC 46 2.3 Hợp đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ 48

2.3.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ 48 2.3.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ 50

2.4 Hợp đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ 54

2.4.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ 54 2.4.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ 55

2.5 Hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke 58

2.5.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke 58 2.5.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke 59

2.6 Đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luật, quy định, quy trình nội

bộ liên quan đến giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại tại QNC 62 KẾT LUẬN CHƯƠNG II 64 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC GIAO KẾT

VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG VÀ XÂY DỰNG QUẢNG NINH 66 3.1 Định hướng phát triển của QNC và xu thế giao kết, thực hiện hợp đồng thương mại tại QNC 66 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại QNC 68

3.2.1 Tổng hợp đề xuất sửa đổi, bổ sung các điều khoản của hợp đồng thương mại 68

Trang 7

3.2.2 Giải pháp sửa đổi bổ sung các quy trình, quy định của QNC liên

quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại 70

3.2.3 Khảo sát kỹ thị trường và chuẩn bị các điều kiện, kế hoạch trước khi giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại 73

3.2.4 Gải pháp đào tạo nguồn nhân lực 74

3.2.5 Thành lập bộ phận hoặc phòng Pháp chế trong đó có nhân lực chuyên môn hóa về Luật kinh tế 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 76

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 85

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 BLDS : Bộ luật dân sự

2 LTM : Luật Thương mại

3 QNC : Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng ninh

4 UBND : Ủy ban nhân dân

5 HĐTM : Hợp đồng thương mại

6 TAND : Tòa án nhân dân

7 CISG : Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2015 44

Bảng 2.2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2016 45

Bảng 2.3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2017 45

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hết quý 3 năm 2018 64

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ - LƯU ĐỒ

SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1- Tổ chức hoạt động của QNC 43

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình bán hàng 86

LƯU ĐỒ Lưu đồ 2.1: Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán hang 87 Lưu đồ 2.2: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng 88

Lưu đồ 2.3: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng mức 2 89 Lưu đồ 2.4: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng mức 3,4 90

Lưu đồ 2.5: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng nguyên, nhiên liệu 91

Lưu đồ 2.6: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng thiết bị, vật tư phụ 92

Lưu đồ 2.7: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng dịch vụ công nghiệp 93

Lưu đồ 2.8: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng ngoại thương 94

Trang 11

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Tên đề tài: “Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty

cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh”

Kết quả nghiên cứu của luận văn:

1 Trình bày cụ thể các cơ sở lý luận về giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại, trong đó nêu rõ các khái niệm về hợp đồng thương mại, đặc điểm và trình tự giao kết, nguyên tắc giao kết, trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại

2 Luận văn đã đưa ra các kỹ năng cần thiết trong quá trình đàm phám hợp đồng thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro, các kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, hợp pháp của hợp đồng

3 Luận văn đã trình bày được thực tiễn việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, trong đó giới thiệu khái quát được về Công ty; nêu bật trình tự giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại chung tại Công ty, các quy trình quy định liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty; trình bày cụ thể về thực tiễn giao kết và thực hiện cũng các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các loại hợp đồng thương mại tiêu biểu như hợp đồng nhập mua hàng hóa, dịch vụ, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke Trên

cơ sở đó làm rõ các tồn tại hạn chế cần sửa đổi, bổ sung đối với từng loại hợp đồng, đồng thời chỉ ra chi tiết cách thức sửa đổi, khắc phục kịp thời các tồn tại, hạn chế

4 Từ thực tiễn đã nêu, Luận văn đưa ra các giải pháp hữu ích thúc đẩy hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh trong thời điểm hiện nay và trong quá trình phát triển tiếp theo trong đó có các giải pháp:

Khảo sát kỹ thị trường và chuẩn bị các điều kiện, kế hoạch trước khi giao kết

và thực hiện hợp đồng thương mại;

Trang 12

Các giải pháp cụ thể cho các loại hợp đồng tiêu biểu đã đề cập ở nội dung chính của luận văn;

Đánh giá các quy trình, quy định và đề xuất giải pháp sửa đổi bổ sung các quy trình, quy định liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh;

Đưa ra giải pháp trong việc đào tạo nguồn nhân lực đủ tâm, đủ tầm tham gia vào công tác giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại;

Giải pháp thành lập bộ phận hoặc phòng Pháp chế trong đó có nhân lực chuyên môn hóa về Luật kinh tế để tham mưu giúp việc cho lãnh đạo Công ty trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại

Tất cả các giải pháp đề tài nêu ra là các giải pháp căn bản nhất nhằm cải thiện và đi đến hoàn thiện cách thức, quy trình đồng thời nâng cao hiệu quả của việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta đang tập trung phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, đồng hành cùng các doanh nghiệp trong nước bằng các biện pháp, các chính sách hiệu quả, bằng hành lang pháp lý ổn định

và phù hợp vì vậy các Doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội phát triển

Kể từ khi gia nhập WTO thì hoạt động thương mại Việt Nam có nhiều thay đổi đáng kể và theo chiều hướng tích cực, hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra thường xuyên hơn, chính vì vậy hợp đồng thương mại (HĐTM) cũng được xem trọng hơn Các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng quan hệ hợp đồng với nhiều đối tác khác nhau nhằm mục tiêu đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh

Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008, nền kinh tế Việt Nam ít nhiều bị ảnh hưởng, phần lớn các doanh nghiệp “gạo cội” của Việt Nam bị trao đảo và rơi vào tình trạng hoạt động kém hiệu quả, đứng trước những thách thức to lớn Quảng Ninh, một tỉnh chủ yếu phát triển ngành công nghiệp nặng (than, điện, xi măng, khai thác đá ) và du lịch, đa phần các doanh nghiệp lớn của Quảng Ninh được coi là lực lượng chủ lực của nền kinh tế tỉnh Quảng Ninh nói riêng và của ngành công nghiệp cả nước nói chung cũng không nằm ngoài vòng xoáy của tình trạng hoạt động kém hiệu quả hiện nay

Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh (Tên gọi tắt là QNC), một doanh nghiệp đã từng là con chim đầu đàn của ngành xây dựng Quảng Ninh, của khối doanh nghiệp địa phương tỉnh Quảng Ninh cũng đang trong giai đoạn khó khăn nhất, sự khó khăn này đến từ nhiều phía song một trong những nguyên do cơ bản khiến QNC gặp khó khăn chính là việc song hành với các hoạt động sản xuất kinh doanh giảm sút hiệu quả, thói quen đơn giản hóa trong các hoạt động thương mại trước đây khiến lãnh đạo QNC chưa thực sự có cái nhìn đúng đắn và sự lưu tâm

Trang 14

cần thiết đến các hoạt động thương mại của đơn vị vì thế việc ký kết và thực hiện các HĐTM với các đối tác còn rất nhiều bất cập, còn có những lỗ hổng lớn mang lại nhiều rủi do cho QNC Trong hai năm trở lại đây, lãnh đạo QNC đã phần nào ý thức được điều này song thực tế QNC còn thiếu một đội ngũ cán bộ có hiểu biết chuyên sâu về các quy định của pháp luật liên quan đến HĐTM, và còn thiếu một cái nhìn tổng quát liên quan đến các vấn đề còn tồn tại khi giao kết và thực hiện các loại HĐTM hiện nay

Phải khẳng định, hợp đồng chính là bằng chứng quan trọng nhất cho sự tồn tại của một mối quan hệ mua bán khi phát sinh tranh chấp, là ràng buộc pháp lý về nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại, là phương tiện không thể thiếu để các chủ thể trong đó có các doanh nghiệp thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình Tính chặt chẽ, phù hợp của hợp đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động thương mại Thực tế cho thấy, nhiều tranh chấp thương mại xuất phát từ những bất cập của hợp đồng, đã có nhiều trường hợp các bên giao kết hợp đồng với nhau và tiến hành các hoạt động thương mại, nhưng rồi khi một tranh chấp nhỏ xảy

ra, một trong hai bên lại lợi dụng sự thiếu chặt chẽ trong hợp đồng để thu lợi riêng, gây thiệt hại cho bên kia

Nhiều chuyên gia kinh tế cũng đã từng tìm hiểu về yếu tố quan trọng nhất của một thương vụ và kết quả tìm hiểu phần lớn kết luận là tính chặt chẽ và hình thức của hợp đồng HĐTM, dù được soạn thảo bằng văn bản hay chỉ là những thỏa thuận bằng lời, đều đóng vai trò là “hòn đá tảng” cho các hoạt động sản xuất kinh doanh khác của doanh nghiệp, đối với QNC, HĐTM cũng đóng vai trò quan trọng tương

tự Mỗi hợp đồng sẽ là cơ sở tạo thành các yếu tố liên quan, từ đó thiết lập các quan

hệ kinh doanh giữa các đối tác như nhân lực, khách hàng, chi phí, quyền lợi và trách nhiệm

Trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng, các doanh nghiệp thể hiện văn hoá và trình độ kinh doanh của mình Cũng như nhiều doanh nghiệp, đối tác ký kết HĐTM với QNC rất đa dạng, sự chặt chẽ và chi tiết của các bản hợp đồng với đối tác thể hiện sự tôn trọng đối tác, thiết lập hình ảnh đẹp về QNC trong con mắt đối tác, quyết định thành công của QNC trong các giao dịch thương mại

Trang 15

Để góp phần đưa QNC thoát khỏi tình trạng khó khăn hiện nay thì việc xem xét chặt chẽ các nội dung ký kết và thực hiện các HĐTM đối với việc mua các hàng hóa, vật tư, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất và bán xi măng, clinke, gia công

xi măng, ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke, cung cấp các dịch vụ cho thuê đất, cơ

sở hạ tầng được coi là một trong những giải pháp trọng tâm và căn bản nhất của lãnh đạo QNC Vì vậy, qua thời gian làm việc tại QNC, học tập và nghiên cứu tại khóa đào tạo Thạc sĩ Luật kinh tế 2017 - 2019, Đại học Ngoại Thương, tôi quyết định nghiên cứu và thực hiện đề tài “Thực tiễn giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh”

2 Tình hình nghiên cứu

Như tác giả đã khẳng định ở phần trên, việc giao kết và thực hiện HĐTM đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, là một trong những nguyên nhân quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên vấn đề giao kết và thực hiện HĐTM đã được nghiên cứu, đề cập khá nhiều trong các chương trình nghiên cứu, giảng dạy, xây dựng hệ thống pháp luật và cả trong thực tiễn kinh doanh Luật Thương mại (LTM) số 36/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 ra đời và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành đánh dấu kết quả của việc nghiên cứu các quy định điều chỉnh các quan hệ thương mại trong đó có quan hệ hợp đồng giữa các doanh nghiệp Đặc biệt Bộ luật Dân sự (BLDS) số 91/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 đã có những quy định mới liên quan đến việc điều chỉnh mối quan hệ HĐTM

Trong những năm qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công trình, bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này với những phạm vi và mức độ khác nhau, ví dụ như các công trình “Cẩm nang hợp đồng thương mại” của VCCI năm 2010; “Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nhiệp - phiên bản 3.0” của VCCI năm 2015, Những điều cần biết về ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự

(Theo Bộ luật Dân sự hiện hành năm 2015) của Bộ Tư pháp năm 2017

Trang 16

Pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều người Xét trên phạm vi ngành, nghiên cứu việc giao kết và thực hiện HĐTM đã được quan tâm tại một số doanh nghiệp rong một số ngành, lĩnh vực có tầm cỡ, cụ thể đã có đề tài nghiên cứu “Hợp đồng mua bán hàng hóa và thực trạng thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa của công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera trong bối cảnh hội nhập hiện nay”; đề tài nghiên cứu “Hợp đồng mua bán hàng hóa từ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH IPC” của Phạm Thị Lan Phương, Khoa Luật, Trường Đại học kinh

tế quốc dân năm 2006; đề tài nghiên cứu “Hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn

áp dụng tại Công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex” của tác giả Vũ Phương Huyền lớp Luật kinh doanh K45 trường Đại học Kinh tế quốc dân

Những công trình và đề tài trên đều chứng tỏ được tầm quan trọng của hợp đồng thương mại trong nền kinh tế cũng như đối với các doanh nghiệp Tuy nhiên, trong ngành xi măng nói chung, chưa có một nghiên cứu nào về giao kết và thực hiện HĐTM để giúp các doanh nghiệp xi măng có sự tham chiếu hữu ích khi tham gia ký kết và thực hiện các HĐTM nhằm giảm thiểu các rủi do trong kinh Tại QNC nói riêng, cho đến nay cũng chưa hề có một nghiên cứu nào về thực tiễn giao kết và thực HĐTM của QNC, chính vì vậy trên thực tế có những nội dung kể từ quá trình đàm phán, thương thảo, ký kết, thực hiện đến khi giải quyết tranh chấp phát sinh mà

từ cán bộ nghiệp vụ đến lãnh đạo cao nhất là người đại diện theo pháp luật của QNC đang không nắm rõ

Vì vậy cần thiết phải có một nghiên cứu về thực tiễn giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC để giúp những người làm công tác tham mưu giúp việc soạn thảo,

ký kết và thực hiện HĐTM cũng như các lãnh đạo QNC rút ra được các kinh nghiệm quý giá trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện; để hiểu và có cách thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia quan hệ thương mại với các đối tác trong và ngoài nước, giảm thiểu rủi do góp phần đưa QNC vượt qua khó khăn, phát triển bền vững

Trang 17

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài nhằm xác định cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc

về HĐTM, phát hiện ra những bất cập, tồn tại từ thực tiễn giao kết và thực hiện HĐTM của QNC, đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả trong việc giao kết và thực hiện các HĐTM tại QNC, góp phần đưa QNC vượt qua khó khăn, tìm lại sự tăng trưởng và phát triển

Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ của đề tài là:

Khái quát những vấn đề cơ bản về hợp đồng, HĐTM nói chung, các quy định pháp luật cơ bản về giao kết và thực hiện HĐTM;

Phân tích thực tiễn việc giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC trong thời gian trước đây, đặc biệt trong thời điểm hiện nay, từ đó phát hiện ra các điểm bất cập, các nguy cơ rủi ro mà QNC đã, đang và sẽ gặp phải ở từng loại hợp đồng;

Đề xuất các giải pháp hữu ích nhằm giải quyết các bất cập, rủi ro của việc giao kết và thực hiện HĐTM để nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện HĐTM với các đối tác

4 Đối tu ̛ợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là những vấn đề pháp lý liên quan đến giao kết và thực hiện HĐTM theo pháp luật Việt Nam Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực tiễn giao kết và thực hiện các HĐTM tại QNC

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Về nội dung: Các loại hợp đồng hiện có tại QNC bao gồm các hợp đồng nhập khẩu hoặc mua trong nước các máy móc, thiết bị; các hợp đồng mua vật tư, nguyên, nhiên vật liệu đầu vào; các hợp đồng mua các hàng hóa khác; các hợp đồng bán xi măng, clinke nội địa; các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke; các hợp đồng cung ứng dịch vụ cho thuê đất và cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp

Về không gian: luận văn nghiên cứu các HĐTM trên quy mô của một doanh nghiệp là QNC với các đối tác và đề xuất giải pháp cho QNC trong việc giao kết và thực hiện HĐTM

Trang 18

Về thời gian: tác giả thu thập và phân tích các HĐTM của QNC được ký kết từ giai đoạn những năm đầu của thế kỷ XXI đến nay Đồng thời tác giả đề xuất các giải pháp cho QNC trong toàn bộ quá trình phát triển sau này

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra Để thực hiện luận văn này, một số phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu được áp dụng như sau: phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn, khảo sát thực

tế Cụ thể, chương 1 sử dụng phương pháp phân tích làm rõ các khái niệm, đặc điểm, điều kiện hiệu lực, trình tự giao kết, nguyên tắc giao kết và thực hiện HĐTM, trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, tổng hợp các vấn đề pháp lý cơ bản về giao kết và thực hiện HĐTM để tạo ra một hệ thống lý luận mang tính đầy đủ và lô gích hơn; tổng hợp các kỹ năng đàm phán, soạn thảo HĐTM Tiếp theo, trong chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá thực tiễn giao kết và thực hiện từng loại HĐTM tại QNC nhằm làm rõ các vấn đề tồn tại trong việc giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC Trong chương 3, tác giả sử dụng phương pháp đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành, các quy trình, quy định nội bộ của QNC liên quan đến việc giao kết và thực hiện HĐTM, phân tích định hướng phát triển của QNC từ đó đề xuất các giải pháp hữu ích thúc đẩy hiệu quả của việc giao kết và thực hiện HĐTM trong thời gian sớm nhất

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Với mục tiêu trên đây, tác giả hy vọng đề tài sẽ có ý nghĩa thiết thực, mang đến một cái nhìn tổng quát về các vấn đề còn tồn tại và cách thức khắc phục đối với việc giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC, giúp cho lãnh đạo QNC, các phòng ban liên quan và cán bộ nghiệp có thêm cơ sở tham khảo cần thiết trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM với các đối tác Qua đó nâng cao năng lực quản trị và thực hiện HĐTM, giảm thiểu rủi ro trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM của QNC

Trang 19

Tác giả cũng đồng thời kỳ vọng đề tài của mình sẽ trở thành một trong những tham chiếu hữu ích cho các doanh nghiệp trong ngành Xi măng nói riêng trong quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM cũng như tạo một tham chiếu cho các tổ chức

và cá nhân nói chung quan tâm đến thực tế giao kết và thực hiện HĐTM trong các ngành, lĩnh vực

7 Kết cấu của luạ ̂n văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn này gồm 3 chương:

Chương I: Khái quát chung về giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại Chương II: Thực tiễn giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại tại Công ty

cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

Chương III: Giải pháp thúc đẩy hiệu quả giao kết và thực hiện Hợp đồng

thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

Trang 20

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm về hợp đồng thương mại

Hợp đồng là một hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất, là sự thể hiện ý chí của các chủ thể để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ Theo Điều 385 BLDS

2015 “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” So với BLDS năm 2005 thì BLDS năm 2015 đã bỏ

cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng”, điều này giúp cho cách hiểu về khái niệm hợp đồng trong BLDS được rộng hơn, bao trùm cả hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay HĐTM, hợp đồng đầu tư Quy định mới về khái niệm hợp đồng này là điểm mới đáng chú ý không những về mặt kỹ thuật lập pháp

và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng, mở rộng phạm vi điều chỉnh của BLDS

Trong hợp đồng, ý chí của các chủ thể đóng vai trò quan trọng, khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các nghĩa vụ, nghĩa vụ này ràng buộc các chủ thể, buộc các chủ thể hợp đồng phải thực hiện Như vậy, yếu tố thoả thuận, thống nhất ý chí đóng vai trò chủ đạo trong việc thiết lập lên hợp đồng, tuy nhiên chỉ những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể mới tạo nên quan hệ hợp đồng

Hiện nay trong tất cả các văn bản pháp luật đều không có khái niệm về HĐTM, khái niệm đó chỉ tồn tại dưới dạng là một thuật ngữ pháp lý Ngay trong LTM 2005 cũng không có khái niệm cụ thể thế nào là HĐTM nhưng có thể hiểu HĐTM là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự phục vụ cho mục đích kinh doanh Như vậy HĐTM cũng là những giao dịch có bản chất dân sự, được thiết lập trên cơ

sở thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng của các bên, cùng hướng tới lợi ích của mỗi bên

và lợi ích chung khi tham gia giao kết hợp đồng và đều có những vấn đề cơ bản của một hợp đồng dân sự, chỉ khác về mục đích là phục vụ cho mục đích kinh doanh thương mại

Tuy chỉ là một thuật ngữ pháp lý, nhưng xuất phát từ khái niệm hoạt động thương mại được qui định trong Khoản 1 Điều 3 LTM 2005 “Hoạt động thương mại

Trang 21

là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch

chúng ta vẫn có thể hiểu HĐTM là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên mà ít nhất một trong các bên phải là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại Nói cách khác, HĐTM là sự thỏa thuận nhằm mục đích thương mại trong đó có ít nhất một bên tham gia hợp đồng phải là thương nhân hoặc tổ chức cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại

Khái niệm trên giúp cho các bên tham gia HĐTM hiểu rõ bản chất của HĐTM

là một sự thỏa thuận, mục đích của HĐTM là nhằm mục đích thương mại và chủ thể tham gia hợp đồng là thương nhân hoặc tổ chức cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại

Khái quát lại HĐTM là sự thỏa thuận giữa các chủ thể thương mại với nhau và với các chủ thể có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại Hợp đồng là phương tiện không thể thiếu trong hoạt động thương mại để các chủ thể thực hiện mục tiêu thương mại của mình Cùng với sự phát triển chung của xã hội, các thành phần kinh tế ngày một đa dạng và phong phú làm cho các quan hệ kinh tế cũng thay đổi theo HĐTM trở thành phương tiện phục vụ cho mục đích kinh doanh trên nguyên tắc các chủ thể tự nguyện, bình đẳng với nhau

1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại

Xuất phát từ khái niệm HĐTM đã được nêu ở phần trên thì HĐTM mang những đặc điểm của hợp đồng dân sự nói chung, đồng thời mang những nét đặc trưng nhất định, trong đó có nổi bật hai yếu tố cơ bản: Thứ nhất, nội dung là các hoạt động thương mại; Thứ hai, được ký kết giữa các chủ thể là thương nhân hoặc ít nhất một bên chủ thể là thương nhân

Trang 22

1.2.1 Chủ thể của hợp đồng thương mại

Chủ thể đầu tiên của HĐTM mà tác giả muốn đề cập đến là thương nhân Thương nhân được xem là các chủ thể hoạt động một cách thường xuyên trong các hoạt động có liên quan đến thương mại, các chủ thể khác được xem là các chủ thể hoạt động không thường xuyên đó là tất cả các chủ thể của luật dân sự khi tham gia các hoạt động thương mại

Từ một đặc điểm của HĐTM là được ký kết giữa các chủ thể là thương nhân, hoặc có ít nhất một chủ thể là thương nhân, có thể thấy hoạt động thương mại là hoạt động của các thương nhân hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác Khoản

1 Điều 6 LTM 2005 quy định “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có

Trong HĐTM, có thể có những hợp đồng đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân như: hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại… hay

có những hợp đồng chỉ đòi hỏi có ít nhất một bên là thương nhân như: hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa, hợp đồng môi giới thương mại…)

Ngoài ra, các tổ chức, các nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐTM khi họ có hoạt động liên quan đến thương mại Họ tham gia hợp đồng không nhằm mục đích sinh lợi nhưng có liên quan đến thương mại, có nhu cầu giao dịch, mua bán hàng hóa và lựa chọn luật áp dụng là LTM

Như vậy, chủ thể trong HĐTM gồm thương nhân, cá nhân, tổ chức khác có hoạt động liên quan đến thương mại (Khoản 1,2 Điều 2 LTM 2005), với tư cách là pháp nhân hay cá nhân nếu tuân thủ được các quy định của pháp luật thì đều có quyền tiến hành các giao dịch thương mại

1.2.2 Đối tượng của hợp đồng thương mại

HĐTM thể hiện sự liên hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên Các bên khi tham gia ký kết HĐTM thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động thương mại ký kết

Trang 23

Đối tượng của HĐTM có thể là hàng hóa, trong đó Khoản 2 Điều 3 LTM 2005 quy định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai, dịch vụ, nhưng phải không thuộc danh mục hàng hóa bị cấm Chính vì hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, nên đối tượng của HĐTM không chỉ dừng lại ở hàng hóa hữu hình mà bao gồm cả các loại hình dịch vụ và các hoạt động sinh lợi khác

1.2.3 Luật điều chỉnh hợp đồng thương mại

Nguồn của pháp luật hợp đồng là các căn cứ được sử dụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các tranh chấp pháp lý xảy ra trong thực tế, cụ thể nguồn luật điều chỉnh hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam gồm:

Các văn bản pháp luật liên quan đến HĐTM Hai văn bản pháp luật quan trọng

nhất hiện nay là LTM 2005 và BLDS 2015, bên cạnh đó còn có luật chuyên ngành Những vấn đề nào LTM 2005 và luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng BLDS 2015 Trong mối quan hệ giữa LTM và luật chuyên ngành thì luật chuyên ngành được ưu tiên điều chỉnh trước Đối với HĐTM quốc tế thì ngoài các quy định trên còn ưu tiên áp dụng các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc luật của nước mà các bên thỏa thuận áp dụng Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu) thì có thể áp dụng Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) nếu hợp đồng thuộc phạm vi áp dụng của Công ước này

Các nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của tòa án nhân dân tối cao và nghị quyết của Hội đồng thẩm phán liên quan đến các vụ án thương mại, các nghị định của chính phủ, các thông tư của các bộ ban ngành là nguồn của pháp luật HĐTM

Thói quen và tập quán thương mại: Theo điều 12 LTM 2005 thì các bên được coi là mặc nhiên áp dụng những thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà họ đã biết hoặc buộc phải biết Trường hợp các bên không

có thỏa thuận, pháp luật không quy định thì áp dụng tập quán thương mại, tức là

Trang 24

thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Đối với các HĐTM quốc tế thì tập quán thương mại quốc tế như Incoterms, UCP là một trong

các nguồn chủ yếu

1.3 Các vấn đề chung về giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại

1.3.1 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng thương mại

LTM 2005 không quy định điều kiện có hiệu lực cụ thể của HĐTM, vì thế khi xem xét điều kiện hiệu lực của HĐTM phải căn cứ vào BLDS 2015

Theo Điều 117 BLDS 2015, có thể thấy 4 điều kiện hiệu lực cơ bản của giao dịch dân sự, cũng chính là 4 điều kiện hiệu lực cơ bản của giao dịch thương mại

* Điều kiện về chủ thể của hợp đồng

Trên cơ sở quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 về điều kiện

có hiệu lực của hợp đồng, thì một trong các yếu tố cơ bản để giao dịch thương mại

có hiệu lực là điều kiện về chủ thể theo đó chủ thể giao dịch phải hợp pháp thể hiện

ở việc chủ thể phải đảm bảo các điều kiện có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập

Thực tế xem xét tính hiệu lực của hợp đồng về điều kiện chủ thể còn phải xem xét tư cách của chủ thể, cụ thể là thẩm quyền của người đại diện của các bên giao kết hợp đồng, người đại diện giao kết hợp đồng có phải là người đại diện pháp luật hay người được ủy quyền, nếu là người được ủy quyền thì phải đảm bảo các quy định trong chế định ủy quyền về hình thức, phạm vi, thời hạn ủy quyền và phải tiên lượng trước được những hậu quả pháp lý của việc ủy quyền đối với việc xác lập và thực hiện giao dịch thương mại đó

Các công ty, doanh nghiệp là các chủ thể chính của HĐTM, theo đó, để trở thành chủ thể hợp pháp, công ty, doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký kinh doanh hay đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Người đại diện theo pháp luật của công ty, doanh nghiệp được quy định trong Điều lệ của công ty, doanh nghiệp

Trang 25

và/hoặc trong Giấy chứng nhận thành lập doanh nghiệp, phù hợp với quy định của pháp luật doanh nghiệp

Căn cứ Khoản 1 Điều 139 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện Tương tự như vậy với giao dịch thương mại, nếu người đại diện xác lập, thực hiện với chủ thể khác mà phù hợp với phạm vi đại diện mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với chủ thể khác trong giao dịch thương mại đó

* Điều kiện về mục đích, nội dung hợp đồng

Nội dung của HĐTM là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết HĐTM đã thỏa thuận, thống nhất, các điều khoản này xác định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên Mục đích của hợp đồng là những lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng

Để HĐTM có hiệu lực thì một trong những điều kiện cơ bản là mục đích và nội dung của giao dịch thương mại không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, điều này được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 117 BLDS

2015

Ví dụ: các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng mua bán bất kỳ đối tượng hàng hóa nào nhưng không được thỏa thuận những đối tượng mà pháp luật cấm mua bán như ma túy, vũ khí, các hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính Phủ, các bên không được thỏa thuận ký kết các hợp đồng có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội như hợp đồng mua bán phụ

nữ, hợp đồng mua bán trẻ em, hợp đồng mua bán nội tạng người

Pháp luật khác nhau có những quy định khác nhau về những điều khoản chủ yếu bắt buộc phải có trong nội dung hợp đồng, các nước theo hệ thống luật Common Law quy định điều khoản chủ yếu bắt buộc là điều khoản về đối tượng trong khi các nước theo hệ thống luật Civil Law quy định điều khoản chủ yếu bắt

Trang 26

buộc là đối tượng, chất lượng, giá cả; còn CISG lại không quy định về những điều khoản chủ yếu bắt buộc phải có trong hợp đồng

Pháp luật Việt Nam cũng có những văn bản luật không quy định điều khoản bắt buộc phải có trong HĐTM như LTM 2005 Pháp luật đề cao sự thỏa thuận giữa các bên giao kết, tuy nhiên vẫn quy định nội dung của hợp đồng phải tuân theo những quy định của pháp luật hợp đồng nói chung tại Khoản 1 Điều 398 BLDS

2015

Luật Việt Nam đưa ra các khuyến nghị, theo quy định tại Khoản 2 Điều 398 BLDS 2015 thì hợp đồng có thể bao gồm các nội dung: Đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng các bên có thể thỏa thuận hay không thỏa thuận tất cả các nội dung trên Các bên cũng có thể bổ sung thêm vào hợp đồng những điều khoản không có quy định nhưng thấy cần thiết

Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng, các bên có thể bổ sung bằng phụ lục hợp đồng Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng, nhưng nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với hợp đồng Trường hợp phụ lục có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Nếu các bên chấp nhận phụ lục của hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi

BLDS 2015 đã bổ sung thêm một điểm mới so với BLDS 2005 đó là quy định quyền thỏa thuận của các bên về nội dung hợp đồng, theo đó Điều 398 quy định:

“Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng” Đây được xem là bổ sung thêm phương thức giải quyết khi xảy ra tranh chấp Cũng theo quy định tại Điều 123 BLDS 2015, trường hợp các bên thỏa thuận các nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì HĐTM đó sẽ vô hiệu Trường hợp một phần nội dung của giao dịch thương mại đó vô hiệu mà không ảnh hưởng

Trang 27

đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch thì HĐTM sẽ vô hiệu từng phần (Điều

130 BLDS 2015)

* Điều kiện về hình thức hợp đồng

Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hình thức nhất định của các chủ thể hợp đồng, là phương tiện để ghi nhận, lưu trữ, truyền tải nội dung của hợp đồng Hợp đồng để ghi nhận lại các điều khoản mà các bên đã cùng nhau thống nhất cam kết Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta có thể biết được nội dung của giao dịch đã xác lập Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứ xác nhận các quan hệ hợp đồng đã

và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có vi phạm xảy ra Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào

độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể để đảm bảo được tính thống nhất và mối quan hệ liên thông, bổ trợ lẫn nhau trong hệ thống các quy định pháp luật về hợp đồng

Theo quy định tại BLDS 2015, hợp đồng có thể xác lập bằng văn bản, bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể Tuy nhiên đối với một số hợp đồng mà pháp luật qui định phải bắt buộc bằng văn bản như hợp đồng cung ứng dịch vụ (Điều 74 LTM 2005), hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 285 LTM 2005)… hoặc quy định phải được công chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép thì các bên phải tuân thủ quy định về hình thức khi ký kết hợp đồng Trong trường hợp này, hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực, khi giao kết các bên phải tuân theo hình thức được pháp luật quy định thì HĐTM mới có hiệu lực Thông thường các HĐTM được xác lập bằng văn bản để đảm bảo sự an toàn và dễ giải quyết khi xảy ra tranh chấp, nhưng đối với những hợp đồng đơn giản, việc mua bán cần diễn ra nhanh chóng thì các bên có thể xác lập hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng một hành vi cụ thể

Như vậy việc xác định hình thức của HĐTM như thế nào là tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên Việc đưa ra hình thức bắt buộc đối với một số loại giao dịch

là nhằm mục đích lưu ý các bên cần thận trọng hơn khi giao kết thương mại và

Trang 28

nhằm đảm bảo tính rõ ràng của việc tồn tại các giao dịch thương mại, quyền và nghĩa vụ cũng như đặc điểm của quan hệ pháp luật thương mại

Một trong các vấn đề mà các chuyên gia về pháp luật kinh doanh quan tâm là hình thức hợp đồng có ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng như thế nào Về vấn

đề này, pháp luật của các nước có những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau

Ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật có những điều khoản cụ thể đối với một

số hợp đồng, bắt buộc từng loại phải được thể hiện bằng hình thức nhất định, nếu vi phạm quy định này, hợp đồng đã ký kết sẽ không có giá trị pháp lý Vi phạm các quy định bắt buộc về hình thức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật và trật tự công

Vì vậy, chừng nào sự thống nhất của các bên chưa được thể hiện bằng những hình thức nhất định theo quy định của pháp luật thì chừng đó chưa có hợp đồng

Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại BLDS 2015, Khoản 2 Điều 117 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự đó là trong trường hợp luật có quy định về hình thức

Điều 119 BLDS 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự theo đó giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó

Điều 129 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức theo đó giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó; hoặc giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc

Trang 29

các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực Hiệu lực của hợp đồng liên quan đến điều kiện về hình thức còn được quy định rõ ngay cả khi sửa đổi hợp đồng theo đó hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu (Khoản 3 Điều 421 BLDS 2015)

* Điều kiện về tính tự nguyện khi giao kết hợp đồng

Khi nhắc đến hợp đồng, tức là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên nhằm mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ của các bên (Điều 385 BLDS 2015) Đồng thời, hợp đồng là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các nghĩa vụ, nghĩa vụ này ràng buộc các bên như luật pháp

HĐTM được giao kết phải đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng nói chung theo quy định của pháp luật Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Theo quy định của BLDS 2015 việc giao kết hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc trong đó có nguyên tắc tự do giao kết những không trái pháp luật và đạo đức xã hội LTM là luật riêng trong luật chung là BLDS nên chịu sự điều chỉnh của những nguyên tắc chung nói trên trong BLDS 2015

Một trong những điều kiện cơ bản để HĐTM có hiệu lực là tính tự nguyện khi giao kết hợp đồng, theo đó người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, điêu này được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 117 BLDS

2015

Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh thương mại nói riêng phải tuân

Trang 30

theo các nguyên tắc: Tự do giao kết những không trái pháp luật và đạo đức xã hội, đảm bảo các nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Những hành vi cưỡng ép, đe dọa, lừa dối để giao kết hợp đồng là lý do dẫn đến hợp đồng bị coi là vô hiệu

1.3.2 Trình tự giao kết hợp đồng thương mại

Giao kết HĐTM là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc

và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ trong quan hệ thương mại Trình tự giao kết HĐTM được căn cứ theo trình tự giao kết hợp đồng dân sự tại BLDS 2015 Theo đó các bên thiết lập đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

* Đề nghị giao kết HĐTM

Theo quy định tại khoản 1 Điều 386 BLDS 2015, đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng, gọi chung là bên được đề nghị Có thể thấy, đề nghị giao kết hợp đồng là sự thể hiện ý chí của một bên về ý định giao kết hợp đồng với bên đã được xác định cụ thể So với quy định trong BLDS 2005, điểm mới trong BLDS 2015 là mở rộng và rõ hơn về bên được

đề nghị giao kết hợp đồng, có thể có nhiều bên nhận được đề nghị trong giao kết hợp đồng, điều này phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước ta hiện nay

Về nội dung và phương thức đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị phải xác định rõ những nội dung chủ yếu (điều, khoản cơ bản) của hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị đối với bên đã được đề nghị

Khoản 2 Điều 386 BLDS 2015 quy định trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng

có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời

mà chưa hết thời hạn đó bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị khi bên này bị thiệt hại do không được

giao kết hợp đồng

Đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thực hiện theo một trong hai phương thức là đề nghị trực tiếp và đề nghị gián tiếp Theo phương thức đề nghị trực tiếp,

Trang 31

các bên trực tiếp gặp mặt, trao đổi, thống nhất để đề nghị và nghe đề nghị Bên được

đề nghị có thể trả lời ngay về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận lời đề nghị của bên đề nghị, trường hợp chưa trả lời ngay mà sẽ trả lời trong một thời gian nhất định thì các bên ấn định thời hạn chờ trả lời, thời hạn chờ trả lời đề nghị xác định theo phương thức này phải có sự đồng ý của các bên Theo phương thức đề nghị gián tiếp, bên đề nghị gửi đề nghị giao kết hợp đồng đến bên được đề nghị Thời hạn chờ trả lời đề nghị xác định theo phương thức này do bên đề nghị ấn định

BLDS 2015 có quy định một điểm mới so với BLDS 2005 đó là việc bảo mật thông tin giao kết hợp đồng, theo đó Điều 387 BLDS 2015 quy định trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin

và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng củ mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác, nếu vi phạm thì sẽ phải bồi thường Quy định này là cơ sở để giải quyết tranh chấp phát sinh nếu có

Điều 388 BLDS 2015 quy định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực, theo đó thời điểm có hiệu lực do bên đề nghị ấn định, nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác Điều này có thêm

ý được bổ sung so với BLDS 2005 đó là chế định loại trừ nếu luật có liên quan có quy định khác, thể hiện sự ư tiên đối với luật chuyên ngành đồng thời tránh được sự mâu thuẫn giữa các luật khác nhau và phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước ta

BLDS cũng quy định các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng gồm: Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân; đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác

Điều 389 BLDS 2015 quy định việc thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, theo đó bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết

Trang 32

hợp đồng nếu Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại

đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị Trường hợp bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới

Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới, đay là quy định tại Điều 392 BLDS 2015 về Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất

Quy định việc huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng được đề cập tại Điều 390 BLDS 2015 theo đó bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể huỷ bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Quy định việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 391 BLDS 2015 theo đó đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng hoặc bên được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc hết thời hạn trả lời chấp nhận hoặc khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực hoặc khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực hoặc theo thoả thuận của bên

đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời

Khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, việc bên được đề nghị trả lời đề nghị giao kết hợp đồng là việc họ thể hiện ý chí của mình về việc đồng ý hay không đối với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra trong đề nghị giao kết hợp đồng

Việc trả lời đề nghị giao kết hợp đồng của bên được đề nghị có thể theo một trong ba trường hợp, thứ nhất đó là không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng bằng cách có thể không trả lời đề nghị và hết thời hạn chờ trả lời thì coi như bên được đề nghị không chấp nhận đề nghị, trừ trường hợp các bên đã thỏa thuận nếu bên nhận đề nghị giao kết hợp đồng im lặng thì coi như chấp nhận giao kết hợp đồng hoặc bên được đề nghị có thể trả lời trực tiếp hoặc bằng công văn về việc không chấp nhận giao kết hợp đồng với bên đã đề nghị; thứ hai là đồng ý giao kết hợp đồng nhưng có nêu ý kiến của mình hoặc phải thay đổi một số nội dung nhất định đối với đề nghị của phía bên kia, trong trường hợp này thì bên được đề nghị

Trang 33

nêu điều kiện và nội dung sửa đổi trong trả lời đề nghị và được coi là một đề nghị mới của bên đã được đề nghị; thứ ba là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, tức là trả lời chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị

* Chấp nhận đề nghị giao kết HĐTM

Theo quy định tại Điều 393 BLDS 2015, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị

đó Nếu bên được đề nghị im lặng thì không được coi là chấp nhận đề nghị trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên với nhau

Điều 394 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng, theo đó khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là

đề nghị mới của bên chậm trả lời Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan

mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thoả thuận về thời hạn trả lời

Điều 395, 396 BLDS 2015 quy định trường hợp bên đề nghị và bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sau khi chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân của

họ

Việc rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng được quy định tại Điều

397 BLDS 2015 theo đó bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông

Trang 34

báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng

1.3.3 Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại

Nguyên tắc giao kết và thực hiện HĐTM là những yêu cầu mà các bên tham gia giao kết phải tuân thủ nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

Trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, các bên tham gia hợp đồng phải thực hiện đúng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nói chung và pháp luật về hợp đồng, trước hết phải kể đến là các nguyên tắc chung được quy định trong Điều 3 BLDS 2015, theo đó mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ

lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản; cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng; cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực; việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự

Từ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và các nguyên tắc cơ bản của hợp đồng nói chung dẫn chiếu đến các nguyên tắc cơ bản mà các bên tham gia HĐTM cần tuân thủ trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM

* Nguyên tắc giao kết HĐTM

Khi giao kết HĐTM, các chủ thể cần chú ý đến các nguyên tắc giao kết, trong

đó có các nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc đầu tiên phải kể đến đó là nguyên tắc tự do, tự nguyện giao kết hợp đồng Theo nguyên tắc này, HĐTM được hình thành hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, các bên có quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận giao kết hay không giao kết HĐTM, tự do lựa chọn các bên đồng ký kết và tự do xác

Trang 35

định nội dung HĐTM nhưng không trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nếu có ý chí thống nhất của các bên thì một sự thỏa thuận, một hợp đồng được hình thành Hợp đồng giữa các bên không thể do sự

áp đặt ý chí của bất cứ cá nhận tổ chức nào, quyền tự do giao kết hoặc không giao kết hợp đồng có hệ quả đặc biệt, xác lập lên quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, theo nguyên tắc này khi ký kết HĐTM, các bên phải đảm bảo nội dung hợp đồng có sự tương xứng nhau về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng lợi ích kinh tế của các bên Xuất phát từ nguyên tắc thứ nhất, các bên có quyền tự do thỏa thuận để đảm bảo thực hiện được nguyên tắc thứ hai này, các bên tự do thỏa thuận đến độ nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình và của đối tác được đảm bảo chấp nhận ở nội dung hợp đồng, thỏa thuận để đạt được mục đích của giao dịch thương mại Không bên nào được ưu tiên hơn, cũng không bên nào bị bắt buộc phải chịu thiệt thòi hơn vì bất cứ lý do gì, các bên khi giao kết HĐTM đều bình đẳng trước pháp luật, giao kết với mục tiêu cùng có lợi, cùng đạt đến mục đích giao kết

Nguyên tắc thứ ba là nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản Theo nguyên tắc này, các bên tham gia HĐTM phải dùng chính tài sản của mình để đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng, phải trực tiếp chịu trách nhiệm với tài sản của mình khi tham gia HĐTM Nguyên tắc này quy định trách nhiệm tài sản của các bên đối với nội dung của việc ký kết và thực hiện hợp đồng

Nguyên tắc thứ tư là nguyên tắc không trái pháp luật, theo nguyên tắc này, các bên liên quan HĐTM không được lợi dụng việc ký kết hợp đồng để hoạt động trái pháp luật, phải đảm bảo nội dung và hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật Yêu cầu về Nội dung và hình thức hợp đồng đã được đề cập ở mục 1.3.2

Trang 36

* Nguyên tắc thực hiện HĐTM

Các bên cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

Thực hiện đúng các điều khoản về đối tượng của hợp đồng như hàng hóa, sản phẩm, công việc, dịch vụ mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng Khi giao kết HĐTM, các bên đã xác định rõ đối tượng của hợp đồng mình giao kết Trong quá trình thực hiện HĐTM các bên phải tuân thủ đầy đủ các thỏa thuận liên quan đến đối tượng của hợp đồng đã giao kết

Thực hiện đúng các điều khoản về số lượng như sản lượng về hàng hóa giao dịch, khối lượng công việc thực hiện, đơn vị đo lường, phương thức đo lường Trên thực tế, hợp đồng thường quy định rất rõ ràng về điều khoản số lượng, điều khoản này liên quan trực tiếp đến giá trị HĐTM, đến các yêu cầu chính về đối tượng HĐTM, vì vậy các bên nhất thiết phải tuân thủ các điều khoản về số lượng đã thỏa thuận

Thực hiện đúng các điều khoản về chất lượng, các bên khi thực hiện HĐTM

đã ký kết phải thực hiện đúng các điều khoản đã thỏa thuận liên quan đến chất lượng hàng hóa, dịch vụ, công việc đã thỏa thuận căn cứ trên các tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà nước hoặc tiêu chuẩn chất lượng mà các bên đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều khoản về chất lượng cũng là một trong những điều khoản cơ sở để các bên thực hiện HĐTM đã ký kết và thường cũng hay xảy ra tranh chấp khi các bên thỏa thuận không rõ ràng hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận

Thực hiện đúng các điều khoản về giá cả, phương thức thanh toán, trong quá trình thực hiện HĐTM các bên cần tuân thủ các điều khoản về giá cả, phương thức thanh toán, lưu ý đối với những sản phẩm, dịch vụ mà nhà nước đã định giá hoặc quy định khung giá thì các bên chỉ được thỏa thuận theo khung giá quy định ví như sản phẩm xăng, dầu, điện, dịch vụ y tế

Các điều khoản về thời gian trong HĐTM ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và là một trong những nguyên nhân thường gây nên tranh chấp thương mại vì thế đồi hỏi các bên phải thực hiện đúng các điều khoản về thời gian đã thỏa thuận trong HĐTM

Trang 37

Địa điểm thực hiện hợp đồng là một trong những nội dung cơ bản của HĐTM, góp phần phục vụ mục đích của giao dịch thương mại, vì vậy các bên cần tuân thủ các thỏa thuận về địa điểm thực hiện hợp đồng

Ngoài ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên còn phải thực hiện các nguyên tắc khác như nguyên tắc thực hiện đúng các nội dung cam kết về bảo hiểm vận chuyển, bảo hành

1.3.4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại

Vi phạm hợp đồng là việc một bên không tuân theo hoặc làm trái lại những gì

mà các bên đã thỏa thận trong hợp đồng theo đó bên vi phạm phải chịu trách nhiệm

về vi phạm của mình Có thể hiểu vi phạm HĐTM là việc chủ thể của HĐTM thực hiện hành vi trái với cam kết, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của chủ thể còn lại theo đó chủ thể có hành vi vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó của mình

Từ khái niệm cho thấy vi phạm HĐTM có những đặc điểm của vi phạm hợp đồng nói chung như thực hiện những hành vi trái với cam kết trong hợp đồng, trong pháp luật về hợp đồng có liên quan Chủ thể vi phạm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể còn lại trong hợp đồng, xâm phạm đến đối tượng mà các bên trong hợp đồng đã xác định rõ ràng

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là hệ thống các biện pháp có vai trò đảm bảo cho những cam kết trong HĐTM được thực thi theo đúng quy định của pháp luật, là một loại trách nhiệm trong trách nhiệm dân sự, mang nhiều đặc điểm của trách nhiệm dân sự tuy nhiên lại vừa mang những đặc trưng riêng biệt Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là loại trách nhiệm áp dụng cho chủ thể của HĐTM có hành vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Trách nhiệm này nhằm bảo vệ chủ thể bị vi phạm và đảm bảo sự công bằng về trách nhiệm và quyền lợi cho các bên trong HĐTM khi có hành vi vi phạm xảy ra Đây là hậu quả mà chủ thể vi phạm phải gánh chịu, hậu quả này như mối quan hệ nguyên nhân và kết quả trong việc thực hiện HĐTM

Trang 38

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp HĐTM được thể hiện ở quy định pháp luật về các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng nó Theo đó, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu tòa án, trọng tài cưỡng chế áp dụng các biện pháp trách nhiệm cho bên vi phạm Hoặc bên bị vi phạm có thể đề nghị tòa án, trọng tài thương mại áp dụng trách nhiệm này cho bên vi phạm Trọng tài thương mại là chủ thể rộng hơn so với chủ thể có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung

Trong các loại Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp HĐTM có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trách nhiệm này là một trong những nội dung được bổ sung một cách cơ bản trong BLDS 2015 so với quy định tại BLDS 2005 Các quy định về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng tại BLDS 2015 đã có tiến bộ hơn rất nhiều Thay vì chỉ quy định chung trong Điều 307 BLDS 2005, BLDS 2015 quy định về nội dung này trong 4 điều từ Điều 360 đến Điều 363, theo đó căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường được ghi nhận đầy đủ và rõ ràng hơn Điều 360 BLDS

2015 chỉ rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh khi có các yếu tố có thiệt hại, có hành vi vi phạm nghĩa vụ, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi

vi phạm nghĩa vụ, có lỗi Các loại thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng cũng được xác định cụ thể, đầy đủ và rõ ràng, hợp lý hơn so với BLDS 2005, không chỉ là các thiệt hại thực tế, hiện hữu như BLDS 2005 trước đây

đã quy định mà còn cả các thu nhập bị bỏ lỡ Điều 419 quy định thêm một loại thiệt hại được bồi thường, đó là các chi phí mà bên bị vi phạm đã phải gánh chịu trong quá trình thực hiện hợp đồng BLDS 2015 còn quy định rõ ràng về việc người vi phạm có thể phải bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người bị hại trong đó có các pháp nhân thương mại (Khoản 3 Điều 419 BLDS 2015) thì Đây cũng là một điểm mới liên quan đến các loại thiệt hại được bồi thường mà BLDS 2005 còn quy định mập mờ, không rõ ràng

BLDS 2015 còn bổ sung Điều 363 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại xảy ra do một phần lỗi của bên vi phạm theo đó bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình, quy định này phù hợp với thực tiễn và bảo đảm sự công bằng phù hợp của quy định pháp luật và nguyên tắc tự chịu trách nhiệm

Trang 39

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM được thực thi thông qua một hệ thống các biện pháp trách nhiệm pháp lý được quy định trong phần chế tài của bộ phận quy phạm pháp luật trong LTM 2005 bao gồm những biện pháp như buộc thực hiện đúng hợp đồng (Điều 297), phạt vi phạm (Điều 300), bồi thường thiệt hại (Điều 302), tạm ngừng hợp đồng (Điều 308), đình chỉ hợp đồng (Điều 310), hủy hợp đồng (Điều 312) và một số biện pháp do các bên thỏa thuận khác

Tuy nhiên, chủ thể vi phạm HĐTM sẽ không phải thực hiện trách nhiệm pháp

lý do vi phạm HĐTM nếu chủ thể bị vi phạm không yêu cầu hoặc trong những trường hợp pháp luật quy định chủ thể vi phạm không phải chịu trách nhiệm do không thể thực hiện HĐTM hoặc được miễn, giảm trách nhiệm

Miễn, giảm trách nhiệm là việc người có quyền trong vụ việc vi phạm HĐTM không áp dụng một phần trách nhiệm hoặc toàn bộ trách nhiệm cho bên có nghĩa vụ khi bên này có hành vi vi phạm hợp đồng Chủ thể được quyền quyết định là chủ thể bị vi phạm vì trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là loại trách nhiệm mà bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi phạm mà không phải bất kỳ một cơ quan nhà nước nào có thể quyết định miễn trách nhiệm cho bên vi phạm

Ngoài ra, có những trường hợp không do chủ thể có quyền quyết định, mà trong quá trình thực hiện hợp đồng, một bên gặp phải các trường hợp mà bất kỳ một người nào khi gặp hoàn cảnh, điều kiện tương tự cũng không thể nào thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng, thì đó là trường hợp không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng mà không phải là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, chủ thể có thể gặp phải các sự kiện bất khả kháng khiến họ không thể thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đã cam kết Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép (khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự 2015) Trong trường hợp này chủ thể vi phạm HĐTM được miễn trách nhiệm pháp lý

Trường hợp chủ thể vi phạm HĐTM không chịu trách nhiệm do thi hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền một dạng của sự kiện bất khả kháng

Trang 40

Trong trường hợp này, số phận của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên được quyết định dứt khoát, các bên không có sự lựa chọn, sự thỏa thuận mà hợp đồng bị chấm dứt ngay

Chủ thể vi phạm HĐTM sẽ không chịu trách nhiệm hợp đồng do hành vi có lỗi của chủ thể còn lại Tương ứng với trường hợp này, hợp đồng cũng sẽ bị chấm dứt ngay mà không có sự thỏa thuận lại của các bên

Chủ thể vi phạm HĐTM không chịu trách nhiệm do bên thứ ba không thể thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng bởi gặp phải sự kiện bất khả kháng hoặc bởi quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp này, một bên trong hợp đồng không phải chịu trách nhiệm trước bên kia và bên này cũng phải thông báo cho bên còn lại trong hợp đồng biết về trường hợp không thể thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng đồng thời phải thu thập chứng cứ để chứng minh việc không thực hiện được hợp đồng, ngoài ra cũng phải chứng minh việc không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng do sự kiện bất khả kháng hoặc do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khiến bên thứ ba có liên quan trực tiếp đến việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình Không những thế, còn phải chứng minh bên này có mối quan hệ hợp đồng với bên thứ ba và chính hợp đồng này tác động trực tiếp đến hành vi không thể thực hiện được hợp đồng của mình

Chủ thể vi phạm HĐTM không chịu trách nhiệm do thời hạn khiếu nại đã hết

là trường hợp chủ thể bị vi phạm sẽ bị mất quyền áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý khi đã hết thời hạn khiếu nại Một bên có quyền khởi kiện bên kia kể

từ khi phát hiện có hành vi vi phạm cho đến hai năm, nếu trong thời hạn này mà một bên không khởi kiện tại tòa án, trọng tài để áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý, thì bên này mất quyền áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với bên kia, trong những trường hợp này bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp lý Căn cứ để áp dụng trường hợp không chịu trách nhiệm này là phải có sự thỏa thuận giữa các bên

Ngoài các trường hợp trên, chủ thể vi phạm HĐTM cũng không phải chịu trách nhiệm pháp lý khi gặp phải trở ngại khách quan hoặc hoàn cảnh khó khăn

Ngày đăng: 18/09/2020, 08:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w