1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phạm vi áp dụng công ước viên năm 1980 của liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

83 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 649,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đã phân tích một số án lệ nhằm cung cấp cách hiểu rõ hơn về một số nội dung quy định của CISG như: hợp đồng mua bán; hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán; tính chất quốc tế của h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng, các kết

quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi

TÁC GI Ả LUẬN VĂN

Tr ịnh Đức Thuận

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ hết sức nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả của TS Ngô Quốc Chiến, giảng viên khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội

Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và xin được gửi lời cảm ơn tới tập

thể cán bộ, giảng viên Khoa Luật, tập thể Thầy, Cô giáo Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội đã giảng dạy, truyền thụ kiến thức và giúp đỡ tôi trong suốt khoá

học và thời gian nghiên cứu luận văn

TÁC GI Ả LUẬN VĂN

Tr ịnh Đức Thuận

Trang 5

MỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN i

L ỜI CẢM ƠN ii

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

TÓM T ẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN vii

L ỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính c ấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên c ứu 3

2.1 Trên th ế giới 3

2.2 T ại Việt Nam 4

3 Câu hỏi nghiên cứu 6

4 Mục đích nghiên cứu 6

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

6 Đối tượng nghiên cứu 6

7 Phạm vi nghiên cứu 6

8 Phương pháp nghiên cứu 7

9 K ết cấu của Luận văn 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CISG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CISG 8

1.1 Khái quát v ề CISG 8

1.1.1 L ịch sử hình thành CISG 8

1.1.2 N ội dung cơ bản của CISG 9

1.1.3 Thành công c ủa CISG 12

1.1.4 Vi ệt Nam gia nhập CISG 17

1.2 Khái quát v ề phạm vi áp dụng của CISG 17

Trang 6

1.2.1 Khái quát v ề các trường hợp áp dụng CISG 17

1.2.2 Khái quát v ề các trường hợp không áp dụng CISG 21

1.2.3 Ý nghĩa của việc xác định phạm vi áp dụng của CISG 23

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ PHẠM VI ÁP D ỤNG CỦA CISG 26

2.1 Ph ạm vi áp dụng theo đối tượng 26

2.1.1 H ợp đồng mua bán 26

2.1.2 Hàng hóa 35

2.1.3 Nh ững nội dung bị loại trừ 37

2.2 Ph ạm vi áp dụng CISG theo không gian 42

2.2.1 Khái ni ệm trụ sở thương mại 42

2.2.2 Trường hợp có nhiều trụ sở thương mại 44

2.2.3 M ột số bảo lưu 46

2.3 Ph ạm vi áp dụng theo dẫn chiếu của quy phạm tư pháp quốc tế 48

2.3.1 M ở rộng phạm vi áp dụng về không gian 48

2.3.2 Gi ới hạn phạm vi áp dụng theo quy định bảo lưu 50

2.4 Ph ạm vi áp dụng theo sự lựa chọn của các bên 51

2.4.1 L ựa chọn áp dụng CISG (opting in) 51

2.4.2 Th ỏa thuận loại trừ CISG (opting out) 53

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM KHI ÁP D ỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CISG 62

3.1 M ột số khuyến nghị chung 62

3.2 Khuy ến nghị về phạm vi áp dụng CISG theo đối tượng 64

3.2.1 V ề hàng hóa không thuộc phạm vi điều chỉnh của CISG 64

3.2.2 V ề một số nội dung bị CISG loại trừ 65

Trang 7

3.2.3 V ề khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa 65

3.3 Khuy ến nghị về phạm vi áp dụng CISG theo lãnh thổ 66

3.3.1 V ề tính quốc tế của hợp đồng mua bán 66

3.3.2 V ề bảo lưu theo Điều 92 và Điều 93 67

3.3.3 V ề lựa chọn tùy nghi 67

K ẾT LUẬN 69 DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CISG Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán

hàng hóa quốc tế (United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods)

HĐMBHHQT Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

ICC Phòng Thương mại Quốc tế (International Chamber of

Commerce)

PECL Bộ Nguyên tắc về Luật Hợp đồng Châu Âu (Principles of

European Contract Law)

PICC Bộ Nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế

(Principles of International Commercial Contract)

UCP Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ (Uniform

Customs and Practice for Documentary Credits)

UNCITRAL Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (United

Nations Commission on International Trade Law) Unidroit Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư (L'Institut

international pour l'unification du droit privé)

Trang 9

TÓM T ẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Tên luận văn: Phạm vi áp dụng Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc

về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Luận văn đã đạt các kết quả chính như sau:

- Đã trình bày khái quát về CISG và phạm vi áp dụng của CISG

- Đã phân tích các quy định và thực tiễn áp dụng các quy định về phạm vi áp

dụng của CISG, trong đó nhấn mạnh đến: Phạm vi áp dụng theo đối tượng; phạm vi

áp dụng theo không gian; phạm vi áp dụng theo dẫn chiếu của quy phạm tư pháp

quốc tế; phạm vi áp dụng theo sự lựa chọn của các bên

- Đã phân tích một số án lệ nhằm cung cấp cách hiểu rõ hơn về một số nội dung quy định của CISG như: hợp đồng mua bán; hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán; tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa; trụ sở thương

mại, opting in; opting out…

- Đã đưa ra một số khuyến nghị đối với Việt Nam khi áp dụng các quy định về

phạm vi áp dụng của CISG như: hàng hóa không thuộc phạm vi điều chỉnh của CISG; một số nội dung bị CISG loại trừ; khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa; tính quốc tế của hợp đồng mua bán; các bảo lưu theo Điều 92 và Điều 93 và lựa

chọn tùy nghi

Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tác giả đã viết một bài báo về phạm

vi áp dụng của CISG và đã được đăng trên Tạp chí Kinh tế Đối ngoại (đính kèm

luận văn này)

Trang 10

L ỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hợp đồng thương mại quốc tế (HĐTMQT) có đặc trưng là có mối quan hệ gắn bó với hai hoặc nhiều quốc gia Mối quan hệ gắn bó này được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, như các bên có quốc tịch khác nhau, có trụ sở tại các Quốc gia khác nhau, hợp đồng được ký kết, thực hiện, thay đổi, chấm dứt ở các Quốc gia khác nhau hoặc hợp đồng có đối tượng ở các Quốc gia khác nhau Chính vì có mối liên hệ với hai hoặc nhiều Quốc gia khác nhau, nên HĐTMQT có thể chịu sự điều chỉnh của tất cả các Quốc gia hữu quan Trong tư pháp quốc tế người ta gọi đây là hiện tượng xung đột pháp luật Có hai cách cơ bản để giải quyết hiện tượng này, đó là mỗi quốc gia tự xây dựng các quy phạm xung đột trong nội luật cho phép cơ quan giải quyết tranh chấp dựa vào đó để xác định pháp luật của một quốc gia cụ thể cần được áp dụng để điều chỉnh HĐTMQT Cách thứ hai là các quốc gia đàm phán, ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế nhằm thống nhất luật xung đột hoặc thống nhất luật nội dung Công ước Viên 1980 của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods) là nỗ lực thống nhất luật thực chất (luật nội dung) trong lĩnh vực thương mại hàng hóa thành công nhất trong trong lịch sử

Là một công ước do Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) soạn thảo và thông qua tại Viên năm 1980, CISG là công ước thành công nhất trong lĩnh vực này, chấm dứt vai trò (không hiệu quả) của hai công ước LaHay năm 1964 về mua bán quốc tế động sản hữu hình Sự thành công của CISG được thể hiện rõ ở số thành viên 89 hiện tại của nó, bao gồm hầu hết các nền kinh

tế lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Đức, Pháp1 Điều chỉnh các giao dịch chiếm đến 80% thương mại hàng hóa thế giới Một thống kê được tăng tải trên trang web của CISG cho biết có tới hơn 2500 vụ tranh chấp về hợp đồng mua

1

Có th ể xem danh sách các quốc gia thành viên tại:

http://www.uncitral.org/uncitral/en/uncitral_texts/sale_goods/1980CISG_status.html (truy c ập ngày 19/11/2018)

Trang 11

bán hàng hóa quốc tế được tòa án và trọng tài áp dụng CISG để giải quyết2

Việt Nam đã trở thành thành viên của công ước này và công ước đã có hiệu lực ở Việt Nam từ ngày 01/01/2017 Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, phổ biến các quy định của CISG đến các các doanh nghiệp và các cá nhân, tổ chức có liên quan tại Việt Nam là hết sức cần thiết, đặc biệt khi mà nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới và các giao dịch mua bán hàng hóa giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng tăng về

số lượng, về giá trị và đa dạng về đối tác, phức tạp về các vấn đề pháp lý liên quan

Để hiểu rõ và áp dụng hiệu quả CISG, các chủ thể không chỉ phải nghiên cứu các quy định về nội dung mà còn phải trả lời câu hỏi đầu tiên mang tính tiên quyết, đó là khi nào CISG được áp dụng? Mặc dù có đối tượng điều chỉnh là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng CISG không được áp dụng đối với mọi loại hàng hóa do Công ước có điều khoản loại trừ một số hàng hóa đặc biệt Ngoài

ra, do CISG có các quy định khá chung chung về hợp đồng, về yếu tố quốc tế của hợp đồng, về hàng hóa là đối tượng của hợp đồng…nên đặt ra một số vấn đề cần được làm rõ hơn thông qua việc nghiên cứu các thực tiễn xét xử cũng như học thuyết pháp lý về các vấn đề này

Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho

thấy có rất nhiều các tranh chấp liên quan đến vấn đề phạm vi áp dụng của CISG Trong thực tiễn xét xử, các cơ quan tài phán đã diễn giải CISG khá linh động dựa trên các tình huống cụ thể và chính điều này khiến cho việc nghiên cứu thực tiễn xét xử trở nên rất cần thiết Ngoài ra, xung quanh các quy định về phạm vi áp

dụng của Công ước Viên vẫn tồn tại một số ý kiến chưa thống nhất Vậy nên, câu

hỏi được đặt ra Công ước Viên được áp dụng trong trường hợp nào, trường hợp nào không được áp dụng, hay nói cách khác, phạm vi áp dụng của Công ước viên được quy định như thế nào? Bên cạnh đó là việc liệu các bên có thể tự do thỏa thuận lựa chọn hay loại trừ luật áp dụng hợp đồng là Công ước Viên được không

và bằng cách nào

2 https://cisgvn.wordpress.com/2010/11/01/thanh-cong-c%E1%BB%A7a-cisg/ (truy c ập ngày 19/11/2018)

Trang 12

Vì những lý do trên, học viên quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài:

“Phạm vi áp dụng Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” làm luận văn thạc sỹ Đề tài này là cần thiết và có ý

nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng trong thời điểm hiện nay và phù hợp với chương trình đào tạo Thạc sỹ Luật học tại Trường Đại học Ngoại thương

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về CISG nói chung và phạm vi áp

dụng CISG nói riêng Tuy nhiên, các nghiên cứu về CISG nói chung và về phạm

vi áp dụng của CISG nói riêng nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam cũng như áp dụng CISG ở Việt Nam chưa nhiều Có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau đây:

Các tác giả Clayton P Gillette , Steven D Walt, The UN Convention on

Contracts for the International Sale of Goods: Theory and Practice, Cambridge

University Press, 2016, đã phân tích khái quát quá trình hình thành của CISG, bình luận các quy định của CISG trong đó có các quy định liên quan tới phạm vi

áp dụng của CISG và đánh giá sự phát triển các quy định đó tại một số quốc gia điển hình

Trong cuốn sách mang tựa đề The CISG: A New Textbook for Students and

Ziegel đã chỉ ra những thành công của CISG bằng cách mô tả và phân tích các lĩnh vực mà Công ước đề cập, cụ thể là phạm vi áp dụng, các quy tắc hình thành

hợp đồng và các điều khoản bán hàng thực tế

Một nghiên cứu khác cũng rất đáng chú ý đó là Selected problems

trang web chính thức của UNCITRAL3 đã phân tích về các trường hợp không áp

dụng CISG theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 CISG

3 Có th ể xem được tại: https://www.uncitral.org/pdf/english/CISG25/Kroll.pdf (truy c ập ngày 19/11/2018)

Trang 13

Về phần mình, Franco Ferrari, 2011, Contracts for the International Sale of

Goods: Applicability and Applications of the 1980 United Nations Convention,

Martinus Nijhoff Publishers, cũng đã phân tích các trường hợp áp dụng của CISG; các vấn đề liên quan đến sự không phù hợp của hàng hóa được giao; và xác định tỷ lệ lãi trên số tiền còn thiếu Cuốn sách nhấn mạnh cách CISG được diễn

giải và áp dụng ở các khu vực pháp lý khác nhau

Joseph Lookofsky, 2012,Understanding the CISG in the USA 4th Edition,

Kluwer Law International, đã phân tích 5 phụ lục và các văn bản liên quan và

2000 phán quyết của cơ quan tài phán trên cơ sở CISG để làm rõ các nội dung

của CISG như: phạm vi CISG áp dụng; Giải thích công ước, Bồi thường thiệt

hại, quyền miễn trừ…

Tác giả Minh Hang Nguyen, trong luận án tiến sỹ luật học về “La convention de Vienne de 1980 sur la vente internationale de marchandises et le droit vietnamien de la vente” (Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán) đã so sánh các quy định thực chất của pháp luật Việt Nam với các quy định của CISG để đề xuất các

giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam Tuy nhiên luận án chỉ tập trung phân tích và đề xuất các giải pháp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên chứ chưa có nhiều phân tích các quy định về phạm vi áp dụng của CISG

Các nghiên cứu trên tuy chưa trực tiếp giải quyết triệt để các vấn đề về

phạm vi áp dụng của CISG nhưng vẫn sẽ là nguồn tài liệu hữu ích để tác giả đưa

ra các đánh giá các quy định về phạm vi áp dụng của CISG và đưa ra các đề xuất, khuyến nghị đối với các cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam

2.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, tính đến nay, chưa có công trình hay sách chuyên khảo nào nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể về phạm vi áp dụng CISG Các nghiên cứu công bố ở Việt Nam chủ yếu liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như vấn đề vi phạm hợp đồng Một số ít đã bàn về phạm vi áp dụng của CISG nhưng còn khá sơ sài Cụ thể:

Trang 14

Bài viết “Phạm vi áp dụng và không áp dụng của Công ước Viên 1980 về

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” của tác giả Nông Quốc Bình đăng trên tạp

chí Luật học số 10/2011 Bài viết này đề cập phạm vi áp dụng, phạm vi không áp dụng của Công ước Viên 1980, trên cơ sở đó tác giả có một số đề xuất với Việt Nam Bài viết trực tiếp đề cập đến phạm vi áp dụng và không áp dụng của CISG – chủ đề nghiên cứu của Luận văn - nhưng chỉ dừng lại ở mức độ đưa ra vấn đề mà chưa có nhiều phân tích về thực tiễn xét xử liên quan đến các vấn đề này chưa nhiều và cho đến nay đã cũ

Bài viết “Phạm vi áp dụng của Công ước CISG cho hợp đồng mua bán

điện tử4cũng chỉ giới thiệu ngắn gọn về Công ước, phân tích tính chất quốc tế của

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước Bài viết mặc dù

có tiêu đề là phạm vi áp dụng của Công ước, nhưng dành rất ít thời lượng cho vấn

đề này mà chủ yếu tập trung so sánh việc áp dụng Công ước trong tố tụng tòa án

và tố tụng trọng tài và bình luận những trường hợp Công ước không áp dụng và phân tích mối quan hệ của công ước với luật quốc gia cũng như khả năng kết hợp

áp dụng của công ước với Điều kiện thương mại quốc tế Incoterms và Bộ nguyên

tắc Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế Những công cụ trên dù khác nhau ở

mức độ khái quát và tính cụ thể nhưng có thể sử dụng bổ sung cho nhau điều

chỉnh một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Bản thân tác giả của Luận văn này cũng có một bài viết về phạm vi áp dụng

của CISG đăng trên tạp chí Kinh tế Đối ngoại năm 2018, tuy nhiên bài viết này còn chưa đề cập đến tất cả các trường hợp áp dụng và không áp dụng CISG

Như vậy, có thể thấy các công trình, bài viết của các tác giả ở Việt Nam chưa nghiên cứu một cách thấu đáo các quy định về phạm vi áp dụng của CISG Cho tới nay mới chỉ xuất hiện một vài bài viết đề cập đơn lẻ đến vấn đề về phạm vi áp dụng CISG Kế thừa những nghiên cứu tại cả Việt Nam và thế giới, Luận văn sẽ phân tích một cách toàn diện và có hệ thống các quy định về phạm vi áp dụng CISG và các thực tiễn xét xử liên quan Trên cơ sở đó Luận văn sẽ đưa ra một số khuyến

4

Có th ể xem được tại: hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te (truy c ập ngày 19/11/2018)

Trang 15

nghị cho các cơ quan và doanh nghiệp Việt Nam khi áp dụng CISG

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề nghiên cứu nêu ở trên, Luận văn sẽ tìm cách trả lời cho câu hỏi bao quát nhất là: Phạm vi áp dụng của CISG là gì? Để trả lời được câu hỏi lớn này, đề tài sẽ trả lời những câu hỏi nhỏ sau:

dụng các quy định về phạm vi áp dụng CISG?

một cách hiệu quả các quy định về phạm vi áp dụng CISG?

4 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định về phạm vi áp dụng của CISG, thực tiễn

áp dụng các quy định về phạm vi áp dụng của CISG, Luận văn nhằm mục đích đưa

ra những khuyến nghị đối với Việt Nam, cũng như đề xuất một số giải pháp cụ thể khi áp dụng các quy định về phạm vi áp dụng của CISG

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn sẽ giải quyết hai nhiệm vụ

cụ thể sau:

vi áp dụng của CISG

nhằm rút ra những kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam

6 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là quy định về phạm vi áp dụng của CISG, các phán quyết của cơ quan tài phán (tòa án quốc gia và trọng tài thương

mại quốc tế) liên quan tới phạm vi áp dụng của CISG

7 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Luận văn không nghiên cứu tất cả các quy định

của CISG, mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định về phạm vi áp dụng của

Trang 16

Công ước này

Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về phạm vi áp dụng CISG không chỉ ở Việt Nam mà cả ở nước ngoài

Phạm vi về thời gian: Do dung lượng có hạn và để đảm bảo tính thời sự,

luận văn sẽ không nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về phạm vi áp dụng CISG từ khi Công ước này ra đời (1980) mà chủ yếu tập trung nghiên cứu các

thực tiễn xét xử trong thời gian gần đây

8 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và nghiên cứu thực tiễn xét xử Cụ thể:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp sẽ được sử dụng xuyên suốt Luận văn nhằm làm sáng tỏ vấn đề về phạm vi áp dụng của CISG

- Phương pháp so sánh luật học chủ yếu được sử dụng khi tác giả thấy cần thiết so sánh các quy định của CISG với pháp luật Việt Nam nhằm tạo tiền đề cho các đề xuất cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn xét xử (case studies) được sử dụng chủ yếu ở các Chương 2, 3 nhằm làm rõ thực tiễn áp dụng các quy định trong thực tế

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Khái quát chung về CISG và phạm vi áp dụng của CISG

- Chương 2: Quy định và thực tiễn áp dụng quy định về phạm vi áp dụng của CISG

- Chương 3: Một số khuyến nghị đối với Việt Nam khi áp dụng các quy định

về phạm vi áp dụng của CISG

Trang 17

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CISG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CISG

1.1 Khái quát về CISG

1.1.1 Lịch sử hình thành CISG

Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa

quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về

Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) với nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn

luật áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Trên thực tế, nỗ lực thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ XX Unidroit (Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư) Unidroit đã cho ra đời của hai Công ước La Hay năm 1964 Công ước thứ nhất là Công ước về Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình Công ước này điều

chỉnh việc hình thành hợp đồng (chào hàng, chấp nhận chào hàng) Công ước thứ hai là Công ước về Luật thống nhất cho mua bán quốc tế các động sản hữu hình Công ước này đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua và các biện pháp được áp dụng khi một trong các bên vi phạm hợp đồng Tuy vậy, hai Công ước này rất ít được áp dụng trong thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau như: (1)

Hội nghị La Hay chỉ có 28 nước tham dự với rất ít đại diện từ các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển, vì thế người ta tin rằng các Công ước này được

soạn có lợi hơn cho người bán từ các nước tư bản; (2) Các Công ước này sử dụng các khái niệm quá trừu tượng và phức tạp, rất dễ gây hiểu nhầm; (3) Các Công ước này thiên về thương mại giữa các quốc gia cùng chung biên giới hơn là thương mại

quốc tế liên quan đến vận tải biển; (4) Quy mô áp dụng của chúng quá rộng, vì

chúng được áp dụng bất kể có xung đột pháp luật hay không

Năm 1968, trên cơ sở yêu cầu của đa số các thành viên Liên Hợp Quốc, UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thống nhất luật nội dung

áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế cho hai Công ước

Trang 18

La Hay năm 1964 Công ước Viên ra đời năm 1980, được soạn thảo dựa trên hai Công ước La Hay, song có những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản

Cho tới nay, CISG đã trở thành một điều ước quốc tế được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Tuy nhiên, để có được sự thừa nhận đó CISG cũng phải trải qua

một khoảng thời gian tương đối dài Trong tám năm đầu tiên sau khi CISG được thành lập (1980), CISG thậm chí chưa thể phát sinh hiệu lực vì không đủ số quốc gia thành viên phê chuẩn Bởi lẽ, theo Điều 99 (1) CISG chỉ có hiệu lực khi tối thiểu

10 quốc gia phê chuẩn CISG Phải đợi đến năm 1988 thì yêu cầu này đã được thỏa mãn khi có đủ số lượng quốc gia, trong đó có Mỹ, chấp nhận và phê chuẩn CISG

Từ năm 1988 đến cuối thế kỷ số lượng quốc gia thành viên Công ước tăng

chậm nhưng tiến độ ổn định Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã chứng kiến

sự tăng tốc rõ rệt về số lượng các bên sử dụng CISG Ngoài ra, các chủ thể của các

Quốc gia chưa là thành viên của CISG đã lựa chọn CISG điều chỉnh hợp đồng của mình đã thúc đẩy ngày càng nhiều Quốc gia phê chuẩn Công ước này Vì vậy, CISG

đã hoàn thành mục tiêu của những người sáng tạo trong việc thiết lập luật thống

nhất rộng rãi về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thường được coi là cung

cấp hệ thống quy tắc cân bằng và trung lập

1.1.2 Nội dung cơ bản của CISG

CISG gồm 101 Điều, chia làm 4 phần với các nội dung chính sau:

Như tên gọi của nó cho thấy, phần này quy định các trường hợp CISG được áp dụng (từ Điều 1 đến Điều 6), đồng thời nêu rõ nguyên tắc trong việc áp dụng CISG, nguyên tắc diễn giải các tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên, nguyên tắc tự do

về hình thức của hợp đồng Công ước cũng nhấn mạnh đến giá trị của tập quán trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế

Điều 24) Trong phần này, với 11 điều khoản, Công ước đã quy định khá chi tiết, đầy đủ các vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Điều 14 của Công ước định nghĩa chào hàng, nêu rõ đặc điểm của chào hàng và phân biệt chào hàng với các“lời mời chào hàng” Các vấn đề hiệu lực của

Trang 19

chào hàng, thu hồi và hủy bỏ chào hàng được quy định tại các Điều 15, 16 và 17 Đặc biệt, tại các Điều 18, 19, 20 và 21 của Công ước có các quy định rất chi tiết, cụ

thể về nội dung của chấp nhận chào hàng; khi nào và trong điều kiện nào, một chấp

nhận chào hàng là có hiệu lực và cùng với chào hàng cấu thành hợp đồng; thời hạn

để chấp nhận, chấp nhận muộn; kéo dài thời hạn chấp nhận Ngoài ra, Công ước còn

có quy định về thu hồi chấp nhận chào hàng, thời điểm hợp đồng có hiệu lực…

Về vấn đề xác lập hợp đồng mua bán, CISG ghi nhận quy tắc chào hàng

-chấp nhận chào hàng (offer-acceptance rule) Công ước quy định một chào hàng

phải được gửi đến một hay một số người cụ thể, xác định và miêu tả đầy đủ về hàng hóa, số lượng, giá cả Chào hàng có thể được thu hồi nếu thư thu hồi đến khách hàng trước hoặc cùng lúc với thư chào hàng, hoặc trước khi khách hàng gửi lại thư

chấp thuận Bất kỳ sự thay đổi nào với thư chào hàng ban đầu đều được xem như sự

từ chối thư chào hàng trừ khi các điều khoản sửa chữa không làm thay đổi những điều khoản thiết yếu của thư chào hàng

pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng Phần này được chia thành 5 chương với

những nội dung cơ bản như sau:

Chương I: Những quy định chung; Chương II: Nghĩa vụ của người bán; Chương III: Nghĩa vụ của người mua; Chương IV: Chuyển rủi ro; Chương V: Các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người mua, đây là chương có số lượng điều khoản lớn nhất, cũng là chương chứa đựng những quy phạm hiện đại,

tạo nên ưu việt của CISG Nghĩa vụ của người bán và người mua được quy định chi

tiết, trong hai chương riêng, giúp cho việc đọc và tra cứu dễ dàng hơn Về nghĩa vụ

của người bán, Công ước quy định rất rõ nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng

từ, đặc biệt là nghĩa vụ đảm bảo tính phù hợp của hàng hóa được giao (về mặt thực

tế cũng như về mặt pháp lý)

CISG nhấn mạnh đến việc kiểm tra hàng hóa được giao (thời hạn kiểm tra,

thời hạn thông báo các khiếm khuyết của hàng hóa) Những quy định này, rất phù

hợp với thực tiễn và đã góp phần giải quyết có hiệu quả các tranh chấp phát sinh có

Trang 20

liên quan Nghĩa vụ của người mua, gồm nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ nhận hàng, được quy định tại các điều từ Điều 53 đến Điều 60

CISG không có một chương riêng về vi phạm hợp đồng và chế tài do vi

phạm hợp đồng Các nội dung này được lồng ghép trong Chương II, Chương III và

Chương V Trong các chương này, sau khi nêu các nghĩa vụ của người bán và người mua, CISG đề cập đến các biện pháp áp dụng trong trường hợp người bán/người mua vi phạm hợp đồng

Các biện pháp mà CISG cho phép người bán và người mua áp dụng khi một bên vi phạm hợp đồng bao gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, đòi bồi thường thiệt

hại, hủy hợp đồng Ngoài ra còn có một số biện pháp không có tính chất chế tài

hoặc nhằm mục đích trừng phạt bên vi phạm, ví dụ biện pháp giảm giá (Điều 50),

biện pháp bên bị vi phạm gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ để tạo điều kiện cho bên vi phạm tiếp tục thực hiện hợp đồng (khoản 1 Điều 47 và khoản 1 Điều 63) hay

những biện pháp mà bên vi phạm có thể đưa ra nhằm khắc phục những thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra (khoản 1 Điều 48) Công ước cũng quy định rõ trường hợp áp dụng các biện pháp cụ thể (ví dụ biện pháp hủy hợp đồng hay đòi thay thế hàng chỉ được áp dụng trong trường hợp vi phạm cơ bản - khái niệm vi

phạm cơ bản được nêu tại Điều 25)

Chương V của Phần 3 quy định về vấn đề tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, vi phạm trước hợp đồng, việc áp dụng các biện pháp pháp lý trong trường hợp giao hàng từng phần, hủy hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ Các Điều 74, 75, 76, 77, 78 của CISG là những điều khoản được dẫn chiếu đến rất nhiều trong các tranh chấp được áp dụng CISG, vì các điều khoản này quy định rất chi tiết

về một biện pháp được áp dụng phổ biến nhất trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đó là tính toán tiền bồi thường thiệt hại Các điều khoản khác trong chương này đề cập đến vấn đề miễn trách nhiệm, hậu quả của việc

hủy hợp đồng và bảo quản hàng hóa trong trường hợp có tranh chấp

định về các thủ tục để các quốc gia ký kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước, các bảo

Trang 21

lưu có thể áp dụng, thời điểm Công ước có hiệu lực và một số vấn đề khác mang tính chất thủ tục khi tham gia hay từ bỏ Công ước này

1.1.3 Thành công của CISG

Có hiệu lực từ ngày 01/01/1988, cho đến nay, CISG đã trở thành một trong các công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất Trong phạm vi hẹp hơn, so với các công ước đa phương khác về mua bán hàng hóa (như các công ước La Hay năm 1964), CISG là Công ước quốc tế có quy mô lớn hơn hẳn về số quốc gia tham gia và mức độ được áp dụng Với 89 Quốc gia thành viên, ước tính Công ước này điều chỉnh các giao dịch chiếm đến ba phần tư thương

mại hàng hóa thế giới (Ủy ban Đối ngoại Quốc Hội, 2015, tr 6) Trong danh sách

89 Quốc gia thành viên của CISG, có sự góp mặt của các Quốc gia thuộc các hệ

thống pháp luật khác nhau, các Quốc gia phát triển cũng như các Quốc gia đang phát triển, các Quốc gia tư bản chủ nghĩa cũng như các Quốc gia theo đường lối xã

hội chủ nghĩa nằm trên mọi châu lục Hầu hết các cường quốc về kinh tế trên thế

giới (Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật Bản…) đều đã tham gia CISG

Vai trò của CISG còn thể hiện ở chỗ CISG là nguồn tham khảo quan trọng

của Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) và Bộ nguyên tắc của Luật Hợp đồng Châu Âu (PECL).Trên cơ sở nền tảng của CISG, các nguyên tắc này đã trở thành các văn bản thống nhất luật quan trọng về hợp đồng, được nhiều quốc gia và doanh nhân tham khảo và sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế Năm 2008 đánh dấu sự thành công mới của CISG tại Châu Á, khi mà Nhật Bản tham gia Công ước này Với ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng lớn về thương mại hàng hóa của Nhật Bản ở Châu Á và trên thế giới, các chuyên gia dự báo việc Nhật Bản- nền kinh tế hùng mạnh nhất Châu Á gia nhập Công ước Viên

1980 sẽ kéo theo nhiều hồ sơ gia nhập hay phê chuẩn từ các quốc gia khác, đặc biệt

là các quốc gia Châu Á

Theo các chuyên gia và các doanh nghiệp, có nhiều yếu tố lý giải tại sao CISG lại là một trong những Công ước thống nhất về luật tư thành công nhất:

Quốc - tổ chức quốc tế liên chính phủ lớn nhất hành tinh Được Liên Hợp Quốc bảo

Trang 22

trợ soạn thảo và thực thi, CISG không chỉ tạo được sự tin cậy từ phía các quốc gia (trong quá trình soạn thảo) mà còn nhận được sự tin tưởng từ đông đảo doanh nghiệp (trong quá trình thực thi) Đây là yếu tố rất cần thiết đối với một văn bản

nhất thể hóa pháp luật về một vấn đề quan trọng và vốn có nhiều khác biệt giữa các

quốc gia, chủ thể có tập quán khác nhau

tạo ra các quy phạm thực chất thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế Đại diện

của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau (Common Law, Civil Law), tại các châu lục khác các tài liệu lịch sử về các phiên làm việc khác nhau của UNCITRAL5 cho thấy quá trình đàm phán để soạn thảo CISG đã trải qua rất nhiều khó khăn do sự khác biệt của pháp luật của các quốc gia cũng như những mối quan tâm khác nhau của các quốc gia này khi tham gia vào việc soạn thảo một công ước

thống nhất luật thực chất như CISG (Nguyen Trung Nam, 2010) Mỗi quy định trong văn bản cuối cùng đều là kết quả của quá trình thảo luận chi tiết, với việc xem xét đầy đủ và hợp lý các yêu cầu, tập quán thương mại của các bên Ví dụ như một chào hàng có bắt buộc phải có giá xác định trước hay không? Đây là câu hỏi mà các đại diện của Civil Law và Common Law đã có những tranh cãi rất gay gắt Đại diện

của Pháp và Cộng hòa liên bang Đức cho rằng giá cả cần phải được xác định trước

hoặc có thể xác định trước (có các yếu tố để xác định giá) Trong khi đó, theo luật các nước Common law (Anh, Hoa Kỳ), nếu bên chào hàng chưa đưa ra giá trong

hợp đồng thì điều này không ảnh hưởng đến hiệu lực của chào hàng Giá của hợp đồng sẽ được xác định theo giá hợp lý trên thị trường vào thời điểm giao hàng

Để hài hòa các quy phạm xung đột của hai hệ thống Civil law và Common law, các nhà soạn thảo CISG đã phải rất khéo léo bằng cách đưa ra 2 điều khoản về xác định giá trong hợp đồng mua bán Điều 14 đòi hỏi giá cả phải được quy định rõ ràng hay cần phải xác định được theo các điều khoản trong chào hàng, trong khi đó, Điều 55 quy định rằng nếu các điều kiện về giá cả theo Điều 14 không được thỏa mãn thì hợp đồng vẫn có hiệu lực và giá của hợp đồng được hiểu là giá trên thị

5 “United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (Vienna, 1980)” Có thể xem được tại: http://www.uncitral.org/uncitral/fr/uncitral_texts/sale_goods/1980CISG_travaux.html (truy c ập ngày 19/11/2018)

Trang 23

trường vào thời điểm giao hàng, tại địa điểm giao hàng Như vậy, Công ước Viên

1980, một mặt, yêu cầu một chào hàng bắt buộc phải có giá có thể xác định được,

mặt khác, đưa ra quy định căn cứ xác định giá cho các hợp đồng mà giá cả chưa được xác định Quy định này là phù hợp với thực tiễn thương mại quốc tế khi mà các hợp đồng có giá mở (open price contract) ngày càng phổ biến Một điều đáng lưu ý khác là trong quá trình soạn thảo Công ước cũng như ngay trong nội dung Công ước, các soạn giả luôn nêu cao tính chất quốc tế của Công ước và vì thế, cố

gắng dùng ngôn ngữ trung tính, đơn giản, tránh sử dụng các khái niệm riêng của

từng hệ thống luật của các quốc gia Với cách thức soạn thảo như vậy, các điều khoản của CISG thể hiện được sự thống nhất, hài hòa các quy phạm khác nhau trong pháp luật của các quốc gia tham gia soạn thảo, phản ánh được mối quan tâm chung của các quốc gia này

với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế Nhìn chung, các chuyên gia đánh giá CISG

là tập hợp các quy phạm khá hiện đại, thể hiện được sự bình đẳng giữa bên mua và bên bán trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế Các quy phạm này cũng phù hợp

với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế do được soạn thảo dựa trên một nguồn luật quan trọng là các tập quán thương mại quốc tế, trong đó có các Incoterms của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) Những giải pháp mà Công ước Viên 1980 đưa ra

là khá hợp lý, hiện đại Hoặc các quy định về thời hạn hiệu lực của chào hàng6, về các điều khoản chủ yếu của hợp đồng 7

, về các trường hợp được hủy hợp đồng, về khái niệm vi phạm cơ bản…, đều được soạn thảo nhằm tạo sự phù hợp ở mức cao

nhất với thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Đặc biệt, tính linh hoạt của các quy phạm là một trong yếu tố tạo nên sự thành công của CISG Sự linh hoạt này

như vậy, thì trong một thời hạn hợp lý, xét theo các tình tiết của sự giao dịch, trong đó có xét đến tốc độ của các phương tiện liên lạc do người chào hàng sử dụng Một chào hàng bằng miệng phải được chấp nhận ngay

tr ừ phi các tình tiết bắt buộc ngược lại.”

trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng về giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định những yếu tố này

đề nghị đã phát biểu rõ ràng điều trái lại.”

Trang 24

thể hiện trước hết ở quy định tại Điều 6 CISG, theo đó, hầu hết các điều khoản

của CISG đều là các điều khoản tùy nghi, nghĩa là các bên trong hợp đồng có thể

thỏa thuận khác so với các quy định tại các điều khoản đó Hơn nữa, Điều 6 cho phép các bên loại trừ việc áp dụng Công ước cho hợp đồng của mình, ngay cả khi các bên là doanh nghiệp tại các quốc gia thành viên của CISG Quy định “mềm

dẻo” này tạo điều kiện để các thương nhân có quyền tự do thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng cũng như lựa chọn cho mình nguồn luật áp dụng phù hợp

nhất trong trường hợp họ thấy rằng một/một số các quy định của CISG là chưa phù hợp đối với họ (ví dụ trong những lĩnh vực đặc thù, đối với những hàng hóa đặc thù)

Ngoài ra, nhiều điều khoản cụ thể của CISG cũng có cách tiếp cận rất linh

hoạt để phù hợp với thực tiễn rất phong phú về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế Ví dụ về thời hạn hiệu lực của chào hàng, CISG quy định tại Điều 18 khoản 2

rằng nếu trong đơn chào không quy định thì thời gian hiệu lực được xác định là

một thời gian hợp lý (reasonable time) Đó là thời gian cần thiết thông thường để chào hàng đến được người được chào hàng và thời gian để người này trả lời chào hàng đó, tùy theo tính chất của hợp đồng, khoảng cách giữa hai bên và có tính đến các phương tiện chào hàng khác nhau (thư, telex, fax, thư điện tử…) Thật vậy, sẽ

là không hợp lý nếu đưa ra một thời hạn chào hàng chung cho các loại chào hàng

với tính chất phức tạp khác nhau, với các mặt hàng khác nhau (từ các sản phẩm nhanh hỏng như rau hoa quả cho đến máy móc thiết bị), cũng như cho các giao

dịch khác nhau mà khoảng cách địa lý giữa các bên là khác nhau Việc đưa ra một

thời hạn hợp lý thể hiện sự linh hoạt và khả năng phù hợp của quy phạm này với các giao dịch mua bán hàng hóa có tính chất khác nhau

của ICC Các trọng tài quốc tế thường được suy đoán tự do hơn các tòa án quốc gia trong việc lựa chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp (đặc biệt trong các trường hợp không có quy định hoặc không quy định rõ ràng về luật áp dụng cho tranh chấp) Sự ủng hộ của các trọng tài quốc tế đối với CISG trong nhiều vụ

Trang 25

tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thể hiện chủ yếu thông qua

việc dẫn chiếu CISG như một lựa chọn ưu tiên cho việc giải quyết các tranh chấp này khi các bên không lựa chọn luật áp dụng Điều này cho thấy trong đánh giá

của nhiều trọng tài, CISG là một nguồn luật thích hợp để giải quyết tranh chấp Ngoài ra, CISG cũng thường được các trọng tài áp dụng theo Điều 1 (1) (b) của Công ước8 Sự ủng hộ này của các trọng tài quốc tế khiến cho việc áp dụng Công ước ngày càng rộng rãi hơn, đặc biệt khi mà phương thức giải quyết tranh chấp

bằng trọng tài ngày càng phổ biến hơn

ICC thể hiện sự ủng hộ của mình đối với văn bản thống nhất luật này bằng

việc đưa CISG vào điều khoản luật áp dụng mẫu có trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mẫu của ICC9 Điều 1.2 của phần “Các quy định chung”

(General Conditions) về luật áp dụng đã dẫn chiếu trực tiếp đến CISG (xem trong

Phụ lục 3) Nhờ việc dẫn chiếu đến CISG mà khi soạn Hợp đồng mẫu này cung

cấp một khung pháp lý có thể áp dụng đối với mọi giao dịch mua bán hàng hóa, đặc biệt là các hàng hóa được sản xuất nhằm mục đích bán lại Mục đích của Hợp đồng mẫu của ICC là đơn giản hóa quá trình soạn thảo hợp đồng cũng như giải quyết các tranh chấp liên quan Qua nghiên cứu của các chuyên gia, với sự ảnh hưởng và uy tín của ICC đối với các doanh nghiệp, các hợp đồng mẫu này đã được tham khảo và sử dụng rất rộng rãi trong mua bán hàng hóa quốc tế Hầu hết các văn phòng tư vấn luật và các luật sư, chuyên gia pháp lý trong các doanh nghiệp đều có mẫu hợp đồng này của ICC để tham khảo và tư vấn cho doanh nghiệp (Hans van Houtte, 2003) Đây là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy

việc áp dụng CISG tại các doanh nghiệp

8 Ví d ụ, phán quyết n° 7197 (năm 1992) của trọng tài ICC xét xử tranh chấp về hợp đồng giữa một công ty

d ụng theo Điều 1 (1) (b), vì khi áp dụng quy phạm xung đột của Bulgari thì luật áp dụng sẽ là luật của Áo,

mà Áo là thành viên CISG

9

International Chamber of Commerce (1997), Model International Sale Contract- Manufactured Goods

Intended for Resale, ICC Publication No 556, 1997 Edition

Trang 26

1.1.4 Việt Nam gia nhập CISG

Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập CISG

và trở thành viên thứ 84 của Công ước này Điều đáng chú ý là Việt Nam đã đi trước nhiều nước ASEAN khác để trở thành thành viên thứ 2 sau Singapore gia

nhập Công ước quan trọng này Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại

1.2 Khái quát về phạm vi áp dụng của CISG

1.2.1 Khái quát về các trường hợp áp dụng CISG

Khoản 1 Điều 1 CISG quy định:

có trụ sở kinh doanh tại các Quốc gia khác nhau:

b) Khi các quy tắc tư pháp quốc tế dẫn đến việc áp dụng luật của một Quốc gia thành viên Công ước này”

Với quy định như trên thì việc áp dụng CISG được xác định trong hai trường hợp Trường hợp thứ nhất căn cứ vào dấu hiệu trụ sở thương mại của chủ thể có quan hệ với nước là thành viên của Công ước và trường hợp thứ hai liên quan tới nguyên tắc chọn luật áp dụng của tư pháp quốc tế

Trong trường hợp thứ nhất, khi trụ sở kinh doanh của các chủ thể được xác định đặt ở các quốc gia thành viên của Công ước thì Công ước sẽ áp dụng Ví dụ, nếu một công ty có trụ sở kinh doanh ở Đức ký hợp đồng bán bột mì cho một

Trang 27

công ty có trụ sở kinh doanh tại Việt Nam thì CISG áp dụng bởi vì cả Đức và Việt Nam đều là thành viên của CISG

Tuy nhiên, trong thực tế có trường hợp chủ thể trong quan hệ thương mại quốc tế có thể có nhiều trụ sở kinh doanh đặt ở nhiều quốc gia khác nhau Để xử

lí các trường hợp này, Điều 10 Công ước Viên 1980 quy định rằng trụ sở kinh doanh được xem xét ở đây là trụ sở có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng

và việc thực hiện hợp đồng đó, có tính đến những tình huống mà các bên đều biết hoặc đều dự đoán được vào bất kì thời điểm nào trước hoặc vào thời điểm giao kết hợp đồng

Như vậy, khi chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có nhiều trụ

sở kinh doanh thì CISG sẽ được áp dụng nếu trụ sở kinh doanh đó có quan hệ gắn

bó nhất với hợp đồng được đặt tại quốc gia là thành viên của Công ước Tuy nhiên, mối quan hệ gắn bó nhất ở đây khá khó để xác định không chỉ riêng trong CISG Khi xác định luật áp dụng cho trường hợp hợp đồng không có thỏa thuận luật áp dụng của các bên, cơ quan tài phán cũng phải tìm luật của nước có mối liên hệ gắn bó với hợp đồng Mối quan hệ gắn bó nhất có nghĩa gì? Điều 4 Nghị định Rome I về luật áp dụng cho hợp đồng của Liên minh Châu Âu sử dụng một loạt các tiêu chí để xác định nước có mối liên hệ gắn bó nhất, như nơi thực hiện nghĩa vụ đặc trưng, nơi cư trú thường xuyên, địa điểm kinh doanh chính…Cũng theo Nghị định Rome I, những tiêu chí này sẽ không áp dụng nếu nghĩa vụ đặc trưng của hợp đồng không xác định được hoặc rõ ràng có nước khác có mối liên

hệ gắn bó hơn với hợp đồng Tóm lại, mối liên hệ gắn bó này nhìn chung không

rõ ràng và có thể bị sử dụng để biện luận theo hướng kết quả mà chủ thể biện luận mong muốn Đối với Điều 10 CISG, mối quan hệ gắn bó nhất phải được xem xét đối với việc giao kết và thực hiện hợp đồng Toàn bộ giai đoạn chào hàng, chấp nhận chào hàng đến quá trình thực hiện hợp đồng có liên hệ nhiều nhất với địa điểm kinh doanh nào? Một yếu tố cũng có thể được đưa vào xem xét để xác định mối quan hệ gắn bó nhất với một địa điểm kinh doanh là khả năng để duy trì tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa, tức là địa điểm kinh doanh ở nước khác

Trang 28

với nước có địa điểm kinh doanh của đối tác sẽ là một yếu tố cân nhắc thiên về địa điểm kinh doanh ở nước khác đó

Trong trường hợp các bên không có trụ sở kinh doanh thì sẽ lấy nơi cư trú thường xuyên của họ làm cơ sở xác định Theo đó, nếu nơi cư trú thường xuyên của các chủ thể nằm trên lãnh thổ của nước là thành viên CISG thì Công ước sẽ được áp dụng Với nội dung quy định trên đây, có thể thấy trong trường hợp nếu một bên hoặc cả hai bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế không

có trụ sở kinh doanh hoặc không có nơi cư trú thường xuyên ở quốc gia thành viên CISG thì Công ước sẽ không áp dụng Tuy nhiên, trên phương diện lí luận cũng như trên thực tế thì trong trường hợp này quy định của CISG vẫn có thể áp dụng CISG có thể áp dụng trong hai trường hợp cụ thể sau: Trường hợp thứ nhất, khi các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng thoả thuận áp dụng CISG Việc các bên đã thoả thuận chọn CISG được xem như các bên đã chuyển các điều khoản của Công ước thành điều khoản của hợp đồng Trường hợp thứ hai, khi một bên

là chủ thể trong hợp đồng có mối quan hệ với một nước là thành viên của CISG Trong trường hợp này, nếu cả hai bên chủ thể thỏa thuận áp dụng CISG thì đương nhiên CISG sẽ được áp dụng Nhưng nếu các bên không thoả thuận áp dụng CISG thì khả năng áp dụng Công ước vẫn có thể xảy ra Bởi vì theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1, khi đã áp dụng nguyên tắc của tư pháp quốc tế thì vấn đề dẫn chiếu luật áp dụng sẽ được đặt ra Do đó, sự xuất hiện một bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế đến từ nước thành viên Công ước Viên 1980

sẽ là cơ sở để quy phạm xung đột dẫn chiếu đến việc áp dụng Công ước Viên

1980 Vấn đề này sẽ được phân tích cụ thể dưới đây

Theo điểm b khoản 1 Điều 1 thì việc có áp dụng Công ước hay không phụ thuộc vào nguyên tắc của tư pháp quốc tế Theo đó, các quy phạm xung đột sẽ được sử dụng để xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng giữa các bên Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật nào thì hệ thống pháp luật đó sẽ được áp dụng Theo tinh thần của điểm b khoản 1 Điều 1 thì khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của quốc gia thành viên CISG thì Công

Trang 29

ước này sẽ được áp dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể Ví

dụ, nếu doanh nghiệp có trụ sở kinh doanh tại Pháp (là thành viên của CISG) giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với doanh nghiệp của Indonesia (chưa là thành viên của CISG) Hai bên thỏa thuận chọn luật pháp của Pháp là luật của hợp đồng Trường hợp này, CISG sẽ thường được áp dụng bởi vì Pháp là quốc gia thành viên CISG Với sự phân tích trên đây, có thể thấy quy định của điểm b

Khoản 1 Điều 1 đã tạo ra hành lang pháp lí khá rộng cho việc áp dụng Công ước Viên 1980 Theo đó nếu có quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến pháp luật của bất cứ nước thành viên nào đó của CISG thì Công ước sẽ được

áp dụng

Trên cơ sở lí luận của tư pháp quốc tế thì có rất nhiều hệ thuộc trong quy phạm xung đột dùng để xác định pháp luật áp dụng khi có xung đột pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Ví dụ hệ thuộc luật nước người bán, hệ thuộc luật nước người mua, hệ thuộc luật nơi kí kết hợp đồng, hệ thuộc luật nơi thực hiện hợp đồng… Trong trường hợp nếu các hệ thuộc này được quy phạm xung đột dẫn chiếu đến và được xác định là luật của một trong các thành viên CISG thì Công ước sẽ được áp dụng Việc áp dụng nội dung của điểm

b khoản 1 Điều 1, như đã phân tích trên đây, sẽ dẫn đến hệ quả là khả năng áp dụng CISG rất cao

Tuy nhiên, khả năng áp dụng của CISG cũng có thể bị thu hẹp Việc mở rộng hoặc thu hẹp khả năng áp dụng Công ước có thể bị phụ thuộc vào quan điểm của các quốc gia thành viên Bởi vì, theo Điều 95 của CISG, các Quốc gia thành viên có quyền tuyên bố không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 1 của Công ước Việc tuyên bố không áp dụng điều khoản này sẽ hạn chế việc áp dụng CISG để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Bởi vì trong trường hợp này việc chọn luật áp dụng sẽ được đặt ra theo nguyên tắc của tư pháp quốc tế mà không áp dụng các quy định của CISG

Thực tiễn giải quyết tranh chấp trong mua bán hàng hoá quốc tế còn xảy ra trường hợp cần xác định có áp dụng CISG hay không khi các bên trong hợp đồng

Trang 30

có trụ sở tại các Quốc gia thành viên CISG nhưng các bên lại lựa chọn áp dụng pháp luật của một Quốc gia khác nhưng cũng là thành viên của CISG Liệu sự lựa chọn này có đồng nghĩa với việc các bên loại trừ áp dụng CISG hay không? Đây

là trường hợp xảy ra đối với các bên tranh chấp của các doanh nghiệp có trụ sở tại Canada và Italia Cụ thể, vào năm 1991 một công ty của Canada đã kí hợp đồng mua bán hàng hoá với công ty của Italia Trong hợp đồng các bên đã thoả thuận

“luật áp dụng với các điều kiện bán hàng là luật của Pháp” Trên thực tế, CISG có hiệu lực ở Pháp và ở Italia từ ngày 01 tháng 01 năm 1988 nhưng có hiệu lực tại Canada vào ngày 01 tháng 05 năm 1992 tức là sau ngày kí kết hợp đồng nói trên Như vậy, nếu căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 1 thì Công ước Viên 1980 sẽ không áp dụng nhưng nếu dựa vào điểm b khoản 1 Điều 1 thì Công ước Viên

1980 có thể áp dụng Tuy nhiên, trong hợp đồng các bên đã thoả thuận áp dụng luật của Pháp Do đó, câu hỏi được đặt ra là sự thoả thuận này có phải là cơ sở để khẳng định rằng các bên trong hợp đồng đã sử dụng Điều 6 CISG nhằm loại trừ việc áp dụng Công ước này hay không? Về vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng

“việc dẫn chiếu chung đến một nội luật nào đó không nên hiểu là một loại trừ ngầm việc áp dụng Công ước” Đối với vụ việc trên đây, sau khi xem xét, phân

tích và đánh giá, Hội đồng trọng tài xét xử vụ việc này đã quyết định CISG được

áp dụng để xử lí tranh chấp này

1.2.2 Khái quát về các trường hợp không áp dụng CISG

Việc xác định các trường hợp không áp dụng Công ước Viên 1980 dựa vào một số dấu hiệu cơ bản trong giao dịch mua bán hàng hoá như: Mục đích của việc mua bán hàng hoá, hình thức của việc mua bán, bản chất của việc mua bán, bản chất của hàng hóa, hậu quả không mong muốn của việc mua bán hàng hoá gây ra

Theo quy định của CISG thì hành vi mua bán hàng hoá quốc tế phải xuất phát từ mục đích kinh doanh, sinh lời Một quan hệ hợp đồng mua bán mặc dù các bên chủ thể có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau thuộc thành viên của CISG nhưng mục đích của giao dịch mua bán này chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu cho

Trang 31

cá nhân, gia đình thì CISG sẽ không được áp dụng bởi vì đây là các giao dịch mua bán hàng hoá không nhằm mục đích sinh lời

Trong thực tiễn thương mại quốc tế có nhiều hình thức giao dịch mà ở đó các chủ thể có thể thoả thuận để giao kết hợp đồng Trong các hình thức giao dịch này, các bên chủ thể phải tuân thủ theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định Tuy nhiên, trong thương mại quốc tế cũng có những hình thức giao dịch rất đặc biệt Theo đó, các chủ thể phải tuân thủ các quy chế cụ thể đặc thù do đặc tính của giao dịch này Ví dụ, trường hợp bán đấu giá, các bên phải tuân thủ các quy chế

về bán đấu giá Theo quy định của CISG thì bán đấu giá được coi là trường hợp

mà Công ước sẽ không áp dụng bởi vì giao dịch bán đấu giá có các quy định đặc thù trong pháp luật của các quốc gia nên nên để những giao dịch này tiếp tục được điều chỉnh bởi những quy định đó mặc dù người đấu giá thành công có thể đến từ một quốc gia khác Thêm nữa, những giao dịch này không cấu thành một phần quan trọng của thương mại quốc tế và vì thế có thể được xem như những giao dịch nội địa Điều 2.d loại trừ các giao dịch mua bán chứng khoán, bởi vì những giao dịch này liên quan đến những vấn đề khác với thương mại hàng hóa thông thường, và một số hệ thống pháp luật không xem chứng khoán là một loại hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hoá được phân biệt khá rạch ròi đối với các hợp đồng cung cấp dịch vụ Với mục đích điều chỉnh thành mua bán hàng hoá nên theo quy định của CISG thì Công ước chỉ áp dụng đối với các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế mà không áp dụng đối với hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng lao động Tuy nhiên, trên thực tiễn thương mại quốc tế, có những hợp đồng mua bán hàng hoá đồng thời là hợp đồng trao đổi dịch vụ Theo đó có thể giá trị trao đổi dịch vụ lớn hơn giá trị của trao đổi hàng hoá trong hợp đồng này Như vậy có thể thấy, đây là hợp đồng mang nặng tính chất của một hợp đồng cung ứng dịch vụ hơn là một hợp đồng mua bán hàng hoá Theo quy định của khoản 2 Điều 3 CISG

Trang 32

thì “Công ước không áp dụng cho các hợp đồng trong đó phần lớn nghĩa vụ của bên cung cấp hàng hoá là cung ứng lao động hoặc thực hiện các dịch vụ khác”

Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải là hàng hoá phổ biến được mua bán trên thị trường quốc tế Những hợp đồng mua bán các loại hàng hoá có tính chất đặc biệt thì CISG sẽ không điều chỉnh Những hàng hoá có tính chất đặc biệt là các hàng hoá như máy bay, tàu thủy, cổ phiếu,

cổ phần… CISG sẽ không điều chỉnh các hợp đồng liên quan tới việc mua bán các loại hàng hoá đặc biệt này Tuy nhiên, thực tiễn xét xử về CISG khẳng định nếu hàng hóa là máy bay thì không áp dụng CISG, nhưng nếu hàng hóa là thiết bị thay thế cho máy bay thì được coi là hàng hóa thông thường Theo giải thích của

Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), sở dĩ có quy định trên đây là do hiện nay ở nhiều quốc gia trên thế giới việc mua bán các loại hàng hoá đặc biệt này được điều chỉnh bởi các quy định đặc biệt đáp ứng những tính chất đặc biệt của hàng hoá

không mong muốn

Với mục đích của CISG là chỉ điều chỉnh việc giao kết hợp đồng, các quyền, nghĩa vụ của bên bán và bên mua phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Do đó CISG sẽ không điều chỉnh những vấn đề xảy ra sau khi mua bán hàng hoá Ví dụ: Hệ quả phát sinh liên quan tới quyền sở hữu đối với hàng hoá đã

bán hoặc trường hợp hàng hoá là đối tượng của hợp đồng đã gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tính mạng đối với bất cứ một người nào đó

1.2.3 Ý nghĩa của việc xác định phạm vi áp dụng của CISG

Phạm vi áp dụng Công ước và phạm vi không áp dụng CISG là những vấn

đề pháp lí quan trọng Những quy định của CISG về nội dung này là cơ sở pháp lí

để Công ước có thể điều chỉnh hoặc không điều chỉnh một quan hệ mua bán hàng

Trang 33

hoá quốc tế Để tận dụng tối đa những lợi thế mà CISG mang lại việc nghiên cứu nội dung Công ước là hết sức cần thiết

Việc xác định phạm vi áp dụng CISG có thể tiết kiệm được chi phí và tránh được các tranh chấp trong việc lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng Đây là lợi ích lớn khi các bên đã có một nguồn luật thống nhất để áp dụng Dù các bên trong hợp đồng không thỏa thuận về luật áp dụng thì CISG sẽ được tự động áp dụng cho hợp đồng mua bán giữa các bên và vì thế giảm bớt các khó khăn và chi phí có thể phát sinh do luật được lựa chọn để áp dụng cho hợp đồng là luật nước ngoài Nếu phải áp dụng luật nước ngoài thương nhân Việt Nam có thể mất thời gian để tự mình tìm hiểu hoặc mất chi phí thuê tư vấn luật để tìm hiểu luật nước ngoài đó Ngoài ra, luôn tiềm ẩn những rủi ro pháp lý cho thương nhân Việt Nam

do thiếu sự hiểu biết đầy đủ về luật nước ngoài cũng như cách áp dụng luật nước ngoài Trong khi đó, chi phí và thời gian để tìm hiểu CISG là ít hơn rất nhiều so với luật quốc gia nước ngoài, vì các doanh nghiệp/luật sư tư vấn có thể tham khảo rất dễ dàng (và miễn phí) các hệ thống cơ sở dữ liệu vô cùng phong phú về CISG như đã trình bày ở trên

Xác định phạm vi áp dụng CISG góp phần hạn chế việc phải sử dụng đến quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế để xác định luật áp dụng cho hợp đồng Khi các bên trong hợp đồng không lựa chọn, hoặc không thể lựa chọn được luật

áp dụng cho hợp đồng, cơ quan giải quyết tranh chấp có thể sử dụng quy phạm xung đột luật để xác định một nguồn luật nhằm giải quyết tranh chấp có liên quan Quy phạm luật xung đột thường là khác nhau ở các quốc gia, vì thế, việc áp dụng các quy phạm này thường dẫn đến tính khó dự đoán trước được về nguồn luật áp dụng, gây khó khăn đáng kể cho các bên tranh chấp

Việc xác định rõ phạm vi áp dụng của CISG còn góp phần tạo được sự bình đẳng về nội dung giữa người mua và người bán trong quan hệ hợp đồng, giúp các bên bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Vì thế, dù là bên bán hay bên mua,

Trang 34

Công ước này đều trở thành một khung pháp lý hữu hiệu và an toàn để giải quyết các tranh chấp phát sinh, nếu có

Thực tiễn áp dụng CISG cho thấy Công ước này cung cấp một khung pháp

lý thống nhất, hiện đại về mua bán hàng hóa quốc tế, có thể được áp dụng tại nhiều quốc gia không phân biệt truyền thống pháp luật hay trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia

Tóm lại, việc xác định được phạm vi áp dụng của CISG sẽ giúp ích rất lớn cho các bên để thỏa thuận nội dung của hợp đồng, biết mình có quyền và nghĩa vụ

gì để thực hiện tốt hợp đồng và nhanh chóng tìm hướng giải quyết khi tranh chấp phát sinh Việc xác định được khả năng áp dụng CISG có ý nghĩa lớn đối với cơ quan giải quyết tranh chấp vì nó sẽ giúp thúc đẩy nhanh quá trình giải quyết tranh chấp, một nhu cầu rất lớn đối với các thương nhân

Trang 35

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ

PH ẠM VI ÁP DỤNG CỦA CISG

Các quy định về phạm vi áp dụng của CISG nằm rải rác ở nhiều điều khoản khác nhau, sử dụng một số khái niệm chưa rõ ràng và đòi hỏi phải được

diễn giải trong thực tiễn áp dụng Ngoài ra, Công ước này còn có các quy định về

loại trừ và bảo lưu Vì vậy, trong Chương này, Luận văn sẽ làm rõ các quy định

về phạm vi áp dụng của CISG cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này để

tạo cơ sở cho các giải pháp và đề xuất sẽ được trình bày trong Chương 3

2.1 Phạm vi áp dụng theo đối tượng

CISG quy định Công ước này được áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tuy nhiên không định nghĩa thế nào là hàng hóa, thế nào là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Vì vậy, trong mục này tác giả sẽ phân tích các quy định cũng như thực tiễn áp dụng các quy định về hợp đồng mua bán, về hàng hóa là đối tượng của của hợp đồng cũng như các loại hàng hóa được Công ước

loại trừ

2.1.1 Hợp đồng mua bán

Điều 3 CISG là một trong những điều khoản xác định phạm vi áp dụng Công ước Theo đó, CISG áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

thỏa mãn các quy định mà Công ước đã đặt ra, cụ thể là:

Để hiểu rõ quy định này, cần lưu ý hai cụm từ “phần lớn” và “nguyên liệu

cần thiết cho” Do có tính mềm dẻo, nên hai cụm từ này gây ra khá nhiều khó khăn khi xác định phạm vi áp dụng của CISG

Trang 36

Hiểu được “phần lớn” (“substantial part” trong tiếng Anh và “part essentielle” trong tiếng Pháp) là một trong những điểm mấu chốt để hiểu được nội dung của Điều 3 Điều 3 không đưa ra tiêu chí nào để đánh giá thế nào là “phần lớn” Theo một số tác giả (Franco Ferrari, 1995; Martin Karollus, 1995; Frank Diedrich, 1996), “phần lớn” được nhìn nhận từ hai khía cạnh “giá trị kinh tế” và tiêu chí “cần thiết, thiết yếu” Theo cách hiểu này, nguyên liệu do bên đặt hàng cung cấp có được coi là “phần lớn” hay không sẽ xác định dựa trên giá trị của nó

so với giá trị nguyên liệu cho việc chế tạo hay sản xuất hàng hóa đó Theo ý kiến

số 10 (mục 4) của Ủy ban tư vấn CISG10, trong trường hợp không có bất kỳ chỉ dẫn khác trong hợp đồng, giá của nguyên liệu được xem xét là của thị trường nơi người mua vào thời điểm ký kết hợp đồng

Vụ tranh chấp VB/9413111được phân tích dưới đây sẽ cho thấy điều này Trong tranh chấp này, bên bán có trụ sở kinh doanh tại Hungary đã ký kết một hợp đồng mua bán hàng hóa với bên mua Áo và có nghĩa vụ cung cấp “waste containers” (container chứa chất thải do người bán sản xuất) Tại thời điểm này,

cả Hungary và Áo đều là thành viên của CISG Các bên đã thỏa thuận với nhau rằng bên mua Áo sẽ cung cấp một phần nguyên liệu cần thiết cho việc sản xuất cho bên bán Hungary Để xác định hợp đồng này có thuộc phạm vi điều chỉnh của CISG hay không, cần phải so sánh giữa hai giá trị Thứ nhất là giá trị nguyên vật liệu mà bên mua có nghĩa vụ cung cấp để sản xuất một container và thứ hai là giá trung bình của một container được sản xuất ra Cụ thể, trong vụ việc này, Bên

mua Áo đã cung cấp kim loại và phụ tùng giá trị 23.000sA (giá trị của lượng kim

loại và phụ tùng mà bên bán phải sử dụng để sản xuất một container) để sản xuất

12 container Và như vậy, Áo cung cấp không tới 2.000 sA cho mỗi

container Trong khi, giá trị trung bình của lượng kim loại và phụ tùng để sản

xuất một containerlà từ 12.000 sA đến 20.000 sA Rõ ràng, con số 2000 sAso với 12.000 sA đến 20.000sA là không đáng kể, nên hội đồng trọng tài đã kết luận rằng

10

CISG Advisory Council Opinion No 10, Agreed Sums Payable upon Breach of an Obligation in CISG Contracts, có thể truy cập được tại: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/CISG-AC-op10.html (truy cập ngày 19/11/2018)

11 Có thể xem tại: http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&do=case&id=181&step=FullText (truy cập ngày 19/11/2018)

Trang 37

trường hợp này không thỏa mãn yếu tố “phần lớn các nguyên liệu” theo Điều 3.1

Vì thế, hợp đồng này chịu sự điều chỉnh của CISG

Một câu hỏi khác đặt ra là giá trị kinh tế sẽ được định lượng như thế nào? Khi định lượng thì tỉ lệ phần trăm có thể được sử dụng và “phần lớn” được hiểu là

từ 50% trở lên Trong thực tế có không ít các cơ quan tài phán12 đã xem xét tính giá trị kinh tế theo cách định lượng ra phần trăm Tuy nhiên, theo Ủy ban tư vấn CISG, không nên định lượng theo tỷ lệ phần trăm định trước; giá trị kinh tế phải được xác định linh hoạt tùy thuộc từng trường hợp cụ thể và chính vì lẽ đó nó phải được xác định dựa trên cơ sở đánh giá tổng thể13 Ý kiến trên thực ra không mâu thuẫn với việc sử dụng yếu tố phần trăm Nó có ý nghĩa củng cố thêm khi nhấn mạnh cần phải dựa trên đánh giá khái quát cũng như tình hình cụ thể và không quá cứng nhắc theo một tỷ lệ phần trăm nhất định cho trước mà cần phải

có sự linh hoạt tùy theo đối tượng, hoàn cảnh và tính chất khác nhau

Ngoài ra, “phần lớn” còn được dựa trên cơ sở “tính thiết yếu” của hàng hóa Trong một số trường hợp, xem xét “phần lớn” bằng cách định lượng theo giá trị kinh tế thì không phù hợp, ví dụ như đối với trường hợp nguyên liệu vô hình Lúc này, việc căn cứ theo “tính thiết yếu” sẽ tỏ ra phù hợp hơn Như vậy, các nguyên liệu bên mua cung cấp sẽ được xác định theo chất lượng, chức năng, tính cần thiết của nó so với tổng thể nguyên liệu chế tạo, sản xuất ra hàng hóa Tuy nhiên, theo Ủy ban tư vấn CISG, tiêu chí “tính thiết yếu” được xếp sau “giá trị kinh tế” Nói cách khác, chỉ khi không xác định được “giá trị kinh tế” hoặc “giá trị kinh tế” tỏ ra không phù hợp với hoàn cảnh, thì mới sử dụng tiêu chí “tính thiết yếu”14 Quan điểm này tạo thuận lợi cho cơ quan xét xử, bởi tiêu chí định lượng bao giờ cũng dễ xác định hơn tiêu chí định tính

Trang 38

Bên cạnh tiêu chí “phần lớn”, Điều 3 CISG còn sử dụng tiêu chí “nguyên liệu cần thiết cho” (“materials necessary for” trong tiếng Anh và “éléments matériels nécessaires à” trong tiếng Pháp) Hiểu theo cách đơn giản, trước hết, những nguyên liệu không cần thiết, không đóng vai trò quan trọng cho việc chế tạo, sản xuất hàng hóa không được tính đến trong trường hợp này Những phụ kiện như vật liệu cần thiết cho bao bì và vận chuyển hàng hóa, hoặc vật liệu cần thiết cho kiểm tra nghiệm thu cũng sẽ không được coi là “nguyên liệu cần thiết cho” Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra khi “nguyên liệu” là các yếu tố như công nghệ, bí quyết kỹ thuật, bản vẽ, công thức và thiết kế cần thiết cho sản xuất hàng hóa có được coi là hàng hóa không? Theo Bình luận số 4 của Uỷ ban tư vấn Công ước Viên15, Tòa phúc thẩm Chambéry ngày 25/5/1993 đã quyết định không áp dụng CISG với lập luận rằng, để thuộc phạm vi áp dụng của Điều 3, sản xuất hàng hóa phải được thực hiện theo thiết kế do người mua cung cấp, thiết kế phải chiếm một phần đáng kể các tài liệu và trở thành nguyên liệu duy nhất mà người đặt hàng cung cấp Tuy nhiên, cần xác định rõ rằng không phải mọi thiết kế, bản vẽ… đều được coi là vật liệu để sản xuất hàng hóa Chỉ những thiết kế, bản vẽ… cần thiết cho sản xuất hàng hóa và đóng góp đặc biệt hoặc dành riêng cho hàng hóa Ví dụ như một trong các bên đóng góp tài liệu, bản vẽ… thể hiện quyền sở hữu công nghiệp hoặc quyền sở hữu trí tuệ (ví dụ: bằng sáng chế hoặc quyền sở hữu công nghiệp…)

Ngoài ra, còn một vấn đề khác liên quan đến những nguyên liệu vô hình không thể nhìn nhận được bằng giác quan thông thường Các quốc gia ngay từ khi CISG trong giai đoạn xây dựng đã muốn biết “nguyên liệu” có tồn tại dưới dạng

vô hình được không, như bí quyết kinh doanh16 CISG không có điều khoản nào quy định các giao dịch đó có thuộc phạm vi áp dụng của CISG hay không

15 CISG Advisory Council Opinion No 10, tlđd

19/11/2018)

Trang 39

2.1.1 2 Hợp đồng bao gồm cả mua bán hàng hóa và cung ứng nhân lực và dịch vụ

Khoản 2 Điều 3 quy định: “Công ước này không áp dụng cho các hợp

đồng trong đó phần lớn nghĩa vụ của bên cung cấp hàng hóa là cung ứng lao

động hoặc thực hiện các dịch vụ khác.”

Cần lưu ý rằng Công ước Viên chỉ áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa mà không điều chỉnh hợp đồng cung ứng dịch vụ Trong thực tế, có những hợp đồng có đối tượng vừa là mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ khi bao gồm cả nghĩa vụ cung ứng dịch vụ và cung cấp hàng hóa Khi hợp đồng có đối tượng là mua bán hàng hóa, nhưng lại kèm theo đó là những dịch vụ, hay yêu cầu thực hiện một công việc nào đó liên quan đến hàng hóa, thì cần phải xem xét các hợp đồng đó có phải là hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của Công ước hay không?

Trong thực tiễn, bên bán thường phải thực hiện các dịch vụ phụ trợ cho việc giao hàng như đóng gói, vận chuyển hàng hóa, ký hợp đồng với người vận chuyển… Ngoài ra, hợp đồng mua bán hàng hóa còn có thể kèm theo nghĩa vụ lắp đặt hay việc hướng dẫn lắp đặt Trong những trường hợp này, hợp đồng vẫn thuộc đối tượng điều chỉnh của CISG, bởi các nghĩa vụ đó không phải là nghĩa vụ chính của hợp đồng mua bán hàng hóa17 Tương tự, một hợp đồng mua bán hàng hóa có nghĩa vụ bán hàng kèm theo lắp ráp hàng hóa nói chung không thuộc trường hợp loại trừ theo Điều 3.218 Điều này cũng đúng đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa có nghĩa vụ đào tạo nhân viên, hay cung cấp các dịch vụ bảo trì, nếu những nghĩa vụ bổ sung này phụ thuộc vào nghĩa vụ chính là bán hàng19 Các dịch vụ này không làm thay đổi bản chất hợp đồng là mua bán hàng hóa hay cũng không làm thay đổi quan hệ giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa Ví dụ như trong vụ tranh chấp giữa nguyên đơn là bên bán Thụy Sỹ với bị đơn là bên mua Đức Tòa án đã nhận thấy rằng hai bên đã thực hiện về việc bán hàng kèm theo

17 Xem: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/990225s1.html (truy cập ngày 19/11/2018)

Trang 40

với nghĩa vụ liên quan đến việc lắp đặt container Tòa án đã xem xét và kết luận rằng Công ước Viên có thể áp dụng được vì việc cung cấp các dịch vụ, tức là việc

lắp đặt container, không được ưu tiên hơn, hay không phải là nghĩa vụ chủ yếu

Tuy nhiên trong một số trường hợp người bán thực hiện phần dịch vụ nhiều hơn phần mua bán, khi đó, dịch vụ hoàn toàn có thể trở thành đối tượng của một hợp đồng độc lập Chẳng hạn như người bán đào tạo nhân viên của người mua để sử dụng hàng hóa là đối tượng của hợp đồng Trong tranh chấp số

hóa Cụ thể, trọng tài đã lập luận rằng “hợp đồng mua bán hàng hóa có trả phí lắp đặt” bao gồm một số điều khoản mà hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường không có, ví dụ như lưu kho, thông tin bán hàng, dịch vụ markerting, trả lại hàng hóa khi không bán được Nhìn chung, cần phải xem xét việc thực hiện nghĩa vụ này tương quan như thế nào so với nghĩa vụ cung cấp hàng hóa

Ngược lại, theo tinh thần của Điều 3.2, một hợp đồng tuy là có sự trao đổi hàng hóa, nhưng nhiệm vụ của bên giao hàng lại chủ yếu là thực hiện một công việc, dịch vụ khác, thì sẽ không chịu sự điều chỉnh của CISG Để hiểu được nội dung của quy định này, cần phải làm sáng tỏ ý nghĩa của cụm từ “phần lớn nghĩa vụ” (“preponderant part of the obligations” trong tiếng Anh và “la part prépondérante de l’obligation” trong tiếng Pháp) Tương tự như cách tiếp cận thuật ngữ “phần lớn” của Điều 3.1 đã phân tích ở trên, “phần lớn nghĩa vụ” trong trường hợp này cũng được xét trên cơ sở định lượng, và trong một chừng mực

nào đó trên bản chất của hợp đồng

Nếu dựa trên cơ sở định lượng, thường sẽ căn cứ vào tỷ lệ phần trăm Một con số tỷ lệ phần trăm nhất định không thể đúng đối với mọi trường hợp, nên nếu chỉ xem xét riêng con số đó thì chưa thể đưa ra kết luận chính xác Ngay cả đối với một tỷ lệ lớn hơn 50% cũng không đủ để coi là yếu tố quyết định cho việc CISG có được áp dụng hay không Ngoài ra, còn phải xem xét ý định của các bên khi giao kết và trong khi thực hiện hợp đồng Trong thực tế, một số yếu tố khác ví

20

Xem: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/980305r1.html (truy cập ngày 19/11/2018)

Ngày đăng: 18/09/2020, 08:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w