1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghĩa vụ của thành viên hội đồng quản trị trong công ty cổ phần theo quy định của pháp luật – kinh nghiệm của một số nước và bài học cho việt nam

99 81 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 715,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Hội đồng quản trị Theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 149, Luật Doanh nghiệp 2014 Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHĨA VỤ CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT – KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Ngành: Luật Kinh tế

NGUYỄN QUỐC HƯNG

Hà Nội - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHĨA VỤ CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT – KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là tác giả luận văn này Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu

do chính tôi thực hiện Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây

Tác giả

Nguyễn Quốc Hưng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Ngoại Thương, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Luật Kinh tế đã tận tình dạy bảo tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy

TS Nguyễn Bình Minh đã dành thời gian hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng bằng tất cả khả năng của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cám ơn

Tác giả

Nguyễn Quốc Hưng

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II DANH MỤC VIẾT TẮT VI DANH MỤC CÁC HÌNH VII TÓM TẮT LUẬN VĂN VIII

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ NGHĨA VỤ CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 6

1.1 Khái quát chung về công ty cổ phần 6

1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần 6

1.1.2 Khái niệm Hội đồng quản trị 9

1.2 Khái niệm nghĩa vụ của thành viên HĐQT 11

1.2.1 Khái niệm thành viên HĐQT 11

1.2.2 Nghĩa vụ của thành viên HĐQT 11

1.3 Quy định cụ thể của pháp luật về Hội đồng quản trị 12

1.3.1 Thẩm quyền của Hội đồng quản trị 12

1.3.2 Thành viên Hội đồng quản trị độc lập 15

1.4 Các quy định pháp luật cụ thể đối với thành viên Hội đồng quản trị 18 1.4.1 Quy định về ứng cử, đề cử thành viên Hội đồng quản trị 18

1.4.2 Quy định về tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trị 20

1.4.3 Quy định về tiêu chuẩn của thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị 20

1.4.4 Quy định phải được Đại hội đồng cổ đông bầu 21

1.4.5 Quy định về nhiệm kỳ và số lượng thành viên Hội đồng quản trị22 1.4.6 Quy định về miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị 23

1.4.7 Quy định về vai trò của Hội đồng quản trị 23

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN CỦA PHÁP LUẬT

VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 25

2.1 Sơ lược pháp luật về nghĩa vụ thành viên HĐQT ở Việt Nam 25

2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị 25

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng quản trị 27

2.1.3 Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị 39

2.2 Thực trạng các quy định về nghĩa vụ thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần 47

2.2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ thành viên HĐQT 47

2.2.2 Thực trạng một số mô hình hoạt động của thành viên HĐQT công ty cổ phần theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới 52

2.3 Đánh giá thành công, hạn chế trong quy định pháp luật về nghĩa vụ thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần 57

2.3.1 Những thành công 57

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 58

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN HĐQT CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 63

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật 63

3.2 Những yêu cầu về việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ của thành viên hội đồng quản trị 64

3.3 Các giải pháp giải quyết tranh chấp 67

3.3.1 Giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng 67

3.3.2 Giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải 69

3.3.3 Giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài 71

3.3.4 Giải quyết tranh chấp thông qua tòa án 72

3.3.5 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm của thành viên HĐQT 75

Trang 7

3.4 Một số đề nghị cụ thể của tác giả góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị 78

3.4.1 Đối với những quy định về trách nhiệm của thành viên Hội đồng quản trị theo Luật doanh nghiệp năm 2014 78 3.4.2 Đối với các công ty cổ phần 83

KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt

2 CBCNV Cán bộ công nhân viên

10 SXKD Sản xuất kinh doanh

11 Tập đoàn Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam

12 TLBQ Tiền lương bình quân

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

2 Hình 2.2 Sơ đồ mô hình cấu trúc hội đồng đơn lớp 32

Trang 10

Tại Việt Nam, nói về công ty Cổ phần, đây là một loại hình doanh nghiệp được các nhà đầu tư khá ưa thích khi lựa chọn triển khai cho doanh nghiệp của mình Với đặc điểm là sự kết hợp giữa loại hình công ty hợp danh và công ty cổ phần, công ty Cổ phần có nhiều ưu điểm phù hợp với các nhà đầu tư

Trong bối cảnh quốc tế, khá nhiều quốc gia trên thế giới có loại hình doanh nghiệp này, việc xem xét, đánh giá các quy định về nghĩa vụ của thành viên HĐQT trong công ty cổ phần của một số quốc gia phát triển trên thế giới trên cơ sở đối chiếu với pháp luật Việt Nam sẽ góp phần đem lại những bài học và đề xuất hữu hiệu không chỉ cho cơ quan thi hành luật mà còn cho các doanh nghiệp tại Việt Nam

1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các nội dung sau đây:

- Những vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị trong công ty Cổ phần

- Thực trạng các quy định về nghĩa vụ thành viên HĐQT trong công ty Cổ phần của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên Thế giới

- Định hướng hoàn thiện quy định về nghĩa vụ thành viên HĐQT công ty cổ phần trong pháp luật Việt Nam

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, đối chiếu những vấn đề thuộc về quy định và thực tiễn

áp dụng liên quan đến nghĩa vụ của thành biên Hội đồng quản trị công ty Cổ phần, đề tài nghiên cứu sẽ được triễn khai với mục đích đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật đồng thời đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá tình ban hành và thực thi pháp luật

Trang 11

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công ty cổ phần là một hình thái phát triển cao cấp của mô hình tổ chức doanh nghiệp, giúp việc tập trung vốn để kinh doanh được thực hiện nhanh chóng

và dễ dàng Qua bề dày lịch sử phát triển của thế giới, công ty cổ phần đã thể hiện là một thành phần quan trọng, không thể tách rời của nền kinh tế quốc dân Ở Việt Nam, kể từ sau Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, năm 1986 với Chính sách Đổi mới kinh tế, hình thức công ty cổ phần bắt đầu manh nha xuất hiện

và dần được công nhận Cho tới nay, sau ba thập kỷ, công ty cổ phần đã thể hiện vai trò chủ đạo của mình trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam Nhận thức được tầm quan trọng của loại hình doanh nghiệp này, Đảng và Nhà Nước ta đang ngày càng chú trọng vào việc xây dựng chính sách, pháp luật và tập trung nguồn lực hỗ trợ sự phát triển của công ty cổ phần Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII, năm 2016 trong báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII, năm 2016 trong báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, phần quan điểm phát triển kinh tế xã hội nhấn mạnh: " Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân, làm động lực nâng cao sức mạnh cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế Thúc đẩy xã hội hóa sở hữu và sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát triển các hình thức doanh nghiệp cổ phần" Nhà Nước đã xây dựng hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, minh bạch để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng Ngày 26 tháng 11 năm 2014, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật Doanh nghiệp năm 2014 (sau đây gọi là “Luật Doanh nghiệp 2014”) và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2015, thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm 2005 Có thể nói, đã có rất nhiều điều chỉnh, bổ sung quan trọng trong Luật Doanh nghiệp 2014 trên cơ sở kế thừa và phát huy những quy định phù hợp và thay đổi các quy định chưa chặt chẽ của Luật Doanh nghiệp 2005, trong đó có thể

kể đến các vấn đề như quy định về Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, con dấu

Trang 12

pháp nhân của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật hay tỷ lệ họp ĐHĐCĐ trong công ty cổ phần…

Mặc dù Luật Doanh nghiệp 2014 được ra đời với mục địch hướng tới sự phù hợp với thực tế kinh doanh và vận hành hiện tại của các doanh nghiệp, đồng thời

mở ra môi trường kinh doanh phù hợp với xu hướng chung của thế giới, tuy nhiên khi xét nghiên cứu kỹ Luật Doanh nghiệp 2014 và đặc biệt khi đối chiếu, so sánh với các quy định của một số quốc gia phát triển trên thế giới, có thể thấy vẫn còn một số quy định cần được trình bày và lý giải rõ ràng hơn Một trong số đó là quy định về nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị (sau đây gọi là “HĐQT”) trong công ty Cổ phần (sau đây gọi là “Công ty Cổ phần”)

Tại Việt Nam, nói về công ty Cổ phần, đây là một loại hình doanh nghiệp được các nhà đầu tư khá ưa thích khi lựa chọn triển khai cho doanh nghiệp của mình Với đặc điểm là sự kết hợp giữa loại hình công ty hợp danh và công ty cổ phần, công ty Cổ phần có nhiều ưu điểm phù hợp với các nhà đầu tư

Trong bối cảnh quốc tế, khá nhiều quốc gia trên thế giới có loại hình doanh nghiệp này, việc xem xét, đánh giá các quy định của một số quốc gia phát triển trên thế giới trên cơ sở đối chiếu với pháp luật Việt Nam sẽ góp phần đem lại những bài học và đề xuất hữu hiệu không chỉ cho cơ quan thi hành luật mà còn cho các doanh nghiệp tại Việt Nam

Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu kĩ càng các quy định về nghĩa vụ của thành viên trong HĐQT theo quy định của pháp luật Việt Nam và các quốc gia trên thế

giới là vô cùng cần thiết Đó cũng chính là lý do lựa chọn vấn đề ““Nghĩa vụ của

thành viên Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần theo quy định của pháp luật – Kinh nghiệm của một số nước và bài học cho Việt Nam” để làm đề tài luận văn

tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Hội đồng quản trị là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần, một mắt xích quan trọng trong quản trị công ty Vì thế Hội đồng quản trị đang được

Trang 13

nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập đến với tư cách là một thiết chế một khâu trong quản lý điều hành của công ty cổ phần (corporate governnance)

Đối với nghiên cứu nghĩa vụ thành viên Hội đồng quản trị cũng giống như Quản trị công ty, Hội đồng quản trị là một vấn đề còn tương đối mới mẻ nhiều học giả nghiên cứu nhưng đều đặt trong tổng thể những vấn đề của công ty (chẳng hạn, Luật doanh nghiệp Vốn và quản lý trong công ty cổ phần,của ThS Nguyễn Ngọc Bích; (2006), Quản trị doanh nghiệp hiện đại, của Học Viện Tài chính; CEO và Hội đồng quản trị của Phạm Trí Hùng và Nguyễn Trung Thắng; các bài viết của ThS Bùi Xuân Hải…)

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, đối chiếu những vấn đề thuộc về quy định và thực tiễn

áp dụng liên quan đến nghĩa vụ của thành biên Hội đồng quản trị công ty Cổ phần, đề tài nghiên cứu sẽ được triễn khai với mục đích đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật đồng thời đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá tình ban hành và thực thi pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài sẽ bao gồm các nội dung sau đây:

- Những vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị trong công ty Cổ phần

- Những vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới về nghĩa vụ của thành viên hội đồng quản trị trong công ty Cổ phần

- Những thực tiễn về mô hình Hội đồng quản trị của công ty Cổ phần Than

Hà Tu – Vinacomin tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới

b Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Về nội dung nghiên cứu, đề tài sẽ tập trung phân tích các quy định về nghĩa vụ của thành viên hội đồng quản trị trong công ty Cổ phần theo Luật

Trang 14

Doanh nghiệp 2014 cũng như thực tiễn áp dụng của các quy định đó Nội dung này

sẽ được đặt trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu với các quy định trong một số bộ luật khác của các quốc gia lựa chọn nghiên cứu (cụ thể là Mỹ, Đức, Nhật)

- Về không gian: Trong quá trình nghiên cứu vấn đề này, các quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng của Việt Nam cũng như của các quốc gia phát triễn trên thế giới bao gồm Mỹ , Đức, Nhật sẽ được tập trung nghiên cứu

- Về thời gian: Đối với những quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng của Luật Doanh nghiệp 2014, đề tài nghiên cứu sẽ tập trung vào giai đoạn từ sau năm 2014 cho đến thời điểm đề tài nghiên cứu này được công bố, tức là sau khi Luật Doanh nghiệp được ban hành Đối với những quy định và thực tiễn áp dụng của pháp luật nước ngoài, đề tài sẽ tìm hiểu các quy định vào sau thời điểm các bộ luật của các quốc gia lựa chọn nghiên cứu ban hành

5 Phương pháp nghiên cứu

a Quy trình thực hiện

Để bắt đầu quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã tìm hiểu về quy định về nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị trong Luật Doanh nghiệp 2014 Xét đến việc nghiên cứu các quy định trong hệ thống luật quốc tế là quan trọng, người viết đã tìm hiểu về quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới Trong quá trình tìm hiểu, người viết nhận thấy pháp luật của Mỹ và Đức, Nhật Bản có nhiều sự khác biệt so với pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật này cũng dễ dàng, thuận tiện hơn cho doanh nghiệp Chính vì vậy, người viết đã lựa chọn tìm hiểu về quy định áp luật của Mỹ và Đức, Nhật Bản liên quan vấn đề nghiên cứu của mình Sau đó, người viết tập trung tìm kiếm các nghiên cứu để có cái nhìn tổng quan và chi tiết hơn về thực tiễn áp dụng của các quy định đối với doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như doanh nghiệp các quốc gia lựa chọn nghiên cứu Cuối cùng, để có thể đưa ra được các giải pháp cho vấn đề nghiên cứu, người viết đã tham khảo cách giải quyết của các quốc gia có mô hình hoạt động công ty

Cổ phần thành công và hiệu quả để học hỏi kinh nghiệm của họ, nhằm áp dụng linh hoạt với doanh nghiệp tại Việt Nam

Trang 15

b Phương pháp phân tích - tổng hợp

Kết cầu đề tài nghiên cứu sẽ theo hướng phân chia các vấn đề lớn thành những vấn đề cụ thể hơn Sau đó sẽ rút ra những điểm quan trọng xoay quanh nội dung nghiên cứu và tổng hợp thành một tổng thể khái quát nhất liên quan đến quy định pháp luật về nghĩa vụ của thành viên hội đồng quản trị công ty Cổ phần

c Phương pháp so sánh

Các quy định pháp luật của một số quốc gia phát triển trên thế giới được phân tích, đối chiếu so sánh với quy định của pháp luật Việt Nam, qua đó rút ra những ưu nhược điểm trong quy định của mỗi nước, tạo tiền đề xây dựng nên những giải pháp hoàn thiện hơn cho vấn đề nghiên cứu

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết

cấu gồm 03 chương với các nội dung tương ứng như sau:

Chương 1 Những vấn đề khái quát về nghĩa vụ thành viên Hội đồng quản

trị công ty Cổ phần

Chương 2 Thực trạng các quy định về nghĩa vụ Hội đồng quản trị công ty

Cổ phần của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới;

Chương 3 Định hướng hoàn thiện quy định về nghĩa vụ thành viên Hội đồng quản trị công ty Cổ phần trong pháp luật Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ NGHĨA VỤ CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1 Khái quát chung về công ty cổ phần

1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần

Trên thế giới, công ty cổ phần đã có lịch sử hơn 400 năm Các tài liệu ghi nhận Công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới là Công ty Anh Đông Ấn (British East India Company)1, được thành lập trên cơ sở một đặc quyền do Nữ hoàng Elizabeth I ban cho một số thương nhân giàu có ở London vào ngày 31/12/1600 Công ty này có trụ sở tại London, được độc quyền tiến hành mọi hoạt động thương mại ở tất cả các quốc gia nằm ở phía đông Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope), được cấp con dấu, được tự bầu chủ tịch (governor) cũng như 24 giám đốc (Director) và được tự ban hành điều lệ Trong thời kỳ tiếp theo, một số công ty cổ phần khác được thành lập, nhưng đều dựa trên cơ sở một quyết định của nhà vua hoặc một quyết định của nghị viện và cũng đều được trao cho các độc quyền thương mại Sang thế kỷ thứ XVIII, thời kỳ tự do kinh doanh bắt đầu được công nhận, xuất hiện các công ty cổ phần tư nhân trong các lĩnh vực ngân hàng, hàng hải và một số lĩnh vực khác Cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ thứ XIX đã làm loại hình công ty cổ phần phát triển nợ rộ, vì nhu cầu vốn của các ngành sản xuất công nghiệp trở nên rất lớn Từ đó đến nay, các công ty cổ phần luôn tiếp tục phát triển cả về số lượng và quy mô Các công ty lớn chủ yếu là công ty cổ phần, tuyệt đại đa số các công ty đa quốc gia đều

là công ty cổ phần2

Công ty cổ phần là công ty trong đó hội viên có tên gọi là cổ đông (share holder) Cổ đông góp vốn vào công ty bằng cách mua cổ phần Vốn của công ty được chia thành từng phần bằng nhau gọi là cổ phiếu (share) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm và rủi ro trong số vốn đã góp và không chịu trách nhiệm nào khác bằng

1 East India Company, link truy cập https://www.britannica.com/topic/East-India-Company truy cập ngày 10/10/2018

2 PGS TS Bùi Xuân Hải (chủ biên), Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, NXB Hồng Đức – Hội Luật

gia Việt Nam, Hà Nội, 2013, tr.224-225

Trang 17

tài sản còn lại của mình về nghĩa vụ của công ty Sự hạn chế rủi ro này đã làm cho hình thức công ty cổ phần hết sức thuận lợi cho các nhà tư sản độc quyền khi họ tham gia cùng một lúc vào nhiều công ty cổ phần, nếu một công ty nào đó bị phá sản thì các nhà tư bản độc quyền không bị mất số vốn đã đóng góp vào các công ty khác và có thể lấy lợi nhuận ở các công ty khác bù vào phần bị phá sản3 Hiểu đơn

giản nhất, công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó vốn điều lệ được chia thành

cổ phần và cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

Khi nghiên cứu về loại hình công ty cổ phần, tác giả có thể khái quát một số đặc trưng của công ty cổ phần như sau:

- Công ty cổ phần là loại công ty thương mại phổ biến mang tính chất liên hợp tư bản Cổ đông chỉ là người giữ cổ phiếu, tất cả quyền hạn của họ hoàn toàn nằm trong cổ phiếu và di chuyển cùng cổ phiếu Cổ phiếu là chứng từ có giá, có thể được tự do chuyển nhượng, mua bán, lưu thông, trừ những trường hợp bị hạn chế

do luật định

- Địa vị pháp lý của công ty cổ phần do các đạo luật đặc biệt điều chỉnh Các đạo luật này quy định phương thức thành lập, loại cổ phiếu, thủ tục thành lập và giải thể công ty cổ phần Các nước có quy định mệnh giá của mỗi cổ phiếu, có nước không quy định4

- Công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm đối với mọi khoản nợ bằng tài sản riêng của công ty Các cổ đông/người góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ

và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp vào công ty Mỗi cổ đông có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần của công ty, tuy nhiên, pháp luật không quy định về số lượng cổ phần tối thiểu mà mỗi cổ đông phải nắm giữ Quy định về các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của

3 GS TS NGND Nguyễn Thị Mơ (Chủ biên), Giáo trình Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại, NXB

Thông tin và truyền thông, Hà Nội 2009, tr 33

4 GS TS NGND Nguyễn Thị Mơ (Chủ biên), tlđd, tr 35

Trang 18

công ty trong phạm vi vốn cổ phần đã góp vào công ty thể hiện chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn của công ty cổ phần;

- Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia làm các phần bằng nhau gọi là

cổ phần Đây là đặc trưng rất cơ bản của công ty cổ phần Vốn điều lệ trong công ty

cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành, đó chỉ là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đầy đủ cho công ty Với trường hợp thành lập mới công

ty cổ phần thì tại thời điểm đăng ký kinh doanh thành lập công ty, vốn điều lệ của công ty là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong điều lệ của công ty, số vốn này phải được thanh toán đủ trong thời hạn nhất định5 Trong quá trình hoạt động, công

ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để công khai huy động vốn Do đó, sự ra đời của công ty cổ phần gắn liền với sự ra đời của thị trường chứng khoán Việc chuyển nhượng cổ phần được thực hiện dễ dàng với mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán;

- Công ty cổ phần có số lượng thành viên rất đông Pháp luật các nước đều không đưa ra quy định về số cổ đông tối đa trong 1 công ty cổ phần, do đó, công ty

cổ phần có thể có rất nhiều cổ đông, thậm chí là hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu cổ đông Số lượng cổ đông càng lớn thì càng nhiều khả năng xảy ra sự phân hoá thành

cổ đông lớn, nhỏ với khả năng tác động vào tổ chức quản lý, hoạt động của công ty rất khác nhau, cùng với điều đó, khả năng phân hoá và xung đột lợi ích cũng lớn hơn Cổ đông của công ty cổ phần có thể là tổ chức hoặc cá nhân Tổ chức phải có

tư cách chủ thể của pháp luật mới có thể trở thành cổ đông, vì cổ đông là đồng chủ

sở hữu công ty cổ phần

- Quyền lợi của cổ đông gắn liền với cổ phiếu thường có hai loại quyền lợi chủ yếu: quyền lợi về vật chất và quyền lợi về tinh thần Về vật chất, cổ đông có quyền được hưởng lợi tức tỷ lệ với phần vốn góp nếu công ty hoạt động có lãi; ngoài ra, cổ

5 VD đối với Việt Nam, số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Khoản 1 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2014)

Trang 19

đông có quyền được chia tài sản trong trường hợp công ty bị phá sản hoặc giải thể Về mặt tinh thần, cổ đông có quyền biểu quyết đối với những vấn đề được đưa ra thảo luận tại Đại hội đồng cổ đông Tuỳ theo quy định của pháp luật từng nước, cổ phiếu của công ty cổ phần có thể là cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu tiên, cổ phiếu đích danh,… và mỗi loại cổ phiếu này đều có những đặc điểm riêng

- Để thu hút vốn bên ngoài, công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán Tuy nhiên, để được phát hành chứng khoán, công ty cổ phần phải đạt tới một tầm cỡ, quy mô nhất định, tầm cỡ này thường được đánh giá ở quy mô vốn pháp định của công ty

- Về mặt cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần thường có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và Ban kiểm soát

1.1.2 Khái niệm Hội đồng quản trị

Theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 149, Luật Doanh nghiệp 2014 Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Quyền “nhân danh công ty” ở quy định này là quyền nhân danh công

ty trong các quan hệ đối nội, mặc dù quyết định của HĐQT cũng có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba trong các giao dịch pháp luật; còn sự nhân danh công ty trong các quan hệ đối ngoại luôn phải được thực hiện thông quan “người đại diện theo pháp luật” và “người đại diện theo uỷ quyền” của công ty

Khoản 2 Điều 149 của Luật Doanh nghiệp 2014 quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị, bao gồm:

- Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;

- Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại;

- Quyết định bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác;

Trang 20

- Quyết định giá bán cổ phần và trái phiếu của công ty;

- Quyết định mua lại cổ phần theo quy định tại khoản 1 Điều 130 của Luật này;

- Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo quy định của pháp luật;

- Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;

- Thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc giá trị khác Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng và giao dịch quy định, tại điểm d khoản 2 Điều 135, khoản 1 và khoản 3 Điều 162 của Luật này;

- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị; bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định, tiền lương

và quyền lợi khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo ủy quyền tham gia Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông ở công ty khác, quyết định mức thù lao và quyền lợi khác của những người đó;

- Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty;

- Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác;

- Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông, triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định;

- Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Đại hội đồng cổ đông;

- Kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh;

Trang 21

- Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể, yêu cầu phá sản công ty;

- Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty

1.2 Khái niệm nghĩa vụ của thành viên HĐQT

1.2.1 Khái niệm thành viên HĐQT

Thành viên Hội đồng quản trị do các cổ đông/thành viên góp vốn bầu, bãi/miễn nhiệm Hội đồng quản trị và thành viên Hội đồng quản trị có trách nhiệm, nghĩa vụ đối với toàn thể cổ đông/người góp vốn Ràng buộc trách nhiệm là một công cụ để cổ đôngkiểm soát vốn đầu tư của họ nên pháp luật phải chú trọng điểm này Đồng thời Hội đồng quản trị phải hoạt động vì lợi ích của doanh nghiệp - chủ thể độc lập kinh doanh Thành viên HĐQT có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách trung thực, cẩn trọng vì quyền lợi tối cao của cổ đông và của công ty

1.2.2 Nghĩa vụ của thành viên HĐQT

Theo định nghĩa tại Điều 160, Luật Doanh nghiệp 2014

Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản

lý khác có trách nhiệmnghĩa vụ sau đây:

- Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao theo đúng quy định của Luật này, pháp luật có liên quan, Điều lệ công ty, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;

- Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty;

- Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty

để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

- Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, cổ phần chi phối; thông báo này được niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty

Trang 22

1.3 Quy định cụ thể của pháp luật về Hội đồng quản trị

Những quy định cụ thể của pháp luật về Hội đồng quản trị và thành viên HĐQT, cụ thể gồm các vấn đề cơ bản sau:

(1) Cơ cấu tổ chức của Hội đồng quản trị: đảm bảo số lượng thành viên và

tỷlệ thích hợp giữa thành viên độc lập và thành viên điều hành

(2) Thành viên Hội đồng quản trị: tuân thủ tiêu chuẩn và điều kiện do pháp

luật và điều lệ công ty quy định; đảm bảo có năng lực, đạo đức; xứng đáng là “khối óc điều khiển của doanh nghiệp”

(3) Thẩm quyền của Hội đồng quản trị: vừa có quyền kiến nghị vừa có

quyền quyết định các vấn đề của công ty, trừ vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Để HĐQT thực hiện tốt thẩm quyền của mình, pháp luật và Điều lệ công ty phải có những quy định rõ ràng, quyền phải tương xứng với nghĩa vụ

(4) Vai trò, trách nhiệm của Hội đồng quản trị: Là người đại điện cho cổ

đông, cầu nối giữa cổ đông và ban giám đốc, HĐQT có hai chức năng cơ bản là hoạch định chiến lược và giám sát hoạt động kinh doanh của công ty

(5) Cuộc họp của Hội đồng quản trị: Các cuộc họp của Hội đồng quản trị là

hết sức quan trong bởi vai trò của Hội đồng quản trị là vai trò tập thể Để cuộc họp đạt hiệu quả cần thiết phải: biết cách sắp xếp chương trình cuộc họp và quản lý chương trình đó; bảo đảm là các thành viên Hội đồng quản trị hiểu về mục đích cuộc họp; chuẩn bị kỹ các tài liệu cuộc họp; các ý tưởng cần được chuẩn bị trước

1.3.1 Thẩm quyền của Hội đồng quản trị

Trong công ty cổ phần, thẩm quyền của HĐQT có sự tách biệt với thẩm quyền của Đại hội đồng Cổ đông Bởi vì, mặc dù là các đồng chủ sở hữu đối với công ty, nhưng các cổ đông chỉ được xem là nhà đầu tư, còn thành viên HĐQT mới

là “người quản lý doanh nghiệp” Chính vì vậy mà HĐQT có quyền quyết định rất lớn, quyền quyết định của HĐQT gồm hai loại quyền chính là quyền kiến nghị và quyền quyết định

Trang 23

Một là HĐQT được kiến nghị các vấn đề: Loại cổ phần và tổng số cổ phần

được chào bán mỗi loại; mức cổ tức được trả; việc tổ chức lại, giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty

Hai là HĐQT quyết định những vấn đề: Về kinh doanh (chiến lược phát triển

công ty, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty; phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo quy định; giải pháp thị trường); về tài chính (chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được chào bán cùng loại; huy động thêm vốn theo các hình thức khác không phải là

cổ phần; quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý các khoản lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh; giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty; thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty, trừ hợp đồng và giao dịch quy định tại Luật doanh nghiệp; định giá tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng; trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên ĐHĐCĐ; quyết định mua lại không quá 10% số cổ phần đã được chào bán trong mỗi mười hai tháng); về tổ chức và quản lý công ty (bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc và cán bộ quản lý quan trọ ng khác theo Điều lệ công ty; quyết định mức lương và lợi ích khác của những người quản lý đó; quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết dịnh thành lập công ty con, lập chi nhánh, vãn phòng đại diện và việc góp vốn mua cổ phần ở các doanh nghiệp khác); về nội bộ (duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp ĐHĐCĐ; triệu tập Đại hội đồng

cổ đông, hoặc thực hiện các thủ tục hỏi ý kiến để Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định

Quyền lực trên được thực hiện một cách hiệu quả hay không lại phụ thuộc vào quy mô, cơ cấu của Hội đồng quản trị, vị thế và năng lực của từng thành viên HĐQT, cũng như phương thức và cơ chế làm việc, ý thức và thái độ làm việc của từng thành viên nói riêng và Hội đồng quản trị nói chung Công ty xây dựng cơ cấu quản trị của công ty đảm bảo HĐQT có thể thực thi nhiệm vụ theo các quy định của pháp luật và Điều lệ công ty HĐQT có trách nhiệm đảm bảo hoạt động của công ty

Trang 24

tuân thủ các quy định của pháp luật và Điều lệ công ty, đối xử bình đẳng với tất cả các cổ đông và quan tâm đến lợi ích của người có quyền lợi liên quan Hội đồng xây dựng các quy định về trình tự, thủ tục đề cử, ứng cử, bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm thành viên HĐQT

Địa vị pháp lý của các thành viên HĐQT trong công ty cổ phần của Việt Nam còn được nhìn nhận thấp, được coi là người quản lý công ty nhưng pháp luật đã thiết kế cho họ một địa vị pháp lý không tương xứng Luật doanh nghiệp hầu như không có quy định về quyền của cá nhân thành viên HĐQT, ngoài Điều 155 quy định về việc thành viên Hội đồng quản trị có quyền yêu cầu Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc hoặc Phó giám đốc cung cấp các thông tin, tài liệu về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của công ty Những quy định này cũng mang tính vụ việc, chỉ khi có yêu cầu, chứ không phải Tổng giám đốc/Giám đốc có nghĩa vụ cung cấp thông tin, báo cáo định kỳ cho thành viên HĐQT (Điều 155) Vì thế các thành viên Hội đồng quản trị muốn nắm bắt thông tin về hoạt động của công

ty phải phụ thuộc vào sự thiện chí của Tổng giám đốc/Giám đốc

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang hoạt động theo hình thức cổ phần hóa, theo mô hình công ty mẹ - công ty con nhưng vai trò quản lý, điều hành của Hội đồng quản trị chưa thực sự phát huy hiệu quả Một trong những nguyên nhân chính

là do khuôn khổ pháp lý hiện hành chưa quy định rõ ràng trách nhiệm của HĐQT Theo thông lệ quốc tế, Hội đồng quản trị là cơ quan có quyền lực cao nhấttrong doanh nghiệp, hoạch định những chiến lược, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ở các doanh nghiệp Việt Nam thì ngược lại Chức năng của Hội đồng quản trị doanh nghiệp thì nhiều nhưng nhiệm vụ thực tế lại đơn giản Theo nguyên Tổng giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Vũ Viết Ngoạn thì: “Khả năng của HĐQT trong việc giám sát ban điều hành thông qua một Uỷ ban giám sát hoặc đơn vị kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp hiện còn rất yếu Sự chồng chéo, không phân định rõ trách nhiệm giữa Hội đồng quản trị và ban điều hành nên trách nhiệm mang tính chất tập thể nhiều hơn là mang tính chất cá nhân Vì thế chưa có tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp” Đồng thời, Trưởng ban Kiểm soát,

Ủy viên Hội đồng quản trị Tổng công ty Thương mại Hà Nội Trần Thị Diễm Hương

Trang 25

nhận định: “Những văn bản dưới luật còn thiếu và chưa được chuẩn hóa theo chuẩn mực nên hoạt động giữa Hội đồng quản trị và Ban giám đốc điều hành doanh nghiệp chưa ăn khớp” Trong khi đó, Chủ tịch và các thành viên HĐQT thường kiêm các chức danh quản lý và là cổ đông của công ty Vai trò, địa vị của Hội đồng quản trị bị xem nhẹ, và ngược lại HĐQT không thực hiện được đầy đủ vai trò của mình trong quản trị công ty Các thành viên Hội đồng quản trị phải tập trung nhiều hơn vào công tác quản lý điều hành công việc cụ thể được giaovà ít hoặc thậm chí không chú ý đến vai trò định hướng chiến lược và giám sát, đảm bảo công ty phát triển phù hợp với chiến lược Thêm vào đó, các thành viên HĐQT thường chịu ảnh hưởng nhiều bởi chính lợi ích của cổ đông lớn hơn là phục vụ cho chính lợi ích của công ty và những người khác có liên quan Hội đồng quản trị nặng về điều hành hơn

là chiến lược

Nếu căn cứ vào Điều lệ của công ty thì có thể cho rằng thẩm quyền HĐQT của công ty trên là rất rộng Nhưng thực tế lại có phần khác Các thành viên Hội đồng quản trị ở đó chỉ là “hữu danh” nhưng “vô thực” không có quyền hành như được thiết kế trong Luật cũng như Điều lệ Bởi đứng sau Hội đồng quản trị của công ty là Nhà nước, mọi công việc của công ty đều do Nhà nước chỉ đạo Các phiên họp hay việc ra quyết định của HĐQT nhiều khi trở nên hình thức Việc mở rộng thẩm quyền cho thành viên Hội đồng quản trị cũng là một cách để Nhà nước

dễ dàng hơn trong việc can thiệp vào hoạt động của công ty, bởi thành viên Hội đồng quản trị đều do Nhà nước đề cử, phụ thuộc vào sự cất nhắc của Nhà nước Một

mô hình quản trị như vậy thì quyền lợi của các cổ đông nhỏ khó lòng được đảm bảo

1.3.2 Thành viên Hội đồng quản trị độc lập

Hàng loạt các vấn đề khác khiến nhà đầu tư đau đầu, yêu cầu phải có thành viên độc lập Thí dụ công ty cho thành viên HĐQT vay tiền hoặc ngược lại; đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết mà thành viên Hội đồng quản trị có cổ phần Hoặc chuyển lời, lỗ từ các công ty niêm yết về các công ty con làm cho thành viên có lợi ích liên quan được hưởng Các nguyên tắc quản trị của OECD chỉ ra rằng, trong

Trang 26

HĐQT phải lập ra các tiểu ban giúp Hội đồng quản trị như tiểu ban lương thưởng, kiểm toán và trưởng các tiểu ban bắt buộc phải là thành viên độc lập

Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị còn góp phần bảo vệ lợi ích của các cổ đông nhỏ Khi các thành viên Hội đồng quản trị đều là các cổ đông hay “người có liên quan” thông thường họ coi trọng lợi ích bản thân hơn lợi ích của công ty hoặc lợi ích của các cổ đông thiểu số Thành viên độc lập vì “độc lập” nên họ có cái nhìn khách quan hơn, bảo vệ tốt hơn lợi ích của

cổ đông nhỏ

Sự “độc lập” của các thành viên HĐQT độc lập giúp họ thực hiện công việc giám sát thường hiệu quả hơn Nhưng đối với vai trò định hướng chiến lược, Hội đồng quản trị cần những người am hiểu tường tận về công ty, vì thế nó có vẻ thích hợp hơn với thành viên Hội đồng quản trị điều hành

Tại Việt Nam, đã bắt đầu có nghề thành viên HĐQT độc lập Một số ít công

ty cổ phần tại Việt Nam đã bắt đầu nhận thức được nhu cầu phải tăng cường năng lực quản trị cho công ty, đặc biệt là năng lực tư duy và hoạch định chiến lược Nhiều công ty bỏ tiền ra thuê tổng giám đốc (CEO), với mức lương rất cao, nhưng lại không biết cách giám sát CEO và không biết cách đánh giá năng lực của CEO này

Do CEO mới không biết rõ mong đợi và yêu cầu của HĐQT, nên cứvạch con đường dài hạn 5-10 năm của mình, trong khi Hội đồng quản trị thì mong muốn có được kết quả sau 1 -2 năm CEO cứ làm theo cách của mình, còn HĐQT thì lờ mờ, không biết CEO đang làm gì, liệu có kết quả không, cũng không biết đánh giá CEO thế nào, chỉ biết các chương trình của CEO đưa ra chi phí quá cao Khi đó, sự xuất hiện của một thành viên HĐQT độc lập có kinh nghiệm quản lý ở tầm cao sẽ giúp Hội đồng quản trị xem xét, đánh giá lại các kế hoạch dài hơi của CEO xem “dài” cỡ nào, có khả thi không, và cách làm có sức thuyết phục không Trong nhiều trường hợp, thành viên Hội đồng quản trị độc lập vừa đóng vai trò định hướng cho CEO, vừa hỗ trợ, giám sát CEO thực hiện các chương trình theo đúng định hướng do Hội đồng quản trị quyết định

Trang 27

Mặc dù các công ty niêm yết yêu cầu phải có thành viên HĐQT độc lập nhưng chưa xác định vai trò của thành viên Hội đồng quản trị độc lập thích đáng với những gì người ta mong đợi Nhiều công ty cổ phần Việt Nam đã nhận thức rõ và chấp nhận có sự thay đổi trong quản trị công ty bằng việc mời các cựu quản lý cấp cao, các chuyên gia kinh tế, chuyên gia tư vấn quản lý, các luật sư, nhà nghiên cứu tham gia vào Hội đồng quản trị công ty với tư cách thành viên độc lập để góp phần gia tăng giá trị của công ty Công ty cổ phần Rạng Đông đi đầu trong việc bầu thành viên Hội đồng quản trị độc lập - Chuyên gia kinh tế cao cấp T.S Lê Đăng Doanh; ACB mời ông Trần Xuân Giá nguyên Bộ trưởng bộ Kế hoạch Đầu tư tham gia Hội đồng quản trị Sự đóng góp của các thành viên Hội đồng quản trị độc lập cho công ty cổ phần là không nhỏ, như bà Ngọc Thanh - Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông cho biết, sự có mặt của thành viên Hội đồng quản trị độc lập đã giúp Rạng Đông rất nhiều trong sản xuất kinh doanh Nhờ những mối quan hệ, những hiểu biết sâu rộng về tổng quan kinh tế xã hội và cơ chế chính sách của mình “ông Doanh giúp Rạng Đông có được những góc nhìn đa chiều và các quyết định của Rạng Đông đưa ra có độ chính xác hơn” và

“chuyển sang cổ phần được gần năm năm nhưng Rạng Đông vẫn chưa xảy sự xungđột nào về lợi ích trong công ty”

Mặt khác, gần đây một số công ty cổ phần Việt Nam bày tỏ mong muốn và xúc tiến các thủ tục cần thiết để đăng ký niêm yết tại nước ngoài Tuy nhiên, quá trình đó đã gặp không ít những khó khăn mà các yêu cầu về cơ chế quản trị nội bộ

và thành viên Hội đồng quản trị độc lập là một trong các vướng mắc Và khi tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được đẩy nhanh và dự kiến hoàn thành vào năm 2010, thị trường vốn phát triển và tạo ra những kênh đầu tư hấp dẫn cho công chúng thì sự xuất hiện của các thành viên HĐQT độc lập càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết

Theo khoản 2,3 Điều 151 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thành viên hội đồng quản trị độc lập trong Công ty cổ phần phải thoả mãn những yêu cầu sau:

Trang 28

a) Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty,công ty con của công ty ít nhấttrong 03 năm liền trước đó

b) Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định;

c) Không phải là người có vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty;

d) Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty;

đ) Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó

Thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải thông báo với Hội đồng quản trị về việc không còn đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều này và đương nhiên không còn là thành viên độc lập Hội đồng quản trị kể từ ngày không đáp ứng đủ điều kiện Hội đồng quản trị phải thông báo trường hợp thành viên độc lập Hội đồng quản trị không còn đáp ứng đủ điều kiện tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông gần nhất hoặc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông để bầu bổ sung hoặc thay thế thành viên độc lập Hội đồng quản trị đó trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày nhận được thông báo của thành viên độc lập Hội đồng quản trị có liên quan

1.4 Các quy định pháp luật cụ thể đối với thành viên Hội đồng quản trị

1.4.1 Quy định về ứng cử, đề cử thành viên Hội đồng quản trị

Thông tin liên quan đến các ứng viên Hội đồng quản trị (trong trường hợp đã được xác định trước các ứng viên) được công bố trước ngày triệu tập Đại hội đồng

cổ đông một khoảng thời gian hợp lý để các cổ đông có thể tìm hiểu các ứng viên này trước khi bỏ phiếu

Các ứng viên Hội đồng quản trị phải cam kết bằng văn bản về tính trung thực, chính xác của các thông tin cá nhân được công bố và phải cam kết thực hiện

Trang 29

nhiệm vụ của thành viên Hội đồng quản trị một cách trung thực nếu được bầu làm thành viên Hội đồng quản trị

Thành viên của Hội đồng quản trị do các cổ đông sáng lập đề cử theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của từng cổ đông sáng lập Các cổ đông sáng lập được quyền gộp tỷ lệ

sở hữu cổ phần vào với nhau để bỏ phiếu đề cử các thành viên Hội đồng quản trị

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm giữ đến dưới 10% cổ phần có quyền biểu quyết trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng được đề cử một thành viên; từ 10% đến dưới 30% được đề cử 2 thành viên; từ 30% đến dưới 50% được đề cử ba thành viên;

từ 50% đến dưới 65% được đề cử bốn thành viên và nếu từ 65% trở lên thì được đề cử đủ ứng viên Đối với công ty niêm yết, Điều lệ mẫu còn cho phép các cổ đông nắm giữ tối thiểu 5% số cổ phần có quyền biểu quyết trong thời hạn liên tục ít nhất

6 tháng, hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn 10% quy định tại Điều lệ, có quyền gộp số quyền biểu quyết của từng người lại với nhau để cử các ứng viên HĐQT

Trường hợp số lượng các ứng viên HĐQT thông qua đề cử và ứng cử vẫn không đủ số lượng cần thiết, Hội đồng quản trị đương nhiệm có thể đề cử thêm ứng viên hoặc tổ chức đề cử theo một cơ chế do công ty quy định Cơ chế đề cử hay cách thức Hội đồng quản trị đương nhiệm đề cử ứng cử viên HĐQT được công bố

rõ ràng và được Đại hội đồng cổ đông thông qua trước khi tiến hành đề cử

Hội đồng quản trị có thể bổ nhiệm thành viên HĐQT mới để thay thế chỗ trống phát sinh và thành viên mới này phải được chấp thuận tại Đại hội đồng cổ đông ngay tiếp sau đó Sau khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, việc bổ nhiệm thành viên mới đó sẽ được coi là có hiệu lực vào ngày được HĐQT bổ nhiệm Công ty niêm yết quy định và hướng dẫn cụ thể cho cổ đông việc bỏ phiếu bầu thành viên Hội đồng quản trị theo phương thức dồn phiếu

Ví dụ: Đối với Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin việc đề cử, ứng cử thành viên Hội đồng quản trị được thực hiện đúng trình tự được quy định trong Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty Tuy nhiên, Nhà nước là cổ đông nắm giữ 51% cổ phần trong công ty, nên họ được đề cử đủ số ứng viên cần thiết Mọi trường hợp ứng cử, đề cử khác đều vô nghĩa bởi về hình thức là Đại hội đồng cổ đông bầu

Trang 30

thành viên Hội đồng quản trị nhưng thực chất quyền quyết định trong Đại hội đồng

cổ đông lại thuộc về các cổ đông lớn - Nhà nước Nếu nhóm cổ đông nào đó trong công ty muốn đề cử ai đó vào Hội đồng quản trị nhưng không được sự đồng ý của Nhà nước thì người này cũng không thể trúng cử thành viên Hội đồng quản trị Tình huống tương tự cũng xảy ra đối với hầu hết các công ty cổ phần ở Việt Nam được ra đời từ công cuộc cổ phần hoá

1.4.2 Quy định về tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trị

Theo quy định tại Điều 151 Luật doanh nghiệp 2014, thành viên Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc đối tượng không được

quản lý doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật doanh nghiệp

2014 Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, người từ đủ 18 trở lên được xác định

là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trừ các trường hợp bị mất năng lực hành vi dân

sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

- Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh của công ty

và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác

- Đối với công ty con mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì thành viên Hội đồng quản trị không được là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; không được là người có liên quan của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ

1.4.3 Quy định về tiêu chuẩn của thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị

Khi công ty cổ phần được tổ chức theo mô hình quy định tại khoản 1 Điều

134 Luật doanh nghiệp, đó là: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc thì ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập

Trang 31

Để trở thành thành viên độc lập của Hội đồng quản trị, cá nhân cần đáp ứng các tiêu chuẩn sau và điều kiện sau đây, trừ trường hợp luật chứng khoán có quy định khác:

- Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó

- Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định;

- Không phải là người có vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty;

- Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty;

- Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó

Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty

1.4.4 Quy định phải được Đại hội đồng cổ đông bầu

Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên độc lập Hội đồng quản trị khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 151 không đương nhiên trở thành thành viên Hội đồng quản trị Cá nhân này muốn trở thành viên Hội đồng quản trị hoặc Thành viên độc lập HĐQT phải tự ứng cử hoặc được đề cử sau đó được Đại hội đồng cổ đông bầu tại Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông

Theo quy định tại khoản 2 Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014, Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có các quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị

Trang 32

Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc đề cử người vào Hội đồng quản trị quy định tại điểm a khoản 2 Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014 được thực hiện như sau:

a) Các cổ đông phổ thông hợp thành nhóm để đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thông báo về việc họp nhóm cho các cổ đông dự họp biết trước khi khai mạc Đại hội đồng cổ đông;

b) Căn cứ số lượng thành viên Hội đồng quản trị, cổ đông hoặc nhóm cổ đông được quyền đề cử một hoặc một số người theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông làm ứng cử viên Hội đồng quản trị Trường hợp số ứng cử viên được cổ đông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử

1.4.5 Quy định về nhiệm kỳ và số lượng thành viên Hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị có từ 03 đến 11 thành viên Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên Hội đồng quản trị

Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên độc lập Hội đồng quản trị không quá 05 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế

Số lượng, thời hạn cụ thể của nhiệm kỳ, số thành viên Hội đồng quản trị phải thường trú ở Việt Nam do Điều lệ công ty quy định

Trường hợp tất cả thành viên Hội đồng quản trị cùng kết thúc nhiệm kỳ thì các thành viên đó tiếp tục là thành viên Hội đồng quản trị cho đến khi có thành viên mới được bầu thay thế và tiếp quản công việc, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác

Thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải thông báo với Hội đồng quản trị về việc không còn đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều này và đương nhiên không còn là thành viên độc lập Hội đồng quản trị kể từ ngày không đáp ứng đủ điều kiện Hội đồng quản trị phải thông báo trường hợp thành viên độc lập Hội đồng quản trị không còn đáp ứng đủ điều kiện tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông gần nhất hoặc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông để bầu bổ sung hoặc thay

Trang 33

thế thành viên độc lập Hội đồng quản trị đó trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày nhận được thông báo của thành viên độc lập Hội đồng quản trị có liên quan

1.4.6 Quy định về miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị

Điều 156 Luật doanh nghiệp 2014 quy định thành viên Hội đồng quản trị bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

- Không có đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của Luật doanh nghiệp

2014

- Không tham gia các hoạt động của Hội đồng quản trị trong 06 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả kháng;

- Có đơn từ chức;

- Trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty

Thành viên Hội đồng quản trị có thể bị bãi nhiệm theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông

1.4.7 Quy định về vai trò của Hội đồng quản trị

Thứ nhất: Về pháp lý, Hội đồng quản trị được quy định là "Cơ quan quản lý công ty", có quyền nhân danh công ty thực hiện tất cả các quyền và nghĩa vụ của công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Trên thực tế, trong hầu hết các công ty cổ phần, thành viên Hội đồng quản trị là các cổ đông lớn, hoặc đại diện các cổ đông lớn của công ty Thêm vào đó, các thành viên Hội đồng quản trị đều tham gia trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của công ty Do đó, trong các công ty nói trên, không những không có sự tách biệt rõ nét giữa sở hữu và quản lý, mà cả quản lý và điều hành Chủ tịch Hội đồng quản trị thường kiêm Giám đốc điều hành và là người đại diện theo pháp luật của công ty

Trong cơ cấu nói trên, rõ ràng vai trò vị thế thực tế của Hội đồng quản trị bị xem nhẹ; và ngược lại, Hội đồng quản trị lại không thực hiện được đầy đủ vai trò của mình trong quản trị công ty Các thành viên Hội đồng quản trị đã phải tập trung nhiều hơn vào công tác điều hành; và ít hoặc thậm chí không chú ý tới vai trò định hướng chiến lược và giám sát, đảm bảo công ty phát triển phù hợp với chiến lược

Trang 34

Thêm vào đó, các thành viên Hội đồng quản trị thường chịu ảnh hưởng nhiều bởi chính lợi ích của cổ đông lớn hơn là phụ vụ cho lợi ích của công ty và những người khác có liên quan Trong điều kiện nói trên, yêu cầu phải có thành viên độc lập hay thành viên không điều hành trong Hội đồng quản trị còn hết sức xa lạ, đối với các công ty niêm yết

Thứ hai: Chưa có tiêu chí và cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị nói chung và từng thành viên Hội đồng quản trị nói riêng, hiệu quả hay kết quả hoạt động của Hội đồng quản trị chưa được đánh giá Điều đó góp phần làm cho chế độ trả lương và lợi ích khác đối với thành viên Hội đồng quản trị chưa rõ ràng, chưa cụ thể và hợp lý Đây có lẽ là một trong các nguyên nhân làm cho các thành viên Hội đồng quản trị chưa sẵn sàng tách ra không công tác điều hành để chuyên trách vào các vấn đề chiến lược và kiểm soát

Ngoài ra, cách quản lý theo lối thuận tiện, thay vì quản lý theo khoa học đã làm cho vai trò của Hội đồng quản trị và cả năng lực quản lý đã yếu lại càng yếu thêm Đặc điểm cơ bản của quản lý thuận tiện là chọn, bổ nhiệm người quản lý và giao việc trên cơ sở niềm tin vào cá nhân Điều này có nghĩa là mối quan hệ thân quen và tin cậy cá nhân là tiêu chí cơ bản để bổ nhiệm và giao việc cho một người nào đó Chính vì vậy, những người được bổ nhiệm làm thành viên HĐQT và những người quản lý khác, kể cả trong công ty quản lý nhà nước, thường không phải là quản lý chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp tương ứng với nội dung và yêu cầu của công việc mà họ phải làm Trong cách quản lý nói trên, thì ngay cả khi người quản lý chuyện nghiệp được tuyển dụng thì họ cũng không phát huy được năng lực của mình Bởi vì, việc áp dụng các quy trình, thủ tục

để giải quyết các công việc được sắp xếp hợp lý lại trở nên bất tiện

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGHĨA VỤ THÀNH

VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN CỦA PHÁP LUẬT

VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

2.1 Sơ lược pháp luật về nghĩa vụ thành viên HĐQT ở Việt Nam

2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị

Luật doanh nghiệp 2014 quy định Hồi đồng quản trị có các quyền và nghĩa

Quyết định giá bán cổ phần và trái phiếu của công ty;

Quyết định mua lại cổ phần theo quy định tại khoản 1 Điều 130 của Luật doanh nghiệp 2014

Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo quy định của pháp luật;

Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;

Thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc giá trị khác Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng và giao dịch quy định, tại điểm d khoản 2 Điều 135, khoản 1 và khoản 3 Điều 162 của Luật doanh nghiệp

2014

Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị; bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định, tiền lương

và quyền lợi khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo ủy quyền

Trang 36

tham gia Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông ở công ty khác, quyết định mức thù lao và quyền lợi khác của những người đó;

Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty;

Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác;

Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông, triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định;

Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Đại hội đồng cổ đông; Kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh;

Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể, yêu cầu phá sản công ty;

Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty Hội đồng quản trị thông qua quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty quy định Mỗi thành viên Hội đồng quản trị có một phiếu biểu quyết Khi thực hiện chức năng, quyền

và nghĩa vụ của mình, Hội đồng quản trị tuân thủ đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty và nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông

Trong trường hợp nghị quyết do Hội đồng quản trị thông qua trái với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty gây thiệt hại cho công ty thì các thành viên tán thành thông qua nghị quyết đó phải cùng liên đới chịu trách nhiệm cá nhân về nghị quyết đó và phải đền bù thiệt hại cho công ty; thành viên phản đối thông qua nghị quyết nói trên được miễn trừ trách nhiệm Trường hợp này, cổ đông sở hữu cổ phần của công ty liên tục trong thời hạn ít nhất 01 năm có quyền yêu cầu Hội đồng quản trị đình chỉ thực hiện nghị quyết nói trên

Trang 37

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng quản trị

Quyền và nhiệm vụ của Hội đồng quản trị được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 149 Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 Tổng quan tập trung trong 4 nhóm chức năng, nhiệm vụ sau đây:

2.1.2.1 Chiến lược và kế hoạch phát triển kinh doanh công ty

Hội đồng quản trị đóng vai trò then chốt trong việc quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty Sau khi Tổng giám đốc hoặc giám đốc điều hành trình lên Hội đồng quản trị

và Đại hội đồng cổ đông những phương hướng nhiệm vụ phát triển công ty và kế hoạch hàng năm của công ty HĐQT có trách nhiệm xem xét kĩ lưỡng và ra quyết định cuối cùng cho chiến lược và kế hoạch phát triển kinh doanh của công ty

Vai trò của HĐQT là vô cùng quan trọng trong công ty, chiến lược và kế hoạch của công ty nếu không được Hội đồng quản trị thông qua thì cũng không được thực thi Ngược lại, nếu Hội đồng quản trị không thực hiện tốt vai trò đôn đốc, định hướng rà soát lại chiến lược thì cũng không đạt được một chính sách chiến lược và kế hoạch tốt cho sự phát triển của công ty Vì vây, có thể nói HĐQT có nhiệm vụ là trung tâm quyết định chiến lược phát triển cho công ty

2.1.2.2.Quyết định chiến lược kế hoạch phát triển của công ty

Chiến lược là phương thức mà các công ty sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được và duy trì lâu dài những thành công của nó Mục tiêu tối thiểu của chiến lược là phải làm sao tiếp tục tồn tại được, nghĩa là phải có khả năng thực hiện được các nghĩa vụ một cách lâu dài, có thể chấp nhận được Quyết định chiến lược đặt ra mục tiêu cho toàn bộ công ty, giữ cho tất các bộ phận trong công ty phối hợp với nhau hướng về mục tiêu chung

2.1.2.3.Quyết định phương án, dự án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường

Hội đồng quản trị có vai trò quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư, giảipháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác

Trang 38

Hội đồng quản trị cần phối hợp chặt chẽ vói ban giám đốc và cần cùng nhau đánh giá lại phương án đầu tư, nhận dạng các rủi ro Hội đồng quản trị cần lắng nghe những lo ngại của ban giám đốc về sự khác biệt trong định hướng chiến lược của công ty để trên cơ sở đó có sự điều chỉnh kịp thời, hay cần phải thay đổi những điểm nào để ứng phó với môi trường kinh doanh hiện tại

2.1.2.4.Tổ chức cơ cấu ban điều hành và quy mô hoạt động của công ty

a Tổ chức cơ cấu:

Hội đồng quản trị có quyền hạn và nhiệm vụ: Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định mức lương

và lợi ích khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo uỷ quyền thực hiện quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp ở công ty khác, quyết định mức thù lao và lợi ích khác của những người đó; - Đây thuộc nhóm quyền quyết định chọn nhân sự của Hội đồng quản trị Trong thực tế tại các công ty cổ phần hiện nay, việc

bổ nhiệm Ban giám đốc thường là chủ tịch hội đồng quản trị giữ chức vụ Tổng giám đốc, các phó giám đốc là thành viên Hội đồng quản trị công ty

Việc kết hợp hai vị trí trong Hội đồng quản trị và trong Ban giám đốc, nhất là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc có thể sẽ hỗ trợ tốt cho việc ra quyết định, đặc biệt là trong hoàn cảnh cấp bách, và giúp ban quản trị nắm tốt hơn về thông tin của công ty Hội đồng quản trị khi lập chiến lược thường không lường hết được các yếu tố của thực tế vận hành Khi Ban Giám đốc lãnh đạo bộ máy điều hành thực hiện các chiến lược đã được Hội đồng quản trị thông qua, một khi cần thay đổi để phù hợp với những biến động và thay đổi của thực tế thị trường, thường phải mất nhiều thời gian để trình bày và chờ phê duyệt, làm mất đi nhiều cơ hội Ở góc độ dung hòa các mong đợi giữa nhóm cổ đông và các bên hữu quan khác, Tổng giám đốc nếu kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ nhanh chóng hơn trong việc thống nhất các mong đợi khác nhau, vì Tổng giám đốc hiểu rõ tất cả các nhóm lợi ích Việc tách biệt vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc là cần thiết để kiểm soát quyền lực của Tổng giám đốc, nhưng nó cũng có thể dẫn đến

Trang 39

nguy cơ làm cho Tổng giám đốc chỉ tập trung vào những mục tiêu ngắn hạn, nhất là khi việc đánh giá kết quả hoạt động và chế độ lương, thưởng được căn cứ vào kết quả đạt được những mục tiêu mà Hội đồng quản trị đề ra

Trong công ty cổ phần Hội đồng quản trị đại diện cho quyền lợi của chủ sở hữu là các cổ đông, trong khi Tổng giám đốc và những người quản lý khác trực tiếp điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty, hơn nữa tổng giám đốc và những người quản lý khác có thể không phải là cổ đông của công ty mà chỉ là những người làm thuê, do đó để công ty họat động kinh doanh của công ty ngày càng phát triển, mang lại lợi ích ngày càng nhiều cho chủ sở hữu thì Hội đồng quản trị phải tăng cường công tác giám sát, chỉ đạo Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty Hội đồng quản trị có quyền đình chỉ các quyết định của Tổng giám đốc nếu thấy cần thiết và chịu trách nhiện trước Đại hội đồng cổ đông và pháp luật về quyết định đó

Hội đồng quản trị quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác HĐQT chọn mô hình phù hợp với chức năng nhiệm vụ kinh doanh của công ty, đảm bảo mô hình tối ưu, gọn nhẹ và hiệu quả, phù hợp với qui mô công ty và định hướng chiến lược phát triển kinh doanh Trong quá trình thực hiện chức năng giám sát của mình, khi công ty bị lâm vào vào tình trạng khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ, Hội đồng quản trị kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty lên Đại hội đồng cổ đông Kiến nghị Tổ chức lại công ty bao gồm : chia, tách,sáp nhập công ty cùng loại, hợp nhất công ty cùng loại

b.Mô hình cơ cấu tổ chức hội đồng quản trị

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp thường có rất nhiều cổ đông, do đó việc tổ chức, quản lý công ty khá phức tạp Vì vậy, Luật Doanh nghiệp quy định cho công ty cổ phần với cổ cấu tổ chức quản lý chặt chẽ hơn so với các loại hình công ty khác Theo Luật Doanh nghiệp 2005, công ty cổ phần được tổ chức theo một mô hình duy nhất: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm

Trang 40

soát và Giám đốc, Tổng giám đốc Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng duy nhất mô hình quản trị đó đã không còn phù hợp với sự đa dạng của doanh nghiệp về quy mô, tính chất sở hữu cũng như cách thức quản trị công ty Ngoài ra, quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 không phù hợp với thông lệ quốc tế khi mà trên thế giới có nhiều quốc gia cho phép công ty cổ phần được tuỳ ý lựa chọn áp dụng một trong 2

mô hình quản trị6 Khắc phục hạn chế đó, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định công

ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:

(i) Mô hình thứ nhất: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát

và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (mô hình có Ban kiểm soát) Mô hình này còn gọi là mô hình hai lớp

Hình 2.1 Sơ đồ mô hình Hội đồng hai lớp

Đối với mô hình này, cơ cấu tổ chức quản lý công ty phần được thiết kế theo hai mô hình khác nhau, đó là mô hình bắt buộc phải có Ban kiểm soát và mô hình không bắt buộc có Ban kiểm soát Việc có Ban kiểm soát hay không còn tuỳ

Đại hội đồng cổ đông

Ngày đăng: 18/09/2020, 08:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w