1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nâng cao năng lực các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại việt nam hiện nay

92 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay, bao gồm nhóm đề xuất dành cho các cơ quan quản l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁC THIẾT CHẾ

THỰC THI PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN

TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật Kinh tế

PHẠM THỊ DIỄM NƯƠNG

Hà Nội - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁC THIẾT CHẾ

THỰC THI PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN

TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng, phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một các trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Học viên

Phạm Thị Diễm Nương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trân trọng cám ơn các thầy cô giáo trong Khoa Luật, Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Ngoại thương đã tạo điều kiện tốt nhất để tác giả thực hiện luận văn của mình

Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến TS Nguyễn Minh Thư đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình để tác giả có được công trình nghiên cứu này

Học viên

Phạm Thị Diễm Nương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM O ̛N ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM VÀ CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM 5

1.1 Tổng quan về trách nhiệm sản phẩm và pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm 5

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm sản phẩm và pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm 5

1.1.2 Một số đặc điểm cơ bản của pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm 15

1.2 Tổng quan về các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm 17

1.2.1 Khái niệm và vai trò của các thiết chế thực thi pháp luật 17

1.2.2 Khái quát chung về Các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 29

2.1 Tổng quan về pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay 29

2.2 Thực tiễn năng lực các thiết thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm 33

2.2.1 Thực tiễn năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước 33

2.2.2 Thực tiễn năng lực của hệ thống toà án 45

2.2.3 Thực tiễn năng lực của trọng tài 49

2.2.4 Thực tiễn năng lực của Hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 51

Trang 6

2.3 Đánh giá thực trạng năng lực các thiết chế thực thi pháp luật liên quan

đến trách nhiệm sản phẩm 57

2.3.1 Những thành tựu đạt được 57

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 60

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 69

3.1 Định hướng hoạt động của các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam trong giai đoạn tới 69

3.2 Kiến nghị nhằm nâng cao năng lực các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam 70

3.2.1 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước 70

3.2.2 Kiến nghị đối với hệ thống toà án 71

3.2.3 Kiến nghị đối với tổ chức trọng tài 72

3.2.4 Kiến nghị đối với các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng 73

3.2.5 Các kiến nghị khác 76

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 7

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trên cơ sở các mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, luận văn

đã đạt được những kết quả như sau:

- Nghiên cứu tổng quan về trách nhiệm sản phẩm và pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm và các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm;

- Nghiên cứu về thực trạng năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay; từ đó rút ra những đánh giá, nhận xét về hệ thống các thiết chế này

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay, bao gồm nhóm đề xuất dành cho các cơ quan quản lý nhà nước, đề xuất dành cho hệ thống toà án, tổ chức trọng tài và các kiến nghị dành cho các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hoàn thiện các công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, chế định trách nhiệm sản phẩm đã ra đời như một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng một cách đầy đủ và hữu hiệu hơn Chế định pháp luật này được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ và sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia ở Châu Âu (ở cấp độ Liên minh Châu Âu và quốc gia thuộc Liên minh), ở Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các quốc gia ASEAN) Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm

đã được phát triển để thúc đẩy sự an toàn và bồi thường thích đáng trong các trường hợp một bên bị thương tích hoặc tổn thất từ việc sử dụng sản phẩm Các nguyên tắc được áp dụng để đạt được mục tiêu này được sử dụng khá linh hoạt, được phát triển

để cân bằng lợi ích của người sản xuất và người cung ứng với việc bảo vệ quyền lợi cho những người có thể bị ảnh hưởng từ việc sử dụng sản phẩm của họ Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người tiêu dùng trong vấn đề trách nhiệm sản phẩm Thông qua đạo luật này, cácthiết chế thực thi trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình hơn trong việc thực thi và

áp dụng pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, bảo vệ người tiêu dùng Các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm là một nội dung hết sức quan trọng, đảm bảo tính khả thi của toàn bộ nội dung khác được đề cập trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2010 và các văn bản liên quan về bảo vệ người tiêu dùng dưới góc độ trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tài phán và các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam đã tham gia khá tích cực vào công tác thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, tuy nhiên, trên thực tế, trong quá trình thực thi, các cơ quan này thể hiện nhiều điểm bất cập trong tổ chức cũng như vận hành Vì vậy, để hiệu quả hoạt động của các thiết chế thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm tại Việt

Nam được nâng cao, tác giả lựa chọn vấn đề “Nâng cao năng lực các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay”

làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề nâng cao năng lực các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay là một nghiên cứu còn khá mới mẻ Tuy nhiên, đã có một số nghiên cứu trước đó liên quan đến nội dung về thiết chế bảo vệ người tiêu dùng và các nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm sản phẩm

Các công trình nghiên cứu về nội dung thiết chế bảo vệ người tiêu dùng tiêu biểu có thể kể đến như:

- Nghiên cứu của Cục Quản lý Cạnh tranh (Nay là Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng) – Bộ Công thương với sự giúp đỡ của tổ chức CUTS International

tại Việt Nam: Thiết chế bảo vệ người tiêu dùng: Thực trạng Việt Nam, kinh nghiệm

quốc tế và định hướng hoàn thiện

- Hội thảo “Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật về bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam và kinh nghiệm của Đức” được kết hợp tổ

chức bởi Trường Đại học Luật Hà Nội với Trung tâm Pháp luật Đức và Viện Friedrich-Ebert-Stiftung Hà Nội tổ chức tháng 3/2015 Hội thảo có các bài viết đề cập đến Thực trạng pháp luật Việt Nam về các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt là các bài viết đánh giá về thực trạng năng lực của các thiết chế cụ thể (Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống toà án, Tổ chức xã hội) trong thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam

Các nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm sản phẩm mặc dù mới được quan tâm khoảng 10 năm gần đây, nhưng nội dung này cũng được các nhà khoa học quan tâm

và tìm hiểu:

- Tiêu biểu trong số này phải kể đến tác giả Trương Hồng Quang với nhiều công

trình nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm sản phẩm: Hoàn thiện pháp luật về trách

nhiệm sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam; Pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Canada; Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh Châu Âu; Kinh nghiệm xây dựng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của một số nước Asean (viết cùng tác giả Trần Thị Quang Hồng)

Trang 10

- Tác giả Tăng Văn Nghĩa với bài viết Bàn về luật trách nhiệm sản phẩm trong

kinh doanh quốc tế đã nghiên cứu một cách khái quát về vấn đề trách nhiệm sản

phẩm và khả năng áp dụng vấn đề trách nhiệm sản phẩm trong kinh doanh quốc tế

- Bên cạnh đó, một số khoá luận tốt nghiệp cũng lựa chọn vấn đề trách nhiệm

sản phẩm đề nghiên cứu: Tác giả Nguyễn Hương Giang với khoá luận Trách nhiệm

sản phẩm (Product liability) và những vấn đề đặt ra khi xuất khẩu vào thị trường nước phát triển; Tác giả Nguyễn Thị Hải Hà với khoá luận Trách nhiệm sản phẩm – Những vấn đề đặt ra trong thương mại quốc tế

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể nhận thấy, các công trình nghiên cứu

về năng lực các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm còn chưa được quan tâm, tuy nhiên, đây lại là một vấn đề mang tính cấp bách, vì vậy, tác giả lựa chọn nội dung này làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm là một vấn đề có phạm vi nghiên cứu chuyên sâu Để thực hiện đề tài này, trước hết cần phải đánh giá được về thực trạng thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của các thiết chế tại Việt Nam Ở đây, cần lưu ý, đó là các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tài phán và các tổ chức xã hội về bảo vệ người tiêu dùng Sau đó,

đề tài sẽ tiến hành tìm hiểu nguyên nhân và nghiên cứu những giải pháp đề xuất đề nâng cao năng lực thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của các thiết chế này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Nghiên cứu tổng quan về trách nhiệm sản phẩm và pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm và các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm;

- Nghiên cứu về thực trạng năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay;

Trang 11

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng những phương pháp cơ bản sau đây:

- Phương pháp luận nghiên cứu hoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin

- Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu về lịch sử hình thành của chế định trách nhiệm sản phẩm

- Phương pháp so sánh luật học, phương pháp điều tra, thống kê xã hội học, phương pháp trao đổi, toạ đàm

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài nội dung mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1 Lý luận chung về trách nhiệm sản phẩm và các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

Chương 2 Thực trạng năng lực các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay

Chương 3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao năng lực các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay

Trang 12

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM VÀ CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM

1.1 Tổng quan về trách nhiệm sản phẩm và pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm sản phẩm và pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

1.1.1.1 Khái niệm về trách nhiệm sản phẩm

Trách nhiệm sản phẩm là một chế định pháp luật quan trọng ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay Quá trình phát triển chế định pháp luật này gắn liền với nhu cầu bảo vệ người tiêu dùng trước những nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá sản phẩm Sự phát triển của chế định này là một bước tiến của pháp luật ở nhiều nước trong việc kiểm soát các nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm trước hành vi vi phạm vì lợi ích của cộng đồng Bản chất của chế định này là các nhà sản xuất và những tổ chức, cá nhân tham gia vào việc phân phốisản phẩm phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra cho người sử dụng sản phẩm nếu như việc sử dụng chúng tiềm ẩn những nguy hại nhưng không được cảnh báo trước

Khái niệm sản phẩm:

Theo Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000:2000 thì sản phẩm là kết quả của một quá trình, trong đó “quá trình” là tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác với nhau để biến đổi đầu vào (input) thành đầu ra (output) Các chủng loại sản phẩm phổ biến nhất gồm: hàng hóa (gồm cả phần mềm - software, phần cứng – hardware, vật liệu chế biến - processed meterial) và dịch vụ Khái niệm này không dựa trên tính chất trao đổi (mua bán), chức năng hay dạng vật chất của sản phẩm để định nghĩa mà dựa trên chu trình sống của sản phẩm Sản phẩm chỉ trở thành hàng hoá ở giai đoạn lưu thông sản phẩm trên thị trường

Dưới giác độ Marketing thì sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng Theo đó,

Trang 13

một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản vật chất và phi vật chất Như vậy, theo quan điểm của cả Marketing và Tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO, sản phẩm gồm 2 bộ phận: hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì: “sản phẩm là kết quả của các hoạt động, các quá trình bao gồm phần mềm, phần cứng và vật liệu để chế biến hoặc đã được chế biến” 1 Khái niệm này tương đồng với khái niệm hàng hóa của tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000:2000

Khi xem xét trên góc độ pháp luật, theo khái niệm của Luật Trách nhiệm sản phẩm Nhật Bản (Luật số 85, 1994) thì thuật ngữ “Sản phẩm” có nghĩa là tài sản được sản xuất hoặc chế biến có thể di chuyển được2 Như vậy, đối tượng điều chỉnh của luật này là “sản phẩm” chỉ hạn hẹp trong hàng hóa và hàng hóa đó phải là tài sản hữu hình Chỉ những sản phẩm đã qua chế biến mới là đối tượng điều chỉnh của luật này, Những sản phẩm là kết quả của quá trình lao động nhưng không qua chế biến như: khoáng sản, sản phẩm nông lâm ngư nghiệp chưa chế biến hoặc đóng gói, các tài sản vô hình như phát minh, sáng chế, nhãn hiệu thương mại…đều không được điều chỉnh bởi pháp luật trách nhiệm sản phẩm

Theo chỉ thị 34/1999 về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu EU thì sản phẩm là mọi động sản kể cả động sản sáp nhập trong động sản hoặc bất động sản khác, sản phẩm bao gồm cả điện3 Như vậy, sản phẩm với tư cách là đối tượng điều chỉnh của luật này mở rộng hơn quan điểm của Luật TNSP Nhật Bản, xem xét sản phẩm trên góc độ đặc tính của chúng Động sản ở đây có thể bao gồm cả những nông lâm ngư sản chưa qua chế biến Điện năng cũng được coi như một loại nhiên liệu, một bộ phận cấu thành của sản phẩm Trong khi đó, “Restatements 3rd Torts” (luật bồi thường thiệt hại, bản sửa đổi lần thứ 3) 1997 của Hoa Kỳ định nghĩa sản phẩm là những tài sản cá nhân hữu hình, bao gồm cả nguyên liệu chưa qua chế

Trang 14

biến Quy định của pháp luật Hoa Kỳ không quan tâm tới quá trình tạo ra sản phẩm chỉ xem xét sản phẩm trên khía cạnh hình thái vật chất và chủ thể sở hữu sản phẩm

Tóm lại dưới giác độ của TNSP, sản phẩm bao gồm những động sản được

sản xuất hoặc chế biến 1 , nó không phụ thuộc vào việc sản xuất theo dây chuyền công nghiệp với quy mô lớn hay sản xuất thủ công những sản phẩm riêng lẻ 2 Cách

hiểu này tương đồng với quy định của pháp luật ở nhiều nước về sản phẩm đồng thời mang tính chất đặc thù của pháp luật trách nhiệm sản phẩm

Khái niệm về trách nhiệm sản phẩm

Nhìn chung pháp luật các nước đều có quan điểm thống nhất về trách nhiệm sản phẩm Khi người tiêu dùng, người sử dụng sản phẩm hay bất cứ người thứ ba nào bị tổn hại về vật chất, sức khoẻ, tính mạng, tinh thần do những khiếm khuyết của sản phẩm thì họ có quyền được đòi bồi thường Ngược lại, các nhà sản xuất, phân phối, nhà bản lẻ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường khi sản phẩm của họ có khuyết tật, gây tổn thất cho người tiêu dùng, sử dụng sản phẩm

Theo Điều 102(2), Đạo luật Thống nhất về Trách nhiệm sản phẩm của Hoa

Kỳ, trách nhiệm sản phẩm bao gồm “tất cả các khiếu nại và khiếu kiện đòi bồi

thường về các mất mát về con người, bao gồm cả trường hợp tử vong, và của cải,

do việc sản xuất, thiết kế, công thức chế tạo, công tác chuẩn bị, lắp ráp, lắp đặt, thử nghiệm sản phẩm, các cảnh báo, hướng dẫn, việc chào hàng, đóng gói hay dán nhãn của bất kỳ hàng hóa, dịch vụ nào gây ra.” Các vấn đề về trách nhiệm sản

phẩm trên thế giới đang ngày càng trở nên quan trọng đối với các nhà sản xuất và

quản lý hàng hóa, do sự lan truyền của học thuyết về “trách nhiệm nghiêm ngặt”

(strict liability) và sự xuất hiện của các học thuyết mới cho phép đòi bồi thường cả trong cáctrường hợp “thông báo chậm trễ” (delayed manifestation)

1 Theo điều 2 điểm 2 luật TNSP CHLB Đức (produkthaftungsgetz sửa đổi 2002)

2 TS Tăng Văn Nghĩa (2008), “Bàn về Luật trách nhiệm sản phẩm trong kinh doanh quốc tế “, tạp chí Nhà nước và pháp luật, (2), trang 41-49

Trang 15

Điều 1 Chỉ thị về Trách nhiệm sản phẩm của Liên minh Châu Âu ban hành

vào năm 1985 đã quy định: Người sản xuất phải chịu trách nhiệm về những thiệt

hại gây ra bởi những khuyết tật trong sản phẩm của họ

Tóm lại, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm sản phẩm như sau: Trách nhiệm sản phẩm là chế định pháp luật trong đó nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp, nhà bán lẻ hay bất cứ người nào đưa sản phẩm vào lưu thông phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại, thương tích của người tiêu dùng, người sử dụng sản phẩm hoặc người thứ ba do khuyết tật của sản phẩm đó gây ra

1.1.1.2 Pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

(i) Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

Trong quá trình hoàn thiện các công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, chế định trách nhiệm sản phẩm đã ra đời như một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo

vệ người tiêu dùng một cách đầy đủ và hữu hiệu hơn Chế định pháp luật này được

áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ và sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia ở Châu Âu (ở cấp độ Liên minh Châu Âu và quốc gia thuộc Liên minh), ở Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các quốc gia ASEAN) Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm

đã được phát triển để thúc đẩy sự an toàn và bồi thường thích đáng trong các trường hợp một bên bị thương tích hoặc tổn thất từ việc sử dụng sản phẩm

Chế định TNSP lần đầu tiên xuất hiện tại Hoa Kỳ vào năm 1916 khi toà án bang New York xét xử vụ Mac Pherson kiện công ty Buick Motor Co3 vì nguyên đơn bị thương do bánh xe của nhà sản xuất này phát nổ Toà án đã ra phán quyết buộc nhà sản xuất phải bồi thường cho MacPherson vì những khuyết tật ẩn chứa trong sản phẩm có thể gây nguy hiểm cho người sử dụng đã không được cảnh báo trước Phán quyết này đã trở thành tiền lệ cho trách nhiệm sản phẩm dựa trên lỗi vô

ý của nhà sản xuất, nhà phân phối đối với sản phẩm của họ Vào những năm 30 tại Hoa Kỳ thường có những vụ kiện liên quan tới thời hạn bảo hành của sản phẩm, theo đó trong thời hạn bảo hành của một sản phẩm, nếu sản phẩm bị hỏng do khuyết

3 Mac Pherson v Buick Motor Co opinions.pdf t ruy cập ngày 01/10/2018

Trang 16

http://omnilearn.net/PDL/resources/MacPherson-v-Buick-Motor-Co-tật gây tổn hại về vật chất cho khách hàng thì nhà sản xuất, nhà phân phối sẽ phải bồi thường Tuy nhiên, vấn đề trách nhiệm bồi thường theo thời hạn bảo hành của sản phẩm chỉ được áp dụng giữa người trực tiếp mua sản phẩm và nhà sản xuất Có một thực tế là, đôi khi người sử dụng sản phẩm không phải là người trực tiếp mua sản phẩm, do đó, một số phán quyết của toà án trong thời gian này đã tạo cơ sở cho việc yêu cầu bồi thường của những người trực tiếp sử dụng sản phẩm4 Giai đoạn từ năm 1930 – 1960, các luật sư Hoa Kỳ đưa ra quản điểm trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt, có nghĩa là trách nhiệm sản phẩm mà không dựa trên lỗi của nhà sản xuất Năm 1965, điều khoản trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt chính thức được Viện nghiên cứu Luật Hoa Kỳ đưa vào điều 402A của Bản quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quy định về trách nhiệm đặc biệt của người sản xuất, nhà phân phối đối với những thiệt hại vật chất của người tiêu dùng hay người sử dụng sản phẩm Trách nhiệm này áp dụng đối với cả nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hay người xuất khẩu sản phẩm

Tại Châu Âu, trong những năm 1970, một số nước đã đưa ra sáng kiến về việc đưa ra một công ước chung điều chỉnh các vấn đề liên quan đến trách nhiệm sản phẩm và giải quyết xung đột giữa pháp luật của các nước thành viên trong vấn

đề này Những sáng kiến đó là tiền đề cho sự ra đời của Công ước Hague vào ngày 02/10/1973, có hiệu lực từ ngày 01/10/1977 về luật áp dụng cho trách nhiệm sản phẩm Công ước này đã giải quyết khá triệt để vấn đề xung đột pháp luật Vào năm

1975, bản Dự thảo của Công ước Châu Âu về trách nhiệm sản phẩm được đưa ra theo đề xuất của Hội đồng Châu Âu Sau khi bản dự thảo cuối cùng được phê chuẩn

và trở thành công ước Strabourg 1977 Và đây là tiền đề cho bản Chỉ thị 85/374/EEC về trách nhiệm sản phẩm sau này Công ước này quy định các vấn đề TNSP nghiêm ngặt, không quan tâm đến lỗi của nhà sản xuất Vào ngày 14/4/1975, tại Hội nghị thượng đỉnh Paris, Hội đồng Châu Âu đã ban hành nghị quyết về chương trình ban đầu của cộng đồng trong chính sách bảo vệ người tiêu dùng, và năm 1981 thì bản Nghị quyết thứ hai cũng được ban hành, theo đó, người tiêu dùng

4 Baxter kiện công ty Forrd Motor do kính chắn gió của mô tô do Ford sản xuất, được bảo hành là chịu lực tốt, không vỡ, nhưng trong quá trình sử dụng lại vỡ, gây thương tích cho Baxter và người bạn đi cùng Toà yêu cầu công ty Ford phải bồi thường thiệt hại cho cả Baxter và người bạn đi cùng theo điều kiện bảo hành.

Trang 17

phải được bảo vệ trước những thiệt hại vất chất gây ra do sản phẩm có khuyết tật Trong hai năm 1974, 1975, hai bản dự thảo của bản Chỉ thị về trách nhiệm sản phẩm ra đời, nhưng phải đến 10 năm sau, chỉ thị này mới chính thức được ban hành vào ngày 25/7/1985 Bản Chỉ thị quy định trách nhiệm nghiêm ngặt của nhà sản xuất, người phân phối với sản phẩm của mình, tuy nhiên cũng có những điều khoản cho phép các nước thành viên có thể lựa chọn áp dụng hoặc không áp dụng, hoặc tăng mức phạt khi đưa vào luật của nước mình Chỉ thị 85/374/EEC có hiệu lực từ ngày 01/8/1988 với sự chấp thuận rộng rãi trong nội bộ các nước thành viên và từ

đó đến nay đã thể hiện tốt vai trò thống nhất pháp luật điều chỉnh giữa các nước thành viên Năm 1999, Chỉ thị số 1999/34/EC ra đời nhằm bổ sung, sửa đổi một số điều khoản của Chỉ thị 85/374/EEC Ngoài ra còn có các văn bản như Chỉ thị 97/27/EC ban hành ngày 19/5/1998 quy định về việc khởi kiện để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Chỉ thị 2001/95/EC ban hành ngày 03/12/2001 về những quy định chung về an toàn sản phẩm; Nghị định số 864/2007 của Liên Minh Châu Âu về luật

áp dụng đối với nghĩa vụ ngoài hợp đồng5

Ở khu vực Đông Á và các nước ASEAN, tình hình tiếp nhận quy tắc về trách nhiệm sản phẩm có vẻ chậm trễ hơn Nhật Bản là quốc gia đi tiên phong trong vấn

đề này nhưng cũng phải mất hàng chục năm tranh cãi với sự nỗ lực vận động hành lang lớn của các Hội bảo vệ người tiêu dùng, Luật về Trách nhiệm sản phẩm năm

1994 mới được ban hành Luật Trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản có hiệu lực từ năm 1995 quy định chi tiết hơn về vấn đề trách nhiệm sản phẩm: bất kỳ nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà nhập khẩu nào cung cấp sản phẩm có khuyết tật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của người tiêu dùng thì phải bồi thường cho những thiệt hại đó Trước khi có Luật Trách nhiệm sản phẩm năm 1994, pháp luật Nhật Bản đã có chế định về trách nhiệm sản phẩm (tuy trong pháp luật Nhật Bản lúc đó

không hề tồn tại khái niệm “trách nhiệm sản phẩm“)6 Tuy cũng bị ảnh hưởng nhiều

5Nguyễn Thị Hải Hà, Trách nhiệm sản phẩm – Những vấn đề đặt ra trong thương mại quốc tế, Khoá luật tốt

nghiệp Đại học Ngoại thương, 2010, tr.22-23

6Andrew Marcuse, Why Japan‘s New Products Liability Law Isn’t, 5 Pac Rim L & Pol’y J 365, 388 (1996)

(arguing “the new [law] changes the Japanese products liability regime very little.”); Anita Bernstein & Paul

Fanning, Weightier Than A Mountain: Duty, Hierarchy, and the Consumer in Japan, 29 Vand J Transnat’l

L 45, 67 (1996) (claiming “the [PL Law] is not likely to disrupt Japanese society or the function of law in Japan, despite optimistic expressions heard from American consumer advocates.”)

Trang 18

bởi chế định trách nhiệm sản phẩm trong Chỉ thị năm 1985 của Ủy ban Châu Âu về trách nhiệm sản phẩm7, Luật Trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản năm 1994 chỉ gồm có 7 Điều luật8 So sánh với các quy định về trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật của EU hoặc Hoa Kỳ, có thể thấy rằng, mức độ chi tiết trong các quy định về trách nhiệm sản phẩm ở Nhật Bản còn thiếu và chưa chi tiết trong việc qui định về các dạng khuyết tật việc phân chia trách nhiệm chứng minh và các trường hợp được miễn, giảm trách nhiệm đối với nhà sản xuất9 Tại Hàn Quốc, trước thời điểm ban

hành Luật Trách nhiệm sản phẩm của Hàn Quốc (năm 2000), vấn đề bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra được áp dụng theo các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định trong Bộ luật dân sự Hàn Quốc Theo quy định của Bộ luật này, chế định bồi thường theo lỗi bất cẩn (negligence) được áp dụng10 Khi có vụ kiện tụng về trách nhiệm sản phẩm, nguyên đơn phải chứng minh

sự tồn tại của khuyết tật, mối quan hệ giữa khuyết tật và thiệt hại, lỗi bất cẩn (hoặc lỗi cố ý) của nhà sản xuất Trong thực tiễn, vấn đề chứng minh lỗi bất cẩn của nhà sản xuất là rất khó Chính vì thế, không phải trường hợp nào nguyên đơn cũng thành công trong việc chứng minh sự tồn tại của lỗi của nhà sản xuất mặc dù có thể chứng minh được sự tồn tại của khuyết tật và mối quan hệ nhân quả giữa khuyết tật

và thiệt hại xảy ra Để tăng cường mức độ bảo vệ người tiêu dùng mà Bộ luật dân

sự đã có những quy định bước đầu, Luật Trách nhiệm sản phẩm của Hàn Quốc đã được ban hành năm 2000 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2002) Theo quy định của Luật này, chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt được áp dụng đối với doanh nghiệp sản xuất

ra sản phẩm khuyết tật Nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn được giảm xuống vì nguyên đơn không còn phải chứng minh nhà sản xuất có lỗi trong việc sản xuất ra sản phẩm có khuyết tật Như vậy, có thể nhận thấy là tại Hàn Quốc đã có sự phát triển chế định trách nhiệm sản phẩm đi từ nguyên lý về sự bất cẩn đến nguyên lý về

trách nhiệm nghiêm ngặt Tại Trung Quốc, chế định trách nhiệm sản phẩm trước kia

7Tsuneo Matsumoto, “Recent developments in the Law of Product Liability in Japan”, Hitotsubashi Journal

of Politics and Law 25 (1997) 15-28 p.25

8Nguyễn Văn Cương (Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp), Giới thiệu về chế định trách nhiệm sản phẩm

trong pháp luật của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, 2009, tr 4

9Nguyễn Văn Cương (Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp), Giới thiệu về chế định Trách nhiệm sản phẩm

của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, 2009, trang 6

10Xem thêm: Nguyễn Văn Cương (Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp), Giới thiệu về chế định Trách nhiệm

sản phẩm của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, 2009, trang 7

Trang 19

được đánh giá là khá sơ khai Hiện nay, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Luật chất lượng sản phẩm của Trung Quốc11 (cùng ban hành năm 1993) và các văn bản pháp luật có liên quan đã có những quy định về quyền của người tiêu dùng khởi kiện nhà sản xuất hoặc người phân phối khi sản phẩm của họ có khuyết tật Nhìn chung, pháp luật quốc gia này đã có sự chấp nhận đối với nguyên lý về trách nhiệm nghiêm ngặt Cụ thể, theo quy định tại Điều 112 Luật về các nguyên tắc của Luật Dân sự (năm 1987), nhà sản xuất hoặc người bán sản phẩm không đảm bảo chất lượng sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự đối với các thương tổn thân thể hoặc thiệt hại

về tài sản Bên bị thiệt hại có quyền tự do lựa chọn việc khởi kiện đối với nhà sản xuất hoặc người bán hàng12 Quan điểm chung của giới khoa học pháp lý ở Trung Quốc là quy định này cần được áp dụng theo hướng không cần phải chứng minh lỗi của nhà sản xuất hoặc người bán trong việc tạo ra sản phẩm không đảm bảo chất lượng Tuy nhiên, trường hợp thiệt hại gây ra cũng có lỗi của phía nạn nhân thì nhà sản xuất hoặc người bán cũng được miễn giảm một phần trách nhiệm pháp lý

Ở Đông Nam Á, việc đưa các quy tắc về trách nhiệm sản phẩm còn muộn hơn (ngoại trừ trường hợp tiên phong là Philippines đã có quy định từ năm 1992) Mức độ tiếp nhận các vấn đề về trách nhiệm sản phẩm cũng không đồng đều giữa các quốc gia và thể hiện quan điểm còn có những khác biệt nhất định giữa các quốc gia trong khối về vấn đề trách nhiệm sản phẩm Philippines thông qua Luật về người tiêu dùng năm 1992 Đây là một đạo luật toàn diện, điều chỉnh không chỉ vấn

đề trách nhiệm sản phẩm mà cả vấn đề an toàn và chất lượng sản phẩm, hành vi lừa dối và hành vi thiếu công bằng, bảo hành, dán nhãn và đóng gói Đạo luật này cũng quy định việc thành lập Hội đồng Quốc gia về các vấn đề của người tiêu dùng Quan trọng hơn, Luật người tiêu dùng cũng đã thiết lập một cơ chế mở rộng của trách nhiệm nghiêm ngặt đối với các nhà sản xuất và nhập khẩu dựa vào Chỉ thị của Cộng đồng Châu Âu Không giống như Chỉ thị của Cộng đồng Châu Âu, Luật Người tiêu dùng của Philippines đặt trách nhiệm chứng minh lên nhà sản xuất Nhà sản xuất phải chứng minh rằng sản phẩm họ đưa vào thị trường là không có khuyết

Trang 20

tật Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia có hiệu lực vào ngày 15 tháng 11 năm 1999 sau 10 năm xây dựng Trước khi đạo luật này được ban hành, vấn đề bảo

vệ người tiêu dùng được quy định trong nhiều văn bản, bao gồm Luật Diễn giải thương mại năm 1972 (Trade Descriptions Act), Luật về bán hàng năm 1957 (Sale

of Goods Act) và các quy định điều chỉnh một số loại thực phẩm và dược phẩm Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia được xem là một bước tiến quan trọng trong việc mở rộng mức độ bảo vệ tới cá nhân người tiêu dùng, người thường là ở

vị thế yếu hơn so với nhà sản xuất, cung ứng là đối tượng bị người tiêu dùng khiếu nại Các quy định trong đạo luật này bao gồm cả các hành vi gây nhầm lẫn và lừa đảo, các tiêu chuẩn an toàn tối thiểu mà hàng hoá và dịch vụ phải đảm bảo, quyền yêu cầu nhà sản xuất và cung ứng phải khôi phục quyền lợi, thành lập Hội đồng Tư vấn Quốc gia về người tiêu dùng và Uỷ ban giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng Luật Trách nhiệm đối với Sản phẩm không an toàn của Thái Lan được ban hành ngày 13 tháng 2 năm 2008 và có hiệu lực vào ngày 23 tháng 12 năm 2009 Đây có thể coi là đạo luật được ban hành mới nhất về trách nhiệm sản phẩm của khu vực ASEAN Luật áp dụng trách nhiệm phát sinh từ sản phẩm không an toàn đối với nhà sản xuất, người bán hàng, nhà nhập khẩu và những người khác trong chuỗi phân phối.13

(ii) Pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

Để có cơ sở pháp lý cho việc quy kết trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với nhà sản xuất, nhiều nước đã ban hành Luật về trách nhiệm sản phẩm (Prodact liability law) Luật TNSP liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm bồi thường, khắc phụ hậu quả, thậm chí thu hồi sản phẩm của nhà sản xuất do sản phẩm có khuyết tật và không an toàn khi sử dụng Trước kia, do được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự, TNSP chỉ phát sinh trong khuôn khổ của những hợp đồng cụ thể, nói cách khác, chỉ có những bên liên quan trong hợp đồng mới có thể kiện đòi bồi thường thiệt hại Ngày nay, Luật TNSP đã phát triển tới một quan điểm cho phép bất cứ ai bị thiệt hại bởi một sản phẩm khuyết tật (được định nghĩa như một sản

13Trần Thị Quang Hồng, Trương Hồng Quang, Chế định trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia Asean,

Tạp chí Luật học, số 7/2010

Trang 21

phẩm nguy hiểm quá mức cho việc sử dụng nó) có thể dẫn tới việc trách nhiệm bồi thường do bất kỳ bên nào trong chuỗi phân phối sản phẩm, có thể là nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ, thậm chí là người sản xuất một bộ phận linh kiện Mục đích của Luật TNSP là nhằm xác lập cơ sở pháp lý cho việc quy trách nhiệm cho nhà sản xuất để bồi thường các chi phí, tổn thất về tính mạng, sức khoẻ hoặc tài sản

do khuyết tật trong hàng hoá mà họ cung cấp Với cách thức đó, Luật TNSP góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng cũng như một chế độ sản xuất hàng hoá an toàn, lành mạnh14

Trước kia, TNSP được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự nên chỉ phát sinh trong những hợp đồng cụ thể Chỉ những bên liên quan trong hợp đồng mua bán hàng hóa mới có thể kiện đòi bồi thường thiệt hại Ngày nay, pháp luật TNSP áp dụng nguyên tắc trách nhiệm dựa trên khuyết tật đã cho phép bất cứ người tiêu dùng và người thứ ba bị thiệt hại bởi khuyết tật của sản phẩm đều có thể được bồi thường bởi bất kỳ chủ thể nào trong chuỗi phân phối sản phẩm (người sản xuất, bán hàng, nhập khẩu…) Người sản xuất buộc phải đảm bảo sản phẩm đủ an toàn cần thiết khi đưa vào lưu thông trên thị trường

Nguồn của pháp luật TNSP các nước chủ yếu là luật TNSP hoặc văn bản pháp lý tương đương, chẳng hạn: chỉ thị của Ủy ban châu Âu (EC) về trách nhiệm sản phẩm số 85/374/EEC, Luật TNSP Nhật Bản năm 1994…Ngoài ra, tại một TNSP còn được quy đinh trong bộ luật dân sự, bộ luật hình sự, chẳng hạn: bộ luật dân sự Pháp quy định trách nhiệm do lỗi (Tort liability) quy định từ điều 1382-1383 của Bộ luật Dân sự; trách nhiệm hợp đồng (Contractual liability) quy định tại điều

1641 của Bộ luật Dân sự; trách nhiệm do khuyết tật sản phẩm (Defective product liability) quy định tại điều 1386-1 đến 1386-18 của Bộ luật Dân sự và trách nhiệm phạt bồi thường (Penal liability) quy định tại điều 222-19 của Bộ luật Hình sự15

14Tăng Văn Nghĩa, Bàn về luật trách nhiệm sản phẩm trong kinh doanh quốc tế, Tạp chí Nhà nước và Pháp

luật, số 2/2008, tr.41-49

15Nguyễn Hương Giang, Trách nhiệm sản phẩm và những vấn đề đặt ra khi xuất khẩu vào thị trường nước

phát triển, Khoá luận tốt nghiệp ĐH Ngoại thương, 2009, tr.16

Trang 22

1.1.2 Một số đặc điểm cơ bản của pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm có một số đặc điểm cơ bản dưới đây16:

- Trách nhiệm sản phẩm là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tức là một loại trách nhiệm dân sự đòi hỏi người có trách nhiệm phải bù đắp bằng một cách thức phù hợp đối với thiệt hại mà người khác phải gánh chịu, dựa trên những

cơ sở nhất định làm phát sinh trách nhiệm theo quy định của pháp luật

- Chủ thể của trách nhiệm là người sản xuất hoặc người bán hàng, tức là phải

là một chủ thể nhất định tham gia vào quy trình đưa một sản phẩm hàng hoá đến tay người tiêu dùng Chủ thể đó có thể có mối liên hệ trực tiếp với người tiêu dùng hoặc không có mối liên hệ trực tiếp Điều kiện cần để xác định một chủ thể có thuộc diện phải chịu trách nhiệm chỉ phụ thuộc vào việc người đó trực tiếp có mối liên hệ đối với sản phẩm mà người tiêu dùng đã sử dụng hay không Và mối liên hệ trực tiếp đối với sản phẩm có thể là một trong các hình thức sau: (i) là người sản xuất ra sản phẩm: người sản xuất ra sản phẩm bao gồm cả người sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh hoặc là người sản xuất ra một phần, một bộ phận trong sản phẩm hoàn chỉnh đó; (ii) là người thực hiện vai trò phân phối trung gian đối với sản phẩm hoặc (iii) là người cung cấp sản phẩm đến tay của người tiêu dùng Như vậy, về mặt nguyên tắc, trong bất kỳ trường hợp nào, đối với một sản phẩm xuất hiện trên thị trường luôn tồn tại chủ thể chịu trách nhiệm đối với sản phẩm này

- Cơ sở để xác định trách nhiệm phát sinh trên thực tế là việc sản phẩm có khuyết tật và khuyết tật đó gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng nó: khuyết tật của sản phẩm là đặc điểm nhất định về thiết kế, chất liệu sử dụng, sự kết hợp giữa các

bộ phận, thành phần hay cách thức sử dụng, vận hành… mà có khả năng gây ra thiệt hại cho người sử dụng nó trong điều kiện thông thường Có thể nói một cách khác là một sản phẩm được coi là có khuyết tật khi sản phẩm đó không đảm bảo an toàn Tất nhiên, yêu cầu về tính an toàn đối với sản phẩm không phải là không có giới hạn và thường được xác định ở mức độ mà công chúng có thể trông đợi một

16Trần Thị Quang Hồng, Trương Hồng Quang, Một số vấn đề chung về chế định trách nhiệm sản phẩm và

vai trò của chế định này dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2010

Trang 23

cách hợp lý: có nghĩa là không có khả năng gây ra thiệt hại khi được tiêu dùng bởi một người tiêu dùng có nhận thức thông thường, trong điều kiện thông thường Đối với một số sản phẩm nhất định, khả năng gây thiệt hại trong điều kiện thông thường

có thể không bị coi là khuyết tật của sản phẩm nếu nhà sản xuất hay cung ứng đã có cảnh báo về khả năng gây nguy hiểm cũng như đưa ra phương pháp mà người tiêu dùng có thể phòng tránh mà không ảnh hưởng đến sự tiêu dùng bình thường cũng như là tính năng của sản phẩm Ngoài ra, tính an toàn cũng được giới hạn ở phạm vi

mà điều kiện phát triển khoa học, kỹ thuật… tại mỗi giai đoạn cho phép nhận biết Nếu khả năng nhận biết về tính không an toàn vượt quá mức độ mà sự phát triển khoa học, kỹ thuật tại thời điểm đó cho phép nhận biết thì sự không an toàn vượt quá khả năng nhận biết đó không bị coi là khuyết tật Tuy nhiên, giống như bất kỳ chế định bồi thường thiệt hại nào, sự tồn tại thực tế của khuyết tật có thể sẽ không phát sinh trách nhiệm nếu như không có thiệt hại thực tế xảy ra Chỉ khi có một thiệt hại thực tế xảy ra và thiệt hại đó thực sự là do khuyết tật của sản phẩm gây ra thì mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phạm vi trách nhiệm cũng sẽ nằm trong phạm vi, mức độ thiệt hại xảy ra trên thực tế gây ra bởi khuyết tật của sản phẩm đó Như vậy, cơ sở xác định trách nhiệm phải bao gồm sự tồn tại của khuyết tật của sản phẩm, có thiệt hại thực tế xảy ra và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra với khuyết tật của sản phẩm

- Trách nhiệm sản phẩm là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Việc xác định trách nhiệm đối với sản phẩm không có bất kỳ đòi hỏi nào

về việc giữa người bị thiệt hại và nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm phải tồn tại một quan hệ hợp đồng Như đã phân tích, mối liên hệ giữa người phải chịu trách nhiệm

và người được xác định thông qua một sản phẩm mà người phải chịu trách nhiệm là người sản xuất hoặc cung ứng và người được bồi thường thiệt hại là người tiêu dùng nó, giữa họ có thể có quan hệ hợp đồng, giao dịch trực tiếp hoặc không có quan hệ hợp đồng

Trang 24

1.2 Tổng quan về các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

1.2.1 Khái niệm và vai trò của các thiết chế thực thi pháp luật

1.2.1.1 Khái niệm các thiết chế thực thi pháp luật

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thiết chế xã hội là khái niệm chỉ toàn bộ

hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động xã hội Nhờ các thiết chế xã hội mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng Một xã hội để tồn tại và phát triển phải được hình thành dựa trên những khuôn mẫu, khuôn phép chung, để từ đó mỗi thành viên trong xã hội có thể dựa vào đó mà có những hành động, xử sự phù hợp Trên thực tiễn, để một xã hội tồn tại và phát triển ổn định phải có các thiết chế điều chỉnh Nếu một xã hội không

có các thiết chế, tức là một xã hội không có kỷ cương, quy tắc hành động, không có

hệ thống chuẩn mực, giá trị và sự duy trì, kiểm soát việc thực hiện các kỷ cương, quy tắc đó thì khó giữ được sự tồn tại và phát triển ổn định Như vậy, có thể hiểu một cách đầy đủ, thiết chế là hệ thống các cơ quan, tổ chức những quy chế, những chuẩn mực, quy tắc xử sự được mọi người trong xã hội cho là đúng (được lựa chọn, tổng hợp, nghiên cứu xây dựng thành hệ thống pháp luật), là cơ sở để định hướng hành vi của con người trong xã hội và hệ thống cơ sở vật chất, nguồn lực, con người

để bảo đảm thực thi17

Thực thi pháp luật được hiểu chung nhất là hoạt động thực hiện và thi hành pháp luật Theo nghĩa hẹp, thực thi pháp luật chỉ là hoạt động của riêng cơ quan quản lý nhà nước trong việc áp dụng, thi hành pháp luật

Từ đó có thể rút ra, thiết chế thực thi pháp luật là hệ thống các cơ quan, tổ chức

có chức năng chủ yếu trong việc áp dụng và thi hành pháp luật

Trang 25

http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:SOL7LCFQspsJ:tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-1.2.1.2 Vai trò của các thiết chế thực thi pháp luật

Khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, các thiết chế thực thi pháp luật có vai trò như sau:

Thứ nhất, các thiết chế thực thi pháp luật có vai trò hiện thực hóa những yêu

cầu, đòi hỏi của pháp luật và của xã hội thông qua việc triển khai, tổ chức thực hiện chính sách và pháp luật

Thứ hai, các thiết chế thực thi pháp luật có vai trò quan trọng trong việc đảm

bảo cho pháp luật được tôn trọng, đồng thời góp phần nâng cao kiến thức về pháp luật cho người dân và nâng cao ý thức tự giác của các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật

Thứ ba, các thiết chế thực thi pháp luật góp phần nâng cao kiến thức pháp luật

cho người dân thông qua việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các quy định cũng như tinh thần cơ bản nhất của pháp luật

Thứ tư, các thiết chế thực thi pháp luật còn phát huy vai trò qua việc tiến hành

nhiều hoạt động như: thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin, học hỏi kinh nghiệm về hoạt động thực thi pháp luậtcủa các quốc gia có nền kinh tế phát triển

1.2.2 Khái quát chung về Các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

1.2.2.1 Khái niệm về các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

Ở Việt Nam, pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm là một lĩnh vực pháp luật còn khá mới mẻ không chỉ đối với người tiêu dùng mà còn mới đối với ngay

cả các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Vì vậy quan niệm về thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm hầu như chưa được đề cập một cách có

hệ thống trong các sách, báo và các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý ở nước ta

Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, Thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến

trách nhiệm sản phẩm là các cơ quan, tổ chức có chức năng chủ yếu là đưa pháp luật

Trang 26

liên quan đến trách nhiệm sản phẩm vào cuộc sống Theo đó, thiết chế thực thi pháp

luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm gồm 3 nhóm cơ quan, tổ chức chính sau:

- Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước: Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước về thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm Một số quốc gia có cơ quan nhà nước về thực thi PLTNSP trực thuộc Bộ (Trung Quốc, Hàn Quốc, Pháp, Canada, Singapore, ) một số quốc gia có cơ quan nhà nước thực thi PLTNSP trực thuộc Chính Phủ (Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ ); một số quốc gia

có cơ quan nhà nước thực thi PLTNSP trực thuộc Quốc hội (Hoa Kỳ, Australia)

- Toà án: Toà án là cơ quan tài phán, trong nhiệm vụ thực thi PLTNSP sẽ giải quyết những tranh chấp liên quan đến vấn đề trách nhiệm sản phẩm Các tranh chấp về trách nhiệm sản phẩm có thể là những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng giữa các bên hoặc cũng có thể là những tranh chấp phát sinh từ mối quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

- Trọng tài: tương tự toà án, trọng tài là cơ quan tài phán có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh Tuy nhiên, trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng nói chung, các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm sản phẩm nói chung, giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài vẫn chưa phải là phương thức phổ biến, điều này bắt nguồn

từ quy định của pháp luật, khi yêu cầu thỏa thuận trọng tài trong vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng bắt buộc phải được xác lập trước khi hợp đồng giữa các bên được giao kết, chứ không thừa nhận giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài sau khi tranh chấp đã xảy ra

- Hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là những tổ chức xã hội thành lập theo quy định của pháp luật và hoạt động theo điều lệ được tham gia hoạt động bảo vệ người tiêu dùng Hầu hết, hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có những nhiệm vụ: Hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn người tiêu dùng khi có yêu cầu; Đại diện người tiêu dùng khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng; Cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông tin về hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; Độc lập khảo sát, thử nghiệm; công bố kết quả khảo sát, thử nghiệm chất lượng hàng hóa, dịch vụ do mình thực hiện; thông tin, cảnh báo cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ và chịu trách

Trang 27

nhiệm trước pháp luật về việc thông tin, cảnh báo của mình; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Tham gia xây dựng pháp luật, chủ trương, chính sách, phương hướng, kế hoạch và biện pháp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Thực hiện nhiệm vụ được cơ quan nhà nước giao; Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức tiêu dùng

Quan niệm về hệ thống thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm này đã xác định được những chủ thể cơ bản trong guồng máy thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm hiện nay ở nước ta Mặc dù đây cũng chỉ là một quan niệm mới về thiết chế thực thi pháp luật trách nhiệm sản phẩm ở nước ta và trong thời gian tới vẫn cần có sự nghiên cứu và nhìn nhận toàn diện hơn nhưng có thể thấy việc hiểu các thiết chế theo quan niệm này cũng đã phần nào đáp ứng được những đòi hỏi của thực tế hiện nay trong việc phân công nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan,

tổ chức trong việc hiện thực hóa các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm trong đời sống hàng ngày18

1.2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

Lịch sử hình thành và phát triển của các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm phát triển song song cũng với lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về lĩnh vực này Các thiết chế này được phân bổ theo hệ thống hình chóp (hệ thống các cơ quan thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm được tổ chức thành hệ thống với một cơ quan dạng Ủy ban hoặc Hội đồng trực thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội) hoặc hệ thống các cơ quan hạt nhân (cơ quan có chuyên môn thực thi trách nhiệm sản phẩm là một cơ quan thuộc Bộ Tại các nước này, thông thường cơ quan thực thi trách nhiệm sản phẩm được thành lập dưới dạng Cục hoặc Vụ thuộc các bộ có chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, thương mại và công nghiệp)19

18Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, link truy cập

aspx#.W_BOjK2B1-U truy cập ngày 10/10/2018

http://www.luathongthai.com/info/7/24/1282/Phap-luat-bao-ve-quyen-loi-nguoi-tieu-dung-o-Viet-Nam-19Cục Quản lý Cạnh Tranh – Bộ Công thương, Nghiên cứu Thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Thực

trạng Việt Nam, kinh nghiệm Quốc tế và định hướng hoàn thiện, tr.13-15

Trang 28

Sơ đồ 1.1: Các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm

sản phẩm theo hệ thống hình chóp

Nguồn: Cục Quản lý Cạnh tranh – Bộ Công thương, Nghiên cứu chuyên đề: Thiết chế bảo vệ người tiêu dùng: Thực trạng Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và định

hướng hoàn thiện, tr 14

Sơ đồ 1.2:Các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

theo hệ thống các cơ quan hạt nhân

Nguồn: Cục Quản lý Cạnh tranh – Bộ Công thương, Nghiên cứu chuyên đề: Thiết chế bảo vệ người tiêu dùng: Thực trạng Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và định hướng hoàn thiện, tr 15

Hoa Kỳ là một trong những điển hình thành công về thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm do có hàng trăm năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này Để đảm bảo thực thi hệ thống luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, Chính phủ Hoa Kỳ đã thông qua hàng loạt các biện pháp về mặt tổ chức và pháp luật Thiết lập hệ thống đa tổ chức gồm cả các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội

Cơ quan quản lý nhà nước về thực thi trách nhiệm sản phẩm

Các bộ ngành chuyên môn, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội

Uỷ ban Các bộ ngành chuyên môn

Chính quyền địa phương

Các tổ chức xã hội

Trang 29

để thực thi trách nhiệm sản phẩm ở nhiều cấp khác nhau (cấp Bang và cấp Liên bang) Trong các tổ chức đó, Uỷ ban thương mại liên bang Hoa Kỳ(Federal Trade Commission - USFTC) là cơ quan có vai trò chủ đạo trong việc định hướng và thực thi pháp luật trách nhiệm sản phẩm trên toàn quốc USFTC được thành lập vào năm

1914 Pháp là một trong số ít các quốc gia được coi là có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về bảo vệ người tiêu dùng do vấn đề này được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ cũng như cộng đồng xã hội Ở Pháp có rất nhiều cơ quan liên quan đến hoạt động bảo vệ người tiêu dùng nói riêng và thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm như Tổng cục Cạnh tranh, Tiêu dùng và Trấn áp gian lận (DGCCRF), Viện tiêu dùng quốc gia (INC) và một số tổ chức xã hội, Hiệp hội người tiêu dùng cấp Quốc gia và các cấp địa phương Hầu như mỗi tổ chức đều có cơ quan ngôn luận riêng của mình, do đó họ có thể tạo một sức ép lớn đối với các nhà kinh doanh sản xuất, để người sản xuất chú trọng trong vấn đề trách nhiệm sản phẩm

Nhật Bản là điển hình của mô hình quốc gia có nhiều cơ quan cùng thực hiện chức năng về thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm Vấn đề trách nhiệm sản phẩm bắt đầu được quan tâm tại Nhật Bản từ năm 1950, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ và xuất hiện ngày càng nhiều vụ việc gây thiệt hại cho người tiêu dùng do lỗi của hàng hoá cũng như của doanh nghiệp Theo thời gian, mối quan tâm của Chính phủ Nhật Bản về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng nói chung

và vấn đề trách nhiệm sản phẩm nói riêng được tăng lên rõ rệt Giữa năm 1960, một

số cơ quan bảo vệ người tiêu dùng đã được xây dựng nhằm xử lý những hành vi gây thiệt hại tới lợi ích người tiêu dùng trong nhiều lĩnh vực như: Cục chính sách chất lượng cuộc sống được thành lập trong Cơ quan kinh tế kế hoạch năm 1965, Bộ Ngoại thương và Công nghiệp và Bộ Nông - Lâm - Ngư nghiệp cũng thành lập Ban Bảo vệ người tiêu dùng năm 1964 Tuy nhiên trong thời gian đầu, những cơ quan này vẫn còn nhỏ, manh mún và chưa thành hệ thống Cho đến nay, sau thời gian dài với rất nhiều sự thay đổi theo cả hệ thống thể chế Nhật Bản cũng như sự đa dạng của hàng hoá, sản phẩm và dịch vụ, Nhật Bản đã xây dựng một hệ thống các cơ quan thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm với một cơ chế, cấu

Trang 30

trúc khá chặt chẽ đảm bảo nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng từ khâu: xây dựng chính sách, giám sát, thực thi và trên phạm vi toàn quốc gia

Tại Thái Lan, Các cơ quan thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm Thái Lan nằm dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ Và những cơ quan này cũng đồng thời là cơ quan điều tiết ngành Ủy ban Bảo vệ người tiêu dùng (Consumer Protection Board – CPB) bao gồm Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch, với các thành viên khác gồm Tổng thư ký cho Thủ tướng chính phủ, Thư kí thường trực của Văn phòng thủ tướng, Thư ký thường trực của Bộ Nông Nghiệp và Hợp tác xã, Thư ký thường trực của Bộ Thương mại, Bộ Nội vụ, Bộ Công nghiệp, Bộ Giao thông vận tải, Tổng thư ký Ủy ban Thực phẩm và Dược phẩm, tám thành viên có đủ điều kiện được bổ nhiệm bởi Hội đồng Bộ trưởng, Tổng thư ký của Văn phòng Ủy ban Bảo vệ người tiêu dùng Nhiệm kỳ của các thành viên này là 3 năm

và có thể được tái bổ nhiệm

1.2.2.3 Các yếu tố đánh giá năng lực của các các thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm, lẽ hiển nhiên không tự thân đi vào cuộc sống,

nó phải được thực thi thông qua một hệ thống các thiết chế nhất định Trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về trách nhiệm sản phẩm, vấn đề năng lực của các thiết chế thực thi luôn là một nội dung trọng tâm Thông thường, hệ thống thiết chế thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm bao gồm các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền có nhiệm vụ tổ chức thực hiện

và áp dụng pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng Ở Việt Nam, đó là các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tư pháp và tổ chức xã hội mà trong đó các hội bảo vệ người tiêu dùng là trọng tâm Mỗi loại thiết chế có những đặc thù, không chỉ ở chức năng, thẩm quyền mà còn là phương thức thực thi pháp luật Nếu cơ quan quản lý nhà nước có nhiệm vụ là hướng dẫn, điều hành và xử lý vi phạm, cơ quan tư pháp

và trọng tài xét xử, giải quyết tranh chấp thì các tổ chức xã hội chủ yếu làm nhiệm

vụ tư vấn, hướng dẫn và hòa giải các tranh chấp các xung đột liên quan đến vấn đề trách nhiệm sản phẩm Các tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng, thực tế chỉ là chủ

Trang 31

thể có tính chất hỗ trợ cho việc thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm bởi chúng không được quyền quyết định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của nhà sản xuất và các bên liên quan

Nghiên cứu năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật có nghĩa là xác định chúng có thể thực hiện được các chức năng và nhiệm vụ mà pháp luật quy định hay không Thông qua việc tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật, các thiết chế này, góp phần ổn định trật tự xã hội, tạo lập thói quen tôn trọng pháp luật của các chủ thể có liên quan Từ nhận thức chung nói trên, có thể nhận định một cách vắn tắt năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm là khả năng thực thi những chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật trách nhiệm sản phẩm quy định cũng như những kỳ vọng của xã hội đối các thiết chế đó Đánh giá hay xác định

năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật là việc xác định năng lực hiện tại của

nó trên cơ sở đối chiếu với những mục tiêu hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của chúng có phù hợp hay không Theo thông lệ về phát triển và đánh giá năng lực của

Tổ chức Chương trình Phát triển của Liên Hợp quốc – UNDP, thông thường, năng lực của một thiết chế thường được xác định trên 3 nhóm chỉ số chính: Những chỉ số năng lực thể chế (institutional capacity indicators); Những chỉ số năng lực tạo lập môi trường thuận lợi (Enabling Environment Capacity Indicators); Những chỉ số kết quả thực hiện (Result Indicators) Các chỉ số này nhằm xác định thiết chế có năng

lực hay không chứ không phải nhằm đánh giá hoạt động nâng cao năng lực thiết

chế có đạt kết quả hay không20

(i) Nhóm chỉ số năng lực thể chế là một khái niệm tương đối mở, được xác

định mơ hồ Theo cách hiểu phổ biến nhất là khả năng của các cơ quan hoàn thành chức năng theo pháp luật của mình21 Đây là đại lượng bao gồm các yếu tố những

chức năng, nhiệm vụ mà thiết chế đó nên có thẩm quyền để thực hiện, đồng thời nó bao gồm cả những điều kiện nhân lực, tài nguyên vật lực và một cấu trúc bộ máy

20Ngô Vĩnh Bạch Dương, Tiêu chí xác định năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu

dùng và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của các thiết chế đó, Kỷ yếu Hội thảo Tăng cường năng lực thiết chế thực thi

pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam và kinh nghiệm của Đức, 3/2015, tr.31-46

21Nguyễn Sĩ Dũng, Năng lực thể chế, Người đại biểu nhân dân, tháng 1/2006

Trang 32

thích hợp để đạt được mục đích của nó Nói chung, tương đối khó khăn để xác định đâu là yếu tố quan trọng nhất của năng lực thể chế Có thể một tổ chức được xây dựng hoàn hảo theo những mô hình hiện đại của thế giới nhưng không thể vận hành hiệu quả bởi những yếu tố pháp luật và thẩm quyền Ngược lại, cũng có thể một hệ thống pháp luật được thiết kế tốt nhưng các thiết chế thực thi không thể được thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, đôi khi chỉ vì thiếu kinh phí hoạt động Chính vì vậy, việc đánh giá năng lực thể chế thường được dựa theo các tiêu chí, không chỉ là các chỉ tiêu về cơ sở vật chất hay thẩm quyền mạnh, mà còn phải tính đến số lượng, chất lượng nhân sự, quy trình kiểm soát công việc và năng lực chuyên môn của từng nhân viên cũng như cả tổ chức Tuy có những đặc thù nhưng các nhóm chỉ số này

có thể áp dụng chung cho cả cơ quan quản lý, cơ quan tư pháp và các tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng

(ii) Nhóm chỉ số tạo môi trường thuận lợi (Enabling Environment) được nhìn nhận từ nhiều góc độ:

- Đó là nơi làm việc thuận tiện nhưng đầy trách nhiệm và hiệu quả đối với nhân viên của cơ quan, tổ chức Sự thuận lợi không chỉ là về cơ sở vật chất như phương tiện làm việc của nhân viên, bài trí văn phòng hợp lý hay có trang thiết bị dành riêng cho nhân viên là người khuyết tật (ví dụ: xe lăn, lối đi cho xe lăn) mà còn là các quy định mình bạch về lề thói làm việc, phân công, phối hợp và quan hệ trách nhiệm giữa các bộ phận, giữa nhân viên và lãnh đạo tạo cho nhân viên và các bộ phận có thể phát huy tốt nhất năng lực của mình vào hoạt động chung của cơ quan, tổ chức Từ góc độ này, có thể thấy môi trường thuận lợi là một phần của

năng lực thể chế đã trình bày ở trên;

- Đó là một đối tượng dễ tiếp cận đối với truyền thông và các hoạt động giám sát xã hội Trong một xã hội hiện đại, tự do thông tin và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin luôn được đề cao và bảo đảm thực thi Đó là điều kiện để người dân có thể giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, thực thể xã hội nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các thiết chế đó

Đó là nơi mà người dân sử dụng dịch vụ công một cách thuận lợi và rẻ tiền

Trang 33

Sự thuận lợi đối với người dân hết sức đa dạng, từ quy trình một cửa, nơi công bố thủ tục hành chính, nơi chờ kết quả thích hợp cho đến thái độ tôn trọng, tính trách nhiệm, khẩn trương của cán bộ tiếp dân, thời gian chờ đợi ngắn, lệ phí thủ tục vừa phải

Một thiết chế được coi là hiệu quả thì luôn phải tạo ra một môi trường thuận lợi (creating an enabling environment) đối với người sử dụng dịch vụ công, người giám sát dịch vụ công và chính những nhân viên góp phần tạo ra dịch vụ công đó Thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng cũng rất cần thiết phải có những môi

trường thuận lợi đu ̛ợc tạo ra bởi các thiết chế thực thi lĩnh vực pháp luật này Môi

trường thuận lợi, tùy thuộc vào tính chất của từng loại thiết chế mà có những đặc thù

(iii) Nhóm chỉ số kết quả thực hiện: Chỉ số kết quả thực hiện (performance

result indicators) hay còn đươc gọi là chỉ số chuyên môn (thematic indicators) cho phép đánh giá thực tế các thiết chế hoạt động trên thực tế trên cơ sở so sánh với những mục tiêu đề ra Đối với hoạt động thực thi pháp luật, việc đặt ra những chỉ tiêu bằng con số cụ thể là không khả thi bởi lẽ chúng hoàn toàn phụ thuộc vào số vụ việc phát sinh trong kỳ đánh giá Phổ biến nhất là dựa trên tỷ lệ số vụ việc, nhiệm

vụ được giải quyết trên tổng số vụ việc, nhiệm vụ phát sinh trong kỳ đánh giá Ngoài ra, mức độ hài lòng của người thụ hưởng dịch vụ công cũng được xem xét là một chỉ số định tính quan trọng

1.2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm

Yêu cầu của việc xác định hay đánh giá năng lực của các thiết chế luôn đòi hỏi tính chính xác và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đó Tính chính xác của hoạt động đánh giá, tuy vậy, lại phụ thuộc vào nhiều các yếu tố khác nhau

Về cơ bản, việc xác định năng lực của các thiết chế bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau22:

22Ngô Vĩnh Bạch Dương, Tiêu chí xác định năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu

dùng và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của các thiết chế đó, Kỷ yếu Hội thảo Tăng cường năng lực thiết chế thực thi

pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam và kinh nghiệm của Đức, 3/2015, tr.46-47

Trang 34

- Sự khác biệt trong điều kiện hoạt động của các thiết chế và những đặc thù của các ngành

- Dữ liệu điều tra cơ sở cần được chính xác và mới nhất,

- Các chỉ số dùng để đánh giá được xây dựng một cách khoa học

- Các cơ quan, tổ chức tại các địa bàn khác nhau và những đặc thù của các ngành khác nhau làm cho một công cụ đánh giá có thể rất chính xác với địa bàn, ngành này nhưng lại khó đo đạc, xác định năng lực thực sự của các cơ quan thuộc địa bàn, ngành khác Ví dụ, khi xác định tỉ lệ luân chuyển nhân viên, rõ ràng đặc thù của tư pháp làm cho nó ổn định hơn rất nhiều các ngành khác

Cũng tương tự như vậy, độc lập về tổ chức và tài chính là bắt buộc đối với tổ chức xã hội nhưng không thể đòi hỏi điều đó tại các cơ quan nhà nước

Khi các thiết chế cùng hệ thống nhưng hoạt động tại các địa phương khác nhau, trong rất nhiều trường hợp, kết quả xác định năng lực phản ánh không chính xác thực tế các cơ quan đó Chẳng hạn: tại địa bàn cửa khẩu, cơ quan quản lý thị trường và kiểm dịch phải tiến hành kiểm tra nhiều loại hàng tiêu dùng với số lượng lớn hơn tại các địa phương khác, hiện tượng quá tải rất dễ xảy ra và vì thế tỷ lệ vụ việc được xử lý trên tổng số vụ được phát hiện nhiều khi là rất thấp Ngược lại tại những vùng ít giao dịch, tỷ lệ này lại có thể rất cao, thậm chí là 100% nhưng số lượng chỉ là một vài vụ lẻ tẻ

Phục vụ cho việc xây dựng các chỉ số, dữ liệu cơ sở (baseline data) là hết sức quan trọng bởi nó cho phép chỉ ra hiện trạng tổ chức, nhân sự, hiện trạng thực thi để

có thể đặt ra các định mức, cấp độ trung bình làm giá trị đối chiếu, những điển hình thành công để có thể nhân rộng Điều tra cơ sở cũng cho phép đánh giá sơ bộ năng lực của các thiết chế Đáng lưu ý là, đánh giá năng lực nhằm tìm kiếm những giải pháp để nâng cao năng lực và hướng tới chất lượng thực thi pháp luật được cải thiện chứ không phải đánh giá chỉ để xếp hạng hay thuần túy nhận thức thực trạng Dữ liệu cơ sở không chính xác, quá cũ sẽ không cho phép đặt ra những hướng tác động đúng đắn để cải thiện tình hình Hoạt động đánh giá năng lực phụ thuộc vào việc

Trang 35

tạo lập công cụ đánh giá - tức các bộ chỉ số Không có bộ chỉ số phù hợp để đánh giá cũng tương tự như việc đo chiều dài mà không có thước Dựa vào kết quả điều tra cơ sở, người đánh giá sử dụng khung lý thuyết để tạo ra bộ chỉ số cho từng ngành nghề, lĩnh vực và loại hình thiết chế cho các kỳ đánh giá tiếp theo

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Tổng quan về pháp luậtliên quan đến trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam hiện nay, chế định trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất đối với thiệt hại do khuyết tật do sản phẩm gây ra vẫn còn là vấn đề mới mẻ Mặc dù Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã bước đầu có những quy định về vấn đề này (khoản 3 Điều 3, các điều 22, 23, 24) nhưng nhìn chung vẫn còn đơn giản và chưa định hình rõ ràng Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tuy

ít nhiều đề cập nhưng chưa trực diện hoặc còn quy định khác nhau Cùng với một

số nguyên nhân khác, bất cập về quy định của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm tạo nên một thực trạng quyền lợi của người tiêu dùng ở mức báo động Theo đa số nghiên cứu trên thế giới, thì bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng chế định trách nhiệm sản phẩm là một lựa chọn khá tối ưu, mặc dù vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành không quy định về trách nhiệm sản phẩm Trách nhiệm sản phẩm bắt nguồn từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không dựa trên yếu tố lỗi Việc không dựa trên yếu tố lỗi là điểm đặc biệt, nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng một cách có hiệu quả

Có thể nhận thấy ở giai đoạn trước năm 2010, mặc dù đã có những yếu tố nội dung nền tảng nhưng pháp luật Việt Nam vẫn chưa thực sự định hình chính thức chế định trách nhiệm sản phẩm (chưa quy định rõ khái niệm trách nhiệm sản phẩm, sản phẩm khuyết tật, nguyên tắc áp dụng trách nhiệm sản phẩm, thu hồi sản phẩm

có khuyết tật…) Điều này đã dẫn đến thực tế các vi phạm về trách nhiệm sản phẩm không có đủ cơ sở để xử lý, áp đặt trách nhiệm cho các doanh nghiệp

Đứng trước yêu cầu hoàn thiện cơ sở pháp lý bảo vệ người tiêu dùng trong bối cảnh mới, căn cứ Nghị quyết số 27/2008/NQ-QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009, Chính phủ đã giao cho Bộ Công thương chủ trì xây dựng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trang 37

Bộ Công thương đã thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập xây dựng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng với các thành viên là đại diện của các cơ quan, Bộ, ngành, tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức xã hội; tổ chức đánh giá tác động kinh tế xã hội; lấy ý kiến công chúng, chuyên gia và các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các đối tượng chịu tác động của dự án Luật Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII, ngày 17 tháng 11 năm 2010, Quốc hội đã nhất trí biểu quyết thông qua

Dự án Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và đã được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam công bố tại Lệnh số 16/2010/L-CTN ngày 30 tháng 11 năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2011) Một điều đáng quan tâm là Luật này đã có những quy định liên quan đến trách nhiệm sản phẩm (khoản 3 điều 3, điều 22, 23, 24) Thực tế, trong quá trình soạn thảo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ở những dự thảo đầu tiên thì chế định trách nhiệm được thiết kế thành một mục riêng Tuy nhiên, đến

dự thảo cuối cùng được thông qua thì các quy định về trách nhiệm sản phẩm lại khá rải rác, chưa hình thành nên chế định trách nhiệm sản phẩm một cách riêng biệt

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã xác định khái niệm hàng hóa có khuyết tật, theo đó khái niệm này được hiểu là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm: (i) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; (ii) Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ; (iii) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng Như vậy, có thể thấy hiện nay pháp luật Việt Nam chỉ áp dụng trách nhiệm sản phẩm đối với hàng hóa, không áp dụng đối với dịch vụ Bên cạnh đó, các dạng hàng hóa khuyết tật được xác định là phù hợp với pháp luật của các nước trên thế giới

Ngoài ra, Luật cũng dành 3 điều tại Chương II để quy định về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật (điều 22), trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng

Trang 38

hóa có khuyết tật (điều 23) và miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra (điều 24) Cụ thể các quy định này như sau:

– Về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật:Khi phát hiện hàng hóa có

khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa có trách nhiệm kịp thời

tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngừng việc cung cấp hàng hóa có khuyết tật

trên thị trường; thông báo công khai về hàng hóa có khuyết tật và việc thu hồi hàng

hóa đó ít nhất 05 số liên tiếp trên báo ngày hoặc 05 ngày liên tiếp trên đài phát

thanh, truyền hình tại địa phương mà hàng hóa đó được lưu thông (với các nội dung: mô tả hàng hóa phải thu hồi; lý do thu hồi hàng hóa và cảnh báo nguy cơ thiệt hại do khuyết tật của hàng hóa gây ra; thời gian, địa điểm, phương thức thu hồi hàng hóa; thời gian, phương thức khắc phục khuyết tật của hàng hóa; các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quá trình thu hồi hàng

hóa); thực hiện việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật đúng nội dung đã thông báo công khai và chịu các chi phí phát sinh trong quá trình thu hồi; báo cáo kết quả cho

cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp tỉnh nơi thực hiện thu hồi hàng hóa có khuyết tật sau khi hoàn thành việc thu hồi và nếu trường

hợp việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật được tiến hành trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên thì báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở trung ương

– Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra:Tổ

chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp miễn trách nhiệm được quy định tại Điều 24 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa ở đây được hiểu bao gồm: Tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa; Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa; Tổ chức, cá nhân gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là

tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa; Tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa có khuyết tật cho người tiêu dùng trong trường hợp không xác định được

Trang 39

tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định Bên cạnh đó, Điều

23 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng quy định việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự

– Về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra:Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa quy định tại Điều 23 của Luật Bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi chứng minh được khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho người tiêu dùng Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ ghi nhận duy nhất một trường hợp được miễn trách nhiệm bồi thường liên quan đến hàng hóa có khuyết tật

và trách nhiệm chứng minh này do tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện

Quy định về vấn đề trách nhiệm sản phẩm tại 3 điều luật nói trên cho thấy các vấn đề được đưa ra trong Luật đã có sự chi tiết và phù hợp nhất định với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới Bên cạnh đó, một điểm sáng và tiến bộ của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 là việc ghi nhận nguyên lí trách

nhiệm nghiêm ngặt tại khoản 1 điều 23 (“Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có

trách nhiệm bồi thường thiệt hại…kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật…”) So với nhiều nước trong khu vực

và thế giới, việc thừa nhận nguyên tắc này được xem là một bước tiến tích cực trong nhận thức về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam thời gian qua Tuy vậy, Luật cũng chưa có quy định cách thức để xác định hàng hóa có khuyết tật, số lượng trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường đối với hậu quả do khuyết tật của hàng hóa gây ra còn quá ít ỏi

Ngoài các quy định mới về trách nhiệm sản phẩm trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 thì các quy định khác trong các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007, Luật Điện lực năm 2018, Luật Dược năm 2016, Luật An toàn thực phẩm năm 2010

có các quy định liên quan đến trách nhiệm sản phẩm Chính điều này đã tạo nên một khung pháp lý khá đa dạng liên quan đến trách nhiệm sản phẩm Tuy nhiên, những cơ sở này vẫn là chưa đầy đủ, chưa định hình một chế định trách nhiệm sản

Trang 40

phẩm độc lập và hiệu lực bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng cũng còn rất yếu Thực tế này đã đặt ra nhiều yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hơn nữa hệ thống pháp luật nước ta trong thời gian tới

2.2 Thực tiễn năng lực các thiết thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm

2.2.1 Thực tiễn năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước

Các cơ quan quản lý nhà nước về thực thi pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm gồm có: Bộ Công thương, Uỷ ban nhân dân các cấp

2.2.1.1 Bộ công thương

Bộ Công Thương là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong hoạt động quản lý nhà nước về thực thi pháp luậtquan đến trách nhiệm sản phẩm - một nội dung quan trọng của hoạt động bảo vệ người tiêu dùng Điều này đã được quy định rất rõ trong các văn bản quy phạn pháp luật, cụ thể:

Khoản 2, Điều 48 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: “BộCông thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo

vệquyền lợi người tiêu dùng”

Điều 34 Nghị định của Chính phủ số 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm

2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng quy định: “BộCông Thương là cơquan quản lý nhà nước về bảo vệquyền lợi người tiêu dùng ở trung ương”

Khoản 21, Điều 2 Nghị định số 95/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 2012 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương cũng quy định nhiệm vụ của Bộ Công Thương trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp về thực thi pháp luật TNSP tại Bộ Công thương là Cục quản lý cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng23 Như vậy, Bộ Công

23 Theo Nghị định 98/2017/NĐ-CP, Cục Quản lý cạnh tranh tách thành 02 đơn vị là: Cục Cạnh tranh và Bảo

vệ người tiêu dùng và Cục Phòng vệ thương mại

Ngày đăng: 18/09/2020, 08:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w