Phân tích, làm rõ quy định về vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp theo CISG, thực tiễn của vi phạm hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo CISG của tòa án, trọng tài một số quốc g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
VI PHẠM CƠ BẢN DO HÀNG HOÁ KHÔNG PHÙ HỢP THEO CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VÀ KHUYẾN NGHỊ
CHO VIỆT NAM
Ngành: LUẬT KINH TẾ
TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO
Hà Nội – năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp theo Công ước Viên
năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và
khuyến nghị cho Việt Nam
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107
Họ và tên học viên: Trần Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn khoá hoc: PGS,TS Nguyễn Minh Hằng
Hà Nội – năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn được trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Phương Thảo
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CISG, VI PHẠM CƠ BẢN DO HÀNG HOÁ KHÔNG PHÙ HỢP THEO CISG 7
1.1 Khái quát chung về CISG 7
1.2 Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 9
1.2.1 Khái niệm Hợp đồng MBHHQT 9
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12
1.2.2.1 Hợp đồng MBHHQT là hợp đồng thương mại có tính quốc tế 12
1.2.2.2 Mục đích của hợp đồng MBHHQT là sinh lợi 14
1.3 Khái quát chung về vi phạm cơ bản hợp đồng theo CISG 15
1.3.1 Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 15
1.3.1.1 Khái niệm vi phạm hợp đồng 15
1.3.1.2 Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng MBHHQT 16
1.3.2 Đặc điểm của vi phạm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 19 1.4 Khái quát chung về tính phù hợp với hợp đồng của hàng hoá 22
1.4.1 Tính phù hợp của hàng hoá 22
1.4.2 Căn cứ để xác định mức độ không phù hợp của hàng hóa cấu thành một vi phạm cơ bản 24
1.4.2.1 Sự thỏa thuận giữa các bên về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp 24
Trang 51.4.2.2 Mức độ nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng do
hàng hoá không phù hợp 26
1.4.2.3 Hàng hóa không phù hợp với hợp đồng có khả năng thương mại hay không 27
1.4.2.4 Hàng hóa không phù hợp với hợp đồng có khả năng “sử dụng được” hay không 28
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ VI PHẠM CƠ BẢN DO HÀNG HOÁ KHÔNG PHÙ HỢP THEO CISG 30
2.1 Các trường hợp hàng hoá không phù hợp cấu thành vi phạm cơ bản 30
2.1.1 Hàng hóa không phù hợp với số lượng, phẩm chất và mô tả như hợp đồng .30
2.1.2 Hàng hóa không được đóng bao bì theo cách thông thường như những hàng hoá cùng loại, hoặc nếu không có cách thông thường, thì bằng cách thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó 32
2.1.3 Hàng hóa không phù hợp với mục đích sử dụng 33
2.1.4 Hàng hóa không có tính chất của hàng mẫu mà người bán đã cung cấp cho người mua 35
2.2 Các chế tài áp dụng cho bên bán trong trường hợp vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp theo CISG 36
2.2.1 Phạm vi trách nhiệm của bên Bán trong trường hợp vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp 36
2.2.2 Các chế tài áp dụng trong trường hợp hàng hoá không phù hợp 38
2.2.2.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng 38
2.2.2.2 Bồi thường thiệt hại 42
2.2.2.3 Huỷ hợp đồng 44
2.3 Một số giới hạn của Bên Mua trong việc áp dụng các chế tài trong trường hợp hàng hoá không phù hợp 47
Trang 62.3.1 Trường hợp người mua không khiếu nại, hoặc không khiếu nại kịp
thời về hàng hoá không phù hợp 47
2.3.1.1 Kiểm định chất lượng hàng hoá 47
2.3.1.2 Hình thức và nội dung khiếu nại 49
2.3.1.3 Thời hạn khiếu nại 50
2.3.2 Trường hợp người mua mất quyền huỷ hợp đồng do không thông báo kịp thời 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VI PHẠM CƠ BẢN DO HÀNG HOÁ KHÔNG PHÙ HỢP VÀ KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM 54
3.1 Đánh giá các quy định và thực tiễn áp dụng quy định về vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp theo CISG 54
3.1.1 Đánh giá các quy định liên quan đến vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp theo CISG 54
3.1.2 Đánh giá thực tiễn áp dụng các chế tài do hàng hoá không phù hợp theo CISG 56
3.2 So sánh các quy định về vi phạm cơ bản do hàng hóa không phù hợp giữa pháp luật Việt Nam và CISG 58
3.2.1 Về khái niệm vi phạm cơ bản 58
3.2.2 Về vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp 59
3.2.3 Trách nhiệm do vi phạm cơ bản trong trường hợp hàng hoá không phù hợp 60
3.2.3.1 Buộc thực hiện hợp đồng 60
3.2.3.2 Bồi thường thiệt hại 61
3.2.3.3 Hủy bỏ hợp đồng 63
3.3 Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam có liên quan tới vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp 64
3.3.1 Sửa đổi khoản 13, Điều 3 Luật Thương mại 2005 về vi phạm cơ bản 64
Trang 73.3.2 Sửa đổi khoản 2 Điều 39 Luật thương mại 2005 về hàng hoá không phù hợp với hợp đồng 66 3.3.3 Sửa đổi các điều khoản liên quan đến chế tài áp dụng trong trường hợp hàng hoá không phù hợp 67
3.3.3.1 Sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 3 Điều 297 về buộc thực hiện đúng hợp đồng 67 3.3.3.2 Sửa đổi khoản 2 Điều 299 và Điều 312 68
3.4 Giải pháp nhằm hạn chế việc hàng hoá không phù hợp theo CISG cho doanh nghiệp 70
3.4.1 Đảm bảo hàng hoá phù hợp với hợp đồng trong các giao dịch mua bán hàng hoá quốc tế nói chung và các giao dịch trong khuôn khổ CISG nói riêng 70 3.4.2 Tăng cường trang bị kiến thức về pháp luật hợp đồng nói chung và các quy định của CISG nói riêng 71 3.4.3 Các bên thoả thuận cụ thể về tính phù hợp của hàng hoá và khả năng
áp dụng các chế tài có liên quan trong hợp đồng 74 3.4.4 Tạo điều kiện thiết lập giao dịch mới giữa các bên trên cơ sở hợp đồng
cũ đã bị huỷ 76 3.4.5 Kết hợp áp dụng các thói quen thương maị, tập quán thương mại, các quy phạm tư pháp quốc tế trong các giao dịch mua bán hàng hoá quốc tế 76
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 8TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN Tên luận văn thạc sĩ: Vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp theo Công
ước Viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Luận văn đã đạt đƣợc các kết quả chính nhƣ sau:
Người viết làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế, vi phạm cơ bản trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp
Phân tích, làm rõ quy định về vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp theo CISG, thực tiễn của vi phạm hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo CISG của tòa án, trọng tài một số quốc gia thành viên Công ước; các chế tài được áp dụng trong trường hợp hàng hoá không phù hợp và một số giới hạn của Bên mua trong việc áp dụng các chế tài trong trường hợp hàng hoá không phù hợp
Trên cơ sở phân tích, tác giả đánh giá các quy định và thực tiễn áp dụng các quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo Công ước Viên 1980, đồng thời so sánh các quy định của CISG và pháp luật Việt Nam (cụ thể
là Luật thương mại 2005), tác giả đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan của Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp Trên cơ sở đó, người viết đưa ra khuyến nghị cho các doanh nghiệp trong việc đàm phán, kí kết hợp đồng, đặc biệt là việc áp dụng các chế tài khi có sự
vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo CISG
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CISG Convention on Contracts for the
International Sale of Goods
Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp quốc về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế
CIETAC China International Economic and
Trade Arbitration Commission
Ủy ban trọng tài thương mại và kinh tế quốc tế Trung Quốc Hợp đồng
MBHHQT
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
PICC Principles of European Contract
Law
Những nguyên tắc Luật hợp đồng Châu Âu
PECL
Principles of European Contract Law
Những nguyên tắc Luật hợp đồng châu Âu
UNCITRAL
United Nations Commission on International Trade Law
Ủy ban về luật thương mại
quốc tế của Liên hợp quốc
UNIDROIT Insitut International pour
l`Unification des Droits Privé
Viện Thống nhất Tư pháp
Quốc tế
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 10 năm gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong đó nòng cốt là ngoại thương tiến bộ rõ rệt Các hợp đồng xuất nhập khẩu giữa các thương nhân Việt Nam và các thương nhân nước ngoài càng nhiều hơn về số lượng và lớn hơn về giá trị hợp đồng Theo xếp hạng của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng t vị trí 50 trong năm 2007 lên vị trí 26 trong năm 2016, nhập khẩu hàng hóa c ng tăng lên t vị trí thứ 41 trong năm 2007 lên vị trí 25 trong năm 2016 Trong năm 2017 lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam vượt mức 420 t ô la M (USD), trong đó xuất khẩu tăng trên 21 , mức tăng trưởng cao nhất kể t năm 2011 [1] Với tình hình mua bán hàng hoá quốc tế diễn ra nhộn nhịp như vậy, tính chất và quy mô của các giao dịch ngày càng đa dạng và phức tạp, rất nhiều các thương nhân Việt Nam gặp khó khăn trong việc tìm hiểu các quy định về mua bán hợp đồng quốc tế và thực tế đã gặp phải các trường hợp vi phạm cơ bản hợp đồng gây thiệt hại lớn về kinh tế và uy tín, quan trọng nhất là khiến cho mục đích khi giao kết hợp đồng lúc ban đầu không
được thực hiện
Việc Việt Nam gia nhập vào CISG của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG- Convention on Contracts for the International Sale of Goods, hay còn gọi là Công ước Viên) vào ngày 01/01/2017 đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi và dễ áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam trong giao kết và thực hiện hợp đồng, cho các cơ quan giải quyết tranh chấp của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng MBHHQT khi phải áp dụng quy định
về vi phạm cơ bản Tại iều 25 CISG quy định “Vi phạm hợp đồng do một bên gây
ra là cơ bản nếu vi phạm đó gây tổn hại cho bên kia đến mức tước đi đáng kể những
gì bên kia có quyền kỳ vọng từ hợp đồng, trừ khi bên vi phạm không tiên liệu được
và một người có lý trí cũng không tiên liệu được hậu quả đó nếu họ ở vào địa vị và
[1]Tổng cục Hải quan, uất nhập kh u hàng hóa của Việt Nam đạt mốc 4 tỷ USD,
https://www.customs.gov.vn/Lists/TinHoatDong/ViewDetails.aspx ID 26699 Category Thống 20kê 20 Hải 20quan, ngày cập nhật 9/12/2018
Trang 11hoàn cảnh tương tự” Trải qua hơn 30 năm tồn tại, thực tiễn giải quyết tranh chấp
về hợp đồng MBHHQT có liên quan đến vi phạm cơ bản hợp đồng, các tòa án và trọng tài tại các quốc gia thành viên CISG đã căn cứ vào t ng tình huống cụ thể, xác định có hay không có một sự vi phạm cơ bản hợp đồng để làm cơ sở áp dụng các chế tài theo CISG Một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến vi phạm cơ bản hợp đồng là do hàng hoá không phù hợp với hợp đồng
Vậy thế nào là hàng hoá không phù hợp với Hợp đồng Các chế tài áp dụng trong trường hợp hàng hoá không phù hợp là gì Các doanh nghiệp cần làm gì trong trường hợp hàng hoá không phù hợp ể trả lời được những câu hỏi này, cần phải có sự nghiên cứu những quy định về vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù
hợp trong CISG ó là lý do để học viên lựa chọn vấn đề “Vi phạm cơ bản do
hàng hoá không phù hợp theo Công ước Viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật
Kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, tính đến nay, chưa có công trình hay sách chuyên khảo nào nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể về vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp theo CISG Mặc dù vậy, các nghiên cứu đơn lẻ về vi phạm cơ bản hợp đồng trong đó có đề cập đến trường hợp hàng hoá không phù hợp c ng đã có, cụ thể:
Cuốn sách “1 1 Câu hỏi đáp về Công ước của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Nhà xuất bản Thanh niên, 2016 do tác giả Nguyễn Minh
Hằng chủ biên nhằm giải đáp, diễn giải các quy định của CISG, trong đó có đề cập tới quy định về vi phạm cơ bản và hàng hoá không phù hợp theo CISG
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Võ S Mạnh (2015) “Vi phạm cơ bản
hợp đồng theo quy định của CISG 198 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của pháp luật việt Nam”
Tác giả phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến các quy định về
vi phạm cơ bản hợp đồng trong CISG (có so sánh với pháp luật Việt Nam), có đề cập đến một phần nhỏ liên quan đến hàng hoá không phù hợp như là một trường hợp về vi phạm cơ bản
Trang 12Luận văn của tác giả Nguyễn Thanh Thoại (2013), Bồi thường thiệt hại do
hàng hóa, đề cập đến một chế tài áp dụng trong trường hợp hàng hoá không phù hợp
Ngoài ra các bài viết trên trang Công ước Viên 1980 (CISG) cho người Việt
Nam như: So sánh CISG và luật Việt Nam, Bàn về khái niệm vi phạm hợp đồng theo CISG của tác giả Võ S Mạnh…, cùng với các án lệ được dịch ra Tiếng
Việt là nguồn tài liệu hữu ích cho người viết tham khaỏ trong qúa trình nghiên cứu đề tài của mình
Như vậy, có thể thấy các công trình, bài viết của các tác giả ở Việt Nam chủ yếu đề cập và đến vấn đề về vi phạm cơ bản hợp đồng và các chế tài áp dụng trong trường hợp vi phạm cơ bản… Chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề về
vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo CISG trong mối quan
hệ với pháp luật Việt Nam về cùng vấn đề
Ở nước ngoài, c ng có một số công trình nghiên cứu về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp, tiêu biểu trong số đó là:
Cuốn sách của tác giả Benjamin K.Leisinger có nhan đề: “Fundamental
Breach considering Non-conformity of the goods” (Dịch ra tiếng Việt là Vi phạm
cơ bản hợp đồng – xem xét về tính không phù hợp của hàng hóa) được Nxb Sellier European Law Publishers xuất bản năm 2007, trong đó phân tích một số vụ tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ của các bên về giao hàng thiếu, giao hàng chậm, giao hàng kém chất lượng…với ý nghĩa nhấn mạnh vào tính chất không phù hợp của hàng hóa khi một bên vi phạm hợp đồng và coi tính không phù hợp của hàng hóa đến mức như thế nào thì sẽ cấu thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng
Bài viết “Fundamental Breach of Contract under the UN Sales Convention –
25 years of Article 25 CISG” (Dịch ra tiếng Việt là Vi phạm cơ bản hợp đồng theo
Công ước viên – 25 năm của iều 25 Công ước Viên), của tác giả Franco Ferrari đăng trên tạp chí 25 J.L Com 489 (năm 2006) Bài viết này đã phân tích khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên dưới góc độ xem xét mức độ của sự vi phạm hợp đồng, về mức độ của tổn hại với ý nghĩa là những điều kiện tiên quyết để xác định cái gọi là vi phạm cơ bản hợp đồng và khả năng mà người ta
có thể tiên liệu được về những hậu quả do sự vi phạm hợp đồng đó gây ra Bài viết
Trang 13này c ng xem xét hành vi vi phạm cơ bản hợp đồng t phía người bán trong những tình huống cụ thể như người bán giao hàng có khiếm khuyết, người bán giao chứng
t chậm hoặc giao chứng t không phù hợp với hợp đồng
Ngoài ra, các án lệ trên trang web chính thức của CISG http://www.cisg.law.pace.edu là nguồn tài liệu thực tế, hữu ích cho tác giả nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các quy định của CISG nói chung và vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp nói riêng trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến các quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo CISG (có so sánh với pháp luật Việt Nam, chủ yếu là Luật Thương mại 2005) mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp nhằm tạo sự phù hợp giữa pháp luật Việt Nam và CISG, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng, cho các cơ quan giải quyết tranh chấp của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng MBHHQT khi phải áp dụng quy định về vi phạm cơ bản do giao hàng không phù hợp
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
ể thực hiện mục tiêu nói trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng MBHHQT, vi phạm cơ bản trong hợp đồng MBHHQT và vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp
- Phân tích, làm rõ các quy định về vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp theo CISG (có so sánh với pháp luật Việt Nam); thực tiễn của vi phạm hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo CISG của tòa án, trọng tài một số quốc gia thành viên Công ước; các chế tài được áp dụng trong trường hợp hàng hoá không phù hợp và một số giới hạn của Bên mua trong việc áp dụng các chế tài trong trường hợp hàng hoá không phù hợp
Trang 14Trên cơ sở phân tích, tác giả đánh giá các quy định và thực tiễn áp dụng cá quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo CISG, đồng thời so sánh các quy định của CISG và pháp luật Việt Nam (cụ thể là Luật thương mại 2005), tác giả đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan của Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp, đồng thời đưa ra khuyến nghị để giúp các doanh nghiệp và cơ quan giải quyết tranh chấp áp dụng các chế tài khi có sự vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo CISG
4 Đối tượng và phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
ối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề liên quan đến vi phạm
cơ bản do hàng hoá không phù hợp, là các quy định của CISG và của pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp, về các chế tài được áp dụng khi có sự vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp ối tượng nghiên cứu của Luận văn còn bao gồm những án lệ, những vụ tranh chấp
c ng như thực tiễn xét xử của các tòa án và trọng tài của một số quốc gia là thành viên của CISG liên quan đến việc áp dụng các quy định của CISG về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp để giải quyết tranh chấp hợp đồng MBHHQT Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của Luận văn còn bao gồm cả việc phân tích những khó khăn trong việc áp dụng các quy định về vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp của pháp luật Việt Nam so với các quy định của CISG
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: ề tài luận văn giới hạn ở việc phân tích vi phạm cơ bản hợp
đồng do hàng hoá không phù hợp theo CISG trong mối quan hệ với khái niệm về
vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Về không gian: Luận văn phân tích thực tiễn và án lệ tòa án, trọng tài ở
một số nước đã gia nhập CISG
Trang 15- Về thời gian: Khi phân tích về những vấn đề phát sinh t thực tiễn áp dụng
CISG, Luận văn lấy số liệu t năm CISG có hiệu lực - năm 1988 cho đến nay
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu: tổng hợp và phân tích
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về phương diện lý luận, luận văn góp phần củng cố và hoàn thiện cơ sở lý luận về vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp trong pháp luật hợp đồng Việt Nam để các nhà lập pháp, các cơ quan có thẩm quyền, các cán bộ nghiên cứu, các nhà kinh doanh vận dụng trong quá trình thực hiện, giải quyết tranh chấp hay xây dựng và hoàn thiện pháp luật về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp
Về phương diện thực tiễn, những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp được đề xuất trong luận văn sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà lập pháp, cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp.Luận văn c ng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp Việt Nam khi soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồng MBHHQT nói riêng
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CISG, VI PHẠM CƠ BẢN DO HÀNG HOÁ KHÔNG PHÙ HỢP THEO CISG
1.1 Khái quát chung về CISG
CISG của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG- Convention on Contracts for the International Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) nhằm hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Sự ra đời của CISG về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế đã điều chỉnh các giao dịch chiếm khoảng 80 thương mại hàng hóa thế giới (Nguyễn Thị Hồng Trinh, 2018)
Công ước này được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm 1980 tại Hội nghị của Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế với sự có mặt của đại diện của khoảng 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế Theo thống kê của UNCITRAL, tính đến ngày 01/08/2018 đã có 91 quốc gia tham gia vào Công ước này và Việt Nam ra nhập Công ước vào ngày 01/01/2017
CISG gồm 101 iều, được chia làm 4 phần với các nội dung chính như sau:
Phần 1: Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1– 13)
Phần này quy định trường hợp nào CISG được áp dụng (t iều 1 đến iều 6), đồng thời nêu rõ nguyên tắc trong việc áp dụng CISG, nguyên tắc diễn giải các tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thức của hợp đồng Công ước c ng nhấn mạnh đến giá trị của tập quán trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 17về nội dung của chấp nhận chào hàng; khi nào và trong điều kiện nào, một chấp nhận chào hàng là có hiệu lực và cùng với chào hàng cấu thành hợp đồng; thời hạn
để chấp nhận, chấp nhận muộn; kéo dài thời hạn chấp nhận Ngoài ra, Công ước còn
có quy định về thu hồi chấp nhận chào hàng, thời điểm hợp đồng có hiệu lực
Phần 3: Mua bán hàng hóa (Điều 25 – 88)
Nội dung của phần 3 này là các vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện H Phần này được chia thành 5 chương với những nội dung cơ bản như sau:
“Chương I Những quy định chung”: bao gồm những quy định về các phạm
trù khác nhau như cách xác định “vi phạm cơ bản”, thông báo hu hợp đồng, viện dẫn thông tin…Các phạm trù này là cơ sở thực tiễn để làm rõ nội dung ở các chương sau
Trọng tâm của Phần 3 nằm ở các quy định chi tiết về nghĩa vụ của người bán và
người mua trong chương II và chương III Tại “Chương II Nghĩa vụ của người bán”,
Công ước quy định rất rõ nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng t , đặc biệt là nghĩa vụ đảm bảo tính phù hợp của hàng hóa được giao (về mặt thực tế c ng như về mặt pháp lý) Công ước nhấn mạnh đến việc kiểm tra hàng hóa được giao (thời hạn kiểm tra, thời hạn thông báo các khiếm khuyết của hàng hóa) Những quy định này rất phù hợp với thực tiễn và đã góp phần giải quyết có hiệu quả các tranh chấp phát
sinh có liên quan “Chương III Nghĩa vụ của người mua” gồm nghĩa vụ thanh toán
và nghĩa vụ nhận hàng, được quy định tại các điều t iều 53 đến iều 60
CISG không có một chương riêng về vi phạm hợp đồng và chế tài do vi phạm hợp đồng Các nội dung này được lồng ghép trong chương II, chương III và chương
V Trong chương II và chương III, sau khi nêu các nghĩa vụ của người bán và người mua, CISG đề cập đến các biện pháp áp dụng trong trường hợp người bán/người mua vi phạm hợp đồng Cách sắp xếp điều khoản như vậy, một mặt, làm cho việc tra cứu rất thuận lợi; mặt khác, tạo ra sự bình đẳng về mặt pháp lý cho người bán và người mua trong hợp đồng mua bán hàng hóa
CISG c ng tách riêng vấn đề chuyển rủi ro thành“Chương IV Chuyển rủi ro” chỉ
ra tuỳ thuộc vào t ng trường hợp và giai đoạn cụ thể, rủi ro được quy định thuộc về bên nào ây là cơ sở để xác định phạm vi trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên đặc biệt trong trường hợp có xảy ra vi phạm hợp đồng
Trang 18Trong “Chương V Các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người
mua” quy định về vấn đề tạm ng ng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, vi phạm trước
hợp đồng, việc áp dụng các biện pháp pháp lý trong trường hợp giao hàng t ng phần, hu hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, hậu quả do hu hợp đồng, căn cứ miễn trách ặc biệt chương V quy định cụ thể chế tài bồi thường thiệt hại” – một biện pháp được sử dụng phổ biến trong giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ CISG
Phần 4: Các quy định cuối cùng (Điều 89 – 101)
Phần này quy định về các thủ tục để các quốc gia ký kết, phê chuẩn, gia nhập CISG, các bảo lưu có thể áp dụng, thời điểm CISG có hiệu lực và một số vấn đề khác mang tính chất thủ tục khi tham gia hay t bỏ CISG này
Như vậy, sau gần 40 năm có hiệu lực, cùng với các quy định được đánh giá là hiện đại, mềm dẻo và linh hoạt, CISG được đánh giá là một trong những công ước thống nhất về luật tư thành công nhất ược Liên Hợp Quốc bảo trợ soạn thảo và thực thi, CISG đã tạo ra được sự tin cậy t phía các quốc gia (trong quá trình soạn thảo) mà còn nhận được sự tin tưởng t đông đảo doanh nghiệp (trong quá trình thực thi) Sự thành công của CISG được khẳng định trong thực tiễn với hơn 3000 vụ tranh chấp, riêng t giai đoạn t năm 2000-2016 là 1392 vụ tranh chấp đã được Tòa
án và trọng tài các nước/quốc tế giải quyết có liên quan đến việc áp dụng và diễn giải CISG được thống kê trên trang web của CISG [2] Không chỉ các nước thành viên mà các quốc gia chưa phải là thành viên vẫn áp dụng Công ước, hoặc do các bên trong hợp đồng lựa chọn CISG như là luật áp dụng cho hợp đồng, hoặc do các tòa án, trọng tài dẫn chiếu đến để giải quyết tranh chấp
1.2 Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Trang 19hóa giữa các cá nhân, tổ chức không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà
đã vươn ra phạm vi quốc tế Phương tiện pháp lý cơ bản để các cá nhân, tổ chức tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế là hợp đồng MBHHQT CISG không quy định về khái niệm hợp đồng MBHHQT nhưng iều 1 của
Công ước đã gián tiếp xác định phạm vi của hợp đồng MBHHQT như sau: “1
Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ
sở thương mại tại các quốc gia khác nhau…2 Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát
từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên…” T quy định tại
iều 1, kết hợp với quy định tại iều 40, iều 53 Công ước có thể hiểu hợp đồng MBHHQT là sự thỏa thuận giữa các bên có trụ sở thương mại đặt tại các nước khác nhau, theo đó một bên (người bán) có nghĩa vụ giao hàng, chuyển giao chứng t liên quan đến hàng hóa và quyền sở hữu về hàng hóa cho bên kia (người mua) và người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng
Tại Việt Nam, Luật Thương mại có một chương quy định về mua bán hàng hóa (Chương II), trong đó chỉ có bảy điều luật quy định riêng về MBHHQT và không có điều luật nào xác định cụ thể, trực tiếp về khái niệm và phạm vi nội hàm của hợp đồng MBHHQT Tuy nhiên, dựa vào quy định tại khoản 8 iều 3 Luật Thương mại và iều 428 Bộ luật dân sự, có thể rút ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa là dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) ( ỗ Minh Ánh, 2011)
Luật Thương mại 2005 c ng không quy định về khái niệm hợp đồng MBHHQT hoặc yếu tố quốc tế, nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ
quy định về MBHHQT tại iều 27 như sau: “1 MBHHQT được thực hiện dưới các
hình thức xuất kh u, nhập kh u, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển
kh u 2 MBHHQT phải thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng
Trang 20hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” Luật Thương mại 2005 lấy tiêu chí
vận chuyển hàng hóa qua biên giới để xác định quan hệ mua bán hàng hóa là MBHHQT
Mặt khác, iều 663 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
Như vậy, khái niệm “MBHHQT” với tư cách là hoạt động thương mại hoặc quan hệ thương mại theo khoản 1 iều 27 Luật Thương mại có phạm vi hẹp hơn so với “mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài” xuất phát t khái niệm “quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài” theo iều 663 Bộ luật dân sự 2015
Về phương diện học thuật, ở trong nước, đã có một số tác giả đưa ra khái niệm
về hợp đồng MBHHQT Hợp đồng MBHHQT là sự thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc giữa các bên có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa và chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán tiền hàng cho bên bán (Trương Văn D ng, 2003) Khái niệm này chưa làm rõ được cơ sở xác định “hiệu lực bắt buộc” ở đây là theo quy định của pháp luật nào bởi tính chất quốc tế của hợp đồng thì rất nhiều nguồn luật khác nhau có thể cùng điều chỉnh hợp đồng MBHHQT
Tác giả Lê Thị Nam Giang (2011) cho rằng:“Hợp đồng MBHHQT là sự thỏa
thuận giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua
có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền” Khái niệm này chưa thực sự thuyết phục bởi
hàng hóa là một loại tài sản cụ thể nhưng tài sản thì chưa hẳn đã là hàng hóa
T nhận thức trên, có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng MBHHQT như sau:
Hợp đồng MBHHQT là hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế hay có
Trang 21yếu tố nước ngoài, theo đó một bên (người bán) có nghĩa vụ giao hàng, chứng từ liên quan hàng hóa và quyền sở hữu về hàng hóa cho bên kia (người mua) và người mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán tiền hàng
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.2.2.1 Hợp đồng MBHHQT là hợp đồng thương mại có tính quốc tế
Chính tính chất quốc tế hay yếu tố nước ngoài của hợp đồng MBHHQT đã tạo
ra điểm khác biệt của hợp đồng MBHHQT so với hợp đồng thương mại trong nước (Nguyễn Minh Hằng, 2013), cụ thể:
- Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường là thể nhân hoặc pháp nhân có thể có trụ sở thương mại, nơi cư trú hoặc quốc tịch ở các quốc gia khác nhau Trên thực tế thì pháp luật thương mại quốc tế không có sự điều chỉnh đặc biệt nào đối với chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật của các quốc gia có liên quan, miễn là chủ thể đó được th a nhận tư cách chủ thể theo pháp luật của các quốc gia có liên quan thì trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đương nhiên được công nhận Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được coi là hợp pháp khi chủ thể của hợp đồng hợp pháp, tức là có năng lực pháp luật và bên ký kết
có năng lực hành vi và có thẩm quyền ký kết hợp đồng (Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ và Dương Anh Sơn, 2007)
- Thứ hai, giống như hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, hàng hóa c ng
là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải là động sản, thường là những hàng hóa có thể dịch chuyển qua biên giới của một nước iều này đồng nghĩa rằng, đối với các hàng hóa không phải là động sản thì hàng hóa đó không được xem là đối tượng của của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ây chính là điểm khác biệt cơ bản so với đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng có thể được chuyển qua biên giới nước người bán sang nước người mua hoặc sang nước thứ ba Vì hợp đồng MBHHQT được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau nên trong đa số các trường hợp hàng hóa được chuyển t nước người bán sang nước người mua hoặc t nước người
Trang 22bán sang nước thứ ba (trong trường hợp người mua hàng xuất hàng sang nước thứ ba) (Nguyễn Bá Diến, 2005)
- Thứ ba, đồng tiền dùng để thanh toán giữa người bán và người mua có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên Nhìn chung, các bên thường lựa chọn các đồng tiền mạnh có thể tự do chuyển đổi như USD, Euro, Yên Nhật, Bảng Anh… (ngoại lệ: các hợp đồng ký giữa các thương nhân EU thì đồng tiền thanh toán Euro sẽ là đồng tiền chung cho cả hai bên và không là ngoại tệ đối với bên nào)
- Thứ tư, hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam c ng như hầu hết các quốc gia trên thế giới đều bắt buộc các bên phải lập thành văn bản Vấn đề này được quy định cụ thể tại Khoản 2 iều 27 Luật Thương mại 2005: “Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” Trong đó, các hình thức có giá trị pháp lý tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, theo CISG thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không nhất thiết phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng những lời khai của nhân chứng ( iều 11, CISG)
- Thứ năm, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được ký kết bằng tiếng nước ngoài đối với một bên hoặc cả hai bên trong hợp đồng Ví dụ: hợp đồng được
ký kết giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân Anh, hai bên thỏa thuận chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng Trong trường hợp này, tiếng Anh được xem là ngôn ngữ nước ngoài đối với thương nhân Việt Nam Bên cạnh đó
c ng có trường hợp ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng là tiếng nước ngoài đối với các bên trong hợp đồng, như trường hợp thương nhân Việt Nam và thương nhân Trung Quốc chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng của mình
- Thứ sáu, cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh t hợp đồng MBHHQT có thể là Tòa án hoặc Trọng tài nước ngoài đối với một hoặc cả hai bên Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hóa giữa một công ty của Trung Quốc đóng trụ sở thương mại ở Trung Quốc với một công ty của Việt Nam đóng trụ sở thương mại tại Việt Nam,
Trang 23trong hợp đồng quy định nếu có tranh chấp phát sinh thì giải quyết bằng thương lượng, nếu không thương lượng được thì kiện ra Trọng tài thương mại tại Singapore Như vậy, Trọng tài thương mại tại Singapore là cơ quan giải quyết tranh chấp và c ng là trọng tài nước ngoài đối với cả 2 công ty
- Thứ bảy, pháp luật điều chỉnh hợp đồng MBHHQT có thể là pháp luật nước ngoài đối với một hoặc cả hai bên Ngoài ra, nguồn luật điều chỉnh hợp đồng MBHHQT c ng rất đa dạng và phức tạp bao gồm không chỉ pháp luật nước ngoài đối với một trong hoặc cả hai bên mà còn điều ước thương mại quốc tế, tập quán thương mại quốc tế và thậm chí là án lệ (tiền lệ xét xử)
Tóm lại, đây là những đặc điểm nổi bật mang tính chất đặc trưng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tính đặc trưng đó chính là yếu tố “nhận dạng” hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế so với các hợp đồng thương mại quốc tế khác nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước nói riêng
1.2.2.2 Mục đích của hợp đồng MBHHQT là sinh lợi
Các bên giao kết hợp đồng MBHHQT chính là các thương nhân, tức là chủ thể tiến hành hoạt động thương mại Vì vậy, có thể nói, mục đích mua hàng của người bán c ng như người mua, dù được mô tả trực tiếp hay gián tiếp, thì đó c ng là nhằm sinh lợi t việc chuyển giao hàng, quyền sở hữu đối với hàng và thanh toán Người mua có thể mua hàng để bán lại hay để sản xuất nhằm sinh lợi, người bán, đương nhiên, muốn bán hàng để nhận tiền (sinh lợi) Khi thiết lập một hợp đồng MBHHQT, người bán và người mua luôn hướng đến việc tạo lập “sự ràng buộc pháp lý” đối với nhau và trông đợi bên kia cùng thực hiện nghĩa vụ phát sinh t hợp đồng, nhằm thỏa mãn lợi ích của các bên
iều này tạo nên bản chất của hợp đồng MBHHQT, khác với các loại hợp đồng khác, và là yếu tố cơ bản cho sự tồn tại của hợp đồng MBHHQT Hợp đồng MBHHQT chỉ có thể được thiết lập vì lợi ích kinh tế mà các bên hướng tới t hợp đồng này và c ng vì lợi ích kinh tế mà các bên thực hiện hợp đồng Nói cách khác, không có lợi ích kinh tế sẽ không có sự giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT
Trang 241.3 Khái quát chung về vi phạm cơ bản hợp đồng theo CISG
Khi hợp đồng MBHHQT đã được giao kết hợp pháp thì nó có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên tham gia xác lập và thực hiện hợp đồng Sự ràng buộc pháp lý và lợi ích kinh tế của các bên sẽ bị ảnh hưởng ở mức độ khác nhau khi quyền và nghĩa vụ do các bên tạo ra không được tuân thủ thực hiện bởi một trong các bên xác lập và thực hiện hợp đồng Nội dung sau đây làm rõ khái niệm
Theo T điển Black’Law (2009, tr 213): “vi phạm hợp đồng là vi phạm các
nghĩa vụ hợp đồng bằng việc không thực hiện lời hứa của ai đó, từ chối thực hiện hoặc ngăn cản việc thực hiện của bên kia.”
- iều 11(5) Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh quy định “Ở
Scotland, người bán không thực hiện bất kỳ phần quan trọng nào của hợp đồng mua bán là vi phạm hợp đồng…” Quy định này cho thấy phạm vi của vi phạm
hợp đồng khá hẹp khi luật chỉ th a nhận không thực hiện phần quan trọng của hợp đồng mua bán mới xem là vi phạm hợp đồng
- iều 1-201(b)(17) Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ năm 1952
không đưa ra khái niệm vi phạm nhưng quy định “lỗi là khiếm khuyết, vi phạm
hay hành động sai trái hoặc không làm đầy đủ” T quy định này có thể hiểu vi
phạm là lỗi, là sự khiếm khuyết hay hành động sai trái hay không làm đầy đủ
Dù được định nghĩa, giải thích theo các cách khác nhau nhưng nhìn chung cách hiểu về vi phạm hợp đồng của pháp luật một số quốc gia là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng Các nhà làm luật đã định nghĩa vi phạm hợp đồng tại khoản 12 iều 3 Luật Thương mại 2005 về vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các
Trang 25bên hoặc theo quy định của Luật Thương mại Với quy định này, “vi phạm” được hiểu là “không thực hiện”, “thực hiện không đầy đủ” hoặc “thực hiện không đúng” Khoản 1 iều 302 Bộ luật dân sự không sử dụng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” mà thay vào đó là “trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự”, trong
đó đề cập đến “không thực hiện” hoặc “thực hiện không đúng” nghĩa vụ của người có nghĩa vụ
Trong PICC và PECL, thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” không xuất hiện mà
thay vào đó là “không thực hiện hợp đồng” iều 7.1.1 PICC quy định: “Không
thực hiện hợp đồng là việc một bên không thực hiện một nghĩa vụ nào đó phát sinh từ hợp đồng, kể cả việc thực hiện hợp đồng không đúng hay chậm trễ” iều
1.301 PECL quy định: “Không thực hiện hợp đồng có nghĩa là việc không thực
hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, bao gồm thực hiện chậm, thực hiện không đúng và không hợp tác để làm cho hợp đồng có hiệu lực” Như vậy, không thực hiện hợp
đồng là một thuật ngữ có nội hàm rộng chứa trong nó các hình thức thực hiện không đầy đủ hợp đồng, không đúng hợp đồng
T nhận thức trên, tác giả đưa ra khái niệm vi phạm hợp đồng như sau:
Vi phạm hợp đồng là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận, theo thói quen trong thương mại giữa các bên, pháp luật điều chỉnh hợp đồng hoặc tập quán thương mại quy định
1.3.1.2 Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng MBHHQT
Vi phạm cơ bản hợp đồng là vi phạm hợp đồng nhưng không phải vi phạm hợp đồng nào c ng là vi phạm cơ bản hợp đồng Yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa
vi phạm cơ bản hợp đồng với các loại vi phạm hợp đồng khác là tính cơ bản của
hành vi vi phạm
Pháp luật Việt Nam đưa ra định nghĩa về vi phạm cơ bản tại khoản 13 iều
3 của Luật thương mại như sau: Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một
bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng ịnh nghĩa về vi phạm cơ bản này chú trọng tới tính
nghiêm trọng của hành vi vi phạm bằng việc xác định mối tương quan giữa thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra và sự tồn mất mục đích của việc giao kết hợp đồng của bên bị vi phạm
Trang 26Ở phạm vi quốc tế, CISG là văn bản pháp lý quốc tế duy nhất có định nghĩa
về vi phạm cơ bản hợp đồng tại iều 25 Công ước Viên: “Một sự vi phạm hợp
đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng
ở vào hoàn cảnh tương tự” iều 25 CISG cho thấy CISG tiếp cận dựa trên tính
nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm gây ra trên cơ sở so sánh, đối chiếu với những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng t hợp đồng
Như vậy, CISG có thêm quy định về tính tiên liệu (dự đoán trước được)
của thiệt hại là hậu quả của hành vi vi phạm “trừ phi bên vi phạm không tiên liệu
được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự”, điều này không được đề cập đến trong
Luật Thương mại 2005 Như vậy, khả năng tiên liệu được tổn hại đến mức tước
đi đáng kể những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng t hợp đồng (hậu quả của hành vi vi phạm) là cơ sở, là điều kiện đủ để xem xét tính cơ bản của vi phạm
hợp đồng về phía bên vi phạm Khả năng tiên liệu của bên bị vi phạm được “đo
lường” không chỉ dựa vào bên vi phạm (thường mang tính chủ quan) mà còn dựa vào “người có lý trí ở vào địa vị và hoàn cảnh tương tự” bên bị vi phạm (thường mang tính khách quan) Vì thế, có thể nói, vi phạm hợp đồng chỉ có thể
bị coi là vi phạm cơ bản hợp đồng khi thỏa mãn điều kiện về khả năng tiên liệu hậu quả của hành vi vi phạm – gây tổn hại đến mức tước đi đáng kể những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng t hợp đồng Bên vi phạm có thể thoát khỏi vi phạm cơ bản và hậu quả của hành vi vi phạm bằng cách chứng minh anh ta không tiên liệu được hậu quả hoặc người có lý trí c ng không thể tiên liệu được nếu ở vào địa vị và hoàn cảnh của anh ta Các tác giả Frits Enderlein & Dietrich
Maskow (1992) cho rằng: “Giả sử một bên biết hậu quả của hành vi vi phạm có
ảnh hưởng sâu rộng đối với bên kia, nếu anh ta không đảm bảo khả năng thi hành thì anh ta không ký kết hợp đồng cũng như nỗ lực để ngăn ngừa vi phạm hợp đồng Vì thế, vi phạm cơ bản hợp đồng xảy ra không chỉ phụ thuộc vào hậu quả của hành vi vi phạm mà còn phụ thuộc khả năng tiên liệu được hậu quả đó
Trang 27của bên vi phạm Việc xem xét vấn đề này cũng tương tự xem xét quy định tại Điều 74 Công ước Viên khi xác định khoản bồi thường thiệt hại Quyền của bên
bị vi phạm sẽ bị hạn chế trong trường hợp bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng Kết quả là các bên sẽ chú ý tới những hậu quả đó cả trong bản thân hợp đồng hoặc thông qua những thông tin bổ sung được đưa ra đến khi ký kết hợp đồng” Một số tác giả cho rằng vì iều 25
chỉ rõ tổn hại đến mức tước đi đáng kể của bên kia những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng t hợp đồng thì đương nhiên khả năng tiên liệu phải gắn với thời điểm ký kết hợp đồng vì kỳ vọng t hợp đồng của các bên được hình thành t thời điểm ký kết hợp đồng [3] Người viết cho rằng, lấy kỳ vọng t hợp đồng của các bên làm xuất phát điểm cho việc xem xét khả năng tiên liệu vào thời điểm ký kết hợp đồng là không phản ánh được thực tiễn quá trình giao dịch kinh doanh vận động, thay đổi liên tục thông qua các cuộc đàm phán, trao đổi thông tin giữa các bên sau khi ký kết hợp đồng Vì thế, người viết cho rằng, yếu tố khả năng tiên liệu hậu quả do hành vi vi phạm gây ra sẽ đáp ứng mục đích chức năng hơn nữa nếu thời điểm tiên liệu được xác định ngoài giới hạn thời điểm ký kết hợp đồng, tức là sau khi ký kết hợp đồng và khi vi phạm hợp đồng
PICC và PECL c ng tiếp cận tính cơ bản của hành vi vi phạm hợp đồng tương tự CISG Khoản 2 iều 7.3.1 PICC quy định một trong những căn cứ xác định tính chất cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế là: Không thực hiện hợp đồng tước đi đáng kể những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng t hợp đồng, tr khi bên vi phạm không tiên liệu được hoặc không thể tiên liệu được một cách hợp
lý hậu quả đó iều 8:103 của PECL c ng quy định căn cứ xác định tính cơ bản của vi phạm hợp đồng tương tự PICC: Không thực hiện hợp đồng tước đi đáng kể những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng t hợp đồng, tr khi bên vi phạm không tiên liệu được hoặc không thể tiên liệu được một cách hợp lý hậu quả đó Bên cạnh đó, iều 7.3.1 PICC và iều 8:103 PECL còn liệt kê một số căn cứ
[3] Franco Ferrari, Fundamental Breach of Contract Under the UN Sales Convention 25 Years of
Article 25 CISG, Journal of Law and Commerce, 2006, tham khảo tại
http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/ferrari14.html, truy cập ngày 28/10/2018
Trang 28khác để xác định tính chất cơ bản của hành vi không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng như: (i) Không thực hiện hợp đồng khiến cho bên bị vi phạm có thể suy đoán một cách hợp lý rằng họ không thể tin tưởng bên kia trong việc thực hiện nghĩa vụ tiếp theo trong hợp đồng; (ii) Hợp đồng bị vi phạm có thể dẫn tới những tổn thất (mất mát) không cân xứng của hai bên khi hợp đồng bị chấm dứt
T khái niệm về vi phạm cơ bản hợp đồng có thể thấy, vi phạm hợp đồng có phải là cơ bản hay không phụ thuộc vào việc xác định mức độ ảnh hưởng của hành
vi vi phạm đối với lợi ích mong muốn t hợp đồng của bên bị vi phạm hay tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra, bất kể đó là hợp đồng dân sự (theo nghĩa hẹp) hay hợp đồng thương mại Cơ sở xác định mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích mong muốn t hợp đồng là khác nhau tùy thuộc vào quy định pháp luật của t ng quốc gia hoặc quốc tế Chẳng hạn, Việt Nam xác định dựa trên mức độ thiệt hại trong mối tương quan với mục đích của việc giao kết hợp đồng CISG dựa trên tổn hại đáng kể và hệ quả là tước đi đáng kể những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng t hợp đồng…
Hành vi vi phạm hợp đồng có thể gây ra hoặc không gây ra tổn thất, thiệt hại nào cho bên bị vi phạm nhưng điều quan trọng tạo nên tính cơ bản của hành
vi vi phạm hợp đồng là lợi ích các bên mong muốn đạt được t hợp đồng khi xác lập và thực hiện hợp đồng bị ảnh hưởng như thế nào bởi hành vi vi phạm hợp đồng Vì vậy, không có sự khác nhau giữa vi phạm cơ bản hợp đồng thương mại (nhằm mục đích sinh lợi) và hợp đồng dân sự (theo nghĩa hẹp, không nhằm mục đích sinh lợi), giữa vi phạm cơ bản hợp đồng thương mại trong nước và hợp đồng thương mại có tính chất quốc tế (có yếu tố nước ngoài)
Vì những lẽ trên, dựa vào khái niệm về vi phạm cơ bản hợp đồng nói chung
có thể hiểu vi phạm cơ bản hợp đồng MBHHQT như sau: Vi phạm cơ bản hợp
đồng MBHHQT là vi phạm hợp đồng của một bên lấy đi đáng kể lợi ích mong muốn từ hợp đồng của bên kia
1.3.2 Đặc điểm của vi phạm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Như đã trình bày ở trên, về bản chất, không có sự khác nhau về vi phạm cơ bản giữa các loại hợp đồng thương mại cụ thể (hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp
Trang 29đồng cung ứng dịch vụ ) bởi vì các hợp đồng thương mại đều có mục đích chung là nhằm sinh lợi Vì vậy, vi phạm cơ bản hợp đồng MBHHQT mang đầy
đủ đặc điểm của vi phạm cơ bản hợp đồng thương mại nói chung, cụ thể:
- Vi phạm cơ bản hợp đồng ảnh hưởng nghiêm trọng (lấy đi đáng kể) lợi ích
mong muốn từ hợp đồng của bên bị vi phạm
Hợp đồng thương mại nói chung, hợp đồng MBHHQT nói riêng được xác lập hợp pháp và có hiệu lực pháp lý thì trong hoàn cảnh thông thường bất kỳ ai tham gia xác lập, giao kết hợp đồng c ng đều kỳ vọng các bên đối tác phải tôn trọng và thực hiện đúng hợp đồng
Các bên giao kết, thực hiện hợp đồng MBHHQT với mục tiêu gần nhất vì
nó mà các bên tham gia hợp đồng là: người mua trả tiền vì sẽ nhận được hàng hóa làm sở hữu, nói cách khác hàng hóa – quyền sở hữu hàng hóa là mục đích của người mua trong hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung, hợp đồng MBHHQT nói riêng Người bán có mục đích nhận được khoản tiền tương đương giá trị của hàng hóa
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, người bán và người mua có thể có những hành vi vi phạm hợp đồng dẫn đến ảnh hưởng nhất định tới quyền và lợi ích mong muốn của các bên Những ảnh hưởng đó có thể là người mua nhận được hàng hóa làm sở hữu nhưng hàng hóa không đủ về số lượng, không đảm bảo về chất lượng hoặc người bán nhận không đủ tiền thanh toán Tuy nhiên, với
vi phạm cơ bản hợp đồng, ảnh hưởng tới bên bị vi phạm phải đến mức độ nào đó đáng kể, tức là lấy đi đáng kể lợi ích mà các bên mong muốn đạt được t hợp đồng khi xác lập, thực hiện hợp đồng
Lợi ích có được t hợp đồng là cơ sở mà vì đó các bên duy trì quan hệ hợp đồng ể đảm bảo đạt được lợi ích t hợp đồng, các bên phải tôn trọng, thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ hợp đồng Vì vậy, tính chất cơ bản của vi phạm hợp đồng sẽ thể hiện ở chỗ làm cho các bên không đạt được lợi ích (đáng kể hoặc toàn bộ), không thực hiện được quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã dự liệu khi xác lập, thực hiện hợp đồng, đó là: quyền nhận hàng, nhận quyền sở hữu hàng hóa và quyền nhận tiền
Trang 30- Vi phạm cơ bản hợp đồng là căn cứ cho bên bị vi phạm lựa chọn duy trì hoặc rút lui khỏi hợp đồng
Về mặt logic pháp lý, khi hợp đồng có hiệu lực, các bên không được t chối thực hiện nghĩa vụ và không có quyền đơn phương rút khỏi hợp đồng, nếu điều
đó không được quy định minh thị trong luật hoặc không được dự liệu trong hợp đồng Bởi lẽ, một khi hợp đồng đã được xác lập và có hiệu lực pháp luật thì không chỉ có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên, buộc các bên phải tôn trọng và thực hiện mà còn ngăn cản và không cho phép các bên được
t chối thực hiện nghĩa vụ hay rút lui khỏi hợp đồng
Tuy nhiên, sẽ là không công bằng khi buộc bên bị vi phạm phải tuân thủ hợp đồng và chờ đợi sự thực hiện t phía bên kia khi bên kia đã có những hành vi
vi phạm hợp đồng lấy đi lợi ích t hợp đồng của bên bị vi phạm khi xác lập, thực hiện hợp đồng Cần có biện pháp xử lý đối với những vi phạm như thế để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bên bị vi phạm Vì vậy, với tính chất cơ bản của vi phạm hợp đồng, hiệu lực ngăn cản các bên không được rút lui khỏi hợp đồng cần phải được loại bỏ kịp thời bằng việc trao cho bên bị vi phạm quyền lựa chọn giữa tiếp tục thực hiện, duy trì hợp đồng với rúi lui khỏi hợp đồng (chấm dứt hiệu lực hợp đồng) để xác lập thỏa thuận khác
Vi phạm cơ bản hợp đồng được xem như căn cứ hợp pháp, ngoại lệ cho phép các bên được đơn phương rút khỏi hợp đồng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi lợi ích mong muốn t hợp đồng không đạt được hoặc có nguy cơ không đạt được (đáng kể hoặc toàn bộ) Như vậy, vi phạm cơ bản hợp đồng chính là ngoại lệ của nguyên tắc hiệu lực ràng buộc các bên phải thực thi hợp đồng, là sự thể hiện nguyên tắc hiệu lực ngăn cản các bên không được rút lui khỏi hợp đồng
Vi phạm cơ bản hợp đồng không chỉ xác lập nên căn cứ hợp pháp cho sự rút lui khỏi hợp đồng của các bên mà còn ngăn cản sự rút lui “tùy tiện” của các bên như là sự “lẩn tránh” thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Nó làm cho nguyên tắc không đơn phương rút lui khỏi hợp đồng có tính độc lập tương đối và trở nên vô cùng quan trọng khi một bên không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng vì cho rằng bên
Trang 31kia vi phạm nghĩa vụ tương ứng đối với mình và sự vi phạm đó phải có mức độ ảnh hưởng nhất định tới lợi ích của hợp đồng, tới mục tiêu mà vì nó các bên tham gia hợp đồng
1.4 Khái quát chung về tính phù hợp với hợp đồng của hàng hoá
“Hàng hóa được coi là phù hợp với hợp đồng nếu:
a đáp ứng các mô tả của người bán và có các tính chất của hàng mẫu mà người bán cung cấp cho người mua trước đó;
b phù hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà người mua mong muốn đạt được hoặc người bán đã cho biết vào thời điểm giao kết hợp đồng hoặc người bán đã chấp nhận;
c phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại;
d Các ph m chất và đặc tính thể hiện như hàng hóa cùng loại thường có và đáp ứng yêu cầu hợp lý của người mua, dựa trên tính chất cơ bản của hàng hóa
và tính đến bất cứ thông báo công khai nào về các đặc điểm cụ thể của hang hóa được người bán, người sản xuất hoặc đại diện của họ đưa ra, đặc biệt qua các quảng cáo hoặc nhãn hiệu.”
Tương tự, CISG c ng quy định tại khoản 1, 2 điều 35:
“1 Người bán phải giao hàng đúng số lượng, ph m chất và mô tả như quy định trong hợp đồng, và đúng bao bì hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu
Trang 322 Trừ những trường hợp các bên có thỏa thuận khác, hàng hóa bị coi là không phù hợp với hợp đồng nếu:
a Hàng hóa không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà các hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng
b Hàng không thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà người bán đã được biết một cách rõ ràng hoặc ngụ ý vào lúc giao kết hợp đồng, trừ trường hợp nếu căn cứ vào các hoàn cảnh cụ thể có thể thấy rằng người mua đã không tính đến năng lực hay sự đánh giá của người bán hoặc nếu đối với họ làm như thế là không hợp lý
c Hàng không có các tính chất của hàng mẫu mà người bán đã cung cấp cho người mua
d Hàng không được đóng bao bì theo cách thông thường cho những hàng cùng loại hoặc, nếu không có cách thông thường, thì bằng cách thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó
Theo quy định tại iều 39 Luật Thương mại 2005 thì các trường hợp hàng hoá được coi là không phù hợp với hợp đồng được quy định cụ thể như sau:
- Trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hoá được coi là không phù hợp với hợp đồng khi hàng hoá đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng chủng loại;
+ Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;
+ Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán
đã giao cho bên mua;
+ Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường
Trang 33Nhìn chung, các quy định về hàng hoá không phù hợp của CISG và Luật thương mại đều giống nhau khi chỉ ra các trường hợp hàng hoá không phù hợp
1.4.2 Căn cứ để xác định mức độ không phù hợp của hàng hóa cấu thành một vi phạm cơ bản
Khi xảy ra vi phạm hợp đồng, bên vi phạm thường đưa ra những lý do để t chối việc thực hiện trách nhiệm của họ đối với bên còn lại, điều này gây thiệt hại nghiêm trọng cho bên bị vi phạm Vì vậy việc xác định các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, CISG không quy định căn cứ để xác định mức độ không phù hợp của hàng hóa so với quy định của hợp đồng Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng có áp dụng CISG, tòa
án và trọng tài một số nước thường áp dụng bốn (04) căn cứ để xác định mức độ không phù hợp của hàng hóa cấu thành một vi phạm cơ bản theo quy định tại điều
25 của CISG: Xem xét sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng về vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp; Hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng do hàng hoá không phù hợp; Khả năng bán được của hàng hóa không phù hợp hợp đồng;
và khả năng “sử dụng được” của hàng hóa không phù hợp hợp đồng (Võ S Mạnh, 2015)
1.4.2.1 Sự thỏa thuận giữa các bên về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp
Nếu trong quá trình giao kết hợp đồng, các bên có thỏa thuận cụ thể các trường hợp người bán giao hàng không phù hợp sẽ gây thiệt hại cho bên còn lại, khiến bên đó không đạt được một mục đích cụ thể hoặc nếu người mua thông báo cho người bán biết rõ mục đích mua hàng của người mua nhằm nhắc nhở người bán phải giao hàng như hợp đồng quy định thì bất kỳ hành vi vi phạm nào ảnh hưởng tới mục đích cụ thể đó đều cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng Khi giải thích, một số tòa án đã tuyên rằng một vi phạm là cơ bản nếu các bên đã thỏa thuận rõ ràng về một số đặc tính trọng yếu nhất định của hàng hóa trong hợp
Trang 34đồng, chẳng hạn như độ dày của một cuộn nhôm [4] hay những sản phẩm đạm đậu nành không bị biến đổi gen [5] Lúc này, người bán không thể lập luận rằng người bán không nhìn thấy trước được (không tiên liệu được) những thiệt hại có thể xảy đến cho người mua nếu người bán không giao hàng theo những quy định
đó Tòa án sẽ dễ dàng xác định được một sự vi phạm cơ bản hợp đồng nếu hàng hóa được giao không đúng những gì đã thỏa thuận trong hợp đồng iều quan trọng đối với việc áp dụng căn cứ này là người mua có nghĩa vụ chứng minh có hay không có điều khoản trong hợp đồng quy định rằng không thực hiện một nghĩa vụ liên quan đến giao hàng sẽ được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng
Một ví dụ cho trường hợp này là vụ“Printing machine”[6]: Tranh chấp
hợp đồng mua máy in giữa người bán Hồng Kông và người mua Trung Quốc, theo đó người bán và người mua đã ký hợp đồng mua bán máy in chất lượng cao với độ chính xác 0,03 mm Tuy nhiên, sau khi hợp đồng có hiệu lực, người bán
đã giao máy in với độ chính xác 0,07 mm Mặc dù máy in vẫn có thể sử dụng với mục đích bình thường nhưng Hội đồng trọng tài thuộc CIETAC cho rằng mục đích của người mua theo hợp đồng là mua một máy in với độ chính xác 0,03 mm chứ không phải máy in sử dụng cho mục đích kinh doanh bình thường, nếu không người mua đã không cần thiết phải thêm vào hợp đồng các đòi hỏi về thông số k thuật và phải thanh toán với giá cao như vậy Do đó, Hội đồng trọng tài cho rằng lợi ích người mua hướng tới trong trường hợp này đã bị tước đi, và hành vi nêu trên của người bán đã cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng Qua vụ tranh chấp trên cho thấy, khi các bên giao kết hợp đồng đã có thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng về vi phạm cơ bản hợp đồng thì tòa án chỉ căn cứ vào thỏa thuận
đó của các bên để quyết định hành vi vi phạm của một bên có phải là vi phạm cơ bản hợp đồng hay không Tuy nhiên, nếu các bên không có thỏa thuận về vi
[4] China 30 October 1991 CIETAC Arbitration proceeding (Roll aluminum and aluminum parts
case) tham khảo tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/911030c1.html truy cập ngày 8/12/2018
[5]Switzerland 22 August 2003 Canton Appellate Court Basel (Soyprotein products case) truy cập tại
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/030822s1.html ngày 8/12/2018
[6] China 14 January 2004 CIETAC Arbitration proceeding (Printing machine case), tham khảo
tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/040114c1.html, truy cập ngày 2/2/2019
Trang 35phạm cơ bản hợp đồng thì tòa án sẽ cố gắng suy luận dựa trên ngôn ngữ hợp đồng, tập quán, thói quen và giao dịch giữa các bên
1.4.2.2 Mức độ nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng do hàng hoá không phù hợp
Theo quy định tại iều 25 CISG, một trong những yếu tố quan trọng để xác định vi phạm cơ bản là thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây nên lên tới mức làm cho bên bị vi phạm không đạt được cái mà họ chờ đợi t hợp đồng Như vậy, tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm gây nên được xem như sự thiệt hại đáng kể mà bên bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm của bên vi phạm Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về vấn đề này, tòa án đã sử dụng một
số tiêu chí dưới đây để xác định tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm gây nên, tức là xác định mức độ “đáng kể” của thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu
– Căn cứ vào t lệ hàng hóa bị tổn thất trên tổng giá trị của hàng hóa được giao
Vụ “Cotton gin motes”: Tranh chấp giữa người bán Singapo và người mua
Trung Quốc trong hợp đồng mua bán bông tạp chất, theo đó hai bên đã kí hợp đồng mua bán 3.500 gói bông tạp chất, giao hàng làm hai chuyến Thực hiện hợp đồng, ở chuyến thứ nhất người bán giao 2.210 gói bông, sau khi giám định, cơ quan giám định đã lập báo cáo trong đó chỉ ra rằng 77,47 lượng hàng hóa được giao có chất lượng không phù hợp với quy định của hợp đồng Hội đồng trọng tài
đã cho rằng, việc người bán giao hàng không tuân thủ quy định của hợp đồng với
tỷ lệ không phù hợp cao như đã nêu ở trên đã gây tổn hại đáng kể cho người mua
và cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng.[7]
T lệ phần trăm hàng tổn thất dẫn đến thỏa mãn vi phạm cơ bản hợp đồng là không giống nhau tùy vào t ng vụ tranh chấp cụ thể Ví dụ, trong vụ Granite [8], mặc dù hàng hóa bị tổn thất đến 40 và rất khó khăn cho việc sử dụng c ng như
[7] China 7 April 2005 CIETAC Arbitration proceeding (Cotton gin motes case), tham khảo tại
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/050407c1.html, truy cập ngày 8/2/2019
[8] Germany 12 October 2000 District Court Stendal (Granite rock case), tham khảo tại
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/001012g1.html, truy cập ngày 22/10/2018
Trang 36cho việc bán lại hàng hóa nhưng Tòa án cho rằng t lệ này là chưa đủ điều kiện cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng theo tinh thần của điều 25 CISG mà chỉ thỏa mãn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại Tương tự, trong vụ tranh chấp Frozen Meat [9] giữa người bán ức và người mua Thụy Sĩ, mặc dù 25 chất lượng thịt đông lạnh không phù hợp với quy định trong hợp đồng, thậm chí thịt đông lạnh quá béo và ướt, giá trị thịt đông lạnh giảm đi 25 tương ứng nhưng tòa án tuyên quyết định rằng thiệt hại đó là chưa đủ “đáng kể” và hành vi vi phạm hợp đồng của người bán không cấu thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng
– Căn cứ vào chi phí sửa chữa dự tính trên tổng giá trị hàng hóa được giao
ây c ng là tiêu chí được tòa án sử dụng khi xem xét tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng gây nên – “thiệt hại đáng kể” mà người mua phải gánh chịu để xác định vi phạm cơ bản Tranh chấp Scaffold fittings giữa người bán Trung Quốc và người mua Úc về 80.000 cột chống dàn giáo là một ví dụ [10] Số cột chống dàn giáo này hoàn toàn không phù hơp với mẫu Tòa án nhận thấy rằng chi phí dự tính để phân loại cột chống kém chất lượng trong số cột chống dàn giáo tốt chiếm hơn 1/3 giá mua, vì thế tòa tuyên hành vi vi phạm của người bán là vi phạm cơ bản với lý do “phần quan trọng” của 80.000 cột chống dàn giáo không phù hợp với mẫu
1.4.2.3 Hàng hóa không phù hợp với hợp đồng có khả năng thương mại hay không
Trong kinh doanh quốc tế, xét đến cùng, mục đích mà người bán và người mua hướng tới là lợi nhuận Như vậy, xét trên khía cạnh người bán, hàng hóa không có khả năng bán được có nghĩa là mục đích của người bán khi giao kết hợp đồng là không thể đạt được, hay nói cách khác sự không phù hợp của hàng hóa có thể dẫn đến hàng hóa không có khả năng bán được, hậu quả, cấu thành vi phạm
Trang 37Vụ tranh chấp “Frozen vegetable” về hợp đồng mua bán rau đông lạnh giữa
người bán Tây Ban Nha và người mua ức c ng là một trong những ví dụ điển hình cho hành vi giao hàng có chất lượng không phù hợp quy định hợp đồng dẫn đến mục đích bán lại hàng hóa của người mua không thể đạt được Trong vụ tranh chấp này, người bán đã giao hàng cho người mua, trong số hàng được giao
có 36 hàng hóa bị nát và không thế bán được cho khách hàng Tòa án quận
München ( ức) đã cho rằng vi phạm đó của người bán là vi phạm cơ bản hợp
đồng và người mua không cần thiết phải cố gắng bán lại hàng hóa với giá thấp hơn Do đó, việc hủy hợp đồng của người mua là phù hợp quy định tại khoản 1
kỳ sự không phù hợp nào liên quan đến chất lượng đều không cấu thành vi phạm
cơ bản hợp đồng nếu người mua vẫn có thể thuận tiện sử dụng hàng hóa đó hoặc bán hạ giá được hàng hóa đó Phán quyết của tòa phúc thẩm Frankfurt ( ức) năm
2008, trong vụ “Café inventory”[12], theo đó người bán Hà Lan đã cung cấp cho
người mua ức thiết bị sử dụng cho tiệm café nhưng thiết bị này không phù hợp với hợp đồng về chất lượng, chưa hoàn chỉnh và không sẵn sàng để đưa vào sử dụng theo quan điểm của người mua, Tòa phúc thẩm Hamburg ( ức) đã cho rằng, trường hợp này không có sự vi phạm cơ bản hợp đồng vì khi chất lượng hàng hóa được giao không phù hợp với hợp đồng thì sự không phù hợp đó phải lớn đến mức hàng hóa trở nên vô dụng đối với người mua mới được xác định là
[11] Germany 29 November 2005 District Court München (Frozen vegetable case), tham khảo tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/051129g1.html, truy cập ngày 2/2/2019
[12] Germany 25 January 2008 Appellate Court Hamburg (Café inventory case), tham khảo tại
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/080125g1.html, truy cập ngày 2/2/2019
Trang 38vi phạm cơ bản hợp đồng Nếu hàng giao có chất lượng không phù hợp với hợp đồng nhưng vẫn có thể sử dụng được hàng hóa đó, thậm chí chỉ sử dụng trong giới hạn, sẽ không cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng Bên cạnh đó, mặc dù chất lượng hàng giao không phù hợp với hợp đồng đến mức hàng không thể sử dụng được nhưng nếu người mua không thể chứng minh được hàng hóa không phù hợp về chất lượng đến mức làm mất khả năng sử dụng của hàng hóa thì không phải là vi phạm cơ bản hợp đồng Trong trường hợp này, người mua không được hủy bỏ hợp đồng mà chỉ có quyền đòi giảm giá hoặc bồi thường thiệt hại
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ VI PHẠM CƠ BẢN
DO HÀNG HOÁ KHÔNG PHÙ HỢP THEO CISG
2.1 Các trường hợp hàng hoá không phù hợp cấu thành vi phạm cơ bản
2.1.1 Hàng hóa không phù hợp với số lượng, phẩm chất và mô tả như hợp đồng
Theo điểm a khoản 1 iều 35 CISG, người bán buộc phải đảm bảo giao hàng đúng số lượng, phẩm chất và mô tả trong hợp đồng Như vậy, việc cung cấp hàng hóa không đúng số lượng, phẩm chất và mô tả trong hợp đồng đến một giới hạn nào đó sẽ bị xem là vi phạm cơ bản hợp đồng Như vậy, vấn đề đặt ra là làm sao để xác định vi phạm đó đã đến mức là vi phạm cơ bản hay chưa
• Trường hợp hàng hóa không phù hợp về số lượng
Trước hết, vì đây là một vi phạm mang tính hình thức, sự không phù hợp được chia thành hai dạng: giao hàng thiếu (quantity shortage/shortfall) và giao hàng th a (quantity surplus/excess) Thông thường, do tính chất phong phú và phức tạp về tính chất hàng hóa c ng như quãng đường vận chuyển hàng trong các giao dịch mang tính quốc tế này, hai bên thường quy định một mức xấp xỉ hoặc có thêm dung sai về
số lượng hàng Theo đó, người bán được phép giao hàng với số lượng nằm trong mức xấp xỉ hay dung sai này Trong trường hợp áp dụng mức xấp xỉ, người bán phải cần phải tính toán cẩn trọng để cung cấp một số lượng hợp lý Việc cung cấp thiếu hay th a quá nhiều so với mức xấp xỉ có thể bị xem là vi phạm nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng và gây ra các phí tổn không đáng có cho các bên (ví dụ: chi phí lưu kho, chi phí vận chuyển…)
Nếu khối lượng hàng hóa lớn hơn so với khối lượng đã đặt thì người mua có quyền lựa chọn chấp nhận hoặc t chối phần th a Nếu chấp nhận tất cả thì người mua phải trả theo giá đã quy định trong hợp đồng Tuy nhiên trên thực tế, người mua sẽ chấp nhận số lượng th a với điều kiện giảm giá, và điều kiện này c ng thường xuyên được người bán chấp nhận vì nó có lợi hơn là thu hồi lại hàng hoặc bán lại tại chỗ Thông thường nếu t chối thì người mua phải đưa ra một lý do hợp
lý (ví dụ không đủ kho để chứa hàng) để phù hợp với nguyên tắc thiện chí đã được quy định tại iều 7 của CISG (Nguyễn Minh Hằng, 2016) Ngay cả khi người mua không chấp nhận số lượng hàng hoá giao th a, người mua vẫn phải có trách nhiệm
Trang 40sử dụng các biện pháp hợp lý để bảo quản, giữ gìn hàng hoá và người mua có quyền giữ lại hàng hoá cho đến khi người bán hoàn trả đầy đủ các chi phí phát sinh cho việc bảo quản hợp lý đó (Theo iều 86 CISG)
CISG không đề cập đến trường hợp giao thiếu hàng Lý do là người mua sẽ dễ dàng chấp nhận việc giao th a hàng hơn là việc giao thiếu hàng Do vậy, trường hợp người bán giao thiếu hàng được coi là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người bán, do đó sẽ áp dụng các chế tài như các trường hợp không phù hợp về hàng hóa khác
• Trường hợp hàng hóa không phù hợp về phẩm chất và mô tả trong hợp đồng Bên cạnh tiêu chí về số lượng, tiêu chí về phẩm chất hàng hóa c ng phải được đảm bảo Về khía cạnh này, phẩm chất được hiểu theo nghĩa rất rộng, không nhất thiết giới hạn ở những đặc điểm mang tính k thuật hay phẩm chất quy cách của hàng hóa Ví dụ: trong một vài trường hợp, hàng hóa không đúng nguồn gốc xuất xứ như hợp đồng yêu cầu c ng có thể bị xem là không phù hợp Ngoài ra, giao hàng với phẩm chất tương tự, dù là phẩm chất tốt hơn c ng chưa được khẳng định là không vi phạm hợp đồng Hàng hóa được giao tối thiểu phải đáp ứng đầy
đủ và chính xác các đặc điểm mang tính chất mô tả trong hợp đồng (Ví dụ: màu sắc, kích cỡ…)
Trong trường hợp hàng được giao bị khiếm khuyết, đây sẽ là cơ sở để tính toán liệu người bán có vi phạm cơ bản dẫn đến người mua có quyền hủy hợp đồng hay không Nói cách khác, sự không phù hợp về phẩm chất và mô tả có nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng đến mức cấu thành một vi phạm cơ bản không Không phải bao giờ sự không phù hợp của hàng hóa về phẩm chất và
mô tả theo hợp đồng c ng cấu thành một vi phạm cơ bản Nếu sự không phù hợp chỉ diễn ra ở một phạm vi không đáng kể và người bán vẫn có khả năng sửa chữa khiếm khuyết c ng như khắc phục hậu quả một cách hợp lý thì vi phạm của người bán chưa đến mức bị xem là vi phạm cơ bản Bên cạnh đó, c ng có những trường hợp khiếm khuyết về phẩm chất và mô tả xuất hiện do quá trình vận chuyển, bốc dỡ… hoặc là lỗi ẩn tỳ, việc xác định vi phạm cơ bản c ng trở nên khó khăn