Tuy nhiên để phát huy cao nhất hiệu quả hoạt động của các KCN, việc hoàn thiện các quy chế pháp lý điều chỉnh toàn diện các mặt hoạt động trong KCN là vấn đề luôn cần có sự quan tâm thực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật kinh tế
NGUYỄN THỊ QUỲNH
Hà Nội – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Quy chế pháp lý về khu công nghiệp
và thực tiễn áp dụng tại các khu công nghiệp
trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu Luận văn được hoàn thành dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn của TS Nguyễn Ngọc Hà; các số liệu trong luận văn là hoàn toàn khoa học, có cơ sở rõ ràng và trung thực; kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả Luận văn xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Luật Kinh tế, cán bộ thuộc Phòng Đào tạo sau đại học, Trung tâm Thư viện – Trường Đại học Ngoại thương
đã tạo điều kiện trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt tác giả luận văn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc thầy giáo TS Nguyễn Ngọc Hà đã tận hình hướng dẫn giúp đỡ và có những chỉ dẫn quý báu giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tác giả xin nói lời cảm ơn chân thành đối với những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 7
1.1 KHU CÔNG NGHIỆP 7
1.1.1 Khái niệm và phân loại KCN 7
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của các KCN ở Việt Nam 9
1.1.3 Vai trò của các KCN 12
1.2 QUY CHẾ PHÁP LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 14
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quy chế pháp lý các khu công nghiệp 14
1.2.2 Sự cần thiết phải ban hành quy chế pháp lý các KCN 16
1.2.3 Nội dung của quy chế pháp lý các KCN 17
1.2.4 Áp dụng quy chế pháp lý các KCN 28
1.2.5 Vai trò của quy chế pháp lý các KCN 33
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY CHẾ PHÁP LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH QUẢNG NINH 36
2.1 KHÁI QUÁT CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 36
2.1.1 Giới thiệu chung 36
2.1.2 Giới thiệu chi tiết về các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 37
2.2 QUY CHẾ PHÁP LÝ CÁC KCN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH 46
2.2.1 Thực tiễn xây dựng và ban hành 46
2.2.2 Thực tiễn áp dụng 66
Trang 62.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG 72
2.3.1 Thành công 72
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 74
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÁP DỤNG QUY CHẾ PHÁP LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH QUẢNG NINH 76
3.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA QUA NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY CHẾ PHÁP LÝ TẠI CÁC KHU CÔNG NHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 76
3.1.1 Còn tồn tại việc thiếu thống nhất trong hệ thống các văn bản của Trung ương và của tỉnh 76
3.1.2 Về tính ổn định trong việc áp dụng các quy chế pháp lý 77
3.1.3 Tác động của các cơ chế pháp lý đến việc thu hút đầu tư tại các KCN chưa cao 78
3.1.4 Các quy định trong vấn đề bảo vệ môi trường và bảo vệ người lao động 82
3.2 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ PHÁP LÝ CÁC KCN TẠI TỈNH QUẢNG NINH 83
3.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện quy chế pháp lý các KCN tại tỉnh Quảng Ninh 84
3.2.2 Định hướng hoàn thiện quy chế pháp lý các KCN 85
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
3.3.1 Một số giải pháp đối với tỉnh Quảng Ninh 85
3.3.2 Một số khuyến nghị đối với Nhà nước 93
KẾT LUẬN 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNĐKĐT Chứng nhận đăng ký đầu tư
FDI Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)
R&D Research and Development (nghiên cứu và phát triển)
UDKHC
N
Ứng dụng khoa học công nghệ VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
WTO World Trade Organization (Tổ chức tThương mại tThế giới)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Danh sách Quy hoạch các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 37
Bảng 2.2: Bảng dự báo nhu cầu về nhà ở công nhân trong KCN 56
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 56
Bảng 2.3: Dự báo nhu cầu về thiết chế văn hóa trong khu ở của công nhân 57
(nhà trẻ, mẫu giáo, điểm vui chơi, giải trí) trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 57
Bảng 2.4: Nội dung triển khai nhà ở công nhân 67
theo quy hoạch tại các KCN Quảng Ninh 67
DANH MỤC SƠ ĐỒ Hình 2.1 Sơ đồ KCN Cái Lân 38
Hình 2.2 Sơ đồ KCN Việt Hưng 39
Hình 2.3 Sơ đồ KCN Hải Yên 41
Hình 2.4 Sơ đồ KCN Đông Mai 42
Hình 2.5 Sơ đồ KCN Cảng biển Hải Hà 44
Hình 2.6 Sơ đồ KCN Đầm Nhà Mạc 46
Trang 9TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Đề tài: “Quy chế pháp lý về khu công nghiệp và thực tiễn áp dụng tại các Khu
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”
Tác giả luận văn: Nguyễn Thị Quỳnh Khóa:1
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Ngọc Hà
Từ khóa (Keyword): “Quy chế pháp lý Khu công nghiệp tỉnh Quảng Ninh”
Nội dung tóm tắt:
Qua hơn 20 năm hoạt động các mô hình Khu Công nghiệp đã được hình thành, phát triển đa dạng, góp phần tích cực phát triển các ngành nghề của Việt Nam Để phát huy tốt các lợi ích từ các KCN, việc xây dựng một hệ thống các Quy chế pháp
lý đồng bộ, đầy đủ và khoa học là việc làm vô cùng quan trọng, tạo nên khuôn khổ pháp lý để quản lý hiệu quả các hoạt động trong các KCN
Mặc dù đã có một hệ thống các quy chế pháp lý quy định về hoạt động tại các KCN, tuy nhiên qua thực trạng hoạt động, các KCN chưa phát huy được sức mạnh của mình như mong muốn, đặc biệt đối với đặc thù của Quảng Ninh - nơi hội tụ nhiều tiềm năng về tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội thì việc nghiên cứu để đưa ra các quy chế pháp lý phù hợp thực tế địa phương để phát huy vai trò của các khu kinh tế là điều rất cần thiết
Mục đích của luận văn là nghiên cứu thực trạng áp dụng Quy chế pháp lý tại các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, rút ra những ưu điểm, hạn chế; từ đó tìm kiếm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các quy chế pháp lý đối với các KCN Đồng thời xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý đối với các KCN và với đặc thù các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Quy chế pháp lý tại các Khu công
nghiệp tỉnh Quảng Ninh
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Nghiên cứu quy chế pháp lý các KCN về Chính sách đối với KCN; quản lý nhà nước về KCN; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban quản lý KCN, KKT được áp dụng tại các KCN trên
Trang 10địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn từ năm 1998 (từ khi có KCN đầu tiên của
Quảng ninh) đến tháng 7-2018
Luận văn đề cập tới những ưu, nhược điểm của quy chế pháp lý được áp dụng tại các KCN của Quảng Ninh, những tiêu chí đánh giá và kinh nghiệm, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy chế pháp
lý tại các KCN Quảng Ninh
Để hoàn thành luận văn, tác giả thực hiện các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp thống kê, phân tích; Phỏng vấn đối với các đối tượng: Lãnh đạo Doanh nghiệp hoạt động trong KCN; Lãnh đạo Ban quản lý khu kinh tế Quảng Ninh và Phương pháp nghiên cứu nội dung các quy chế tại các đối tượng được nghiên cứu
Kết luận: Qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, mô hình KCN ở nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đối với Quảng Ninh, các KCN đang tiếp tục phát huy các hiệu quả trong các mặt kinh tế xã hội, góp phần huy động tốt nguồn lực, đảm bảo nhu cầu việc làm cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội, tạo những tiền đề vững chắc qua đó góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh trong thời gian qua
Tuy nhiên để phát huy cao nhất hiệu quả hoạt động của các KCN, việc hoàn thiện các quy chế pháp lý điều chỉnh toàn diện các mặt hoạt động trong KCN là vấn
đề luôn cần có sự quan tâm thực hiện, qua đó tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động về quản lý nhà nước cũng như đầu tư, sản xuất của các doanh nghiệp, đáp ứng được những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, phù hợp
với xu thế phát triển toàn cầu
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo báo cáo Tổng kết 20 năm hoạt động các mô hình Khu Công nghiệp (sau đây viết tắt là KCN) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 10/02/2017, xuất phát từ công cuộc đổi mới năm 1986, để hướng tới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó, tăng cường thu hút các nguồn lực để phát huy tiềm năng thế mạnh trong nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, các mô hình khu công nghiệp, khu kinh tế đã được hình thành, phát triển đa dạng Trong những năm qua, việc hình thành các KCN đã góp phần tích cực phát triển các ngành nghề của Việt Nam, nâng cao sự thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, từ đó, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội1
Để phát huy tốt các lợi ích từ các KCN, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, việc xây dựng một hệ thống các Quy chế pháp lý đồng bộ, đầy đủ và khoa học là việc làm vô cùng quan trọng Hệ thống các quy chế này tạo nên khuôn khổ pháp lý để quản lý hiệu quả các hoạt động trong các KCN nhằm đảm bảo đất nước phát triển bền vững về mặt kinh tế, môi trường, xã hội; thực hiện mục tiêu đến 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như đã đề ra tại Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020
Theo quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 20302, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 10 KCN (quy hoạch đến năm 2020) với tổng diện tích 11.736,46 ha Đến nay, ở Quảng Ninh, 09 KCN được cấp Giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng diện tích 4.529,65 ha, trong đó có 06 KCN đã được thành lập và đang vận hành (bao gồm: Cái Lân, Việt Hưng, Hải Yên, Đông Mai, Texhong Hải Hà, Nam Tiền Phong)
Trang 12Tỉnh Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có nhiều Khu kinh tế, Trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực; Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản, nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh Là một địa danh giàu tiềm năng du lịch, là một đỉnh của tam giác tăng trưởng du lịch miền Bắc Việt Nam, Quảng Ninh có danh thắng nổi tiếng là vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và di sản thế giới bởi giá trị địa chất địa mạo, có Yên tử - nơi phát tích của trường phái Trúc lâm Yên Tử
Khu công nhiệp có vai trò rất lớn trong thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội địa phương Tuy nhiên để phát huy hiệu quả nhất vai trò to lớn của mình, KCN cần có những quy chế pháp lý phù hợp, tiên tiến, điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội pháp sinh, tạo động lực cho sự hoạt động ổn định, có những bước phát triển theo kịp
xu thế chung của thời đại
Mặc dù đã có một hệ thống các quy chế pháp lý các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hoạt động tại các KCN, tuy nhiên qua thực trạng hoạt động, các KCN chưa phát huy được sức mạnh của mình như mong muốn, đặc biệt đối với đặc thù của Quảng Ninh - nơi hội tụ nhiều tiềm năng về tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội thì việc nghiên cứu để đưa ra các quy chế pháp lý phù hợp thực tế địa phương để phát huy vai trò của các khu kinh tế là điều rất cần thiết Với chuyên ngành được đào tạo
về Luật kinh tế, việc nghiên cứu quy chế pháp lý về các KCN phù hợp với hướng nghiên cứu được đào tạo, qua đó nhằm đề ra những giải pháp thực hiện hiệu quả nhất công tác này
Từ những yêu cầu về lý luận cũng như thực tiễn đề ra, việc nghiên cứu đề tài:
“Quy chế pháp lý về các KCN và thực tiễn áp dụng tại các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” thực sự cần thiết và góp phần mang đến giải pháp để hoàn thiện
quy chế pháp lý đối với các KCN hiện nay
Trang 132 Tình hình nghiên cứu đề tài
Với tính chất quan trọng như vậy, song hiện nay, việc tìm hiểu, nghiên cứu về các quy chế pháp lý áp dụng tại các KCN chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt hầu như chưa có các công trình, các khảo cứu chuyên sâu về vấn đề quy chế pháp lý
về các KCN và thực tiễn áp dụng tại Quảng Ninh
Qua nghiên cứu tác giả nhận thấy thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động vận hành và quản lý các KCN như: Luận văn Thạc sỹ
“Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư và KCN Thụy Vân” tác giả Nguyễn Hà Việt, năm 2011, Trường đại học
Bách khoa Hà Nội; Luận án Tiến sỹ kinh tế “Phát triển bền vững các KCN trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Phan Mạnh Cường, năm 2015, tại Học viện
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Luận văn Thạc sỹ “Đề xuất giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý, giám sát phát thải chất ô nhiễm từ các khu công nghiệp và cơ sở công nghiệp lớn trên địa bàn các tỉnh sông Hồng” tác giả Mạc Thị Minh Trà, năm
2010, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chưa phân tích chuyên sâu về Quy chế pháp lý về KCN trên cơ sở đánh giá, phân tích những đặc thù thực tiễn hoạt động tại các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý đối với các KCN Nhìn chung, những khoá luận, luận văn, Luận án trên đã cung cấp một số nội dung về công tác quản lý nhà nước về KCN; đánh giá, nhận định, phân tích một số tồn tại và hạ chế của hệ thống các quy chế áp dụng tại một số KCN; cung cấp, rút kinh nghiệm về hoạt động quản lý tai các KCN…
Dù có những đóng góp nhất định, song các công trình trên mới chỉ đề cập đến một số KCN cụ thể, các đối tượng cụ thể Các nghiên cứu trước đây chưa nghiên cứu sâu những thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy chế pháp
lý đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với những đặc thù văn hóa xã hội vốn có
Vì vậy, có thể nói, đây là đề tài đầu tiên đề cập, tìm hiểu vấn đề Quy chế pháp lý
về các KCN và thực tiễn áp dụng tại Quảng Ninh
Trang 143 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là nghiên cứu thực trạng áp dụng Quy chế pháp lý tại các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, rút ra những ưu điểm, hạn chế; từ đó tìm kiếm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các quy chế pháp lý đối với các KCN, đáp ứng yêu cẩu thực tiễn, pháp huy tốt nhất vai trò của các Khu kinh tế trong phát triển kinh tế- xã hội địa phương nói riêng và nền kinh tế của cả nước nói chung Xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý đối với các KCN và với đặc thù các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý đối với các
KCN trên địa tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Quy chế pháp lý tại các Khu công
nghiệp tỉnh Quảng Ninh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Nghiên cứu quy chế pháp lý các KCN về: Chính sách đối với KCN; quản lý nhà nước về KCN; chức năng, nhiệm vụ, quyền
Trang 15hạn và cơ cấu tổ chức của Ban quản lý KCN, KKT được áp dụng tại các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn từ năm 1998 (từ khi có KCN đầu tiên của
Quảng ninh) đến tháng 7-2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả thực hiện các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Dùng để thu thập, nghiên cứu, kế thừa những tư liệu đã có nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, qua đó hệ thống hóa lý thuyết và xây dựng các luận cứ khoa học
- Phương pháp thống kê, phân tích đối với các quy chế pháp lý tại các KCN, nhằm phân tích thực trạng, đánh giá những thành công và hạn chế trong áp dụng vào thực tiễn
- Phỏng vấn đối với các đối tượng: Lãnh đạo Doanh nghiệp hoạt động trong KCN; Lãnh đạo Ban quản lý khu kinh tế Quảng Ninh; cán bộ và một số chuyên gia pháp luật có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm thu thập các ý kiến về vấn này
- Phương pháp nghiên cứu nội dung các quy chế tại các đối tượng được nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đề cập tới những ưu, nhược điểm của quy chế pháp lý được áp dụng tại các KCN của Quảng Ninh, những tiêu chí đánh giá và kinh nghiệm, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy chế pháp
lý tại các KCN Quảng Ninh
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu pháp luật nói chung, cũng như các cơ quan quản lý về các KCN Những giải pháp có thể giúp cho các cơ quan thực hiện nâng cao chất lượng áp dụng các quy chế pháp lý tại các KCN Đồng thời Luận văn có thể giúp cho những người quan tâm khác có thông tin
và kiến thức về vấn đền quy chế pháp lý tại các KCN
Trang 167 Kết cấu của Luận văn: Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn
được chia làm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về quy chế pháp lý các KCN
Chương 2 Thực tiễn áp dụng quy chế pháp lý các KCN tại tỉnh Quảng Ninh Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng áp dụng quy chế pháp lý các KCN tại tỉnh Quảng Ninh
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 KHU CÔNG NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm và phân loại KCN
Ở Việt Nam khái niệm về KCN đã được trình bày tại nhiều văn bản pháp luật như Quy chế KCN ban hành theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996; Quy chế KCN, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao ban hành theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 2 năm 1997 của Chính phủ, Luật đầu tư năm 2005
Định nghĩa ban đầu về KCN được nêu trong Quy chế KCN ban hành theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ thì KCN được hiểu là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống
Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quy định về KCN, KCX và KKT thì khái niệm về KCN được hiểu như sau: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ”
Hiện nay, theo Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về KCN, khái niệm KCN được định nghĩa là:
“Khu vực có ranh giới địa lý xác định,chuyên sản xuất hàng hóa công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự
và thủ tục quy định tại Nghị định này”
Phân loại: KCN gồm nhiều loại hình khác nhau bao gồm: Khu chế xuất, KCN
hỗ trợ, KCN sinh thái
Các KCN này có những đặc điểm chung như sau:
- KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vưc công nghiệp
Trang 18và dịch vụ có dự án đầu tư dài hạn (bao gồm cả doanh nghiệp đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng)
- Có hạ tầng kỹ thuật được đầu tư đồng bộ và đặt tại vị trí thuận lợi về kết nối giao thông, KCN, KCX là các trọng điểm thu hút đầu tư các nhà đầu tư trong nước
và ngoài nước để phát triển sản xuất công nghiệp của các địa phương
- KCN được hình thành gắn với nguồn vùng nguyên liệu của địa phương để phát huy tiềm năng thế mạnh tại chỗ và di dời các cơ sở công nghiệp ô nhiễm trong khu vực đông dân cư để đảm bảo công tác bảo vệ môi trường
- Là khu vực được quy hoạch mang tính liên vùng, liên lãnh thổ và có phạm vi ảnh hưởng không chỉ ở một khu vực địa phương
- Trong KCN có thể có hoặc không có dân cư sinh sống, nhưng ngoài KCN phải có hệ thống dịch vụ phục vụ nguồn nhân lực làm việc ở KCN
- Sản phẩm của các doanh nghiệp trong KCN có thể tiêu thụ trong nước hoặc bán ra nước ngoài
Từ khái niệm chung này, Nghị định 82/2018/NĐ-CP đã đưa ra định nghĩa cho một số khái niệm có liên quan như:
- Khu chế xuất (sau đây viết tắt là KCX) "là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị định này Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu”3
- KCN hỗ trợ “là KCN chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của KCN”4
Trang 19- KCN sinh thái “là KCN, trong đó có các doanh nghiệp trong KCN tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp”5
- KCN - đô thị - dịch vụ “gồm các khu chức năng: KCN là khu chức năng chính; khu đô thị - dịch vụ có chức năng hỗ trợ, cung cấp các dịch vụ tiện ích xã hội cho KCN (có thể bao gồm các phân khu chức năng như: Nhà ở, bệnh viện, trường học, trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm ươm tạo doanh nghiệp và một số hạng mục công trình kinh tế - xã hội khác cần thiết cho sự phát triển đồng bộ, bền vững của khu), được đầu tư xây dựng để đảm bảo sự phát triển hiệu quả, bền vững
về kinh tế, xã hội, môi trường của KCN Quy mô diện tích khu đô thị - dịch vụ tối
đa không vượt quá một phần ba (1/3) quy mô diện tích KCN”6
- Ban quản lý KCN “là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với KCN trên địa bàn tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương theo quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch
vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong KCN”7
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của các KCN ở Việt Nam
1.1.2.1 Chính sách và cơ sở pháp lý cho việc hình thành các KCN ở Việt Nam
Theo báo cáo Tổng kết 20 năm hoạt động các mô hình KCN (sau đây viết tắt
là KCN) của Bộ Kế hoạch và đầu tư ngày 10/02/2017, KCN ở nước ta hình thành
và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng
từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) Tiếp theo đó, Đại hội VII đã kịp thời đề ra những đường lối, chủ trương đổi mới mạnh mẽ và toàn diện
5 Điểm c, Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ
6 Khoản 3, Điều 2, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ
7 Khoản 1, Điều 61, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ
Trang 20nền kinh tế, tiến hành công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước, được
cụ thể hoá bằng Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000 Hàng loạt các chương trình phát triển kinh tế – xã hội được triển khai để thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, trong đó có chính sách phát triển KCN, KCX với sự ra đời của KCX Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh (1991) và việc ban hành Quy chế KCX 8 và Quy chế KCN9
Tiếp đó, định hướng chiến lược về quy hoạch phát triển và phân bố KCN, KCX được xác định cụ thể tại Nghị quyết Đại hội VIII (năm 1996): "Hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả khu chế xuất và khu công nghệ cao), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị Ở các thành phố, thị xã, nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng các KCN mới xen lẫn với khu dân cư"
Báo cáo Chính trị Đại hội IX (năm 2001) về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 tiếp tục khẳng định: "Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên
cả nước Phát triển có hiệu quả các KCN, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn" Báo cáo chính trị tại Đại hội X (năm 2006) một lần nữa khẳng định chủ trương “Nâng cao hiệu quả các KCN, khu chế xuất”, đồng thời nhấn mạnh chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững, trong đó có phát triển bền vững KCN, KCX
Báo cáo chính trị Đại hội Đảng XI (năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2011 – 2020 đã định hướng phát triển KCN, KCX bền vững và theo chiều sâu:
“Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng; phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao” Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đặt ra mục tiêu đến năm 2020 “ tất cả các cụm, KCN, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung”
8 Nghị định 322/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 18/10/1991, ban hành Quy chế Khu chế xuất
9 Nghị định 192/CP của Chính phủ ngày 28/12/1994, ban hành Quy chế Khu công nghiệp
Trang 21Về cơ sở pháp lý, hiện nay, mô hình KCN, KCX hoạt động theo quy định tại Luật đầu tư năm 2014, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, Nghị định số 114/2015/NĐ-CP ngày 9/11/2015, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 và pháp luật chuyên ngành về đất đai, thương mại, lao động, xây dựng, thuế và một số pháp luật khác có liên quan
Với những chỉ đạo nhất quán từ trung ương đến địa phương, có thể nói đến nay việc phát triển các KCN đang có những bước đi vững chắc, đúng hướng Hệ thống cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện, điều chỉnh kịp thời những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng và triển khai các hoạt động tại các KCN, qua đó đã phát huy được vai trò tích cực của các KCN đối với việc phát triển kinh
tế xã hội, tăng cường thu hút đầu tư, phát triển kinh tế đất nước nói chung và mỗi địa phương có KCN hoạt động nói riêng
1.1.2.2 Các giai đoạn phát triển của KCN ở Việt Nam
Trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới (1991-1994), để thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, tạo tiền đề hội nhập nền kinh tế Việt Nam với thế giới, các mô hình khu chế xuất (KCX) được hình thành với việc thành lập KCX Tân Thuận năm 1991
Giai đoạn 2 (từ 1994 - 1997), gắn với việc hình thành KCN (KCN) và chuyển đổi một số KCX thành KCN để đẩy mạnh thu hút đầu tư, đa dạng hóa phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp nhẹ, hướng tới xuất khẩu Giai đoạn 3 (từ 1997 – 2003), gắn với việc phát triển lan tỏa KCN, hình thành khu công nghệ cao (KCNC), thí điểm và thành lập khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) với việc thành lập KKTCK Móng Cái năm 1996 và KCNC Hòa Lạc năm 1998 Giai đoạn 4 (từ 2003 - nay), thí điểm thực hiện khu kinh tế (KKT) mở và phát triển KKT ven biển để tạo thành các vùng động lực phát triển kinh tế, tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp nặng tại khu vực ven biển Đồng thời, trong giai đoạn này, để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong một số lĩnh vực quan trọng như công nghệ thông tin, nông nghiệp, các mô hình mới như khu công nghệ thông
Trang 22tin tập trung (KCNTTTT), khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (KNNƯDCNC) đã được thành lập
1.1.3 Vai trò của các KCN
Các KCN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là các nước đang phát triển thì việc phát triển các KCN đã tạo ra được cơ hội phát triển công nghiệp và thực hiện công nghiệp hóa rút ngắn bởi có thể kết hợp và học tập được những thành tựu mới nhất về khoa học công nghệ, về tổ chức và quản lý doanh nghiệp, đồng thời tranh thủ được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài để phát triển Có thể phân tích vai trò của các KCN ở một số điểm dưới đây:
1.1.3.1 Các KCN đã góp phần vào đổi mới môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam
Việc phát triển các mô hình KCN với ranh giới địa lý xác định, kèm theo các
cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư đã tạo điều kiện phát huy các lợi thế địa kinh tế và thuận lợi cho áp dụng các quy trình hành chính rút gọn Qua đó, tạo nên các điểm đầu tư hấp dẫn, góp phần đổi mới môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam Trước đây, khi chưa có các mô hình KCN nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài, mất nhiều thời gian trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư do các lý do như: chưa có mặt bằng sạch, cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại địa điểm đầu tư chưa có sẵn Đến nay, thời gian chuẩn bị đầu tư của nhà đầu tư đã được rút ngắn đáng kể do các KCN có thể chủ động chuẩn bị quỹ đất sạch Đồng thời, việc đền bù, giải phóng mặt bằng trong KCN cũng có nhiều thuận lợi hơn so với bên ngoài KCN do quy hoạch của KCN đã được phê duyệt trước khi cấp đất cho nhà đầu tư Ngoài ra, một số cơ sở kỹ thuật của KCN như đường giao thông, hệ thống thu gom nước thải…đã được đầu tư trước khi nhà đầu tư đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Các mô hình KCN có thể tiếp nhận nhiều lĩnh vực, ngành nghề đầu tư, kinh doanh Do đó, có thể đáp ứng các nhu cầu đầu tư đa dạng của các nhà đầu tư Ngoài
ra, các mô hình KCN đều có định hướng phát triển và lợi thế thu hút đầu tư riêng nên không tạo ra nhiều áp lực cạnh tranh nội bộ trong thu hút đầu tư
Trang 231.1.3.2 Các KCN đã thu hút được lượng vốn lớn đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật và sản xuất kinh doanh
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân, khu vực đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự
án phát triển cơ sở hạ tầng Các KCN đã huy động được nguồn vốn hỗ trợ ODA từ các nhà tài trợ nước ngoài để phát triển hạ tầng, thu hút được nguồn vốn đầu tư tư nhân vào đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật thông qua đẩy mạnh các hình thức hợp tác công tư (PPP)
Ngoài thu hút vốn đầu tư trực tiếp phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng bên trong các KCN với tác động lan tỏa thông qua các liên kết kinh tế, thị trường, xã hội, các KCN còn góp phần quan trọng vào đẩy mạnh việc đầu tư các cơ sở hạ tầng kinh tế-
xã hội ngoài hàng rào các KCN Khi các KCN đã phát triển, ước tính tác động gián tiếp này cũng sẽ giúp thu hút được một lượng vốn đầu tư đáng kể
Đối với nguồn vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, Các KCN cửa khẩu cũng thu hút được dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất chế biến, cung cấp dịch vụ, thương mại Các KCNC, KNNƯDCNC, KCNTTTT cũng thu hút được một lượng vốn không nhỏ từ các nhà đầu tư thứ cấp
1.1.3.3 Các KCN đã thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực
Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế với xuất phát điểm từ nền kinh tế với ngành nông nghiệp lạc hậu và sản xuất công nghiệp ở quy
mô nhỏ Với việc hình thành các KCN sản xuất công nghiệp của Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản, cụ thể ở các điểm sau:
Mặt bằng công nghệ sản xuất của các ngành công nghiệp đã được nâng lên đáng kể Cùng với sự dịch chuyển của dòng vốn đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài
đã đưa vào Việt Nam các công nghệ sản xuất và kỹ năng mới, có trình độ khoa học
kỹ thuật cao Đến nay, các KCN đã thu hút được một số lượng không nhỏ các dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao
Trang 24Các KCNC bước đầu đã hình thành một số cơ sở khoa học nghiên cứu ứng dụng, ươm tạo doanh nghiệp tạo cơ sở nâng cao hơn nữa năng lực nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất của Việt Nam
Sản xuất công nghiệp đã chuyển dần từ quy mô nhỏ sang sản xuất quy mô lớn, tập trung Trước khi phát triển các KCN các cơ sở sản xuất công nghiệp của Việt Nam chủ yếu là các nhà máy quy mô vừa và nhỏ Đến nay, trên cả nước đã có nhiều
cơ sở sản xuất quy mô lớn hình thành trong các KCN
Với việc hình thành các KCN Việt Nam đang đứng trước cơ hội để phát triển các ngành công nghiệp chủ lực mũi nhọn, cụ thể là sản xuất điện thoại di động thông minh, dầu khí, thép, đóng tàu với tiền đề là các dự án quy mô lớn đang được đầu tư tại các KCN Cụ thể như: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi; nhà máy thép Formosa (Đài Loan) với công suất 10 triệu tấn/năm tại KKT Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh; tổ hợp sản xuất di động của Tập đoàn Samsung tại KCN Bắc Ninh với nhà máy chính và các nhà máy vệ tinh sản xuất linh phụ kiện…
1.1.3.4 Các KCN đã có một số đóng góp về phát triển kinh tế- xã hội
Về giải quyết việc làm và phát triển kỹ năng cho người lao động, hiện nay, các KCN đã giải quyết việc làm cho khoảng trên 3 triệu lao động trực tiếp Đồng thời, các KCN cũng cung cấp một số phương thức, môi trường để đào tạo, nâng cao kỹ năng cho người lao động Ngoài ra, các cơ sở nghiên cứu, phát triển do doanh nghiệp trong KCN thành lập cũng là môi trường thuận lợi để người lao động tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để phát triển kỹ năng
1.2 QUY CHẾ PHÁP LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quy chế pháp lý các khu công nghiệp
Thuật ngữ Quy chế pháp lý KCN được sử dụng đầu tiên tại Nghị định số
192-CP, ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ về ban hành Quy chế KCN Quy chế này quy định về Các loại hình doanh nghiệp; các lĩnh vực được đầu tư; quyền
và nghĩa vụ của các xí nghiệp; xây dựng và kinh doanh công trình cơ sở hạ tầng; quan hệ lao động; quản lý tài chính, ngoại hối; tổ chức và quản lý trong KCN
Trang 25Tại Điều 24, Nghị định số 192-CP ghi rõ “những quy định khác liên quan đến hoạt động của Xí nghiệp KCN không quy định trong Quy chế này được áp dụng theo các điều khoản tương ứng của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân và các văn bản pháp luật khác có liên quan”
Đến nay, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về KCN bao gồm tổng thể các quy định về: Quy hoạch, đầu tư, thành lập KCN; Chính sách đối với KCN; một số loại hình KCN; quản lý nhà nước KCN; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BQL KCN
Quy chế pháp lý các KCN có những điểm sau đây:
- Quy chế pháp lý KCN được Chính phủ ban hành dưới hình thức Nghị định, quy định về quy hoạch, thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý nhà nước đối với KCN, được áp đối với: Cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong KCN và khu kinh tế Nhà nước không ngừng hoàn thiện quy chế pháp lý các KCN, đảm bảo hiệu quả cho cả nhà đầu tư, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước
- Quy chế pháp lý được áp dung chung đối với tất cả các KCN trên toàn quốc
- Quy chế được áp dụng trên nguyên tắc: mọi nhà đầu tư, doanh nghiệp được hưởng đầy đủ và bình đẳng các quyền theo quy chế; quyền và nghĩa vụ là hai mặt không thể tách rời Nhà đầu tư, doanh nghiệp được hưởng quyền đồng thời phải làm nghĩa vụ đối với cơ quan quản lý Điều đó thể hiện mối liên hệ về trách nhiệm pháp
lí giữa cơ quan quản lý nhà nước về KCN đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp Cơ quan quản lý nhà nước chỉ truy cứu trách nhiệm đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp hoạt động trong KCN khi có hành vi vi phạm do pháp luật quy định và chỉ trong giới hạn mà pháp luật cho phép
Khái niệm Quy chế pháp lý KCN được hiểu như sau: Quy chế pháp lý các KCN
là tổng thể các quy định về quy hoạch, thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý nhà nước về KCN, áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân
Trang 26có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong KCN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được đảm bảo thực hiện trong thực tế
1.2.2 Sự cần thiết phải ban hành quy chế pháp lý các KCN
Quy chế pháp lý các KCN tạo ra khuôn khổ pháp lý cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu lợi nhuận của mình, đồng thời giúp các cơ quan quản
lý nhà nước có những chế tài, biện pháp cụ thể để xử lý các vi phạm nếu có của các doanh nghiệp, qua đó tạo tâm lý tin tưởng của nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, đồng thời có trách nhiệm trong mọi hoạt động của mình, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa nhà đầu tư, doanh nghiệp, người lao động, cơ quan quản lý nhà nước cũng như đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của các KCN
Mục tiêu của các KCN là huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành công nghiệp, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH đất nước Quy chế pháp lý vừa tạo điều kiện cho nhà đầu tư, doanh nghiệp thực hiện lợi ích của họ, vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu của phát triển kinh tế, xã hội Quy chế pháp lý đối với các KCN phải đạt đươc mục tiêu thu hút cao nhất nguồn vốn đầu tư vào KCN, phù hợp với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bên cạnh mục tiêu quan trọng này, sự cần thiết phải ban hành và áp dụng quy chế pháp lý đối với các KCN còn được giải thích bằng các mục tiêu cụ thể dưới đây
mà quy chế này hướng đến:
- Việc ban hành các quy chế pháp lý đối với các KCN còn nhằm phát huy những ưu điểm và lợi thế của mỗi KCN, đảm bảo sự hợp tác, cùng có lợi giữa các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong KCN Việc áp dụng quy chế pháp lý các KCN còn nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ của các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong KCN, thu hút các doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh trong KCN Thông qua việc ban hành các quy chế pháp lý nhà nước đã tạo
điều kiện thuận lợi để phát triển KCN
- Nội dung của Quy chế pháp lý các KCN không chỉ điều chỉnh về quy hoạch, điều hành, kiểm soát các KCN mà còn bao gồm hoạt động khuyến khích, hỗ trợ sự phát triển của các KCN Quy chế pháp lý KCN tạo lập môi trường pháp lý ổn định
Trang 27và bình đẳng cho các doanh nghiệp, xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư, sản xuất, kinh doanh; xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp phát triển
- Quy chế pháp lý các KCN góp phần đảm bảo sử dụng quỹ đất hiệu quả hơn, tránh lãng phí các nguồn tài nguyên, đảm bảo các yêu cầu về phát triển KCN với các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội
- Quy chế pháp lý các KCN còn góp phần ngăn ngừa các hoạt động xả thải không đảm bảo kỹ thuật của các nhà máy, phân xưởng làm ảnh hưởng đến môi trường Quy chế buộc các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh phải
xử lý chất thải và bảo vệ môi trường
- Cuối cùng, Quy chế pháp lý còn trực tiếp góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Đây là mục tiêu quan trọng của Quy chế pháp lý các KCN Phát triển công nghiệp phải nhằm phục vụ tốt hơn cuộc sống của người dân, đảm bảo có việc làm và được bảo vệ Quy chế pháp lý, ngoài khuyến khích sử dụng lao động địa phương, còn bao gồm các quy định pháp lý bảo vệ quyền lợi của người lao động, về tiền lương, an toàn lao động và giải quyết các vấn đề tranh chấp
1.2.3 Nội dung của quy chế pháp lý các KCN
Như ở phần 1.2.1 đã phân tích, nội dung của quy chế pháp lý các KCN hàm chứa các quy định về nhiều vấn đề khác nhau Nội dung của các vấn đề được điều
chỉnh thường bao gồm:
1.2.3.1 Ưu đãi đầu tư đối với KCN
KCN là địa bàn ưu đãi đầu tư, được hưởng chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo pháp luật về đầu tư KCN được thành lập tại địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo pháp luật về đầu tư
Trang 28Chi phí đầu tư xây dựng, vận hành hoặc thuê nhà chung cư và các công trình kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ cho công nhân làm việc tại KCN là chi phí hợp lý được khấu trừ để tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp có dự án đầu tư trong KCN, khu kinh tế
Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, công trình văn hóa, thể thao, công trình kết cấu
hạ tầng xã hội phục vụ công nhân làm việc tại KCN được hưởng ưu đãi theo quy định pháp luật về xây dựng nhà ở xã hội và pháp luật có liên quan
Nhà đầu tư, doanh nghiệp có dự án đầu tư vào KCN được cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ thực hiện các thủ tục hành chính về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, xây dựng, môi trường, lao động, thương mại theo cơ chế “một cửa, tại chỗ”, hỗ trợ về tuyển dụng lao động và các vấn đề liên quan khác trong triển khai thực hiện dự án
Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp: dự án đầu tư vào KCN được áp dụng thuế
suất phổ thông là 20%, được miễn 02 năm và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo.10
Ưu đãi thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: hàng hóa từ Khu chế xuất xuất khẩu
ra nước ngoài, hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào Khu chế xuất để sản xuất hàng xuất khẩu trong Khu chế xuất là đối tượng không chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Dự án đầu tư hạ tầng KCN và dự án đầu tư thứ cấp trong KCN được hưởng ưu đãi miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định Dự án đầu tư hạ tầng KCN được hưởng ưu đãi miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sản xuất của dự án trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bắt đầu sản xuất.11
Ưu đãi về đất đai: dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN
được miễn tiền thuê đất theo địa bàn cấp huyện quy định tại pháp luật về đầu tư Riêng đối với phần diện tích đất xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung trong KCN thì được miễn tiền thuê đất cho cả thời hạn thuê
Trang 29Ưu đãi tín dụng: dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN, Khu chế xuất thuộc đối
tượng được vay vốn tín dụng đầu tư theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của nhà nước
Hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN: các KCN được hỗ trợ vốn NSNN để
thực hiện các hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu cho hoạt động của KCN như: hệ thống xử lý nước thải và chất thải của KCN; hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào KCN; đường gom, đường vào KCN; bồi thường, giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng
kỹ thuật, hạ tầng xã hội của các dự án khu nhà ở công nhân và khu tái định cư phục
vụ người bị thu hồi đất trong Khu kinh tế ven biển12
1.2.3.2 Các nội dung về quy hoạch, thành lập và mở rộng KCN
Căn cứ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch tổng thể quốc gia; quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) có liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển KCN
Quy hoạch KCN nằm trong khu kinh tế được tổng hợp vào Quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quy định của pháp luật về xây dựng Trường hợp KCN đã nằm trong quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì không phải thực hiện thủ tục bổ sung KCN vào quy hoạch phát triển KCN
Quy hoạch phát triển KCN, quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế đã được phê duyệt là căn cứ để xem xét việc đầu tư, thành lập, mở rộng KCN; xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phục vụ sự phát triển của KCN
1.2.3.3 Phương thức huy động các nguồn vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN
12 Xem: Quyết định 40/2015/QĐ-TTg ngày 14/9/2015 ban hành nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân
bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016-2020
Trang 30Dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN tại địa bàn có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được
hỗ trợ vốn từ ngân sách trung ương để đầu tư kết cấu hạ tầng theo chương trình mục tiêu đầu tư hạ tầng KCN được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo từng giai đoạn
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cân đối nguồn ngân sách địa phương để hỗ trợ nhà đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài KCN; có chính sách khuyến khích nhà đầu tư và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN
Công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các công trình bảo vệ,
xử lý ô nhiễm môi trường quan trọng của khu kinh tế được bố trí vốn từ nguồn vốn đầu tư phát triển của ngân sách địa phương và nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách trung ương Điều kiện, nguyên tắc và loại công trình được hỗ trợ từ ngân sách trung ương thực hiện theo quy định của chương trình mục tiêu hỗ trợ hạ tầng khu kinh tế được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng quy mô lớn, có vai trò then chốt đối với
sự phát triển khu kinh tế được huy động vốn từ phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật
Công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cần thiết của khu kinh tế được sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn tín dụng ưu đãi và các hỗ trợ kỹ thuật khác theo quy định pháp luật Thu hút vốn đầu tư theo các hình thức BOT, BT, BTO và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng các khu chức năng trong khu kinh tế được huy động vốn thông qua việc cho nhà đầu tư có khả năng về tài chính và kinh nghiệm thuê lại một phần hoặc toàn bộ diện tích đất chưa cho thuê để đầu tư và cho thuê lại đất theo quy định của pháp luật
Dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phục vụ chung trong khu kinh tế được huy động vốn từ quỹ đất theo quy định của pháp luật
về đất đai
Trang 311.2.3.4 Quyền hạn và nghĩa vụ của doanh nghiệp hoạt động trong KCN
và nhà đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN
Doanh nghiệp hoạt động trong KCN và nhà đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN có đầy đủ quyền hạn, nghĩa vụ của nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, về doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan khác
Nhà đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN định giá cho thuê, cho thuê lại đất
đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, các loại phí sử dụng hạ tầng liên quan khác theo quy định của pháp luật và đăng ký với Ban quản lý KCN về khung giá và các loại phí Việc đăng ký khung giá và phí thực hiện định kỳ 6 tháng hoặc trong trường hợp có sự điều chỉnh khác so với khung giá đã đăng ký
Trường hợp một dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN có nhiều nhà đầu
tư thì các nhà đầu tư cùng chịu trách nhiệm đảm bảo tính đồng bộ về kết cấu hạ tầng
kỹ thuật của KCN
Nhà đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN và nhà đầu tư thuê đất, thuê lại đất
đã có hạ tầng trong KCN được xây dựng và cho thuê các loại hình nhà xưởng, trong
đó có nhà xưởng cao tầng trong KCN theo quy định của pháp luật về xây dựng, hướng dẫn của Bộ Xây dựng và theo quy định của pháp luật khác có liên quan Nhà đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN, khu chức năng trong khu kinh tế
có trách nhiệm xây dựng, vận hành trạm xử lý nước thải tập trung, các công trình bảo vệ môi trường khác (nếu có) theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường Nhà đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN, các khu chức năng trong khu kinh
tế được ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng trong KCN, các khu chức năng trong khu kinh tế có trách nhiệm duy tu, bảo dưỡng và vận hành hệ thống kết cấu hạ tầng đó để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuê đất, thuê lại đất trong KCN, các khu chức năng trong khu kinh tế
Trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư hoặc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thì việc xử lý tài sản hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho KCN, các khu chức năng trong khu kinh tế được thực hiện theo pháp luật về quản lý vốn nhà nước và cổ phần hóa
Trang 32Tuân thủ các quy định về an ninh, trật tự, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, văn hóa doanh nghiệp, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Phối hợp với lực lượng Công an và cơ quan có thẩm quyền xây dựng phương án phòng chống cháy nổ, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong khu vực
1.2.3.5 Phát triển nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao cho người lao động KCN
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng nhà ở để cho các đối tượng là người lao động tại các KCN thuê; người sử dụng lao động, doanh nghiệp phát triển kết cấu hạ tầng KCN tham gia đầu tư xây dựng nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao cho người lao động trong KCN, khu kinh tế
Nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao được đầu tư xây dựng phải đảm bảo tiêu chuẩn về diện tích, chất lượng công trình, mỹ quan, an toàn và môi trường theo quy định của pháp luật
Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để người lao động sử dụng các dịch vụ y tế, giáo dục, xã hội, văn hóa, thể thao trên địa bàn Quy hoạch nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao cho người lao động KCN gắn liền với quy hoạch các KCN trên địa bàn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy hoạch và bố trí quỹ đất ở vị trí phù hợp để các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp xây dựng nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao cho người lao động trong KCN Trong quá trình thực hiện thủ tục đầu tư dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN, nhà đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN phải báo cáo cơ quan đăng ký đầu
tư phương án giải quyết nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao cho người lao động KCN
Đối với các KCN có khó khăn về nhà ở, công trình xã hội văn hóa, thể thao cho người lao động, căn cứ vào điều kiện cụ thể, trên cơ sở kiến nghị của nhà đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ cho phép điều chỉnh diện tích KCN trong quy hoạch phát triển KCN để dành một phần diện tích đất KCN đã được giải phóng mặt bằng để đầu tư xây dựng khu nhà ở xã hội, công
Trang 33trình xã hội, văn hóa, thể thao cho người lao động Sau khi được Thủ tướng Chính phủ đồng ý, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt điều chỉnh quy hoạch xây dựng KCN theo quy định của pháp luật xây dựng
Trong trường hợp khu vực quy hoạch phát triển nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao nằm liền kề KCN thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch xây dựng KCN gắn với quy hoạch xây dựng khu nhà ở, công trình văn hóa, thể thao cho người lao động KCN
1.2.3.6 Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước đối với KCN
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách về phát triển KCN
Ban hành, hướng dẫn, phổ biến và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật và tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật có liên quan đến việc thành lập, đầu tư, xây dựng, phát triển và quản lý hoạt động của KCN; xây dựng và quản lý hệ thống thông tin
về KCN; tổ chức thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư vào KCN
Cấp, điều chỉnh, thu hồi văn bản quyết định chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các loại giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận; tổ chức thực hiện các thủ tục hành chính nhà nước và dịch
vụ hỗ trợ có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của các tổ chức,
Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh13:
13 Xem: Điều 60, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về KCN
Trang 34Chủ trì xây dựng quy hoạch phát triển KCN trên địa bàn; quyết định thành lập,
mở rộng KCN
Tổ chức lập quy hoạch chung xây dựng đối với KCN
Chỉ đạo lập và phê duyệt quy hoạch xây dựng KCN, các khu chức năng trong khu kinh tế; quyết định sử dụng vốn ngân sách nhà nước để hỗ trợ nhà đầu tư đầu tư
hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào KCN, khu kinh tế
Chỉ đạo thực hiện thủ tục đầu tư đối với dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN, các khu chức năng trong khu kinh tế trong thời gian chưa thành lập Ban quản
lý KCN theo quy định pháp luật về đầu tư
Ban hành các chính sách ưu đãi và khuyến khích cụ thể phù hợp với các quy định của pháp luật đối với việc ưu tiên tuyển dụng và sử dụng lao động tại chỗ, lao động có chuyên môn cao, tay nghề giỏi; hỗ trợ đào tạo nghề đối với lao động làm việc trong KCN, khu kinh tế
Quy hoạch đất xây dựng khu tái định cư, khu nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao cho công nhân trong KCN, khu kinh tế; hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân, khu tái định cư, công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội theo quy định pháp luật; hỗ trợ xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch; hỗ trợ bồi thường, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh quá trình đầu tư và phát triển KCN, khu kinh tế Chỉ đạo thực hiện việc thu hồi diện tích đất, mặt nước, bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định canh, tái định cư và thực hiện các thủ tục cho thuê hoặc giao đất trong KCN theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật có liên quan Chỉ đạo các tổ chức có liên quan lập kế hoạch đầu tư và tổ chức xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào KCN như: Đường giao thông, hệ thống cung cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, các điểm đấu nối kỹ thuật với các công trình kết cấu hạ tầng trong hàng rào KCN, khu kinh tế, cơ
sở đào tạo nghề, nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao, cơ sở khám chữa bệnh, trường học và các công trình công cộng khác đáp ứng nhu cầu phát triển KCN, khu kinh tế
Trang 35Chủ trì xây dựng kế hoạch và cân đối vốn hỗ trợ đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào KCN, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội của khu kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu tư công, ngân sách nhà nước
Chỉ đạo thực hiện cơ chế hành chính “một cửa tại chỗ” tại Ban quản lý KCN, khu kinh tế; ban hành và giám sát thực hiện Quy chế phối hợp giữa Ban quản lý với các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, quy định về xây dựng, lao động, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ, an ninh trật tự trong KCN, khu kinh tế
Tổ chức và phối hợp tổ chức các cơ sở đào tạo nghề tại địa phương để đáp ứng nhu cầu lao động cho KCN, khu kinh tế
Tổ chức, kiểm tra, thanh tra và giám sát việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và phát triển KCN, khu kinh tế; đối với những vấn đề vượt quá thẩm quyền thì phối hợp với các bộ, ngành giải quyết hoặc trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
Xây dựng Đề án thành lập, tổ chức lại các Ban quản lý KCN để đảm bảo nguyên tắc mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có một Ban quản lý KCN, khu kinh tế; quyết định việc bổ nhiệm nhân sự giữ chức danh Trưởng ban và Phó trưởng ban Ban quản lý KCN, khu kinh tế
Cấp kinh phí hoạt động hành chính, sự nghiệp và vốn đầu tư phát triển cho Ban quản lý KCN theo quy định của pháp luật về đầu tư công và ngân sách nhà nước; phê duyệt kế hoạch, cấp kinh phí và tổ chức vận động xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch để phát triển KCN, khu kinh tế
Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, chuyên ngành ở địa phương về thương mại, tài chính, hải quan, ngân hàng, công an và các cơ quan liên quan khác bố trí đại diện
đủ thẩm quyền để giải quyết công việc liên quan tại từng KCN khi cần thiết
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý KCN, Ban quản lý các KKT14:
14 Xem: Điều 63, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về KCN
Trang 36Quản lý, phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định, quy hoạch, kế hoạch có liên quan tới KCN, khu kinh tế đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
Đăng ký đầu tư; cấp, điều chỉnh, thu hồi Quyết định chủ trương đầu tư Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thỏa thuận ký quỹ để bảo đảm thực hiện dự án đầu tư đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đầu tư; Cấp, cấp lại, điều chỉnh, gia hạn, thu hồi Giấy phép thành lập văn phòng đại diện và chấm dứt hoạt động của Văn phòng đại diện của tổ chức, thương nhân nước ngoài đặt trụ sở tại KCN, khu kinh tế theo quy định pháp luật về thương mại;
Chủ trì thực hiện kiểm tra, phối hợp với cơ quan chức năng khi các cơ quan chức năng tổ chức các cuộc thanh tra việc thực hiện quy định, quy hoạch, kế hoạch
có liên quan tới KCN, khu kinh tế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý đối với KCN, khu kinh tế;
Tiếp nhận đăng ký khung giá cho thuê đất, cho thuê lại đất và phí hạ tầng KCN, khu kinh tế của nhà đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng KCN, khu chức năng trong khu kinh tế;
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện mục tiêu đầu tư quy định tại văn bản phê duyệt chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tiến độ góp vốn và triển khai dự án đầu tư; việc thực hiện các điều khoản cam kết đối với các dự án được hưởng ưu đãi đầu tư và việc chấp hành pháp luật về xây dựng, lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội đối với người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ, an ninh - trật tự, bảo vệ môi trường đối với các dự án tại KCN, khu kinh tế; Phối hợp với các đơn vị Công an và các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền khác trong việc kiểm tra công tác giữ gìn an ninh, trật tự, phòng chống cháy nổ, xây dựng
và đề xuất những biện pháp thực hiện công tác bảo đảm an ninh, trật tự, tổ chức lực lượng bảo vệ, lực lượng phòng cháy, chữa cháy trong KCN, khu kinh tế;
Trang 37Giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư tại KCN, khu kinh tế và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền;
Nhận báo cáo thống kê, báo cáo tài chính của doanh nghiệp hoạt động trong KCN, khu kinh tế; đánh giá hiệu quả đầu tư trong KCN, khu kinh tế;
Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc xây dựng và quản lý hệ thống thông tin về KCN, khu kinh tế thuộc thẩm quyền quản lý;
Báo cáo định kỳ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình: Xây dựng và phát triển KCN, khu kinh tế; thực hiện việc cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; triển khai và hoạt động của dự án đầu tư; thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước; thực hiện các quy định của pháp luật lao động và các biện pháp bảo vệ môi trường trong KCN, khu kinh tế;
Hỗ trợ, cung cấp thông tin để các doanh nghiệp trong KCN, khu kinh tế liên kết, hợp tác với nhau thực hiện cộng sinh công nghiệp, các biện pháp sản xuất sạch hơn, hình thành các KCN sinh thái, KCN hỗ trợ, khu, cụm liên kết ngành; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng KCN trong trường hợp phải điều chỉnh quy hoạch xây dựng KCN khi chuyển đổi thành KCN sinh thái;
Tổ chức phong trào thi đua và khen thưởng cho doanh nghiệp trong KCN, khu kinh tế;
Tổ chức và phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
và xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong khu theo thẩm quyền;
Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về quản lý tài chính, tài sản, ngân sách được giao; thu và quản lý
sử dụng các loại phí, lệ phí; nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài về các lĩnh vực có liên quan đến đầu tư xây dựng và phát triển KCN, khu kinh tế; quản lý tổ chức bộ
Trang 38máy, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức và đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức của Ban quản lý KCN, khu kinh tế; Thực hiện nhiệm vụ đầu mối tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch, quản lý, hỗ trợ chuyển đổi, phát triển mô hình KCN, khu kinh tế mới; Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định pháp luật hoặc do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao
1.2.4 Áp dụng quy chế pháp lý các KCN
1.2.4.1 Các tiêu chí đánh giá chất lượng áp dụng
Các quy chế pháp lý KCN phải phù hợp với xu thế phát triển của các KCN nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung
Các quy chế pháp lý KCN tuân thủ đúng các quy định, nhưng vẫn đảm bảo độ
mở, linh hoạt trong hoạt động và làm những điều không bị cấm
Được thực hiện nghiêm túc và đầy đủ, có các cơ chế tổ chức và giám sát thực hiện Kịp thời áp dụng những quy định mới có lợi nhất cho nhà đầu tư, doanh nghiệp và người lao động
1.2.4.2 Hiệu quả của quy chế pháp lý đối với các KCN
Từ hiệu quả tổng hợp cả về kinh tế và xã hội, để xác định tương quan định lượng giữa chi phí thực thi chính sách bỏ ra và lợi ích thu lại thì hiệu quả phải tính thêm những tác hại phụ khi thực thi quy chế, ví dụ như độ thỏa mãn nhu cầu của các nhà đầu tư Nhóm tiêu chí này phản ánh sức hấp dẫn của các KCN đối với các nhà đầu tư cả trong giai đoạn thu hút đầu tư và quá trình hoạt động của doanh nghiệp trong KCN Nó bao gồm một nhóm các yếu tố phản ánh mức độ tiện lợi của hệ thống dịch vụ trong KCN tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư Cụ thể là: (i) Mức độ bảo đảm của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của KCN: Hệ thống cung ứng điện, nước, hệ thống hạ tầng trong, ngoài KCN: đường xá, kho bãi (ii) Năng lực các ngành công nghiệp hỗ trợ, chất lượng hoạt động các ngành logistics phục vụ hoạt động cho các doanh nghiệp trong KCN như: bưu chính, thông tin, tài chính, ngân hàng, (iii) Các chỉ số về nguồn nhân lực với
Trang 39tư cách là nguồn lực đầu vào cho hoạt động của KCN, bao gồm khả năng tuyển dụng lao động hay tính sẵn có về số và chất lượng lao động địa phương khi doanh nghiệp cần tuyển dụng và giá nhân công của địa phương này so với các địa phương khác trong cả nước và nước ngoài
Trong quá trình thực thi quy chế pháp lý đối với các KCN, do có nhiều nội dung của nhiều chỉ tiêu không thể lượng hóa được vì các nội dung này mang tính xã hội cao bên cạnh nền kinh tế thị trường, do vậy hiệu quả vừa được xác định theo định tính (hiệu quả xã hội) vừa được xác định theo định lượng (hiệu quả kinh tế) Hiệu quả theo định lượng được đánh giá cao khi nó phù hợp với hiệu quả của các chính sách khác, thậm chí nó bổ sung cho nhau để tăng thêm lợi ích chung cho xã hội
1.2.4.3 Tính phù hợp của chiến lược, quy hoạch và các chính sách quản
lý nhà nước đối với các KCN
Sự phù hợp của quy chế pháp lý với công tác quản lý nhà nước đối với các KCN được thể hiện ở các vấn đề khi thực thi được giải quyết đến đâu? ở mức độ nào? Tính phù hợp thể hiện là quy chế đối với các KCN phải được sử dụng với mục đích gì, thu hút các nhà đầu tư như thế nào phải căn cứ vào tình hình thực tế trong nước Hay như trong đầu tư thương mại, quy định về thu hút FDI thế nào, có gây khó khăn cho việc thu hút lao động nước ngoài vào các KCN hay không?
Việc đánh giá tổng hợp tính phù hợp của quy chế pháp lý đối với các KCN phải trên cơ sở tổng hợp nội dung của chính sách gắn với từng chuỗi kết quả của quá trình thực thi, điều này phải dựa vào khâu hoạch định chính sách và trong hoàn cảnh cụ thể thực thi quy chế pháp lý các KCN
Vị trí KCN là thước đo quan trọng đánh giá tính phù hợp quy chế pháp lý các KCN từ giai đoạn xây dựng quy hoạch, kế hoạch và vận hành chúng, nó cho thấy tính hợp lý, đồng bộ, khoa học và hiệu quả của KCN Các tiêu chí cụ thể bao gồm: (i) Sự bố trí khoa học các KC N trong phạm vi không gian vùng (đây là điều kiện thúc đẩy tăng cường sự liên kết giữa các KCN); (ii) Bố trí vị trí KCN trong không gian địa phương: vị trí so với khu dân cư; so với vị trí đường giao thông; và (iii) Nguồn gốc đất đai cho phát triển KCN nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, bảo vệ
Trang 40và cải thiện môi trường và thu hút lao động
Ngoài ra, khi xét hiệu quả của quy chế pháp lý KCN cần xem xét đến yếu tố tác động kinh tế - xã hội và môi trường mà KCN có thể mang lại Tất cả những dấu hiệu này phải cần được xem xét cả ở hiện tại và khả năng duy trì nó trong tương lai lâu dài của KCN
1.2.4.4 Tính khả thi của Quy chế pháp lý đối với các KCN
Hiệu quả quy chế pháp lý đối với các KCN dựa vào tiêu chí đảm bảo các yếu
tố công bằng khác sự phát triển của các KCN Trong thực tế, khi xây dựng quy chế pháp lý đối với các KCN, các nhà quản lý đã cố gắng tạo ra những cơ hội ngang nhau đối với các nhà đầu tư, để đảm bảo điều kiện hoạt động của KCN, việc xác định các đối tượng ưu tiên, những nội dung quản lý trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, với một nền kinh tế mở thì việc ra đời một chính sách thích đáng, bền vững là rất khó
Đánh giá quy chế pháp lý đối với các KCN cũng tính tới mối quan hệ tương quan giữa mục tiêu chính trị, kinh tế và xã hội cụ thể trong giai đoạn đổi mới ở từng nước, phù hợp với quá trình hội nhập, sự ra đời các cquy định đối với các KCN phải đảm bảo hợp với quy luật của sự phát triển, phải dựa vào tiến trình chuyển giao, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật của đất nước, phải hướng tới các mục tiêu tăng trưởng kinh tế để tạo ra cơ sở vật chất, phúc lợi xã hội, tiếp tục thực thi bền vững các chính sách khác
Để kết quả thu được như mong muốn khi đánh giá quy chế pháp lý đối với các KCN, nhất là tính bền vững, thích đáng thì mỗi nội dung trong mỗi giai đoạn phát triển phải xác định đầy đủ mức độ hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội, sự phù hợp, hỗ trợ cho nhau càng cao thì hiệu quả để đạt được các mục tiêu càng lớn, bản thân mỗi một chính sách cũng hàm chứa đầy đủ các nội dung và ý nghĩa của chính sách kinh tế và chính sách xã hội
Sự gia tăng ổn định về mặt sản lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN: Đây là tiêu chí quan trọng nhất đánh giá tính ổn định lâu dài về kinh tế đảm bảo hoạt động sản xuất của KCN Đo lường tiêu chí này có thể dựa trên các chỉ số cụ thể về qui mô và tốc độ tăng trưởng các chỉ số