1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tác động của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (VEFTA) đến thương mại hàng dệt may của Việt Nam : Luận văn ThS. Kinh tế: 60 31 01 06

94 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- LÊ THỊ THU TRANG TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EU VEFTA ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM Chuyên ngành

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LÊ THỊ THU TRANG

TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EU (VEFTA) ĐẾN THƯƠNG MẠI

HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LÊ THỊ THU TRANG

TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EU (VEFTA) ĐẾN THƯƠNG MẠI

HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 60 31 01 06 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Trang 3

CAM KẾT

Tác giả xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Xuân Thiên

Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tác giả xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Lê Thi ̣ Thu Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Xuân Thiên cùng toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã truyền đa ̣t những kiến thức quý giá và tâ ̣n tình hướng dẫn tác giả trong thời gian ho ̣c tâ ̣p và nghiên cứu ta ̣i trường

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Bộ phận sau đại học, Phòng đào tạo, các anh chị chuyên viên văn phòng Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình , bạn bè đã luôn ủng hộ và giúp đỡ tác giả trong quá trình ho ̣c tâ ̣p và nghiên cứu của mình

Học viên

Lê Thi ̣ Thu Trang

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU iii

DANH MỤC HÌNH iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 5

1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

1.1.1 Nhóm nghiên cứu về tác động của FTA đến nước thành viên 5

1.1.2 Nhóm nghiên cứu về thương mại ngành dệt may của Việt Nam 7

1.1.3 Nhóm nghiên cứu về thương mại giữa Việt Nam và EU 8

1.2 Cơ sở lý luận về hiệp định thương mại tự do 9

1.2.1 Khái niệm hiệp định thương mại tự do 9

1.2.2 Phân loại Hiệp định thương mại tự do 12

1.2.3 Tác động của Hiệp định thương mại tự do 14

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 21

2.1.1 Tiếp cận hệ thống 21

2.1.2 Tiếp cận theo quan điểm duy vật biện chứng 21

2.2 Khung khổ phân tích 21

2.3 Các phương pháp nghiên cứu 22

2.3.1 Phương pháp phân tích định tính 22

2.3.2 Phương pháp phân tích định lượng 26

Chương 3: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG DỰ KIẾN CỦA VEFTA ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM 32

3.1 Khái quát Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (VEFTA) và Ngành dệt may của Việt Nam 32

3.1.1 Quan hệ thương mại Việt Nam – EU 32

3.1.2 Khái quát về VEFTA 36

3.1.3 Khái quát về ngành dệt may Việt Nam 45

3.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 50

3.2.1 Phân tích tác động tới xuất khẩu dệt may 50

3.2.2 Phân tích tác động tới nhập khẩu dệt may 53

Trang 6

3.3 So sánh kết quả nghiên cứu với kết quả thực nghiệm khác 56

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TẬN DỤNG LỢI ÍCH TỪ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - EU 58

4.1 Cơ hội và thách thức cho ngành dệt may Việt Nam 58

4.1.1 Cơ hội 58

4.1.2 Thách thức 60

4.2 Mục tiêu phát triển thương mại hàng dệt may của Việt Nam 64

4.2.1 Quan điểm phát triển 65

4.2.2 Mục tiêu phát triển 66

4.3 Giải pháp cho các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam để tận dụng lợi ích từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU 67

4.3.1 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 67

4.3.2 Giải pháp từ phía Nhà nước 69

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Ký hiệu Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt

1 AANZFTA Asean - Austrialia - New

Zealand Free Trade Agreement

Hiê ̣p đi ̣nh thương ma ̣i tự do Asean - Úc - New Zealand

2 ACFTA Asean - China Free Trade

9 EPA Economic Partnership

11 FDI Foreign Direct Investment Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

12 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do

13 GATT General Agreement on Tariffs

and Trade

Hiệp định chung về Thuế quan

và Thương mại

14 GDP Gross Domestic Products Tổng sản phẩm quốc nội

15 MERCOSUR Mercado Común del Sur Khối thị trường chung Nam Mỹ

16 MFN Most Favoured Nation

Trang 8

18 NT National Treatment Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia

19 OECD Organisation for Economic

Co-operation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

20 PCA Partnership and Co-operation

21 SPS Sanitary and Phytosanitary

25 VEFTA Vietnam - EU Free Trade

Agreement

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU

26 VITAS Vietnam Textile and Apparel

Associtation Hiê ̣p hô ̣i dê ̣t may Viê ̣t Nam

28 WTO World Trade Organisation Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 3.1 Xuất khẩu của Viê ̣t Nam sang EU28 33

2 Bảng 3.2 Nhóm 5 mặt hàng của Việt Nam được xuất khẩu

3 Bảng 3.3 Nhâ ̣p khẩu của Viê ̣t Nam từ EU28 34

9 Bảng 4.1 Các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may đến năm

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 3.1 Cán cân thương mại Việt Nam - EU28 36

2 Hình 3.2 Nhập khẩu nguyên liệu so với Xuất khẩu dệt may 43

3 Hình 3.3 Thị trường xuất khẩu dệt may của Việt Nam năm

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hai thập kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt là từ khi Hiệp định khung về hợp tác EC – Việt Nam được ký kết năm 1995, Liên minh châu Âu (EU)

đã trở thành một đối tác chiến lược của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, trong đó thương mại và đầu tư là những lĩnh vực nổi bật trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU

Trong vòng 12 năm từ 2001-2013, kim ngạch quan hệ thương mại Việt Nam

- EU đã tăng hơn 7 lần, từ mức 4,5 tỷ USD năm 2001 lên 33,7 tỷ USD năm 2013 Trong đó xuất khẩu của Việt Nam vào EU tăng 8 lần và nhập khẩu của Việt Nam từ

EU tăng 6,2 lần Đặc biệt, năm 2012 là năm đánh dấu mốc EU vượt qua Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất và đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 29,09 tỷ USD [31]

EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam Đặc điểm nổi bật trong cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU là tính bổ sung rất lớn, ít mang tính cạnh tranh đối đầu trực tiếp Năm 2014, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt hơn 36,8 tỷ đô la, tăng 9% so với năm 2013 Trong đó, xuất khẩu sang EU đạt gần 28 tỷ đô la và nhập khẩu từ EU đạt gần 9 tỷ đô la Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Viê ̣t Nam sang EU là giày dép, dệt may, cà phê, đồ gỗ, hải sản

EU cũng là nhà đầu tư lớn vào Việt Nam Tính đến hết năm 2014, đã có 23 trong số 28 nước thành viên EU đầu tư vào Việt Nam với hơn 2.000 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 37 tỉ USD Các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, tập trung nhiều nhất vào công nghiệp, xây dựng và một số ngành dịch vụ [37] Thực tế này cho thấy tiềm năng to lớn trong phát triển thương mại và đầu tư giữa Việt Nam – EU

Ngoài Hiệp định khung về hợp tác ký năm 1995, Việt Nam và EU đã tiếp tục

Trang 11

thành đàm phán và ký tắt Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) Từ tháng 6/2012, Việt Nam và EU đã bắt đầu đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (VEFTA) Sau gần 3 năm đàm phán với 14 phiên đàm phán chính thức

và nhiều phiên giữa kỳ ở cấp Bộ trưởng, Trưởng đoàn và các nhóm kỹ thuật, Việt Nam và EU đã đạt được thỏa thuận nguyên tắc về toàn bộ nội dung của bản Hiệp định Ngày 4/8/2015, hai bên đã tuyên bố kết thúc cơ bản đàm phán Hiệp định thương mại tự do và sẽ nhanh chóng kí kết Hiệp định trong năm 2015 [37]

VEFTA là một hiệp định mang tính toàn diện, là một cam kết mở cửa thị trường mạnh và sâu trong hầu hết các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, đầu tư với chất lượng cao và cân bằng về lợi ích cho các bên Chính vì vậy, chúng ta cần có những nghiên cứu đánh giá tác động của hiệp định để có những góc nhìn đúng về thách thức cũng như cơ hội mà hiệp định nay mang lại, đồng thời thực thi hiệu quả những cam kết của hiệp định

Ngành dệt may là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất của Việt Nam Theo thống kê của Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX) trong năm 2013, Việt Nam gần 6000 công ty dệt may, với lực lượng lao động chiếm hơn 20% lao động trong khu vực công nghiệp và gần 5% tổng lực lượng lao động toàn quốc [15]

Tỷ trọng xuất khẩu của ngành dệt may có xu hướng ngày càng gia tăng trong những năm gần đây Vì vậy, dệt may tại Việt Nam là một trong các ngành chịu tác động lớn của tự do hóa thương mại Do đó, đề tài “Tác động của Hiệp định thương mại tự

do Việt Nam – EU (VEFTA) đến thương mại hàng dệt may của Việt Nam” nhằm đánh giá tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đến hoạt động xuất, nhập khẩu hàng dệt may giữa Việt Nam và EU bằng mô hình định lượng lực hấp dẫn (gravity model), từ đó đề xuất những định hướng cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng dệt may tại Việt Nam

2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu

- Đề tài nhằm đánh giá tác động dự kiến của các cam kết trong VEFTA đến hoạt động xuất, nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam với EU

Trang 12

- Từ những kết quả thu được, đề tài đề xuất những giải pháp phù hợp để giúp các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam tận dụ ng lơ ̣i ích khi Viê ̣t Nam tham gia VEFTA

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU được thành lập như thế nào? Các nội dung chính của hiệp định là gì?

- Việc thực hiện các cam kết VEFTA có tác động như thế nào đến xuất, nhâ ̣p khẩu hàng dệt may của Việt Nam?

- Nhà nước và các doanh nghiệp dê ̣t may Việt Nam cần làm gì để tâ ̣n du ̣ng lợi ích khi VEFTA được ký kết?

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích các cam kết về thuế quan,

về mở cửa thị trường trong VEFTA của Việt Nam có tác động như thế nào tới thương mại ngành dệt may của Việt Nam với các nước EU

- Khung thời gian sử dụng trong nghiên cứu với các số liệu và sự kiện trong giai đoạn 2004 – 2014 Đây là giai đoạn 10 năm gần đây với các dữ liệu sẵn

có về thương mại giữa Việt Nam và EU và sự hợp tác giữa EU và Việt Nam

có những tiến triển tích cực hơn

5 Những đóng góp mới của luâ ̣n văn

- Luâ ̣n văn đã góp phần hê ̣ thống lý thuyết về Hiê ̣p đi ̣nh thương ma ̣i tự do và tác động của các Hiệ p đi ̣nh tới nền kinh tế các nước thành viên ; tóm lược những nô ̣i dung đàm phán chính trong FTA Viê ̣t Nam – EU

- Từ những số liệu thu thập được, luâ ̣n văn đã kết hợp sử du ̣ng hiê ̣u quả phương pháp phân tích đi ̣nh tính và đi ̣nh lượng (mô hình lực hấp dẫn) để đưa

ra được kết quả nghiên cứu thực nghiệm

- Luâ ̣n văn đã dự báo tác đô ̣ng của thuế quan trong VEFTA đến xuất khẩu và nhâ ̣p khẩu hàng dệt may của Việt Nam từ EU, và dự báo được tác động tích cực đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam

Trang 13

- Luâ ̣n văn đã đề xuất những giải pháp phù hợp cho các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam để tận dụng lợi ích mà FTA Việt Nam – EU sẽ mang la ̣i

6 Kết cấu luâ ̣n văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 4 chương chính như sau:

PHẦN MỞ ĐẦU

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và Cơ sở lý luận về Hiệp định thương mại tự do

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Phân tích tác động của VEFTA đến thương mại hàng dệt may của Việt Nam

Chương 4: Định hướng và các giải pháp cho các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam khi Hiệp định được thực thi

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 14

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Từ trước đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về tác động của FTA nói chung và FTA giữa EU và Việt Nam nói riêng đã được thực hiện, tiêu biểu là những công trình nghiên cứu sau:

1.1.1 Nhóm nghiên cứu về tác động của FTA đến nước thành viên

Đánh giá tác động của FTA đến nước thành viên, nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã sử dụng các cơ sở lý luận và phương pháp phân tích khác nhau Trong nghiên cứu này, các công trình được tổng quan liên quan đến các FTA mà Việt Nam đang và sẽ tham gia hoặc các nước thành viên khác của FTA để tìm ra khoảng trống nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu thích hợp nhất

Trong dự án nghiên cứu của MUTRAP II, Mutrap (2010) [9] sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích mô hình cân bằng tổng thể (CGE), mô hình lực hấp dẫn (gravity model), mô hình cân bằng từng phần (SMART) và phương pháp phỏng vấn Nghiên cứu xác định các tác động và hiệu quả của một số hiệp định thương mại tự do gồm FTA ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), FTA ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), FTA ASEAN - Ấn Độ (AIFTA), FTA ASEAN – Úc – New Zealand (AANZFTA) và AFTA thông qua việc đánh giá những tác động kinh tế xã hội chính đối với Việt Nam trước và sau khi tham gia các FTA này Nghiên cứu cũng xem xét đến các hiệp định đã ký với Nhật Bản và Trung Quốc và hiệp định được đề xuất đàm phán với EU, Thổ Nhĩ Kỳ và Chi-lê Từ kết quả nghiên cứu, báo cáo này rút ra những bài học cụ thể cho đàm phán thương mại trong tương lai

Trần Ngọc Quân (2005) [19] sử dụng mô hình trọng lực hấp dẫn để phân tích

và tìm kiếm những đối tác thích hợp cho chiến lược về hiệp định thương mại tự do của Việt Nam Nghiên cứu đi sâu điều tra khả năng thực hiện FTA giữa Việt Nam

và Nhật Bản để thúc đẩy hoạt động thương mại giữa hai quốc gia Nghiên cứu tập

Trang 15

giữa hai quốc gia trong bối cảnh thương mại thế giới để tìm ra những cơ hội thương mại tiềm năng Nghiên cứu chỉ ra rằng, FTA giữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ là chính sách thích hợp để đạt được lợi ích thương mại Đồng thời, nghiên cứu cũng gợi ý những FTA tiềm năng khác với Singapore, Ai Cập và các nền kinh tế lớn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008) [1] được thực hiện khi hợp tác thương mại trong khu vực ASEAN và ASEAN+3 đang ngày càng gia tăng Nghiên cứu sử dụng mô hình hấp dẫn chuẩn tắc với số liệu thống kê thương mại của Tổng cục Hải quan để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với các nước ASEAN+3 Nghiên cứu đã chỉ ra mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với ASEAN+3 chủ yếu do sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và các nước đối tác Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra điểm hạn chế của

mô hình, từ đó đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Hoàng Chí Cương và cộng sự (2014) [3] trình bày khái quát về Hiệp định thương mại Việt – Mỹ Qua đó, nghiên cứu sử dụng mô hình lực hấp dẫn với bảng

số liệu hỗn hợp của 17 đối tác FDI và ngoại thương của Việt Nam giai đoạn 1995 –

2011 để đánh giá tác động của Hiệp định này tới thu hút FDI và xuất nhập khẩu của Việt Nam Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu cho thấy, Hiệp định này không thúc đẩy FDI của các nhà đầu tư Mỹ vào Việt Nam nhưng có tác động làm gia tăng cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam

Francois và cộng sự (2007) [17] được thực hiện trước khi FTA giữa EU và Hàn Quốc được ký kết Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả phân tích hiệu quả của những biện pháp tiềm năng thúc đẩy tự do hóa thương mại giữa EU25 và Hàn Quốc Nghiên cứu sử dụng mô hình cân bằng tổng thể và kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cả hai nền kinh tế đều thu được lợi ích tích cực từ mọi cấp độ của tự do hóa thương mại, nhưng những lợi ích này được phân bổ không đều Trong đó, Hàn Quốc thu được 2/3 tổng lợi ích từ FTA do nền kinh tế Hàn Quốc đang được bảo hộ

Trang 16

cạnh tranh thương mại nhiều hơn so với EU, do đó Hàn Quốc sẽ thu được lợi ích nhờ tăng tính cạnh tranh

Ngoài ra các bài nghiên cứu như Nguyễn Tiến Dũng (2011) [4], Nguyễn Anh Thu (2012) [20] đã sử dụng mô hình lực hấp dẫn để phân tích tác động của một số FTA đến thương mại của Việt Nam và đều cho thấy tác động tích cực đến thương mại của Việt Nam

1.1.2 Nhóm nghiên cứu về thương mại ngành dệt may của Việt Nam

Nghiên cứu về tác động của FTA đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam, Nguyễn Anh Dương và Đặng Phương Dung (2011) [5] đưa ra những thông tin chung và cơ bản nhất về các cam kết liên quan đến ngành dệt may của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá triển vọng phát, thách thức trong phát triển của ngành và đưa ra một số khuyến nghị đối với Chính phủ, Hiệp hội dệt may Việt Nam cũng như các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam Đây là tài liệu tham khảo tốt cho các doanh

nghiệp dệt may cũng như các nhà nghiên cứu khác

Angie Ngọc Trần (2012) [22] xem xét sự phát triển của ngành dệt may và sản xuất hàng may mặc trong bối cảnh hiện hành theo đuổi tự do hóa theo định hướng thị trường và liên kết trong nước chỉ đạo bởi chính phủ, và những tác động của sự phát triển này đến công đoàn và người lao động ở Việt Nam Mặc dù tăng trưởng nhanh trong xuất khẩu và việc làm, các bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng hội nhập theo định hướng thị trường vào nền kinh tế toàn cầu đã hạn chế hoạt động của doanh nghiệp trong các hoạt động có giá trị gia tăng thấp và người lao động phải làm việc cực nhọc với mức lương không đủ sống Chuỗi cung ứng toàn cầu cũng đã tiếp xúc với các doanh nghiệp và công nhân khảo sát những biến động bất ổn dẫn đến điều kiện làm việc không đạt tiêu chuẩn và một vòng tròn luẩn quẩn của sự kém phát triển và nghèo đói Về trường hợp nghiên cứu (case study), tổng công ty nhà nước Vinatex tuy còn nhiều ha ̣n chế nhưng đã cố gắng để thúc đẩy các

Trang 17

cấu để hấp thụ các hoạt động giá trị gia tăng cao hơn Nghiên cứu cũng kết luận rằng, chuyển đổi để nâng cao hoạt động, bao gồm cả việc học tập và đào tạo kỹ năng, là điều cần thiết để hỗ trợ cải thiện tiền lương và điều kiện làm việc.

Phạm Minh Đức (2014) [6] tổng quan ngành dê ̣t ma y Viê ̣t Nam về xuất nhâ ̣p khẩu, năng lực ca ̣nh tranh, tạo việc làm, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của ngành

để dự đoán tác đ ộng của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đến ngành dệt may Việt Nam Từ đó, báo cá o chỉ ra những cơ hô ̣i và thách thức cho ngành dệt may Việt Nam khi tham gia TPP Ngoài ra, một số báo cáo độc lập của các công ty chứng khoán về ngành dệt may của Việt Nam như Bùi Văn Tốt (2014) [12], Nguyệt A Vũ (2014) [15] đã đưa ra những phân tích sâu về tổng quan ngành dệt may thế giới cũng như của Việt Nam, về tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu, phân tích SWOT của ngành và của một số doanh nghiệp dệt may hàng đầu Những nghiên cứu này là tài liệu tham khảo rất tốt cho các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp dệt may cũng như các nhà đầu tư chứng khoán

1.1.3 Nhóm nghiên cứu về thương mại giữa Việt Nam và EU

Nguyen Binh Duong (2014) [16] sử dụng lý thuyết về hiệu ứng tạo lập thương mại và chệch hướng thương mại trong thương mại quốc tế để đánh giá tác động của một FTA đến phúc lợi của Việt Nam Bằng mô hình lực hấp dẫn và phân tích dữ liệu quốc gia, nghiên cứu chỉ ra rằng việc giảm thuế trong khuôn khổ của FTA này sẽ có tác động tích cực đến thương mại song phương giữa Việt Nam và

EU FTA này cũng sẽ mang lại nhiều cơ hội, ví dụ như tạo lập thương mại trong ngành công nghiệp ô tô, nhưng cũng đặt ra thách thức cho Việt Nam có thể làm

chệch hướng thương mại trong công nghiệp điện tử và máy móc công nghiệp

Trong báo cáo Mutrap (2011) [10], nhóm tác giả sử dụng kết hợp phương pháp phân tích định lượng (mô hình cân bằng tổng thể CGE và mô hình cân bằng từng phần SMART) với phân tích định tính để dự báo các tác động khi FTA Việt Nam – EU được ký kết tới các ngành hàng xuất khẩu và nhập khẩu quan trọng của Việt Nam như dệt may, giày dép, ô tô, điện tử, ngân hàng và lĩnh vực đầu tư Trên

Trang 18

cơ sở các số liệu thu thập được và kết quả phân tích, nhóm tác giả đưa ra những kiến nghị, biện pháp cụ thể để Việt Nam có thể lựa chọn cho tăng trưởng kinh tế bền vững

Nghiên cứu sâu về thương mại giữa Việt Nam và các nước thành viên EU,

Đỗ Thái Trị (2006) [23] đánh giá thương mại song phương giữa Việt Nam và hai mươi ba nước EU trong tổ chức OECD dựa trên mô hình lực hấp dẫn và bộ số liệu quốc gia trong giai đoạn 1993 – 2004 Các ước lượng chỉ ra rằng, kích thước của nền kinh tế, của thị trường và tỉ giá hối đoái thực tế của Việt Nam và hai mươi ba nước EU đóng vai trò chính trong thương mại tự so song phương giữa Việt Nam và những quốc gia này Tuy nhiên, khoảng cách và yếu tố lịch sử dường như không ảnh hưởng đến thương mại song phương Các kết quả của mô hình lực hấp dẫn cũng được áp dụng để tính toán tiềm năng thương mại giữa Việt Nam và hai mươi ba nước EU Chúng chỉ ra rằng thương mại của Việt Nam với các nước này vẫn còn cơ hội tăng trưởng cao

Các nghiên cứu trước đây đều đã đề cập và phân tích tác động của FTA nói chung và FTA Việt Nam – EU nói riêng đến nền kinh tế Việt Nam Các mô hình phân tích định lượng và phương pháp phân tích định tính đều được sử dụng hiệu quả Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu phần lớn hướng tới tác động tổng thể đến toàn

bộ nền kinh tế mà chưa đi sâu phân tích cụ thể cho từng ngành, đặc biệt là trong bối cảnh mới của nền kinh tế hiện nay khi Viê ̣t Nam đã kí kết nhiều FTA thế hê ̣ mới với các nước trong khu vực , VEFTA và TPP đã kết thúc giai đoa ̣n đàm phán Do vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung đánh giá tác động của FTA Việt Nam – EU đến thương mại ngành dệt may của Việt Nam trong giai đoạn từ 2004 - 2014 sử dụng mô hình lực hấp dẫn và nguồn số liệu sẵn có hiện nay

1.2 Cơ sở lý luận về hiệp định thương mại tự do

1.2.1 Khái niệm hiệp định thương mại tự do

Cho tới nay đã có rất nhiều tổ chức và quốc gia khác nhau đưa ra các khái

Trang 19

FTA cũng như sự phát triển đa dạng của các quốc gia Trong số các khái niệm về FTA đã được đưa ra thì đa số các nước và các tổ chức trên thế giới chấp thuận một

số khái niệm sau:

1.2.1.1 Quan niệm truyền thống

Quan điểm về một Khu vực thương mại tự do (Free Trade Area) lần đầu tiên được đưa ra tại GATT 1947 trong điều XXIV – điểm 8b như sau: “Một khu vực mậu dịch tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hoặc nhiều các lãnh thổ thuế quan Trong đó, thuế và các quy định mang tính hạn chế về thương mại (ngoại trừ, trong chừng mực cần thiết, các hạn chế được phép theo quy định của các Điều XI, XII, XIII, XIV, XV and XX) sẽ bị dỡ bỏ đối với phần lớn các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ lập thành khu vực mậu dịch tự do” [18]

Ngoài ra, tại điều XXIV – khoản 5 của hiệp định này cũng nêu rõ: “khu vực mậu dịch tự do được hình thành thông qua một hiệp định quá độ [interim agreement]” Như vậy chúng ta có thể thấy GATT 1947 mới chỉ nêu ra khái niệm

về Khu vực thương mại tự do, tuy nhiên khi phân tích khái niệm này, ta có thể thấy được tư tưởng của GATT về Hiệp định thương mại tự do Trong khái niệm này có những điểm chú ý sau:

- Thứ nhất, trong một khu vực thương mại tự do thì các nước thành viên cam kết giảm thuế và các quy định thương mại khác

- Thứ hai, đối tượng cắt giảm thuế và giảm các quy định thương mại khác là với các mặt hàng có xuất xứ từ các nước thành viên trong khu vực thương mại tự do

- Thứ ba, khái niệm này cho thấy GATT mới chủ yếu quan tâm đến thương mại hàng hóa Đây cũng là điều dễ hiểu vì theo tiến trình lịch sử, quan hệ thương mại giữa các nước thời kỳ này chủ yếu tập trung vào trao đổi mua bán hàng hóa hữu hình

Trang 20

Qua đó, có thể thấy quan niệm truyền thống về FTA mới chỉ dừng lại ở phạm

vi thương mại hàng hóa hữu hình và mức độ cam kết tự do hóa mới chỉ dừng lại ở cắt giảm thuế quan và giảm một số quy định thương mại khác

1.2.1.2 Quan niệm mới về Hiệp định thương mại tự do

Từ thập niên 90 trở lại đây, khái niệm Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement - FTA) đã được mở rộng hơn về phạm vi và sâu hơn về cam kết

tự do hóa Các FTA ngày nay không chỉ dừng lại ở phạm vi cam kết cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan mà còn bao gồm nhiều vấn đề rộng hơn cả cam kết trong khuôn khổ GATT/WTO cũng như một loạt vấn đề thương mại mới mà WTO chưa có quy định Phạm vi cam kết của các FTA thế hệ mới còn bao gồm những lĩnh vực như thuận lợi hóa thương mại, hoạt động đầu tư, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, các biện pháp phi thuế quan, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, tiêu chuẩn và hợp chuẩn, lao động, môi trường, thậm chí còn gắn với những vấn đề như dân chủ, nhân quyền hay chống khủng bố… Khái niệm FTA được sử dụng rộng rãi ngày nay không còn được hiểu trong phạm vi hạn hẹp của những thỏa thuận hội nhập khu vực và song phương có cấp độ liên kết kinh tế “nông” của giai đoạn trước, mà được dùng để chỉ các thỏa thuận hội nhập kinh tế “sâu” giữa hai hay một nhóm nước với nhau Ngoài ra, trong một số trường hợp, Hiệp định thương mại tự do có thể được gọi dưới một số tên gọi khác nhau như Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) nhưng về bản chất vẫn không thay đổi [35]

Theo trang web của chính phủ Singapore thì “FTA là một thỏa thuận pháp lý ràng buộc giữa hai hoặc nhiều quốc gia để giảm hoặc loại bỏ các rào cản thương mại và tạo thuận lợi cho sự dịch chuyển hàng hóa và dịch vụ qua biên giới giữa các vùng lãnh thổ của các bên” [34]

Theo trang web chính thức của chính phủ Hoa Kỳ thì “FTA là sự đàm phán giữa hai hay nhiều quốc gia nhằm cắt giảm tất cả các hàng rào thuế quan và phi thuế

Trang 21

có thể áp dụng các rào cản thuế và rào cản thương mại khác đối với các quốc gia không tham gia ký kết hiệp định” [36]

Nhìn chung, dù được diễn giải theo nhiều cách khác nhau, nhưng các khái niệm về FTA đều hàm chứa một nội dung cốt lõi xuyên suốt “FTA là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia (hoặc vùng lãnh thổ) nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảm thuế quan, tạo lập các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và di chuyển vốn giữa các quốc gia thành viên” [35]

1.2.2 Phân loại Hiệp định thương mại tự do

1.2.2.1 Theo quy mô, số lượng các thành viên tham gia

- FTA song phương (BFTA): là loại FTA chỉ có hai nước tham gia ký kết, và hiệp định này cũng chỉ có giá trị ràng buộc đối với hai quốc gia này thôi Do

đó, quá trình đàm phán và việc đạt được thỏa thuận cũng trở nên dễ dàng, nhanh chóng hơn so với các FTA khu vực hay hỗn hợp BFTA hiện nay được

ký kết nhiều nhất, phát triển mạng cả về số lượng và chất lượng cam kết Ví dụ: FTA Việt Nam – Hàn Quốc, FTA Việt Nam – Nhật Bản…

- FTA khu vực: là FTA có sự tham gia của từ ba nước thành viên trở lên, thông thường các nước này có vị trí địa lý gần nhau Những nước này tham gia FTA khu vực với mục đích tận dụng ưu thế về vị trí địa lý để tăng cường trao đổi thương mại cũng như thắt chặt mối quan hệ láng giềng và nâng cao

vị thế của mỗi thành viên trên trường quốc tế Ví dụ: NAFTA, AFTA, EC…

- FTA hỗn hợp: là FTA được ký kết giữa một khu vực thương mại tự do (FTA khu vực) với một nước, một số nước hoặc một khu vực thương mại tự do khác Bất chấp sự phức tạp trong đàm phán, hiện nay, loại FTA này cũng đang phát triển và tăng lên nhanh chóng về số lượng Ví dụ như: FTA ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), FTA ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), FTA Viê ̣t Nam – EU, TPP, …[38]

Trang 22

1.2.2.2 Theo mức độ tự do hóa

Đây là cách phân loại được World Bank sử dụng FTA theo tiêu chí này được chia thành FTA kiểu Mỹ, FTA kiểu châu Âu và FTA kiểu các nước đang phát triển [38]

- FTA kiểu Mỹ là loại FTA có mức độ tự do hóa cao nhất, đòi hỏi các nước thành viên phải mở cửa tất cả các lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực thuộc ngành dịch vụ Một khi đã tham gia các FTA kiểu này thì chỉ có con đường là mở cửa thị trường hơn nữa hoặc giảm nhiều rào cản thương mại hơn nữa, chứ việc thay đổi hiệp định hoặc việc đảo ngược lại các điều khoản trong hiệp định là rất khó khăn Hiệp định này áp dụng quy chế MFN và NT, và tất cả các ngành đều phải mở cửa, trừ khi các bên có quy định khác và phải được ghi rõ trong hiệp định Điều này khiến người ta cho rằng FTA kiểu Mỹ có xu hướng làm giảm sự tham gia của chính phủ trong việc bảo vệ môi trường sinh thái hoặc các ngành dịch vụ công Ví dụ về FTA kiểu Mỹ điền hình là Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA)

- FTA kiểu châu Âu cũng có mức độ tự do hóa khá cao, gần bằng FTA kiểu

Mỹ Điểm khác biệt chính là FTA kiểu châu Âu chỉ quy định mở cửa những lĩnh vực mà các nước cam kết hoặc thống nhất riêng với nhau Ví dụ điển hình của FTA kiểu này là cam kết về tự do hóa thương mại của Liên minh châu Âu (EU) Trong cam kết tự do hóa thương mại, các nước EU đã không đưa vào lĩnh vực nông nghiệp – lĩnh vực vốn rất nhạy cảm và được hầu hết các nước thành viên EU bảo hộ Các thành viên EU đều có những chính sách nông nghiệp riêng phù hợp điều chỉnh với những đặc thù của ngành nông nghiệp nước mình Việc đưa nông nghiệp vào FTA sẽ làm ảnh hưởng lớn đến nền an ninh lương thực của các quốc gia cũng như đời sống của những người làm nông nghiệp mỗi nước

- FTA kiểu các nước đang phát triển có mức độ tự do hóa kém hơn hai kiểu FTA nêu trên FTA kiểu các nước đang phát triển thường chú trọng nhiều

Trang 23

quy định mở cửa cho trong trong các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) là những ví dụ điển hình Có thể nói rằng trong khi FTA kiểu Mỹ được xem là hội nhập sâu rộng nhất thì FTA kiểu các nước đang phát triển được xem là ít mang lại ảnh hưởng nhất

1.2.3 Tác động của Hiệp định thương mại tự do

1.2.3.1 Tác động đến các quốc gia thành viên

a Tác động tích cực

 Hiệu ứng tạo lập thương mại

Nhờ vào việc cam kết dỡ bỏ các rào cản thương mại, doanh nghiệp các nước thành viên được phép tự do trao đổi mua bán hàng hóa, không bị đánh thuế, không

bị áp hạn ngạch hoặc không phải thực hiện các thủ tục xuất nhập khẩu rắc rối khác Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng lên kéo theo sự tăng trưởng về thu nhập và GDP của các nước trong FTA FTA tạo ra một thị trường rộng lớn hơn với những cơ hội kinh doanh, thúc đẩy gia tăng sản xuất và mua bán trao đổi giữa các nền kinh tế thành viên

 Hiệu ứng thúc đẩy cạnh tranh

Việc xóa bỏ các rào cản thương mại và một thị trường rộng lớn hơn được mở

ra đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn từ các đối thủ cả trong và ngoài nước Thị trường rộng lớn hơn thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng quy mô nhưng đồng thời làm tăng số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường Ngoài ra, FTA hình thành là sự hợp nhất của nhiều thị trường nhỏ hơn thành một thị trường rộng lớn, do đó làm giảm mức độ độc quyền khi mà nhiều doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau hơn Sự gia tăng cạnh tranh trong nền kinh tế có thể là mối đe dọa với các doanh nghiệp trong nước làm ăn kém hiệu quả nhưng lại là hiệu ứng tích cực đối với cả nền kinh tế, đặc biệt đối với những thành viên đang hướng đến một nền kinh tế thị trưởng mở phát triển Các lợi ích mà cạnh tranh mang lại cho nền kinh tế như:

Trang 24

- Các doanh nghiệp buộc phải cắt giảm chi phí và tăng doanh số, giúp giảm các méo mó trên thị trường và có lợi cho người tiêu dùng

- Quy mô thị trường lớn cho phép doanh nghiệp khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô

- Doanh nghiệp phải đa dạng hóa sản phẩm, người tiêu dùng có them nhiều lựa chọn hơn

- Doanh nghiệp phải loại bỏ bớt những hoạt động không hiệu quả bên trong hệ thống doanh nghiệp và gia tăng năng suất, người lao động cũng phải nâng cao hiệu suất làm việc để thích nghi với điều kiện việc làm cạnh tranh hơn

- Các quốc gia thành viên phải cải cách hệ thống pháp luật liên quan nhằm đạt được hệ thống luật pháp hoàn thiện hơn, hợp lý hơn để phù hợp với tiến trình

tự do hóa trong hiệp định

 Hiệu ứng thúc đẩy đầu tư

Hiệu ứng thúc đẩy đầu tư do FTA tạo ra thể hiện ở việc tạo ra những tác động tích cực đối với môi trường đầu tư và hành vi của nhà đầu tư Một FTA hình thành có thể thúc đẩy cả dòng đầu tư nội địa và đầu tư nước ngoài, giữa các thành viên của FTA cũng như bên ngoài FTA

- FTA thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư về mặt chất thông qua việc nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh và giảm thiểu các méo mó của môi trường đầu tư

- Với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), FTA mang lại cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn với sức mua lớn hơn sẽ có tác dụng thu hút dòng vốn đầu tư mới vào nước thành viên FTA

- Dòng FDI lưu chuyển giữa các thành viên FTA còn nhắm vào mục tiêu tận dụng lợi thế về chi phí các nhân tố đầu vào sản xuất, chẳng hạn như chi phí lao động rẻ từ một nước thành viên khác

- Dòng FDI từ bên ngoài vào một khu vực thương mại tự do, đặc biệt là các liên minh thuế quan có một mức thuế quan đối ngoại chung, thường tận dụng

Trang 25

điều kiện tiếp cận thị trường mới để vượt qua các hàng rào thuế quan không đồng nhất giữa các thành viên FTA đó

 Hiệu ứng học hỏi, chuyển giao tri thức, công nghệ và thông tin

FTA còn tạo ra cơ hội cho các nước thành viên chia sẻ và chuyển giao công nghệ cho nhau thuận lợi hơn, đặc biệt là giữa các thành viên có nền kinh tế phát triển khác nhau Ngoài ra, thông qua việc trở thành đối tác với nước phát triển hơn, một quốc gia có thể học hỏi từ chính sách, kinh nghiệm quản lý, thông lệ tốt trong quá trình phát triển của người đi trước, từ dó xây dựng và hoàn thiện thể chế chính sách cho quốc gia Hơn nữa, bản thân mỗi doanh nghiệp cũng học hỏi được từ nhau

và từ quá trình liên kết kinh tế sâu rộng này Bằng việc quan sát đối thủ cạnh tranh, hợp tác với các nhà cung ứng và giao tiếp với khách hàng, các hang có thể vận dụng những bài học thực tiễn trong quan hệ thương mại và đầu tư để nâng cao hiệu quả, năng suất và lợi nhuận

 Ngoài ra, FTA được ký kết còn mang lại các tác động phi kinh tế như hiệu ứng hòa bình và an ninh, hiệu ứng cam kết cải cách, hiệu ứng bảo hiểm chủ quyền, hiệu ứng gia tăng vị thế mặc cả…

b Tác động tiêu cực

 Hiệu ứng chệch hướng thương mại

Bên cạnh tạo lập thương mại, thì FTA còn tạo ra hiệu ứng chệch hướng thương mại khi nhà cung ứng không phải là thành viên của FTA có mức giá thấp hơn lại bị nước thành viên FTA thay thế bằng một nhà cung ứng trong FTA mặc dù

có chi phí cao hơn Như vậy, nhà cung ứng kém hiệu quả hơn (thành viên FTA) lại thay thế nhà cung ứng hiệu quả hơn (không phải thành viên FTA) vì được hưởng các ưu đãi thuế quan do việc tham gia FTA mang lại Do đó, hiệu ứng này làm chệch dòng thương mại của một thành viên FTA từ nhà cung ứng hiệu quả sang nhà cung ứng kém hiệu quả hơn và thành viên đó còn phải chịu thêm một khoản chi phí

do phải trả giá nhập khẩu cao hơn Hiệu ứng này còn làm nhà cung ứng ngoài FTA

Trang 26

mất thị phần và còn có thể buộc họ phải giảm giá hơn nữa Hiệu ứng này thường xuất hiện ở các FTA giữa các nước đang phát triển

 Ngoài ra, FTA có thể còn mang lại một tác động tiêu cực khác, đó là việc quốc gia thành viên có thể phải hi sinh hoặc chịu thiệt thòi trong một số lĩnh vực hoặc một số ngành nhất định khi theo đuổi mục đích đạt được FTA Như vậy, bên cạnh những lợi ích to lớn mà FTA mang lại cho nước thành viên thì vẫn còn tồn tại một số tác động tiêu cực Tuy nhiên, xét một cách toàn diện

và lâu dài thì lợi ích mà FTA mang lại vẫn lớn hơn, tạo ra những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế có lợi ích dài hạn hơn nhiều so với cái giá của các hiệu ứng tiêu cực

1.2.3.2 Tác động đến quá trình đa phương hóa

Một câu hỏi đặt ra với xu thế hình thành FTA hiện nay là tự do hóa thương mại khu vực/ song phương thúc đẩy hay cản trở tự do hóa thương mại đa phương? Hay cụ thể hơn là FTA là vật cản đường hay vật lát đường tới lộ trình tự do hóa

thương mại trong khuôn khổ GATT/WTO?

a Tác động tích cực

- FTA là một hình thức để các nước chưa phải là thành viên của WTO hình thành nguyên tắc tự do hóa thương mại và chuẩn bị cho việc gia nhập WTO sau này

Bởi vì, các FTA hầu hết được hình thành dựa trên cơ sở và nền tảng của các nguyên tắc trong WTO, và thậm chí một số FTA còn đi xa hơn quy định của WTO

về tự do hóa trong một số lĩnh vực Do vậy, việc một số quốc gia chưa là thành viên của WTO nhưng thông qua việc tham gia vào các FTA có thể khiến các thể chế kinh tế của mình đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi của tự do hóa thương mại phù hợp với nguyên tắc của WTO

- FTA có thể hỗ trợ tiến trình tự do hóa thương mại trong WTO

Trang 27

Bởi vì, các FTA có thể tạo ra tiền lệ tốt về phương thức đàm phán và thể thức của một khu vực thương mại tự do nếu được hình thành, và đó là những tiền lệ tốt có thể áp dụng vào quá trình đàm phán đa phương

- FTA là một kênh thay thế tiến tới tự do hóa thương mại đa phương

Quan điểm ủng hộ tự do hóa thương mại khu vực lập luận rằng các FTA sẽ trở thành “những viên gạch lát đường” cho quá trình tự do hóa thương mại đa phương Baldwin (1996) đã phân tích “Hiệu ứng Domino” của việc hình thành các FTA, theo đó khi FTA hình thành thì các nước đứng ngoài sẽ có động lực đua nhau gia nhập FTA đó do lo ngại bị phân biệt đối xử, không được hưởng những ưu đãi của các nước tham gia FTA dành cho nhau FTA đó cùng với quá trình kết nạp thành viên sẽ mở rộng hơn và tiến tới bao gồm toàn bộ nền thương mại của thế giới

Đây là quan điểm của những người không ủng hộ tự do hóa thương mại khu vực và việc hình thành các FTA, tiêu biểu như Jadish, Bhagwati (1993), Anne O.Krueger (1997, 1999)

- Việc theo đuổi các FTA khu vực và song phương có nguy cơ làm chệch hướng nguồn lực và các nỗ lực thúc đẩy tự do hóa thương mại đa phương Việc theo đuổi các FTA đòi hỏi các nguồn lực tài chính, kĩ thuật và nhân lực rất lớn trong suốt quá trình nghiên cứu, đàm phán, thực thi Do đó với một nước nhỏ thì việc tập trung nguồn lực vào các FTA có thể làm giảm nguồn lực dành cho các hoạt động đàm phán tự do đa phương

Trang 28

Bên cạnh đó, theo đuổi các FTA còn có thể dẫn đến nguy cơ giảm sự ủng hộ đối với tiến trình tự do hóa đa phương Bởi vì, trước đây, khi các nước chỉ có thể lựa chọn giữa bảo hộ hay tự do hóa thương mại đa phương thì các lực lượng ủng hộ

tự do hóa thương mại có thể được tập hợp dưới lá cờ đa phương hóa Tuy nhiên, nếu họ còn có một sự lựa chọn khác là tự do hóa thương mại thông qua các FTA thì

họ có thể chấp nhận việc tự do hóa trong khuôn khổ của FTA

- FTA có thể làm gia tăng các hình thái bảo hộ mới

Một số quan điểm phản đối FTA cho rằng, những quy định mang tính ưu đãi chỉ dành riêng cho các thành viên FTA sẽ tạo ra những nhóm lợi ích mới và các nhóm này sẽ cản trở quá trình cải cách bên trong vì họ không muốn mất đi vị thế thuận lợi tại thị trường do FTA tạo ra Thậm chí, FTA có thể còn gây ra những xung đột và căng thẳng mới do bản chất của các ưu đãi là phân biệt đối xử với bên thứ ba

và bất kì đề xuất nào nhằm mở rộng những ưu đãi riêng đó cho những đối tác thương mại mới sẽ gây nên những xung đột lợi ích trong xã hội

- Các FTA có các thành viên quá chênh lệch về sức mạnh có thể dẫn đến áp đặt mô hình tự do hóa của các nước mạnh và gây khó khăn cho mô hình hội nhập chung trong WTO

Trong WTO, sức mạnh của các nước lớn bị hạn chế nhiều do 2/3 số thành viên của WTO là các nước đang phát triển và họ có quyền phủ quyết các quyết sách của WTO như họ đã làm trong Hội nghị Bộ trưởng Cancun Tuy nhiên, trong khuôn khổ FTA, các nước mạnh sẽ dễ dàng hơn trong việc dùng quyền lực kinh tế và chính trị của mình để áp đảo các thành viên yếu hơn Mỹ đã dùng sức mạnh của một nước lớn để buộc Mexico phải ký hiệp định phụ về lao động và môi trường trong NAFTA là một ví dụ điển hình

Các nước lớn luôn muốn mô hình tự do hóa của mình được áp dụng cho WTO Trong khi đó, bản thân WTO vẫn chưa thống nhất được mô hình chính sách chung thì việc áp dụng các mô hình khác nhau thông qua FTA càng tăng thêm khó

Trang 29

khăn cho việc đạt được sự đồng thuận cho một mô hình tự do thương mại thống nhất trong khuôn khổ đa phương [38]

Trang 30

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu

2.1.1 Tiếp cận hệ thống

Theo cách tiếp cận này, dệt may được coi là một ngành quan trọng trong hệ thống kinh tế quốc dân của Việt Nam Do đó, tác động của VEFTA đến xuất nhập khẩu dệt may phải đặt trong tổng thể tác động lên toàn nền kinh tế và có mối liên hệ chặt chẽ với các nhân tố bên ngoài cũng như chính sách, đường lối chủ trương phát triển ngành của Đảng và Chính phủ Việt Nam

2.1.2 Tiếp cận theo quan điểm duy vật biện chứng

Theo cách tiếp cận này, đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của VEFTA đến thương mại dệt may của Việt Nam gắn với sự phát triển và hội nhập chung của nền kinh tế Việt Nam Đồng thời đặt trong bối cảnh các yếu tố trong và ngoài ngành cũng như sự vận động chung của nền kinh tế thế giới ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu dệt may

Trang 31

2.3 Các phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích định tính [8] và định lượng, cụ thể gồm các phương pháp sau:

2.3.1 Phương pháp phân tích định tính

2.3.1.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu là phương pháp thu thập thông tin thông qua đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng

cơ bản là cơ sở cho lý luận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán vềnhững thuộc tính của đối tượng nghiên cứu, xây dựng những mô hình lý thuyết hay thực nghiệm ban đầu

Phương pháp này được dùng để tìm hiểu lịch sử vấn đề, cơ sở lý luận, các văn bản, chủ trương chính sách liên quan, thu thập số liệu phục vụ cho nghiên cứu, giải thích và làm rõ các thuật ngữ liên quan đến đề tài Phương pháp này giúp đảm bảo tính kế thừa nghiên cứu của các nhà khoa học trước, nghiên cứu cơ sở lý luận, văn bản liên quan, các chính sách của chính phủ và thu thập dữ liệu thứ cấp

Trong nghiên cứu này, các tài liệu được nghiên cứu là các công trình liên quan đến tác động của FTA đến nước thành viên về khía cạnh toàn bộ nền kinh tế hoặc một ngành kinh tế Dữ liệu thứ cấp được thu thập và phân tích là dữ liệu về kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam nói chung và của ngành dệt may Việt Nam nói riêng tại các thị trường xuất, nhập khẩu chính của Việt Nam

Các bước thực hiện gồm:

- Thu thập tài liệu liên quan thông qua các bộ máy tra cứu (thư viện, internet)

- Phân tích nội dung, rút ra thông tin quan trọng, luận cứ phục vụ cho quá trình nghiên cứu

- Xử lý và tổng hợp các tư liệu thu thập được

Trang 32

Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, người nghiên cứu cần hướng vào thu thập và xử lý những thông tin sau:

+ Cơ sở lý thuyết liên quan đến chủ đề nghiên cứu

+ Thành tựu lý thuyết đã đạt được liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu

+ Các kết quả nghiên cứu cụ thể đã công bố trên ác ấn phẩm

+ Số liệu thống kê

+ Chủ trương, chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu

+ Nguồn tài liệu

2.3.1.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Nghiên cứu lý thuyết thường bắt đầu từ phân tích các tài liệu để tìm ra cấu trúc, các xu hướng phát triển của lý thuyết Từ phân tích lý thuyết, lại cần tổng hợp chúng lại để xây dựng thành một hệ thống khái niệm, phạm trù tiến tới tạo thành lý thuyết khoa học mới

- Phương pháp phân tích: là phương pháp phân tích lý thuyết thành những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ theo lịch sử thời gian để nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnh khác nhau của lý thuyết từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Phân tích bao gồm những nội dung sau:

+ Phân tích nguồn tài liệu (tạp chí và báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ thông tin đại chúng) Mỗi nguồn có giá trị riêng biệt

+ Phân tích tác giả (tác giả trong hay ngoài ngành, tác giả trong cuộc hay ngoài cuộc, tác giả trong nước hay ngoài nước, tác giả đương thời hay quá cố) Mỗi tác giả có một cái nhìn riêng biệt trước đối tượng

+ Phân tích nội dung (theo cấu trúc logic của nội dung)

Trang 33

- Phương pháp tổng hợp: là phương pháp liên kết những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được thành một chỉnh thể để tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu

Tổng hợp bao gồm những nội dung sau:

+ Bổ sung tài liệu, sau khi phân tích phát hiện thiếu hoặc sai lệch

+ Lựa chọn tài liệu, chỉ chọn những thứ cần, đủ để xây dựng luận cứ

+ Sắp xếp tài liệu theo lịch đại (theo tiến trình xuất hiện sự kiện để nhận dạng động thái); sắp xếp tài liệu theo quan hệ nhân - quả để nhận dạng tương tác

+ Làm tái hiện quy luật Đây là bước quan trọng nhất trong nghiên cứu tài liệu, chính là mục đích của tiếp cận lịch sử

+ Giải thích quy luật Công việc này đòi hỏi phải sử dụng các thao tác logic để đưa

ra những phán đoán về bản chất các quy luật của sự vật hoặc hiện tượng

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành sự thống nhất không thể tách rời: phân tích được tiến hành theo phương hướng tổng hợp, còn tổng hợp được thực hiện dựa trên kết quả của phân tích

Dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu này nhằm làm rõ:

 Thực trạng ngành dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế

quốc tế

 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới xuất, nhập khẩu của dệt may Việt Nam

trong bối cảnh của VEFTA

 Phân tích các cơ hội và thách thức cho dệt may Việt Nam khi VEFTA được

thực thi

Trang 34

2.3.1.3 Phương pháp kế thừa

Luận văn sẽ kế thừa những công trình nghiên cứu về ngành dệt may Việt Nam, về các hiệp định FTA và các báo cáo tại các hội thảo như đã nêu ở phần tổng

quan và phụ lục tài liệu tham khảo kèm theo

Phương pháp kế thừa được thực hiện qua các bước sau:

 Xác định nội dung kế thừa

Nghiên cứu kế thừa các số liệu, kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu, các bài báo, luận văn, tạp chí, các báo cáo liên quan đến Hiệp định thương mại

tự do, ngành dệt may…

 Xác định phạm vi, mức độ cần kế thừa

Kế thừa các số liệu tổng hợp, các kết quả nghiên cứu, các tổng kết và phương pháp nghiên cứu về cơ sở lý thuyết cho Hiệp định thương mại tự do, các ảnh hưởng của FTA đến dệt may cũng như tổng quan về ngành dệt may của Việt Nam Nghiên cứu còn tham khảo những khuyến nghị chính sách và định hướng phát triển ngành dệt may trong các công trình nghiên cứu trước để phục vụ cho chương 4 về định hướng phát triển ngành dệt may Việt Nam khi tham gia VEFTA

- Tổng hợp

Nghiên cứu tổng hợp các kết quả và tiếp tục triển khai phân tích số liệu theo hướng chuyên sâu về xuất khẩu dệt may và tổng hợp các kiến nghị và đi sâu hơn vào kiến nghị cho việc phát triển ngành dệt may Việt Nam

2.3.1.4 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh dùng để so sánh sự thay đổi trong xuất khẩu dệt may trước và sau khi các FTA được ký kết, từ đó đưa ra dự đoán sự thay đổi sau khi VEFTA được ký kết; đối chiếu, tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt về cơ chế, chính sách, điều kiện tự nhiên, năng lực sản xuất, năng lực tổ chức, quản lý của

Trang 35

ngành dệt may Việt Nam so với một số nước có ngành dệt may phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc v v

Phương pháp so sánh được thực hiện qua các bước như sau:

- Xác định các nội dung và phạm vi so sánh

So sánh về quy mô, năng suất, sản lượng, chính sách … của ngành dệt may với các nước, qua các năm, trước và sau khi gia nhập các FTA

- Xác định điều kiện để so sánh các chỉ tiêu

+ Đảm bảo tính thống nhất về nội dung của chỉ tiêu

+ Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp của các chỉ tiêu

+ Đảm bảo tính thống nhất về các đơn vị, quy chuẩn so sánh

- Xác định mục đích so sánh

Với việc so sánh quy mô, năng suất, sản lượng… thay đổi qua các năm để thấy được sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam qua các năm Ngoài ra so sánh với các nước để thấy được vị trí của dệt may Việt Nam trong chuỗi sản xuất, để thấy được cơ hội và thách thức mà VEFTA mang lại cho ngành

- Thực hiện và trình bày kết quả so sánh

Việc so sánh tuyệt đối các tiêu chí như sản lượng, quy mô, năng suất… được biểu thị qua các biểu đồ, hình vẽ

Phương pháp so sánh được sử dụng sau khi đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp và phương pháp kế thừa nêu trên

2.3.2 Phương pháp phân tích định lượng

Trong nghiên cứu này, các đánh giá tác động định lượng của VEFTA tới thương mại dệt may Việt Nam được tiếp cận theo mô hình lực hấp dẫn (gravity model)

Trang 36

2.3.2.1 Xây dựng mô hình lực hấp dẫn

Mô hình trọng lực hấp dẫn là mô hình kinh tế lượng được sử dụng để giải thích mức độ giao thương hàng hóa giữa 2 quốc gia và rộng hơn là mức độ giao thương của 1 quốc gia với các nước khác Mô hình này dựa trên lý thuyết về lực hấp dẫn của Newton Mô hình này cho rằng mức độ giao thương hàng hóa giữa 2 quốc gia phụ thuộc vào quy mô tương đối của nền kinh tế của 2 quốc gia đó (thường được đánh giá bằng chỉ số GDP) và tỷ lệ nghịch với các chi phí chuyển giao (transaction costs) giữa 2 quốc gia Chi phí này thường được ước tính dựa trên khoảng cách địa lý giữa 2 quốc gia tính thêm các yếu tố khác (tình trạng tàu cảng, tình trạng cấm vận v.v ) Lý thuyết này tương hợp với giả định rằng chi phí thương mại tỷ lệ thuận với khoảng cách giao thương; đất nước không có cảng sẽ có chi phí giao thương cao trong khi chi phí này giữa 2 nước láng giềng thì sẽ thấp hơn Các đặc điểm này sẽ được lượng hóa bởi các tham số [3]

Mô hình trọng lực hấp dẫn đầu tiên được đưa ra bởi Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963) [21] Đây là mô hình với hai yếu tố chính ảnh hưởng tới dòng chảy thương mại giữa hai nước là quy mô kinh tế và khoảng cách địa lý Các mô hình lý thuyết cơ bản cho dòng chảy thương mại giữa hai quốc gia có công thức như sau:

Mij = G YiYj/DijTrong đó:

- Mij là giá trị thương mại giữa nước i và nước j

- Yi là quy mô kinh tế của nước i (thường sử dụng GDP, GNP)

- Yj là quy mô kinh tế của nước j (thường sử dụng GDP, GNP)

- Dij là khoảng cách giữa nước j và j

- G là hằng số

Trang 37

Nhưng sau đó luận điểm về mô hình này đã bị chỉ trích là thiếu nền tảng lập luận về lý thuyết Đây là mặt hạn chế của mô hình Linneman (1966) sau đó đã là người đầu tiên cố gắng xây dựng mô hình với khung lý thuyết hoàn chỉnh hơn dựa trên lý thuyết của mô hình cân bằng từng phần cho cung và cầu hàng hóa xuất nhập khẩu Nhiều nhà nghiên cứu khác sau đó đã phát triển xa hơn mô hình của Linnerman và đưa ra mô hình hoàn chỉnh [3]

Các nhà nghiên cứu sau này đã phát triển mô hình hoàn thiện hơn và nhiều biến khác được thêm vào mô hình như:

- Tỉ giá hối đoái

- Sự khác biệt về văn hóa

và cộng sự năm 2007; Urata và Okabe 2007; Helpman và cộng sự năm 2008; Eicher

và Henn 2011; Phạm Thị Hồng Hạnh 2011, và Medvedev 2012, v.v…) [3]

Trong đánh giá tác động của FTA đến thương mại song phương, mô hình lực hấp dẫn được sử dụng trong nhiều nghiên cứu với các cách tiếp cận khác nhau Hoàng Chí Cương (2014) áp dụng mô hình lực hấp dẫn sử dụng ước lượng Hausman-Taylor (1981) cho phân tích thực nghiệm Trong khi đó, Đỗ Thái Trị lại

sử dụng ước lượng Krugman và Maurice (2005) bổ sung các biến tài chính, tỉ giá hối đoái, lịch sử và dân số so với mô hình gốc ban đầu Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008) sử dụng ước lượng Frankel và Rose (1986) với các biến giả

Trang 38

được đưa thêm vào mô hình gồm các biến độc lập được đưa vào mô hình gồm GDP, GDP bình quân đầu người, khoảng cách địa lý và biến giả ASEAN

Dựa trên những lý thuyết của chương 1 và mô hình lực hấp dẫn chuẩn, nghiên cứu này đã chọn ra mô hình lực hấp dẫn có bổ sung thêm các biến GDP bình quân đầu người và thuế nhập khẩu để đánh giá các tác động tới luồng thương mại ngành dệt may như sau:

Phương trình lực hấp dẫn xuất khẩu:

𝐸𝑥𝑘𝑉𝑖𝑗: là kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam sang

nước j trong năm t; k nhận các giá trị từ HS50 đến HS63

𝐼𝑚𝑘𝑉𝑖𝑗: là kim ngạch nhập khẩu ngành dệt may từ nước về Việt Nam

trong năm t, k nhận các giá trị từ HS50 đến HS63

A, B: là hệ số hấp dẫn/cản trở thương mại giữa Việt Nam và nước j 𝑃𝐺𝐷𝑃𝑗𝑡 : là GDP bình quân đầu người của nước j tại năm t

𝑃𝐺𝐷𝑃𝑉𝑡: là GDP bình quân đầu người của Việt Nam tại năm t

𝐷𝐼𝑆𝑉𝑗: là khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và nước j

𝑇𝑗𝑡; 𝑇𝑉𝑡: là mức thuế nhập khẩu trung bình đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam sang nước j và từ nước j sang Việt Nam (mức thuế MFN)

𝛼′𝑠; 𝛽′𝑠: là các hệ số thể hiện mức độ tác động của từng yếu tố trong mô hình

𝜇𝑉𝑗𝑡; 𝜑𝑉𝑗𝑡: là nhiễu ngẫu nhiên

Trang 39

Lấy logarit hai vế của phương trình (1) và (2) đưa về dạng tuyến tính để ước lượng

- Pool OLS: Ước lượng bình phương nhỏ nhất thô

- FE: Mô hình các ảnh hưởng cố định, trong đó các hệ số độ dốc là hằng số

nhưng tung độ gốc thay đổi theo các quốc gia

- RE: Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên, các hệ số thay đổi theo thời gian và

đơn vị chéo

- Breusch and Pagan Lagrangian multiplier test – LM: kiểm đi ̣nh sự phù hợp

của mô hình Random effect

- Hausman test: kiểm định do Hausman xây dựng vào năm 1978 để chọn lựa

Trang 40

2.3.2.2 Bảng số liệu

Nghiên cứu thực nghiệm được phân tích dựa trên bộ dữ liệu bảng theo cặp nước (Việt Nam và 28 nước thành viên của EU) trong giai đoạn 2004 – 2014 Các

số liệu đều được trích dẫn từ các nguồn đáng tin cậy, cụ thể như sau:

 Số liệu về kim ngạch xuất nhập khẩu của nhóm hàng dệt may theo USD

được lấy từ cơ sở dữ liệu thống kê thương mại hàng hóa của Liên Hiệp quốc (United Nations Commodity Trade (Comtrade) Statistics Database)

 Số liệu về GDP và GDP bình quân đầu người theo USD của các nước được

lấy từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới (World Bank’s World Development Indicators)

 Số liệu về khoảng cách địa lý theo kilomet giữa các nước được lấy từ Centre

d’Etudes Prospectives et d’Informations Internationales (CEPII)

 Số liệu về mức thuế MFN lấy từ cơ sở dữ liệu của Tổ chức thương mại Thế

giới (WTO)

Ngày đăng: 18/09/2020, 00:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm