1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chống gian lận về trị giá hải quan sau thông quan tại Cục hải quan thành phố Hà Nội

116 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hải quan không những phải đáp ứng được yêu cầu của quản lý nhà nước mà còn phải bảo đảm cho những nhu cầu hết sức thiết thực của cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu – đó là thông quan

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LÊ THU TRANG

CHỐNG GIAN LẬN VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LÊ THU TRANG

CHỐNG GIAN LẬN VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Tác giả luận văn

LÊ THU TRANG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn TS Phan Trung Chính -Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cùng toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế chính trị , Trường Đại học Kinh tế , Đại học Quốc Gia Hà Nội đã truyền đa ̣t những kiến thức quý giá và tâ ̣n tình hướng dẫn tác giả trong thời gian ho ̣c tâ ̣p và nghiên cứu ta ̣i trường

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Bộ phận sau đại học, Phòng Đào tạo, các anh chị chuyên viên văn phòng Khoa Kinh tế chính trị đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo, cán bộ, công chức Cục hải quan thành phố Hà Nội, Chi cục kiểm tra sau thông quan, các Chi cục hải quan thuộc Cục hải quan thành phố Hà Nội và các doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, bạn bè đã luôn ủng hộ và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình./

Tác giả luận văn

LÊ THU TRANG

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞLÝLUẬN, THỰC TIỄN VỀ CHỐNG GIAN LẬN TRỊ GIÁ HẢI QUAN SAU THÔNG QUAN TẠI CẤP CỤC CỦA NGÀNH HẢI QUAN 5

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chống gian lận trị giá hải quan qua hoạt động kiểm tra sau thông quan tại cấp Cục của ngành Hải quan 9

1.2.1 Những vấn đề cơ bản về gian lận trị giá hải quan 9

1.2.2 Chống gian lận trị giá hải quan qua hoạt động kiểm tra sau thông quan của ngành hải quan 22

1.3.Kinh nghiệm thực tiễn chống gian lận trị giá hải quan sau thông quan tại một số Cục Hải quan và bài học cho Cục hải quan thành phố Hà Nội 36

1.3.1 Kinh nghiệm chống gian lận về trị giá hải quan qua hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục hải quan thành phố Hải Phòng 36

1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Cục hải quan thành phố Hà Nội 37

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Nguồn tài liệu và dữ liệu thứ cấp 39

2.2 Phương pháp luận 39

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 39

2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 40

Trang 6

Chương 3:THỰC TRẠNG CHỐNG GIAN LẬN TRỊ GIÁ HẢI QUAN SAU

THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42

3.1 Đặc điểm về hoạt động của Cục hải quan thành phố Hà Nội 42

3.1.1 Quá trình phát triển và một số kết quả hoạt động của Cục hải quan thành phố Hà Nội 42

3.1.2 Bộ máy kiểm tra sau thông quan của Cục hải quan thành phố Hà Nội43 3.2 Thực trạng chống gian lận về trị giá hải quan sau thông quan tại Cục hải quan thành phố Hà Nội 44

3.2.1 Thực trạng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác KTSTQ về TGHQ 44

3.2.2 Thực trạng cơ sở pháp lý KTSTQ về TGHQ 45

3.2.3 Thực trạng thực hiện quy trình, biện pháp nghiệp vụ chống gian lận về trị giá hải quan qua hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục hải quan thành phố Hà Nội 47

3.3 Đánh giá kết quả chống gian lận về trị giá hải quan qua hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục hải quan thành phố Hà Nội 62

3.3.1 Điểm mạnh 62

3.3.2 Điểm yếu 63

3.3.3 Nguyên nhân của điểm yếu 66

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỐNG GIAN LẬN VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUANTHÀNH PHỐ HÀ NỘI 76

4.1 Phương hướng và mục tiêu chống gian lận về trị giá hải quan sau thông quan tại Cục hải quan thành phố Hà Nội 76

4.1.1 Phương hướng chung 76

4.1.2 Mục tiêu chống gian lận về trị giá hải quan sau thông quan tại Cục hải quan thành phố Hà Nội 77

Trang 7

4.2 Giải pháp chống gian lận về trị giá hải quan sau thông quan tại Cục hải quan

thành phố Hà Nội: 79

4.2.1 Tăng cường cả về số lượng và chất lượng cán bộ kiểm tra sau thông quan, đặc biệt là cán bộ KTSTQ về TGHQ 79

4.2.2 Chú trọng hiệu lực, hiệu quả KTSTQ về TGHQ để thực sự góp phần chống thất thu ngân sách nhà nước 83

4.2.3 Xây dựng và áp dụng chuẩn mực KTSTQ về TGHQ 86

4.2.4 Tăng cường đào tạo kỹ năng KTSTQ về TGHQ, trong đó chú trọng kỹ năng về kế toán, kiểm toán, phát hiện gian lận thương mại 92

4.2.5 Giải pháp đối với đối tượng KTSTQ về TGHQ 93

4.2.6 Giải pháp phối hợp 95

4.3.Kiến nghị về phía nhà nước 100

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 8

4 GATT Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch

5 KTSTQ Kiểm tra sau thông quan

11 THC Terminal handling charge (tạm dịch: Phí xếp dỡ)

12 TTXLTT Thu thập xử lý thông tin

13 VNACCS/VCIS Hệ thống thông quan tự động một cửa quốc gia

14 WCO Tổ chức hải quan thế giới

15 WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 3.1 Số thu ngân sách của Cục hải quan thành phố Hà Nội 42

2 Bảng 3.2 Số liệu kết quả kiểm tra sau thông quan tại Cục hải

3 Bảng 3.3 Số thu từ kiểm tra sau thông quan so với tổng số thu

thuế tại Cục hải quan thành phố Hà Nội 60

4 Bảng 3.4 Số thu từ kiểm tra sau thông quan trong các năm tại

5 Bảng 3.5

Số thu từ KTSTQ về TGHQ so với tổng số thu thuế kiểm tra sau thông quan về các lĩnh vực khác tại Cục hải quan thành phố Hà Nội

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

1 Hình 3.1 Bộ máy kiểm tra sau thông quan của Cục hải quan

2 Hình 3.2 Mô hình tổ chức nhân sự của Chi cục kiểm tra sau

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài

Hiện nay Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập, mở cửa nền kinh tế.Hoạt động xuất nhập khẩu luôn được đẩy mạnh, nhất là từ khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Cùng với

đà tăng trưởng mạnh của nền kinh tế, hành vi trốn thuế và gian lận thuế cũng ngày càng tinh vi, phức tạp Hải quan không những phải đáp ứng được yêu cầu của quản lý nhà nước mà còn phải bảo đảm cho những nhu cầu hết sức thiết thực của cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu – đó là thông quan nhanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính.Kiểm tra sau thông quan là hoạt động nghiệp vụ do cơ quan chuyên trách của ngành hải quan thực hiện nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực của việc khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan và đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người khai hải quan làm cơ sở xem xét mức độ ưu tiên trong việc làm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan và xử lý vi phạm (nếu có)

Chuyển sang KTSTQ tức là cho phép hàng hóa thông quan sau đó sẽ kiểm tra sâu, rộng hơn hồ sơ hải quan, chứng từ tài liệu có liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu Cũng có thể thấy rằng, việc chuyển động kiểm tra TGHQ

từ việc kiểm tra trực tiếp đối với hàng hóa ngay tại cửa khẩu, chuyển sang việc kiểm tra gián tiếp chủ yếu qua chứng từ, sổ sách của đơn vị xuất, nhập khẩu hàng hóa là công việc mà hải quan chưa có nhiều kinh nghiệm và cũng

ẩn chứa nhiều rủi ro nhất và thực tế Công tác KTSTQ về TGHQ hiện đang có chiều hướng tăng lên, có nhiều vướng mắc và hiệu quả còn thấp

Các hình thức gian lận ngày càng gia tăng và tinh vi như khai báo trị giá thấp hơn giá thực tế phải thanh toán, không tính hoặc không khai báo chi phí hoặc trị giá các khoản trợ giúp, phí bản quyền, phí giấy phép… do không phải xuất trình tại thời điểm thông quan hàng hóa Đồng thời, thẩm định về tính trung thực, chính xác nội dung các chứng từ mà doanh nghiệp đã khai,

Trang 12

nộp, xuất trình với cơ quan hải quan và làm cơ sở áp dụng quản lý rủi ro cho việc đánh giá tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan của doanh nghiệp của ngành hải quan còn nhiều hạn chế

Do vậy, để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý của mình, Cục hải quan thành phố Hà Nội đã có nhiều biện pháp chỉ đạo các đơn vị thuộc và siết chặt công tác quản lý thuế, tập trung vào các hình thức gian lận thương mại mới phát sinh, gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước, đặc biệt là các hình thức gian lận về TGHQ

Việc nghiên cứu, đánh giá tình hình hoạt động chống gian lận TGHQ qua hoạt động KTSTQ tại Cục hải quan thành phố Hà Nộihiện nay là rất cần thiết, để từ đó đề ra các giải pháp nhằm tạo điều kiện phát huy hơn nữa các kết quả đã đạt được đồng thời giúp cho hoạt động KTSTQ về TGHQ khắc phục được những hạn chế tồn tại Không những giúp phát hiện ra những vụ việc gian lận, truy thu được số thuế lớn cho ngân sách mà còn góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Đặc biệt, các doanh nghiệp nghiêm túc chấp hành các quy định của pháp luật sẽ được hưởng các cơ chế doanh nghiệp ưu tiên, được tạo thuận lợi tối đa trong việc thực hiện thủ tục thông quan

Là công chức trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực KTSTQ về TGHQ.Sau khi được tiếp thu kiến thức của khóa đào tạo thạc sỹ của Trường Đại học

Kinh tế-Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận văn là

“Chống gian lận về trị giá hải quansau thông quan tại Cục hải quan thành phố Hà Nội”

2 Câu hỏi nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu luận văn tập trung vào việc trả lời câu hỏi: Trong thời gian tới, Cục hải quan thành phố Hà Nội cần phải thực hiện những giải pháp hữu hiệu nào để chống được gian lận trị giá hải quanqua hoạt động kiểm tra sau thông quan để hoàn thiện quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu trên địa bàn?

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa làm rõ những vấn đề

lý luận cơ bản, phân tích rõ thực trạng, đề xuất giải pháp hữu hiệu nhằm chống gian lận TGHQ tại Cục hải quan thành phố Hà Nội

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Hệ thống hóa có bổ sung những vấn đề lý luận cơ bản về gian lận TGHQ, nội dung hoạt động chống gian lận qua hoạt động KTSTQ Tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn để hình thành khung lý luận của đề tài

+ Khảo sát, phân tích làm rõ thực trạng gian lận và đánh giá nội dung KTSTQ về TGHQ tại Cục hải quan thành phố Hà Nội Qua đó chỉ ra được

điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân điểm yếu

+ Nêu rõ phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các điểm yếu và hoàn thiện nội dung hoạt động KTSTQ nhằm chống gian lận về TGHQ

của Cục hải quan thành phố Hà Nội trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động chống gian lận về TGHQ bằng công cụ sau thông quan

+Phạm vi nội dung nghiên cứu: có nhiều loại gian lận thương mại, hoạt động chống gian lận không chỉ riêng của ngành Hải quan mà có sự tham gia của nhiều cơ quan chức năng khác Do phạm vi điều chỉnh rộng nên phạm vi

Trang 14

nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu vào lĩnh vực gian lận TGHQ và hoạt động chống gian lận là hoạt động KTSTQ

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu gồm 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về chống gian lận trị giá hải quan sau thông quan tại cấp Cục của ngành hải quan Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng chống gian lận trị giá hải quan sau thông quan tại Cục hải quan thành phố Hà Nội

Chương 4: Phương hướng và giải pháp chống gian lận trị giá hải quan sau

thông quan tại Cục hải quan thành phố Hà Nội

Trang 15

Chương 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝLUẬN, THỰC TIỄN VỀ CHỐNG GIAN LẬN TRỊ GIÁ HẢI QUAN SAU THÔNG QUAN TẠI CẤP CỤC CỦA NGÀNH HẢI QUAN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo các nghiên cứu đi trước có liên quan đến nội dung KTSTQ về TGHQ, trong đó có thể kể đến các công trình nghiên cứu trong và ngoài ngành hải quan như:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành hải quan “Các giải pháp nâng

cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của

kế hoạch cải cách, phát triển hiện đại hóa hải quan giai đoạn 2004 - 2006”,

chủ nhiệm Nguyễn Viết Hồng (năm 2005) Phạm vi đề tài này chủ yếu đánh giá thực trạng KTSTQ giai đoạn từ 2004 đến 2006 và đưa ra một số giải pháp ban đầu về nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan

- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Xây dựng chuẩn mực kiểm tra sau thông

quan” (năm 2007) do Vụ chính sách thuế và Tổng Cục Hải quan thực hiện;

“Kiểm tra hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu – Thực trạng và

giải pháp” (năm 2008) do tiến sĩ Nguyễn Thị Thương Huyền và tiến sĩ

Nguyễn Việt Cường làm chủ nhiệm;

-Luận văn thạc sĩ “Chống gian lận thương mại qua giá qua hoạt động

nhập khẩu ở Việt Nam”, (năm 2008) của tác giả Nguyễn Thị Thủy, Đại học

Quốc gia Hà Nội Luận văn đã nêu được cơ sở lý luận và thực tiễn chống gian lận thương mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam, bảo đảm chống thất thu ngân sách và tạo điều kiện lành mạnh hóa môi trường trên thị trường cạnh tranh nội địa

- Luận văn thạc sĩ “Gian lận thương mại qua trị giá tính thuế đối với

hàng nhập khẩu tại Cục hải quanthành phố Hồ Chí Minh- nghiên cứu, thực

Trang 16

trạng và giải pháp”, (năm 2009) của tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang, Trường

Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đã nêu được một số lý luận

cơ bản liên quan đến trị giá tính thuế trong hải quan Đánh giá thực trạng công tác phòng chống gian lận thương mại qua trị giá tính thuế tại Cục hải quan thành phố Hồ Chí Minh khoảng thời gian áp dụng trị giá tính thuế theo GATT từ năm 2004 đến 2009 và đã đưa ra một số giải pháp cho Cục hải quan thành phố

Hồ Chí Minh về công tác chống gian lận thương mại qua trị giá tính thuế đến năm 2009

- Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về kiểm tra sau thông quan, chuẩn mực

quốc tế và thực tiễn áp dụng của hải quan Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị

Thu Hường (năm 2009),Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu hệ thống các quy định pháp luật quốc tế về KTSTQvà áp dụng cho Việt Nam

- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan ở

2011) khẳng đi ̣nh rằng song song với sự phát triển của thương ma ̣i là gian lâ ̣n thương ma ̣i, đă ̣c biê ̣t là gian lâ ̣n về tri ̣ giá và phân loa ̣i hàng hóa có thuế suất cao Do đó, nâng cao hiê ̣u quả công tác kiểm tra sau thông quan là điều tất yếu Sử du ̣ng phương pháp nghiên cứu thống kê, tổng hợp, luâ ̣n văn đã đưa ra những con số về kim nga ̣ch xuất nhâ ̣p khẩu , số thuế thu ngân sách nhà nước của ngành hải quan , số cuô ̣c kiểm tra sau thông quan…Tuy nhiên , do số liê ̣u chỉ cập nhật từ năm 2006 đến năm 2010 trong bối cảnh Luâ ̣t hải quan sửa đổi bổ sung 2005 nên chưa làm rõ được các tồn ta ̣i , vướng mắc theo cơ chế chính sách và tình hình thực tế hiện nay

- Đề án cấp ngành hải quan “Nghiên cứu phương pháp kiểm tra sau

thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong thông quan điện tử”,

chủ nhiệm đề tài Văn Bá Tín (năm 2012) đã tâ ̣p trung nghiên cứu thực tra ̣ng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t, phương pháp, thực tra ̣ng hoa ̣t đô ̣ng kiểm tra sau thông quan trong điều kiê ̣n thông quan điê ̣n tử Từ đó, đề xuất một số phương pháp

Trang 17

kiểm tra sau thông quan đối với các lĩnh vực cu ̣ thể: trị giá tính thuế, gia công, sản xuất xuất khẩu , mã số hàng hóa , hàng hóa nhập khẩu được miễn thuế trong lĩnh vực đầu tư Số liệu của đề tài được thống kê từ năm 2007 đến năm 2012; chưa được câ ̣p nhâ ̣t cho đến năm 2015, đă ̣c biê ̣t là giai đoa ̣n biến đô ̣ng lớn khi hải quan Viê ̣t Nam áp du ̣ng cơ chế mô ̣t cửa quốc gia V NACCS/VCIS từ ngày 01/04/2014 và chưa áp dụng Luật hải quan năm 2014

- Tác giả T ạ Thị Mão năm 2013 chủ biên cuốn “Xây dựng phần mềm

thu thập và khai thác thông tin phục vụ công tác kiểm tra sau thông quan”.Trên cơ sở học tập kinh nghiệm của hải quan Nhật Bản - mô hình

KTSTQViệt Nam triển khai từ năm 2014, tác giả xây dựng mô hình giả định gắn với bộ tiêu chí quản lý rủi ro để xác định nhóm doanh nghiệp trọng điểm cần kiểm tra sau thông quan, nhóm mặt hàng nhạy cảm yêu cầu KTSTQkịp thời Đồng thời hướng dẫn công chức thực hiện KTSTQ các bước tra cứu, tìm dữ liệu phục vụ công tác KTSTQ theo hướng áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại

- Luận văn thạc sĩ “Kiểm tra sau thông quan tại Cục hải quan thành

phố Hà Nội” của tác giả Trần Thanh Lam ( năm 2016), Đại học kinh tế-Đại

học quốc gia Hà Nội Luận văn đã nêu được một số vấn đề lý luận chung về công tác kiểm tra sau thông quan Đồng thời, phân tích thực trạng; đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân những tồn tại, yếu kém của KTSTQ tại Cục hải quan thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015 Qua đó, luận văn cũng

đề xuất một số nhóm giải pháp chung nhất nhằm hoàn thiện công tác KTSTQ tại Cục hải quan thành phố Hà Nội Qua đó nghiên cứu KTSTQ tại Cục hải quan thành phố Hà Nội nhưng luận văn chỉ đề cập các vấn đề chung không đi sâu nghiên cứu KTSTQ về TGHQ

- Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra sau thông quan các năm 2014

-2016 và tài liệu Hội nghị chuyên đề KTSTQ các năm 2014 -2016 của Cục

Trang 18

hảiquanthành phố Hà Nội tổng hợp những số liê ̣u mới nhất và chính xác nhất về các cuô ̣c kiểm tra sau thông quan , số thuế truy thu của Cu ̣c hải quan thành phố Hà Nội Qua các báo cáo có thể nhâ ̣n thấy mô ̣t số điểm yếu của nghiê ̣p vu ̣ được chỉ ra năm t rước được đi ̣nh hướng , thay đổi, nâng cao, hoàn thiện trong các năm sau Tuy nhiên , chưa có mô ̣t báo cáo nào tổng hợp được cả mô ̣t chă ̣ng đường phát triển của kiểm tra sau thông quan về TGHQ ta ̣i Cục hải quan thành phố Hà Nội giai đoa ̣n 2014 - 2016

Ngoài ra, các bài báo, bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, các bài hội thảo khoa học có liên quan, đề cập đến TGHQ, pháp luật

về TGHQ có thể kể đến như: Bài hội thảo khoa học “Kiểm tra trị giá tính

thuế - Nghiệp vụ không thể thiếu trong công tác chống gian lận thuế xuất, nhập khẩu”( năm 2012), Nguyễn Thị Lan Hương, Học viện Tài chính, Tr 108

– 112; “Ngăn ngừa gian lận trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập

khẩu”, (năm 2013) Lâm Hoàn, Tạp chí Nghiên cứu Hải quan, Tr20 -Tr 32 ;

“Giới thiệu về cơ chế xác nhận trước mã số, xuất xứ và TGHQ”, (năm 2013) Bình Minh; Tạp chí Nghiên cứu Hải quan, Tr 5 – Tr 19; “Giải trình, làm rõ

một số vấn đề trong dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi)”, (năm 2013) Thu

Trang, báo Hải quan, Tr 4 …

Hầu hết các nghiên cứu, luận văn thạc sỹ đều đưa ra kiến nghị về việc hoàn thiện cơ sở pháp lý trong công tác KTSTQ và công tác TGHQ Theo đó, tập trung chủ yếu vào 5 nhóm giải pháp sau: Một là, kiến nghị về hoàn thiện hành lang pháp lý về KTSTQ và TGHQ Hai là, hoàn thiện về quy trình thủ tục KTSTQ và TGHQ Ba là, nâng cao năng lực trình độ của cán bộ công chức trong quá trình thực hiện nghiệp vụ KTSTQ Bốn là, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của đối tượng chịu sự kiểm tra sau thông quan.Năm là, tăng cường quan hệ phối hợp, hợp tác trao đổi thông tin với các cơ quan khác trong

và ngoài ngành Đây là những vấn đề cốt yếu nhất trong nội dung KTSTQ

Trang 19

cũng như KTSTQ về TGHQ đã được nghiên cứu, làm rõ từng phần mà tác giả

có thể kế thừa để tham khảo

Khoảng trống nghiên cứu:

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy:

-Các tài liệu, đề tài, công trình nghiên cứu nêu trên thực hiện trong bối cảnh KTSTQ ở Việt Nam còn rất sơ khai, thực tiễn chưa đang kể, phạm vi vĩ

mô như mô hình kiểm sau thông quan về TGHQ Hải quan Việt Nam Nội dung chưa bàn sâu về gian lận TGHQ và chưa được khảo sát một cách hệ thống thực trạng chống gian lận TGHQ Mỗi một Cục hải quan khác nhau lại

có những điều kiện khác nhau để áp dụng vào thực tế.Đề tài không trùng lặp với những đề tài đã được công bố.Để thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả đã nêu ra những khoảng trống về lý luận cần nghiên cứu và có kế thừa một số kết quả nghiên cứu về lý luận của các công trình trên trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài

Việc nghiên cứu làm rõ thực trạng để đề xuất các giải pháp xác thực, khả thi để kịp thời khắc phục những bất lợi hiện nay vẫn là vấn đề thời sự

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chống gian lận trị giá hải quan qua hoạt động kiểm tra sau thông quan tại cấp Cục của ngành Hải quan

1.2.1 Những vấn đề cơ bản về gian lận trị giá hải quan

1.2.1.1 Các khái niệm cơ bản

- Khái niệm về gian lận thương mại

Gian lận thương mại theo Từ điển tiếng Việt là "dối trá, lừa lọc" trong hoạt động thương mại Người có hành vi gian lận thương mại gọi là "gian thương" tức là "người có nhiều mưu mô lừa lọc", "kẻ buôn bán gian lận và trái phép" Gian lận được coi là hành vi của con người cụ thể có lời nói hoặc

cử chỉ, hành động không đúng với bản chất của sự vật hiện tượng nhằm mục đích đánh lừa người khác Trong dân gian gian lận thương mại gắn liền với

Trang 20

thành ngữ "buôn gian, bán lận" và dùng để chỉ những thủ đoạn mánh khóe lừa lọc khách hàng hoặc người khác để thu lời bất chính Hành vi "buôn gian, bán lận" trong dân gian được hiểu bao gồm một số thủ đoạn đơn giản như: hàng xấu nói tốt, ít nói nhiều, rẻ nói đắt, cân đo điêu, buôn bán hàng cấm, lén lút, giấu giếm, lậu thuế … Hành vi gian lận thương mại trước hết phải là hành vi gian lận được thể hiện trong lĩnh vực thương mại Chủ thể của hành vi gian lận thương mại là các chủ hàng, có thể là người mua hoặc người bán, cũng có khi là cả người mua và người bán Mục đích của hành vi gian lận thương mại

là nhằm thu lợi bất chính từ thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối trá

- Khái niệm về gian lận trong lĩnh vực Hải quan

Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là những hành vi gian lận thương mại của chủ hàng trong hoạt động xuất khẩu để trốn tránh việc kiểm soát và quản lý của Hải quan Vấn đề này được Hội đồng Hợp tác Hải quan (nay là WCO) chú ý từ những ngày mới thành lập Trong Bản khuyến nghị về giúp đỡ hành chính lẫn nhau do Hội đồng Hợp tác Hải quan quốc tế đưa ra ngày 5/12/1975 cũng đã đề cập vấn đề giúp đỡ hành chính lẫn nhau về chống gian lận thương mại Qua nhiều lần bổ xung, thảo luận, đến 9/6/1977 định nghĩa về gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan mới được Hội đồng Hợp tác Hải quan quốc tế đưa ra trong Công ước quốc tế về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong ngăn chặn, trấn áp và điều tra các vi phạm Hải quan - Công ước Nairobi Khái niệm về gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan được Công ước Nairobi nêu ra như sau:

"Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi phạm pháp luật Hải quan trong đó một cá nhân lừa dối Hải quan để nhằm lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế xuất nhập khẩu, việc áp dụng các biện pháp cấm hoặc hạn chế do luật pháp Hải quan quy định, hoặc thu được một khoản lợi nhuận nào đó qua việc vi phạm pháp luật này"

Trang 21

Về khái niệm này đã khái quát được hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan, hành vi đó được thể hiện bằng sự lừa dối thông qua hành động lẩn tránh việc nộp thuế và tuân thủ pháp luật hải quan nhằm mục đích thu được một khoản lợi nào đó Thực tế, trong bối cảnh hoạt động thương mại quốc tế ngày càng phát triển, song song với xu thế này là những hoạt động gian lận thương mại cũng ngày càng phức tạp, tinh vi Điều đó cho thấy, khái niệm trên chưa thể hiện được một cách đầy đủ, chính xác hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan Vì vậy, tại hội nghị quốc tế lần thứ V về chống gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan do WCO triệu tập tại Brussels (Bỉ) từ ngày 9/10/1995 đến ngày 13/10/1995 đã xem xét lại khái niệm về gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan và thống nhất đưa ra một khái niệm mới như sau:

"Gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan là hành vi vi phạm các điều khoản pháp quy hoặc pháp luật hải quan nhằm:

- Trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh việc nộp thuế hải quan, phí và các khoản khu khác đối với việc di chuyển hàng hoá thương mại và/hoặc:

- Nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hoá không thuộc đối tượng đó và/hoặc:

- Đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục, cạnh tranh thương mại chân chính"

- Khái niệm về trị giá Hải quan: Theo Điều 7 Hiệp định trị giá GATT/WTO 1994: TGHQ là trị giá giao dịch thực tế của hàng hóa nhập khẩu và Hiệp định

đã đưa ra sáu phương pháp xác định TGHQ Theo đó, TGHQ hàng nhập khẩu là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán (the price actually paid or payable) cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu và trong phạm vi lớn nhất có thể thì đó chính là trị giá giao dịch hay một trị giá được tính toán gần sát nhất với trị giá giao dịch của hàng hóa đó [16, tr10]

Trang 22

Mục đích chính của Hiệp định là bảo vệ lợi ích của những nhà kinh doanh trung thực bằng việc yêu cầu hải quan phải chấp nhận xác định trị giá tính thuế là giá mà người nhập khẩu thực sự phải trả trong giao dịch kinh doanh cụ thể.Việc xác định này được áp dụng đối với các giao dịch giữa các bên độc lập với nhau và giao dịch giữa những bên mua bán có quan hệ với nhau

TGHQ bao gồm TGHQ hàng hóa xuất khẩu và TGHQ hàng hóa nhập khẩu, sử dụng cho các mục đích quản lý Nhà nước về hải quan TGHQ là phần số liệu về trị giá của hàng hoá được đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ hải quan do cơ quan hải quan quản lý và toàn bộ các chi phí phát sinh trong suốt quá trình giao dịch và cấu thành vào giá trị của hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu Do đó, tất cả mọi chi phí hoạt động thực tế có liên quan đến giao dịch thương mại quốc tế đều phải được phản ánh đầy đủ trong TGHQ

-Như vậy, từ các khái niệm trên theo tác giả “Gian lận về trị giá Hải quan

là hành vi khai báo gian dối giá trị thực của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhằm trốn tránh những nghĩa vụ quy định (số thuế phải nộp) cho hàng hóa đó” 1.2.1.2 Các hình thức về gian lận trị giá hải quan

- Gian lận qua khai báo hàng hóa xuất nhập khẩu

Đây là hành vi gian lận phổ biến nhất thường gặp Trong đó để lẩn

tránh việc kiểm tra của hải quan, chủ hàng thường dùng các thủ đoạn:

Một là, khai báo không trung thực về mặt hàng thực xuất, thực nhập

khẩu với cơ quan Hải quan

Trên thực tế, xuất nhập khẩu là mặt hàng này nhưng trong bộ hồ sơ chứng từ, chủ hàng lại kê khai là mặt hàng khác hoặc hàng có thuế suất xuất nhập khẩu cao, chủ hàng cố tình khai sai để áp vào hàng có thuế suất xuất nhập khẩu thấp hoặc áp vào hàng không phải nộp thuế xuất nhập khẩu và các

khoản thu khác của Nhànước Đối với mặt hàng cấm xuất nhập khẩu hoặc

Trang 23

hàng thuộc danh mục nhà nước quản lý nhưng chủ hàng cố tình khai man với hải quan là những mặt hàng thông thường, không thuộc diện cấm để có thể xuất khẩu hoặc nhập khẩu trót lọt Thủ đoạn khai gian về hàng hoá mà chủ hàng thường áp đụng là: mô tả sai về hàng hoá trong bộ chứng từ, trong tờ khai hải quan không ghi đúng mã hàng theo quy định về áp mã hàng của Công ước quốc tế Cách khác là mô tả hàngtheo kiểu mập mờ, khó xác định chính xác nó được xếp vào mã HS nào Ngoài ra, chủ hàng còn dùng nhiều thủ đoạn để lẫn lộn hai loại hàng với nhau

Hai là, khai báo không trung thực về trị giá hànghóa

Nhằm trốn thuế xuất nhập khẩu và các thuế khác, chủ hàng thường khai man về trị giá hàng hoá xuất nhập khẩu ở hai dạng: khai báo trị giá thấp hơn trị giá thực phải thanh toán và khai báo trị giá cao hơn trị giá thực phải thanh toán Cụ thể như sau:

- Khai báo trị giá thấp hơn trị giá thực phải thanh toán

Hiện tại, việc xác định trị giá tính thuế hàng hoá xuất nhập khẩu tuân thủ theo Hiệp định trị giá GATT tức là căn cứ trên trị giá giao dịch, thực thanh toán của lô hàng (giá ghi trên hợp đồng thương mại, hoá đơn thương mại, chứng từ ngân hàng ) vì vậy một số doanh nghiệp thông đồng với nước ngoài ghi giảm giá trên hợp đồng thương mại để trốn thuế, phổ biến là các hình thức sau:

- Khai báo hàng cho tặng, không thanh toán, hàng hỗ trợ tiếp thị quảng cáo, khuyến mại

- Đánh đồng tên hàng nhưng thực chất chất lượng và phẩm cấp thương mại của hàng hóa cao hơn so với khai báo

- Phân bổ giá cho một lô hàng gồm nhiều loại hàng khác nhau: Khai cao giá đối với hàng hóa có thuế suất thấp, khai thấp giá đối với hàng hóa có thuế suất cao trong giá trị của lô hàng không đổi

Trang 24

- Nhập khẩu thử một lượng nhỏ hàng hóa mới để thăm dò (thông thường nhập qua đường hàng không hoặc chuyển phát nhanh), sau khi được hải quan chấp nhận trị giá khai báo thì ngay lập tức nhập khẩu ồ ạt số lượng lớn hàng hóa cùng loại để hưởng chênh lệch thuế

Đặc biệt trong loại hình nhập khẩu hàng hóa phi mậu dịch, với đặc thù loại hình này là hàng hóa không cần hợp đồng mua bán, việc gian lận về giá tính thuế diễn ra rất phức tạp dễ xảy ra móc nối tiêu cực giữa cán bộ hải quan làm thủ tục và doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng hình thức này

để mua gom hàng hóa hàng hóa tại nước ngoài, sau đó thành lập doanh nghiệp giả làm hợp đồng, hóa đơn để hạ thấp trị giá thực tế của hàng hóa Đối với các loại hàng hóa đã qua sử dụng có giá trị lớn, được phép nhập khẩu như ô tô, máy móc thiết bị, tình trạng gian lận qua TGHQ cũng diễn ra hiện tượng một số doanh nghiệp cấu kết với nhau khai báo giá giảm dần để gian lận vế thuế hoặc móc nối với cơ quan giám định nhằm sai lệch giá trị thực tế để trốn thuế, hợp lý hóa các thủ tục giấy tờ để xuất khẩu, nhập khẩu

- Khai báo trị giá cao hơn trị giá thực phải thanh toán

Trường hợp mặt hàng yêu cầu có giấy phép xuất nhập khẩu bị giới hạn

về số lượng hàng hoá trong khi hoá đơn, chứng từ thanh toán và kết toán là hoàn toàn đúng với số tiền thực tế phải trả, nhưng số lượng hàng hoá ghi ít hơn thực tế về sốlượng hàng hoá xuất nhập khẩu (để còn được xuất nhập khẩu tiếp) vì thế giá hàng hoá phải khai báo cao hơn thực tế Lý dolà nếu giá cả hàng hoá quá thấp thường gây ra nhiều nghi ngờ và cũng có thể dẫn đến các cuộc điều tra về chống phá giá hay điều tra bắt nộp thêm về thuế phụ thu Các cuộc điều tra như vậy thường tốn kém và kết quả là chủ hàng thường phải nộp thêm nhiều tiền thuế, có khi còn phải nộp phạt, các chi phí sẽ cao hơn nhiều

lần so với thuế nộp cho phần TGHQ đã khai báo cao hơn thực tế

Trang 25

Trong trường hợp phân loại và thuế suất căn cứ vào trị giá hàng hoá thì tổng trị giá hàng hoá có thể được chủ hàng khai báo cao hơn thực tế để hưởng thuế suất thấp hơn Tính toán của họ là nếu áp dụng cách này thì tổng số tiền thuế tuy có cao lên nhưng thuế suất giảm đi và cuối cùng số tiền thuế phải

nộp cũng sẽ giảm đi

Ngoài ra, việc chủ hàng khai báo trịgiá hàng hoá cao hơn thực tế trị giá vốn có của lô hàng còn xảy ra trong lĩnh vực liên doanh đầu tư với nước ngoài: các chủ đầu tư nước ngoài thường nâng giá máy móc, thiết bị, vật tư lên cao hơn nhiều so với giá cả thị trường quốc tế để làm thành phần góp vốn của các chủ đầu tư nước ngoài nhằm thu lợi nhuận cao qua phần thu hồi khấu hao thiết bị máy móc và lợi nhuận phân chia qua tỷ lệ góp vốn, đồng thời lại giảm phần thuế lợi tức phải nộp cho Nhà nước

Thứ ba,khai báo không trung thực về số lượng, trọng lượng và chất lượng hàng hóa xuất nhập khẩu

Lợi dụng thủ tục hải quan đơn giản, thông thoáng để tạo hiệu quả cho thương mại, các chủ hàng đã xuất nhập khẩu hàng hoá với số lượng, trọng lượng nhiều nhưng chỉ khai một phần, hàng tốt khai thành hàng trung bình, hàng mới khai thành hàng cũ, hàng thành phẩm khai là hàng nguyên liệu, linh kiện, phụ kiện để trốn thuế về cả trị giá tính thuế, cả về thuế suất Chẳng hạn khi xuất nhập khẩu hàng theo quy định của giấy phép có hạn ngạch nhưng chủ hàng muốn xuất nhập khẩu ngoài số lượng, trọng lượng quy định đó nên

họ khai báo gian với hải quan về lượng hàng hoá xuất nhập khẩu

Chính sách mặt hàng tiêu chuẩn công nghệ, kỹ thuật công nghệ, máy móc tiên tiến nhà nước thường có chính sách khuyến khích ưu đãi về thuế Dù không được ưu đãi về thuế, có chủ hàng vẫn nhập, nếu khi xem xét giá nhập với thuê suất đánh vào hàng hoá loại mới vẫn thấp hơn nhiều so với giá hàng bán ra (tức vẫn có lợi nhuận nếu nhập hàng cũ chịu thuế hàng mới do nguyên nhân mặt hàng đó khan hiếm trên thị trường nội địa)

Trang 26

- Gian lận qua việc cố ý khai báo sai về xuất xứ hàng hóa

Xuất xứ hàng hoá liên quan trực tiếp đến hai vấn đê chính là: thuế suất nhập khẩu của hàng hoá và chính sách ưu đãi thuế quan giữa các nước thành

viên có quan hệ dành cho nhau hưởng chế độ tối huệ quốc (MFN)

Vấn đề xuất xứ hàng liên quan chặt chẽ đến thuế xuất nhập khẩu.Cụ thể

là cùng một mặt hàng nhưng xuất xứ các nước khác nhau thì trị giá tính thuế của mặt hàng đó được tính khác nhau.Như cùng một mặt hàng nhưng nếu hàng đó được sản xuất tại các nước công nghiệp phát triển thì trị giá tính thuế

sẽ cao hơn hàng cùng loại của các nước khác.Hiện nay, Việt Nam quy định hàng có xuất xứ từ ASEAN, Lào, Campuchia thì giá tính thuế chỉ bằng 70%

của hàng cùng loại có xuất xứ từ Nhật, Mỹ và các nước G7

Lợi dụng chính sách này, các chủ hàng hay tìm cách khai sai xuất xứ hoặc cố ý gây khó khăn trong việc xác định xuất xứ để trốn thuế

Lợi dụng chính sách ưu đãi thuế ở nhiều nước có chê độ ưu đãi thuê suất cho các chương trình đặc biệt, chẳng hạn hệ thống ưu đãi thuế quan chung, hoặc chương trình, thương mại tự do song phương, dành cho nhau chế

độ tối huệ quốc Trong việc thực hiện các chế độ này, vấn đề xem xét áp dụng thuế suất là nguồn gốc xuất xứ hàng hóa.Vì thế, tuỳ thuộc vào tính chất của các chương trình thương mại mà người ta sẽ ghi nguồn gốc xuất xứ là nước nào để cuối cùng được hưởng ưu đãi và thuận lợi trong buôn bán với nước đó Ngoài ra, vì những lý do rất khác nhau mà nước này thì khẩu lệnh cấm với nước kia, trong trường hợp ấy, để trốn tránh, sự trừng phạt thương mại, người xuất khẩu thường được người nhập khẩu yêu cầu cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá giả Phương pháp phổ biến nhất để làm giấy chứng nhận xuất xứ giả là chuyển tải hàng hoá sang nước thứ 3 và xin giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá của nước này

Trang 27

- Gian lận qua hồ sơ, giấy từ xuất trình cho cơ quan hải quan

Xuất trình giấy tờ,chứng từ xuất nhập khẩu hàng hóa không đầy đủ, thiếu chân thực

+ Giả mạo bộ hồ sơ xuất nhập khẩu để phù hợp với mốc thời gian quy

định khi có thay đổi chính sách thuế, chính sách mặt hàng

+ Khai báo sai hoặc giả mạo bộ chứng từ để được hưởng chế độ miền giảm thuế do các trường hợp bất khả kháng gây ra trong hoạt động xuất nhập

khẩu và vận chuyển bốc xếp dỡ hàng hoá xuất nhập khẩu

+ Giả mạo hồ sơ hàng hoá thông qua các hình thức kinh doanh tạm nhập- tái xuất chuyển khẩu, hàng gửi kho ngoại quan, hàng để đưa vào tiêu

thụ trong thị trường nội địa trốn thuế nhập khẩu

+ Xuất nhập khẩu ngoài danh mục: các chủ hàng lợi dụng các loại hàng hoá

được nhà nước cho xuất nhập khẩu miễn thuế hoặc có ưu đãi riêng đối với một

số mặt hàng nào đó, để che đậy xuất nhập khẩu các loại hàng hoá khác ngoài

danh mục mặt hàng nhà nước cho xuất nhập khẩu với ưu đãi đặc biệt

+ Khai báo vượt yêu cầu những mặt hàng được sử dụng vào mục đích ưu

đãi nhưng thực chất là để sử dụng vào mục đích khác nhằm trốn thuế

- Gian lận qua khai báo các khoản chi phí liên quan đến hàng hóa

+ Lập bộ chứng từ hàng hoá xuất nhập khẩu không đầy đủ, để ngoài hoá đơn và bộ hồ sơ xuất nhập khẩu hàng những yếu tố phụ, những chi phí thuộc loại phải thu thuế,

+ Không tính hoặc khai báo chi phí hoặc trị giá các khoản trợ giúp, phí bản quyền, phí giấy phép và các khoản lời lãi rất phổ biến Người nhập khẩu

có nghĩa vụ phải khai báo những khoản này, tuy nhiên việc phát hiện các khoản này cũng rất khó nên người nhập khẩu thường cố ý không khai báo các khoản này

Trang 28

+ Bỏ qua các khoản về hoa hồng Trong vài trường hợp, khoản hoa hồng bán hàng thì khai là thành hoa hồng mua hàng bởi vì “hoa hồng bán hàng” thì phải cộng vào giá trị thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán

+Nộp cho cơ quan Hải quan những tài liệu giả giảm cước vận chuyển hàng hóa làm sai lệch những tài liệu khác về TGHQ

- Gian lận khai báo các mối quan hệ giữa các bên mua và bán hàng hóa Người mua và người bán có mối quan hệ đặc biệt nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Cùng là nhân viên hoặc một người là nhân viên, người kia là giám đốc trong doanh nghiệp khác;

+ Cùng là những thành viên hợp danh góp vốn trong kinh doanh được pháp luật công nhận;

+ Là chủ và người làm thuê;

+ Người bán có quyền kiểm soát người mua hoặc ngược lại;

+ Cùng bị một bên thứ ba kiểm soát;

+ Cùng kiểm soát một bên thứ ba;

Một người có quyền kiểm soát người khác là người có thể hạn chế được hay chỉ đạo được một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đối với người kia

+ Có một trong các mối quan hệ gia đình: Vợ chồng, bố mẹ và con cái được pháp luật công nhận, ông bà và cháu có quan hệ huyết thống với nhau,

cô chú bác và cháu ruột, anh chị em ruột, anh chị em dâu, rể;

+ Một người thứ ba sở hữu, kiểm soát hoặc nắm giữ từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của cả hai bên;

+ Các bên liên kết với nhau trong kinh doanh, trong đó một bên là đại lý độc quyền, nhà phân phối độc quyền hoặc nhà chuyển nhượng độc quyền của bên kia được coi là có mối quan hệ đặc biệt nếu như mối quan hệ đó phù hợp với quy định một trong các điểm nêu trên

Trang 29

Việc không khai báo mối quan hệ đặc biệt nêu trên với mục đích là chủ hàng dễ chứng minh với cơ quan hải quan là việc giao dịch mua bán hàng hóa không ảnh hưởng đến giá trị giao dịch Trong trường hợp giao dịch liên quan đến giá chuyển nhượng và TGHQ được khai tăng một cách giả tạo để giảm số thuế nội địa phải nộp

1.2.1.3 Tác động tiêu cực của hành vi gian lận TGHQ

- Tác động về kinh tế

Hàng hoá gian lận về TGHQ sẽ làm mất tính cân bằng trong cạnh tranh thương mại giữa hàng nội và hàng ngoại, đồng thời làm thất thu thuế xuất, nhập khẩu và các sắc thuế khác dẫn đến thất thu cho ngân sách nhà nước Thuế quan đánh trên hàng hoá xuất, nhập khẩu, nhằm mục đích làm tăng giá của hàng nhập khẩu, bảo vệ và kích thích sản xuất nội địa.Vì đã phá vỡ cạnh tranh lành mạnh giữa hàng nội và hàng ngoại nhập Hàng này vào thị trường

do trốn thuế nhập khẩu nên giá rẻ hơn, chất lượng cao hơn hàng nội do có công nghệ sản xuất tiên tiến, thiết bị khoa học hiện đại Trong khi đó, những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước vẫn phải nhập khẩu và chịu thuế một

số nguyên vật liệu, trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, họ còn phải nộp các khoản thuế khác như: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp… Mặt khác, hệ thống công nghệ kỹ thuật trong một số lĩnh vực sản xuất hiện vẫn còn đang lạc hậu, không đồng bộ, năng suất và hiệu quả thấp, nên không đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại ngay trên chính thị trường của mình.Theo quy luật cung - cầu và giá trị hàng hoá trên thị trường thì cuộc cạnh tranh giữa hàng nội và hàng nhập thì hàng nhập lậu do giá rẻ hơn, chất lượng cao hơn, làm cho hàng nội không tiêu thụ được trên thị trường dẫn đến đọng vốn, nợ vốn Điều này dễ làm cho các doanh nghiệp sản xuất đứng trước nguy cơ phá sản, nhất là những doanh nghiệp và những ngành công nghiệp non trẻ, mới ra đời.Đây thực sự là mối đe dọa đời sống của hàng nghìn công nhân trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước

Trang 30

Hàng ngoại tràn ngập thị trường với giá rẻ tạo nên thị hiếu, tâm lý ưa dùng hàng ngoại.Kết cục tất yếu là hàng ngoại lấn át hàng nội địa, phá vỡ thế bình ổn giá cả, sản xuất trong nước bị đình đốn Hậu quả rõ nhất làm mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, làm chệch hướng phát triển của nền kinh tế

Mặt khác, hành vi này còn làm cho đất nước thất thu lớn về thuế xuất, nhập khẩu và các sắc thuế khác gây ảnh hưởng đến quá trình cân đối thu - chi ngân sách của Nhà nước, làm thất thoát ngoại tệ mạnh ra ngoài biên giới

Nó đã tạo nên một nền kinh tế tiêu thụ giả tạo trên một nền sản xuất chưa cân xứng Vì đã số tầng lớp gian thương và tham nhũng qua hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại không đầu tư vốn vào sản xuất mà thường ăn xài xa xỉ hoặc đầu tư vào bất động sản như nhà cửa, đất đai, vàng bạc, ngoại tệ…Bên cạnh tầng lớp này xã hội sẽ hình thành một khu vực kinh tế chuyên

về dịch vụ và tiêu thu

- Tác động về xã hội

Mục đích của gian lận là làm thế nào để thu được nhiều lợi nhuận bất chính mà nếu làm ăn chính đáng họ không thể có được để chạy theo đồng tiền, tạo ra một hệ thống đạo đức khác là "vì tiền" hay "có tiền là có tất cả" làm cho khoảng cách chênh lệch giữa kẻ giàu và người nghèo ngày càng lớn Mặt khác từ đồng tiền bất chính do gian lận thương mại đó đã làm cho đạo đức của nhiều kẻ bị tha hoá Đó là nguyên nhân chính gây ra nhiều tệ nạn xã hội, tác động nghiêm trọng đến nhân cách văn hoá của nhiều người trong mọi tầng lớp nhân dân Từ đây mà nhiều tệ nạn xã hội xuất hiện như: nghiện hút,

cờ bạc Trong khi Nhà nước phải bỏ ra nhiều tiền để chống lại văn hoá ngoại lai, đồi trụy, phản động, chống tệ nạn xã hội nhằm duy trì một nền văn hoá lành mạnh đậm đà bản sắc dân tộc xây dựng một xã hội công bằng văn minh thì gian lận thương mại lại đi ngược lại với những cố gắng của Nhà nước

Trang 31

Gian lận thương mại sẽ phá vỡ công tác kế hoạch hoá, bình ổn giá của Nhà nước, tạo nên những cơnsốt về hàng hoá, về giá cả làm cho Nhà nước không quản lý được hoạt động xuất nhập khẩu, làm cho công tác hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội bị sai lệch, do không lường hết các hậu quả mà gian lận thương mại gây ra

Vì thiếu một hệ thống luật pháp đầy đủ, chính sách rõ ràng nên gian lận thương mại lợi dụng những kẽ hở, những quy định thiếu đầy đủ để làm ăn phi pháp dẫn đến việc quản lý của các cơ quan nhà nước ở cơ sở gặp nhiều khó khăn

Hoạt động gian lận thương mại này đã làm cho một sô bộ phận, một sô

cơ quan quản lý (Hải quan, Thuế, cơ quan quản lý chức năng) lúng túng, bị động, khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ cũng như trong công tác quản

lý cán bộ, điều hành các công việc cụ thể tại đơn vị mình

- Tác động về ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp

Làm giảm, mất ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp kinh doanh chân chính và minh bạch.Các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật phải chịu mức thuế cao và khó cạnh tranh trên thị trường về mặt giá cả sẽ phá sản

và tan giã Trong khi các doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật sử dụng hành vi gian lận này để thu được khoản lợi nhuận bất minh và ngày một phát triển Dẫn đến, ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật sẽ bị ảnh hưởng theo hiệu ứng “dây truyền” Pháp luật không còn được tôn trọng mà lợi nhuận bất chính đã được đặt lên hàng đầu và là mục tiêu của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật sẽ luôn tìm mọi thủ đoạn, nhiều cách thức mới để thực hiện hành vi gian lận bất chính này

- Tác động tiêu cực đối với cán bộ hải quan

Mục đích của gian lận về TGHQ là làm thế nào để thu được nhiều lợi nhuận bất chính nếu làm ăn chính đáng họ không thể có được.Từ đồng tiền bất

Trang 32

chính do gian lận đó đã làm cho đạo đức của bản thân người gian lận và những người có liên quan Đặc biệt là làm tha hóa một bộ phận cán bộ công chức của Nhà nước trong đó có cán bộ hải quan Thực tế cho thấy những ngành chức năng trong hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại; trong điều hành, thực thi chính sách thương mại hoặc liên quan đến hoạt động thương mại nếu không vững vàng sẽ bị lôi kéo, mua chuộc và trở thành nô lệ của đồng tiền Do bị lôi kéo bởi khoản lợi nhuận khổng lồ, gian thương tìm mọi mánh khoé, mọi thủ đoạn để móc nối với một số cán bộ nhà nước bị tha hoá, biến chất Do bị sự cám

dỗ của đồng tiền mà họ đã lợi dụng vị trí, quyền lực nhà nước giao cho để cấu kết với buôn lậu, tiếp tay và bao che cho hành vi này và hình thành những đường dây phức tạp, khó phát hiện Trong khi nhà nước phải bỏ ra nhiều tiền để chống lại tệ nạn tham nhũng, tha hóa biến chất nhằm duy trì một nền văn hóa kinh doanh lành mạnh, xây dựng một xã hội công bằng văn minh thì gian lận lại đi ngược lại với những cố gắng của nhà nước

1.2.2 Chống gian lận trị giá hải quan qua hoạt động kiểm tra sau thông quan của ngành hải quan

1.2.2.1 Khái niệm, đối tượng và phạm vi của kiểm tra sau thông quanvề trị giá hải quan

và các thông tin từ các ngành có liên quan để nhằm bảo đảm tính chính xác, trung thực của trị giá hải quan Bảo đảm cho cơ quan hải quanáp dụng hiệu

Trang 33

quả các chính sách quản lý, cũng như thu đúng, thu đủ thuế cho Ngân sách Bởi vì trong chính sách bảo hộ nền kinh tế, bảo hộ bằng các mức thuế suất sẽ đạt hiệu quả nếu hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được xác định trị giá hải quan một cách chính xác.Ngược lại, trị giá hải quan khi có gian lận sẽ làm vô hiệu hóa chính sách bảo hộ bằng thuế suất của Nhà nước.Cơ quan hải quan là người có trách nhiệm hàng đầu trong nhiệm vụ quản lý này Chính vì vậy trong đề tài luận văn này sẽ đề cập đến việc kiểm tra trị giá sau khi đã được thông quan hàng hóa và do cơ quan hải quan thực hiện

Đặc biệt là ngày càng gia tăng tình trạng gian lận qua TGHQ, cho dù trị giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được xác định theo bất cứ phương pháp nào Do tất cả mọi chi phí hoạt động thực tế có liên quan đến giao dịch thương mại quốc tế đều phải được phản ánh đầy đủ vào TGHQ của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nên mục đích của việc KTSTQ về TGHQ là phải tìm được tất cả các chi phí có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa đã xảy ra trong thực tế, làm căn cứ để kiểm tra mức độ chính xác, trung thực của TGHQ đã khai báo Một yêu cầu đặt ra là mọi chi tiết được đưa ra trong quá trình KTSTQ về TGHQ đều phải có bằng chứng, chứng cứ rõ ràng,

cụ thể và hợp pháp

Từ những nhận xét nêu trên chúng ta có thể định nghĩa KTSTQ về

TGHQ đối với hàng hóa nhập khẩu như sau: “KTSTQ về TGHQ đối với hàng

hóa nhập khẩu là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan nhằm thẩm định lại tính chính xác và mức độ trung thực về trị giá trong nội dung các chứng từ

mà người khai hải quan đó khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu đó được thông quan”

Đối tƣợng KTSTQ về TGHQ

-Thứ nhất là các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính, các dữ liệu thương mại và các chứng từ khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Trang 34

-Thứ hai là chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa (có thể là tổ chức,

có thể là cá nhân) có liên quan trực tiếp khi mở tờ khai hải quan Chủ thể liên quan gián tiếp không phân biệt thành phần kinh tế và hình thức cũng như nguồn vốn sở hữu, bao gồm: các đại lý làm thủ tục hải quan, các đơn vị nhập khẩu ủy thác, các hãng vận tải xuất nhập khẩu,các ngân hàng thương mại và

tổ chức tài chính, tín dụng

Phạm vi KTSTQ về TGHQ

Phạm vi của KTSTQ về TGHQ sẽ tùy thuộc vào cách thức xác định đối tượng kiểm tra, đó là kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu và kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm

Đối với trường hợp kiểm tra theo kế hoạch để đánh giá sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, phạm vi kiểm tra rộng hơn và toàn diện hoạt động xuất, nhập khẩu trong một giai đoạn Đối với trường hợp kiểm tra chọn mẫu, theo dấu hiệu vi phạm, phạm vi kiểm tra thường hẹp hơn và tập trung vào những dấu hiệu vi phạm, trong đó dấu hiệu vi phạm khai sai trị giá gây thất thu thuế là dấu hiệu chủ yếu nhất

Tùy theo yêu cầu đặt ra cho mỗi cuộc kiểm tra sau thông quan mà xác định phạm vi kiểm tra về trị giá hải quan toàn diện hoặc chuyên sâu vào nội dung trị giá của một hoặc nhiều mặt hàng nhập khẩu

1.2.2.2 Quy trình và biện pháp nghiệp vụ chống gian lận về trị giá hải quan qua hoạt động kiểm tra sau thông quan

Quy trình KTSTQ về TGHQ là trình tự các bước công việc mà công chức hải quan phải thực hiện để thực hiện nghiệp vụ KTSTQ về TGHQtheo quy định của pháp luật hải quan Hay nói một cách khác, quy trình KTSTQ về TGHQ là trình tự các thao tác nghiệp vụ mà công chức hải quan phải thực hiện để tiến hành KTSTQ về TGHQ theo quy định của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền

Trang 35

Bước 1: Nghiên cứu và lựa chọn đối tượng kiểm tra

Việc nguyên cứu và xác định đối tượng kiểm tra, phạm vi kiểm tra thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro.Căn cứ vào kết quả thu thập xử lý thông tin,

kế hoạch đã được xác định, dấu hiệu vi phạm, tình hình nổi cộm theo chỉ đạo của cấp trên (tương ứng với các trường hợp kiểm tra sau thông quan là kiểm tra theo

kế hoạch, kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm, kiểm tra theo quản lý rủi ro)

Bước 2: Thu thập, phân tích thông tin về đối tượng kiểm tra

Thu thập, phân tích xử lý thông tin là hoạt động thường xuyên của nghiệp vụ KTSTQ về TGHQ, dựa trên việc áp dụng quản lý rủi ro và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động kiểm tra sau thông quan Mục đích của thu thập, phân tích xử lý thông tin là đảm bảo thống nhất trong việc thực hiện TTXLTT phục vụ hoạt động KTSTQ về TGHQ nhằm phân loại hồ sơ, doanh nghiệp xuất nhập khẩu để lập kế hoạch, xác định được đối tượng KTSTQ

về TGHQ hoặc phân loại doanh nghiệp vào diện theo dõi, chưa kiểm tra

Công chức hải quan phải thực hiện thu thập, khai thác thông tin làm cơ

sở cho việc phân tích, xác định dấu hiệu rủi ro trên cơ sở các thông tin, hồ sơ từ trong và ngoài ngành Hải quan như từ hệ thống xử lý dữ liệu điện tử , thông tin từ các khâu nghiệp vụ hải quan và từ kết quả của các cuộc kiểm tra sau thông quan; từ phía các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị như Thuế, Công an, Kho bạc, Ngân hàng, các hiệp hội ngành nghề; từ các doanh nghiệp cung cấpv.v

để phân loại hồ sơ theo ba mức: hồ sơ có rủi ro cao; hồ sơ cần theo dõi để tiếp tục đánh giá rủi ro và hồ sơ chưa có thông tin Công chức hải quan cũng phải tiến hành các phân tích thông tin trong hồ sơ để đưa vào đối tượng KTSTQ về TGHQ bằng việc so sánh, đối chiếu các thông tin, dữ liệu liên quan đến mức giá, các chi phí phát sinh, các khả năng phát sinh các khoản phải cộng vào mà doanh nghiệp khai báo, tập trung vào các trường hợp nghi ngờ chưa được đánh dấu, nghi ngờ thực hiện kiểm tra, tham vấn giá trong thông quan

Trang 36

Bước 3: Tổ chức, thực hiện kiểm tra

- Thành lập đoàn kiểm tra tại trụ sở hải quan hoặc trụ sở doanh nghiệp

- Công bố quyết định kiểm tra (trưởng đoàn kiểm tra công bố ngay phiên làm việc đầu tiên của đoàn kiểm tra với doanh nghiệp), nói rõ lý do, mục đích của cuộc kiểm tra; giải thích những vấn đề doanh nghiệp chưa rõ, những công việc doanh nghiệp cần thực hiện; những chứng từ tài liệu, dữ liệu điện tử doanh nghiệp cần chuẩn bị; quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; yêu cầu doanh nghiệp cử lãnh đạo, kế toán và những người khác trực tiếp làm việc với đoàn kiểm tra

- Việc kiểm tra thực hiện theo kế hoạch và chỉ đạo, điều hành của trưởng đoàn

- Lập biên bản làm việc hàng ngày trong thời gian kiểm tra

- Trong quá trình kiểm ra nếu phát hiện có tình tiết mới cần phải xác minh thì trưởng đoàn cử thành viên của đoàn đi xác minh; nếu có vấn đề doanh nghiệp cần giải trình bằng văn bản hoặc doanh nghiệp đề nghị được giải trình bằng văn bản thì yêu cầu hoặc đồng ý cho doanh nghiệp giải trình bằng văn bản Nếu phát hiện các chứng từ, tài liệu phản ánh hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp thì yêu cầu doanh nghiệp sao y bản chính và ký xác nhận vào bản sao y để làm chứng cứ xử lý vi phạm sau này

- Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn kiểm tra, trưởng đoàn kiểm tra phải ký bản kết luận kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp Nội dung cơ bản của bản kết luận kiểm tra phải thể hiện rõ được các nhiệm vụ kiểm tra theo quyết định kiểm tra; những công việc đã làm, kết quả, kết luận cụ thể về từng nội dung; những nội dung doanh nghiệp đã thực hiện đúng, không sai phạm; những nội dung doanh nghiệp thực hiện chưa đúng hoặc sai phạm, vi phạm quy định nào của pháp luật; trách nhiệm của doanh

Trang 37

nghiệp và các tổ chức cá nhân liên quan; những nội dung chưa thực hiện được, chưa hoàn thành, nguyên nhân; tinh thần, thái độ của doanh nghiệp trong quá trình kiểm tra; kiến nghị

- Trình tự ban hành bản kết luận:

+ Dự thảo kết luận kiểm tra: chậm nhất 1 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn kiểm tra, trưởng đoàn kiểm tra phải gửi cho doanh nghiệp dự thảo kết luận kiểm tra để doanh nghiệp có ý kiến về dự thảo

+ Ban hành bản kết luận kiểm tra: chậm nhất hai ngày làm việc kể từ ngày hết hạn góp ý của doanh nghiệp Trưởng đoàn ký Bản kết luận kiểm tra sau thông quan và gửi cho doanh nghiệp một bản

+ Căn cứ vào quy định của pháp luật, bản kết luận kiểm tra sau thông quan trưởng đoàn kiểm tra hoặc công chức đề xuất xử lý về thuế (ấn định thuế, hoàn thuế)

Bước 4: Lập biên bản và ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính (nếu có)

Việc lập biên bản và ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính thực hiện theo quy định, hướng dẫn của Luật xử lý vi phạm hành chính Biên bản vi phạm hành chính được lập sau khi đã ban hành bản kết luận kiểm tra sau thông quan, trừ trường hợp phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn và trường hợp doanh nghiệp cố tình ngăn cản hoặc không hợp tác với đoàn kiểm tra cần phải lập biên bản vi phạm hành chính ngay

Bước 5: Cập nhật thông tin và lưu trữ hồ sơ

Cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan các quyết định hành chính và toàn bộ thông tin thu thập được trong quá trình kiểm tra sau thông quan Tổ chức lưu trữ hồ sơ theo quy định

Việc ban hành Quy trình KTSTQ nói chung và KTSTQ về TGHQ nói riêng là quy định những công việc phải làm và trình tự trước sau của những

Trang 38

công việc ấy, nhằm đảm bảo tính đầy đủ, lôgic, chặt chẽ của hoạt động KTSTQ về TGHQ

Các biện pháp nghiệp vụ được sử dụng trong KTSTQ về TGHQ

Một là, kỹ thuật phân tích, xử lý thông tin

Kỹ thuật phân tích, xử lý thông tin là một kỹ thuật nghiệp vụ quan trọng của KTSTQ về TGHQ.Áp dụng phổ biến trong KTSTQ về TGHQ là so sánh, đối chiếu giữa một thông tin được coi là chuẩn với thông tin khác hoặc giữa các thông tin với nhau Thông tin được coi là chuẩn trong ngành hải quan là các thông tin từ: danh mục dữ liệu quản lý rủi ro về giá, từ kết quả phân tích phân loại hàng hóa…để đánh giá khả năng sai sót, gian lận hay vi phạm bằng cách:

- So sánh, đối chiếu mức giá do doanh nghiệp khai báo với mức giá hàng hóa giống hệt, tương tự trong cơ sở dữ liệu thông tin quản lý dữ liệu giá tính thuế của Tổng cục hải quan (bao gồm thông tin về giá khai báo của doanh nghiệp và các thông tin về giá điều chỉnh của các cơ quan hải quan đối với trường hợp đã tham vấn giá và bác bỏ trị giá khai báo); tập trung vào các trường hợp nghi ngờ chưa được đánh dấu nghi ngờ thực hiện kiểm tra, tham vấn giá trong thông quan

- So sánh, đối chiếu giữa giá doanh nghiệp khai báo với giá bán hàng hóa giống hệt, tương tự do các doanh nghiệp khác khai báo, đã được cơ quan hải quan chấp nhận (loại trừ các trường hợp thuộc diện đã đánh dấu nghi ngờ để thực hiện tham vấn); hoặc với giá bán giống hệt, tương tự trên thị trường nội địa, sau khi đã trừ các chi phí phát sinh sau nhập khẩu

- So sánh, đối chiếu giữa giá doanh nghiệp khai báo trên tờ khai hải quan với giá ghi trên chứng từ khác

- So sánh mức giá nhập khẩu thu thập được từ các tổ chức, cá nhân trong

và ngoài nước cung cấp hoặc mức giá chào bán trên internet (giá invoice dealer) trừ đi chi phí đàm phán và các khoản thuế tại nước xuất khẩu

Trang 39

Hai là,kỹ thuật lựa chọn đối tượng kiểm tra

Việc lựa chọn đối tượng KTSTQ về TGHQ, có thể thực hiện trong các trường hợp như: chọn đối tượng theo mẫu, chọn đối tượng theo dấu hiệu vi phạm, chọn đối tượng kiểm tra theo kế hoạch Khi xác định đối tượng KTSTQ về TGHQ phải áp dụng QLRR, và đối tượng được xác định để KTSTQ về TGHQ luôn được coi là đối tượng rủi ro cao nhất Một cuộc KTSTQ về TGHQ được đánh giá là thành công khi kết thúc kiểm tra, công chức Hải quan phải kết luận được đối tượng KTSTQ về TGHQ đã được xác định thực sự nằm trong vùng rủi ro cao

Ba là,kỹ thuật khảo sát trước khi kiểm tra

Khảo sát trước khi kiểm tra là việc kiểm tra sơ bộ về hồ sơ, dữ liệu và thông tin có liên quan đến giao dịch xuất nhập khẩu của đối tượng KTSTQ về TGHQ Có thể nói đây là kỹ thuật nghiệp vụ quan trọng của công chức hải quan và chủ yếu được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan

Thực hiện kỹ thuật khảo sát trước khi kiểm tra, công chức hải quan phải phân tích dữ liệu và xem xét các dấu hiệu vi phạm để xác định phạm vi của KTSTQ về TGHQ tại trụ sở doanh nghiệp Trong đó, kỹ thuật phân tích dữ liệu được dựa trên hồ sơ về đối tượng kiểm tra và hồ sơ giao dịch, việc xem

xét các dấu hiệu vi phạm được thực hiện bằng việc phân tích hồ sơ hải quan

Bốn là,kỹ thuật kiểm tra chứng từ, sổ kế toán

Kiểm tra chứng từ, sổ kế toán là một trong những nội dung chính trong trong các kỹ thuật KTSTQ về TGHQ.Trong nhiều trường hợp, thông qua việc kiểm tra chứng từ, sổ kế toán có thể nhận biết được nội dung thực chất của giao dịch hàng hóa nhập khẩu và từ đó cơ quan hải quan có thể đạt được những mục tiêu quản lý của KTSTQ về TGHQ

- Tờ khai hải quan

- Tờ khai trị giá tính thuế hàng nhập khẩu

Trang 40

- Hợp đồng thương mại, hóa đơn thương mại

- Vận tải đơn

- Chứng từ bảo hiểm

- Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O)

- Bảng kê chi tiết hàng hóa

- Sổ kế toán

- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng

1.2.2.3 Nội dung KTSTQ về TGHQ

KTSTQ về TGHQ được thực hiện thành hai giai đoạn chính: kiểm tra tại

cơ quan hải quan (trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan hàng hóa) và kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp (trong thời hạn 05 năm kể từ đăng ký tờ khai), được tập trung vào việc kiểm tra các nội dung chủ yếu sau:

- Tiến hành kiểm tra, đối chiếu trị giá khai báo (thông qua việc kiểm tra

hồ sơ hải quan) với cơ sở dữ liệu để đánh giá mức độ tuân thủ của trị giá khai báo Thông thường, cơ quan Hải quan sẽ xác lập một “khung” trị giá của từng loại hàng hóa, nếu trị giá khai báo thấp hơn hoặc cao hơn “khung” thì sẽ tiến hành tập trung kiểm tra Ngoài ra, cũng tập trung kiểm tra những trường hợp thuộc diện nhạy cảm nhưng không thuộc trong “khung” đã định

- Căn cứ vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chuẩn mực bao gồm cả kế toán, kiểm toán, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ vận tải… để kiểm tra trị giá hải quan theo các phương pháp đã quy định

- Kiểm tra các chứng từ liên quan đến lô hàng bị nghi là gian lận trị giá thông qua các tài khoản, các chứng từ kế toán, chứng từ ngân hàng liên quan…để kiểm tra rõ số lượng của các khoản thanh toán, bù trừ tiền hàng giữa người mua và người bán

- Thực hiện tham vấn để kiểm tra trị giá, bảo đảm cho cơ quan hải quan

và doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp trao đổi với nhau nhằm làm sáng tỏ các

Ngày đăng: 18/09/2020, 00:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w