Trong cùng một thời điểm, với cùng một đối tượng, có yếu tố tác dộng tích cực, tạo điều kiện thuận lợi hay cơ hội cho doanh nghiệp, nhưng cũng có những yếu tố gây cản trở hoạt động của d
Trang 2lự c , k h a i th á c và sử d ụ n g có h iệ u q u ả n g u ồ n v ố n và c ô n g n g h ệ từ b ê n
Trang 33.2.1 Đ ịn h h ư ớ n g n h ằ m h o à n th iện m ô i tr ư ờ n g đ ầ u tư ỏ Việt N a m 77
3.2.2 M ộ t s ố giải p h á p chủ yếu n h ằ m h o à n th iện m ô i tr ư ờ n g đ ầ u tư ở
D A N H M Ụ C T À I L I Ệ U T H A M K H Ả O 9 8
Trang 5lự c , k h a i th á c và sử d ụ n g có h iệ u q u ả n g u ồ n v ố n và c ô n g n g h ệ từ b ê n
Trang 63.2.1 Đ ịn h h ư ớ n g n h ằ m h o à n th iện m ô i tr ư ờ n g đ ầ u tư ỏ Việt N a m 77
3.2.2 M ộ t s ố giải p h á p chủ yếu n h ằ m h o à n th iện m ô i tr ư ờ n g đ ầ u tư ở
D A N H M Ụ C T À I L I Ệ U T H A M K H Ả O 9 8
Trang 7Đối với tất cả các quốc gia, muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế đều cần phải có vốn đầu tư Khi tiến hành các hoạt động đẩu tư, các nhà đầu tư phải hoạt động trong một không gian, thời sian và địa điểm cụ thể mà ở đó
có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư của họ và chính các yếu tố này cấu thành nên môi trường đầu tư Một môi trường đầu tư thuận lợi sẽ tạo cơ hội và động lực thúc đẩy các doanh nghiệp - từ các doanh nghiệp nhỏ đến các tập đoàn đa quốc gia - đầu tư có hiệu quả, tạo công ăn việc làm, tự cải thiện chính mình và mở rộng hoạt động Tuy nhiên, cơ hội đầu tư luôn thay đổi, xuất hiện và biến mất Chẳng hạn, cùng một đặc điểm của yếu tố môi trường đầu tư, đối với người này là cơ hội nhưng đối với người khác lại là rủi ro Nhưng môi trường đầu tư không chỉ có các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cơ hội kinh doanh, kích thích phát triển sản xuất mà còn có nhiều yếu tố gây khó khăn, kìm hãm và hạn chế sự phát triển Những quyết định của các nhà đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo ở từng địa phương Và quyết định của họ lại phụ Ihuộc rất lớn vào cách thức định hình môi trường đầu tư của xã hội, bị chế định trước hết bởi chính sách và hành vi của chính phủ.
Việt Nam đang có những bước tiến rất ấn tượng về tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và là điểm đến của các nhà đầu tư Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, nghèo và có thu nhập đầu người thuộc mặt bằng thấp nhất trên thế giới Việc cải thiện môi trường đầu tir ử Việt Nam là vấn đề thiết yếu để tạo dựng tiền đề quan trọng cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo côn li ăn việc làm cho lực lượng lao động nói chung Việt Nam cần phái một lần nữa thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng gấp đôi so với mức hiện tại Vấn đề đặt ra là phải không ngừng hoàn
M Ở ĐẨU/ Sự cần thiết của đê tài.
Trang 8thiện môi trường đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung hoạt động có hiệu quả Vì vậy, nghiên cứu vấn đề "Môi trường đầu
tư ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp'' có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa
cơ bản, vừa cấp bách.
2 T ìn h h ìn h n g h iên cứu.
Cái thiện môi trường đầu tư là một vấn đề lớn luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Sự quan tâm đó được thể hiện thông qua đường lối, chủ trương, chính sách của Đang và Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Mặt khác, nó cũng là vấn đề thu hút sự chú ý của các nhà khoa học và những người hoạch định chính sách Một số các công trình nghiên cứu đã đưực công bố Trong đó đáng chú ý là một số công trình sau:
- H oàn thiện m ôi trường kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước sản xuất
hàng tiêu dùng, tác giả Ngô Thị Kim Thanh, nhà xuất bán CTQG, năm 2002.
- M ấy suy ng h ĩ về m ôi trường kinh t ế - x ã hội cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đ ạ i lìoá ở Việt Nam , tác giả Nguyễn Danh Sơn (chủ bicn) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
- V ề m ôi trường th ể c h ế nhằm plìút triển các hoạt động dịch vụ và sản xuất
p h i nông nghiệp ở nông thôn, tác giả Nguyễn Đình Phan, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
- T h ể c h ế N hà nước đôi với m ột sô loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện
nay, do PGS TS Nguyễn Cúc (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003
Tuy nhiên, môi trường đầu tư là một vấn đề lớn, phức tạp Những nghiên cứu vé mỏi trường đầu tư có thế được n h ì n n h ậ n và tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Các công trình nêu ớ trên mới đề cập tới một số khía cạnh của môi trường đẩu tư và hấu như chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề
Trang 9M ôi trường dầu tư à V iệt N am một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống, v ề chủ đề này, vần cần có nhiều công trình khảo cứu chuycn biệt.
3 M ụ c đích n g hiên cứu.
Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng môi trường đầu tư tổng the ở Việt Nam, luận văn cố gắng đề xuất những biện pháp cơ bản nhằm hoàn thiện môi trườne đầu tư ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
4 Đ ôi tượng và p h ạ m vi n g h iên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là môi trường đầu tư, với những yếu tố
cơ bản cấu thành nó ở Việt Nam.
- Luận văn nghiên cứu vấn đề trên dưới góc độ Kinh tế chính trị Vì thế, nó tập trung khảo cứu môi trường đầu tư tổng thê chung của cả nền kinh tế hưn là chú ý đến môi trường này ở một khu vực, một lĩnh vực của nền kinh tế.
- Vé thời gian: Luận văn xem xét môi trường đầu tư ở Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua.
5 P h ư o n g p h á p nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu cơ bản của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử Luận văn kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trước đó, tham khảo kinh nghiệm của một số nước về việc cải thiện môi trường đầu tư đê phát triển kinh tế.
Phù hợp với đối tượng nghiên cứu, luận văn chú trọng sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh, phương pháp kết hợp lôgíc với lịch sử, lý luận licn hệ với thực tiễn
6 N h ữ n g đ óng g óp m ói của luận văn.
- Làm rõ thực trạng về môi trường đầu tư ở Việt Nam trong những năm qua, đưa ra những đánh giá vé mặt mạnh, mặt yếu của môi trường này.
Trang 10- Đ é x u ấ t và l u ậ n g iả i c á c g iả i p h á p n h ằ m h o à n t h i ệ n m ô i t r ư ờ n g đ ầ u tư c ủ a
V i ệ t N a m
7 B ô cục củ a lu ậ n ván.
L u ậ n v ă n g ồ m : P h ầ n m ở đ ầ u , 3 c h ư ơ n g , 7 tiế t, k ế t lu ậ n , d a n h m ụ c tài
l i ệ u t h a m k h ả o
C hư ơ ng I : M ộ t sô k h ía cạnh c h u n g vé m ôi trường đầu tư.
Chưirtìg 2: T h ự c trạ n g m ới trường đầu tư ở Việt N a m h iện nay.
C h ư ơ n g 3: Đ ịn h h ư ớ n g và giải p h á p n h ằ m h o à n th iệ n m ô i trườìig
đ ầ u tư ở V iệt N am
Trang 11Môi trường là một không gian hữu hạn bao quanh những hiện tượng s ự
vật, yếu tố hay một quá trình hoạt động nào đó, như môi trường khí môi trường nước; môi trường văn hoá; môi trường thế chế, môi trường sống; môi trường học tập; môi trường làm việc, v.v Nói một cách khác, môi trường là tập hựp các yếu tố, những điều kiện tạo nên khung cảnh tổn tại và phát triển của một chủ thể Môi trường đầu tư được nghiên cứu và xem xét theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào mục đích, phạm vi, đối tượng nghicn cứu và cách tiếp cận đến vấn đề này Với phạm vi nhất định, có thc nghiên cứu môi trường đầu tư của một doanh nghiệp, một ngành, môi trường đầu tư trong nước hoặc môi trường đầu tư khu vực hay môi trường đầu tư quốc tế Nhưng nếu tiếp cận môi trường đầu tư theo một khía cạnh, một yếu tố cấu thành nào đó thì lại có môi trường thể chế, môi trường công nghệ, môi trường kinh tế Chính vì thế có nhiều quan niệm khác nhau về môi trường đầu tư
Quan niệm th ứ nhất. Môi trường đầu tư là là tổng thể những điều kiện, nhữnẹ yếu tố bên trong và bên ngoài, nhằm đảm hảo cho doanh nghiệp hoạt động hình thường Theo quan điếm này, những yếu tố và điều kiện của môi trường đầu tư có tác động đến toàn bộ quá trình san xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, các yếu tố, các điều kiện câu thành môi trường đầu tư có
Trang 12mối quan hệ tương tác lẫn nhau và đồng thời tác động đến hoạt động của doanh nghiệp Nhưng mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố, diều kiện lại khác nhau đối với từng loại hình doanh nghiệp, thậm chí đối với từng doanh nghiệp Trong cùng một thời điểm, với cùng một đối tượng, có yếu tố tác dộng tích cực, tạo điều kiện thuận lợi hay cơ hội cho doanh nghiệp, nhưng cũng có những yếu tố gây cản trở hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí trở thành nguy cơ, mối đe đoạ đối với sự tồn tại của doanh nghiệp Song cũng có yếu tố vừa tạo cơ hội, đồng thời lại làm nảy sinh những khó khăn thách thức đặt ra cho doanh nghiệp Do vậy, nếu quan niệm môi trường đầu tư là tổng hợp các yếu tố và điều kiện, mà doanh nghiệp sử dụng để tổ chức sản xuất kinh doanh và đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và có hiệu quả, thì chưa nhìn nhận rõ được mức độ phức tạp của môi trường đầu tư và đương nhiên cũng sẽ không thấy hết sự cần thiết phải hoàn thiện môi trường đầu tư.
Q uan niệm th ứ hai. A/ôi trường là tập hợp các yếu tố, các điều kiện thiết lập nên khung cánh sống của một chủ thể.
Quan niệm này đã nêu rõ được mức độ và tính chất tác động của các yếu tố và điều kiện của môi trường đầu tư đối với doanh nghiệp Nhưng nếu coi doanh nghiệp là chú thể tồn tại trong môi trường, là một đơn vị kinh tế của nền kinh tế quốc dân, thì môi trường phải là tổng hựp các yếu tố, điều kiện có tính chất khách quan và chủ quan với doanh nghiệp Có nhiều yếu tố thực sự
là khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của doanh nghiệp, nhiều khi cả nhà nước cũng khổng kiểm soát nổi, như các yếu tố do tự nhiên gây ra: khí hậu, thiên tai, bão lũ Vì vậy, một mặt doanh nghiệp phải biết tìm cách thích ứng với môi trường bên ngoài, mặt khác phải thấy có nhiều yếu tố hoặc điều kiện của môi trường còn mang tính chủ quan song cũng là khách quan đối với doanh nghiệp như: những biến động về chính trị, những yếu tố xã hội, chính sách quàn lý kinh tế vĩ mô của nhà n ư ớ c
Trang 13Q uan niệm th ứ ba. Mỏi trường đầu tư là tổng hợp các yếu tố, điều kiện bên ngoài có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Đứng trcn giác độ vĩ mô nhìn vào doanh nghiệp, quan niệm môi trường đầu tư chỉ bao gồm những yếu tố và điều kiện vĩ mô tác động tới doanh nghiệp, trong khi chính những yếu tố và điều kiện ngay trong nội bộ doanh nghiệp cũng có những tác động quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có tiềm lực mạnh, năng động
và có khả năng cạnh tranh thì điều đó cũng quyết định rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp Nếu môi trường đầu tư thuận lợi nhưng doanh nghiệp yếu kém, không có đủ điều kiện, khả năng khai thác cơ hội và những thuận lợi của môi trường đầu tư thì cũng khó có thê phát triển Một mặt, môi trường đầu tư tác động đến doanh nghiệp, nhưng ngược trứ lại, chính doanh nghiệp cũng tác động đến môi trường dưới nhiều hình thức khác nhau, với những mức độ và tính chất khác nhau Bởi doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là một đơn vị san xuất kinh doanh cơ sở, mà còn là một tế bào của nền kinh tế quốc dân, một đơn vị tổ chức xã hội Do vậy, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng tác động tới sự phát triển chung của nền kinh tế với vai trò như là một mát xích của cả chuỗi đây xích Doanh nghiệp có thể gây ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt hoặc thất thoát nguồn tài nguycn thiên nhicn nào đó; gây ra tình trạng thất nghiệp, ảnh hưởng đến tình hình kinh tế xã hội của cộng đồng địa phương Nói cách khác, doanh nghiệp không chí thụ động chịu sự tác động từ môi trường đầu tư mà còn tự sinh ra những tác nhân làm thay đổi đến môi trường đầu tư Xu hướng hiện nay lù, nhiều doanh nghiệp lớn đã chủ động tìm cách tác động vào môi trường đầu tư để tạo điều kiện thuận lợi cho họ có lợi thế và giành ưu thế trong cạnh tranh trên thương trường kinh doanh quốc tế và khu vực.
Nhìn chung, các quan niệm trên dù tiếp cận ở những góc độ nào cũng đểu đề cập đến môi trường tiến hành những hoạt động đầu tư của các doanh
Trang 14nghiệp, nhũng yếu tố, điểu kiện có ảnh hướng, tác động đến sự tồn tại và phát
triển của các doanh nghiệp Do vậy có thể nói m ôi trường đâu tư là tập iuỵp
các yếu t ố và diều kiện đặc thủ của địa phương có m ối quan lìệ tương tác lần nhau ¿ỉaiiiỊ định hình cho các cơ hội và động lực đê doanli nghiệp đầu tư.
Môi trường đầu tư tồn tại một cách khách quan Không có một đơn vị sản xuất- kinh doanh nào không tồn tại trong một môi trường nhất định Ngược lại, không thể có môi trường đầu tư nào lại thuần tuý tới mức không có một đơn vị cơ sở sản xuất - kinh doanh nào tổn tại ơ đâu có hoạt động sản xuất - kinh doanh diễn ra là ớ đó sẽ hình thành môi trường đầu lư.
- Môi trường đầu tư có tính tổng thể, bao gồm nhiều yếu tố cấu thành
có quan hệ tác động, ràng buộc lẫn nhau Số lượng và những bộ phận cấu thành cụ thế của môi trường kinh doanh tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế xã hội, cơ ch ế quàn lý và của chính những bộ phận cấu thành môi trưởng đầu tư.
- Môi trường đầu tư và các yếu tố cấu thành luôn vận động và biến đổi
Sự vận động và bien đổi này chịu tác động của quy luật vận động nội tại của từng yếu tố cấu thành môi trường đầu tư và của nền kinh tế quốc dân.
- Mỏi trường đầu tư là một hệ thống mở Nó quan hệ và chịu sự tác động của môi trường rộng lớn hơn - môi trường đầu tư quốc gia, môi trường đầu tư quốc tế.
1 1 2 C á c y ế u t ỏ c á u t h à n h m ỏ i t r ư ờ n g đ ầ u t ư
Những hoạt động kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp, đểu chịu sự tác động của các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư, trong khi đó các yếu tố luôn biến động không ngừng Do vậy, việc nghiên cứu môi trường đầu tư là rất cần thiết cho doanh nghiệp cũng như quân lý vĩ mô của Nhà nước Mỏi trường hoạt động của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các yếu tố, điều kiện
Trang 15khách quan và chủ quan có những tác động trực tiếp hay gián tiếp đến các quyết định hoạt dộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố môi trường thay đổi tùv theo từng thời điểm, từng nuành kinh doanh và từng quốc gia Tuy nhiên, Irong phạm vi nghiên cứu của đề tài chí tập trung khảo cứu những yếu tố
cơ bản của môi trường đầu tư tổng thể chuníĩ của nền kinh tế, có ảnh hướng đến
sự thành công (hay thất bại) của doanh nghiệp một cách khái quát.
Các yếu tố môi trường được phàn chia thành các nhóm, bao gồm nhóm các yếu tô thuộc môi trường quốc gia, hay còn gọi là môi trường đầu tư tổng quát, nhóm các yếu tố thuộc môi trường vi mô, hay còn gọi lù môi trường tác nghiệp hoặc môi trường cạnh tranh và các vếu tố nội bộ Môi trường quốc gia (vĩ mô) bao gồm các yếu tố bên ngoài, tác động một cách gián tiếp đến tất các các tổ chức kinh doanh trong ncn kinh tế Các yếu tố này có một phạm vi rất rộng, bao trùm toàn bộ nén kinh tế và có thể nhóm theo nhiều tiêu thức Các yếu tố môi trường nền kinh tế có thể nhóm thành các nhóm lớn: như yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị và pháp luật; yếu tố văn hoá - xã hội, yếu tố tự nhiên
và cơ sở hạ tầng Mặc dù các yếu tố này có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, song cũng phải thấy có nhiéu yếu tố đan xen giữa các nhóm với nhau, có yếu
tố vừa thuộc phạm vi kinh tế vừa thuộc yếu tố chính trị Do vậy, việc phân chia thành các nhóm nhân tố chỉ có tính tương đối và khi phân tích khó có thể tránh khỏi sự trùng lặp.
1.1.2.1 Yếu tô kinh tế.
Các yếu tố kinh tế thường phản ánh đặc trưng cùa một hệ thống kinh tế, trong đó các doanh nghiệp hoạt động, ơ đây chúng ta chi tập trung xcm xét các yếu tố như: Các biến số kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng kinh tế, ti lộ lạm phát, tí lệ thất nghiệp, cán cân thương mại sự biến động cùa tỷ giá hối
đ o á i t r ì n h độ phát trien của hệ thống tài chính, các chính sách kinh tế
+ T ố c đ ộ tă n g trư ớ n g k in h t ế c a o làm c h o thu n h ậ p c ủ a d â n c ư tă n g
Trang 16khá năng thanh toán của họ tăng dẫn tới sức mua (cầu) các loại hàng hoá và dịch vụ tăng lên Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp nói chung, đặc biệt ỉà các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất hàng hoá, dịch vụ mà nhu cầu
về chúng tăng nhanh theo thu nhập
+ Chu kỳ phát triển kinh tế Chu kỳ phát triển kinh tế có ảnh hướng rất mạnh đến các quyết định đầu tư của các doanh nghiệp, (mỗi chu kỳ thường trải qua bốn giai đoạn: thời kỳ phát triển, thời kỳ cực đại, thời kỳ suy thoái và thời điểm cực tiểu) Tại thời kỳ phát triển - tức là giai đoạn mà nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, đổng thời có sự mớ rộng về quy mô Trong giai đoạn này, hàng hoá của các doanh nghiệp được tiêu thụ mạnh, sản xuất mớ rộng, giá cả, lương, lãi suất và lợi nhuận đều tăng Do đó, các doanh nghiệp thường gia tăng các đưn đặt hàng, huy động thêm kinh phí, thuê thêm nhân công, gia tăng đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Thời điểm này môi trường đầu tư rất hấp dẫn các doanh nghiệp, doanh nghiệp tạo được vị thế trên thị trường Thừi điểm cực đại là thời điểm mà ncn kinh tế đã đạt đến mức phát triển ở đinh cao và bắt đầu đi vào giai đoạn suy thoái Thời điểm này thường xảy ra khi sản lượng của nền kinh tế đạt, thậm chí vượt sản lượng tiềm năng Thời kỳ suy thoái chính là thời kỳ nền kinh tế có mức tăng trưởng chậm hẳn lại hoặc không tăng trưởng Trong giai đoạn này hàng hoá ế ẩm, tốc độ lưu thông chậm, hàng hoá tồn kho nhiều Do đó, các doanh nghiệp thường giảm
số lượng đơn đặt hàng, ngừng mở rộng sản xuất và ngừng tuyển thcm lao động mới hoặc sa thải bớt công nhân dưa thừa, không huy động thêm vốn, lãi suất trên thị trưởng vốn giảm, quy mô hoạt động của mỗi doanh nghiệp, cũng như nền kinh tế bị thu hẹp Thời điểm cực tiểu là thời điểm suy thoái của nén kinh
tế đã xuống đến mức thấp nhất của một chu kỳ kinh tế Trong thòi điểm này, các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đcu rơi vào trạng thái ngưng trệ Hy vọng sẽ có thời điếm chuyển từ suy thoái sang thời kỳ phát triển của
c h u k ỳ tiế p theo
Trang 17tranh ở thị trường nước ngoài của các hàng hoá trong nước sẽ giam, vì khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn giá của các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu, vì giá hàng nhập khẩu giảm, và như vậy sức cạnh tranh của các doanh nghiệp I r o n ơ
nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước Ngược lại, khi đổng nội tệ giảm giá, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng cả trên thị trường trong nước và thị trường ngoài nước, vì khi đó giá bán của các doanh nghiệp giảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hoá do nước khác sản xuất.
+ Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhất là đối với các doanh nghiệp thiếu vốn phải vay ngân hàng Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phí của các doanh nghiệp tăng lên đo phái trả lãi tiền vay lớn, sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ kcm đi, nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lứn về vốn.
1.1.2.2 Yếu t ố c h ín h trị và pháp luật.
Sự tác động của chính trị đối với đầu tư Sự ổn định về chính trị sẽ tạo ra môi trường thuận lợi đối với các hoạt động đầu tư Một nhà nước mạnh, thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển kinh tế- xã hội, đáp ứng dược những yêu cầu chính đáng của nhân dân, sẽ đem lại lòng tin và hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước Trong một xã hội ổn định về chính trị, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư quyền sở hữu và các loại tài sản khác
Do đó, các nhà kinh doanh sán sàng đầu tư những khoán vốn lớn vào các dự
án dài hạn Mức độ yên tâm của các nhà kinh doanh được củng cố thông qua
sự đánh giá mức độ rủi ro chính trị Rủi ro chính trị là mức độ mà các biến cố
về các hoạt động chính trị có khả nãng gây ra các tác động tiêu cực đối với
Trang 18môi trường đầu tư với lợi nhuận dài hạn tiềm tàng cua các dự án đầu lư của doanh nghiệp.
Xung đột với nước ngoài Xung đột với nước ngoài là mức độ thù địch
mà một quốc gia thể hiện với một quốc gia khác Từ xung đột này có thể dẫn đến bùng nổ chiến tranh nếu không hoà giải thành công Khi xảy ra sự xung đột, các quốc gia thường áp dụng chính sách cấm vận, trừng phạt kinh tế, chính trị mà các doanh nghiệp thường là nạn nhân đầu tiên.
Xu thế chính trị Xu thế chính trị là định hướng chính trị của nhà nước
sẽ áp dụns trong chính sách điều hành quốc gia Một nhà nước có thể áp dụng một chính sách thicn tả, thiên hữu hoặc ôn hoà Những chính sách này có ảnh hưởng rất nhiều đcYi các khía cạnh trong nền kinh tế và các doanh nghiệp Chảng hạn khi một chính phú áp dụng chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế
và chú trọng đến các chính sách xã hội, thì sẽ rất thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư.
Các yếu tố chính trị và pháp luật tác động đến các doanh nghiệp theo các hướng khác nhau Chúng có thể tạo ra cơ hội, trờ ngại, thậm chí là rủi ro thật sự cho doanh nghiệp Thông thường nó bao gồm các yếu tố sau:
- Hệ thống pháp luật: Đê điều chinh các hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp, các nước đều có một hệ thống luật.
- Hệ thống các công cụ chính sách và những quy định của nhà nước có liên quan đến những hoạt động kinh doanh, những chính sách tài chính; chính sách tiền tệ; chính sách thu nhập; chính sách xuất khẩu; chính sách phát triển nhicu thành phần Chính sách kinh tế thể hiện quan điểm, định hướns phát triển nền kinh tế của nhà nước Thông qua các chu trương, chính sách, nhà nước điều hành và quản lý nền kinh tế và doanh nghiệp trên phương diện như quản lý nhà nước về kinh tế Các chính sách kinh tê' thể hiện những ưu đãi, khuyến khích đối với một số khu vực hay ngành hàng nào đó Đồng thòi, nhà
Trang 19nước cũng có thể đưa ra các biện pháp, chế tài, như quy định những ngành, khu vực cấm hay hạn chế kinh doanh Chẳng hạn, Nhà nước đánh thuế đối với các doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm có hại cho sức khỏe người dân như thuốc lá, rượu, bia,
Một quốc gia được coi là có chính sách cởi mở, khi những chính sách
đó mang lại sự thuận tiện và có sức hấp dẫn với các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
- Cơ chế điều hành của nhà nước cũng tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Cơ chế điều hành sẽ quyết định trực tiếp đến tính hiệu lực cuả luật pháp và các chính sách kinh tế Nếu một nhà nước mạnh, điều hành chuẩn mực và tốt thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh chính đáng.
- Sự ổn định về chính trị, thể chế chính trị, sự nhất quán trong chủ trương, đường lối, chính sách cơ bản của nhà nước luôn là yếu tố tạo môi trường đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư các doanh nghiệp.
Đặc trưng nổi bật về sự tác động của chính trị và pháp luật đối với các hoạt động đầu tư thể hiện ở những mục đích và thể chế chính trị nhằm tới Thể chế chính trị giữ vai trò định hướng, chi phối toàn bộ các hoạt động trong xã hội, trong đó có các hoạt động đầu tư.
- Hệ thống pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng của các định hướng chính trị, nhằm quy định những điều mà các thành viên trong xã hội không được làm và là cơ sở để xét những hành động vi phạm các mối quan hệ
xã hội mà pháp luật bảo vệ Trong xã hội hiện đại ngày nay, mối liên hệ giữa chính trị và kinh doanh không chi diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thê hiện trong các mối quan hệ quốc tế Nhiều cuộc chiến tranh thương mại đã nổ
ra giữ nhữne quốc gia, n h à m dành ưu thế cạnh tranh kinh tế trong các mối quan hệ kinh doanh, buôn bán Những xung đột có thế đem lại những thiệt hại
Trang 20cho nhửng doanh nghiệp này, song lại đem lại lợi thế cho một sô doanh
nghiệp khác Giữa lĩnh vực chính trị, pháp luật và kinh doanh có mối liên hệ
hữu cơ, trong đó nhà nước giữ vai trò cực kì quan trọng Sự tác động của chính
trị, pháp luật và nhà nước đối với môi trường đầu tư dược thê hiện ở chỗ vai
trò của nhà nước trong việc tạo môi trường đầu tư thuận lợi.
1.1.2.3 Yêu tô' vãn hoá - x ã hội.
Mỗi tổ chức kinh doanh đều hoạt động trong một môi trường vãn hoá -
xã hội nhất định và giữa doanh nghiệp với môi trường xã hội có mối liên kết
chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Xã hội cung cấp các nguồn lực mà doanh
nshiệp cần và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ do doanh nghiệp sún xuất ra Các giá
trị chung của xã hội, các tập tục truyền thống, lối sống của nhân dân, các hệ tư
tưởng tôn giáo và cơ câu dân số, thu nhập của dân chúng đều có những tác
động nhiều mặt đến hoạt động của các doanh nghiệp Những thay đổi của yếu
tố xã hội cũng tạo nên cơ hội hoặc rủi ro cho các doanh nghiệp, tuy các biến
động của xã hội thường xuycn diễn ra hoặc tiến triển chậm, do các doanh
nghiệp thường khó nhận biết và dự báo được sự tác động của chúng tới hoạt
động đđu tư.
- Dân số và thu nhập: Các số liệu về nhân khấu học của dân cư trong một khu vực thị trường như: tổng số nhàn khẩu thường trú, độ tuổi, giới tính,
mật độ và phân bố dân cư là những số liệu rất cần thiết để các doanh nghiệp
hoạch định kế hoạch, định vị nhà máy, sản xuất hay phân phối sản phẩm nào
đó Chẳng hạn, một nhà kinh doanh muốn mở một nhà máy, thì trên phương
diện nhân khẩu học, ông ta phải chọn khu vực có thể đáp ứng được nhu cầu về
số lượng và chất lượng lao động mà ông ta cần tuyển dụng Mặt khác, trên
phương diện maketing, nhà kinh doanh có thê cãn cứ vào mức sống, thói quen
tiêu dùng, thị hiếu và thu nhập của người dân trong khu vực thị trường mà
doanh nghiệp định đưa hàng hoá hay dịch vụ của mình xâm nhập vào để
Trang 21hoạch định kế hoạch kinh doanh và quyết định có nên đầu tư, thám nhập vào
thị trường đó hay không Trong nhữns khu vực người dân có thu nhập cao, sức
mua sẽ cao hơn khu vực người dân có thu nhập thấp Hơn thế nữa, nếu người
dân có trình độ dân trí cao thì cách tiêu dùng, động thái mua hànơ và nhu cầu
hàng hoá của họ sẽ khác với những vùng mà người dân có trình độ dân trí
thấp Mặt khác, độ tuổi, giới tính, số lượng dân cư cũng là yếu tố mà bất cứ
nhà kinh doanh nào khi định đầu tư hay bán hàng cũng cần phái nắm vững Ớ
những vùne có nhicu người lcirn tuổi sẽ có nhu cầu cao về dịch vụ y tế- bảo vệ
sức khoẻ Còn vùng có nhiều trẻ em thì sẽ có nhu cầu về dịch vụ giáo dục,
quần áo trẻ em hay đồ chơi.
Mức tăng dân số và thu nhập cũng có tác động lớn đối với nhicu doanh
nghiệp Nhiều quốc gia tuy có mức tăng trưởng GDP khá cao nhưng do mức
tăng dân số hàng năm cũng ở mức cao nên đã làm triệt tiêu những những ưu
thế của tăng trưởng kinh tế Bơi vì phần gia tăng thu nhập quốc dân đã phải
đưa vào trang trải cho các nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của bộ phận dân cư mới
tăng thêm Do đó, không có tích luỹ để tái đầu tư (cả đầu tư mở rộng và đầu tư
chiểu sâu) cho chu kỳ sản xuất tiếp theo Như vậy, chỉ sau một vài năm mức
tàng GDP sẽ bị chững lại bởi không có nguồn đầu tư bổ sung.
giá trị đạo đức, phong tục tập quán, thị hiếu thẩm mỹ và giáo dục
Một trong những khó khăn nhất cho các nhà đầu tư là sự bất đồng về
ngôn ngữ Sự khác biệt về ngôn ngữ không chỉ làm phát sinh thèm chi phí
(phải học ngoại ngữ, thuê phiên dịch ) mà còn có thể gây ra nhữns hiếu
nhầm nhau trong kinh doanh và khó khăn trong sinh hoạt của các nhà đầu tư
Vì vậy, nếu ngôn ngữ tại địa phương được nhiều người sử dụng thì sẽ rất
thuận lợi cho các nhà đáu tư.
Trang 22Tôn giáo là một thành tô rất quan trọng của nền văn hoá, nó phản ánh tín ngưỡng của con người vào một đấng siêu nhiên Tín ngưỡng có tác động mạnh đến các quan niệm sống của con người về các giá trị cá nhân và xã hội, qua đó anh hưởng đến thái độ đối với các nhà đầu tư, tập quán tiêu dùng và thuần phong mỹ tục Mỗi tôn giáo có cái nhìn khác nhau về giá trị đạo đức cá nhân và xã hội và chính đặc điểm khác nhau này đã tạo ra những rào cản trong việc giao lưu giữa các nền vãn hoá.
Giá trị đạo đức cũng ánh hưởng lớn đến việc đầu tư Nếu một xã hội không có sự phân biệt đối xử, luôn coi trọng lòng tin, thương yêu đùm bọc lẫn nhau thì sẽ giảm được tình trạng bạo loạn và tệ nạn xã hội Hơn nữa, tính tự trọng dân tộc cao nhưng không có thái độ bài ngoại thì sẽ có thái độ thân thiện bạn bè với các nhà đầu tư.
Phong tục tập quán cũng ảnh hưởng lớn đến các hoạt động đầu tư Các nhà đầu tư không muốn đầu tư vào một nơi mà ở đó có quá nhiều các tập tục khác lạ Trái lại, nếu tại địa phương đó có nhiều phong tục tập quán gần với các nhà đầu tư thì không chỉ thuận lợi cho họ trong công việc kinh doanh mà còn giúp họ dễ hoà nhập với cuộc sống nơi họ đầu tư.
Mỗi nén vãn hoá có đặc trưng riêng về thị hiếu thảm mỹ và cái nhìn riêng về cái đẹp trong màu sắc, hình khối, âm nhạc các đặc điểm này sẽ ảnh hướng đến thiết kế nhãn hiệu, quảng cáo và kiểu dáng của sản phẩm.
Những yếu tố văn hoá cũng có thể ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, đầu tư ớ những khía cạnh quan trọng Một nền văn hoá khuyến khích những hành động chấp nhận rủi ro, tôn trọng và đề cao những người thành đạt trong kinh doanh - những người giàu có chân chính sẽ lạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư Một nền văn hoá coi trọng những giá trị dài hạn sẽ không khuyến khích những hoạt động đầu tư kinh doanh theo kiểu "chụp giật", chạy
Trang 23theo những lợi ích trước mát Trong điều kiện ấy "chữ tín", việc giữ gìn
"thương hiệu" của các doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanh thường được coi là yếu tố quan trọng.
Trình độ phát triển giáo dục - đào tạo đóng vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động đầu tư Trình độ giáo dục tốt và cơ câu đào tạo hợp lý sẽ là
cơ sở quan trọng dể cung cấp cho các nhà đầu tư đội ngũ lao động có tay nghề cao, thích ứng với tác phong lao động có ký luật và giảm được chi phí đào tạo nhân lực và đáp ứng được ycu cầu của các nhà đầu tư.
- Vai trò của các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội: Khi kinh tế phát triển và đời sống của người dàn được cải thiện sẽ xuất hiện nhiều tổ chức xã hội; những hiệp hội nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích của các thành viên Những tổ chức này ngày càng có vai trò nhất định trong xã hội và tác động không ít đến các doanh nghiệp, như: hiệp hội sán xuất; hiệp hội những người tiêu dùng; câu lạc bộ giám đốc Tóm lại, mặc dù các yếu tố xã hội có những ảnh hưởng gián tiếp đối với các doanh nghiệp, song mối quan hệ giữa các hoạt động quàn trị và những vấn đề xã hội có liên quan rất mật thiết, có độ nhạy cảm rất cao Ngày nay, mọi người đều ý thức được rằng một môi trường đầu tư thuận lợi sẽ tạo ra nhiều việc làm, thu nhập cho người lao động, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội tạo môi trường đầu tư thuận lợi Đồng thời, nếu những vấn đe xã hội được thúc đẩy theo chicu hướng tích cực sẽ là những tiền
đề cho các tổ chức kinh doanh hoạt động hiệu quả hưn Nhưng ngược lại, nó cũng gây cản trờ lớn cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.2.4 Các y ếu tỏ tự n h iên
Môi trường vật chất của hoạt động đầu tư hao gồm các yếu tố: các yếu tố
tự nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế Các yếu tố tự nhicn bao gồm những yếu tồ như: nguồn tài nguyên thiên nhiên (gồm cả đất đai), khí hậu, thời tiết
Ü A I H Ọ C Q U Ò C G i A H À IMOi
ĨR U N G TÂM T H Ò N G TIN THƯ V IỆN
Trang 24- Tài nguyên thiên nhiên: Các nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm đất đai, các loại khoáng sản tài nguyên trên bề mặt và trong lòng đất, dưới đáy biển như các loại quặng kim loại, dầu mỏ, than, khí đốt, uranium, nguồn nước, không khí, rùng tự nhiên.
Những nguồn tài nguyên này ngày càng trở nên khan hiếm hơn mặc dù ngày nay, với những công nghệ hiện đại con người đã sử dụng nguyên liệu tiết kiệm hơn trước đây rất nhiều Tuy nhiên, với mức dân số ngày càng tăng nhanh, sự lạm dụng các nguồn tài nguyên thicn nhicn đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng Nhiều nguồn tài nguyên đã bị cạn kiệt, tham vật rừng bị tàn phá nặng nề, tầng ozon bị thùng, lụt bão xảy ra thường xuycn, môi trường sống bị
ô nhiễm nặng nề Trước những hậu quả nghiêm trọng này, nhiều tổ chức và công luận quốc tế, nhiều quốc gia đã đưa ra những chính sách quản lý chặt chẽ nhầm bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường.
- Các yếu tố tự nhiên khác như khí hậu, thời tiết đều có những anh hướng nhất định đến hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp Xu hướng thời tiết thay đổi theo hướnơ nóng dần lên tác động nhiều đến các doanh nghiệp may mặc; sàn xuất nước giải khát Tuy nhiên, phải thấy được rằng những nhân tố này thường có tác động chậm và ít nhận thấy Do đó, khi không dự báo trước được, nhiều doanh nghiệp nhận ra sự tác động của
nó thì đã quá muộn (như thiên tai hoả hoạn; lũ lụt; bão tố gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp).
1.1.2.5 C ơ s ở h ạ tầng.
- Cơ sở hạ tầng kinh tế: Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế hao gồm: mạng lưới giao thông- vận tái, đường sắt, cầu cống, hệ thống cấp và thoát nước; hệ thống cuna cấp năng lượng; phươns tiện vận chuycn; mạng lưới thông tin- bưu chính- viễn thông; tính hữu hiệu của hệ thống các dịch vụ môi giới; dịch vụ
Trang 25ngân hàng tài chính Những yếu tô cơ sở cơ sở hạ tầng ánh hướng quan trọng đôi với rất nhiều loại hình doanh nghiệp là: đường sá, cáng, điện, viễn thông Chảng hạn, các nhà doanh nghiệp có thể sẽ rất ngần ngại đầu tư vào khu vực dồi dào lao động với giá ré, nhưng hệ thông giao thông khó khàn, thiếu ph ương tiện liên lạc hoặc quá ít các dịch vụ hỗ trợ cho quá trình san xuất- kinh doanh Do đó, việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế là điều kiện mang tính tiên quyết đối với sự phát triển chung của một nền kinh tế, cũng như những điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Cơ sờ hạ tầng tốt sẽ giúp nhà đầu tư liên kết với khách hàng và các nhà cung ứng, giúp họ tận dụng được những công nghệ sản xuất hiện đại Nếu những nhà đầu tư được tiếp cận các dịch vụ viễn thông hiện đại, có người cung cấp điện đầy đủ và ổn định, được hoạt động trong điều kiện hệ thống giao thông vận tải hiệu quả, họ sẽ đầu tư hơn nhiều và những đầu tư của họ có hiệu quả hơn
- Các dịch vụ viễn thông hiện đại rất quan trọng đối với các nhà đầu
tư vì chúng tạo điều kiện cho họ liên lạc một cách nhanh chóng và rẻ so với các nhà cung cấp và khiích hàng ở xa Những dịch vụ này cung cấp khả năng tiếp cận internet, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp khác nhau rất
xa giữa các nước cũng như bên trong mỗi nước.
- Khả năng tiếp cận nguồn điện năng tin cậy với giá cả hợp lý là thiết yếu đối với hầu hêì các nhà đầu tư Chất lượns cung cấp điện năng kém cỏi
sẽ làm giảm hiệu qua của các khoản đầu tư hiện tại và ngăn cản đầu tư mới.
- Kết cấu hạ lầng giao thòng tốt tạo cơ hội cho các nhà đầu tư không chi đối với các hoạt động kinh doanh trong nước mà còn cho phép họ mớ rộng các giao dịch kinh doanh trên toàn thê giới Khi các chính phú loại bỏ hạn ngạch nhập kháu và giám thuế nhập khẩu thì giao thông trứ nên quan
4
Trang 26trọng hơn theo nghĩa một nguồn tăng thu nhập cho thương mại Chi phí giao thông trên toàn cầu đang giảm trong dài hạn và đạt tới sự tiến bộ hơn Chi phí vận tai phụ thuộc vào khoáng cách, tuy nhiên nếu hàng hoá được vận chuyển bằng các phương tiện hiện đại có năng lực cao hay thu được lợi
từ kết cấu hạ tầng tốt thi chi phí vận tải sẽ giảm đi một lượng tương đương với vài ngàn kilômét và sẽ giảm đáng kể "sự khó khăn về khoáng cách".
- Việc giảm chi phí vận tải đòi hỏi phải quan tâm tới các phương thức vận tải cụ thể như cảng và đưừng bộ Hơn nữa Chính phú không được sao nhãng các mối licn kết giữa các phươns thức vận tải: ví dụ, các cảng biển
và cảng hàng không sẽ trờ nên giá trị hơn khi có đường bộ và đường tàu hoả tốt Chi phí vận tải cũng chịu các yếu tố bên ngoài kết cấu hạ tầng giao thông như hệ thống viễn thông, tốc độ thông quan đối với hàng hoá
- Đường bộ: ở một phạm vi nào đó, hầu như mọi hàng hoá đều được vận chuyển bằng đường bộ Điều này khiến cho mạng lưới đường bộ của một nước trở thành một bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng và môi trường đầu tư của nước đó.
Trang 27tương đối ổn định và doanh nghiệp thật ra không phải là người ra quyết định đầu tư Yếu tố thị trường chưa phát triển Khi chuyên đổi cơ chế sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, môi trường đầu tư có nhiều thay đổi và biến động liên tục buộc các doanh nghiệp phải thực sự quan tâm đến việc phân tích môi trường đầu tư, tìm cách điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp với yêu cầu của môi trường đầu tư để tồn tại và phát triển, v ề phía Nhà nước người ta cũng nhận thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu môi trường đầu tư trong quán lý kinh tế, trong việc chủ động tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp để định hướng hành vi cùa các doanh nghiệp một cách khách quan hơn nhằm đạt được mục tiêu đặt ra của đất nước trong từng giai đoạn Đê thành đạt trong kinh doanh, các doanh nghiệp trong
cơ c h ế thị trường phải biết cách phân tích môi trường đầu tư, , một mặt nhàm tìm kiếm cư hội đầu tư, khai thác các yếu tố thuận lợi của môi trường đầu tư, mặt khác phát hiện ra những nguy cơ, mối đe doạ đến sự tồn tại của doanh nghiệp để chủ động tìm hiện pháp đối phó kịp thời, đảm bảo cho doanh nghiệp trụ vững trên thị trường Có thể nói môi trường đầu tư có tác động lớn đến sự phát triển của các doanh nghiệp Môi trường đầu tư thuận lợi được coi là bệ phóng, là điểm tựa vững chắc cho sự vươn lên của doanh nghiệp Mỏi trường đầu tư không thuận lợi khổng những kìm hãm, cản trớ mà đôi khi còn làm cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hàng loạt.
Môi trường đầu tư thể hiện tổng hựp sự tác động của các yếu tố, điều kiện vật chất và phi vật chất tạo nên những nguồn lực và vị thế của doanh nghiệp trên thương trường kinh doanh Bản thân doanh nghiệp còn là một đơn
vị kinh doanh cơ sở và là một đơn vị tổ chức xã hội Nó mang tính hệ thống và được cấu thành từ nhiều yếu tố, điều kiện tạo nên một khung cảnh diễn ra những hoạt động sán xuất - kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp Cũng trong môi trường nội bộ của doanh nghiệp lại gồm các yếu tố và điều kiện về tài chính, nhân sự công nghệ và cơ sở vật chất-kỹ thuật; trình độ và khả nâng
Trang 28quản trị Chúng tác động trực tiếp tới việc lựa chọn hình thức kinh doanh và kết quà hoạt động san xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Nó nói lèn khả năng hoại động, khá năng tận dụng cơ hội, sự thuận lợi của môi trường đầu tư ngành và quốc tế, khá năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Có thể nói, thước đo khả năng tổn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong cạnh tranh là mức độ nhạn biết và khá năns tận dụng nhĩmg cơ hội đầu tư trên thị trường Có nhiều doanh nghiệp có nguồn tiềm lực cơ sở vật chất kỹ thuật lớn, có lực lượng công nhân, kỹ sư có trình độ cao nhưng không khai thác được, nên vẫn không cạnh tranh được trên thương trường Hầu hết các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trên thị trường phải đánh giá đúng vai trò của môi trường đầu tư, nhận biết ra cơ hội kinh doanh, cũng như nguy cơ đật
ra cho doanh nghiệp Nhưng vấn đề quan trọng hơn là khả năng tận dụng cơ hội có hiệu quá Trong một môi trường đầu lư, các cơ hội là bình đẳng trước tất cả các doanh nghiệp Điổu quan trọng là phản ứng của doanh nghiệp đối với những cơ hội đó Đây là một trong các nhàn tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Như vậy nhận biết ra cơ hội và sự thuận lợi của môi trường đầu tư chưa
đủ, mà phải có đủ khả năng tận dụng cơ hội, nâng cao khá nãng cạnh tranh của doanh nghiệp để khai thác được điều kiện thuận lợi của môi trường đầu tư.
Tóm lại, nhận biết cơ hội đầu tư là điều kiện cần, còn biết cách tận dụng
cơ hội đầu tư là điều kiện đủ của sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp trên thương trường hiện nay Doanh nghiệp làm ăn có hiệu qua cũng góp phần tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư quốc gia Trái lại, việc nhiều doanh nghiệp làm ăn yếu kém thua lỗ cũng tác động xấu tới môi trường đầu tư như: vấn đề
nợ dây dưa, vấn đề thất nghiệp, ánh hưởng nguồn thu cùa ngân sách nhà nước, vấn đề môi trường, V.V
Nghiên cứu môi trường đầu tư có ý nghĩa rất thiết thực không chỉ cho
Trang 29các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị kinh doanh khi ra quyết định trong quá trình kinh doanh, mà còn có ý nghĩa đối với các nhà hoạch định chính sách của các Bộ và Nhà nước trong việc xây dựng chính sách phát triển kinh tế, chính sách điều tiết vĩ mô có liên quan đến hoạt động sản xuất
tư và chất lượng đó chịu ảnh hường rất lớn của môi trường đầu tư (có những
dự án đầu tư mang lại lợi ích rất lớn hoặc không có chút lợi ích nào) Một môi trường đầu tư tốt sẽ trực tiếp nâng cao năng suất vì nó giam bớt chi phí và rủi
ro phi lý và sẽ nâng cao năng suất lao động thông qua tác động của nó đến công nghệ Vì thế việc xoá bỏ những hàng rào phi lý đối với phát triển, áp dụng hoặc điều chỉnh các quy trình mới cho phù hợp và nuôi dưỡng cạnh tranh để khuyến khích các doanh nghiệp tận dụng những cơ hội mới cũng có ý nghĩa quan trọng không kém gì việc giảm chi phí và rủi ro.
Đầu tư hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế bằng việc đưa nhiều đầu vào hơn vào quá trình sún xuất Đầu tư nước ngoài đang trở nên quan trọng hơn ở các
Trang 30Một môi irường đầu tư tốt sẽ giúp các doanh nghiệp gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường dễ dàng hơn theo một quá trình nâng cao năng suất và thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn
Tăng trưởng kinh tế có quan hệ mật thiết với xoá đói giảm nghèo Môi trường đầu tư tốt sẽ trực tiếp cải thiện cuộc sống của người dân Hầu như chưa
có trường hợp một nước nào có thể tăng trường mạnh mà không giảm nghèo
và trên bình diện chung của nén kinh tế thế giới, trong những nãm qua, thu nhập bình quân tàng đi kèm với sự tăng trưởng trên diện rộng đã góp phần giảm nghèo đến 90 %.
Cải thiện mồi trường đầu tư hứa hẹn những lợi ích khổng lổ cho xã hội
và là động lực cho tăng trướng và xoá đói giảm nghèo Môi trường đầu tư tốt phải là môi trường hoàn thiện hơn cho tất cả mọi người, làm lợi cho toàn thể
xã hội chứ không phải chỉ cho doanh nghiệp.
Trang 31quản lv vĩ mô, mà còn thê hiện ở một hệ thông pháp luật luôn được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý thuận lợi, cho phép tiềm năng của mọi doanh nghiệp, mọi thành phần, mọi cá nhân được phát huy trong các hoạt động kinh doanh Ớ Đài Loan và Hàn Quốc, sự can thiệp của nhà nước vào phát triển kinh tế biểu hiện khá rõ nét Tuy nhicn, để tránh sự can thiệp quá sâu vào hoạt động sản - xuất kinh doanh, làm giảm tính năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp, chính phú các nước này đã sớm ban hành các bộ luật với các quy định, điểu khoản chặt chẽ tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Điều đáng chú ý là các văn bản pháp luật của các nước và vùng lãnh thổ này khôn« chỉ xuất hiện kịp thời,
mà nó còn là kết quủ nghiên cứu sâu sắc thực tiễn sản xuất - kinh doanh, những dự báo tương đối chính xác về triển vọng và nhu cầu của nền kinh tế trong giai đoạn tiếp theo Do vậy nó thường có sức sống ỉâu dài và tạo ra môi trường pháp lý tương đối ổn định Các văn bủn ban hành sau không mâu thuẫn với các văn bản trước mà luôn đảm bảo sự kế thừa, không ngừng hoàn thiện thêm cho các văn bản trước Đây là yếu tố quan trọng tạo ra tâm
lý yên tâm, tin tưởng của các doanh nghiệp, các chú đầu lư, nhất là các nhà đầu tư bỏ vốn vào các dự án dài hạn.
Bên cạnh việc xây dựng khung pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp, vấn để duy trì sự ổn định chính trị - xã hội cũng có ý nghĩa hết sự quan trọng Hoàn toàn không thể đưa ra những chính sách đòi hỏi thay đổi rộng lớn đối với thực trạng, hay những yêu cầu cao đối với quốc gia, nếu các nhà lãnh đạo không tỏ ra có một quyết tâm đầy đủ và có đủ thời gian để thể nghiệm các chính sách, cũng như hiện thực hóa các ý tưởng và quyết tâm của mình, như Lý Quang Diệu ở Xingapo Mỏi trường đầu tư ổn định là yếu tố quan trọng khuyến khích sự theo đuổi và triển khai những chính sách dài hạn, giúp cho các doanh nghiệp yên tâm với hoạt động kinh doanh của mình Tuv nhiên, cũng không thố thực thi được các chính sách nếu không được dân
Trang 32chúng uns hộ m ạ n h , nếu không có s ự nhát trí của các tầng lớp n h â n dân trong
cù nước Hơn nữa, NICS Đỏng Á đã khéo léo kích thích tư tưởng và tinh thần dân tộc Do vậy, đổi mới kinh tế với những đòi hỏi cao về tính kỷ luật, sự hy sinh được dân chúng chấp thuận dễ dàng Bên cạnh đó, sự khôn khéo của các chính quyền ở N1CS còn thể hiện ở chỗ, bằng mọi cách làm cho dàn chúng thấy rằng, đổi mới kinh tế là quyền lợi của chính họ Trên thực tế, các nền kinh tế công nghiệp mới (NIES) là nhữne nước và lãnh thổ có mô hình đổi mới kinh tế tương đối hợp lý, kết hợp được giữa tiến độ xây dựng kinh tế với việc giải quyết một số vấn để xã hội nổi cộm.
1 3 2 N h à n ư ớ c đ ó n g v a i t r ò q u y ế t đ ị n h t r o n g v i ệ c t ạ o r a m ô i t r ư ờ n g v à
c á c đ i ề u k i ệ n q u ố c t è t h u ậ n lựi c h o c á c h o ạ t đ ộ n g đ ầ u t ư
Đối với các nước đang phát triển, vấn đề tạo dựng môi trường quan hệ quốc tế ổn định và thuận lợi đê' thu hút sự ủng hộ, thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, được đặt ra hết sức cấp bách, tạo điều kiện và cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nhất là với các nước phát triển, và sớm tham gia vào các tổ chức kinh tế - tài chính quốc
tế, khu vực là mối quan tâm sâu sắc của chính quycn Thực tiễn ỏ NICS Đông
Á cho thấy, chiến lược công nghiệp hóa hướng ra xuất kháu là chiến lược trọng tâm và chiếm một thời gian khá dài trong toàn bộ tiến trình Chiến lược này không chỉ đòi hỏi phải có nguồn nsuyên liệu khổng lồ để sản xuất hàng xuất khẩu (trong khi NICS Đông Á rất nghco vé tài nguyên), mà còn đòi hỏi thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm (trong khi NICS đều là các thực thể chính trị mới hình thành, chưa có quan hệ chính trị rộng rãi, chưa có nhiểu bạn hàng và đối tác); đòi hỏi nguồn vốn và công nghệ tăng lên (trong khi vốn và công nghệ còn hạn hẹp và trình độ công - kỹ nghệ còn thấp kém) Do vậy NICS chú trọng đến việc củng cố quan hệ iián bó với Mỹ, Nhật Bủn và các nước phương Tây khác, không chỉ trong lĩnh vực quân sự, chính trị mà còn
Trang 33trong cả hợp tác kinh tế - đầu tư và khoa học - kỹ thuật Với lợi thế về hàng hóa tiêu dùng giá re, các nước này là thị trường dược NICS khai thác triệt để,
đế phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động Tuy nhiên, từ thập niên 70 trờ đi, khi công nghiệp hoá bất đầu hướng tới những ngành công nghiệp nặng như hóa chất, đóng tàu hav những ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - kỹ thuật cao, sự đa dạng hóa thị trường càng trớ nên cấp bách và bức xúc hơn Do vậy, một mặt NICS tiếp tục duy trì các thị trường truyền thống, mật khác, tăng cường xâm nhập, khai phá, tìm kiếm các thị trường mới như Mỹ La tinh, Trung Đỏns, Châu Phi và một số nước châu Âu còn lại, ngoài EU Đỏ các doanh nghiệp của mình thâm nhập dẽ dàng vào các thị trường này, Hàn Quốc khôns chỉ nỗ lực duy trì các quan hệ ngoại giao tốt,
mà còn cố gắng giành được những hợp đồng đài hạn, những kế hoạch hợp tác
đa diện, chủ trương cung cấp dịch vụ xây dựng, giúp phát triển cơ sớ hạ táng cho nhiều nước.
Đa dạng hóa thị trường cũng là chủ trương của tất cả NICS Đông Á còn lại, tuy thành công của họ không rõ nét như của Hàn Quốc Cùng với việc mở rộng quan hệ kinh tế song phương, các nước và vùng lãnh thổ này còn tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, tài chính với nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT), EC, Ngân hàng phát triển Châu á (ADB), ASEAN Trên thực tế, quan hệ hợp tác tích cực của NICS với các tổ chức này, đặc biệt với WB, IMF, ADB, đã tạo điều kiện cho NICS thu hút nguồn vốn đầu
tư và đa dạng hóa thị trường.
1 3 3 P h á t t r i ể n n g u ồ n n h â n l ự c đ á p ứ n g y ê u c ầ u t h ị t r ư ờ n g
Các quốc gia trên thế giới đều có chung mục ticu là tạo ra nhiều việc lùm và việc làm tốt hơn cho người dân của mình, Những chính sách túc động tới thị trường lao dộng cúa Chính phú có vai trò quan trọng trong việc kết nối
Trang 34người dân với việc làm Sự hỗ trợ của Chính phủ đối với giáo dục và đào tạo sẽ
có tác động tới tương lai của nhiều người cũng như tới khá năng thâm nhập thị trường lao động Lực lượng lao động có trình độ là yếu tố cơ bản đê các doanh nghiệp ứng dụng được những công nghệ mới và hiệu quả hơn và một môi trường đầu tư tốt hưn sẽ tạo ra nhiểu lợi ích bù đắp cho việc đầu tư vào giáo dục Các Chính phủ thường đi đầu trong việc làm cho giáo dục phải có sự tham gia của toàn xã hội và phù hợp với nhu cầu về trình độ kỹ năng của các doanh nghiệp và tạo ra môi trường lành mạnh cho những người cung cấp các dịch vụ giáo dục và đào tạo.
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10 của Trung Quốc, với chủ trương "phát triển giáo dục ở mọi hình thức, mọi cấp độ", Trung Quốc đã đặt ra yêu cầu nâng cao tý lệ phổ cấp giáo dục quốc dân, xây dựng kế hoạch và phổ cập hệ giáo bất buộc 9 năm, thúc đẩy giáo dục bắt buộc ở những khu vực nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, phổ cập giáo dục phổ thông trung học ở các thành phố lớn, mặt khác tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục Như vậy, Trung Quốc đã rất quan tâm và coi trọng sự nghiệp pháp triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực trong tương lai Ở Hàn Quốc, những khoản vay phục vụ cho việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực sẽ được hướng mức lãi suất ưu đãi của Chính phủ Ở Malaixia, những chương trình đào tạo hướng nghiệp đã được phê duyệt sẽ thuộc diện được miễn giảm thuế, đồng thời sẽ được xem xét hỗ trợ kinh phí từ nguồn vốn của Quỹ khuyến khích cho các hoạt động đào tạo giáo dục nguồn nhân lực được tiến hành bởi các doanh nghiệp.
Trang 35dã biết cách kết-hợp khéo léo và hiệu quả các yếu tố thuận lợi trong nước và các yếu tố bên ngoài, kết hợp nội lực với ngoại lực Điều này được thế hiện trên một số lĩnh vực sau:
- Khơi dậy tiềm nãng trong nước và thu hút nguồn vốn bcn ngoài Các nước và vùng lãnh thổ này đều rất coi trọng khu vực kinh tế nhà nước, luôn dành một khoản ngân sách lớn để đầu tư xây dựng cúc doanh nghiệp lổn, đóng vai trò khai phá và mở đường cho sự phát triển của một ngành công nghiệp nhất định hoặc làm trụ cột để phát triển cách ngành liên quan Trong thời gian
đó, chính quyền tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp này phát triển Sau khi hoàn thành vai trò, nhiệm vụ của mình, các doanh nghiệp này phần lớn được tư nhân hóa ở Hàn Quốc từ năm 1987 đến năm 1990 đã tư nhân hóa các doanh nghiệp lớn và quan trọng như công ty điện lực, bưu chính, thuốc lá, dược phẩm, thu về số vốn 20,2 tỷ USD Với nguồn thu này, nhà nước lại tiếp tục đẩu tư vào các ngành công nghiệp khác, có tính mũi nhọn đối với nền kinh
tế trong giai đoạn tiếp theo nhằm khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng xuất khau qua việc: đưa ra nhiéu chính sách hỗ trợ, để các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu như cung cấp tín dụng, thông tin thị trường, sử dụng chính sách tỷ giá mềm mỏng Đổng thời tập trung khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh, tìm chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế
và trên thị trường thế giới.
- Nhà nước ở các NICs đã triệt để tận dụng mọi cơ hội chính trị - ngoại giao, để đa dạng hóa thị trường cho các ngành công nghiệp trong nước Có thể nói, trước những năm 1980 NICS đã tận dụng mọi mối quan hệ chính trị và ngoại giao, nên đã thâm nhập nhanh chóng vào những thị trường quan trọng tại cả ba trung tâm kinh tế của thế giới Thu hút công nghệ nước ngoài gắn liền với việc nâng cao năng lực công nghệ quốc gia Thu hút công nghệ nước ngoài được NICS coi là nhân tố quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận và đổi mới công nghệ Mỗi hình thức chuyên
Trang 36giao công nghệ đều có những ưu điểm và hạn chê nhất định, nhưng lại được NICS vận dụng rất thành công Mặc dù các nước và vùng lãnh thổ này đều theo đuổi nền kinh tế thị trường, song việc nhập và chuyển giao công nghệ từ nước ngoài được quản lý một cách chặt chẽ, bằng cả quy định trực tiếp cụ thể
và nhĩrníi biện pháp gián tiếp, ưu đãi đối với từng loại công nghệ tiếp nhận Đồng thời chính quycn tăng cường đầu tư cho khoa học - cônơ nghệ; đưa ra các chính sách khuyến khích và đãi ngộ đối với những hoạt động phát triển khoa học - công nghệ; nâng cao dần khả năng làm chủ công nghệ, có chiến lược từng bước hình thành và nâng cao năng lực công nghệ quốc gia.
1.3.5 Những hạn chế.
Trong quá trình tạo lập và hoàn thiện môi trường đầu tư thuận lợi cho
các doanh nghiệp phát triển ờ NICS Đông Á, có những bài học mà chúng ta
cần rút kinh nghiệm, cụ thể như: thành công của họ là đã tìm ra được một cơ cấu công nghiệp hợp lý với các loại hình doanh nghiệp tương đối có hiệu quả, phù hợp với điều kiện cụ thê của từng nước Tuy nhicn mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những ưu thế riêng và những hạn chế nhất định Do đó việc tạo điều kiện thuận lợi được duy trì quá lâu và chi tập trung phát triển một loại hình doanh nghiệp sẽ dẫn đến những hậu qua tiêu cực, cản trở sự phát triển kinh tế.
Ở Hàn Quốc, chính sách ưu đãi của nhà nước đối với sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh đã để lại những hậu quá tiêu cực cả về kinh tế lẫn chính trị - xã hội v ề kinh tế, hoạt động của các tập đoàn lứn luôn chứa đựng những hạn chế vốn có của nó, như độc quycn đầu cơ, lũng đoạn, Chính sách báo hộ, chính sách ưu đãi của nhà nước nhằm bảo vệ quycn lợi và vị trí độc quyền của các tập đoàn đã gặm nhấm dần tính sáng lạo và khả năng cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế và làm phát sinh hàng loạt vấn đề ảnh hưởng đến mòi trường đầu tư Tuy nhiên, cũng có nhiều vân đề náy sinh mà chúng ta
Trang 37- Vì quá chú trọng vào khuyến khích xuất khẩu nên một số quốc gia không quan tâm thỏa đáng đến thị trườn" trong nước, làm cho thị trường trong
nước phát triển chậm, tốc độ tăng trưởng giảm Hàng loạt vấn đề đặt ra liên quan
đến việc tiêu thụ san phám công nghiệp tại thị trường trong nước.
Một thời gian dài các nước và vùng lãnh thổ này tập trung vào khuyến
khích phát triển những ngành công nghiệp có khả nâng khai thác nguồn lao động
rẻ để xuất kháu Vào giữa thập kỷ 80, ở Hàn Quốc công nghiệp dệt may vẫn
chiếm tổng giá trị hàng xuất khấu và thu hút 3,3 triệu lao động Cùng với tình
hình trên là sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm dệt may trcn thị trường
ASEAN đã làm cho hàng lọat các doanh nghiệp dệt may của Hàn Quốc và Đài
Loan rơi vào tình trạng phải đóng cửa hoặc phá sản (chi tính ricng từ năm 1987
đến năm 1989, 9000 nhà máy dệt, chiếm 10% số nhà máy dệt xuất khẩu của Đài
Loan phải đóng cửa; còn Hàn Quốc; 30% nhà máy dệt và may xuất kháu đứng
trước nguy cơ phá sản) Việc chậm chuyên đổi cơ cấu ngành nghề đã gây ra
những hậu quả lớn, ảnh hướng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội.
Tinh trạng cơ sở hạ tầng quá tải; tắc nghẽn giao thông; ô nhiễm môi
trường do tăng trưởng kinh tế quá nhanh cũng là những cái giá phải trả đặt ra đối
với các nước và vùng lãnh thổ này.
Việt Nam đang đấy nhanh phát triển kinh tế, thực hiện CNH, HĐH trong
bối cảnh có nhiều nét tương đồng với NICS (xét cả về cơ cấu kinh tế, đặc trưng
văn hóa, về trình độ công nghệ, ), nên có thê vận dụng những bài học kinh
nghiệm của họ trong việc tạo lập và hoàn thiện môi trường đầu tư Tuy nhiên,
trong quá trình vận dụng, không thể rập khuôn làm theo các nước và vùng lãnh
thổ này mà phái tránh những khiếm khuyết họ đã mắc phải, nhất là những khiếm
khuvết thuộc về chủ quan.
c ần lưu ý như:
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU T ư Ở VIỆT NAM
Sau gần 20 năm thực hiện đổi mới, với sự nỗ lực và cố gắng trên mọi phương diện, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Cùng với việc ban hành Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp bổ sung sửa đổi năm 2001, từ sau Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đến hết năm 2002, Quốc hội, Hội đồng Nhà nước và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 203 văn bản pháp luật, trong đó có 5 Bộ luật, 87 Luật và 111 Pháp lệnh ; Chính phủ và các
cơ quan của Chính phủ đã ban hành hàng chục nghìn văn bản dưới luật.
Một khung pháp luật mới trên mọi lĩnh vực đã dược xây dựng để thay
th ế cho khung pháp luật của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thê hiện nguyên tác "Nhà nước quán lý xã hội bằng pháp luật", làm cơ sở cho nhà
Trang 39nước pháp quyển Khung pháp luật mới nay là cơ sỏ pháp lý để thực hiện chủ trương đổi mới m à Đảng đ ề ra, cho sự ra đời và vận hành của ncn kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Khung pháp luật hiện nay còn mang đặc điểm của quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường Chính vì vậy, ngoài các nguyên tắc yếu tố của kinh tế thị trường, nó vẫn thể hiện m ộ t số nguyên tắc, yếu tố của kinh tế kế hoạch hoá tập trung Những sửa đổi cơ bản về chế độ kinh tế trong Hiến pháp 1992, sự ra đời của Bộ luật Dân sự cùng với các văn bán pháp luật quan trọng như Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp,
Bộ luật hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Khuyến khích đầu tư tronc nước, Luật Đất đai, Luật Dầu khí, Luật Khoáng sàn, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật Lao động, Luật Hải quan, các Luật thuế V V và việc ký kết một số Điều ước quốc tế quan trọng đã tạo ra một hành lang pháp lý cơ bủn để vận hành nền kinh tế.
Một trong những kết quả quan trọng của hệ thống pháp luật hiện nay
là mặc dù chưa hoàn thiện, khung pháp luật đã bao quát hầu hết các vấn đề
cơ bản của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như chế độ sở hữu, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, thương nhân, quycn tự do kinh doanh, quyén
tự do hợp đồng, các cơ chế khuyến khích và bảo đảm đẩu tư, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội, hình thành môi trường cạnh tranh v.v Các quan hệ dân sự và kinh tế đang dần được điều chỉnh bằng các nguyên tắc của luật pháp và tập quán thương mại quốc tế thay cho các biện pháp hành chính đơn thuần.
Luật Doanh nghiệp năm 1999 đánh dấu một mốc quan trọng trong những nỗ lực của Nhà nước Với tinh thần chú đạo là “ Doanh nghiệp được
tự do kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm ” , chuyển từ “cấp phép kinh doanh” sang “đăng ký kinh doanh'’ đã giảm đáng kế thời gian và chi
Trang 40phí đãng ký thành lập doanh nghiệp Kê từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu
lực vào đầu nám 2000, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới cho
đến cuối năm 2003 nhiều hơn gấp hơn 2 lần số lưựng doanh nghiệp thành
lập trong vòng 10 năm trước đó nâng tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam
lên khoảng 128.000.
Pháp luật về kinh tế ngày càng phân định rõ chức năng quản lý nhà
nước của các cơ quan quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư vào hoạt động
kinh doanh, khẳng định nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì mà
pháp luật không cấm Trong "Phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội 5 năm 2001 - 2005" Đãng ta đã nhận định" Nhicu đạo luật về
kinh tế xã hội được ban hành đã thể chế, cụ thế hoá đường lối, chính sách
của Đảng, Nhà nước, hình ihành về cơ bản khuôn khổ pháp lý cho nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành trong cơ ch ế thị trường, có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa".
Tuy nhiên, luật pháp kinh tế đang còn có những hạn chế, bất cập như
được trình bày dưới đây.
* C ác yếu t ố p h á p lý th ể c h ế của V iệt N am hiện nay còn nhiều m âu thuẫn và thiểu đóng bộ.
T h ứ nhất, lệch pha đối tượng điều chinh, v ề nguycn lý, mọi doanh
nghiệp đã được thành lập và hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều
bình đẳng trước pháp luật Hiện pháp năm 1992 cũng đã khẳng định như
vậy Từ những nguyên lý cơ bản đã được Hiến Pháp quy định, các luật điều
chinh hoạt động của doanh nghiệp cần có chung đối tượng diều chinh, đó là
các doanh nghiệp không phân biệt quy mô, nguồn vốn và lĩnh vực hoạt
động Trên thực tế, các luật điều chính hoạt động của doanh nghiệp bị lệch
pha về đối tượng điểu chinh Các doanh nghiệp bị phân chia theo hình thức