1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Công tác thẩm định dự án đầu tư tại Công ty Dịch vụ Viễn thông : Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 34 05

110 27 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn đứng trên phương diện kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho c

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội – 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LƯU THANH MAI

CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ VIỄN THÔNG

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60 34 05

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS BÙI XUÂN PHONG

Hà Nội – 2010

Trang 3

MỤC LỤC Trang

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… i

DANH MỤC HÌNH……… ii

DANH MỤC BẢNG……… ii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 5

1.1 Dự án đầu tư 5

1.1.1.Khái niệm 5

1.1.2.Phân loại 6

1.1.3.Đặc điểm dự án đầu tư 10

1.2 Thẩm định dự án đầu tư 12

1.2.1.Khái niệm 12

1.2.2.Mục đích và yêu cầu thẩm định dự án đầu tư 13

1.2.3.Nội dung thẩm định dự án đầu tư 15

1.2.4.Phương pháp thẩm định dự án đầu tư 20

1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định dự án đầu tư 23

1.3.1.Môi trường pháp lý 23

1.3.2.Môi trường Kinh tế xã hội 24

1.3.3.Tổ chức công tác thẩm định 24

1.3.4.Nhận thức và trình độ của đội ngũ cán bộ thẩm định dự án đầu tư 25

1.3.5.Trang thiết bị, công nghệ 26

1.3.6.Cách thức thu thập và xử lý thông tin 26

1.3.7.Quy trình và nội dung thẩm định 27

1.3.8.Phương pháp và chỉ tiêu thẩm định 27

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THẨM ĐỊNH ĐẦU TƯ DỰ ÁN TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ VIỄN THÔNG (CÔNG TY VINAPHONE) 29

2.1 Giới thiệu về Công ty dịch vụ Viễn thông 29

2.1.1.Qúa trình hình thành và phát triển 29

2.1.2.Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy các phòng ban của Công ty Vinaphone 32

Trang 4

2.1.3.Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của

Công ty Vinaphone 36

2.2 Công tác Thẩm định dự án đầu tư giai đoạn năm 2007 đến nay tại Công ty Vinaphone 40

2.2.1.Kết quả những dự án đầu tư tại Công ty từ năm 2007 đến nay 40

2.2.2.Tổ chức công tác thẩm định dự án đầu tư 41

2.2.3.Đánh giá công tác thẩm định dự án đầu tư tại Công ty Vinaphone 73

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN TẠI CÔNG TY VINAPHONE 78

3.1 Định hướng phát triển của Công ty Vinaphone 78

3.1.1.Định hướng hoạt động kinh doanh của Công ty 78

3.1.2.Định hướng đầu tư 79

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư tại Công ty Vinaphone……… 80

3.2.1.Giải pháp hoàn thiện về quy trình, nội dung và phương pháp 80

3.2.2.Giải pháp hoàn thiện hệ thống thu thập và xử lý thông tin 87

3.2.3.Đảm bảo tính độc lập trong công tác thẩm định 89

3.2.4.Đào tạo đội ngũ chuyên gia về thẩm định dự án 90

3.3 Một số kiến nghị 93

3.3.1.Đối với Chính phủ 93

3.3.2.Đối với Bộ Thông tin và truyền thông 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT CSHT

Bộ TT & TT

LNST NXB SXKD TSCĐ VNP VNPT

Công nghệ thông tin

Cơ sở hạ tầng

Bộ Thông tin và truyền thông Lợi nhuận sau thuế Nhà xuất bản Sản xuất kinh doanh Tài sản cố định Vinaphone Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Trang 6

ii

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 2.1 Bộ máy tổ chức của Công ty Vinaphone năm 2009 33

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 2.2 Số liệu về phát triển thuê bao trong giai đoạn

2007-2010

37

2 Bảng 2.3 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh 37

3 Bảng 2.4 So sánh giá nâng cấp, mở rộng hệ thống PPS-IN

mạng Vinaphone

69

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp Viễn thông có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội

ở Việt Nam Sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế đã làm cho môi trường hoạt động của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp Viễn thông nói riêng thay đổi Trong môi trường kinh doanh mới, các doanh nghiệp viễn thông đã chủ động trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời phải đứng trước một thử thách lớn là tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của mình Hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường, muốn tồn tại và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp Viễn thông nói riêng phải hoạt động kinh doanh có lãi Muốn vậy, yêu cầu doanh nghiệp phải điều hành tốt mọi hoạt động kinh doanh của mình Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và lựa chọn đưa ra quyết định tối ưu phương án hoạt động kinh doanh

Để một lượng vốn lớn bỏ ra hiện tại và chỉ có thể thu hồi vốn dần trong tương lai khá xa, thì trước khi chi vốn vào việc đầu tư phát triển, các nhà đầu tư đều tiến hành lập dự án đầu tư Lập dự án và thực hiện dự án đầu tư là công việc rất phức tạp, nên phải huy động sức lực, trí tuệ của nhiều người, nhiều tổ chức Việc tổ chức phối hợp các hoạt động trong tiến trình đầu tư khó tránh khỏi những bất đồng, mẫu thuẫn hay sai sót, vì vậy cần được theo dõi, rà soát, điều chỉnh lại

Chủ đầu tư muốn khẳng định quyết định đầu tư của mình là đúng đắn, các tổ chức trung gian tài chính muốn tài trợ hay cho vay vốn đối với dự án, thì cần thẩm định tính hiệu quả, tính khả thi và tính hiện thực của dự án để ngăn chặn sự đổ bể, lãng phí vốn đầu tư

Một dự án dù có được chuẩn bị kỹ càng đến mấy cũng vẫn mang tính chủ quan của người soạn thảo, bởi người soạn thảo thường đứng trên góc độ hẹp để nhìn nhận vấn đề Để đảm bảo tính khách quan cần phải thẩm định Người thẩm định thường khách quan hơn trong nhìn nhận và đánh giá, do vị trí của người thẩm định tạo nên, họ được phép tiếp cận và có điều kiện thu thập, tổng hợp thông tin đầy đủ hơn

Khi soạn thảo và giải trình chi tiết dự án có thể có những sai sót, các ý tưởng có thể mâu thuẫn, không phù hợp, không lôgic, thậm chí có thể có những câu văn, những

Trang 8

nó chưa được nhìn nhận, phân tích một cách thấu đáo, khoa học

Về mặt lý luận, điển hình có một số ấn phẩm nghiên cứu có giá trị về thẩm định

dự án đầu tư như: cuốn sách Kinh tế đầu tư của đồng tác giả TS Nguyễn Bạch Nguyệt,

TS Từ Quang Phương được NXB Thống kê Hà Nội xuất bản năm 2004 Những nội dung của dự án và thẩm định dự án thì ngay trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung Nhà nước Việt Nam cũng đã có Quy chế, thông tư hướng dẫn thực hiện, tuy nhiên các Quy chế, thông tư đó mang tính chủ quan nhiều hơn tính khách quan và ở mức độ sơ sài

Để làm rõ vấn đề này tác giả đã giới thiệu một chương khá chi tiết về thẩm định dự án

đầu tư trong cơ chế thị trường có sự điều tiết cả Nhà nước.Còn trong cuốn sách Lập và

thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư của tác giả Đinh Thế Hiển được NXB

Thống kê xuất bản năm 2008 Cuốn sách này đã giới thiệu một cách tổng quát về dự án

và những nội dung căn bản của thẩm định tài chính dự án mà một nhà đầu tư cần biết khi đánh giá một dự án Cuốn sách “Quản trị kinh doanh Viễn thông trong hội nhập kinh tế quốc tế” của GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong, Nhà xuất bản Bưu điện, đây là một trong những tài liệu tham khảo cần thiết cho những nhà quản lý dự án chuyên

ngành Viễn thông Ngoài ra còn có các cuốn sách khác như Lập và thẩm định Dự án

đầu tư của tác giả Đỗ Phú Trần Tình, NXB Giao thông vận tải, 2009; Giáo trình Quản

Trang 9

trị dự án đầu tư của nhiều tác giả, NXB Thống kê, 2009; Giáo trình quản lý dự án đầu

tư của TS Từ Quang Phương, NXB Lao động xã hội 2005; Giáo trình hiệu quả và quản lý dự án Nhà nước của tác giả Mai Văn Sửu, NXB Khoa học kỹ thuật 2008; Thiết lập và thẩm định dự án đầu tư của PGS.TS.Phước Minh Hiệp, NXB Thống kê, 2007

Những cuốn sách này không chỉ cung cấp những lý luận chung về công tác thẩm định

dự án đầu tư mà còn bổ sung cho nhau để làm hoàn thiện hơn lý luận về thẩm định dự

án đầu tư

Về mặt thực tiễn đã có một số công trình nghiên cứu về thẩm định dự án đầu tư

có giá trị như: Luận án Tiến sĩ kinh tế “ Nâng cao hiệu quả đầu tư theo dự án tại Ngân hàng Công thương Việt Nam” của tác giả Trương Quốc Cường; Luận văn thạc sĩ với

đề tài “ Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa” của tác giả Lê Thị Mai Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu đứng trên phương diện là người tài trợ vốn cho dự án cho nên họ phải thẩm định

dự án đầu tư trước khi ra quyết định cấp vốn Về phía góc độ là chủ đầu tư thì cần phải thẩm định dự án đầu tư để biết được kết quả đầu tư của mình như thế nào Việc nghiên cứu này còn rất hạn chế, trong các dự án đầu tư nói chung và dự án đầu tư về Viễn

thông nói riêng

3 Mục tiêu nghiên cứu

Vận dụng lý luận cơ bản về thẩm định dự án đầu tư vào phân tích đánh giá tình hình công tác thẩm định dự án đầu tư tại Công ty Dịch vụ Viễn thông, từ đó rút ra nhận xét những kết quả đạt được, những tồn tại Đồng thời đưa ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp, nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại Công ty

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu Công tác thẩm định Dự

án đầu tư tại Công ty Dịch vụ Viễn thông

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các dự án đầu tư của Công ty Dịch vụ

Viễn thông lấy thực tiễn từ 2007 đến 2010 làm cơ sở minh chứng

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, để tiếp cận thích ứng với các nội dung nghiên cứu đề tài sử dụng

Trang 10

6

kết hợp với các phương pháp nghiên cứu kinh tế đặc trưng khác như phương pháp phân tích, tổng hợp và dự báo, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp mô hình hóa, sơ đồ hóa qua đó đưa ra các nhận xét, kết luận

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư nói chung, đưa ra những đặc điểm riêng của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực Viễn thông

- Sử dụng phương pháp thích hợp phân tích đánh giá thực tiễn công tác thẩm định

dự án đầu tư tại Công ty dịch vụ Viễn thông Từ đó rút ra những kết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại và chỉ ra nguyên nhân

- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại, giải quyết vướng mắc, nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư tại Công ty dịch vụ Viễn thông

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về thẩm định dự án đầu tư

Chương 2: Tình hình công tác thẩm định dự án đầu tư tại Công ty Dịch vụ

Viễn Thông (Công ty Vinaphone)

Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác thẩm

định dự án đầu tư tại Công ty Vinaphone

Trang 11

Xét trên góc độ pháp lý thì dự án đầu tư là cơ sở để các cơ quan quản lý Nhà

nước xem xét, phê duyệt cấp giấy phép đầu tư, là căn cứ quan trọng để đánh giá và đưa

ra những điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác dự án và là cơ sở pháp lý để xem xét, xử lý khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh đầu tư

Còn đứng trên phương diện kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện

kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ

Xét về nội dung, Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau

được kế hoạch hóa nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả có thể

cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định

Xét về mặt hình thức, Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một

cách chi tiết, đầy đủ, khoa học và toàn diện một dự kiến đầu tư trong tương lai

Tùy theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án : cách hiểu „tĩnh‟ và cách hiểu „động‟ Theo cách hiểu

„tĩnh‟ thì dự án là hình tượng về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới còn theo cách hiểu„động‟ có thể định nghĩa dự án như sau: dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.[8]

Như vậy, theo định nghĩa này thì dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; Dự án không phải là một nghiên cứu trìu tượng mà phải cấu trúc nên một thực tế mới

Trang 12

Song dù đứng trên góc độ nào thì dự án đầu tư cũng có chung một chu trình Chu trình này có thể chia làm 3 giai đoạn:

Một là, giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm các bước chính như sau: Nghiên cứu cơ

hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi; Nghiên cứu khả thi, Thẩm định và ra quyết định đầu tư

Hai là, giai đoạn thực hiện đầu tư gồm các bước chính sau: khảo sát, thiết kế,

lập dự toán; dự kiến mua thiết bị, công nghệ, vật tư kỹ thuật; tổ chức đấu thầu, chọn thầu, giao nhận thầu; thi công theo đúng thiết kế, tiến độ đã đề ra; tiến hành chạy thử; bàn giao đưa công trình vào khai thác

Ba là, giai đoạn vận hành kết quả đầu tư gồm các bước chính như: tổ chức sản

xuất, kinh doanh; kết thúc dự án; đánh giá sau dự án

1.1.2 Phân loại

Trên thực tế, các dự án đa dạng về cấp độ, loại hình, quy mô và thời gian và được phân loại theo các tiêu thức khác nhau Chẳng hạn ở nhiều nước trên thế giới, dự

án được phân loại theo một số tiêu thức sau[4]:

- Theo người khởi xướng: dự án được phân loại thành dự án cá nhân; dự án tập thể; dự án quốc gia; dự án quốc tế

- Theo kiểu lĩnh vực dự án: dự án được phân loại thành dự án xã hội, dự án kinh

tế, dự án tổ chức, dự án kỹ thuật, dự án hỗn hợp

- Theo loại hình dự án: dự án được phân loại thành dự án như Giáo dục đào tạo,

dự án Nghiên cứu và phát triển, dự án đổi mới, dự án hỗn hợp

- Theo cấp độ: dự án được phân loại thành dự án lớn và dự án nhỏ Đây là cách phân loại tổng hợp nhất đối với dự án

Trang 13

Các dự án lớn thường là các chương trình phức hợp và chuyên ngành tầm cỡ quốc tế, quốc gia, miền, vùng lãnh thổ, liên ngành địa phương Đặc trưng của các dự án này là vốn đầu tư lớn, số lượng các chủ thể tham gia đông, sử dụng nhiều công nghệ phức tạp khác nhau, thời gian dài, có ảnh hưởng lớn môi trường kinh tế và môi trường sinh thái Các dự án lớn đòi hỏi nhà quản lý phải có nhiều phẩm chất tốt, đặc biệt là khả năng giao tiếp tốt và năng lực tổ chức cao nhằm thiết lập hệ thống quản lý và tổ chức thực hiện dự án thành công

Các dự án nhỏ thường là dự án cá nhân, dự án của tổ chức kinh tế hoặc tổ chức

xã hội Các dự án này không đòi hỏi nhiều vốn, thời gian thực hiện ngắn và ít được ưu tiên Các dự án nhỏ cho phép sử dụng một cách đơn giản các phương pháp quản lý

Ngoài ra, để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư cân tiến hành phân loại các dự án đầu tư và xem xét đặc điểm hoạt động của chúng Cũng có thể phân loại các dự án đầu tư theo các tiêu thức sau[9]:

- Theo cơ cấu tái sản xuất: Dự án đầu tư được phân loại thành dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án đầu tư theo chiều sâu Trong đó, vốn đầu tư chiều rộng thường dàn trải, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, tính chất

kỹ thuật ít phức tạp, độ mạo hiểm thấp Còn đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao hơn

so với đầu tư theo chiều rộng

- Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của dự án đầu tư: Có thể phân chia thành

dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học, kỹ thuật,

dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và xã hội Hoạt động của các dự án đầu

tư này có quan hệ tương hỗ với nhau Chẳng hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học

kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao; còn các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đến lượt mình lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng

và các dự án đầu tư khác

- Theo giai đoạn hoạt động của dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội:Có thể phân loại các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành dự án đầu tư thương mại và dự án đầu tư sản xuất

Trang 14

10

Dự án đầu tư thương mại là loại dự án đầu tư có thời gian thực hiện đầu tư và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tính chất bất định không cao lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao

Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án đầu tư có thời hoạt động dài hạn (5,10,20 năm hoặc lâu hơn), vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tương lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (về nhu cầu, giá cả đầu vào và đẩu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự

ổn định về chính trị ) Loại dự án đầu tư này phải được chuẩn bị kỹ, phải cố gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư trong tương lai xa; phải xem xét các biện pháp xử lý khi các yếu tố bất định xẩy ra để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãi khi hoạt động của dự án đầu tư kết thúc (đã hoạt động hết vòng đời của dự án)

Trong thực tế, người có tiền thích đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh thương mại Tuy nhiên trên giác độ xã hội hoạt động của loại dự án đầu tư này không tạo ra của cải vật chất cụ thể một cách trực tiếp, những giá trị tăng thêm do hoạt động của dự án đầu

tư thương mại đem lại chỉ là sự phân phối lại thu nhập giữa các ngành, các địa phương, các tầng lớp dân cư trong xã hội Do đó, trên giác độ điều tiết vĩ mô, nhà nước thông qua các cơ chế chính sách của mình để hướng dẫn các nhà đầu tư không chỉ đầu tư vào lĩnh vực thương mại mà còn đầu tư vào cả lĩnh vực sản xuất, theo các định hướng và mục tiêu đã dự kiến trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

- Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra: Ta

có thể phân chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư ngắn hạn (như dự án đầu tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các đự án đầu tư sản xuất, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng ), dự án dài hạn

- Theo phân cấp quản lý: Ở Việt Nam, theo “ Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng‟‟ ban hành kèm theo Nghị định số 12/2000/ NĐ-CP ngày 5-5-2000 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999 của Chính phủ đã phân chia dự án thành 3 nhóm A,B,C tùy theo tính chất và quy mô của dự án Trong đó nhóm A do Thủ tướng chính phủ quyết định; nhóm B và C do Bộ trưởng, thủ trưởng

Trang 15

sơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ, UBND cấp tỉnh( hoặc thành phố trực thuộc TW) quyết định, cụ thể trong các dự án Viễn thông[5]:

Nhóm A: Các dự án đầu tư có mức vốn trên 400 tỷ đồng, dự án ODA có mức

vốn trên 1,5 triệu USD và trên 75 tỷ đồng đối với dự án kiến trúc để lắp đặt thiết bị Viễn thông

Nhóm B: Dự án đầu tư có mức vốn từ 20 tỷ đồng đến 400 tỷ đổng, dự án ODA

có mức vốn dưới 1,5 triệu USD và từ 7 tỷ đồng đến 75 tỷ đồng đối với dự án kiến trúc

để lắp đặt thiết bị Viễn thông

Nhóm C: Dự án đầu tư có mức vốn dưới 20 tỷ đồng và dưới 7 tỷ đồng đối với

các dự án kiến trúc để lắp đặt thiết bị Viễn thông

- Theo nguồn vốn :Dựa vào nguồn vốn, dự án đầu tư có thể được phân chia thành:

+ Dự án đầu tư vốn huy động trong nước (vốn tích lũy của ngân sách, của doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân cư)

+ Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài (vốn đầu tư quốc tế gián tiếp, vốn đầu quốc tế tư trực tiếp)

Việc phân loại này cho thấy tình hình huy động vốn từ mỗi nguồn và vai trò của mỗi nguồn vốn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của từng ngành, từng địa phương

và toàn bộ nền kinh tế

- Theo vùng lãnh thổ (theo tỉnh, theo vùng kinh tế của đất nước): Cách phân loại này cho thấy tình hình đầu tư của từng tỉnh, từng vùng kinh tế, và ảnh hưởng của đầu

tư đối với tình hình phát triển kinh tế-xã hội ở từng địa phương

Ngoài ra trong thực tế, để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế, người

ta còn phân chia dự án đầu tư theo quan hệ sở hữu, theo quy mô và theo nhiều tiêu thức khác

1.1.3 Đặc điểm dự án đầu tƣ

1.1.3.1 Đặc điểm chung dự án đầu tư

- Dự án không chỉ là một ý tưởng hay phác thảo mà còn hàm ý hành động với mục tiêu cụ thể Nếu không có hành động thì dự án chỉ vĩnh viễn tồn tại ở trạng thái tiềm năng

Trang 16

12

- Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng mà phải nhằm đáp ứng một nhu cầu cụ thể đã được đặt ra, tạo nên một thực tế mới

- Dự án tồn tại trong một môi trường không chắc chắn Môi trường triển khai dự

án thường xuyên thay đổi, chứa đựng nhiều yếu tố bất định nên trong dự án rủi ro thường là lớn và có thể xẩy ra Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ thành công của dự án và là mối quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý dự án

- Dự án bị khống chế bởi thời gian Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động

đặc thù phải có thời hạn kết thúc Mọi sự chậm trễ trong thực hiện dự án sẽ làm mất cơ hội phát triển, kéo theo những bất lợi, tổn thất cho nhà đầu tư và cho nền kinh tế

- Dự án chịu sự ràng buộc về nguồn lực Thông thường, các dự án bị ràng buộc

về vốn, vật tư, lao động Đối với dự án quy mô càng lớn, mức độ ràng buộc về nguồn lực càng cao và càng phức tạp; mọi quyết định liên quan đến các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án đều bị chi phối bởi nhiều mối quan hệ, chẳng hạn, chủ đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu, các nhà tài trợ, nhân công, các nhà kỹ thuật v.v Xử lý tốt các ràng buộc này là yếu tố quan trọng góp phần đạt tới mục tiêu của dự án

- Dự án phải có tính khoa học tức là dự án đầu tư phải có một quá trình nghiên cứu tỷ mỷ

- Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng Mỗi dự án thể hiện một hoặc một nhóm nhiệm vụ cần được thực hiện với một bộ kết quả xác định nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó Dự án cũng là một hệ thống phức tạp nên cần được chia thành nhiều bộ phận khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng phải đảm baỏ các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao

- Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn Nghĩa là, giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc

- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án , các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước Tùy theo tính chất và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau Giưã các bộ phận quản lý chức năng và nhóm quản lý thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau Vì mục

Trang 17

tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác

1.1.3.2 Đặc điểm của dự án đầu tư Viễn thông

- Dự án đầu tư trong ngành Viễn thông thường là các dự án đầu tư lớn, có giá trị cao và thời gian thu hồi vốn nhanh Tuy nhiên, không phải bất cứ dự án đầu tư nào cũng sinh lời và sinh lời cao mà có những dự án đầu tư không sinh lời, thậm chí thua

lỗ do mục tiêu của dự án Vì vậy khi tiến hành đầu tư phải so sánh các phương án và lựa chọn phương án hiệu quả nhất, tức là trong tất cả các trường hợp khi có một vài phương án khả thi cần giải quyết vấn đề và lựa chọn một phương án hiệu quả nhất, hướng đầu tư vốn hiệu quả nhất Với thời gian hoàn vốn, do đặc điểm kỹ thuật công nghệ dễ bị lạc hậu cần tính toán dự án sao cho thu hồi vốn nhanh.[7]

- Ngành Viễn thông là một trong những ngành đòi hỏi trình độ kỹ thuật công nghệ cao vì vậy công nghệ luôn phải là công nghệ mới nhất, hiện đại nhất và tiên tiến nhất Thiết bị kỹ thuật công nghệ của dự án Viễn thông chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài Do đó khi thực hiện dự án đầu tư phải có đầy đủ thông tin về kỹ thuật công nghệ, thiết bị mà dự án sử dụng Xem xét và lựa chọn thiết bị, kỹ thuật công nghệ phù hợp với đặc điểm của ngành và điều kiện sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, tạo điều kiện tiết kiệm, cải thiện điều kiện lao động.[7]

- Thực chất của dự án đầu tư Viễn thông là đầu tư xây dựng cơ bản, vì thế yếu tố con người không chỉ đòi hỏi phải có trình độ về khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ cao, công

cụ lao động được trang bị hiện đại mà còn phải am hiểu về quản lý xây dựng, nắm vững thủ tục về xây dựng cơ bản, các luật, văn bản pháp quy của Nhà nước, của ngành trong công tác xây dựng cơ bản.[7]

- Tổng thể một dự án Viễn thông bao gồm các trang thiết bị, kỹ thuật đồng bộ cấu thành các hệ thống và mạng đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ, thực thi trong một tổng thể các đơn vị, bộ phận chức năng khác nhau.[7]

- Các dự án đầu tư Viễn thông thường là các dự án đòi hỏi vốn đầu tư lớn, vật tư

và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao cho nên ngoài nguồn vốn của Viễn thông cần phải huy động các nguồn vốn khác.[7]

Trang 18

14

- Sản phẩm của dự án viễn thông mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ) Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất Lao động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao, nhiệm vụ không lặp lại

1.2.THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ

1.2.1.Khái niệm

Dự án dù được chuẩn bị, phân tích kỹ lưỡng đến đâu vẫn thể hiện tính chủ quan của nhà phân tích và lập dự án, những khiếm khuyết, lệch lạc tồn tại trong quá trình dự án là lẽ đương nhiên Để khẳng định được một cách chắc chắn hơn mức độ hợp lý và hiệu quả, tính khả thi của dự án cũng như quyết định đầu tư thực hiện dự

án, cần phải xem xét, kiểm tra lại dự án một cách độc lập với quá trình chuẩn bị, soạn thảo dự án, hay nói cách khác, cần thẩm định dự án

Thẩm định dự án là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khai quyết định đầu tư Trong quá trình thẩm định dự án nhiều khi phải tính toán, phân tích lại dự án.[1]

Thẩm định dự án là các bước công việc được thực hiện xen kẽ của cấp có thẩm quyền trong tiến trình đầu tư, trên cơ sở các tài liệu có tính chất pháp lý, các giải trình kinh tế kỹ thuật đã được thiết lập „thẩm tra lại‟, „đánh giá lại‟ về các mặt như: tính pháp

lý, tính hợp lý, tính phù hợp, tính thống nhất, tính hiệu quả, tính hiện thực đứng trên giác độ một doanh nghiệp, một tổ chức và trên giác độ toàn bộ nền kinh tế, nhằm hợp pháp hóa dự án và điều chỉnh tiến trình triển khai thực hiện đầu tư

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thẩm định tùy theo tính chất của dự án và chủ thể có thẩm quyền thẩm định, song đứng trên giác độ tổng quát có thể định nghĩa như sau:

Thẩm định dự án là quá trình thẩm tra, xem xét một cách khách quan, khoa học

và toàn diện các nội dung cơ bản của dự án, nhằm đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả, tính khả thi của dự án, để từ đó ra các quyết định đầu tư hoặc cho phép đầu tư và triển khai dự án.[2]

1.2.2.Mục đích và yêu cầu thẩm định dự án đầu tƣ

1.2.2.1.Mục đích thẩm định dự án đầu tư

Trang 19

- Đánh giá tính phù hợp của dự án: Mục tiêu của dự án phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành, của địa phương

- Đánh giá tính hợp pháp của các tài sản, tài chính hình thành nên vốn đầu tư

1.2.2.2.Yêu cầu thẩm định dự án đầu tư

Xuất phát từ vai trò và đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển, công tác chuẩn

bị đầu tư vì một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý đầu tư và xây dựng Thẩm định dự án đầu tư là giai đoạn tiếp theo của quá trình soạn thảo dự án Kết quả của thẩm định dự án là cơ sở để ra quyết định chấp nhận hay bác bỏ dự án Chính

vì vậy, yêu cầu chung được đặt ra đối với công tác thẩm định dự án[3]:

- Lựa chọn được các dự án đầu tư có tính khả thi cao (có khả năng thực hiện, đem lại hiệu quả và hiệu quả chắc chắn)

- Loại bỏ được các dự án đầu tư không khả thi, nhưng không bỏ lỡ mất các cơ hội đầu tư có lợi

Thẩm định được tiến hành với tất cả các dự án đầu tư xây dựng thuộc mọi nguồn vốn, của mọi thành phần kinh tế như: Vốn trong nước và vốn nước ngoài, vốn ngân sách nhà nước, vốn của các doanh nghiệp nhà nước, vốn của các tổ chức chính trị

xã hội, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance gọi tắt là ODA), vốn của các thành phần kinh tế khác…Tuy nhiên, tuỳ theo tầm quan trọng, quy

mô và nguồn vốn của từng dự án mà yêu cầu, nội dung và công tác tổ chức thẩm định các dự án này cũng khác nhau Chúng được tuân thủ theo các quy định hiện hành trong quản lý đầu tư và xây dựng của nhà nước

Để công tác thẩm định đạt chất lượng tốt, người làm công tác thẩm định cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 20

16

- Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành, của địa phương, các quy chế, luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành của nhà nước

- Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tình hình và trình độ kinh tế chung của địa phương, đất nước và thế giới Nắm vững tình hình sản xuất – kinh doanh, các số liệu tài chính của doanh nghiệp, các quan hệ tài chính – kinh

tế tín dụng của doanh nghiệp (hoặc của chủ đầu tư khác), với ngân hàng và ngân sách nhà nước

- Biết khai thác số liệu trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp (hoặc của chủ đầu tư), các thông tin về giá cả, thị trường để phân tích hoạt động chung của doanh nghiệp (hoặc của chủ đầu tư), từ đó có thêm căn cứ vững chắc để quyết định đầu tư hoặc cho phép đầu tư

- Biết xác định và kiểm tra được các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật quan trọng của dự

án, đồng thời thường xuyên thu thập, đúc kết, xây dựng các chỉ tiêu định mức kinh tế -

kỹ thuật tổng hợp trong và ngoài nước để phục vụ cho việc thẩm định

- Đánh gíá khách quan, khoa học và toàn diện nội dung dự án, có dự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chuyên môn, các chuyên gia trong và ngoài ngành có liên quan ở trong và ngoài nước

- Thẩm định kịp thời, tham gia ý kiến ngay từ khi nhận được hồ sơ

- Thường xuyên hoàn thiện quy trình thẩm định, phối hợp và phát huy được trí tuệ tập thể

1.2.3.Nội dung thẩm định dự án đầu tƣ

Theo văn bản quản lý hiện hành, nội dung thẩm định dự án đầu tư đối với các dự

án sử dụng vốn của nhà nước phải tuân theo các quy định trong văn bản quản lý của nhà nước, đối với các dự án sử dụng các nguồn vốn khác, chủ đầu tư tự quyết định các nội dung cần thẩm định Song nhìn chung các nội dung thẩm định đều gắn chặt với việc xác định tính khả thi của dự án đầu tư và thường bao gồm những nội dung cơ bản sau[4]:

1.2.3.1.Thẩm định khía cạnh pháp lý của dự án

Trang 21

- Sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát

triển ngành, quy hoạch xây dựng Trường hợp chưa có các quy hoạch trên thì phải có ý

kiến thỏa thuận của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó

- Xem xét tư cách pháp nhân và năng lực chủ đầu tư Tư cách pháp nhân và

năng lực chủ đầu tư được xem xét trên các khía cạnh sau:

+ Quyết định thành lập của các doanh nghiệp nhà nước hoặc giấy phép hoạt động đối với các thành phần kinh tế khác

+ Người đại diện chính thức, địa chỉ liên hệ, giao dịch

+ Năng lực kinh doanh được thể hiện ở sở trường và uy tín kinh doanh + Năng lực tài chính thể hiện ở khả năng vốn tự có, điều kiện thế chấp khi vay vốn… Đây là nội dung đầu tiên được xem xét khi thẩm định dự án Nếu coi nhẹ hoặc

bỏ qua nội dung này sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện dự án Đã có những dự án phải dừng hoạt động khi chưa hết thời hạn do chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính và năng lực kinh doanh

- Thẩm định sự phù hợp của dự án đầu tư với các văn bản pháp quy của nhà

nước, các quy định, chế độ khuyến khích ưu đãi

- Thẩm định nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên, khả năng giải phóng mặt bằng

1.2.3.2 Thẩm định khía cạnh thị trường của dự án

- Xem xét tính đầy đủ, tính chính xác trong từng nội dung phân tích nhu cầu thị

Trang 22

18

Khi đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm của dự án cần lưu ý:

+ Sản phẩm do dự án sản xuất có ưu thế nào về giá cả, chất lượng, quy cách, điều kiện lưu thông và tiêu thụ

+ Kinh nghiệm và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ thị trường về sản phẩm

1.2.3.3.Thẩm định khía cạnh kỹ thuật

Thẩm định sự cần thiết của dự án: xác định mức độ cấp thiết của dự án đối với doanh nghiệp, đối với ngành và đối với nền kinh tế; xem xét sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn

Thẩm định quy mô của dự án: thẩm định mức độ phù hợp giữa quy mô dự án, công suất sử dụng với khả năng chấp nhận sản phẩm của thị trường, với khả năng đáp

ứng vốn, máy móc thiết bị cũng như khả năng quản lý dự án của các nhà quản lý Đánh giá công suất của dự án:

+ Xem xét các yếu tố cơ bản để lựa chọn công suất thiết kế và mức cung ứng dự kiến hàng năm của dự án

+ Đánh giá mức độ chính xác của công suất lựa chọn

- Thẩm định công nghệ và trang thiết bị: Đánh giá mức độ phù hợp của công

nghệ, thiết bị mà dự án lựa chọn, xác định rõ căn cứ lựa chọn công nghệ, máy móc thiết

bị, mức đội đảm về bảo chuyển giao công nghệ, lắp đặt, bảo hành chạy thử, phụ tùng thay thế; đặc biệt lưu ý kiểm soát giá trang thiết bị, chương trình đào tạo và quản lý con người phù hợp với công nghệ, thiết bị lựa chọn :

+ Việc thẩm định phải làm rõ được rõ ưu điểm và những hạn chế của công nghệ lựa chọn Cần chú ý đến nguồn gốc, mức độ hiện đại, sự phù hợp của công nghệ với dịch vụ mà dự án cung cấp cũng như những đặc điểm của Việt Nam

+ Cần xem xét phương án chuyển giao kỹ thuật công nghệ, chuyên gia hướng dẫn vận hàng, huấn luyện nhân viên và chế độ bảo hành, bảo trì thiết bị (đặc biệt đối với công nghệ mới đưa vào Việt Nam)

+ Kiểm tra tính đồng bộ với công suất của các thiết bị, các công đoạn sản xuất với nhau, mức độ tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, tuổi thọ, yêu cầu sửa chữa, bảo dưỡng, khải năng cung ứng phụ tùng

Trang 23

+ Giá cả và phương thức thanh toán có hợp lý không

+ Thời gian giao hàng và lắp đặt có phù hợp với tiến độ thực hiện dự án không + Uy tín của các nhà cung cấp

+ Đối với các loại thiết bị nhập khẩu, ngoài việc kiểm tra theo các nội dung cần phải kiểm tra thêm về các mặt như: các điều khoản của hợp đồng nhập khẩu có đúng với luật và thông lệ ngoại thương hay không? Tính pháp lý về trách nhiệm của các bên thế nào?

Thẩm định phương án địa điểm xây dựng: kiểm tra mức độ thuận tiện về nguồn nguyên liệu, hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng, diện tích đất sử dụng; mức độ đảm bảo

vệ sinh môi trường sinh thái, phương án xử lý chất thải, phòng chống cháy nổ, an toàn lao động, mức độ đền bù giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư

Thẩm định phương án kiến trúc: mức độ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, việc áp dụng quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng

1.2.3.4 Thẩm định khía cạnh kinh tế xã hội của dự án

Thẩm định kinh tế xã hội là một nội dung quan trọng của thẩm định dự án nhằm đánh giá lại hiệu quả của dự án trên giác độ toàn bộ nền kinh tế Nội dung này thường được đặc biệt chú trọng đối với các dự án được tài trợ bằng vốn của Nhà nước Mặc dù vậy, thẩm định lợi ích và chi phí hay thẩm định tài chính của dự án vẫn cần được đề cập

Thẩm định kinh tế xã hội nhằm rà soát lại mục tiêu của dự án, tác động của dự

án tới môi trường và tới các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội, tính hợp lý và tối

ưu của dự án, mức độ ảnh hưởng ngân sách của dự án

Trong thẩm định kinh tế xã hội của dự án, cần thẩm định việc xác định giá kinh

tế của hàng hóa và dịch vụ mà dự án đem lại thông qua điều chỉnh giá thị trường, tức là giá phản ánh được giá trị thực sự của các hàng hóa và dịch vụ (Chi phí và lợi ích của chúng đối với nền kinh tế); trên cơ sở đó, đánh giá những đóng góp của dự án đối với nền kinh tế quốc dân

Thông thường, một đóng góp quan trọng của dự án cho nền kinh tế được xem xét thông qua sự gia tăng thu nhập quốc dân (đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế) Đánh giá tác động của dự án tới sự gia tăng thu nhập quốc dân được dựa trên các tiêu chuẩn hiệu quả như: Gía trị hiện tại ròng, tỷ lệ nội hoàn, tỷ lệ lợi ích/ chi phí Tuy

Trang 24

20

nhiên, trong phân tích cũng như trong thẩm định kinh tế của dự án theo các tiêu chuẩn hiệu quả, đặc trưng quan trọng là phải xác định được lợi ích và chi phí kinh tế cũng như chi phí cơ hội kinh tế Ngoài việc đánh giá tác động trên, cần thiết đánh giá những tác động khác của dự án về kinh tế xã hội như giải quyết việc làm, cải thiện cán cân thanh toán, cải thiện môi trường sinh thái, cải thiện đời sống, sức khỏe nhân dân

Nhìn chung thẩm định kinh tế xã hội dự án là một công việc khó khăn và rất phức tạp nhưng nó rất cần được tiến hành cùng với thẩm định tài chính dự án trước khi quyết định thực hiện dự án

1.2.3.5.Thẩm định khía cạnh tài chính dự án

Thẩm định tài chính dự án là rà soát, đánh giá một cách khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư: doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác, các cá nhân Nếu như Chính phủ, các cơ quan quản lý vĩ mô quan tâm nhiều hơn tới hiệu quả kinh tế xã hội của dự án thì các nhà đầu tư này lại quan tâm nhiều hơn tới khả năng sinh lãi của dự án Thẩm định tài chính dự án là nội dung lớn và quan trọng trong thẩm định dự án Cùng với thẩm định kinh tế, thẩm định tài chính giúp các nhà đầu tư có những thông tin cần thiết để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn

Thẩm định tài chính bao gồm nhiều nội dung liên quan chặt chẽ với nhau Những nội dung chủ yếu được các nhà thẩm định chú trọng:

- Xác định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ cũng như các phương thức tài trợ dự án Cụ thể: xác định vốn đầu tư vào tài sản cố định, vốn đầu tư vào tài sản lưu động, cách thức huy động vốn (vốn chủ sở hữu, vay nợ, thuê tài sản) từ các nguồn khác nhau để từ đó lựa chọn phương thức tài trợ dự án có lợi nhất

- Xác định chi phí và lợi ích của dự án từ đó, xác định dòng tiền của dự án Những chi phí trực tiếp liên quan đến dự án thường bao gồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí thuê máy móc, chi phí, chi phí lao động Lợi ích của dự án, tùy theo từng trường hợp cụ thể, có thể là mức gia tăng doanh thu, cải tiến chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, giảm mức thua lỗ

- Dự tính lãi suất chiết khấu: Tùy theo các quan điểm khác nhau, cách tính dự tính lãi suất này có thể khác nhau Song, thực chất, đó là dự tính lãi suất mong đợi của nhà đầu tư

Trang 25

- Xác định các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính dự án: như Gía trị hiện tại ròng (NPV), tỷ lệ nội hoàn (IRR), tỷ lệ nội hoàn có điều chỉnh (MIRR), chỉ số doanh lợi (PI), thời gian hoàn vốn ( PP)

- Đánh giá rủi ro trong dự án: đánh giá khả năng xẩy ra của một biến cố không chắc chắn trong các giai đoạn của dự án Rủi ro tiềm ẩn trong mọi giai đoạn của dự án

Do vậy, thẩm định đúng rủi ro sẽ tạo điều kiện thực hiện dự án đúng như đã định

1.2.3.6.Thẩm định về phương diện tổ chức, quản lý thực hiện dự án

- Xem xét hình thức tổ chức quản lý dự án

- Xem xét cơ cấu, trình độ tổ chức vận hành của dự án

- Đánh giá nguồn nhân lực của dự án:

1.2.4.1.Phương pháp so sánh các chỉ tiêu

Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật chủ yếu của dự án được so sánh với các dự án đã và đang xây dựng hoặc đang hoạt động Phương pháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:

- Quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế xây dựng, điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được

- Quy chuẩn, tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệ quốc gia, quốc tế

- Tiêu chuẩn đối với loại dịch vụ dự án cung ứng mà thị trường đòi hỏi

- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư

Trang 26

22

- Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công, tiền lương, chi phí quản lý của ngành theo các định mức kinh tế- kỹ thuật hiện hành

- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư (ở mức trung bình tiên tiến)

- Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn hiện hành của Nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại

- Các chỉ tiêu mới phát sinh: trong việc sử dụng phương pháp so sánh cần lưu ý, các chỉ tiêu dùng để tiến hành so sánh phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án và doanh nghiệp, cần hết sức tranh thủ ý kiến của cơ quan chuyên môn, chuyên gia (kể cả thông tin trái ngược), tránh khuynh hướng so sánh máy móc, cứng nhắc

dự kiến Dự án có thể bị bác bỏ nếu không thỏa mãn các yêu cầu về pháp lý, các thủ tục qui định cần thiết và không phục vụ gì cho chiến lược phát triển kinh tế chung

- Thẩm đinh chi tiết: là việc xem xét một cách khách quan khoa học, chi tiết từng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu quả của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kỹ thuật- công nghệ- môi trường, kinh tế phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế đất nước

Trong giai đoạn thẩm định chi tiết từng nội dung, cần đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ý hay cần sửa đổi, bổ sung hoặc không thể chấp nhận được Tuy nhiên, mức

độ tập trung cho những nội dung cơ bản có thể khác nhau tùy theo đặc điểm và tình hình cụ thể của từng dự án

Khi tiến hành thẩm định chi tiết sẽ phát hiện được các sai sót, kết luận rút ra từ nội dung trước có thể là điều kiện để tiếp tục nghiên cứu Nếu một số nội dung cơ bản của dự án bị bác bỏ thì có thể bác bỏ dự án mà không cần đi vào thẩm định các nội dung còn lại của dự án

Trang 27

1.2.4.3.Phương pháp thẩm định dựa trên việc phân tích độ nhạy cảm của dự án

Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài chính của dự án Cở sở của phương pháp này là dự kiến một số tình hướng bất trắc có thể xẩy

ra trong tương lai đối với dự án, như vượt chi phí đầu tư, không đạt công suất thiết kế, giá cá chi phí đầu vào tăng và giá tiêu thụ sản phẩm giảm, có thay đổi về chính sách thuế theo hướng bất lợi khảo sát tác động của những yếu tố đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hòa vốn của dự án

Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc tùy điều kiện cụ thể và nên chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến hiệu quả của dự án để xem xét Nếu

dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả trong trường hợp có nhiều bất trắc phát sinh đồng thời thì đó là những dự án vững chắc, có độ an toàn cao Trong trường hợp ngược lại, cần phải xem xét lại khả năng phát sinh bất trắc để đề xuất kiến nghị các biện pháp hữu hiệu khắc phục hay hạn chế

1.2.4.4.Phương pháp dự báo

Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu dự báo, điều tra thống kê để kiểm tra cung cầu của sản phẩm dự án trên thị trường, giá cả và chất lượng của công nghệ, thiết

bị, nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, tính khả thi của dự án

1.2.4.5.Phương pháp triệt tiêu rủi ro

Dự án là tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện dự án đến khi đi vào khai thác, hoàn vốn thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro phát sinh ngoài ý muốn chủ quan Để đảm bảo tính vững chắc và dự án có hiệu quả người ta thường dự đoán một số rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc hành chính thích hợp, hạn chế thấp nhất các tác động rủi ro hoặc phân tán rủi ro cho các đối tác có liên quan đến

dự án

Rủi ro thường được phân ra làm 2 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn thực hiện dự án:

+ Rủi ro chậm tiến độ thi công Để hạn chế rủi ro này, kiểm tra việc đấu thầu, chọn thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng

+ Rủi ro vượt tổng mức đầu tư Để hạn chế, rủi ro này, kiểm tra hợp đồng giá (một giá hoặc các điều kiện về phát sinh tăng giá, giá cả khối lượng phải được ấn định)

Trang 28

24

+ Rủi ro về cung cấp dịch vụ kĩ thuật – công nghệ, không đúng tiến độ, chất lượng không đảm bảo Để hạn chế rủi ro này, kiểm tra hợp đồng trọn gói và bảo lãnh hợp đồng

+ Rủi ro về tài chính như thiếu vốn, giải ngân không đúng tiền độ Để hạn chế rủi ro này, kiểm tra các cam kết đảm bảo nguồn vốn của bên góp vốn, bên cho vay hoặc bên tài trợ vốn

+ Rủi ro bất khả kháng Để hạn chế rủi ro này, kiểm tra bảo hiểm đầu tư bảo hiểm xây dựng

- Giai đoạn khi dự án đi vào hoạt động :

+ Rủi ro về cung cấp các yếu tố đầu vào không đầy đủ, không đúng tiến độ Để hạn chế rủi ro này, xem xét hợp đồng cung cấp dài hạn với các công ty cung ứng có uy tín, các nguyên tắc thỏa thuận về giá cả

+ Rủi ro về tài chính, như thiếu vốn kinh doanh Để hạn chế rủi ro này kiểm tra các cam kết đảm bảo nguồn vốn tín dụng tại các cơ quan cấp vốn

+ Rủi ro về quản lý điều hành Để hạn chế rủi ro này, đánh giá năng lực quản lý của doanh nghiệp hiện tại và xem xét hợp đồng thuê quản lý dự phòng

+ Rủi ro bất khả kháng Để hạn chế rủi ro này kiểm tra bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kinh doanh

Hiện nay một số loại rủi ro trên đã được qui định bắt buộc phải có biện pháp xử

lý như: Đấu thầu, bảo hiểm xây dựng, bảo lãnh hợp đồng

Trong thực tế, biện pháp phân tán rủi ro đơn giản và quen thuộc nhất là bảo lãnh của ngân hàng, bảo lãnh của doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và có uy tín

1.3.NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

1.3.1.Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư Đây là hành lang pháp lý định hướng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Với môi trường pháp lý rõ ràng, chặt chẽ

sẽ có tác động tích cực đến quá trình thẩm định và thực hiện dự án Ngược lại, chủ trương chính sách thiếu nhất quán, không đồng bộ, còn nhiều kẽ hở và bất cập, không chặt chẽ trong các văn bản pháp lý, sự quản lý của nhà nước lỏng lẻo sẽ tác động tiêu cực đến chất lượng thẩm định làm công tác thẩm định thiếu căn cứ.Vì khi đó các chủ đầu tư sẽ dựa vào những chỗ sơ hở, thiếu sót của luật định để có những việc làm sai

Trang 29

trái, gây trở ngại trong quá trình thẩm định Mặt khác, độ chính xác thấp cũng tăng mức

độ rủi ro đối với các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp

1.3.2.Môi trường kinh tế- xã hội

Mức độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia chi phối kinh nghiệm, năng lực của chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời quyết định độ tin cậy của các thông tin Do

đó, môi trường kinh tế cũng có ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư Một môi trường kinh tế lành mạnh, ổn định, với các thông tin đầy đủ, chính xác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thẩm định dự án đạt kết quả cao Trái lại, nếu nền kinh tế chưa phát triển, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thiếu đồng bộ cùng với sự bất ổn của yếu

tố kinh tế vĩ mô đã hạn chế trong việc cung cấp thông tin xác thực, dẫn đến phản ánh sai lệch diễn biến, mối quan hệ thị trường về giá cả, cung - cầu, dự báo xu hướng của nền kinh tế ví dụ như vấn đề tốc độ lạm phát Lạm phát gây nên sự thay đổi của giá cả theo thời gian đối với các yếu tố đầu vào lẫn đầu ra của dự án, vì vậy nó làm biến đổi dòng tiền kì vọng và các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính khi thẩm định tài chính dự

án Khi thẩm định dự án người ta phải dự báo các yếu tố tài chính trong một thời gian khá dài (3-10 năm) nên rất khó có thể dự đoán.…nên sẽ gây ra nhiều khó khăn cho công tác thẩm định dự án đầu tư và như vậy cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thẩm định dự án

1.3.3.Tổ chức công tác thẩm định

Thẩm định dự án được tiến hành ở tất cả các giai đoạn của dự án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc dự án Vì vậy, khâu tổ chức, bố trí nhân sự phải luôn luôn sẵn sàng nhất là khi lãnh đạo cần phải đưa ra những quyết định liên quan đến dự án thì cán

bộ thẩm định phải là trợ thủ Tổ chức công tác thẩm định có tốt thì chất lượng thẩm định mới cao Việc tổ chức thẩm định phải được lập kế hoạch trước, phân công nhiệm

vụ cho từng người, từng nhóm Tất cả các khâu, công đoạn của quá trình thẩm định dự

án phải được phối hợp một cách linh hoạt, theo đúng trình tự, chức năng nhiệm vụ Bộ phận kĩ thuật phải luôn đi tiên phong, sau đó mới đến bộ phận tài chính và cuối cùng là

sự đánh giá, tổng hợp của ban lãnh đạo

Việc thẩm định theo một trình tự hợp lý, khoa học, sắp xếp, phân bổ chức năng, nhiệm vụ phù hợp với mỗi bộ phận, mỗi người sẽ tạo động lực phát huy được sức mạnh tổng hợp và rút ngắn được thời gian thẩm định Công tác tổ chức quản lý, điều

Trang 30

26

hành được thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học sẽ khai thác tối đa mọi nguồn lực, tạo

ra tính trội trong toàn hệ thống và qua đó góp phần nâng cao chất lượng thẩm định dự

án đầu tư

1.3.4.Nhận thức và trình độ của đội ngũ cán bộ thẩm định

Trong thẩm định dự án, yếu tố con người vẫn là yếu tố trung tâm, mang tính chất quyết định lớn nhất Nếu nhận thức không đúng thì thẩm định chỉ mang tính hình thức, song nếu quan trọng hóa công tác này thì sẽ mất thời gian, tiền bạc và cơ hội kinh doanh Từ việc nhận thức đúng vai trò của công tác thẩm định, ta mới có thể có chính sách phù hợp về cơ chế tổ chức, nhân sự, trang thiết bị phục vụ tốt cho công tác thẩm định

Trình độ cán bộ thẩm định cũng là một nhân tố quyết định vì thẩm định cũng chính là đưa ra các phán đoán và dự đoán sẽ xảy ra trong tương lai Trước hết, đây phải

là những người có trình độ chuyên môn cao để có thể hiểu được nội dung, phương pháp và cách thức tính toán, phân tích Trình độ chuyên môn sẽ quyết định khả năng thực hiện công việc Cán bộ thẩm định dự án đòi hỏi có sự hiểu biết sâu sắc, toàn diện tất cả những vấn đề kinh tế xã hội, xu hướng phát triển trong tương lai mới có thể tổng hợp được mọi khía cạnh có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến chất lượng thẩm định cả dự án Người thẩm định phải có phương pháp khoa học, cái nhìn tổng quát sáng tạo dựa trên kinh nghiệm sẵn có của bản thân và có cách thức tiếp cận tốt có như vậy, việc thẩm định mới được toàn diện, đúng đắn, chính xác và dựa trên cơ sở khoa học

Đồng thời, cán bộ thẩm định phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình, năng động, trung thực, cẩn thận và khách quan trong nhìn nhận vấn đề Có như vậy, tính đúng đắn, khách quan, chân thực mới được đảm bảo trong thẩm định và loại bỏ được những yếu tố giảm tính, tùy tiện có thể đưa ra nhưng quyết định không đúng đắn

1.3.5.Trang thiết bị, công nghệ

Đây là nhân tố ảnh hưởng tới thời gian và độ chính xác của kết quả thẩm định

dự án Với trang thiết bị hiện đại, việc thu thập xử lý các thông tin sẽ được tiến hành một cách nhanh chóng và chính xác, các cơ hội đầu tư sẽ được nắm bắt kịp thời Để có được nguồn thông tin đầy đủ, đáng tin cậy cần có sự hỗ trợ của trang thiết bị công nghệ hiện đại được kết nối với những cơ sở dữ liệu lớn Trước đây, khi chưa có hệ thống trang thiết bị, công nghệ hiện đại để có thể tìm kiếm nguồn thông tin phục vụ cho công tác thẩm đinh dự án, các cán bộ có thể rất khó tìm kiếm được các nguồn thông tin tin

Trang 31

cậy hoặc mất nhiều thời gian, chi phí cho công việc này Nhưng ngày nay, với sự hỗ trợ của kĩ thuật, công nghệ, cán bộ thẩm định có thể nhanh chóng và dễ dàng truy cập vào các cơ sở dữ liệu khổng lồ để lựa chọn được các thông tin thích hợp

Ngoài ra, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại được trang bị những phần mềm chuyên dụng còn giúp cho các cán bộ thẩm định xử lý được một khối lượng thông tin lớn, tính toán, dự báo nhanh được nhiều phương án, giảm được các rủi ro phát sinh qua công đoạn xử lý Qua đó chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ được cải thiện đáng kể

1.3.6.Cách thức thu thập và xử lý thông tin

Thông tin là cơ sở cho những phân tích đánh giá, là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định Nếu thông tin trong hồ sơ dự án thiếu hoặc không rõ ràng, cán bộ thẩm định có quyền yêu cầu những người lập dự án cung cấp thêm hoặc giải trình thường xuyên trong quá trình thực hiện dự án Tuy nhiên, việc thẩm định dự

án nói chung, thẩm định tài chính dự án nói riêng là việc kiểm tra độ tin cậy và bổ sung những thông tin cần thiết vào hồ sơ dự án để đưa ra một bức tranh đầy đủ và thống nhất

về tính khả thi của dự án Cán bộ thẩm định không chỉ trông chờ vào những thông tin của dự án mà phải khai thác, tận dụng các nguồn thông tin cậy khác như nghiên cứu báo chí, các nghiệp vụ kiểm tra riêng

Thông tin đầy đủ, toàn diện, chính xác, cập nhật là một nhân tố quan trọng đảm bảo chất lượng công tác thẩm định dự án nói chung, tài chính nói riêng Nhưng đây cũng là yếu tố rất bức xúc hiện nay ở các tổ chức, doanh nghiệp ở nước ta do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như môi trường pháp lý, trình độ kỹ thuật công nghệ, trình độ phát triển của thị trường, nhận thức của con người

Do vậy, việc xây dựng hệ thống thông tin chính xác toàn diện luôn được đặt ra như một nhu cầu cấp thiết đối với công tác thẩm định dự án đầu tư

1.3.7.Quy trình và nội dung thẩm định

Quy trình và nội dung thẩm định dự án đầu tư là vấn đề hết sức quan trọng đối với việc thẩm định dự án vì chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau Quy trình thẩm định phải tuân thủ theo những quy định chung có tính chất pháp lý, là cơ sở để việc thẩm định nội dung có hiệu quả, cho kết quả đáng tin cậy Mặt khác, các dự án đầu tư không giống nhau tùy theo quy mô, tính chất phức tạp, độ quan trọng của dự án hay

Trang 32

đó độ tin cậy không cao Chẳng hạn, việc sử dụng chỉ tiêu NPV để lựa chọn phương án đầu tư thường cho kết luận đúng trong trường hợp ngân sách (nguồn vốn huy động) không bị hạn chế bởi vì phương án được chọn là phương án cho NPV cao nhất ứng với mỗi tỷ suất chiết khấu cho trước Song nếu chúng ta sử dụng chỉ tiêu khác như IRR thì đôi khi cho kết quả không thỏa đáng Tuy nhiên, các dự án có mức vốn đầu tư khác nhau được đánh giá theo chỉ tiêu NPV có thể không chính xác vì dự án nhỏ có thể có NPV nhỏ hơn nhưng nếu xét lượng tương quan cân đối với dự án lớn đặc biệt trong điều kiện giới hạn ngân sách thì lại có thể là hiệu quả hơn Mặt khác, nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu IRR để so sánh, lựa chọn dự án thì có thể sẽ dẫn đến các quyết định không chính xác khi các dự án là loại trừ nhau Dự án có IRR cao nhưng quy mô nhỏ do đó NPV nhỏ và ngược lại dự án có IRR nhỏ hơn nhưng quy mô lớn hơn nên NPV cao hơn Việc lựa chọn phương án có IRR cao nhất có thể đã bỏ qua mội cơ hội thu NPV lớn

Trang 33

CHƯƠNG 2

TÌNH HÌNH THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ VIỄN THÔNG

di động, nhắn tin và điện thoại dùng thẻ toàn quốc, cùng với các đơn vị thành viên khác trong dây chuyền công nghệ bưu chính viễn thông liên hoàn, thống nhất, có mối liên hệ mật thiết với nhau về tổ chức mạng lưới, lợi ích kinh tế, tài chính, phát triển dịch vụ bưu chính viễn thông, để thực hiện những mục tiêu, kế hoạch nhà nước do Tổng công

ty giao Ngày 9/8/2006, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam đã có quyết định chính thức đổi tên gọi tắt GPC của Công ty dịch vụ Viễn thông thành Công ty Vinaphone Công ty Vinaphone có trụ sở chính tại 57A Huỳnh Thúc Kháng- Đống Đa-

Trang 34

30

công của Vinaphone đó là chiến lược đầu tư Không chỉ tập trung đầu tư lớn vào các thành phố, thị xã trọng yếu và các vùng kinh tế, khu công nghiệp, Công ty Vinaphone xác định việc đầu tư nhanh và phủ sóng rộng toàn quốc là mục tiêu hàng đầu Sau dự

án đầu tiên được triển khai năm 1996, Vinaphone mới chỉ phủ sóng được 18 tỉnh, thành phố Đến năm 1999, Vinaphone đã phủ sóng được 100% tỉnh, thành phố, thực hiện được phủ sóng toàn quốc dẫn đầu các mạng di động trong nước Thực hiện chiến lược

mở rộng vùng phủ sóng, Vinaphone không chỉ hướng tới việc tăng cường phục vụ khách hàng mà còn khẳng định mục tiêu vừa kinh doanh vừa phục vụ, đặc biệt là phục

vụ sự chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp, phục vụ an ninh quốc phòng và phòng chống thiên tai

Năm 2007, Vinaphone có những bước phát triển nhanh, mạnh mang tính đột phá Vinaphone đã thực hiện đầu tư, lắp đặt thêm trên 3000 trạm BTS Về mạng lõi, Vinaphone có 18 tổng đài (MSC) với tổng dung lượng 7.200K Vinaphone là mạng điện thoại di động có hệ thống nhắn tin SMS lớn nhất Việt Nam, có khả năng đáp ứng

7 triệu SMS/giờ.Và cũng là mạng thông tin di động có phạm vi chuyển vùng quốc tế lớn nhất với khoảng 180 nhà khai thác (phục vụ gần 2 tỉ thuê bao) thuộc 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên khắp các châu lục Cũng trong năm này, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam chính thức khai chương dịch vụ điện thoại vô tuyến cố định (Gphone) trên cơ sở mạng GMS của Vinphone, một dịch vụ mới, mang lại lợi ích cho khách hàng, nhất là khách hàng ở vùng sâu, vùng xa, góp phần phát triển kinh tế xã hôi địa phương Vinaphone phối hợp với Sacombank chính thức ra mắt một dịch vụ mới nữa- Dịch vụ Easy-Topup, cho phép các thuê bao di động trả trước của Vinaphone có tài khoản thẻ tín dụng tại Sacombank có thể nạp tiền trực tiếp vào tài khoản điện thoại di động thông qua tin nhắn SMS gửi đến số 777 Đây là lần đầu tiên một mạng di động tại Việt Nam và một Ngân hàng thực hiện kết nối thành công giữa tài khoản cá nhân của khách hàng tại ngân hàng với tài khoản trả trước của khách hàng trên mạng điện thoại

di động Điều này thể hiện cam kết của Vinaphone trong lĩnh vực thương mại điện tử

và là bước đột phá quan trọng cho các ứng dụng MobileBanking khác trong tương lai

Năm 2008 mạng vô tuyến được mở rộng dung lượng gần gấp đôi, các thiết bị mạng lõi như HLR, IN, tổng đài cũng được đầu tư mở rộng dung lượng với quy mô lớn

để kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển thuê bao Do vậy mà đến năm 2009, quy mô mạng lưới đã phát triển gần như gấp hai lần so với năm 2008, từ 7.000 BTS lên đến

Trang 35

hơn 13.000 trạm BTS Công tác quản lý bảo dưỡng, nâng cao chất lượng mạng cũng được các đơn vị trong Công ty chú ý thực hiện theo kế hoạch, nên trong năm 2009 mặc

dù quy mô mạng lưới ngày càng lớn, lưu lượng và sản lượng ngày càng tăng, số lần mất liên lạc đã giảm nhiều, các trường hợp xảy ra sự cố lớn, thời gian mất liên lạc kéo dài giảm đáng kể Đặc biệt, VinaPhone là mạng duy nhất duy trì liên lạc cứu bão trong đợt bão số 9 tại các tỉnh miền Trung, đã được Nhà nước và người dân miền Trung khen ngợi

Với nỗ lực phát triển lớn về quy mô, năng lực hệ thống và phạm vi phủ sóng, Vinaphone đã tập trung toàn bộ nguồn lực phát triển mạng 3G, VinaPhone chính thức đưa dịch vụ 3G đi vào hoạt động và đã trở thành nhà khai thác đầu tiên khai trương mạng 3G tại Việt Nam Quyết giữ vững danh hiệu “Mạng di động có dịch vụ phi thoại tốt nhất”, cùng với việc triển khai mạng lưới 3G, VinaPhone cung cấp cho khách hàng

6 dịch vụ mới.[12]

Ngày 17/11/2009, Vinaphone chính thức gia nhập Liên minh di động lớn nhất

Châu á CONEXUS, đánh dấu bước phát triển mới của Viễn thông Việt Nam nói chung

và Vinaphone nói riêng, khi lần đầu tiên một mạng di động của Việt Nam tham gia vào liên minh di động hàng đầu trong khu vực Với hơn 27 triệu khách hàng, Vinaphone là một trong những nhà khai thác mạng di động lớn nhất khu vực Châu á- Thái Bình Dương [13]

Trong năm 2010, Ban lãnh đạo Công ty VinaPhone đã tập trung chỉ đạo tiếp tục đầu tư phát triển mạng lưới, nâng cao chất lượng Chăm sóc khách hàng, để giữ vị trí tiên phong phát triển dịch vụ, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đề ra: hơn 27.000 tỷ doanh thu và tối thiểu phát triển thực 5 triệu thuê bao

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy các phòng ban của Công ty Vinaphone

2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty

Công ty Vinaphone được tổ chức và hoạt động nhằm thực hiện các chức năng sau:

 Tổ chức, xây dựng, quản lý, bảo dưỡng và vận hành khai thác mạng lưới, dịch

vụ viễn thông (bao gồm các mạng: thông tin di động, nhắn tin và điện thoại dùng thẻ toàn quốc) trong phạm vi cả nước để kinh doanh và phục vụ theo quy hoạch, kế hoạch

và phương hướng phát triển do Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam giao;

Trang 36

2.1.2.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức các phòng ban trong Công ty

Với những chức năng như trên, cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý bao gồm:

Trang 37

Giám đốc Công ty

Phó Giám đốc điện thoại thẻ

Phó Giám đốc

điện thoại di động

Phó Giám đốc kinh doanh

Phó Giám đốc xây dựng cơ bản

Tổng hợp, Công đoàn, Đảng uỷ

Phòng KTTK -TC

TT

Phòng KH-

VT

Phòng

QL KTNV

Phòng KHC N&PT

vụ khách hàng

Trung tâm Dịch vụ Viễn thông Khu vực I

Trung tâm Dịch

vụ Viễn thông Khu vực III

Trung tâm Phát triển dịch

vụ

Trung tâm Dịch vụ Viễn thông Khu vực II

Phòng TĐ-

KT

Trung tâm Phát triển CSHT & Inbuilding Vinaphone

Nguồn: Phòng Tổ chức Cán bộ- Lao động Công ty Vinaphone năm 2009 Hình 2.1 Bộ máy tổ chức của Công ty Vinaphone

- Phó giám đốc giúp giám đốc quản lý, điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của đơn vị theo sự phân công của giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc và

Trang 38

34

pháp luật về nhiệm vụ được phân công Các phó giám đốc phụ trách các lĩnh vực: Phó giám đốc kinh doanh, Phó giám đốc kỹ thuật và thông tin di động, Phó giám đốc điện thoại thẻ, Phó giám đốc đầu tư và xây dựng cơ bản

2 Khối chức năng văn phòng của Công ty

- Phòng tổ chức cán bộ- lao động (TCCB-LĐ): là phòng chuyên môn nghiệp vụ của Công ty có chức năng tham mưu giúp Giám đốc trong việc chỉ đạo điều hành công tác tổ chức, cán bộ, lao động, tiền lương, thanh tra, pháp chế, thi đua, truyền thống của Công ty Vinaphone và kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức khai thác thực hiện ở các đơn vị thuộc Công ty

- Phòng hành chính quản trị (HCQT): nghiên cứu, xây dựng, hướng dẫn công tác hành chính quản trị, đời sống, và công tác bảo vệ tự vệ chung của toàn công ty, trực tiếp làm công tác hành chính, quản trị, bảo vệ, tự vệ của khối văn phòng Công ty

- Phòng kế toán thống kê tài chính (KT-TK-TC): là phòng chuyên môn nghiệp vụ của Công ty có chức năng tham mưu giúp Giám đốc trong việc chỉ đạo điều hành toàn

bộ công tác tài chính, kế toán thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế của Công

- Phòng khoa học công nghệ và phát triển mạng (KHCN&PTM): tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác khoa học công nghệ, phát triển mạng và đối ngoại của Công ty

- Phòng kế hoạch vật tư (KH-VT): là phòng chuyên môn nghiệp vụ của Công ty

có chức năng tham mưu giúp Giám đốc trong việc tổ chức chỉ đạo, thực hiện việc quản

lý, xây dựng công tác kế hoạch định mực kinh tế kỹ thuật, cân đối phân bổ và sử dụng các nguồn vốn cho các đơn vị trong công ty, quản lý và triển khai các công trình xây dựng cơ bản

- Phòng thi đua- khen thưởng (TĐ-KT): xây dựng các qui chế, tiêu chuẩn thi đua theo qui định, hướng dẫn của tập đoàn Tổ chức xét chọn danh hiệu cho các cá nhân và tập thể theo tiêu chuẩn và phân cấp của tập đoàn, Công ty thực hiện công tác lịch sử truyền thống của công ty

Trang 39

- Trạm y tế là một đơn vị y tế cơ sở đồng thời là đơn vị chức năng của Công ty, có nhiệm vụ đảm bảo, quản lý và chăm sóc sức khỏe tại chỗ cho cán bộ công nhân viên công ty khu vực Hà Nội và tham mưu cho Giám đốc Công ty về các mặt công tác y tế trong toàn Công ty

3 Các trung tâm và Ban

Hiện nay Vinaphone có một Ban và 7 trung tâm như sau:

- Ban Triển khai dự án VNP: là đơn vị sự nghiệp kinh tế trực thuộc Công ty Vinaphone, gồm có 3 phòng chức năng là Phòng kế toán, phòng TKDA và phòng CSHT Ban Triển khai dự án VNP có nhiệm vụ chính là lập kế hoạch đầu tư phát triển mạng lưới cũng như dịch vụ của Công ty, đồng thời giám sát các hoạt động xây dựng

cơ bản

- Trung tâm dịch vụ khách hàng: là đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc Công ty Vinaphone có chức năng giúp Giám đốc Công ty xây dựng kế hoạch phát triển, triển khai, quản lý và kinh doanh các dịch vụ gia tăng của Vinaphone

- Trung tâm điều hành thông tin (OMC): là đơn vị sản xuất trực thuộc Công ty Vinaphone có chức năng giúp Giám đốc Công ty có chức năng điều hành, khai thác, bảo dưỡng và xử lý sự cố hệ thống thông tin của hai mạng: di động Vinaphone và điện thoại dùng thể theo qui định của Công ty và Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

- Trung tâm Phát triển cơ sở hạ tầng & Inbuilding Vinaphone: là đơn vị sản xuất trực thuộc Công ty Vinaphone có chức năng giúp Giám đốc Công ty trong việc phối hợp cùng với VNP1,VNP2,VNP3 thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ lắp đặt thiết bị vô tuyến và phủ sóng Inbuilding mạng VNP

- Trung tâm dịch vụ viễn thông khu vực I, II, III (Vinaphone I, Vinaphone II, Vinaphone III) : có nhiệm vụ tổ chức quản lý, bảo dưỡng và vận hành khai thác mạng lưới dịch vụ Viễn thông tại các tỉnh thành thuộc khu vực trung tâm quản lý để kinh doanh phục vụ theo kế hoạch và nhiệm vụ Công ty giao; lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị chuyên ngành thông tin di động, nhắn tin, điện thoại thẻ; kinh doanh các ngành nghề khác được phép và phù hợp với qui định Hiện tại, trung tâm I có trụ sở tại

Hà Nôi quản lý các tỉnh thành phố khu vực miền Bắc từ Hà Tĩnh trở ra, Trung tâm II

có trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh quản lý các tỉnh thành phố khu vực miền Nam từ Ninh Thuận trở vào, Trung tâm III có trụ sở chính tại Đà Nẵng quản lý khu

Trang 40

Từ khi thành lập đến nay, công ty Vinaphone ngày càng khẳng định được vị thế

và vai trò của mình trong thị trường thông tin di động Việt Nam Trong 3 năm 2009) với hơn 1 tỷ đô la vốn đầu tư, Công ty đã tập trung toàn bộ nguồn lực phát triển

(2007-mở rộng mạng lưới, các thiết bị mạng lõi như HLR, IN, tổng đài được đầu tư (2007-mở rộng với dung lượng lớn phục vụ phát triển thuê bao Tính đến cuối năm 2009, mạng Vinaphone có quy mô tổng thể: 38 MSC (trong đó 30 tổng đài 2G và 8 tổng đài 3G);

222 BSC; 13.031 trạm BTS Đặc biệt trong năm 2009 đã hòa mạng mới được 5.158 BTS (cả 2G và 3G) Số lượng trạm BTS phát triển năm 2009 bằng ¾ tổng số trạm BTS phát triển trong 13 năm (1996 đến 2008) cộng lại thể hiện qua kết quả kinh doanh của các năm như sau:

Để đánh giá thị phần của công ty trong lĩnh vực thông tin di động, người ta thường dựa vào chỉ tiêu số thuê bao của công ty trong tổng số thuê bao trong cả nước Chỉ số thuê bao của công ty là một chỉ tiêu quan trọng vì qua đó nó phản ánh được khả năng chiếm lĩnh thị trường của Công ty

Ngày đăng: 18/09/2020, 00:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w