Theo một số tác giả, “NSNN là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn tài chính được huy động cho nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó, nhằm bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ củ
Trang 2CAO THỊ THU HƯƠNG
QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC Ở VIỆT NAM
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế - Chính trị tại Khoa Kinh tế – Đại học Quốc Gia
Hà Nội, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, giúp
đỡ tận tình, những ý kiến đóng góp quí giá của các Thầy, Cô, Gia đình và đồng nghiệp Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới :
- Thầy giáo hướng dẫn – TS Vũ Văn Hà, Phó Tổng biên tập Báo điện tử - Đảng Cộng sản Việt Nam
- Các Thầy, cô giáo và cán bộ quản lý Khoa Kinh tế - Đại học Quốc gia
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2006
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5DANH MỤC PHỤ LỤC
SỐ PHỤ LỤC TÊN PHỤ LỤC
từ
Trang 6MỤC LỤC
Trang
1.2 Kinh nghiệm quản lý thu NSNN ở một số nước trên thế giới 26
1.2.2 Kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp
1.2.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
29
34
2.1 Quản lý thu NSNN ở Việt Nam trước khi có Luật NSNN 38
2.2 Quản lý thu NSNN sau khi có Luật NSNN năm 1996 43
2.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu NSNN ở Việt Nam 54
Trang 7CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU NSNN Ở VIỆT NAM 83
3.1 Mục tiêu và những thách thức đặt ra cho công tác quản lý thu
NSNN giai đoạn 2006-2010 và đến năm 2020
83
3.1.2 Những thách thức đặt ra cho nguồn thu của NSNN trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế
84
3.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý thu NSNN 86
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu NSNN ở Việt Nam 87
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Ngân sách Nhà nước (NSNN) đã trở thành công cụ tài chính rất quan trọng, góp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế-xã hội Thu NSNN không chỉ đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà còn
là công cụ hữu hiệu để điều tiết, điều chỉnh nền kinh tế Những năm gần đây, thu NSNN hàng năm liên tục gia tăng, chiếm trên 20% GDP Thu NSNN liên quan đến rất nhiều ngành, lĩnh vực, đối tượng khác nhau
Với vị trí, vai trò quan trọng như vậy nên thời gian qua, lĩnh vực quản lý thu NSNN đã được chú trọng: Luật NSNN ban hành năm 1996 (có hiệu lực từ 1/1/1997); Luật NSNN sửa đổi năm 1998, Luật NSNN sửa đổi năm 2002 (có hiệu lực 1/1/2004) và các văn bản dưới luật đã góp phần đổi mới cơ chế quản lý NSNN cũng như cơ chế thu NSNN, góp phần xây dựng và hoàn thiện bộ máy cơ quan thu thống nhất từ trung ương (TW) đến địa phương (cơ quan Tài chính, Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước (KBNN) ), góp phần đổi mới quy trình thu, phương thức quản lý thu NSNN Nhờ đó, công tác quản lý thu NSNN đã đạt được những kết quả nhất định: số thu được tập trung đầy đủ và nhanh chóng vào NSNN và được quản lý ngày một chặt chẽ, thống nhất, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp, góp phần ổn định và phát triển kinh tế của cả nước Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, NSNN còn bội chi, yêu cầu của thu NSNN là: đảm bảo tập trung nguồn thu, thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, tăng cường bồi dưỡng nguồn thu vẫn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo đảm đủ nguồn lực, phục vụ tốt các nhiệm vụ chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
Mục tiêu cụ thể của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn 2006 – 2010 được xác định trong Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần
Trang 9thứ X, và được cụ thể hoá trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết
Đại hội X của Bộ Tài chính là “kết quả thu NSNN giai đoạn 2006-2010 đạt
tổng thu khoảng 1.500 nghìn tỷ đồng (tăng 90% so với giai đoạn 2001 - 2005),
tỷ lệ huy động bình quân vào NSNN khoảng 21 - 22% GDP, trong đó động
viên từ thuế, phí là 20- 21% GDP” Để đạt được mục tiêu đó, việc huy động
các nguồn lực đảm bảo nhu cầu nguồn vốn cho phát triển có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Và đáng chú ý là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997, nguồn vốn đầu tư nước ngoài không ổn định và luôn trong tình trạng cạnh tranh quyết liệt, cho nên việc gia tăng huy động nguồn vốn trong nước, trong đó đầu
tư từ NSNN là bộ phận quan trọng nhất, chiếm tỷ lệ cao nhất, có tầm quan trọng sống còn
Hiện nay, công tác quản lý thu NSNN vẫn còn nhiều hạn chế như: chính sách chế độ chưa đồng bộ, qui trình lập dự toán còn cồng kềnh, tổ chức thu còn
do nhiều cơ quan thực hiện; quản lý thu còn thiếu thống nhất; các phương thức thu còn nghèo nàn, chưa khai thác tốt những thành tựu công nghệ thông tin vào quản lý thu nên còn gây khó khăn cho người nộp Những bất cập này đã tác động không nhỏ đến việc thu và quản lý nguồn thu NSNN trong những năm vừa qua
Điều rõ ràng là, từ yêu cầu gia tăng nguồn thu, trước yêu cầu của phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, để khắc phục những hạn chế trên đây đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để tiếp tục đổi mới công tác quản lý thu NSNN của chúng ta
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề "Quản lý thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu của Luận văn Thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 10Từ khi Luật NSNN (1996) được ban hành, công tác quản lý thu NSNN được chuyển đổi theo Luật NSNN (1996), đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý thu NSNN Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan như:
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tập trung, quản lý các khoản thu NSNN và kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành của TS.Nguyễn
Thanh Dương, Kho bạc Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành tháng 3 năm 2001 Đề tài đã đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp nhằm hướng đến hoàn thiện cơ chế quản lý quĩ NSNN trên địa bàn và quĩ NSNN nói chung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn Tuy nhiên, năm 2002 Việt Nam đã thông qua Luật Ngân sách sửa đổi, nên rất cần có những nghiên cứu khảo sát thực tế kịp thời, làm cơ sở cho những điều chỉnh, định hướng trong xây dựng chính sách và chỉ đạo điều hành thực tiễn
- Hoàn thiện quản lý thu NSNN qua KBNN trên địa bàn thành phố Hà Nội – Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Đặng Văn Hiền - năm 2004 Luận văn đã
làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp để quản lý tốt nguồn thu NSNN trên địa bàn thành phố Hà Nội Tuy nhiên, đề tài cũng mới chỉ khảo sát trên địa bàn Hà Nội, chưa có phân tích, đánh giá một cách tổng thể trên bình diện cả nước, chưa có sự so sánh cần thiết giữa các địa phương, khu vực để rút ra những đặc điểm chung làm cơ sở đề xuất các giải pháp toàn diện
- Vận dụng phương thức Lập ngân sách theo kết quả đầu ra trong quản
lý, chi tiêu công của Việt nam, Sách chuyên khảo của TS.Sử Đình Thành –
Khoa Tài chính Nhà nước, Đại học Kinh tế T.P Hồ Chí Minh- Nhà xuất bản Tài chính ấn hành 2005 Cuốn sách đã cung cấp nhiều thông tin qua các giai đoạn về quá trình quản lý, lập ngân sách và giới thiệu phương thức lập ngân sách theo kết quả đầu ra tại Việt nam Tuy nhiên chưa đề cập một cách chuyên sâu riêng đối với lĩnh vực thu NSNN
Trang 11- Công trình: Trao đổi thêm về qui trình thu NSNN bằng tiền mặt của tác giả Nguyễn Thanh Hiếu – Tạp chí Quản lý Ngân quĩ Quốc gia, số 17, tháng
11/2003 Bài viết đã đề cập đến phần thu bằng tiền mặt - một phần quan trọng
về nghiệp vụ thu NSNN qua KBNN Song các nghiệp vụ thu qua chuyển khoản, thu qua cơ quan thu còn chưa được đề cập tới
- Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp thu NSNN giữa các cơ quan Thuế – Hải quan- Kho bạc Nhà nước – Nguyễn Hữu Hiệp – Tạp chí quản lý Ngân quĩ Quốc gia, số 33 tháng 3/2005 Bài viết đã đề cập đến việc phối hợp
công tác thu NSNN giữa các cơ quan thu với KBNN Tuy nhiên những vấn đề
về phối hợp ở mức cao hơn như qua mạng diện rộng, hợp nhất kế toán thu NSNN, cũng chưa được đề cập có hệ thống
Tóm lại: Phần lớn các công trình nghiên cứu và các bài viết trên đều tập
trung làm rõ quản lý NSNN nói chung và tại một số địa phương hoặc đề cập đến một phần của công tác quản lý thu NSNN Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về quản lý thu NSNN ở Việt Nam Vì
lý do đó tác giả đã lựa chọn đề tài trên với hy vọng có cái nhìn xác thực, hệ thống trên bình diện cả nước về công tác quản lý thu NSNN ở Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích: Tìm những giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý thu nhằm nâng
cao hiệu quả công tác quản lý thu NSNN ở Việt Nam, góp phần thu đúng, thu
đủ, thu kịp thời các khoản thu vào NSNN, đồng thời tăng cường bồi dưỡng nguồn thu cho NSNN để phục vụ cho các nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh
tế – xã hội của đất nước
Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích nói trên, các nhiệm vụ cần thực hiện
là: - Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về quản lý thu NSNN
- Đánh giá thực trạng quản lý thu NSNN ở Việt Nam thời gian qua
Trang 12- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý thu NSNN ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn quản lý thu NSNN
ở Việt Nam Trong khi nghiên cứu, phân tích, luận văn sẽ khảo sát trên bình diện quốc gia và có phân tích sâu ở một số lĩnh vực như theo sắc thuế, khu vực kinh tế, địa phương và so sánh với quản lý thu NSNN ở một số quốc gia trên thế giới Trong các nguồn thu của NSNN, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu nguồn thu từ thuế và phân tích sâu vai trò của KBNN trong công tác quản
lý thu NSNN ở Việt Nam Đánh giá thực trạng thu NSNN ở Việt Nam trong những năm gần đây Về thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn gần mười năm trở lại đây- từ khi có Luật NSNN, tất nhiên để có cái nhìn chiều sâu, trong khi phân tích tác giả sẽ so sánh với các giai đoạn trước
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử và các phương pháp như: thống kê, tổng hợp, phân tích kinh tế nhằm tìm ra những căn cứ, số liệu minh hoạ cho các luận điểm, đồng thời góp phần dự đoán cho giai đoạn tiếp theo Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp phân kỳ, so sánh nhằm tìm ra những nét đặc thù của các giai đoạn khác nhau
6 Những đóng góp của luận văn
Thứ nhất: Hệ thống hoá và làm rõ thêm những vấn đề chung như khái
niệm, đặc điểm và vai trò của thu NSNN, các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thu NSNN
Trang 13Thứ hai: Nghiên cứu, phân tích, đánh giá có hệ thống thực trạng công
tác quản lý thu NSNN ở Việt Nam và chỉ rõ nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thu NSNN của nước ta thời gian qua
Thứ ba: Đề xuất được các giải pháp có tính khả thi, tiếp tục đổi mới
công tác quản lý thu NSNN ở Việt Nam tập trung vào 4 nhóm cơ bản là: Các giải pháp về cơ chế chính sách; giải pháp về qui trình thủ tục nghiệp vụ; giải pháp về tổ chức, quản lý và một số giải pháp hỗ trợ
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý thu NSNN
Chương 2: Thực trạng quản lý thu NSNN ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thu NSNN ở Việt nam
Trang 14Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU NSNN
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu NSNN
1.1.1 Ngân sách nhà nước
1.1.1.1.Khái niệm ngân sách nhà nước
NSNN là phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN
Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để duy trì và phát triển xã hội Để thực hiện chức năng đó, Nhà nước phải có nguồn lực tài chính Bằng quyền lực công cộng, Nhà nước đã ấn định các thứ thuế, bắt công dân phải đóng góp để chi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát
Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của Nhà nước và chi tiêu của Nhà vua không có sự tách biệt nhau Khi giai cấp tư sản ra đời, sự lớn mạnh về kinh tế của giai cấp này đòi hỏi phải phá bỏ cát cứ phong kiến, mở rộng thị trường và lưu thông hàng hoá tự do Giai cấp tư sản gây áp lực về kinh tế, tài chính đối với Nhà vua, từng bước tham gia và khống chế Nghị viện Giai cấp tư sản đấu tranh đòi Nhà vua không được quyền quyết định thu thuế mà phải do Nghị viện quyết định Sau đó, cuộc đấu tranh chuyển sang đòi tách chi tiêu của Nhà vua
ra khỏi chi tiêu của Nhà nước và toàn bộ chi tiêu của Nhà nước phải do Nghị viện quyết định Tất nhiên, Nhà vua không dễ dàng chấp nhận, nhưng với thế lực đang lên và ngày càng lớn mạnh, nhất là khi đã khống chế Nghị viện, giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi Tuy nhiên, thu của Nhà nước và chi tiêu của Nhà nước vẫn là hai mảng riêng biệt Giai cấp tư sản tiếp tục cuộc đấu
Trang 15tranh đòi hỏi thống nhất thu nhập và chi tiêu của Nhà nước vào một và NSNN
đã ra đời
NSNN chỉ các khoản thu nhập và các khoản chi tiêu của Nhà nước được thể chế hoá bằng pháp luật Quốc hội thực hiện quyền lập pháp về NSNN, còn quyền hành pháp giao cho Chính phủ thực hiện [12]
NSNN đã có quá trình ra đời và hình thành suốt từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII Cho đến nay, các Nhà nước khác nhau đều tạo lập và sử dụng NSNN, thuật ngữ NSNN được sử dụng khá phổ biến ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, khái niệm NSNN chưa thống nhất và NSNN được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau: pháp lý, kinh tế, xã hội
Một số nhà kinh tế Anh cho rằng: NSNN là kế hoạch chi tiêu và tài trợ
của chính phủ: "Ngân sách là bản tường trình các kế hoạch chi tiêu và tài trợ
của chính phủ" [17, tr.55]
Theo Từ điển thuật ngữ Tài chính - tín dụng: "NSNN là dự toán và thực
hiện các khoản thu chi bằng tiền của nhà nước trong khoảng thời gian (thường
là một năm)"
Theo một số tác giả, “NSNN là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn
tài chính được huy động cho nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó, nhằm bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước do Hiến pháp quy định" [36, tr 32]
Theo Luật NSNN năm 1996 và Luật NSNN sửa đổi năm 2002 của Việt
Nam, tại Điều 1 quy định: "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước
trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" [ 25]
Tóm lại : NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài
chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà
Trang 16nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu
1.1.1.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước
NSNN là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia NSNN bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính của quốc gia Có thể kể ra các quan hệ đó là:
Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với dân cư, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (đặc biệt là với doanh nghiệp nhà nước), các tổ chức xã hội, các Nhà nước khác và với các tổ chức quốc tế Đồng thời bao gồm cả quan hệ tài chính giữa Nhà nước với tư cách là bên tham gia hình thành quỹ công như quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ đầu tư
Các quan hệ tài chính thuộc NSNN có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN gắn với quyền lực của Nhà
nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước Nhà nước quyết định mức thu chi, nội dung và cơ cấu thu chi NSNN
Thứ hai, hoạt động thu chi NSNN được thực hiện trên cơ sở những luật
lệ do Nhà nước quy định Nhà nước thống nhất quản lý và sử dụng cho nhu cầu chung của cả nước
Thứ ba, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, luôn chứa đựng lợi
ích chung, lợi ích công cộng Hoạt động thu chi NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nước, là việc xử lý các quan hệ lợi ích trong
xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia Lợi ích của Nhà nước (lợi ích chung của quốc gia) thể hiện cả trong phân phối thu nhập của doanh nghiệp, của dân cư, phân phối GDP, GNP và cả trong phân bổ các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của quốc gia
Trang 17Thứ tư, NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác Nét
riêng biệt của NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước là
nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng và chỉ sau đó NSNN mới được chi dùng cho những mục đích nhất định, đã định trước
Nghiên cứu những đặc điểm của NSNN giúp ta tìm được phương thức và phương pháp quản lý NSNN một cách có hiệu quả
1.1.2 Thu ngân sách nhà nước
1.1.2.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nước
Thu NSNN là một trong hai nội dung hoạt động cơ bản của NSNN (Thu
và Chi) Đó là quá trình Nhà nước sử dụng các quyền lực có được của mình để động viên, phân phối một bộ phận của cải của xã hội dưới dạng tiền tệ về tay Nhà nước, hình thành nên quỹ NSNN
Qua định nghĩa trên cho thấy:
Thứ nhất, thu NSNN là quá trình của nhiều hành vi, hành động kế tiếp
nhau của Nhà nước Thật vậy, hoạt động thu NSNN thực chất là bao gồm rất nhiều hành vi, hành động khác nhau của Nhà nước và có thể khái quát chúng thành ba nhóm đó là: Nhà nước đề ra các chủ trương, phương hướng, mục tiêu về thu NSNN cho một khoảng thời gian hay một chu kỳ nào đó; Nhà nước ban hành các chính sách, chế độ về thu NSNN: Ban hành các Luật, Pháp lệnh Nghị định về thu thuế, phí, lệ phí và Nhà nước tổ chức cơ chế hành thu: Tổ chức các cơ chế thu các khoản thu cụ thể cho NSNN
Thứ hai, thu NSNN được dựa trên các quyền lực vốn có của Nhà nước
Nhà nước có rất nhiều quyền lực (sức mạnh), như: Quyền lực chính trị, quyền lực quân sự, quyền lực kinh tế, quyền lực tôn giáo và chúng đều là cơ sở, chỗ dựa cho hoạt động thu NSNN
Thứ ba, thu NSNN được thực hiện dưới dạng tiền tệ Đó là một bộ phận
của cải vật chất của xã hội được huy động về tay Nhà nước nhưng khi được ghi thu NSNN là phải dưới dạng tiền tệ
Trang 181.1.2.2 Đặc điểm của thu ngân sách nhà nước
Thu NSNN có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, thu NSNN phản ánh các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong
quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội Sự phân chia đó là một tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
Thứ hai, thu NSNN có phạm vi rộng, liên quan đến hầu hết các đối tượng
trong xã hội Thực chất của thu NSNN là lấy về cho Nhà nước một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội Do đó, các tổ chức, cá nhân có thu nhập đều là đối tượng của hoạt động thu NSNN
Thứ ba, thu NSNN được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau
Thực vậy, trong thu NSNN có nhiều phương thức được áp dụng như : Tự nguyện - Bắt buộc ; Ngang giá - Không ngang giá; Có đối khoản - Không có đối khoản trực tiếp; Kinh tế - Phi kinh tế Trong đó: bắt buộc, không ngang giá, không có đối khoản trực tiếp, phi kinh tế là rất phổ biến
Thứ tư, thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các
phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập Sự vận động của các phạm trù
đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN
1.1.2.3 Nội dung thu ngân sách nhà nước
Nguồn thu của NSNN là tất cả các nguồn tài chính hình thành trong quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng cả trong và ngoài nước có khả năng động viên vào NSNN để hình thành quỹ NSNN Vấn đề quan trọng khi bàn đến thu NSNN là cần phải xác định đúng đắn nguồn thu Điều đó cho phép xây dựng được chế độ động viên thích hợp, tránh bỏ sót nguồn thu, hạn chế được tác động tiêu cực của thu NSNN đối với các hoạt động sản xuất kinh
Trang 19doanh ở từng cơ sở Như vậy, có thể coi giá trị tổng sản phẩm quốc gia và các giá trị khác của tài sản quốc gia đều là nguồn tài chính Song, không phải tất cả các nguồn tài chính đều là nguồn thu của NSNN Chỉ những nguồn tài chính thông qua phân phối có khả năng động viên vào NSNN mới được coi là nguồn thu của NSNN Nguồn thu của NSNN là một đại lượng không ổn định, luôn chịu ảnh hưởng của cơ cấu sản xuất và kết quả của sản xuất kinh doanh và cơ chế động viên, phân phối
Tùy theo nhu cầu của việc phân tích, đánh giá phục vụ cho công tác quản
lý cũng như phục vụ cho việc điều chỉnh các chính sách động viên, người ta có thể phân loại nguồn thu NSNN theo các tiêu thức khác nhau: Chủ yếu bao gồm các khoản theo 4 nhóm lớn sau đây:
- Thu nội địa : Gồm các khoản thu khác nhau, trong đó có nhiều sắc
thuế, chỉ tiêu thu, tính chất các khoản thu đa dạng, đối tượng thu lớn, phạm vi điều chỉnh rộng, các đối tượng lớn như: sản xuất, kinh doanh (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ cá thể kinh doanh); các khoản thu từ nhà đất và một số sắc thuế tuỳ theo từng nước như: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân
- Thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu
- Thu từ dầu thô (đối với các nước có dầu thô)
- Thu từ vay nợ, viện trợ (gồm các khoản thu từ viện trợ không hoàn lại
do các cam kết về tài chính với các nước và các tổ chức quốc tế; thu từ vay nợ trong nước qua phát hành trái phiếu và thu từ vay nợ nước ngoài )
Trong các nguồn thu của NSNN, thuế là một hình thức huy động tài chính cho Nhà nước đã có từ lâu đời Thuế trở thành công cụ để Nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước Trải qua quá trình phát triển lâu dài và cho đến nay, các Nhà nước đều sử dụng thuế để phân phối các khoản thu nhập và huy động các nguồn thu cho Nhà nước Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân cư và các tổ chức
Trang 20kinh tế đóng góp cho Nhà nước Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã khẳng định: Một trong những quyền lực công của Nhà nước là thu thuế
Các yếu tố cấu thành một sắc thuế gồm có: Người nộp thuế; người chịu thuế; đối tượng đánh thuế; căn cứ tính thuế; thuế suất; đơn vị tính thuế; giá tính thuế; khởi điểm đánh thuế; miễn giảm thuế; thưởng, phạt; thủ tục về thuế Trong nền kinh tế thị trường: Thuế tạo nguồn thu chủ yếu cho NSNN Nguồn tích luỹ của NSNN chỉ có thể tăng nhanh trên cơ sở nền kinh tế phát triển và đạt hiệu quả cao Thuế phải phát huy vai trò bồi dưỡng và khai thác nguồn thu ngày càng tăng từ sự tăng trưởng kinh tế cho NSNN
1.1.2.4 Vai trò của thu ngân sách nhà nước
Thứ nhất, thu NSNN có vai trò trong việc khai thác, động viên và tập
trung các nguồn tài chính cần thiết để tạo lập quỹ NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu đã được dự tính cho từng giai đoạn phát triển Dưới bất kỳ chế độ nào, nhà nước muốn thực thi các chức năng, nhiệm vụ của mình, tất yếu phải có nguồn tài chính Các nguồn tài chính này có thể huy động từ các khu vực kinh tế, các thành phần kinh tế, từ trong nước và ngoài nước
Thứ hai, thu NSNN là công cụ điều tiết, điều chỉnh nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, thu NSNN là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để định hướng, hướng dẫn, kích thích, điều tiết sản xuất và tiêu dùng Điều đó thể hiện trên một số mặt như sau:
- Thông qua thu NSNN, Nhà nước góp phần định hướng và hướng dẫn sản xuất, kinh doanh Mức thu cao hay thấp sẽ tác động đến lợi ích của các chủ thể, và do đó có tác dụng định hướng đầu tư
- Thu NSNN còn có tác dụng điều tiết sản xuất Đối với các ngành, lĩnh vực không khuyến khích sản xuất hay tiêu dùng, thì tỷ lệ thu cao sẽ làm giảm nguồn lực trong các ngành, lĩnh vực đó Ngược lại, đối với những ngành cần
Trang 21khuyến khích, tỷ lệ thu thấp có tác dụng khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất Những quy định về thu phí đối với các chất thải có ý nghĩa trong việc bảo
vệ môi trường
Ngoài ra, thu NSNN là công cụ tham gia trực tiếp vào việc hình thành các quan hệ tỷ lệ phân phối thu nhập, góp phần giúp Nhà nước thực hiện việc hướng dẫn, kích thích hoặc điều tiết mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trên các mặt: thu nhập, cơ cấu ngành nghề, mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu theo hướng khuyến khích xuất khẩu hay thay thế nhập khẩu
Thứ ba, thu NSNN là công cụ góp phần thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm
soát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, vai trò kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước ngày càng trở nên quan trọng Bởi vì, với nền kinh tế thị trường, ngoài những ưu điểm vốn có cũng có những khuyết tật khó tránh khỏi, nếu thiếu sự kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước Những câu hỏi đặt ra cho người làm kinh tế ở bất cứ xã hội nào là: Sản xuất những loại hàng hóa nào, sản xuất theo phương thức nào, hàng hóa được sản xuất ra phân phối cho ai Tất cả những vấn đề đó, không chỉ là thuộc về vai trò của từng doanh nghiệp mà còn là vai trò của Nhà nước
Tùy theo từng thời kỳ mà Nhà nước sử dụng những công cụ khác nhau
để can thiệp vào những vấn đề đó ở tầm vĩ mô cũng như vi mô Ngày nay, Nhà nước can thiệp vào các vấn đề đó chủ yếu ở tầm vĩ mô thông qua hoạt động kiểm tra, kiểm soát bằng hệ thống pháp luật, hệ thống thuế Thông qua công cụ thuế, Nhà nước thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh trên các mặt chủ yếu như thu nhập, giá cả mặt hàng, hoạt động xuất nhập khẩu
Tóm lại, xét trên nhiều phương diện, thu NSNN có vai trò cực kỳ quan
trọng Để phát huy vai trò tích cực của thu NSNN trong thực tế thì một trong
Trang 22những vấn đề quan trọng là thu đúng, thu đủ, thu kịp thời Muốn vậy, phải xác định đúng đắn nguồn thu và không ngừng bồi dưỡng nguồn thu
1.1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước
Một vấn đề hết sức quan trọng trong thu NSNN là việc xác định mức động viên và lĩnh vực động viên một cách đúng đắn, hợp lý Điều đó không chỉ ảnh hướng đến số thu NSNN, mà còn tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội Mức động viên và lĩnh vực động viên lại chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội của Quốc gia Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN cần phải kể đến là:
a Thu nhập GDP bình quân đầu người:
Chỉ tiêu này phán ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước, là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN để không ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của các tổ chức kinh tế, của các tầng lớp dân cư
b Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế:
Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế phản ánh hiệu qủa của đầu tư phát triển kinh tế Tỷ suất doanh lợi càng lớn, nguồn tài chính càng lớn, là yếu tố để xem xét, tránh việc động viên vào NSNN gây khó khăn về tài chính cho hoạt động kinh tế Bên cạnh đó, sự tác động của kinh tế và thị trường thế giới đến các hoạt động xuất, nhập khẩu, giá cả, tỷ giá hối đoái làm ảnh hướng đến sản xuất, kinh doanh trong nước cũng là yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu của NSNN
c Khả năng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản
Đối với các nước đang phát triển và nguồn tài nguyên phong phú thì nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến số thu NSNN Kinh nghiệm các nước cho thấy, nếu tỉ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu NSNN sẽ cao và có khả năng tăng nhanh
Trang 23d Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước:
Nhân tố này phụ thuộc vào: Qui mô tổ chức bộ máy Nhà nước và hiệu quả hoạt động của nó; những nhiệm vụ kinh tế, xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng thời kỳ; chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước
1.1.3 Quản lý thu ngân sách nhà nước
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng
hệ thống các phương pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, tiếp cận đến mục tiêu cuối cùng, phục vụ cho mục đích của con người Với ý nghĩa
như vậy, có thể khái quát : Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước vận dụng
các quy luật khách quan; sử dụng hệ thống các phương pháp tác động đến các hoạt động thu NSNN nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
mà Nhà nước phải đảm nhận
Đối tượng tác động của quản lý thu NSNN là toàn bộ các khoản thu được lập kế hoạch trong dự toán NSNN năm nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Quản lý thu NSNN là sự liên kết hữu cơ giữa Nhà nước với tư cách chủ thể quản lý với khách thể quản lý (các tầng lớp dân cư, thành phần kinh tế trong xã hội) và đối tượng quản lý (các khoản thu NSNN) Tác động của quản lý thu NSNN mang tính tổng hợp, hệ thống gồm nhiều biện pháp khác nhau được
Trang 24biểu hiện dưới dạng cơ chế quản lý Cơ sở của quản lý thu NSNN là sự vận dụng các quy luật kinh tế – xã hội phù hợp với thực tiễn khách quan Mục tiêu
cơ bản của quản lý thu NSNN là các khoản thu NSNN phải được tập trung đúng, đầy đủ, kịp thời và được phân chia chính xác cho các cấp NSNN
Quản lý thu NSNN có các đặc điểm sau :
Một là, thu NSNN được quản lý bằng pháp luật và theo dự toán Mọi
Nhà nước đều quản lý thu NSNN bằng luật
Hai là, quản lý thu NSNN sử dụng một hệ thống tổng hợp các biện pháp
nhưng biện pháp quan trọng nhất là biện pháp tổ chức – hành chính theo hai hướng: Chủ thể quản lý ban hành các văn bản pháp quy, quy định tính chất, mục tiêu, quy mô, cơ cấu tổ chức, điều kiện thành lập, điều lệ hoạt động, mối quan hệ trong và ngoài tổ chức và Chủ thể đưa ra các quyết định quản lý buộc cấp dưới hoặc cơ quan thuộc phạm vi điều chỉnh thực hiện những nhiệm vụ nhất định
Đặc trưng của phương pháp quản lý hành chính là cưỡng chế đơn phương của chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý bằng việc Nhà nước thống nhất tập trung việc ban hành cơ chế, chính sách về quản lý thu từ khâu lập, chấp hành, kế toán và quyết toán thu NSNN
1.1.3.2 Hình thành thể chế quản lý thu ngân sách nhà nước
Thể chế quản lý thu NSNN là những quy định, chuẩn mực làm cơ sở pháp lý cho việc thu NSNN và quản lý thu NSNN Thể chế quản lý thu NSNN bao gồm từ Hiến pháp, các bộ luật, các văn bản dưới luật và các quy định khác của Nhà nước về thu NSNN Trong đó, các bộ luật điều chỉnh thu NSNN như Luật NSNN, các luật thuế và các luật khác liên quan tới thu NSNN có ý nghĩa rất quan trọng
Những nội dung cơ bản trong các luật và văn bản pháp luật về thu
Trang 25NSNN và quản lý thu NSNN rất đa dạng, phức tạp, nhưng trong đó bao gồm một số vấn đề cơ bản như: định rõ nguyên tắc thu; cơ chế, chính sách thu NSNN; phân cấp nguồn thu; quy trình thu NSNN; xây dựng các khung định mức thu v.v Dưới đây là một số nội dung cơ bản trong thể chế quản lý thu
NSNN
a) Các nguyên tắc trong chính sách thu
Mọi khoản thu NSNN về cơ bản phải thực hiện các nguyên tắc: Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn; nguyên tắc thống nhất; nguyên tắc cân đối NSNN; nguyên tắc công khai hoá, rõ ràng, trung thực và chính xác Điều đó cho thấy rằng: Mọi khoản thu NSNN phải được ghi đầy đủ vào kế hoạch NSNN và quyết toán rành mạch Nó cũng phản ánh sức mạnh vật chất của Nhà nước trong việc tập trung, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn thu, thuận lợi cho việc kiểm tra của Nhà nước và giúp Chính phủ hoạch định các chính sách về thu NSNN
b) Xây dựng các khoản mục và bồi dưỡng nguồn thu NSNN:
* Về các khoản mục thu NSNN: Các khoản mục thu được xây dựng dưới
nhiều hình thức khác nhau, trong đó Mục lục NSNN được coi là bao quát nhất
và có tính pháp lý cao
Mục lục NSNN là bảng phân loại các nội dung thu, chi thuộc giao dịch thường niên của NSNN theo những tiêu thức và phương pháp nhất định nhằm phục vụ cho việc quản lý điều hành cũng như việc kiểm soát và phân tích các hoạt động của NSNN một cách hiệu quả và tiện lợi
Mục lục NSNN có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý NSNN nói chung, trong đó có quản lý thu NSNN Đó là một hệ thống mã số được sắp xếp theo những trật tự, tiêu thức, ký hiệu nhất định Xét về quản lý thu NSNN, Mục lục NSNN có vai trò trong cả chu trình NSNN:Lập, chấp hành và quyết toán NSNN
Ngoài ra, Mục lục NSNN không thể thiếu được trong hoạt động phân
Trang 26tích thống kê và phân tích kinh tế vĩ mô Thông qua các chỉ tiêu thu để phân tích phản ánh tình hình huy động tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân của các thành phần và các ngành kinh tế vào NSNN
Cũng bởi tầm quan trọng như vậy nên khi xây dựng mục lục NSNN luôn phải tuân theo các yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính của các ngành, các cấp, cung cấp thông tin về mức độ được thực hiện cho từng nhiệm vụ và phù hợp với sự hoà nhập của nền kinh tế tài chính trong việc hội nhập với khu vực và quốc tế Những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng mục lục NSNN là : Nguyên tắc thống nhất, nguyên tắc hiệu quả, nguyên tắc hệ thống mở để phù hợp với sự biến đổi của nền quản lý hành chính và kinh tế nói chung
* Về tỷ lệ phân chia các khoản thu NSNN: Tỷ lệ phân chia các khoản thu
NSNN là việc xác định số thu được hưởng của từng cấp ngân sách nhà nước đối với từng khoản thu, bao gồm phân chia 100% cho từng cấp ngân sách và phân chia giữa các cấp ngân sách nhà nước Mục đích là để thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới và qui định này thường ổn
định trong thời gian 3-5 năm
* Vấn đề bồi dưỡng nguồn thu NSNN:
Muốn tăng trưởng nền kinh tế phải có số vốn lớn và phải huy động tối đa các nguồn tài chính để dùng vào đầu tư phát triển kinh tế Song vấn đề không phải ở mục tiêu tăng trưởng trước mắt mà phải chăm lo đến tăng trưởng bền vững Bồi dưỡng các nguồn tài chính nói chung, nguồn thu NSNN nói riêng có tầm quan trọng quyết định Vì vậy, phương hướng chung là:
Phải chú trọng kết hợp tốt việc khai thác, huy động các nguồn tài chính vào NSNN với việc bồi dưỡng, phát triển các nguồn tài chính Phải coi việc
Trang 27nâng cao năng suất lao động xã hội, năng suất lao động của từng doanh nghiệp
và tiết kiệm là con đường cơ bản để tạo vốn, để tăng thu NSNN Phải thực hiện toàn dân tạo vốn: Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và dân cư nhằm tăng trưởng kinh tế không chỉ dựa vào nguồn vốn NSNN mà còn phải dựa vào vốn của doanh nghiệp, vốn tiết kiệm trong dân cư
Trên cơ sở các quan điểm trên, các giải pháp để tích cực bồi dưỡng nguồn thu là:
Một là, Nhà nước trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài
nguyên quốc gia tăng thu cho NSNN cần phải tính toán đầy đủ hiệu quả và chi phí trước mắt cũng như lâu dài
Hai là, Chính sách thuế Nhà nước phải phù hợp với thu nhập của dân cư
và các tầng lớp kinh tế, tạo được lòng tin cho nhân dân, kích thích sản xuất, kinh tế phát triển
Ba là, Chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt NSNN cần được đặt trên
cơ sở thu nhập và mức sống của dân Phải tính toán phù hợp giữa tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư để có chính sách huy động vốn phù hợp
Bốn là, Nhà nước dùng vốn NSNN đầu tư trực tiếp vào một số doanh
nghiệp quan trọng trên những ngành và những lĩnh vực then chốt không những thực hiện định hướng phát triển kinh tế, xã hội mà còn tạo ra nguồn tài chính mới Đồng thời Nhà nước phải chú trọng đầu tư vào con người, đào tạo nghề, nâng cao dân trí, phát triển khoa học, chăm lo sức khoẻ để có một đội ngũ lao động có tay nghề cao và năng suất lao động cao
Năm là, Cần phải ban hành chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi
người tiết kiệm tiêu dùng dành vốn cho đầu tư phát triển Nhà nước phải giảm chi tiêu cho tiêu dùng, tinh giảm bộ máy Nhà nước, cải cách bộ máy hành chính để tích luỹ vốn chi cho đầu tư [12]
Trang 281.1.3.3 Phân cấp quản lý thu NSNN
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp ngân sách Bất cứ nước nào, muốn xây dựng hệ thống NSNN phải căn cứ vào Hiến pháp của nước đó Có nhiều quan điểm tổ chức hệ thống NSNN, nhưng thường chỉ có 3
xu hướng rõ rệt là quan hệ các cấp ngân sách rất gắn kết và tương đối tập trung; hoặc các cấp có sự độc lập cơ bản trong quản lý điều hành (theo kiểu Bang, liên bang…); và cuối cùng là tổ chức ngân sách theo hướng cố gắng giải quyết hài hoà hai xu hướng trên
Đặc trưng, mức độ quan hệ giữa các cấp NSNN trong tổ chức hệ thống NSNN sẽ chi phối, phản ánh cơ chế thu NSNN, như: ai là chủ thể ban hành các chế tài về thu, cách thức tổ chức bộ máy điều hành ngân sách đến các chế tài pháp luật khác
Do NSNN được tổ chức tương đối thống nhất và có tính chất lồng ghép giữa các cấp nên chi phối rất nhiều đến cơ chế thu NSNN nói riêng và cơ chế quản lý NSNN nói chung Nó đòi hỏi phải có một bộ máy tổ chức, cơ chế theo dõi, tổng hợp tương đối gắn kết và chặt chẽ Đồng thời nó cũng ràng buộc, chi phối chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong quy trình quản lý NSNN
theo nhiều cấp NSNN Khi đã hình thành hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấp ngân sách là một tất yếu, bởi lẽ mỗi cấp NSNN đều có nhiệm vụ hoạt động thu, chi mang tính độc lập tương đối
NSNN là một thể thống nhất gồm nhiều cấp ngân sách vừa chịu sự ràng buộc bởi các chế độ thể lệ chung, vừa có tính độc lập tự chịu trách nhiệm thì phân cấp thu NSNN được hiểu là phân định trách nhiệm của các cấp chính quyền nhà nước trong quản lý thu NSNN
Thực chất của việc phân cấp thu NSNN là giải quyết các mối quan hệ giữa chính quyền Nhà nước TW với các cấp chính quyền địa phương trong việc
Trang 29xử lý các vấn đề của hoạt động thu NSNN
Phân cấp thu NSNN được thực hiện theo các yêu cầu:
- Đảm bảo tính thống nhất của thu NSNN: Phân cấp để phát huy tính chủ động sáng tạo của các cấp chính quyền trong khai thác, bồi dưỡng, huy động nguồn thu, không phải là sự cắt khúc NSNN Các cấp chính quyền đều phải chấp hành thống nhất các luật pháp tài chính – ngân sách, các chế tài liên quan
- Phân cấp thu NSNN phải phù hợp với phân cấp các lĩnh vực khác của Nhà nước, tạo ra một sự đồng bộ trong thực hiện và quản lý các ngành, các lĩnh vực của Nhà nước
- Nội dung phân cấp thu NSNN phải phù hợp với Hiến pháp và luật pháp quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp chính quyền
Việc phân cấp thu NSNN sẽ tác động rất nhiều đến cách thức tổ chức thu nộp, theo dõi các khoản thu NSNN và xử lý các luồng thông tin phục vụ cho công tác quản lý
1.1.3.4 Tổ chức bộ máy quản lý thu ngân sách nhà nước
Tổ chức bộ máy quản lý thu NSNN cùng với tổ chức hành thu là hai nội dung chủ yếu của việc tổ chức quản lý thu NSNN Tổ chức bộ máy quản lý thu bao gồm việc hình thành cơ cấu tổ chức và quy định rõ chức năng, nhiệm vụ
Cơ cấu tổ chức quản lý thu NSNN được hình thành từ TW đến địa phương hợp thành hệ thống thu thống nhất
Hệ thống bộ máy quản lý thu NSNN trong toàn bộ quốc gia bao gồm từ Quốc hội (Nghị viện hoặc các cơ quan quyền lực khác), Chính phủ, Bộ Tài chính (hoặc Bộ kinh tế ), các cấp chính quyền, các cơ quan thu chuyên ngành Mỗi cấp quản lý có chức năng, nhiệm vụ riêng và được pháp luật quy định theo đặc điểm từng quốc gia trong suốt chu trình ngân sách từ khâu lập, chấp hành
đến quyết toán thu NSNN Trong đó:
Trang 30Các cơ quan dự báo thu, các cơ quan trực tiếp quản lý thu: Chủ yếu là
cơ quan tài chính, cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước và các cơ quan được uỷ quyền thu NSNN, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thu NSNN
và thực hiện thu NSNN đối với một số khoản thu theo quy định của pháp luật Những cơ quan này được tổ chức phù hợp với những yêu cầu quản lý của từng quốc gia (cũng có trường hợp cơ quan dự báo thu là cơ quan độc lập với các cơ quan trên) Một số nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan trên như: trong qui trình lập dự toán thu NSNN, cơ quan tài chính thực hiện chức năng thẩm định, cân đối NSNN giúp cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định Cơ quan Thuế và Hải quan là những đơn vị tổ chức thực hiện thu NSNN, cơ quan Kho bạc Nhà nước là nơi tiếp nhận và quản lý, điều tiết nguồn thu NSNN Các cơ quan thu này được hình thành từ TW tới địa phương thành hệ thống thu chuyên ngành thống nhất và có tính chuyên nghiệp cao
Tại một số Quốc gia như: Mỹ, Baraxin, Pháp, Bungari, Na uy, Liên
bang Nga mô hình Kho bạc Nhà nước đã được hình thành một cách có hệ thống với nhiệm vụ là đảm nhận nhiều khâu quyết định của hệ thống quản lý chi tiêu công Các chức năng chủ yếu của Kho bạc bao gồm phần phân bổ ngân sách và ngân quĩ trong ngân sách năm, lập kế hoạch tài chính, kiểm soát quá trình chi tiêu, quản lý ngân quĩ của chính phủ, quản lý tài sản và nợ, hạch toán
kế toán và kiểm toán nội bộ việc chấp hành ngân sách Giúp Chính phủ kiểm soát tài chính vĩ mô, vi mô, phân bổ và tái phân bổ nguồn NSNN với hiệu quả cao nhất và chi phí tối ưu nhất Hệ thống KBNN là một thành phần của hệ thống quản lý ngân sách tổng thể và nhiệm vụ của hệ thống Kho bạc có thể giống hệ thống quản lý tổng thể hoặc chỉ tập trung vào một số nhiệm vụ như nhiệm vụ quản lý thu, chi NSNN Do vậy, thiết kế hệ thống KBNN sẽ phải chịu ảnh hưởng các nhiệm vụ chính trên và phụ thuộc vào từng quốc gia cũng như từng thời điểm
Trang 31Cơ quan kiểm tra, thanh tra các khoản thu NSNN: Nhà nước tổ chức
việc kiểm tra, giám sát hoạt động thu NSNN thông qua cơ chế: Tự kiểm soát hay còn gọi là kiểm soát nội bộ, kiểm toán Nhà nước, thanh tra thường xuyên
và thanh tra theo các vụ việc Bên cạnh đó còn có tổ chức Thanh tra nhân dân
và kiểm soát của quần chúng để giám sát tính minh bạch trong quản lý thu NSNN Việc phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và nhân dân đối với
việc quản lý thu NSNN ở cơ sở là hết sức cần thiết
1.1.3.5 Qui trình quản lý thu ngân sách nhà nước
Qui trình quản lý thu NSNN gắn liền với quản lý chu trình NSNN được
thực hiện bằng công cụ kế hoạch thông qua 3 khâu chủ yếu là: Lập NSNN, chấp hành NSNN và quyết toán NSNN, cụ thể như sau:
a Lập dự toán thu ngân sách nhà nước :
Đây là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng các nguồn tài chính của Nhà nước để từ đó xác lập các chỉ tiêu thu NSNN hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn, đồng thời trên cơ sở đó có thể xác lập những biện pháp lớn về kinh tế, xã hội, nhằm tổ chức thực hiện tốt cá chỉ tiêu
đã đề ra
Các căn cứ lập dự toán thu NSNN bao gồm : Phương hướng, nhiệm vụ,
kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng trong năm kế hoạch và giai đoạn tiếp theo; phân tích, đánh giá kết quả thu NSNN các năm trước, năm trước năm hiện hành, đặc biệt là tình hình thu năm hiện hành sẽ là căn cứ để lập
dự toán thu NSNN; đánh giá trình độ phát triển kinh tế- xã hội, chính trị trong nước, các xu hướng quốc tế, việc thực hiện các cam kết quốc tế, dự báo khả năng ảnh hưởng đến kết quả thu NSNN Dự toán thu NSNN phải đảm bảo bảo nguồn lực để thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu của đất nước Đồng thời phải thực hiện các chính sách lớn như khuyến khích và tạo điều kiện cho các khu vực kinh tế công, tư cùng phát triển để tạo cơ cấu kinh tế phù hợp, tạo ra nguồn
Trang 32thu ổn định, lâu dài và góp phần nâng cao vị thế của quốc gia trong việc hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Dự toán thu phải được xác định trên cơ sở các phân tích, dự báo các yếu tố về tăng trưởng kinh tế, thị trường, giá cả, dự kiến đầy đủ những ảnh hưởng của việc điều chỉnh chính sách, chế độ thu Thu NSNN phải bám sát các chính sách, tiêu chuẩn, định mức cụ thể về thu tài chính Nhà nước (đặc biệt là hệ thống các luật thuế) và các văn bản pháp lý khác của Nhà nước Dự báo việc bổ sung, xây dựng mới các căn cứ pháp lý cho năm hiện hành và các giai đoạn về thu NSNN như : Việc thay đổi thuế suất, điều chỉnh, miễn giảm hoặc mở rộng, thu hẹp đối tượng thu nộp kể cả trong điều kiện thiên tai, bão lũ
Phương pháp lập dự toán thu NSNN: Lập dự toán thu NSNN là lập kế hoạch tổng hợp có liên quan đến hầu hết các cấp, các ngành, các hoạt động kinh tế, xã hội từ TW đến cơ sở Do vậy trong lập dự toán thu NSNN có 2 phương pháp phổ biến được áp dụng là: Phương pháp phân bổ từ trên xuống và phương pháp lập từ cơ sở, tổng hợp từ dưới lên Mỗi phương pháp có ưu điểm
và nhược điểm riêng Tuỳ theo tình hình kinh tế và trình độ quản lý, các quốc gia sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp Trình tự lập dự toán thu NSNN: Gồm 3 bước: Chuẩn bị (là việc ban hành và hướng dẫn lập dự toán thu), thực hiện lập
dự toán thu, tổng hợp dự toán thu và giao dự toán thu
b Chấp hành thu ngân sách nhà nước
Đây là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế- tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu NSNN ghi trong kế hoạch NSNN năm trở thành hiện thực
Trong quá trình này việc tiến hành lập kế hoạch thu chi quí, trong đó có chia ra các tháng và tổ chức thực hiện tốt kế hoạch của từng tháng là nội dung chính yếu nhất của quá trình chấp hành thu NSNN Trong các trường hợp có sự biến động lớn về an ninh, quốc phòng của quốc gia hoặc về ngân sách địa phương của một đơn vị hay một khu vực, tổ chức thì tuỳ theo mức độ biến
Trang 33động, dự toán thu NSNN cần phải được điều chỉnh tổng thể hoặc theo địa phương hoặc theo tổ chức theo phân cấp quản lý về thu NSNN của Nhà nước
Kiểm soát thu NSNN là một trong những nội dung quan trọng của công tác chấp hành thu NSNN Xuất phát từ đặc điểm các khoản thu NSNN là phạm
vi rộng, liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội nên cơ chế kiểm soát luôn đặt ra cần thiết và cấp bách Công việc kiểm soát thu NSNN là trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp, các đơn vị Trong đó vai trò đặc biệt quan trọng thuộc
về các cơ quan thanh tra tài chính, cơ quan thu NSNN như Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước
c Quyết toán thu NSNN
Đây là khâu cuối cùng của qui trình quản lý thu NSNN, là việc tổng kết lại quá trình thực hiện dự toán thu NSNN năm, sau khi năm ngân sách kết thúc nhằm đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm ngân sách từ đó rút ra các ưu điểm, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cho những chu trình ngân sách tiếp theo
Về phương pháp: Lập quyết toán thu NSNN thường được thực hiện theo phương pháp lập từ cơ sở tổng hợp từ dưới lên Với phương pháp này cho phép công tác lập, quyết toán thu NSNN được thực hiện toàn diện, đầy đủ và chính xác, khách quan, trung thực với tình hình hoạt động thu NSNN
Về trình tự: Lập quyết toán thu NSNN bắt đầu khi năm ngân sách kết thúc, bằng việc ban hành các văn bản và hệ thống mẫu biểu hướng dẫn các cấp, các ngành quản lý thu lập quyết toán thu NSNN năm Thực hiện duyệt quyết toán và thẩm định quyết toán thu NSNN năm được thực hiện bởi các cơ quan
có thẩm quyền theo phân cấp về quản lý thu NSNN: Cơ quan tài chính, thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước, chính quyền các cấp, các cơ quan được uỷ nhiệm thu Cơ quan thẩm định quyết toán các khoản thu NSNN như Kiểm toán Nhà nước
1.1.3.6 Những yêu cầu của quản lý thu ngân sách nhà nước
Trang 34Quản lý thu NSNN phải đáp ứng các yêu cầu: thu đúng, thu đủ và phân chia chính xác các khoản thu NSNN cho từng cấp NSNN theo quy định của pháp luật; đảm bảo thủ tục đơn giản, nhanh chóng, chính xác; đảm bảo hiệu quả
và hiệu lực cao Hiệu quả thu NSNN thể hiện qua kết quả thu so với chi phí bỏ
ra để tổ chức thu NSNN, với một đồng thu vào NSNN mà chi phí càng cao thì hiệu quả càng thấp và ngược lại Hiệu lực thu NSNN thể hiện qua kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra Trong quản lý thu NSNN, các mục tiêu đề ra
thường là thu đúng, thu đủ và kịp thời
1.2 Kinh nghiệm quản lý thu NSNN ở một số nước trên thế giới
1.2.1 Kinh nghiệm của Trung quốc
Trung Quốc là nước được đánh giá là có nền kinh tế đang chuyển đổi và
đã thu được những thành tự to lớn, đồng thời Trung Quốc cũng là một nước có
tỉ lệ tăng trưởng GDP trong những năm vừa qua cao nhất thế giới (bình quân giai đoạn 1990-2000 đạt 9,5%, bình quân giai đoạn 2001-2004 là 8,5%, năm
2004 đạt 9,2%) [13,tr 126] Sự tăng trưởng này là điều kiện cho việc tăng thu ngân sách quốc gia Trong công tác quản lý tài chính, NSNN nói chung cũng như quản lý thu NSNN đã có những chuyển biến đáng chú ý:
trong việc thu thuế và lợi nhuận cho chính quyền địa phương nhưng toàn bộ các khoản thu này lại được tập trung ở TW, sau đó được chuyển về ngân sách địa phương để chi tiêu theo Quyết định của TW Theo cơ chế này, chính quyền cấp tỉnh, thành phố, khu tự trị (gọi tắt là tỉnh) ít có quyền hạn tự chủ trong việc phát triển kinh tế của tỉnh Từ 1980, Trung Quốc đã chuyển sang cơ chế hợp đồng thu ngân sách Theo cơ chế này, mỗi cấp chính quyền đều phải hợp đồng với cấp cao hơn để xác định mục tiêu thu ngân sách Có thể nói đây là cơ chế phân chia nguồn thu giữa các cấp chính quyền, gắn liền với lợi ích kinh tế của các cấp chính quyền trung ương và tỉnh, góp phần tích cực vào việc tận thu
Trang 35thuế, trang trải các khoản chi đồng thời tăng cường được việc kiểm tra, giám sát thu, chi NSNN của các địa phương, giảm gánh nặng cho NSNN
Từ đầu năm 1994, Trung Quốc thực hiện cải cách lại hệ thống giám sát thuế quan và quản lý thu thuế của trung ương và các khoản thuế phân chia giữa trung ương và tỉnh và thực hiện mở rộng tỉ lệ phân chia đối với các khoản thuế mới Tỉ lệ phân chia thuế VAT giữa TW và địa phương là 75-25(%), các khoản thu mới phát sinh tăng thêm so với năm 1993 là 70 –30(%) Cải cách các cơ quan tài chính và thuế vụ của Trung Quốc được tiến hành đồng thời với cải cách thể chế tài chính dựa trên nguyên nguyên tắc kinh tế thị trường được áp dụng rộng rãi trên thế giới và lý luận về tài chính công cộng Bộ tài chính và các Sở tài chính cấp tỉnh của Trung Quốc đã có những thay đổi cơ bản là chấm dứt tình trạng chỉ làm cụ thể về thu- chi giống như thủ quĩ của Chính phủ chuyển sang đóng vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện các chính sách lớn liên quan đến toàn xã hội; thực hiện phân bổ và sử dụng vốn ngân sách theo yêu cầu của cơ chế thị trường và tập trung vào các lĩnh vực công cộng, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển văn hoá, khoa học, giáo dục, bảo hiểm, ý tế, bảo vệ môi trường; thực hiện chi ngân sách đúng pháp luật, đảm bảo tính công bằng và công khai; tuân thủ nguyên tắc tinh giản và hiệu quả cao, làm đúng trách nhiệm được giao, không làm những việc của cơ quan khác và doanh nghiệp
Hệ thống giám sát tài chính: Trên cơ sở phân cấp tài chính, Trung Quốc thực hiện hệ thống giám sát tài chính thông qua hệ thống luật bao gồm: Hiến pháp, Luật kiểm toán Nhà nước và Quyết định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
về việc tăng cường công tác kiểm tra giám sát dự toán TW Đây là những yếu
tố tạo nên hệ thống luật cơ bản về cơ cấu, phương thức thực hiện và giám sát tài chính ở Trung Quốc hiện nay
Quan hệ giữa ngân sách TW và ngân sách địa phương: Việc thi hành thể chế tài chính theo chế độ phân cấp vào năm 1994 đã xác định khuôn khổ quan
hệ giữa ngân sách TW và ngân sách địa phương có đặc sắc Trung Quốc Theo
Trang 36đó, các nguồn thu của TW, địa phương, tỷ lệ điều tiết giữa các khoản thu chung của TW và địa phương được qui định rõ ràng, giúp cho chính quyền địa phương các cấp chủ động trong việc cân đối ngân sách và sử dụng ngân sách Theo Hiến pháp, Trung Quốc thực hiện qui định mỗi cấp chính quyền là một cấp dự toán ngân sách, xây dựng hệ thống tổ chức dự toán 5 cấp : TW, tỉnh (khu tự trị, thành phố trực thuộc), thành phố thuộc khu (châu tự trị), huyện (huyện tự trị, thành phố không thuộc khu, khu trực thuộc thành phố), xã(xã dân tộc, thị trấn) Cơ quan quản lý tài chính ở TW bao gồm các ngành dự toán cấp
TW, cơ quan quản lý ngân sách địa phương bao gồm cấp tỉnh và dưới tỉnh Năm ngân sách tài khoá của Trung Quốc bắt đầu từ ngày 1/1 đến 31/12 hàng năm
Đặc điểm quản lý tài chính ở Trung Quốc:
Một là, Thống nhất chỉ đạo, phân cấp quản lý Có nghĩa là trên cơ sở
thống nhất phương châm, chính sách, chế độ và kế hoạch ngân sách của TW cho phép địa phương thực hiện đầy đủ quyền điều tiết dự toán thu chi của tỉnh
và quyền quản lý tài chính của tỉnh cho thích hợp, quyền sử dụng linh hoạt nguồn lực tài chính, quyền thi hành những biện pháp tài chính cụ thể phù hợp với tình hình thực tế địa phương
Hai là, Kết hợp chức trách với quyền lợi, có nghĩa là trên cơ sở xác định
1.2.2 Kinh nghiệm của Cộng hoà Pháp
Kể từ năm 1982, sau khi Luật về "Quyền hạn và tính tự chủ của các cấp
xã, tỉnh, vùng" ra đời đã cho phép các cấp chính quyền địa phương có tư cách
Trang 37pháp nhân riêng, tách biệt với tư cách pháp nhân của Nhà nước Các chính quyền địa phương này có thẩm quyền riêng trên địa bàn của mình và tự mình điều hành một cách độc lập và không chịu sự chỉ đạo từ trên xuống của Nhà nước Do vậy, ngân sách của Cộng hoà Pháp được phân thành 4 cấp phù hợp với cơ cấu tổ chức hành chính là: Ngân sách Nhà nước (ngân sách TW), ngân sách Vùng, ngân sách tỉnh, và ngân sách xã Tuy các cấp ngân sách có tính độc lập tương đối nhưng về giác độ quản lý thu đều phải chấp hành một cơ chế
thống nhất theo quy định của luật Dự toán thu ngân sách sau khi đã được Nghị
viện phê chuẩn được coi như một đạo Luật về ngân sách mà Chính phủ và các
Thực hiện nghiệp vụ thu không chỉ đòi hỏi sự can thiệp của hai chức
năng chính: Người chuẩn thu (ở Pháp gọi chung cho cả hai chức năng thu và
chi là “người chuẩn chi” nhưng trong luận văn xin gọi là “người chuẩn thu” để
tiện theo dõi) và Kế toán viên theo những qui trình do pháp luật qui định [11]
Người chuẩn thu chính là các Bộ trưởng đối với NSNN, cục, vụ trưởng
của các cơ quan đối với phụ lục ngân sách, giám đốc các cơ sở đối với ngân
sách của các cơ sở công cộng Người chuẩn thu thứ cấp: là các nhân viên hành
chính đương nhiệm tại đơn vị lãnh thổ đã được xác định Người chuẩn chi chính sẽ ủy quyền cho các nhân viên này trong khuôn khổ quản lý phân cấp giữa các cấp chính quyền Các nhân viên kế toán công: không chỉ có chức năng chính là công chức chuyên đảm nhiệm công việc kế toán mà còn can thiệp vào quá trình thực hiện ngân sách như điều hành quĩ công với trách nhiệm
Trang 38NSNN ngày 1/8/2001 hướng tới kết quả thu được và các chi phí bỏ ra (Điều 54 Luật Ngân sách mới) Đây là một định hướng rõ rệt hướng tới mục tiêu hiệu quả trong quản lý tài chính công của Cộng hòa Pháp [11,tr 489]
Qui trình chung về thu NSNN: Giai đoạn thực hiện trên bình diện hành
chính là giai đoạn trong đó tiến hành các nghiệp vụ cần thiết để thu các khoản thu sau này Điều này đỏi hỏi phải ghi thu và xác định khoản phải thu về cả số lượng và tổng số Về nguyên tắc: Toàn bộ giai đoạn thực hiện trên bình diện hành chính thường được quy cho thuộc thẩm quyền của nhà chuẩn thu Tuy nhiên chỉ có nghiệp vụ ra lệnh thu là thuộc thẩm quyền riêng của các nhà chuẩn thu Các nghiệp vụ ghi thu và xác định khoản phải thu có thể được các công chức Nhà nước không có tư cách là người chuẩn thu thực hiện (ví dụ : Thuế có thể được công chức Tổng cục Thuế tính thuế suất và mức thuế phải thu) [11, tr490]
- Lập số thu: Những người chuẩn thu chỉ có thẩm quyền hạn chế đối với
nghiệp vụ thu được dự toán trong quyết định phê chuẩn ngân sách, tạo một nghĩa vụ thực hiện thuần tuý, nghiệp vụ thu phải được lập theo những nguyên tắc và số thu theo qui định để có thể yêu cầu những người mắc nợ phải nộp
Việc lập số thu bao gồm hai nghiệp vụ: Ghi khoản phải thu và xác định khoản thu Ghi khoản phải thu là một nghiệp vụ tiên quyết và căn bản, qua đó khoản phải thu được ghi về mặt nguyên tắc: nghiệp vụ ghi thu hoặc tính mức thuế nhằm xác định về mặt luật pháp và vật chất căn cứ tính thuế Xác định khoản thu là một bước tiếp nối logic của nghiệp vụ ghi khoản phải thu, nghiệp
vụ này nhằm để xác định số thu; về phương diện thuế, xác định khoản thu bao gồm việc tính số thuế phải nộp tương ứng với cơ sở tính thuế, cơ sở này có thể
là một biểu thuế suất (thuế thu nhập đối với các thể nhân) hoặc một bảng thuế
- Chấp hành thu NSNN: Qui trình thực hiện thu ngân sách theo qui định
chung được tổ chức xoay quanh việc chia nghiệp vụ này thành ba giai đoạn liên
Trang 39tiếp, hai giai đoạn đầu thuộc trách nhiệm của Người chuẩn thu Giai đoạn thứ
ba thuộc thẩm quyền riêng của Kế toán viên Ngoài ra, đối với một số nghiệp
vụ hoặc dịch vụ đặc biệt có thể có những ngoại lệ
Tổ chức hành thu: Theo luật kế toán công, các khoản thu khi đã được ghi
và được xác định thì phải được ghi vào lệnh thu, trừ một số trường hợp ngoại
lệ, chỉ những người chuẩn thu mới có quyền thực hiện việc này Tuỳ theo từng khoản thu mà lệnh thu có các dạng khác nhau (đối với các khoản thuế trực thu,
đó có thể là các danh sách những người đóng thuế trong đó ghi chi tiết số thuế phải đóng cho từng người đối với các khoản thuế gián thu và các sản phẩm thuộc quyền sở hữu của Nhà nước; đó là thông báo thu, đối với các khoản thu không mang tính chất thuế gián thu và các sản phẩm thuộc quyền sở hữu của Nhà nước; đối với các khoản thu không mang tính chất thuế đó là các lệnh thu) Bản thân các lệnh thu là phải được chấp hành (đó là trường hợp đối với các khoản thu thuế) hoặc có thể được chấp hành (đối với các khoản thu ngoài thuế)
Giai đoạn thực thi mang tính kế toán: Giai đoạn này bắt đầu ngay từ khi
kế toán viên chịu trách nhiệm đưa vào các định khoản của mình lệnh thu do người chuẩn thu đưa ra Trước khi bắt đầu giai đoạn nhập quĩ, kế toán viên phải thực hiện một số kiểm tra Kế toán viên phải kiểm tra văn bản phê chuẩn thu cũng như kiểm tra tính hợp thức của các khoản giảm trừ và huỷ bỏ thu Việc kiểm tra nhằm đảm bảo văn bản phê chuẩn thu là hoàn toàn hợp thức; chẳng hạn nó kiểm tra việc thu các khoản thuế và có tính chất thuế đã được dự toán ngân sách năm cho phép Trong trường hợp (ngoại lệ và ít có khả năng xảy ra) khoản thu này chưa được phê chuẩn, nếu vẫn thực hiện thu thì kế toán viên phải chịu trách nhiệm và việc thu các khoản này sẽ bị huỷ bỏ
Khi các nghiệp vụ kiểm tra đã hoàn tất, tiếp theo kế toán viên phải theo dõi để việc thu các khoản thu được thực hiện đúng thời hạn, kế toán viên này
Trang 40cần thực hiện tất cả các công việc cần thiết, nhất là sử dụng tất cả các phương tiện thu hồi thuộc thẩm quyền của mình
Tổ chức hành thu chính là khâu tập trung trách nhiệm của các kế toán viên Khi kết thúc năm ngân sách hoặc khi các thời hạn theo qui định kết thúc, các kế toán viên có nghĩa vụ giải trình việc thực hiện thu các khoản tiền phải thu Người ta nhận thấy ở đây thời hạn qui định của các khoản phải thu không phải là một lý do miễn giảm trách nhiệm của kế toán viên (trừ phi thời hạn này nảy sinh trước khi nhân viên kế toán rời nhiệm sở) Các kế toán viên có trách nhiệm thu hồi các khoản phải thu đó Nếu không hoàn tất nghĩa vụ này, chính
kế toán viên phải có trách nhiệm đối với khoản tiền phải thu mà không thu được và vẫn trong thời hạn qui định
- Các trường hợp ngoại lệ : Do bản chất của các khoản thu hoặc có thể
do các thủ tục của việc lập số thu; Đó là các khoản thu mang tính tạm thời (các khoản tiền tạm ứng, tiền trả trước một phần cho công trình), các khoản thu này
có thể được nhập quĩ mà không có sự xác định trước, việc xác định các khoản thu chỉ được thực hiện sau, hoặc các khoản thu gọi là thu ngay, được khai báo
và lập trực tiếp bởi người nợ, và được nhập quĩ bởi kế toán viên mà không cần đến lệnh thu (đó thường là trường hợp của thuế doanh thu, thuế doanh nghiệp, thuế trước bạ) hoặc chỉ một người sẽ đảm nhiệm quản lý thu dưới sự giám sát của kế toán viên: ghi nhận số thu, xác định số thu và thu hồi nhẳm giảm bớt các bất tiện của thủ tục thực thi ngân sách trong một số cơ quan hành chính có thu (giáo dục, viện bảo tàng)
Ở Pháp, cán bộ kế toán công là cán bộ kế toán Kho bạc Hệ thống Kho bạc Pháp được tổ chức thành 3 cấp quản lý: ở Trung ương có Vụ kế toán công chịu trách nhiệm về các khoản thu, chi cho NSNN, bên cạnh Vụ trưởng Vụ kế toán công còn có kế toán trưởng KBNN; ở tỉnh, thành phố có Chi cục Kho bạc;