Những tồn ta ̣i, hạn chế của hoạt động kiểm toán nhà nước trong việc chống thất thoát, lãng phí vốn các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông.. 62 CHƯƠNG 3MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
CAO ĐỨC HIẾU
HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
CAO ĐỨC HIẾU
HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào./
Tác giả luận văn
Cao Đức Hiếu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Đặc biệt, tác giả vô cùng biết ơn TS.Nguyễn Thị Hương Liên, người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo cùng các đồng nghiệp trong ngành Kiểm toán Nhà nước đã động viên tinh thần và tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp tài liệu phục vụ nghiên cứu giúp cho tác giả hoàn thành luận văn này./
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Cao Đức Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH ii
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Những đóng góp của luận văn 6
7 Kết cấu của đề tài 7
CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 8
1.1 Khái niệm, mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ Kiểm toán nhà nước 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Mô hình bộ máy Kiểm toán nhà nước: 8
1.1.3 Chức năng Kiểm toán Nhà nước 9
1.1.4 Nhiệm vụ Kiểm toán nhà nước: 11
1.2 Nội dung, vai trò của hoạt động kiểm toán nhà nước trong chống thất thoát, lãng phí vốn đầu tư các Công trình giao thông 12
1.2.1 Khái niệm về thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng các Công trình giao thông 12
Trang 61.2.2.Tác hại của thất thoát, lãng phí 141.2.3 Nội dung kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông 171.2.4 Vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong chống thất thoát, lãng phí các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông 221.3 Kinh nghiệm thế giới về mô hình tổ chức bộ máy và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông 221.3.1 Kinh nghiệm về mô hình tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước 221.3.2 Kinh nghiệm thế giới về hoạt động của Kiểm toán Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông 241.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 28CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 342.1 Quá trình hình thành và phát triển của Kiểm toán nhà nước tại Việt Nam 342.2 Thực trạng hoạt động kiểm toán nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông 352.2.1 Tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước 352.2.2 Hê ̣ thống quy trình, chuẩn mực, mẫu biểu kiểm toán dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông của Kiểm toán Nhà nước 362.2.3 Phương pháp kiểm toán dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông của Kiểm toán Nhà nước 382.2.4 Đội ngũ kiểm toán viên kiểm toán nhà nước kiểm toán các dự án đầu
tư xây dựng Công trình giao thông 392.2.5 Kết quả thực hiện các cuộc kiểm toán dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông của Kiểm toán Nhà nước 402.3 Thực trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng Công trình giao thông qua phát hiện của Kiểm toán Nhà nước 42
Trang 72.3.1 Giảm trừ giá trị thanh, quyết toán vốn đầu tư 42
2.3.2 Đánh giá tính tuân thủ [11] 49
2.4 Những tồn ta ̣i, hạn chế của hoạt động kiểm toán nhà nước trong việc chống thất thoát, lãng phí vốn các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông 55
2.4.1 Về tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước 55
2.4.2 Về hê ̣ thống quy trình, mẫu biểu, chuẩn mực kiểm toán và phương pháp kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước 56
2.4.3 Về hoạt động kiểm toán chuyên đề của Kiểm toán Nhà nước 57
2.4.4 Về hiệu lực của hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước 60
2.4.5 Về công tác lập kế hoạch kiểm toán tại Kiểm toán Nhà nước 60
2.4.6 Về viê ̣c đào ta ̣o kiểm toán viên kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông 62
CHƯƠNG 3MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC TRONG CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ VỐN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 64
3.1 Hoàn thiê ̣n cơ sở pháp lý 64
3.1.1 Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật NSNN và các quy định có liên quan 64
3.1.2 Luật Kiểm toán Nhà nước 64
3.2 Hoàn thiện, chuẩn hóa quy trình, chuẩn mực, mẫu biểu kiểm toán và phương pháp kiểm toán 65
3.2.1 Quy trình, biểu mẫu kiểm toán 66
3.2.2 Phương pháp kiểm toán 66
3.2.3 Chuẩn mực kiểm toán 66
3.3 Chú trọng công tác lập kế hoạch kiểm toán 67
3.4 Mở rộng phạm vi kiểm toán và loại hình kiểm toán 69
Trang 83.4.1 Mở rộng phạm vi kiểm toán 69
3.4.2 Tăng cường kiểm toán hoạt động 71
3.4.3 Tăng cường kiểm toán chuyên đề 72
3.5 Nâng cao chất lượng kiểm toán viên 72
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 01
PHỤ LỤC 02
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BAI Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc
2 BQLDA(PMU) Ban quản lý dự án
7 IFAC Liên đoàn kế toán quốc tế
8 INTOSAI Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao
10 KTNN Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
11 KTTT Kinh tế thị trường
15 ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
16 PPP Hợp tác đầu tư với tư nhân
Trang 1042
3 Hình
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong những năm qua đều phát triển với tốc độ tương đối cao Một trong những yếu tố góp phần quan trọng quyết định sự tăng trưởng này là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, trong có đó xây dựng các công trình giao thông ngày càng được tăng cường để xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật, tạo động lực cho quá trình đổi mới và phát triển đất nước Tuy nhiên, quá trình này đã bộc lộ nhiều nhược điểm, yếu kém như nhiều dự án bị kéo dài tiến độ thực hiện, chất lượng không bảo đảm, vượt chi phí dự tính ban đầu, tiêu cực trong quá trình đầu tư xây dựng làm cho dự án bị thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, hiệu kinh tế - xã hội thấp, gây bức xúc trong nhân Tình trạng này đang được Đảng, Quốc hội, Chính phủ quan tâm, tìm biện pháp hạn chế, khắc phục
Kiểm toán Nhà nước (KTNN) là một cơ quan có chức năng kiểm tra tài chính công quan trọng của Nhà nước Qua gần 30 năm hoạt động, KTNN đã thể hiện rõ vai trò quan trọng không thể thiếu trong công tác kiểm tra, kiểm soát việc quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính và tài sản công của Nhà nước; trong đó, riêng lĩnh vực đầu tư xây dựng (ĐTXD) các công trình giao thông (CTGT), qua kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng và các Chương trình mục tiêu đã kiến nghị thu hồi về ngân sách hàng nghìn tỷ đồng Ngoài ra, còn phát hiện nhiều sai phạm về việc chấp hành trình tự, thủ tục đầu tư, chấp hành các luật về Đầu tư xây dựng, Luật đấu thầu, Luật Xây dựng và các chế độ tài chính kế toán khác để kiến nghị các đơn vị khắc phục kịp thời, các cơ quan nhà nước điều chỉnh chính sách cho phù hợp
Trong bối cảnh KTNN Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI), Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao châu Á (ASOSAI), từng bước hội nhập với quốc tế, áp dụng theo các nguyên
Trang 12tắc, chuẩn mực quốc tế cũng như trước áp lực ngày càng cao trong việc công khai kết quả kiểm toán, tính minh bạch trong kết quả kiểm toán
Mặc dù KTNN đã đạt được các kết quả đáng ghi nhận, nhưng thực tế hoạt động ĐTXD các CTGT trong những năm qua vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế Vậy câu hỏi đặt ra là: Hoạt động kiểm toán nhà nước đối với các dự án ĐTXD CTGT đang diễn ra như thế nào? Giải pháp nào để KTNN có thể góp phần phòng chống thất thoát, lãng phí vốn đầu tư các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông?
Với kiến thức đã thu nhận được trong quá trình học tập, kết hợp với kinh nghiệm tích lũy trong thực tế nơi đang công tác, tôi quyết định chọn đề
tài: Hoạt động kiểm toán Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng công
trình giao thông
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu đề cập đến những vấn đề
lý luận và thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài ở những góc
độ và giai đoạn khác nhau, đó là:
Tác giả Lê Hùng Minh cùng các đồng nghiệp tại KTNN (2007) đã
nghiên cứu đề tài Thực trạng và giải pháp chống thất thoát ngân sách trong
hoạt động kiểm toán đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam [15] Công trình nghiên cứu này đã phân tích lý luận cơ bản về thất
thoát, lãng phí, đặc điểm của quá trình đầu tư XDCB trong giai đoạn
2005-2006, đồng thời đánh giá thực trạng về thất thoát, lãng phí trong các dự án đầu
tư XDCB sử dụng vốn NSNN, cũng như đánh giá thực trạng của hoạt động kiểm toán đầu tư XDCB của KTNN Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp phòng, chống thất thoát, lãng phí NSNN trong hoạt động đầu tư và hoạt động kiểm toán Tuy nhiên, so với giai đoạn nghiên cứu của đề tài (2005-2006), hệ thống pháp lý về lĩnh vực đầu tư xây dựng đã có sự thay đổi rất lớn, căn bản
về tư duy quản lý dự án trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN Việc
Trang 13phân cấp, phân quyền cho chủ đầu tư tự thực hiện và chịu trách nhiệm toàn diện về dự án như vậy có thể mang lại sự chủ động hơn cho chủ đầu tư nhưng trong bối cảnh hệ thống pháp luật còn chưa hoàn thiện cũng tiềm ẩn nhiều rủi
ro Mặt khác, trong những năm gần đây, qua việc phát triển và kiện toàn về tổ chức, KTNN mới có điều kiện để thực hiện kiểm toán nhiều CTGT nhóm A
Tác giả Phạm Gia Thạch (2011) đã có công trình nghiên cứu Kiểm toán
Nhà nước dưới góc độ kiểm toán đầu tư công [28] Công trình này cũng đã
nêu những tồn tại của đầu tư công, thực trạng của hoạt động kiểm toán chi đầu tư công trong những năm 2005-2008 và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các cuộc kiểm toán đầu tư công Tuy nhiên,
đề tài chú trọng nhiều đến chi đầu tư công đối với các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình 134, 30A,…, trong đó, trực trạng và các đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chủ yếu tập trung vào kiểm toán các dự án đầu tư XDCB nhóm B, nhóm C được đầu tư giai đoạn 2005-2008 Riêng đối với hoạt động kiểm toán các CTGT nhóm A, đề tài này hầu như chưa đề cập đến
Tác giả Hoàng Văn Lương (2011) trong một công trình nghiên cứu
Thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước và vấn đề đặt
ra đối với Kiểm toán Nhà nước trong việc kiểm toán các dự án đầu tư [14] đã
khái quát một số dạng sai phạm dẫn đến tham nhũng, lãng phí và tiêu cực trong ĐTXD và đề ra một số kiến nghị đối với KTNN Tuy nhiên, công trình này chủ yếu nghiên cứu trên hầu hết các dự án ĐTXD được đầu tư ở các địa phương bằng nguồn ngân sách địa phương, chi phối bởi Kế hoạch vốn hàng năm của địa phương và kiến nghị các giải pháp trên căn cứ đó Trong khi, hầu hết các dự án ĐTXD CTGT nhóm A lại được đầu tư bằng nguồn Ngân sách trung ương, do Bộ GTVT làm chủ đầu tư hoặc ủy quyền cho các đơn vị khác làm chủ đầu tư
Trang 14Tác giả Hoàng Thị Hương Giang (2012) đã nghiên cứu, bảo vệ luận văn
thạc sỹ tại trường Đại học kinh tế - Đại học quốc gia với đề tài Chống thất
thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách, phân tích dưới góc độ Kiểm toán Nhà nước [4] Đề tài này đã nêu lên được tình trạng thất
thoát, lãng phí vốn đầu tư XDCB của Nhà nước từ đó đưa ra các giải pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng lãng phí, thất thoát và nêu lên các biện pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB từ vốn ngân sách Đề tài đã nghiên cứu về đầu tư XDCB nói chung và đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác phòng chống thất thoát lãng phí trong ĐTXD từ vốn NSNN Trong đó, chú trọng đến việc làm rõ trách nhiệm và tăng hình thức xử phạt đối với các tổ chức, cá nhân để xảy ra sai phạm, đồng thời đưa ra một số giải pháp mang tính đổi mới trong mô hình và phương thức quản lý dự án
Có thể thấy, điểm chung của các đề tài trên là nghiên cứu các hoạt động đầu tư XDCB nói chung So với hoạt động đầu tư XDCB nói chung thì đầu tư xây dựng các công trình giao thông có những đặc thù riêng như: có vốn đầu tư lớn, địa bàn đầu đầu tư rộng, thời gian thực hiện kéo dài, khối lượng chìm khuất của kết cấu lớn; việc triển khai cũng như tiến độ hoàn thành các công trình này ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của đông đảo dân chúng,… Vì vậy, việc nghiên cứu các hoạt động của KTNN đối với các hoạt động đầu tư XDCB cũng có những khác biệt đối với hoạt động ĐTXD CTGT nhóm A
Với việc lựa chọn đề tài Hoạt động kiểm toán Nhà nước đối với các
dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông, tác giả sẽ nghiên cứu hoạt
động kiểm toán tại KTNN chuyên ngành IV giai đoạn 2007-2013 Đây là thời gian đánh dấu những thay đổi căn bản về tư duy quản lý đầu tư XDCB trong nền kinh tế thị trường và là giai đoạn KTNN có những bước phát triển lớn trong hoạt động kiểm toán các CTGT Hơn nữa, đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu sâu hoạt động kiểm toán các CTGT nhóm A, đó là những công
Trang 15trình giai đoạn trước đây KTNN rất ít có điều kiện thực hiện kiểm toán một cách toàn diện và chỉ nghiên cứu vai trò của KTNN trong việc chống thất thoát, lãng phí vốn đầu tư
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Nâng cao năng lực hoạt động kiểm toán nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông, qua đó góp phần chống thất thoát, lãng phí vốn đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận về nội dung, phương pháp kiểm toán, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của KTNN trong phòng chống lãng phí, thất thoát vốn đầu tư đối với các dự án ĐTXD CTGT nhóm
A Đồng thời, đánh giá thực trạng về thất thoát, lãng phí vốn trong các dự án ĐTXD CTGT qua hoạt động kiểm toán các CTGT của KTNN Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp đối với KTNN để góp phần phòng chống thất thoát, lãng phí vốn đầu tư đối với các dự án ĐTXD CTGT nhóm A
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của đề tài, học viên tiến hành nghiên cứu các nội dung cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về nội dung, phương pháp kiểm toán, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của KTNN; về thất thoát, lãng phí trong ĐTXD CTGT
- Đánh giá thực trạng về thất thoát, lãng phí vốn trong các dự án ĐTXD CTGT qua hoạt động kiểm toán các CTGT của KTNN
- Đề xuất một số giải pháp đối với hoạt động KTNN trong việc chống thất thoát, lãng phí vốn các dự án ĐTXD CTGT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 16Hoạt động KTNN trong phòng chống thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng các CTGT nhóm A, sử dụng nguồn vốn NSNN được KTNN chuyên ngành IV (chuyên ngành kiểm toán về lĩnh vực giao thông) kiểm toán từ năm
2007 đến năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp từ các nguồn sau: Báo cáo và
Hồ sơ kiểm toán các dự án ĐTXD CTGT nhóm A giai đoạn 2007-2013, từ các website điện tử, sách báo, tạp chí, hội thảo, số liệu thống kê…
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: học viên sẽ lựa chọn 3 nghiên cứu điển hình về mô hình hoạt động của Kiểm toán nhà nước (mô hình Cơ quan Kiểm toán nhà nước có vị trí độc lập với cả cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp; mô hình Cơ quan Kiểm toán nhà nước được đặt trong hệ thống lập pháp; mô hình cơ quan Kiểm toán nhà nước được đặt trong hệ thống hành pháp), kinh nghiê ̣m kiểm toá n ĐTXD CTGT (Kiểm toán nhà nước Nhật Bản, Kiểm toán Liên bang Nga, Kiểm toán Hàn Quốc), trên cơ sở đó rút ra các bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng mô hình, bộ máy và kinh nghiê ̣m kiểm toán các dự án ĐTXD CTGT
- Phương pháp phân tích, thống kê, mô tả: Tổng hợp, phân tích thực trạng hoạt động của KTNN trong kiểm toán các dự án ĐTXD CTGT nhằm chống thất thoát, lãng phí vốn
6 Những đóng góp của luận văn
Khái quát hóa một số vấn đề về thất thoát lãng phí trong ĐTXD CTGT; đánh giá thực trạng thất thoát, lãng phí v ốn; nêu lên các tồn tại, hạn chế của hoạt động Kiểm toán Nhà nước trong việc chống thất thoát, lãng phí vốn các
dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp để chống thất thoát, lãng phí vốn ĐTXD CTGT thông qua hoạt
Trang 17động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước trong thời gian tới
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài Phần Lời nói đầu, Phần Kết luận và các phụ lục cần thiết, đề tài
được trình bày làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm toán nhà nước
các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm toán nhà nước đối với các dự
án đầu tư xây dựng Công trình giao thông
Chương 3: Một số giải pháp đối với hoạt động kiểm toán nhà nước
trong chống thất thoát, lãng phí vốn các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông
Trang 18Kiểm toán Nhà nước đóng vai trò là một công cụ quản lý của Nhà nước, đặc biệt là trong quản lý chi tiêu NSNN, giúp nhà nước nắm bắt và củng cố điều hành hoạt động của các đơn vị, các tổ chức trong việc tuân thủ pháp luật và các quy định khác của Nhà nước như: việc tuân thủ Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế GTGT, Luật Bảo vệ môi trường,
Nhà nước thành lập Kiểm toán Nhà nước; tổ chức này hoạt động theo quy định của pháp luật và dưới sự điều hành của Nhà nước nói chung
Ở Việt Nam, hoạt động của Kiểm toán Nhà nước được thể chế hóa bằng Hiến pháp, Luật Kiểm toán Nhà nước và các văn bản pháp lý khác có liên quan
1.1.2 Mô hình bộ máy Kiểm toán nhà nước:
Trên thế giới hiện nay, thực tế mô hình tổ chức bộ máy Kiểm toán nhà nước trực thuộc hệ thống quản lý cụ thể có một số dạng chính như:
- Trường hợp quan Kiểm toán nhà nước có vị trí độc lập với cả cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp Một số nước theo mô hình này là: Malaixia,
Trang 19Pháp, Philippin, Inđônêxia, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha, Italia, Đức,
- Trường hợp cơ quan Kiểm toán nhà nước được đặt trong hệ thống lập pháp Mô hình này được áp dụng khá rộng rãi trên thế giới như tại Nga, Anh, Đan Mạch, Ôxtrâylia, Hungari, Phần Lan, Ba Lan, Séc, Hà Lan,
- Trường hợp cơ quan Kiểm toán nhà nước được đặt trong hệ thống hành pháp Mô hình này được áp dụng tại một số nước như: Nhật Bản, Arập Xêút, Thái Lan, Lào, Campuchia, Thụy Điển,
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam (KTNN) ban đầu được thành lập là cơ quan trực thuộc Chính phủ Lúc này, KTNN được tổ chức theo mô hình Kiểm toán Nhà nước trực thuộc cơ quan hành pháp Từ khi Luật KTNN có hiệu lực (01/01/2006), KTNN được tổ chức theo mô hình KTNN có vị trí độc lập với
cả cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp Từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực, KTNN và Tổng KTNN đã được đưa vào Hiến pháp, nâng cao địa vị pháp lý của KTNN và Tổng KTNN
1.1.3 Chức năng Kiểm toán Nhà nước
Kiểm toán Nhà nước nói chung và Kiểm toán Nhà nước Việt Nam có những chức năng sau:
- Kiểm toán báo cáo tài chính: Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm tra và xác nhận về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của đơn vị kế toán phục vụ đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của đơn vị
- Kiểm toán tuân thủ: Kiểm toán tuân thủ là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện
Trang 20- Kiểm toán hoạt động: Kiểm toán hoạt động bao gồm kiểm toán tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực
+ Tính kinh tế có thể định nghĩa là “tối thiểu hoá chi phí cho các nguồn lực sẽ được sử dụng nhưng vẫn đảm bảo đạt được kết quả đầu ra có chất lượng phù hợp” Như vậy, nội dung của tính kinh tế nhấn mạnh đến yếu tố đầu vào, tức là việc có được tất cả các nguồn lực để sử dụng hoặc cần đến
+ Tính hiệu quả được hiểu là việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo đạt được các mục tiêu của đơn vị Có nghĩa là kết quả được tạo ra nhiều hơn so với mục tiêu, mục đích hoặc kế hoạch nhưng vẫn sử dụng đúng nguồn lực đã được xác định, hoặc kết quả tạo ra đúng như mục tiêu, mục đích hoặc kế hoạch nhưng nguồn lực sử dụng lại ít đi Nói cách khác tính hiệu quả nhằm hướng đến việc cải tiến hoạt động để giảm giá thành hoặc giảm được nguồn lực sử dụng trên một đơn vị kết quả tạo ra
+ Tính hiệu lực được xác định như là một khái niệm hướng đến cái cuối cùng là đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu, mục đích đã được định trước cho một hoạt động hoặc một chương trình đã được thực hiện (đạt được kết quả thoả đáng từ việc sử dụng các nguồn lực và các hoạt động của tổ chức)
Vì vậy, điểm quan trọng trong kiểm toán tính hiệu lực là phải xem xét giữa kết quả mong đợi trong kế hoạch với kết quả thực tế qua hoạt động
Tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực có mối quan hệ mật thiết, phản ánh sự thống nhất trong toàn bộ quá trình thực hiện hoạt động Hiệu quả là một khái niệm có tính tương đối, được xác định trên cơ sở so sánh giữa chi phí (đầu vào) và sản phẩm, dịch vụ (đầu ra) nên các khái niệm về hiệu quả và tính kinh tế không thể nào tách rời nhau Việc sử dụng một cách kinh tế các nguồn lực (giảm tối đa chi phí đầu vào) sẽ góp phần đảm bảo tính hiệu quả Mặt khác, tính hiệu lực vừa có tính độc lập, vừa có mối liên hệ chặt chẽ, gắn
Trang 21liền với tính hiệu quả vì không thể có một hoạt động có hiệu quả nếu không đạt được mục đích hoặc không thể đạt được mục đích với bất kỳ giá nào
1.1.4 Nhiệm vụ Kiểm toán nhà nước:
Với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính công tối cao, KTNN phải thực hiện bốn nhiệm vụ quan trọng:
Thứ nhất, KTNN phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội về những vấn đề
có liên quan trong quá trình ra các quyết định của Quốc hội, không những ở chừng mực Quốc hội là cơ quan giám sát, cơ quan hành pháp, mà cả trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình với tư cách là cơ quan ban hành Luật NSNN và các đạo luật chuyên môn có hiệu lực tài chính
Thứ hai, KTNN phải báo cáo, tư vấn và giải toả trách nhiệm cho Chính phủ, cụ thể là cho các cấp quản lý hành chính Nhà nước, các Bộ, ban, ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, cũng như về tác động tài chính của những biện pháp đề ra
Thứ ba, KTNN thực hiện chức năng phòng ngừa và răn đe đối với bộ máy hành chính Nhà nước nhằm chống lại việc sử dụng phung phí và lạm dụng các phương tiện tài chính của Nhà nước
Thứ tư, KTNN cần thông báo công khai trước công luận về việc sử dụng các phương tiện tài chính Nhà nước của Chính phủ và Quốc hội
Như vậy, nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước là phục vụ quản lý vĩ mô của Nhà nước, đảm bảo duy trì kỷ cương, thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất luật pháp, chính sách, chế độ, đồng thời sử dụng tiết kiệm, hiệu quả vốn, tài sản và kinh phí Nhà nước Hoàn thành các nhiệm vụ nêu trên, là biểu thị thước đo giá trị thành công của một cơ quan Kiểm toán nhà nước với tư cách là cơ quan công quyền có chức năng kiểm tra tài chính công tối cao của Nhà nước
Trang 221.2 Nội dung, vai trò của hoạt động kiểm toán nhà nước trong chống thất thoát, lãng phí vốn đầu tư các Công trình giao thông
1.2.1 Khái niệm về thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng các Công trình giao thông
1.2.1.1 Khái niệm về thất thoát:
Hiện nay có nhiều tài liệu đưa ra các khái niệm về thất thoát khác nhau, khái quát lại có thể hiểu thất thoát là sự tổn thất, mất đi vô ích, thiệt hại không đáng có, mất đi cơ hội tạo thêm cơ sở vật chất, tăng thêm năng lực cho xã hội hoặc thậm chí có hại
Như vậy nhận thức đúng khái niệm thất thoát và vận dụng đúng khi xem xét một hiện tượng, sự việc cụ thể cần hội tụ đủ hai điều kiện sau:
- Có bằng chứng đúng đắn, rõ ràng về các việc làm sai, làm trái pháp luật quy định có nguy cơ gây hậu quả thất thoát
- Tiền của Nhà nước đã bị thất thoát, không có khả năng thu hồi, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng
1.2.1.2 Khái niệm về lãng phí:
Lãng phí dưới góc độ chủ thể khác nhau, mục đích, khác nhau cũng có những khái niệm khác nhau Lãng phí được biểu hiện qua đơn vị sức lao động, thời gian, tiền của, song nó lại rất trừu tượng, khó xác định chính xác Cùng một sự vật, một hiện tượng ở chủ thể này là lãng phí nhưng ở chủ thể khác lại không lãng phí, với mục đích này là lãng phí với mục đích khác lại là hiệu quả; hoặc việc sử dụng nguồn lực đúng định mức, đúng tiêu chuẩn, chế
độ và đạt được mục tiêu trước mắt nhưng không đạt được mục tiêu lâu dài, không phù hợp với tổng thể phải phá bỏ hoặc không sử dụng được cũng là sự lãng phí
“Lãng phí là làm tiêu hao vật chất vào việc không cần thiết gây thêm sự
tốn kém” [30]
Trang 23Theo Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 48/2005/QH11 ngày
29/11/2005 và số 44/2013/QH13 ngày 26/11/2013: “Lãng phí là việc quản lý,
sử dụng tiền, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả Đối với lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc không đạt mục tiêu đã định”[21, tr.1]
1.2.1.3 Khái niệm về thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực ĐTXD các CTGT: Thất thoát trong ĐTXD các CTGT bao hàm nhiều mặt như: Lãng phí, tham ô, hối lộ, sai sót kỹ thuật lớn, sự không phù hợp giữa thiết kế kỹ thuật, bản vẽ thi công với báo cáo nghiên cứu khả thi; giữa thanh quyết toán khối lượng hoàn thành với hồ sơ hoàn công Do vậy thất thoát, lãng phí được hiểu như sự mất mát về tiền của, nhân tài, vật lực dưới mọi hình thức gây ra thiệt hại không đáng có về vốn đầu tư xây dựng của nhà nước trong suốt quá trình đầu tư từ quyết định chủ trương đầu tư đến khi công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng Phần vốn này mặc dù đã đưa vào công trình nhưng bị lãng phí hoặc là phần vốn bị biến mất trong quá trình đó và do nhiều nguyên nhân trong quá trình đầu tư và xây dựng gây ra
Thất thoát trong ĐTXD các CTGT được đo lường bằng giá trị phần thất thoát để đánh giá mức độ thất thoát thông qua hiệu số giữa tổng số vốn đầu tư
đã thực hiện với giá trị thực của khối lượng công trình được xây dựng (giá trị thực là phần chi phí thực tế để thực hiện khối lượng xây dựng công trình đạt được mục đích đầu tư); mức độ thất thoát là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thất thoát so với giá trị được đề nghị thanh, quyết toán
Mức độ thất thoát
(%)
Giá trị phần thất thoát
Trang 24Giá trị nghiệm thu (hoặc giá trị
quyết toán) của công trình
để rút vốn, làm giảm chất lượng và hiệu quả ĐTXD công trình
Lãng phí trong lĩnh vực ĐTXD các CTGT là những mất mát, thiệt hại không đáng có về vốn đầu tư xây dựng do ý thức chủ quan của con người, do yếu kém trong quản lý dẫn đến việc sử dụng vốn đầu tư xây dựng không đúng mục đích, không đúng nhiệm vụ thiết kế, chất lượng xây dựng kém phải phá đi làm lại hoặc công trình hoàn thành không sử dụng được, bỏ phí, không mang lại hiệu quả, hoặc hiệu quả thấp do xây dựng với chi phí cao hơn chi phí đầu
tư cần thiết cho dự án được xác định theo các tiêu chuẩn, định mức quy định của Nhà nước
1.2.2.Tác hại của thất thoát, lãng phí
Thất thoát, lãng phí nói chung và trong ĐTXD các CTGT nói riêng tồn tại ở mọi nơi, mọi quốc gia và gây hậu quả nghiêm trọng cho quốc gia Đây là một trong những nguyên nhân làm nghèo đất nước, kìm hãm sự phát triển và làm giảm uy tín cho quốc gia Sự nguy hại của thất thoát, lãng phí đều được các nước quan tâm và tìm mọi cách ngăn chặn và đẩy lùi Thất thoát, lãng phí dưới mọi hình thức và ở mọi nơi đang gây ra những hậu quả kinh tế, xã hội, tâm lý, đạo đức hết sức nghiêm trọng
Thất thoát trong ĐTXD các CTGT tuy được đánh giá với mức độ khác nhau song đều rất nghiêm trọng gây bất bình cho xã hội và trở thành mối quan
Trang 25tâm thường xuyên của Quốc hội và Chính phủ, làm tăng chi phí phát triển, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước và giảm uy tín quốc gia
1.2.2.1 Thất thoát làm tăng chi phí phát triển:
Thất thoát, lãng phí gây thiệt hại rất lớn về tiền, tài sản của nhà nước, tập thể và công dân Hậu quả không chỉ là việc tài sản, lợi ích của Nhà nước, của tập thể hoặc của công dân bị xâm hại, biến thành tài sản riêng của người thực hiện hành vi, làm đất nước tụt hậu xa hơn về kinh tế, khoa học, công nghệ và làm thất thoát nguồn lực đầu tư từ NSNN hoặc vốn vay nước ngoài, tiếp nhận những công nghệ lạc hậu… Chẳng hạn việc nhà nước chủ trương đầu tư cho một chương trình kinh tế hoặc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế như đường, cầu cống, sân bay, bến càng, đê điều, các nguồn vốn đó bị tham nhũng thông qua công tác tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán công trình làm cho chi phí đầu tư các dự án, công trình tăng lên, làm thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, làm chậm tiến độ triển khai thực hiện dự
án, công trình, làm giảm chất lượng công trình; Hậu quả đã có không ít công trình chưa làm xong hoặc vừa đưa vào sử dụng đã bị sự cố, sụp đổ hoặc chất lượng kém, xuống cấp nhanh chóng, không sử dụng được, gây lãng phí lớn cho ngân sách
Thất thoát, lãng phí trong đầu tư ĐTXD các CTGT ảnh hưởng đến các nguồn lực của đất nước cũng như đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: Sai phạm trong quy hoạch đầu tư dẫn đến những tổn thất lớn, quy hoạch sai còn tạo điều kiện cho lãng phí và gây tổn thất rất dài hạn Như hàng loạt nhà máy đường có quy hoạch sai, khiến nông dân điêu đứng, ảnh hưởng nặng
nề của nó không chỉ ở số tiền bị mất từ dự án đầu tư sai đó mà còn ảnh hưởng lâu dài Quy hoạch sai có nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân do nôn nóng phát triển, có nguyên nhân do năng lực kém nhưng có một nguyên nhân là do tiêu cực “chia phần dự án” Thiệt hại do sai phạm này là rất lớn vì nó làm giảm nội lực quốc gia
Trang 26Nếu không có tiêu cực, tham nhũng dẫn đến thất thoát, lãng phí một lượng lớn tiền, tài sản của cải xã hội sẽ bổ sung tốt cho phát triển Nó sẽ giúp những chính sách dân sinh phát huy tối đa tác dụng, tạo cơ hội phát triển cho một doanh nghiệp, một vùng hay cả một ngành Mà ở các nước sự lớn mạnh của một tập đoàn, một ngành có tác dụng rất lớn, thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia
1.2.2.2 Thất thoát làm tăng gánh nợ cho quốc gia
Vốn đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế và xã hội của nước ta chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay ưu đãi ODA Trong 5 năm 2001-2005 dự kiến khả năng thực hiện nguồn vốn ODA khoảng 10-11 tỷ USD, ngoài ra còn có khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài khác 1-2 tỷ USD thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu ra nước ngoài, mở thị trường chứng khoán và tìm thêm các nguồn vay khác để đầu tư trung và dài hạn
Việc vay và huy động vốn là rất cần thiết, vấn đề là phải sử dụng có hiệu quả và có thể trả nợ Song hiện nay tình trạng sử dụng vốn ODA vẫn chưa thực sự hiệu quả, thất thoát còn khá nghiêm trọng Việc giải ngân nguồn vốn ODA chậm (tính chung đến cuối năm 2003, khoảng 36% vốn ODA được giải ngân) và bố trí vốn đối ứng không đủ, đã làm tăng chi phí, nhất là chi phí đền bù giải phóng mặt bằng dẫn đến làm thất thoát, lãng phí vốn đầu tư làm tăng gánh nợ cho đất nước
1.2.2.3 Thất thoát làm giảm uy tín quốc gia:
Thất thoát, lãng phí trong đầu tư ĐTXD các CTGT làm giảm niềm tin của nhân dân với nhà nước: trước tình trạng thất thoát lãng phí khiến người dân mất lòng tin, có phản ứng đối với chính quyền cở sở Hậu quả không chỉ là việc tài sản, lợi ích của Nhà nước, của tập thể hoặc của công dân bị xâm hại, biến thành tài sản riêng của người thực hiện hành vi mà nó còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ Tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo, tình trạng những đoàn người khiếu tố
Trang 27đông người kéo lên Trung ương trong những năm qua gần đây chính là sự thể hiện rõ nét nhất sự mất lòng tin của quần chúng vào bộ máy nhà nước
tư Việt Nam trong thời gian qua, thu hút nguồn đầu tư bị giảm sút, mặc dù Việt Nam được coi là quốc gia ổn định về chính trị và an toàn về xã hội Với những hậu quả của nạn tham nhũng, thất thoát lãng phí trong ĐTXD các CTGT và nhiều lợi ích được mang lại từ việc kiểm soát tốt được vấn nạn này, vai trò đặt ra đối với các cơ quan kiểm tra, kiểm soát trong phòng, chống tham nhũng, thất thoát lãng phí là rất quan trọng và cần thiết, trong đó có KTNN
1.2.3 Nội dung kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông
1.2.3.1 Kiểm toán tuân thủ pháp luật, chế độ quản lý dự án đầu tư, chế
Trang 28quan; cơ sở của việc lập tổng mức đầu tư; tính đúng đắn của phương pháp tính tổng mức đầu tư;
Đối với bước thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu và ký hợp đồng xây dựng: cần kiểm tra sự tuân thủ của thiết kế với quy chuẩn và tiêu chuẩn khung của dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; so sánh về quy mô, mức độ, chỉ tiêu với các văn bản, thủ tục khác của dự án đầu tư đã ban hành trước có tính pháp lý cao hơn như: Thiết kế bước sau phải phù hợp với bước thiết kế trước đã được phê duyệt về quy mô, công nghệ, công suất, cấp công trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng; dự toán xây dựng công trình không được vượt tổng mức đầu tư; Hợp đồng trong hoạt động xây dựng phải phù hợp với Luật Xây dựng và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; kiểm tra giá trị dự toán công trình: khối lượng xây lắp phải đúng với thiết kế; định mức, đơn giá, phụ phí phải áp dụng đúng với chế độ quy định Kiểm tra trình tự, thủ tục, thẩm quyền khi thực hiện điều chỉnh dự toán, khi tiến hành thủ tục lựa chọn nhà thầu; kiểm tra sự phù hợp của việc thay đổi thiết kế, kiểm tra khối lượng phát sinh (các lệnh thay đổi) với chế độ, hồ sơ dự thầu và các quy định của hợp đồng
Đối với việc bàn giao đưa vào sử dụng, cần kiểm tra tình hình thực tế
sử dụng tài sản, công trình sau bàn giao; kiểm toán việc quản lý, mua sắm, sử dụng, thanh lý tài sản
Đối với việc kiểm toán công tác quản lý chất lượng của dự án đầu tư, cần:
- Kiểm tra đánh giá chất lượng công tác lập dự án: Tính tuân thủ quy hoạch, nhu cầu đầu tư, quy mô đầu tư, phương án chọn về thiết kế xây dựng
và dây chuyền công nghệ, ;
- Kiểm tra đánh giá chất lượng công tác khảo sát: Kiểm tra tính tuân thủ Nhiệm vụ khảo sát, phương pháp khảo sát, tiêu chuẩn khảo sát áp dụng,
Trang 29giám sát khảo sát của nhà thầu và chủ đầu tƣ cùng các nội dung trong báo cáo khảo sát, ;
- Kiểm tra đánh giá chất lƣợng công tác thiết kế: Tính tuân thủ nhiệm
vụ thiết kế, thiết kế cơ sở, kết quả khảo sát và tiêu chuẩn thiết kế, sự rõ ràng, hợp lý, chính xác, đầy đủ của bản vẽ thiết kế để đảm bảo cho công tác lập dự toán và thi công;
- Kiểm tra đánh giá chất lƣợng công tác thi công xây dựng công trình bao gồm: Kiểm tra công tác giám sát chất lƣợng thi công xây dựng công trình của nhà thầu; kiểm tra công tác giám sát chất lƣợng thi công xây dựng công trình và nghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tƣ; kiểm tra công tác giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình; kiểm tra việc tuân thủ về chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực và chứng nhận sự phù hợp chất lƣợng công trình xây dựng; kiểm tra tính tuân thủ về bảo hành, bảo trì công trình theo quy định;
Đối với việc kiểm toán công tác quản lý tiến độ của dự án đầu tƣ, cần:
- Xác định thời gian chậm tiến độ theo từng công việc từ lập dự án đến thi công xây lắp, hoàn thành bàn giao các hạng mục và toàn bộ công trình; kiểm tra việc gia hạn hợp đồng (nếu có) của gói thầu, dự án đầu tƣ theo nội dung hợp đồng đã ký kết; thời gian chậm tiến độ dự án theo kế hoạch ban đầu
- Xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan của việc chậm tiến độ và việc phải gia hạn hợp đồng; thẩm quyền của cấp quyết định việc gia hạn hợp đồng
- Đánh giá việc xử lý chậm tiến độ của chủ đầu tƣ
- Kiến nghị xử lý vi phạm
Đối với việc kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành hoặc báo cáo quyết toán vốn đầu tƣ theo hạng mục công trình, công trình hoàn thành; báo cáo vốn đầu tƣ thực hiện theo niên độ năm, báo cáo giá trị khối lƣợng hoàn thành đến thời điểm kiểm toán (đối với dự án đang thực hiện), cần:
Trang 30- Kiểm tra tình hình giải ngân, thanh toán vốn đầu tư; kiểm tra tính đầy
đủ của nguồn vốn đã đầu tư
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các nguồn vốn đầu tư đã sử dụng; kiểm tra việc quyết toán nguồn vốn đầu tư thực hiện theo niên độ ngân sách nhà nước
- Kiểm tra sự phù hợp trong việc sử dụng các loại nguồn vốn đầu tư so với cơ cấu xác định trong quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền
1.2.3.2 Kiểm toán chi phí
Để kiểm toán chi phí đầu tư xây dựng, chi phí quyết toán công trình, cần căn cứ định mức, tỷ lệ quy định, chứng từ, hoá đơn và các tài liệu có liên quan, thiết kế, bản vẽ hoàn công, biên bản nghiệm thu kỹ thuật, nhật ký thi công, các kết quả kiểm tra hiện trường tính toán lại khối lượng so với số liệu trong thanh toán, quyết toán; kiểm tra đơn giá xây lắp trong thanh toán, quyết toán giá trị khối lượng xây lắp hoàn thành theo từng trường hợp cụ thể, phụ thuộc vào hình thức hợp đồng giao nhận thầu; tính hợp pháp của các trường hợp có sự thay đổi thiết kế và chủng loại vật liệu trong quá trình thi công làm thay đổi giá quyết toán so với giá trúng thầu; việc áp dụng các phụ phí xây lắp theo chế độ quy định cho từng thời kỳ như chi phí chung , thu nhập chịu thuế tính trước và thuế GTGT; đối với chi phí đầu tư phát sinh, trượt giá thực hiện kiểm toán theo các điều kiện nêu trong hợp đồng và các tài liệu khác có liên quan
1.2.3.3 Kiểm toán tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực của dự án đầu tư
Để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả đối với dự án ĐTXD CTGT thường dựa trên một số nội dung, chỉ tiêu sau:
Đối với giai đoạn lập dự án: Là số tiền lãng phí do đầu tư xây dựng công trình không phù hợp với quy hoạch; quy mô, cấp công trình và xác định nhu cầu chưa chính xác; chi phí đầu tư tăng lên không hợp lý do tổng mức đầu tư được lập không phù hợp với quy định, phương án sử dụng vật liệu xây
Trang 31dựng không hợp lý, giải pháp công nghệ không phù hợp; chi phí tăng do thời gian lập và phê duyệt dự án kéo dài; chi phí tăng không hợp lý do quy mô, tiêu chuẩn, giải pháp, phương án sử dụng vật liệu, nội dung thiết kế (kiến trúc, kết cấu, hạ tầng, …) không phù hợp với thiết kế cơ sở của dự án đầu tư đã được phê duyệt;
Đối với giai đoạn thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng là: chi phí đầu tư tăng lên không hợp lý do sai sót trong công tác khảo sát (địa hình, địa chất, thủy văn, …); chi phí tăng không hợp lý do sai sót trong công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự toán; chi phí tăng không hợp lý
do sai sót giá gói thầu, công tác chấm thầu ảnh hưởng đến kết quả trúng thầu trong công tác lựa chọn nhà thầu; chi phí tăng không hợp lý do sai sót trong công tác thương thảo, ký hợp đồng;
Đối với việc đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư là chi phí tăng không hợp lý do phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư không phù hợp; điều kiện sinh sống của dân tái định cư ở nơi ở mới so với với nơi ở cũ;
Đối với giai việc quản lý chất lượng, tiến độ là chi phí tăng không hợp
lý do sai sót trong công tác quản lý thực hiện hợp đồng về tiến độ, chất lượng công trình;
Đối với khâu thanh, quyết toán chi phí thực hiện là chi phí tăng do sai sót trong công tác nghiệm thu, thanh toán, quyết toán khối lượng hoàn thành;
Đối với việc nghiệm thu, bàn giao, đưa vào sử dụng là việc đánh giá thông qua số liệu thống kê về mức độ tăng trưởng về kinh tế, xã hội đạt được sau khi đầu tư dự án để đánh giá về mức độ ảnh hưởng của dự án mang lại cho vùng dự án đến xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, cải thiện môi trường, tăng khả năng tiếp cận của người dân đến các dịch vụ y tế, trường học, dịch vụ tín dụng và khả năng tiếp cận các trung tâm chính trị, kinh tế, chuyển dịch kinh tế, cơ cấu ngành nghề sau khi có dự án; chi phí đầu tư lãng
Trang 32phí do công trình hoàn thành không phát huy được công năng sử dụng như thiết kế; tính khả thi của việc đánh giá tác động môi trường và các yêu cầu về
an ninh, quốc phòng; sự ảnh hưởng đến môi trường, cuộc sống của cộng đồng dân cư khu vực có dự án; mức độ đạt được của từng mục tiêu cụ thể của dự
án, công trình qua so sánh các mục tiêu thực tế đạt được của dự án so với mục tiêu được phê duyệt
1.2.4 Vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong chống thất thoát, lãng phí các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông
Đối với việc chống thất, thoát, lãng phí vốn đối với các dự án ĐTXD CTGT, KTNN có một số vai trò sau:
Thứ nhất, góp phần kiểm tra việc chấp hành những quy định hiện hành
1.3 Kinh nghiệm thế giới về mô hình tổ chức bộ máy và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông
1.3.1 Kinh nghiệm về mô hình tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước Việc xác định mô hình, địa vị pháp lý và tính độc lập của cơ quan Kiểm toán nhà nước được khẳng định tại Điều 5, Tuyên bố Lima (INTOSAI): "Sự
Trang 33thiết lập các cơ quan kiểm toán tối cao và tính độc lập của nó phải được đảm bảo trong Hiến pháp và các đạo luật khác" Có thể xem đây là một nguyên tắc quan trọng trong việc thiết lập cơ quan KTNN ở tất cả các Quốc gia trên thế giới Trong số 180 quốc gia trong tổ chức INTOSAI, mô hình tổ chức KTNN rất đa dạng nhưng có thể phân chia thành 3 mô hình cơ bản sau:
Mô hình thứ nhất, cơ quan Kiểm toán nhà nước trực thuộc hệ thống hành pháp, Kiểm toán nhà nước có thể trực thuộc Chính phủ Kiểm toán nhà nước là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng kiểm toán, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước các cấp
và báo cáo tổng quyết toán ngân sách nhà nước; báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính của các cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản công theo kế hoạch kiểm toán hàng năm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và các nhiệm vụ kiểm toán đột xuất do Thủ tướng Chính phủ giao hoặc do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền yêu cầu Mô hình này được áp dụng tại một số nước như Nhật Bản, Arập Xêút, Thái Lan, Lào, Campuchia, Thụy Điển, [5]
Mô hình thứ hai, cơ quan Kiểm toán nhà nước trực thuộc hệ thống lập pháp Theo mô hình này, cơ quan KTNN là cơ quan của Quốc hội, do Quốc hội lập, Quốc hội quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm người đứng đầu và trong một số trường hợp Quốc hội quyết định cả thành viên Ban lãnh đạo của cơ quan KTNN Cơ quan KTNN có nghĩa vụ báo cáo kết quả hoạt động trước Quốc hội, chịu sự giám sát, điều hành của Quốc hội Quốc hội quyết định ngân sách hoạt động của cơ quan KTNN Tổ chức theo mô hình thuộc Quốc hội này dựa trên lý luận cơ bản là “Người kiểm tra và người được kiểm tra không phải là một” Có nghĩa là tách rời việc quản lý, sử dụng với người thực hiện kiểm tra Việc tách rời người “bị” kiểm tra với người “được” kiểm tra
Trang 34nhằm bảo đảm cho cơ quan KTNN có vị trí độc lập với cơ quan quản lý (cơ quan hành pháp) cũng như cơ quan thực hiện quyền công tố, xét xử Cơ quan KTNN thực hiện kiểm tra và cung cấp thông tin cho Quốc hội cũng như các
cơ quan chức năng Mô hình này được áp dụng tại một số nước như Nga, Anh, Đan Mạch, Ôxtrâylia, Hungari, Phần Lan, Ba Lan, Séc, Hà Lan, [5]
Mô hình thứ ba, cơ quan Kiểm toán nhà nước có vị trí độc lập với cả cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp Đây là mô hình tổ chức rất đặc biệt, cơ quan Kiểm toán nhà nước không trực thuộc cơ quan lập pháp, hành pháp hay
tư pháp Là một tổ chức độc lập hoạt động theo quy định của pháp luật, mọi quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan Kiểm toán nhà nước được chế định theo pháp luật Việc quyết định thành lập, thẩm quyền và các quy định về cơ quan Kiểm toán nhà nước phải do Quốc hội quyết định, kể cả cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm người đứng đầu Hoạt động của cơ quan Kiểm toán nhà nước độc lập như Toà án hoặc Viện kiểm sát, nhưng không làm chức năng công tố và xét xử, kể cả các nước tổ chức cơ quan Kiểm toán nhà nước như Toà thẩm kế Toà thẩm kế phán quyết như một quyết định cuối cùng về các vấn đề liên quan đến quản lý tài chính được kiểm toán Mô hình này được hình thành ở những quốc gia mà hệ thống quyền lực nhà nước được tổ chức theo thể chế tam quyền phân lập cao và cơ quan Kiểm toán nhà nước ra đời từ rất sớm hoặc ở các nước thuộc địa chịu ảnh hưởng của các nước Châu Âu như Malaixia, Pháp, Philippin, Inđônêxia, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha, Italia, Đức, [5]
1.3.2 Kinh nghiệm thế giới về hoạt động của Kiểm toán Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng Công trình giao thông
Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong phát hiện và ngăn ngừa thất thoát phụ thuộc nhiều vào hiệu quả hoạt động kiểm toán và các quy định pháp luật
Trang 35về chức năng của Kiểm toán nhà nước ở từng nước, cụ thể tại một số quốc gia như sau:
1.3.2.1 Kiểm toán Nhà nước Nhật Bản (NPA) [7]
Khi kiểm toán dự án CTGT, Kiểm toán viên thực hiện kiểm toán các giai đoạn của dự án từ khâu lập kế hoạch, thiết kế, tính toán chí phí, thi công, quản lý và bảo dưỡng công trình Họ áp dụng cả hai hình thức kiểm toán hồ
sơ tại văn phòng và kiểm toán hiện trường Khi kiểm toán hồ sơ tại văn phòng, NPA yêu cầu các đơn vị được kiểm toán cung cấp toàn bộ hồ sơ có liên quan đến dự án để Kiểm toán viên thực hiện kiểm toán trên hồ sơ tại trụ
sở Kiểm toán nhà nước Ở giai đoạn này, KTV sẽ xem xét tính hợp lý, hợp pháp của các giai đoạn: lập kế hoạch, thiết kế, tính toán chí phí, chọn thầu Sau khi hoàn thành sơ bộ công tác kiểm toán hồ sơ, KTV sẽ tiến hành kiểm toán hiện trường để đánh giá thực tế hiện trường thi công và khối lượng hoàn thành Trong kiểm toán hiện trường, KTV thường sử dụng một số thiết hỗ trợ, như: thước đo chiều dài, thước đó độ rạn nứt, thước trượt đo đường kính và
độ dày, thước đo độ dốc, búa đo cường lực bê tông, thiết bị dò kết cấu thép, thiết bị trắc địa,…
Đối với kiểm toán các dự án CTGT, NPA không chỉ kiểm toán tuân thủ
và kiểm toán tài chính mà còn thực hiện kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong việc sử dụng các nguồn lực công cho dự
án Từ năm 1970, số phát hiện các trường hợp công trình kém chất lượng đã giảm đáng kể Thay vào đó, NPA chú trọng nhiều hơn đến kiểm toán hoạt động Do vậy, các phát hiện kiểm toán giai đoạn từ năm 1975 đến nay chủ yếu liên quan đến tính hiệu quả và hiệu lực của các dự án
Sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán CTGT: NPA đã chủ động trong việc sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm toán bởi nó là
Trang 36công cụ rất hữu dụng trong công tác kiểm toán công trình xây dựng Các kiểm toán viên sử dụng nhiều phần mềm trong các lĩnh vực kiểm toán để thu thập
dữ liệu, phân tích, chọn mẫu và các tác nghiệp khác KTV sử dụng công nghệ thông tin để kiểm tra xem liệu thiết kế hoặc công trình thi công có được thực hiện phù hợp, an toàn và tiết kiệm Một trong những ứng dụng khá hiệu quả cho công tác kiểm toán hiện trường đó là sử dụng Google Earth Công cụ này trước hết có thể giúp kiểm toán viên kiểm tra hiện trường công trình tại bất kỳ địa điểm nào thông qua vệ tinh, thứ hai, nó có thể cung cấp hình ảnh không gian 3 chiều và cuối cùng, kiểm toán viên có thể chọn thời điểm để kiểm tra
Ví dụ: Hình ảnh do Google Earth cung cấp có thể giúp kiểm toán viên kiểm tra mặt bằng công trường trước khi thực hiện kiểm toán hiện trường, kiểm tra việc sử dụng các kỹ thuật, vật tư cho xây dựng có phù hợp hay không,…
Công tác đào tạo về kiểm toán các dự án ĐTXD CTGT: Bên cạnh việc đào tạo trong phòng học thì Trung tâm đào tạo của NPA còn đào tạo cho kiểm toán viên kiến thức thực tế thông qua các mô hình mẫu của tất cả các loại hình công trình xây dựng như: cầu, đường, nhà, cống, đê,…Mỗi mô hình mẫu đều thể hiện các trường hợp sản xuất, thi công không phù hợp và so sánh với mô hình được thực hiện đúng tiêu chuẩn Trung tâm đào tạo cũng hướng dẫn các kiểm toán viên sử dụng các công cụ, thiết bị chuyên nghiệp để thực hiện công tác kiểm tra hiện trường
1.3.2.2 Kiểm toán Liên bang Nga [8]
Theo Luật Kiểm toán Nga: Trong trường hợp kết luận rằng có sự biển thủ kinh phí tài chính của nhà nước và trong các trường hợp lạm dụng chức quyền, Kiểm toán Nhà nước Nga phải chuyển ngay các hồ sơ kiểm toán cho các cơ quan pháp luật Ngoài ra, để việc kiểm tra tài chính, chống thất thoát lãng phí có hiệu quả, cơ quan kiểm toán tối cao được trao những quyền điều tra rộng rãi So sánh các luật kiểm toán khác nhau ta thấy hầu hết tất cả các
Trang 37nước đều coi những quyền điều tra nhất định là điều không thể thiếu được đối với công việc của cơ quan kiểm toán tối cao - các điều 31,32 Luật Kiểm toán Trung Quốc; khoản 2, điều 9 Luật Kiểm toán Pháp; điều 8 Luật Kiểm toán Vương Quốc Anh; điều 13 Luật Kiểm toán Nga
1.3.2.3 Kiểm toán Hàn Quốc [8]
Uỷ ban Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc (BAI) áp dụng cách tiếp cận kiểm toán dựa vào hệ thống Kiểm toán dựa vào hệ thống được hiểu là tập hợp những nguyên tắc hướng dẫn tổng quát đối với các hoạt động kiểm toán; các chính sách, chiến lược và khái niệm kiểm toán mới
Dưới góc độ là một cách tiếp cận mới trong kiểm toán, kiểm toán dựa vào hệ thống sử dụng các phương pháp khoa học và hệ thống để xác định những vấn đề trọng yếu Cách tiếp cận này khác với cách thức kiểm tra trước đây đối với các quan chức nhà nước, các hoạt động của Chính phủ - cách thức kiểm tra ngẫu nhiên và phụ thuộc rất nhiều vào ý muốn chủ quan, trực giác của người thực hiện việc kiểm tra Nói cách khác, việc thực hành kiểm toán chỉ được bắt đầu sau khi những vấn đề trọng yếu được xác định bằng cách nghiên cứu và phân tích các số liệu sơ bộ
Dưới góc độ là một đối tượng kiểm toán, kiểm toán dựa vào hệ thống không chỉ dừng lại ở việc xác định những phát hiện kiểm toán mang tính đơn
lẻ Kiểm toán dựa vào hệ thống đòi hỏi phải tiến hành việc kiểm tra chéo đối với hệ thống cần xem xét để xác định nguyên nhân của những vấn đề, đồng thời đưa ra những giải pháp mang tính căn bản Ví dụ, khi phát hiện sai phạm trong vấn đề thanh toán công nợ thì không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những vấn đề liên quan đến việc giám sát tài chính, Kiểm toán dựa vào hệ thống sẽ kiểm tra toàn bộ hệ thống tài chính của đơn vị để tìm ra nguyên nhân của sai phạm, đồng thời đưa ra những giải pháp, biện pháp khắc phục
Trang 38BAI kỳ vọng rằng với kiểm toán dựa vào hệ thống các kiểm toán viên của
họ sẽ dễ dàng chẩn đoán và đánh giá các dự án ĐTXD CTGT của Chính phủ Hàn Quốc nhằm ngăn ngừa các hiện tượng tham nhũng, chống thất thoát ngân sách nhà nước, đồng thời đưa ra giải pháp cho những vấn đề được phát hiện
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.3.1 Về mô hình tổ chức bộ máy
Qua nghiên cứu kinh nghiệm về tổ chức các mô hình Kiểm toán nhà nước, chúng ta rút ra các bài học, các ưu, nhược điểm của các mô hình để xây dựng Kiểm toán nhà nước Việt Nam đảm bảo tính độc lập, khách quan của hoạt động KTNN, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử nước ta
- Mô hình thứ nhất, cơ quan Kiểm toán nhà nước trực thuộc hệ thống hành pháp:
+ Ưu điểm của mô hình: Chính phủ có sự chủ động trong sử dụng công
cụ kiểm toán nhằm kiểm tra kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính đối với
cơ quan của mình, từ đó kịp thời ngăn ngừa được các sai phạm Kiểm toán nhà nước cũng có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận với thông tin, số liệu của các cơ quan hành chính Do đó, các kết luận và kiến nghị của Kiểm toán nhà nước, một mặt sẽ đáng tin cậy và phù hợp hơn, mặt khác sẽ được nhanh chóng triển khai để kịp thời khắc phục các sai sót được phát hiện
+ Nhược điểm của mô hình:
Thứ nhất, mô hình này không đảm bảo được nguyên tắc độc lập về tổ chức giữa Kiểm toán nhà nước với các đơn vị được kiểm toán Để hoạt động
có hiệu quả, cần phân định ranh giới giữa trách nhiệm về quản lý hành chính với trách nhiệm về kiểm tra tài chính Xét về nhiều mặt, Kiểm toán nhà nước giống như một cơ quan kiểm tra nội bộ của Chính phủ
Trang 39Thứ hai, Kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm toán nội bộ của Chính phủ, do đó sẽ thiếu khách quan Địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước cũng
sẽ bị giới hạn bởi chức năng và quyền hạn của Chính phủ, nó không là công
cụ trực tiếp phục vụ quyền giám sát tối cao của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
- Mô hình thứ hai, cơ quan Kiểm toán nhà nước trực thuộc Quốc hội + Ưu điểm của mô hình:
Thứ nhất, theo mô hình này, cơ quan Kiểm toán nhà nước được thiết lập trên nguyên tắc độc lập với cơ quan hành pháp (Chính phủ) Hoạt động Kiểm toán nhà nước gắn liền với hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Nếu nhìn từ bên ngoài bộ máy nhà nước, từ phía công chúng thì hoạt động của cơ quan Kiểm toán nhà nước độc lập, khách quan hơn; tạo được niềm tin cho người sử dụng thông tin, họ cho rằng các thông tin mà cơ quan kiểm toán đưa ra là trung thực, khách quan hơn
Thứ hai, Cơ quan Kiểm toán nhà nước thuộc Quốc hội nhằm thực hiện quyền kiểm tra, giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan thực thi quyền lực công, do đó bảo đảm được tính độc lập cao hơn Kiểm toán nhà nước hoạt động theo nguyên tắc độc lập chỉ tuân theo pháp luật, không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp vào hoạt động của cơ quan Kiểm toán nhà nước
Thứ ba, Quyền hạn của cơ quan Kiểm toán nhà nước thuộc Quốc hội xuất phát từ quyền lực của Quốc hội (cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đại diện cho quyền lợi của cử tri, nhân dân), do đó sẽ có quyền đưa ra các kết luận, kiến nghị để xử lý đối với những sai phạm về tài chính, kế toán quản lý và sử dụng NSNN của các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước Bên cạnh đó Kiểm toán nhà nước sẽ là công cụ hữu hiệu để Quốc hội thực hiện quyền quyết định dự toán NSNN, phân bổ Ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán
Trang 40NSNN một cách chính xác, trung thực khách quan, hỗ trợ Quốc hội thực hiện vai trò giám sát tối cao, thông qua đó thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Thứ tư, cơ quan Kiểm toán thuộc Quốc hội đảm bảo tính minh bạch hơn, bởi vì đây là hoạt động ngoại kiểm, thực hiện kiểm toán các cơ quan của Chính phủ và bản thân hoạt động của Chính phủ Các thông tin do cơ quan Kiểm toán nhà nước cung cấp không phải là các thông tin nội bộ Chính phủ
mà được cung cấp cho các đại biểu của nhân dân và công bố công khai cho dân chúng
+ Nhược điểm của mô hình:
Thứ nhất, do cơ quan kiểm toán tối cao trực thuộc Quốc hội nên hoạt động Kiểm toán nhà nước chủ yếu là hoạt động kiểm toán quyết toán NSNN
và thực hiện phương thức kiểm tra sau (hậu kiểm), do đó một khi hiện tượng
và quá trình kết thúc mới thực hiện kiểm toán thì những phát hiện các sai phạm sẽ không được sữa chữa kịp thời mà chỉ còn ý nghĩa để ngăn ngừa các hiện tượng tái phạm đối với thời gian sau
Thứ hai, khi các sai sót được phát hiện, theo yêu cầu của Quốc hội, cơ quan hành pháp phải có trách nhiệm khắc phục, sửa chữa Do đó việc khắc phục sai sót diễn ra thường chậm chạp hơn Các kiến nghị của cơ quan Kiểm toán nhà nước sẽ được chuyển tải đến Quốc hội và Quốc hội sẽ yêu cầu cơ quan hành pháp thực hiện và điều đó sẽ chậm hơn khi yêu cầu thực hiện trực tiếp
- Mô hình thứ ba, cơ quan Kiểm toán nhà nước có vị trí độc lập với cả
cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp
+ Ưu điểm của mô hình:
Thứ nhất, cơ quan kiểm toán thoát ly bởi các yếu tố chính trị như sự chỉ đạo của Chính phủ hay Quốc hội
Thứ hai, bản chất của hoạt động kiểm toán là xác nhận một cách độc lập
và trung thực, khách quan các thông tin về quản lý tài chính và tài sản công đối với các hoạt động quản lý Bởi vậy Kiểm toán nhà nước được coi như một