1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tăng cường sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam

205 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 4,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích và giả thuyết nghiên cứu 40 2.2.1.. DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu 3.2 Các tiêu chuẩn đo lường

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LƯU THỊ MINH NGỌC

t¨ng c-êng Sù THAM GIA CñA Hé GIA §×NH

KINH DOANH B¸N LÎ TRUYÒN THèNG

VµO CHUçI CöA HµNG TIÖN ÝCH T¹I VIÖT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LƯU THỊ MINH NGỌC

t¨ng c-êng Sù THAM GIA CñA Hé GIA §×NH KINH DOANH B¸N LÎ TRUYÒN THèNG VµO CHUçI CöA HµNG TIÖN ÝCH T¹I VIÖT NAM

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lưu Thị Minh Ngọc

Trang 4

KINH DOANH BÁN LẺ TRUYỀN THỐNG VÀO CHUỖI CỬA HÀNG TIỆN ÍCH

19

2.1 Sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào

chuỗi cửa hàng tiện ích

19

2.1.2 Hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống 23 2.1.3 Sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào

chuỗi cửa hàng tiện ích

26

Trang 5

2.1.4 Sự hài lòng của người tham gia 32 2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh

bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích

32

2.2 Mô hình sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền

thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích và giả thuyết nghiên cứu

40

2.2.1 Mô hình sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ vào chuỗi

cửa hàng tiện ích

40

3.2 Nghiên cứu điển hình chuỗi cửa hàng tiện ích có sự tham gia của

hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

48

3.2.1 Giới thiệu về chuỗi cửa hàng tiện ích G7 Mart 48

3.2.3 Kết quả nghiên cứu chuỗi cửa hàng tiện ích G7 Mart có sự tham

gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống tại Việt Nam

52

3.2.4 Những phát hiện ra từ nghiên cứu mô hình chuỗi cửa hàng tiện

ích có sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

57

3.3.1 Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến động cơ tham gia của

hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

59

3.3.3 Động cơ tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

vào chuỗi cửa hàng tiện ích

60

Trang 6

3.4.3 Điều chỉnh lại mô hình nghiên cứu 73

3.5.3 Phương pháp và quy trình thu thập dữ liệu 78

GIA ĐÌNH KINH DOANH BÁN LẺ TRUYỀN THỐNG VÀO CHUỖI CỬA HÀNG TIỆN ÍCH

82

4.2 Kết quả về mức độ am hiểu về sự tham gia vào chuỗi cửa hàng

tiện ích

85

4.3.1 Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến động cơ tham gia của

hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích

86

4.3.3 Sự hài lòng của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống đã

tham gia vào chuỗi cửa hàng tiện ích

89

4.3.4 Mức độ tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống 91

4.5.1 Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến động cơ tham gia của hộ

gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích

94

4.5.2 Động cơ tham gia giữa hộ gia đình kinh doanh bán lẻ đã tham gia

chuỗi và hộ gia đình chưa tham gia vào chuỗi cửa hàng tiện ích

97

4.5.3 Mối quan hệ giữa động cơ tham gia và mức độ tham gia của hộ

gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

98

4.5.4 Mối quan hệ giữa sự hài lòng của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ

truyền thống với động cơ tham gia vào chuỗi cửa hàng tiện ích

99

Trang 7

4.5.5 Mức độ tham gia phụ thuộc sự hài lòng của hộ gia đình kinh

doanh bán lẻ truyền thống

101

5.6.1 Nâng cao nhận thức về mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích có sự

tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

124

5.6.2 Phát huy thế mạnh cạnh tranh nhằm thu hút sự đầu tư hợp tác từ

phía doanh nghiệp vận doanh chuỗi

125

5.6.3 Xây dựng chiến lược kinh doanh cho hoạt động của cửa hàng 127 5.6.4 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý 128 5.6.5 Xây dựng tinh thần hợp tác, đảm bảo cam kết bền vững 128 5.7 Các kiến nghị chủ yếu đối với cơ quan quản lý nhà nước nhằm

tăng cường sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ vào

chuỗi của hàng tiện ích tại Việt Nam

129

5.7.1 Tăng cường tuyên truyền, quảng bá để hộ gia đình kinh doanh

bán lẻ truyền thống hiểu được lợi ích khi tham gia vào chuỗi cửa

hàng tiện ích

129

5.7.2 Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư trong nước 130 5.7.3 Xây dựng các tiêu chuẩn cho cửa hàng tiện ích 131

Trang 8

5.7.4 Xây dựng khung khổ pháp lý nhằm đảm bảo quyền lợi cho các

bên tham gia vào mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích có sự tham gia

của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ

132

5.7.5 Xây dựng các chính sách hỗ trợ về tín dụng cho doanh nghiệp

kinh doanh chuỗi cửa hàng tiện ích

133

5.7.6 Xây dựng mối liên hệ giữa doanh nghiệp vận doanh chuỗi cửa

hàng tiện ích và các cơ quan quản lý

134

5.8 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp 134

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ

LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

137

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

3.2 Các tiêu chuẩn đo lường ảnh hưởng của môi trường kinh

doanh đến động cơ tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán

lẻ vào chuỗi cửa hàng tiện ích

59

3.3 Các tiêu chuẩn đo lường mức độ tham gia của hộ gia đình

kinh doanh bán lẻ vào chuỗi cửa hàng tiện ích

60

3.4 Các tiêu chuẩn đo lường động cơ tham gia của hộ gia đình

kinh doanh bán lẻ truyền thống

3.10 Tiêu chuẩn thang đo điều chỉnh với nhân tố môi trường kinh doanh 71 3.11 Tiêu chuẩn thang đo điều chỉnh với mức độ tham gia 72 3.12 Tiêu chuẩn thang đo điều chỉnh với nhân tố động cơ tham gia 72 3.13 Tiêu chuẩn thang đo điều chỉnh với nhân tố sự hài lòng 73 3.14 Tiêu chí lựa chọn hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

để khảo sát

79

4.2 Kết quả về mức độ am hiểu về chuỗi cửa hàng tiện ích 85 4.3 Kết quả mức độ am hiểu về sự tham gia vào chuỗi cửa hàng

tiện ích

86

4.4 Mô tả thống kê thang đo về ảnh hưởng của môi trường kinh doanh 86

4.6 Thống kê thang đo về sự hài lòng của hộ gia đình kinh doanh bán

lẻ truyền thống

89

Trang 10

4.7 Thống kê thang đo về mức độ tham gia của hộ gia đình kinh

doanh bán lẻ truyền thống

92

4.9 Mô hình hồi quy về ảnh hưởng của môi trường kinh doanh

đến động cơ tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ

truyền thống

94

4.10 Kiểm định sự khác biệt về động cơ tham gia của hộ gia đình

kinh doanh bán lẻ truyền thống

97

4.11 Mô hình hồi quy về quan hệ giữa mức độ tham gia và động cơ

tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào

chuỗi cửa hàng tiện ích

98

4.12 Mô hình hồi quy giữa quan hệ động cơ tham gia và sự hài

lòng của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

100

4.13 Mô hình hồi quy về quan hệ giữa mức độ tham gia góp vốn

và sự hài lòng của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

101

4.14 Mô hình hồi quy về quan hệ giữa mức độ tham gia tổ chức hợp

tác và sự hài lòng của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

102

4.15 Mô hình hồi quy về quan hệ giữa mức độ tham gia trao quyền

và sự hài lòng của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

103

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

2.1 Mô hình nghiên cứu sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh

bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam

41

3.2 Mô hình nghiên cứu sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán

lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích

73

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

3.1 Hiệu quả kinh doanh của các đại lý của G7 Mart trước và sau

khi tham gia chuỗi cửa hàng tiện ích G7 Mart

52

3.2 Đánh giá của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

nhận quyền về cách trưng bày hàng hóa của G7 Mart

55

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Xu hướng phát triển các chuỗi cửa hàng tiện ích

Cửa hàng tiện ích là một loại hình cửa hàng hiện đại có quy mô nhỏ, chuyên bán lẻ những hàng hóa và cung ứng các dịch vụ thiết yếu cho tiêu dùng hàng ngày của người dân với sự thuận tiện tối đa Cửa hàng tiện ích thường có các đặc điểm cơ bản như quy hoạch của các cửa hàng tiện ích thường được đặt ở các khu dân cư, công sở và nơi tập trung đông khách vãng lai; phổ mặt hàng là những hàng thiết yếu tiêu dùng hàng ngày; quy mô, diện tích và bán kính phục vụ của cửa hàng rất nhỏ; cơ sở vật chất hiện đại; kiến trúc và cách bài trí cửa hàng hiện đại và gần gũi, ấm áp; giờ mở cửa kéo dài và hầu như thường không có ngày đóng cửa trong năm; phương thức bán hàng phổ biến là tự phục vụ nhưng khách hàng vẫn cảm nhận được sự gần gũi ấm áp của đội ngũ nhân viên

Tại các nước phát triển, các cửa hàng bán lẻ tiện ích thường được phát triển thành chuỗi các cửa hàng tiện ích là một phương thức tổ chức vận hành và quản lý các hoạt động kinh doanh của các cửa hàng bán lẻ tiện ích theo hệ thống dây chuyền Trong đó, các thành viên cũng như các chức năng hoạt động trong hệ thống được chuyên môn hóa, tiêu chuẩn hóa và liên kết một cách chặt chẽ

Song song cùng tồn tại với các loại hình bán lẻ khác, chuỗi cửa hàng tiện ích đóng góp một phần quan trọng trong hệ thống phân phối bán lẻ nói chung Nó góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi loại hình kinh doanh để thúc đẩy phân phối, kích thích sản xuất phát triển Hơn nữa với sự đa dạng và mạng lưới dày đặc của dịch vụ này đã tận dụng được nguồn lực địa phương cũng như góp phần phục vụ tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng Với quy mô mua hàng lớn và đều đặn cùng với tính chuyên môn hóa cao, các chuỗi cửa hàng tiện ích có thể tiết kiệm được chi phí và đưa đến cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ đã được chọn lọc với giá cả tốt nhất Về phía nhà sản xuất nhờ lượng tiêu thụ lớn và có quy củ, sản

Trang 13

xuất nhờ đó cũng mang tính chuyên môn hóa cao hơn, chất lượng sản phẩm và năng suất lao động được cải thiện

1.2 Sự cần thiết nghiên cứu về sự tham gia của hộ gia đình trong phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích có thể đi theo hai xu hướng

Xu hướng thứ nhất là kết hợp nhượng quyền thương mại và xã hội hóa đầu

tư với sự tham gia mạnh mẽ của các hộ gia đình Khi đó, các hộ gia đình sẽ dùng cơ

sở vật chất, nhân lực, tài chính đầu tư vào các cửa hàng tham gia chuỗi cửa hàng tiện ích Hình thức này cho phép một mặt các tập đoàn thương mại huy động được

sự tham gia của xã hội, mặt khác các hộ gia đình tiếp tục có công ăn việc làm và có thu nhập ổn định Bài toán win-win được đặt ra và nhận được sự ủng hộ của xã hội Phát triển thương mại bán lẻ hiện đại kết hợp với sự chuyển đổi của bán lẻ truyền thống tạo ra sự phát triển bền vững, đề cao các giá trị nhân văn Nhật Bản là quốc gia phát triển khá hài hòa theo mô thức này Tại Nhật Bản, phát triển chuỗi giá cửa hàng tiện ích áp dụng phổ biến hình thức nhượng quyền thương mại nhằm thúc đẩy

sự mở rộng thành dạng chuỗi cửa hàng và tiết kiệm chi phí

Xu hướng thứ hai là các tập đoàn thương mại quốc tế đầu tư mạnh mẽ vào hình thành và phát triển mới các chuỗi cửa hàng tiện ích Xu hướng này khá thịnh hành tại Đông Âu khi các nước này mở cửa thị trường bán lẻ Bài học kinh nghiệm

từ các nước Đông Âu sau khi mở cửa thị trường cho thấy thương mại truyền thống nhanh chóng bị xóa bỏ khi các tập đoàn thương mại thế giới gia nhập thị trường Các thủ đô Đông Âu trong những năm từ 1995 đến 2000 chứng kiến sự đóng cửa hàng loạt các cửa hàng bán lẻ truyền thống Các cửa hàng kinh doanh tư nhân không cạnh tranh nổi với các trung tâm thương mại và đại siêu thị nên lần lượt đóng cửa Thực tế này cho thấy, các đại siêu thị phát triển ồ ạt, cùng với các chuỗi cửa hàng tiện lợi thương hiệu nước ngoài đã làm phá sản rất nhiều các hộ gia đình kinh doanh thương mại truyền thống Hậu quả là tình trạng thất nghiệp của rất nhiều cá nhân kinh doanh thương mại nhỏ lẻ

Trang 14

Tại Việt Nam, phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích trong thời gian qua có một

số thực tiễn dễ nhận thấy như:

+ Theo xu hướng thứ nhất, G7 Mart đã áp dụng nhưng đã thất bại G7 Mart

là chuỗi cửa hàng tiện ích thuộc sở hữu của Công ty cổ phần thương mại Trung Nguyên, được thành lập vào năm 2006 với ý tưởng phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích liên kết với các cửa hàng tạp hóa Ra đời vào năm 2006, với mục tiêu đạt 10.000 cửa hàng, nhưng đến cuối năm 2008, số cửa hàng tiện ích của G7 chỉ đạt con số 568

và đến tháng 11 năm 2011 thì gần như cửa hàng tiện ích của chuỗi G7 đã đóng cửa Mặc dù nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống và phủ được mạng lưới cửa hàng toàn quốc, nhưng Trung Nguyên chưa đủ điều kiện khách quan lẫn chủ quan để điều phối và vận hành chuỗi này Do đó, chuỗi cửa hàng tiện ích G7 Mart rơi vào tình trạng có vỏ nhưng không có ruột và hệ thống bị sập

+ Theo xu hướng thứ hai, rất nhiều tập đoàn và doanh nghiệp đầu tư phát triển thí điểm cửa hàng tiện ích Nhưng các cửa hàng này chưa có giá trị khác biệt nên chưa cạnh tranh được với các hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống có chi phí kinh doanh thấp hơn do sử dụng lao động gia đình và địa điểm kinh doanh sẵn có

Bên cạnh đó, xu hướng phát triển bán lẻ hiện đại trong những năm gần đây đã đẩy thị trường bán lẻ truyền thống bị thu hẹp Sức ép từ phía các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hiện đại, sự thay đổi hành vi mua sắm của người tiêu dùng ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc kinh doanh của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống Hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống đứng trước gánh nặng tài chính, vòng quay vốn chậm, thị trường giảm sút, điều này dẫn đến nguy cơ đóng cửa và thất nghiệp đối với

hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống nhỏ lẻ

Cả hai xu hướng này cho thấy, Việt Nam đang cần thiết có một mô hình cho phép thực hiện ba mục tiêu:

+ Mục tiêu 1: Phát triển các chuỗi cửa hàng tiện ích nhằm đáp ứng nhu cầu

xã hội đang ngày càng gia tăng

Trang 15

+ Mục tiêu 2: Cần kết hợp sự phát triển giữa bán lẻ tiện ích hiện đại và bán

lẻ truyền thống qua huy động sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ vào phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích Mục tiêu này cho phép một mặt phát triển được các chuỗi cửa hàng với chi phí và đầu tư thấp nhất, nhưng cũng cho phép duy trì sự phát triển của kinh tế hộ gia đình, giảm thất nghiệp và phát triển các giá trị truyền thống

+ Mục tiêu 3: Phát huy vai trò của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam, tránh để thị trường phân phối bán lẻ phụ thuộc vào một số tập đoàn kinh doanh quốc tế Qua đó, giúp các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa có cơ hội nhiều hơn khi đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng Thực tế đã chỉ ra, khi các tập đoàn phân phối quốc tế chiếm lĩnh tỷ trọng lớn trong thị trường bán lẻ, họ thường gây sức ép rất lớn và đưa ra các điều kiện rất bất lợi cho doanh nghiệp nội địa muốn đưa sản phẩm vào các kênh phân phối do họ kiểm soát

Thực tế tại Việt Nam, có nhiều nhà hoạch định chính sách luôn cố cổ vũ cho phát triển các đại siêu thị, mong muốn nước ta nhanh chóng có hệ thống siêu thị lớn và hiện đại, nhưng dường như họ đang quên đi hơn 900 nghìn cửa hàng bán lẻ tạp hóa truyền thống (Trần Đức Phó, 2010) đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong ngành thương mại bán lẻ Dường như chỉ có kết hợp sức dân, xã hội hóa các chuỗi cửa hàng bán lẻ thì các tập đoàn thương mại bán lẻ Việt Nam mới có thể thành công trên sân nhà

Kết luận: Một mặt tăng cường sự tham gia của các hộ gia đình vào chuỗi

cửa hàng tiện ích sẽ cho phép tạo công ăn việc làm, duy trì thu nhập của các hộ gia đình, giữ gìn được các giá trị truyền thống trong thương mại bán lẻ Mặt khác, tăng cường sự tham gia của các hộ gia đình vào chuỗi cửa hàng tiện ích cho phép doanh nghiệp Việt Nam huy động được vốn và nhân công, cơ sở vật chất qua xã hội hóa Điều này cho phép khắc phục điểm yếu của doanh nghiệp Việt

Nam về vốn và quản lý chi phí Đề tài "Tăng cường sự tham gia của hộ gia đình

kinh doanh bán lẻ vào chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam" do đó có ý nghĩa

thực tiễn tốt

Trang 16

2 Mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ vào chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam được thể hiện qua ba mục tiêu cơ bản Cụ thể:

+ Mục tiêu 1: Xác định động cơ tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ vào chuỗi cửa hàng tiện ích

+ Mục tiêu 2: Tìm hiểu mối quan hệ tương quan giữa động cơ tham gia, mức độ tham gia, sự hài lòng của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

+ Mục tiêu 3: Đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường sự tham gia của

hộ gia đình kinh doanh bán lẻ vào chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu về sự tham gia của hộ

gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam

Khách thể nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu 221 hộ gia đình kinh

doanh bán lẻ truyền thống đã tham gia hoặc chưa tham gia vào chuỗi cửa hàng tiện ích (163 hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống và 58 chủ các cửa hàng tiện ích nhận nhượng quyền, sở dĩ là 58 chủ các cửa hàng tiện ích nhận nhượng quyền do số cửa hàng nhận nhượng quyền tại Việt Nam trước đây chỉ có của G7 Mart, tuy nhiên hiện nay số các cửa hàng tiện ích nhận nhượng quyền của G7 Mart đã không còn hoặc đã chuyển đổi hình thức kinh doanh nên số quan sát có thể thu thập được bị giới hạn)

Theo thống kê của AC Neilsen năm 2012 thì hiện nay số chuỗi của hàng tiện ích đang hoạt động tại Việt Nam bao gồm 6 chuỗi với tổng số cửa hàng là 180 cửa hàng, bên cạnh đó số lượng siêu thị, đại siêu thị là 167 và 205 siêu thị mini [18] Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích có sự tham gia của

hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống tại Việt Nam chỉ có chuỗi cửa hàng tiện ích G7 Mart là thể hiện rõ nét Mặt khác, do dung lượng của luận án bị giới hạn, nên chỉ tập trung nghiên cứu thực chứng ở mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích có sự tham gia của

hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống G7 Mart Các trường hợp khác, tư liệu và

số liệu thứ cấp được sử dụng Nội dung cụ thể được diễn giải cụ thể tại mục 3.5.1 thuộc chương 3

Trang 17

3 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luận án nghiên cứu sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh

bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng bán lẻ tiện ích tại Việt Nam Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đồng thời phù hợp với dung lượng của một luận án tiến sĩ, phạm vi nghiên cứu của Luận án được giới hạn vào sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán

lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng bán lẻ tiện ích tại Việt Nam, trong đó sẽ lựa chọn nghiên cứu một số các chuỗi cửa hàng, cửa hàng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Lý do lựa chọn nghiên cứu tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và suy rộng ra Việt Nam được diễn giải cụ thể ở tiểu mục 3.5.1 thuộc chương 3

Về thời gian: Luận án nghiên cứu và phân tích thực trạng sự tham gia của

hộ gia đình trong phát triển chuỗi cửa hàng bán lẻ tiện ích tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2012 và định hướng đến 2020

4 Các câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính như sau:

- Động cơ của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống khi tham gia chuỗi cửa hàng tiện ích?

- Có sự khác biệt về động cơ tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ chưa tham gia và đã tham gia vào chuỗi cửa hàng tiện ích?

- Mối quan hệ tương quan giữa động cơ, sự tham gia và sự hài lòng của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ vào chuỗi cửa hàng tiện ích?

- Kiến nghị và đề xuất nhằm tăng cường sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam?

5 Khái quát về phương pháp nghiên cứu

Đây là luận án nghiên cứu về tăng cường sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích Do đó luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học kinh tế như phương pháp chuyên gia, thống kê mô tả, phân tích so sánh và tổng hợp Ngoài ra, luận án còn

sử dụng phương pháp quan sát và điều tra xã hội học nhằm đánh giá một cách khách quan, trung thực cả những thuận lợi, thách thức, mặt mạnh, mặt yếu, hạn

Trang 18

chế của triển vọng tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào phát triển chuỗi cửa hàng bán lẻ tiện ích tại Việt Nam Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, trong luận án, tác giả sẽ sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là nghiên cứu định tính và định lượng Nội dung cụ thể được tác giả trình bày cụ thể ở nội dung chương 3

6 Tính mới và những đóng góp của luận án

Luận án hướng vào các giá trị mới sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cửa hàng tiện ích và chuỗi các cửa hàng tiện ích, hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống, động cơ tham gia, sự hài lòng

và sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích

- Phân tích mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích có sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống tại Việt Nam, trên cơ sở đó xác định động cơ tham gia, sự khác biệt giữa động cơ tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống trước và sau khi tham gia Cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến động cơ tham gia và mối quan hệ giữa động cơ, sự hài lòng và sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích

- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường sự tham gia của hộ gia đình kinh kinh doanh bán lẻ vào chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được kết cấu theo 5 chương:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 2: Cơ sở lý luận về sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ

truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu về tăng cường sự tham gia của hộ gia đình

kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích

Chương 5: Đề xuất và kiến nghị

Trang 19

Chương 1

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC

1.1.1 Chuỗi cửa hàng tiện ích

Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau về chuỗi cửa hàng tiện ích Theo quan điểm nghiên cứu chuỗi cửa hàng tiện ích định hướng người tiêu dùng, tính tiện ích của chuỗi cửa hàng được đề cập như bất cứ điều gì giúp người tiêu dùng để giảm bớt thời gian và nỗ lực của mình trong quá trình mua sắm của họ, chủ yếu tập vào các thị trường sản phẩm [17], [36], [110] Theo các nghiên cứu này, một số yếu tố có ảnh hưởng đến cửa hàng tiện ích như sở thích tiêu dùng Cuộc sống của người tiêu dùng đã trở nên phức tạp với ít thời gian cho việc mua sắm [33] Ngoài ra, phụ nữ đang làm việc bên ngoài nhà của họ nhiều hơn, có nghĩa là ít thời gian nhưng thu nhập cao hơn [31] Tất cả những điều kiện này đã dẫn người tiêu dùng tìm kiếm những cách thức mới để đơn giản hóa cuộc sống của họ trong một môi trường hiện đại và căng thẳng

Quan điểm nghiên cứu thứ hai về chuỗi cửa hàng tiện ích là nghiên cứu vấn

đề bảo trợ và lựa chọn cửa hàng [86] Một vài nghiên cứu cho rằng một số thuộc tính ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng tại các cửa hàng tiện ích như dịch vụ, chất lượng sản phẩm, không khí cửa hàng, vị trí cửa hàng, mức giá, tốc độ kiểm tra, giờ hoạt động, thái độ thân thiện của nhân viên bán hàng và bãi đỗ

xe Một số nghiên cứu khác lại đề cập đến ảnh hưởng của giá cả đến lựa chọn mua sắm của người tiêu dùng tại chuỗi cửa hàng tiện ích Ở góc độ nghiên cứu này một số nghiên cứu đã đề cập đến mối quan hệ tích cực giữa giá cả và nhận thức chất lượng sản phẩm [44], mối quan hệ quan trọng giữa dịch vụ giá thấp và lựa chọn cửa hàng bán lẻ [75], tuy nhiên nghiên cứu này chưa chỉ ra được bằng chứng về mối quan hệ giữa giá thấp với việc lựa chọn cửa hàng Điều này có thể được giải thích bởi vì phản ứng của người tiêu dùng với giá thấp có thể thay đổi tùy thuộc vào loại sản phẩm và định dạng bán lẻ

Trang 20

Hơn nữa, người tiêu dùng nhận thức về chất lượng sản phẩm và dịch vụ cũng được tìm thấy có liên quan tích cực vào việc phát triển cửa hàng tiện ích [25] Các nghiên cứu khác cho thấy rằng nhân khẩu học của người tiêu dùng cũng có thể liên quan đến lựa chọn cửa hàng [32], mặc dù không có sự nhất trí về mối quan hệ này

Quan điểm nghiên cứu thứ ba là nghiên cứu chuỗi cửa hàng tiện ích dưới góc độ xem xét thuận tiện trong một thiết lập dịch vụ và xác định nó như "Tất cả các loại tiện ích mà giảm thời gian của người tiêu dùng hay nỗ lực trong mua sắm, chẳng hạn như giờ hoạt động, hoặc các nguồn tín dụng, thuộc về lĩnh vực dịch vụ tiện lợi" [29], với các thuộc tính như địa điểm, giờ hoạt động, thanh toán điều kiện, dịch vụ và hỗ trợ nhân viên, bãi đậu xe và truy cập cửa hàng, tất cả thuộc về khái niệm về dịch vụ thuận tiện Người tiêu dùng nhận thức thuận tiện được tìm thấy có tác động tích cực đến sự hài lòng của họ với dịch vụ cung cấp [29] Ngoài ra còn có một số thuộc tính khác trong nghiên cứu về cửa hàng tiện ích [72], [90], những nghiên cứu này cho thấy rất có một số các thuộc tính nổi bật để cung cấp sự hài lòng của khách hàng với cửa hàng tiện ích, chẳng hạn như dịch vụ khách hàng, vệ sinh cửa hàng, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn cá nhân, văn minh thương mại, phong cách bán hàng chuyên nghiệp và cách trưng bày sản phẩm [95] Bên cạnh đó trong nghiên cứu của mình, Bellenger và cộng sự cũng cho rằng thuận tiện trong bối cảnh bán lẻ là một cấu trúc đa chiều và các tác giả phát triển một mô hình bán lẻ thuận tiện với bốn kích thước: truy cập thuận tiện, tìm kiếm thuận tiện, sở hữu tiện ích và giao dịch thuận tiện Truy cập thuận tiện liên quan đến tốc độ và cách thức dễ dàng mà người tiêu dùng có thể tiếp cận một cửa hàng bán lẻ tiện ích, nó xem xét các thuộc tính như vị trí dễ tiếp cận, tính sẵn có bãi đậu xe, giờ mở cửa, khoảng cách cửa hàng, điện thoại và truy cập Internet Tốc độ được hiểu là thời gian mà người tiêu dùng liên hệ với các cửa hàng tiện ích ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự lựa chọn cửa hàng, bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng tiếp cận dễ dàng có một mối tương quan cao với lựa chọn một cửa hàng mua sắm [32] Ngoài sự thuận tiện về vị trí, ưu đãi tiện ích khác được cung cấp bởi các nhà bán lẻ, chẳng hạn như có bãi đậu

xe rộng rãi, có thể thu hút khách hàng quen đến một cửa hàng [59] Tìm kiếm tiện

Trang 21

ích là sự dễ dàng tìm và lựa chọn sản phẩm mà người tiêu dùng tìm kiếm và có ý muốn mua Thuộc tính này xem xét giúp người tiêu dùng tìm thấy ngay sản phẩm thông qua bố trí tập trung bán hàng, thiết kế cửa hàng thông minh, nhân viên bán hàng có kiến thức, hệ thống tương tác với khách hàng, đặc biệt là giới thiệu sản phẩm, đóng gói và báo giá Một nghiên cứu cho thấy khi đi mua sắm tại các cửa hàng tiện ích, khách hàng muốn nhân viên lịch sự và hữu ích, nhưng không quá thân thiện để họ không tham gia vào cuộc đàm thoại kéo dài [100] Tài liệu khác cho thấy rằng đánh giá của người tiêu dùng về bầu không khí của các cửa hàng cũng ảnh hưởng đến nhận thức của họ về giá trị và ý định quyết định mua hàng tại cửa hàng của họ [55] Sở hữu tiện ích là tốc độ và dễ dàng mà người tiêu dùng có thể có được sản phẩm mong muốn Một cửa hàng cung cấp cho người tiêu dùng sở hữu thuận tiện bằng tập hợp chủng loại phong phú, đa dạng về hàng hóa và dịch

vụ trong một cửa hàng Trong các tài liệu nghiên cứu, một số nghiên cứu đã tìm thấy rằng phân loại hàng hóa là nhân tố ảnh hưởng tích cực đến lựa chọn cửa hàng bán lẻ [16] và được tìm thấy trong một số trường hợp thậm chí còn quan trọng hơn giá cả tại các cửa hàng tiện ích Giao dịch thuận tiện liên quan đến tốc độ và dễ dàng mà người tiêu dùng có thể thực hiện hoặc sửa đổi các giao dịch Một khi người tiêu dùng lựa chọn một cửa hàng, và lựa chọn sản phẩm mà họ muốn mua,

họ vẫn phải tham gia vào một giao dịch để hoàn thành việc mua Giao dịch thuận tiện liên quan đến phương thức thanh toán khác nhau, dịch vụ thanh toán nhanh chóng, nhân viên được đào tạo tốt, và hệ thống dịch vụ cũng được thiết kế Các yếu tố tiết kiệm thời gian, thanh toán nhanh cũng ảnh hưởng đến lựa chọn cửa hàng tiện ích Ngoài ra, người tiêu dùng cũng thích nói chuyện với nhân viên bán hàng, và tìm kiếm một trải nghiệm xã hội bên ngoài nhà của họ, do đó điều này có thể một số người mua hàng lựa chọn mua hàng tại các cửa hàng, trong đó họ tìm thấy nhân viên bán hàng thân thiện [101] Trong thực tế, một nghiên cứu tìm thấy một rằng có một mối tương quan tích cực giữa nhận thức của người tiêu dùng về thái độ của nhân viên bán hàng, nhận thức chất lượng và sự trung thành với các cửa hàng [68]

Trang 22

Trong một số nghiên cứu khác về chuỗi cửa hàng tiện ích, một số tác giả đã thể hiện sự cần thiết phải nghiên cứu nhiều hơn trong thị trường mới nổi [39], tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu về cửa hàng tiện ích đã được tổ chức tại các thị trường phát triển như Mỹ [29], Châu Âu [104], và Nhật Bản [90] Trong nghiên cứu của mình, Seiders đưa ra cơ sở lý thuyết và điểm khởi đầu cho người tiêu dùng khám phá các thuộc tính cho cửa hàng tiện ích trong một bối cảnh quốc gia khác nhau [95] Các nghiên cứu chỉ ra rằng người tiêu dùng gán cho thuộc tính cửa hàng tiện ích trên khắp các quốc gia có thể khác nhau do sự khác biệt về kinh tế và văn hóa

1.1.2 Sự tham gia

Sự tham gia, hợp tác là mức độ sẵn sàng tham gia vào hoạt động của mỗi bên [65] Theo Mohr và Spekman, các bên tham gia trong mối quan hệ hợp tác nên cùng nhau tham gia vào việc xây dựng kế hoạch cho tất cả các hoạt động có liên quan đến nhau [80]

Sự tham gia, hợp tác có thể hiểu là sự liên kết để thực hiện và giám sát các quyết định bằng nỗ lực của của các bên Sự tham gia, hợp tác có liên quan đến sự phát triển và làm tăng ý thức của người tham gia trong việc kiểm soát các vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ, giúp họ học tập cách lập kế hoạch và thực hiện nó trên phạm vi rộng hơn [88]

Hợp tác được coi là một yếu tố quan trọng để tăng cường các mối quan hệ làm việc [99] Ví dụ, trong các kênh phân phối, sự hợp tác giữa các công ty thành viên là một yêu cầu của các tổ chức tham gia vào một hệ thống và duy trì các mối quan hệ làm việc [99] Hợp tác giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền là điều cần thiết cho hệ thống nhượng quyền phát triển thịnh vượng Mong muốn làm việc cùng nhau và giúp đỡ lẫn nhau là yếu tố rất quan trọng cho sự thành công của cả hai bên nhượng quyền và bên nhận quyền Một môi trường hợp tác sẽ giúp tăng cường sự phối hợp và tạo ra hiệu suất tốt hơn của hệ thống nhượng quyền thương mại [107] Ngoài ra, người ta đã chứng minh được rằng các thành viên của công ty mua bán thường sẵn sàng tham gia vào hợp tác để duy trì một mối quan hệ hai bên cùng có lợi [78] Có quan hệ hợp tác với các đại lý có thể làm giảm chi phí cho bên nhượng

Trang 23

quyền (chi phí phối hợp và thích ứng) [66] Hơn nữa, hợp tác đóng một vai trò quan trọng trong hiệu suất của hệ thống nhượng quyền thương mại [42]

Hợp tác trong một hệ thống nhượng quyền thương mại là chủ đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu và các học viên quan tâm [42] Trong bối cảnh nhượng quyền thương mại, Achrol và Etzel [19] cũng khẳng định rằng các mục tiêu của bên nhận quyền và bên nhượng quyền nên bao gồm khái niệm về hợp tác, thông tin liên lạc, phối hợp và cam kết Theo Whittemore [107], làm việc cùng nhau và giúp đỡ lẫn nhau là rất quan trọng cho cả bên nhận quyền và bên nhượng quyền, một môi trường hợp tác sẽ góp phần tăng cường sự phối hợp và dẫn đến hiệu suất của hệ thống nhượng quyền thương mại cao hơn Một sự hợp tác và cam kết lẫn nhau yếu kém giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền có thể dẫn đến bên nhận quyền không hài lòng [98] Hơn nữa, một trong những vấn đề khó khăn nhất trong nhượng quyền thương mại là xung đột giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền Hợp tác của bên nhượng quyền và bên nhận quyền là một phương pháp tốt để giải quyết các cuộc xung đột có thể phát sinh trong một hệ thống nhượng quyền thương mại [103]

Hơn nữa, hợp tác được định nghĩa là một sự nỗ lực của người tham gia để đạt được một số mục tiêu chung [34] Frazier [53] cho rằng hợp tác phản ánh khả năng của hai bên trong việc cộng tác và làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung Anderson và Narus [21] đã chỉ ra sự hợp tác đó là "mức độ mà các đối tác trong hệ thống tự nguyện thực hiện hành động tương tự hoặc bổ sung để đạt được kết quả chung hoặc ít xoay chuyển theo thời gian" Campbell [37] phát hiện ra rằng người mua và người bán liên quan đến nhau trong một chế độ hợp tác sẽ cúng tìm kiếm những mục tiêu chung Trong bối cảnh hệ thống, [97] định nghĩa hợp tác là

"quá trình hợp tác thông qua các lựa chọn chính sách, chiến lược, chiến thuật, và hành động của hai hay nhiều tổ chức ở các cấp độ khác nhau trong các kênh phân phối để đạt được mục tiêu hai bên mong muốn" Hợp tác chặt chẽ giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền là rất quan trọng cho việc thiết lập một mối quan hệ nhượng quyền thương mại thành công lâu dài Vì vậy, trong nghiên cứu này, sự hợp

Trang 24

tác được định nghĩa là tình huống mà cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung

Tham gia hợp tác là cách hành động của cá nhân được tham gia trong quá trình tạo ra lợi ích lẫn nhau, và các học giả học xác định các thành phần khác nhau của hành vi đó cấu thành hợp tác [77] Các thành phần này bao gồm việc chia sẻ thông tin [23], [60], [102]; giải quyết các vấn đề chung [60], [77], [102]; sẵn sàng thích ứng với những thay đổi bất ngờ [60], [77], và kiềm chế từ việc sử dụng quyền lực để gây bất lợi cho người tham gia khác [60], [77]

Những lời giải thích của các thành phần tham gia hợp tác được cung cấp dưới đây Chia sẻ thông tin đề cập đến sự tự nguyện của người tham gia trao đổi thông tin quan trọng về mối quan hệ của họ với nhau [60] Các thông tin được chia

sẻ có thể liên quan đến việc thiết kế sản phẩm, sắp xếp trang trí cửa hàng, chia sẻ các dữ liệu chi phí và các cuộc thảo luận về kế hoạch tương lai [38] Cannon và Perreault chia sẻ thông tin tăng cường hợp tác bằng cách tạo ra nhận thức về sự mong đợi lẫn nhau và khả năng của các bên và phát triển có nghĩa là chia sẻ của các hành động [38]

Giải quyết vấn đề chung liên quan đến các bên thực hiện một cố gắng để giải quyết các vấn đề hai bên [60] Giải quyết vấn đề chung cũng đã được coi là quan trọng đối với hiệu quả quản lý [70] Cả hai bên cần phải xử lý các vấn đề như trách nhiệm chung và hợp tác làm việc để giải quyết những vấn đề Trong quan điểm này, làm việc trên các vấn đề một mình được coi là một hành vi hợp tác thấp [77]

Sẵn sàng thích ứng với những thay đổi liên quan đến những người tham gia

và các đối tác của họ thường điều chỉnh hành vi của mình để thích ứng với nhu cầu của người khác [77] Lý thuyết ký kết thừa nhận rằng quan hệ trao đổi dài hạn có điều kiện không chắc chắn Các điều kiện phức tạp đến mức mà nó có thể là khó khăn để làm giảm các hợp đồng giao kết hợp đồng đầy đủ và xác định chính xác [76] Kết quả là, quan hệ trao đổi yêu cầu các bên thông qua phản ứng linh hoạt với sự thay đổi không chắc chắn [77] Mahama cũng lưu ý rằng "phản ứng linh hoạt với điều kiện thay đổi hàm ý rằng bên có thể (tái) đàm phán các giải pháp khi có vấn đề phát

Trang 25

sinh mà không hoàn toàn và toàn diện bao phủ bởi các thỏa thuận hợp đồng ban đầu" [77]

Kiềm chế từ việc sử dụng quyền lực liên quan đến các bên thường kiềm chế khai thác nhau, có cơ hội để làm như vậy [77] Nó cũng được coi là một dấu hiệu mạnh mẽ của xu hướng ngoại của người tham gia hợp tác với nhau [77] Sức mạnh luôn luôn là hiện tại và quan trọng trong việc trao đổi các mối quan hệ [76] Lý thuyết quan hệ hợp đồng nhận ra rằng sự trao đổi tạo ra sự phụ thuộc và các bên sẽ thực hiện sẽ sử dụng các nguồn lực trong sở hữu của họ để có được quyền lực đối với những người phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên MacNeil cũng tuyên bố quyền lực đó là "khả năng áp đặt ý chí của một người trên những người khác không phân biệt hoặc bằng cách thao tác mong muốn của họ" [76] Nếu các thành viên kênh được sử dụng nguồn lực không cưỡng chế, sự hài lòng của một thành viên khác kênh sẽ tăng, do đó cần phải tăng cường hợp tác giữa hai bên [64]

1.1.3 Sự hài lòng của người tham gia

Sự hài lòng của đối tác được chấp nhận rộng rãi trong các nhà nghiên cứu như một yếu tố dự báo mạnh mẽ cho các biến hành vi như ý định tham gia hợp tác

và lòng trung thành Dưới góc độ hợp tác kinh doanh, Dwyer và cộng sự cho rằng sự hài lòng là đánh giá toàn bộ về mối quan hệ hoặc trạng thái tình cảm tích cực từ việc đánh giá tất cả các khía cạnh của mối quan hệ giữa các bên tham gia [21], [46], [52]

Sự hài lòng của người tham gia là tổng thể ảnh hưởng dựa trên đánh giá các mối quan hệ của đối tác [46]

Nghiên cứu về mối quan hệ tham gia hợp tác, Payne và Rickard đã xem xét mối quan hệ giữa sự hài lòng và tham gia hợp tác [26], [61], [73] và giữa sự hài lòng và động cơ tham gia hợp tác [73] Người tham gia hài lòng với sự tương tác của họ với các tổ chức có nhiều khả năng để có một thái độ tích cực hoặc tập tin đính kèm đối với các tổ chức [61] Pan và cộng sự [86] chỉ ra rằng người tham gia hài lòng hơn thì khả năng họ sẽ tham gia hợp tác, cam kết với tổ chức cao hơn, do đó nâng cao lợi nhuận tổ chức Hơn nữa, trong một mối quan hệ kinh doanh, Dong Jenn Yang [45]

Trang 26

tìm thấy rằng những người tham gia hài lòng hơn có mối quan hệ chất lượng cao hơn với các doanh nghiệp Một đối tác hài lòng sẽ là một tài sản tích cực cho doanh nghiệp thông qua mua lại sản phẩm hoặc tích cực tham gia đầu tư, tham gia truyền thông dẫn đến lợi nhuận tăng [30], [73] Sự hài lòng của người tham gia cũng được xem là một yếu tố quan trọng để xây dựng một mối quan hệ dài hạn [73] Một khi người tham gia cảm thấy hài lòng với đầu tư của nhà bán lẻ của mối quan hệ, họ sẵn sàng để xây dựng một mối quan hệ lâu dài, và mức độ hài lòng đối với các nhà bán

lẻ trở nên cao hơn [73] Như vậy, người tham gia, đối tác nhận thức sự hài lòng từ một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định có thể được coi là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi hợp tác trong mối quan hệ tương tác Một đối tác hài lòng có thể dẫn đến lợi ích, chẳng hạn như mua lại ý định, đầu tư vốn, tham gia hoạt động tổ

chức kinh doanh, cam kết của người tham gia và lợi nhuận cho các tổ chức

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM

1.2.1 Chuỗi cửa hàng tiện ích

Tại Việt Nam, cũng có rất nhiều các nghiên cứu về chuỗi cửa hàng tiện ích Quan điểm nghiên cứu về chuỗi cửa hàng tiện ích tiếp cận theo hướng lựa chọn và bảo trợ cửa hàng đề cập đến các nhân tố nổi bật của cửa hàng so với các hình thức bán lẻ truyền thống Một số đặc điểm khác biệt của chuỗi cửa hàng tiện ích so với các loại hình bán lẻ khác theo cảm nhận của khách hàng như chất lượng hàng hóa, chủng loại hàng hóa, giá, vệ sinh an toàn thực phẩm, tính chuyên nghiệp, thanh toán nhanh gọn, văn minh thương mại, thái độ thân thiện của nhân viên [15]

Việc phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích cần quan tâm đến đặc điểm ở các khu vực mới, đặc trưng của chuỗi cửa hàng tiện ích và cảm nhận của khách hàng về các giá trị hiện có của chuỗi cửa hàng tiện ích [3], [15]

Hoàng Văn Hải, Lê Quân[3] cho rằng việc phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích là một trong những lựa chọn tối ưu trong quá trình phát triển mô hình chuỗi bán

lẻ hiện đại ở Việt Nam bởi sự phù hợp với đặc trưng hạ tầng cơ sở và văn hóa mua sắm truyền thống

Trang 27

Ở góc độ nghiên cứu chuỗi cửa hàng tiện ích tiếp cận theo hành vi mua sắm của người tiêu dùng [1], [3], [15] đều đề cập đến sự thay đổi thói quen mua sắm, người tiêu dùng lựa chọn tính tiện ích hơn, sự phong phú về hàng hóa và văn minh thương mại, tích kiệm về thời gian

Tính tiện ích trong cửa hàng tiện ích ở các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam tập trung vào sự thuận tiện trong việc lựa chọn hàng hóa bởi chủng loại hàng hóa phong phú, sự thanh toán thuận tiện bởi hệ POS [1], [3], [7], [15], bên cạnh đó các nghiên cứu này cũng thống nhất quan điểm đặc trưng nổi bật khác biệt của cửa hàng tiện ích là thời gian mở cửa 24/24 chưa được khai thác tại Việt Nam bởi văn hóa mua sắm và sinh hoạt của người Việt

Khái niệm về chuỗi cửa hàng, chuỗi siêu thị cũng có rất nhiều các quan điểm tiếp cận khác nhau, tuy nhiên tất cả các nghiên cứu đều thống nhất, chuỗi cửa hàng là một hệ thống bao gồm nhiều cửa hàng khác nhau và có quan hệ tập trung,

có sự tổ chức và quản lý [1], [2], [3], [8], [15]

Trong nghiên cứu về phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích, các nghiên cứu tập trung vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chuỗi cửa hàng tiện ích như ảnh hưởng của phong tục tập quán, hành vi mua sắm của người tiêu dùng, chính sách pháp luật của nhà nước, cơ sở vật chất, hạ tầng [1], [3], [12], [15] Các nghiên cứu tập trung nghiên cứu sự phát triển của chuỗi cửa hàng tiện ích theo hướng đơn lẻ về phía doanh nghiệp sở hữu chuỗi

Trong một vài nghiên cứu khác, nghiên cứu về việc phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích G7 Mart [5] hay chuỗi cửa hàng tiện ích Foocomart [14] chủ yếu đánh giá về cảm nhận của khách hàng về các đặc trưng của chuỗi cửa hàng tiện ích G7 Mart

và Foocomart và những hạn chế của chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam hiện nay

1.2.2 Sự tham gia

Nghiên cứu về sự tham gia ở Việt Nam cũng được đề cập đến trong rất nhiều các nghiên cứu trước đây Sự tham gia được đề cập đến như là sự hợp tác cùng nhau để đạt được mục tiêu chung Sự tham gia được nghiên cứu dưới nhiều

Trang 28

lĩnh vực khác nhau như sự tham gia của doanh nghiệp vào việc đào tạo tại các viện

và trường đại học, sự tham gia của hộ gia đình vào các dự án cộng đồng Dưới góc

độ nghiên cứu về sự tham gia, mỗi lĩnh vực sẽ đưa ra các nhân tố ảnh hưởng khác nhau phụ thuộc vào đặc trưng của ngành Sự tham gia chịu ảnh hưởng của nhân tố hoàn cảnh, nhân tố tổ chức, đặc điểm cá nhân và sự khác biệt về nhận thức [6]

Ở lĩnh vực phân phối bán lẻ thì hầu hết các nghiên cứu thường tập trung vào việc nghiên cứu dưới góc độ nhượng quyền thương mại Trong các nghiên cứu

về sự tham gia theo hình thức nhượng quyền thương mại, các nghiên cứu đều đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc nhượng quyền thương mại như điều kiện gia nhập, hợp đồng nhượng quyền, thỏa thuận hợp tác giữa hai bên, phí nhượng quyền thương mại [5] Một số các nghiên cứu khác tập trung vào việc phân tích các nhân

tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cửa hàng từ đó tập trung xây dựng mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích theo hướng nhượng quyền thương mại [14]

1.2.3 Sự hài lòng của người tham gia

Tại Việt Nam, có rất nhiều các nghiên cứu trước đây nghiên cứu về sự hài lòng, tuy nhiên các nghiên cứu này tập trung nghiên cứu sự hài lòng dưới góc độ của người tiêu dùng về dịch vụ và chất lượng Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu trong nước, sự hài lòng chịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố như sự tin cậy,

sự đáp ứng, sự đảm bảo, sự cảm thông, sự hiện hữu, giá cả dịch vụ Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra rằng sự hài lòng phụ thuộc rất lớn vào chính sách giá cả, sự tin cậy,

sự đáp ứng[9] Một số các nghiên cứu khác về sự hài lòng cho rằng có ba nhóm nhân tố tác động mạnh nhất đến sự hài lòng là năng lực quản lý và phục vụ, tin cậy - đáp ứng, cơ sở vật chất hữu hình [17]

Một số các nghiên cứu khác về mối quan hệ giữa sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng cũng chỉ ra rằng lòng trung thành của khách hàng phụ thuộc vào sự hài lòng của họ về chất lượng và dịch vụ

Tuy nhiên các nghiên cứu trong nước, hầu như chỉ tập trung nghiên cứu về

sự hài lòng của khách hàng về chất lượng hoặc dịch vụ, hoặc đo lường mức độ hài

Trang 29

lòng của khách hàng, chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ sự hài lòng của đối tác tham gia Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự hài lòng và sự tham gia ở Việt Nam hầu như là không có

1.3 KHOẢNG TRỐNG CẦN NGHIÊN CỨU

Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu đã được phân tích thì đa số các nghiên cứu tập trung vào việc phát triển chuỗi cửa hàng bán lẻ tiện ích, hoặc phát triển hình thức bán lẻ hiện đại, hay phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích bằng hình thức nhượng quyền thương mại Tất cả các nghiên cứu đó đều đưa ra một số đề xuất phát triển các mô hình bán lẻ hiện đại, hoặc chuỗi các cửa hàng tiện ích nhưng những nghiên cứu về mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích có sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống, cũng như nghiên cứu động cơ tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích, và mối quan

hệ giữa động cơ, sự tham gia và sự hài lòng của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống trên thế giới và Việt Nam còn rất hạn chế Trong xu thế đô thị hóa và hiện đại hóa như hiện nay, bài toán phát triển các hệ thống bán lẻ là tất yếu Hầu hết, các nhà kinh tế đều ủng hộ và tán thành và khích lệ việc phát triển hệ thống cửa hàng bán lẻ hiện đại, nhưng chính sự bùng nổ đó có thể khiến hơn 900 nghìn hộ kinh doanh truyền thống có thể phải đóng cửa vì không thể cạnh tranh [12] Hậu quả là thất nghiệp gia tăng, phát triển kinh tế không bền vững Như vậy có thể nhận thấy rằng, việc nghiên cứu tăng cường sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán

lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam là một đề tài mới có tính cấp thiết và chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 đã trình bày tổng quan về các nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận án ở cả trong và ngoài nước như nghiên cứu về chuỗi cửa hàng tiện ích, sự tham gia, hợp tác, sự hài lòng

Từ các nghiên cứu trước đây, tác giả đã xác định khoảng trống cần nghiên cứu và chỉ ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trang 30

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA HỘ GIA ĐÌNH KINH DOANH BÁN LẺ TRUYỀN THỐNG

VÀO CHUỖI CỬA HÀNG TIỆN ÍCH

Trong chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan các nghiên cứu có liên quan

và xác định khoảng trống nghiên cứu Ở chương 2 này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu cùng với giả thuyết về sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ vào chuỗi cửa hàng tiện ích Nội dung chương này bao gồm: (1)

Cơ sở lý thuyết sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích, (2) mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu

2.1 SỰ THAM GIA CỦA HỘ GIA ĐÌNH KINH DOANH BÁN LẺ TRUYỀN THỐNG VÀO CHUỖI CỬA HÀNG TIỆN ÍCH

2.1.1 Chuỗi cửa hàng tiện ích

2.1.1.1 Cửa hàng tiện ích

Cửa hàng bán lẻ tiện ích là một định dạng thành công trong thị trường bán

lẻ hiện đại Tên tiếng Anh của loại hình của hàng này là Convenience store Ở Việt Nam, có rất nhiều cách gọi khác nhau về loại hình cửa hàng này Để thống nhất cách gọi, luận án gọi là cửa hàng tiện ích

Theo quan điểm của Nhật, cửa hàng tiện ích là cửa hàng cung cấp tính thuận tiện cho người tiêu dùng chủ yếu là hàng hóa gần gũi, thiết yếu nhất cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân [45]

Theo quan điểm của Mỹ, cửa hàng tiện ích là cửa hàng bán lẻ có diện tích nhỏ, bố trí rất gần người tiêu dùng, bán những mặt hàng giá trị thấp, tiêu dùng hàng ngày hay thường xuyên [24]

Từ điển bách khoa trực tuyến toàn cầu (en.wikipedia org) cho rằng: Cửa hàng tiện ích là một cửa hàng nhỏ bán các hàng hóa hàng ngày như thực phẩm, vệ sinh, đồ uống có cồn, sản phẩm thuốc lá và báo chí Cửa hàng cung cấp các lệnh chuyển tiền và dịch vụ chuyển khoản điện tử

Trang 31

Cửa hàng tiện ích là một cửa hàng nhỏ mở cửa nhiều giờ và bán nhiều loại hàng hóa, đặc biệt là thực phẩm và đồ uống, các vật liệu lau chùi, làm sạch hoặc tạp chí (dẫn theo www.macmillandictionary.com/dictionary/british/convenience-store)

Theo Allbusiness, cửa hàng tiện ích là cửa hàng nhỏ nằm rải rác ở các khu dân cư, dễ dàng mua sắm, giờ đóng cửa muộn và dòng hàng hóa được thiết kế hạn chế cho người mua sắm tiện lợi Cửa hàng tiện lợi tính giá trên mức trung bình so với các siêu thị lớn tạo ra khối lượng bán hàng lớn (dẫn theo www.allbusiness.com/ glossaries/convenience-store/4961119)

Trong cuốn sách có tựa đề "Quá trình phát triển bán lẻ: vị trí, tài sản và lập

kế hoạch" [56], Guy xác định cửa hàng tiện ích có các đặc điểm:

+ Mở 7 ngày trong tuần và có giờ kinh doanh kéo dài

+ Bán một loạt các sản phẩm ngoài các mặt hàng tạp hóa "cốt lõi";

+ Diện tích bán hàng dưới 3000 feet vuông;

Roy Larke xác định cửa hàng tiện ích của Nhật Bản như các cửa hàng

"cung cấp một loạt các hàng hóa và dịch vụ cơ bản mà bất cứ ai cũng có thể cần trong khoảng thời gian ngắn bất cứ lúc nào trong ngày, và trong tầm với của nhà hoặc văn phòng Hầu hết các chuỗi cơ sở kết hợp hàng hóa của họ trên thực phẩm chuẩn bị sẵn và hàng gia dụng đơn giản như văn phòng phẩm làm sạch, vật liệu, vệ sinh và các sản phẩm giải trí đơn giản như tạp chí Cửa hàng phục vụ một khu vực địa phương ngay lập tức, thường bán kính là 500m, thời gian hoạt động dài Roy Larke xác định 5 tiêu chí theo đó chuỗi các cửa hàng đủ điều kiện như một cửa hàng tiện ích Để trở thành cửa hàng tiện ích, một cửa hàng phải:

+ Sử dụng tự phục vụ;

+ Hoạt động hơn 16 giờ một ngày;

+ Có một không gian bán hàng nhỏ hơn 200m2;

+ 30% tổng doanh thu từ thực phẩm tươi sống;

+ Có ít hơn 2 ngày cuối tháng [71]

Một định nghĩa khác của MCR (Manufacturer Convenience Researcher), chuyên nghiên cứu chuỗi thuận tiện, xác định các cửa hàng đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây là cửa hàng tiện ích thích hợp

Trang 32

+ Cửa hàng có diện tích lớn hơn 50m2 và nhỏ hơn 230m2;

+ Doanh số bán hàng đối với thực phẩm (bao gồm cả rượu và bánh kẹo) chiếm hơn 50% doanh số;

+ Doanh số bán hàng của rượu, thực phẩm dễ hỏng, bánh kẹo, thức ăn nhanh, đồ hộp ăn trưa, các món ăn hàng ngày và các sản phẩm khác với các loại thực phẩm nhỏ hơn 60% tổng doanh số;

+ Hoạt động kinh doanh kéo dài trên 14 giờ mỗi ngày và 340 ngày mỗi năm; + Cửa hàng kinh doanh có khoảng 1500 mặt hàng sản phẩm và dịch vụ thuận tiện;

+ Việc bố trí các cửa hàng theo phong cách tiện lợi cung cấp, tiết kiệm năng lượng, độc đáo, bầu không khí thân thiện và các biện pháp phòng chống tội phạm;

Cửa hàng tiện ích là một loại hình cửa hàng hiện đại có quy mô nhỏ, chuyên bán lẻ những hàng hóa và cung ứng các dịch vụ thiết yếu cho tiêu dùng hàng ngày của người dân với sự thuận tiện tối đa [3]

Như vậy, trên cơ sở xem xét quan niệm của một số nước, kết hợp với thực tiễn quan sát những mô hình cửa hàng tiện ích đang hoạt động ở Việt Nam hiện nay,

luận án sử dụng quan niệm về cửa hàng tiện ích như sau: Cửa hàng tiện ích là một

loại hình cửa hàng hiện đại có quy mô nhỏ, chuyên cung cấp hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng nhật dụng của người dân với sự thuận tiện tối đa

2.1.1.2 Chuỗi cửa hàng tiện ích

Vào nửa sau của thế kỷ 19, một hình thái kinh doanh phân phối hiện đại, mới mẻ đã xuất hiện và được gọi là "chain store" "Chain store" được dịch ra tiếng Việt là chuỗi cửa hàng

Theo từ điển bách khoa, chuỗi cửa hàng là các cửa hàng bán lẻ có chung một thương hiệu, trung tâm quản lý, và thường có tiêu chuẩn hóa phương thức kinh doanh và thực hành [58]

Chuỗi cửa hàng đầu tiên được thành lập tại London vào năm 1792 bởi Henry Walton Smith và vợ của ông, cửa hàng bán sách, văn phòng phẩm, tạp chí, báo chí và các sản phẩm giải trí

Trang 33

Tại Mỹ, các chuỗi cửa hàng bắt đầu với việc thành lập công ty chè "The Great Atlantic & Pacific" (A&P) vào năm 1859 Đầu những năm 1920, Mỹ tự hào với ba chuỗi xuyên quốc gia: A&P, Woolworth và các cửa hàng xì gà United [58]

Ở Nhật Bản, mô hình chuỗi cửa hàng được thử nghiệm và hình thành từ cuối thời Mêiji (1910) Chuỗi cửa hàng thống nhất của hãng Takayma đã đạt tới 106 cửa hàng vào trước chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng sau đó bị chiến tranh làm tiêu tan

Như vậy, có thể khái niệm về chuỗi cửa hàng tiện ích: "Một hệ thống được

tổ chức vận hành và quản lý các hoạt động kinh doanh của các cửa hàng bán lẻ tiện ích theo hệ thống dây chuyền Trong đó, các thành viên cũng như các chức năng hoạt động trong hệ thống được chuyên môn hóa, tiêu chuẩn hóa và liên kết một cách chặt chẽ" [3]

Từ khái niệm trên, chuỗi cửa hàng tiện ích bao gồm nhiều cửa hàng tương

tự nhau Cấp độ tương tự nhau của các cửa hàng rất đa dạng Sự tương tự nhau này

có thể đơn giản là giống nhau về lĩnh vực kinh doanh, cùng chung một số mặt hàng kinh doanh hoặc có cùng một tập khách hàng mục tiêu Cấp độ tương tự cao nhất là các cửa hàng này được đồng nhất hóa tức là giống nhau một cách hoàn toàn từ hình thức bên ngoài cho đến cách thức quản lý, điều hành bên trong Tuy nhiên, vấn đề bản chất ẩn chứa đằng sau tính tương tự là các cửa hàng này có nhưng nhu cầu chung trong tổ chức hoạt động kinh doanh như: khai thác nguồn hàng, tổ chức bán hàng hay xúc tiến hỗn hợp v.v Đây chính là động cơ mấu chốt thúc đẩy việc gắn kết các cửa hàng với nhau Bởi nếu các cửa hàng này được gắn kết với nhau để tìm

ra một đối tượng có thể thỏa mãn tất cả những nhu cầu chung của các cửa hàng thì

sẽ hiệu quả và tiết kiệm chi phí hơn so với việc mỗi cửa hàng tự tìm cách thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Các cửa hàng tiện ích trong chuỗi phải được phân bố một cách có trật tự Điều đó có nghĩa là phải có một trung tâm, một đơn vị quản lý đứng ra để tổ chức sắp xếp, quản lý mạng lưới các cửa hàng này nhằm tránh sự phát triển một cách tự phát gây nên sự cạnh tranh không cần thiết làm giảm hiệu quả mạng lưới

Trang 34

Các cửa hàng này được liên kết với nhau Việc các cửa hàng liên kết với nhau theo cơ chế nào và ai đứng ra tổ chức sự liên kết này chính là điểm mấu chốt tạo nên sự linh hoạt và đa dạng về các hình thức chuỗi

Như vậy, vận doanh theo chuỗi không phải là một hình thái tổ chức doanh nghiệp như tập đoàn, tổng công ty, cũng không phải là hệ thống liên kết dọc giữa các trung gian trong kênh phân phối (VMS) của marketing, mà đây là một phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh Trong lĩnh vực phân phối, khi đề cập đến vận doanh theo chuỗi tức là chuỗi theo chức năng chứ không phải chuỗi theo đơn vị hay theo tổ chức Một hệ thống cửa hàng chỉ được gọi là hệ thống cửa hàng vận doanh theo chuỗi khi các chức năng hoạt động trong hệ thống được chuyên môn hóa cho mỗi thành viên

Từ sự phân tích và kết hợp các khái niệm trên, có thể khái quát về chuỗi

cửa hàng tiện ích như sau: Tập hợp các cửa hàng tiện ích được tiêu chuẩn hóa và

thực hiện nhiệm vụ bán hàng cũng như cung ứng dịch vụ theo kế hoạch dưới sự điều hành thống nhất của trung tâm điều hành (head quarter) về các chức năng quản lý, chuẩn bị nguồn hàng, quyết định chính sách bán hàng - giá cả

2.1.2 Hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

2.1.2.1 Khái niệm hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

Hình thức kinh doanh bán lẻ truyền thống thuộc sở hữu hộ gia đình có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như cửa hàng bán lẻ hộ gia đình, cửa hàng tạp hóa, hàng xén, cửa hàng tại các chợ truyền thống Ở đây, tác giả sử dụng khái niệm hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống để chỉ chung hình thức kinh doanh bán lẻ truyền thống thuộc sở hữu của hộ kinh doanh gia đình

Hình thức kinh doanh bán lẻ truyền thống thuộc sở hữu của hộ gia đình là hình thức sơ khai của cửa hàng bán lẻ tiện ích Hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống được được tổ chức dưới dạng những gian hàng nhỏ nằm rải rác trong các khu dân cư, thường thuộc sở hữu của người bán hàng Tại các cửa hàng bán lẻ của hộ gia đình, hàng hóa được bán chủ yếu là những mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm… phục vụ nhu cầu hàng ngày của dân cư khu vực quanh đó

Trang 35

Hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống rất phát triển tại các quốc gia phát triển vào những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Cho đến những nửa cuối của thế kỷ 20, hình thức bán lẻ này đã bị thu hẹp đáng kể với sự xuất hiện của tập đoàn siêu thị và trung tâm thương mại lớn

Trên thế giới, hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống còn được gọi tên tiếng anh là "Mom and Pop store" Theo từ điển, "Mom and Pop store" được hiểu là cửa hàng hoặc doanh nghiệp nhỏ được sở hữu và điều hành bởi các thành viên của một gia đình (dẫn theo www.thefreedictionary.com/mom-and-pop)

Từ các quan niệm và đặc điểm nêu trên về hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống có thể tổng quát chung khái niệm về hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống

như sau: Hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống là các cửa hàng có quy mô

nh , phư ơ ng th c kinh doanh t phát thu c s h u và đ i u hành b i các thành viên c a m t gia đ ình chuyên cung cấp hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng nhật dụng của người dân

2.1.2.2 Đặc điểm

Hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống hiện nay đã có nhiều sự thay đổi căn bản, đó là sự phân hóa khá rõ về chủng loại hàng hóa và cách thức trưng bày Đặc biệt ở các thành phố, mô hình các cửa hàng thuộc sở hữu của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ đã không còn mang tính "tạp hóa" nữa mà mang tính "bán lẻ" - chủng loại mặt hàng giảm đi và số lượng các thương hiệu của cùng chủng loại tăng lên Các chủ cửa hàng ngày càng quan tâm hơn tới việc phát triển kỹ năng bán hàng cũng như việc tiếp xúc và chăm sóc khách hàng

Mặt khác, sự cạnh tranh đã trở nên rõ ràng và gay gắt hơn Các chủ cửa hàng bây giờ phải bận tâm tới những điều trước đây không hề có như: mức doanh thu và lợi nhuận trên từng đơn vị diện tích cũng như sự khác nhau giữa việc đem lại lợi nhuận của từng vị trí khác nhau trong cửa hàng Và sự cạnh tranh của các cửa hàng cùng loại khiến họ phải chọn lựa: hoặc là sẽ phát triển theo hướng bán lẻ tạp hóa một số mặt hàng quen thuộc hoặc là sẽ bán tất cả các mặt hàng trong tất cả các chủng loại mặt hàng mà mình đang kinh doanh và đến đây thì bài toán bắt đầu có sự

Trang 36

hiện diện của yếu tố thương hiệu - các chủ cửa hàng bán lẻ cũng sẽ chịu áp lực phải

kinh doanh một số mặt hàng có tên tuổi và tất nhiên là ít lợi nhuận với một số mặt hàng ít tên tuổi hơn nhưng có khả năng mang lại lợi nhuận cao hơn

Tại nước ta, hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống đến nay vẫn tiếp tục đóng góp rất quan trọng và chiếm đa số trong hệ thống bán lẻ Tuy nhiên, loại hình bán lẻ này hoạt động chủ yếu như một thành phần kinh tế ngầm Hệ thống hóa đơn tài chính gần như không có

Ưu điểm nổi bật của hộ gia đình bán lẻ truyền thống là "gần gũi" với người tiêu dùng Đặc điểm này được thể hiện không chỉ về khoảng cách đi lại ngắn mà cả về các chủng loại hàng hóa với chất lượng và giá cả vừa phải, phù hợp Đặc biệt khách hàng có thể không thanh toán ngay vì người bán luôn nhớ mặt, nhớ tên khách hàng, thậm chí nhớ mặt cả các thành viên trong gia đình khách hàng Do vậy, khách hàng thậm chí có thể nhờ con nhỏ ra mua mà không cần mang theo tiền bạc hoặc mặc cả

Hơn nữa, sự thuận tiện cũng chính là điều mà người tiêu dùng lựa chọn khi mua sắm tại các cửa hàng của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ Điều này quyết định tại sao các cửa hàng tạp hóa có thể chiếm một phần lớn tổng lượng hàng hóa tiêu dùng lưu thông trong hệ thống các kênh phân phối

Sự thuận tiện không tồn tại do ý chí của cá nhân hay vị trí của các cửa hàng

mà sự thuận tiện trong mua sắm tại các cửa hàng kinh doanh bán lẻ truyền thống xuất phát từ hiện thực của cấu trúc giao thông hiện nay tại Việt Nam Các khu dân

cư tập trung ở các con hẻm nhỏ, người dân sử dụng phương tiện di chuyển cá nhân chủ yếu bằng xe máy Phương tiện này có đặc điểm là cơ động nhưng khả năng chở hàng lại ít nên lượng hàng hóa mua được mỗi lần không cao Điều này khiến cho tần suất mua sắm của người dân cao hơn và do đó nhu cầu mua sắm tiện ích tại các cửa hàng bán lẻ truyền thống của hộ gia đình gần nhà cũng nhiều hơn

Bên cạnh ưu điểm, nhược điểm của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ là do cách thức tổ chức truyền thống nên đa phần các cửa hàng còn thiếu thiếu tính thẩm

mỹ trong bày bán hàng, chẳng hạn như hàng thực phẩm có thể bị bày lẫn lộn với hóa trong ẩm hay hàng hóa bày bán ngoài trời chịu tác động của thời tiết do đó chất

Trang 37

lượng sản phẩm có thể xuống cấp nhanh hơn thời hạn sử dụng Do đó chất lượng sản phẩm ở hệ thống cửa hàng này chưa đảm bảo tính tin cậy cho khách hàng và đặc biệt trong điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhược điểm đó là một trở ngại lớn cho sự phát triển của hình thức bán lẻ của hệ thống cửa hàng này

Hơn nữa, hầu hết các cửa hàng nhỏ lẻ hộ gia đình đều kinh doanh theo kiểu

tự phát nên không có tính chuyên nghiệp của người cung cấp dịch vụ do vậy mà chất lượng dịch vụ ở mức rất thấp

Mặt khác, đa phần đội ngũ bán hàng vẫn ở trình độ "tự có", chưa được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp và các dịch vụ thanh toán, dịch vụ sau bán hàng còn hạn chế

2.1.3 Sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích

2.1.3.1 Khái niệm sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào chuỗi cửa hàng tiện ích

Sự tham gia là mức độ sẵn sàng tham gia vào hoạt động của mỗi bên [100] Theo Mohr và Spekman, các bên tham gia trong mối quan hệ hợp tác nên cùng nhau tham gia vào việc xây dựng kế hoạch cho tất cả các hoạt động có liên quan đến nhau [80]

Sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ vào chuỗi cửa hàng bán lẻ tiện ích có thể hiểu là sự liên kết để thực hiện và giám sát các quyết định bằng nỗ lực của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ và doanh nghiệp sở hữu chuỗi cửa hàng bán

lẻ tiện ích Sự tham gia có liên quan đến sự phát triển và làm tăng ý thức của người tham gia trong việc kiểm soát các vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của

họ, giúp họ học tập cách lập kế hoạch và thực hiện nó trên phạm vi rộng hơn [88]

Về bản chất, việc hộ gia đình tham gia vào chuỗi cửa hàng bán lẻ tiện ích là một

"điều tốt" vì nó phá vỡ sự cô lập, tạo điều kiện cho sự phát triển và hỗ trợ tương tác lẫn nhau, đồng thời giúp cho sự độc lập và kiểm soát hiệu quả tốt hơn trong hoạt động kinh doanh của cả hai bên tham gia [88] Tuy nhiên, khi xem xét sự tham gia Oakley đã lập luận rằng có sự khác biệt cơ bản giữa sự tham gia phát triển (từ trên

Trang 38

xuống) và sự tham gia trong phát triển (từ dưới lên) Tuy nhiên, xem xét ở góc độ nào thì sự tham gia cũng cần phải được quy định bởi một số đặc điểm chung

Thứ nhất, sự tham gia được thể hiện bằng nỗ lực xây dựng năng lực chung

"Đào tạo và các phương pháp khác để giúp các thành viên tham gia phát triển sự tự tin và kỹ năng cần thiết cho họ để đạt được mục đích của họ" [108], tạo cơ hội nâng cao khả năng của người tham gia, chất lượng được đánh giá là khả năng, khả năng

để có thể làm điều gì đó

Thứ hai, sự tham gia cần có hành động tập thể Sự tham gia cần tiến hành

một cách đồng bộ tất cả các hoạt động để nâng cao chất lượng của cá nhân người tham gia và tổ chức mà họ tham gia Các hoạt động đó có thể là hành động trực tiếp như đầu tư cơ sở vất chất, xây dựng và nhận diện thương hiệu chung, áp dụng quy chế chung, đưa ra tiêu chí cụ thể cho từng thành viên tham gia và nó được kiểm soát bởi điều khoản quy định được thỏa thuận giữa các bên tham gia

Thứ ba, sự tham gia nhằm mục tiêu phát triển, có nghĩa là sự tham gia cần

xác định nhằm mục tiêu phát triển vì vậy cần xây dựng các phương pháp hay cách tiếp cận được sử dụng bởi thành viên trong hệ thống để khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động của hệ thống Việc phát triển hệ thống có liên quan đến sự thay đổi và phát triển

Phát triển hệ thống có liên quan đến với sự thay đổi và phát triển, cho phép người tham gia có nhiều quyền lực hơn so với sự thay đổi đang diễn ra trong hoạt động kinh doanh xung quanh họ, chính sách có ảnh hưởng đến họ và các dịch vụ mà

họ sử dụng Nó cho phép hộ gia đình và doanh nghiệp sở hữu chuỗi phát triển và thay đổi theo nhu cầu và ưu tiên hơn là những người quyết định bởi tình huống ngoài tầm ranh giới của họ Nó hoạt động thông qua việc đưa mọi người lại với nhau để chia sẻ kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm với niềm tin rằng thông qua làm việc cùng nhau họ sẽ đạt được đầy đủ tiềm năng của họ [83]

Thứ tư, sự tham gia là hành động tự nguyện: Về cơ bản sự tham gia thực

hiện vì lợi ích của những người tham gia và có ảnh hưởng rất lớn tới thị trường bán

lẻ cũng như các tổ chức và doanh nghiệp kinh doanh trong ngành bán lẻ Một số quan điểm cho rằng, việc hình thành lên mô hình chuỗi cửa hàng bán lẻ tiện ích có

sự tham gia của hộ gia đình là một phần của hành động tự nguyện, và một số các

Trang 39

doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ chuỗi đã tiếp cận theo góc độ tự nguyện đầu tư và nâng cấp của hàng tạp hóa, của hàng bán lẻ của hộ gia đình thành các cửa hàng bán

lẻ tiện ích với thương hiệu của doanh nghiệp, cụ thể là mô hình chuỗi cửa hàng bán

lẻ tiện ích của G7 Mart nâng cấp từ của hàng tạp hóa hay mô hình nâng cấp cửa hàng bán lẻ, cửa hàng tạp hóa của Công ty cổ phần Cửa hiệu và Sức sống

Ngoài các điều kiện liên quan đến việc tham gia của hộ gia đình vào chuỗi cửa hàng bán lẻ tiện ích thì hai vấn đề chính luôn được tranh luận là mức độ tham gia và quyền lực của các bên tham gia

Về mức độ tham gia, có một sự khác biệt quan trọng giữa mức độ tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ vào chuỗi cửa hàng tiện ích Xem xét sự tham gia hoàn toàn, "sự tham gia hoàn toàn được hiểu như là một phương pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bằng cách sử dụng các nguồn lực của bên tham gia"

và tham gia một phần [88] Điều này được mô tả như một sự phân biệt giữa công cụ

và biến đổi (hoặc phát triển) tham gia

Vấn đề quyền lực là một vấn đề quan trọng trong tham gia, nó được phân chia thành các bậc thang theo mức độ tham gia Các bậc thang là một phân tích hữu ích của quyền lực trong tham gia [25] Trên quan điểm nghiên cứu của Oakley, tác giả có điều chỉnh đối tượng trong đặc trưng về quyền lực tham gia cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận án

Bảng 2.1 Đặc trưng về quyền lực tham gia

Cấp 1 Thao tác Doanh nghiệp quản lý chuỗi thụ động, thông tin cung cấp có

thể chính xác một phần hoặc không chính xác Cấp 2 Giáo dục

Cấp 3 Thông tin Doanh nghiệp quản lý chuỗi cung cấp các thông tin đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra

Cấp 4 Tham vấn Doanh nghiệp quản lý chuỗi tham vấn nhưng không có quyền yêu cầu thực hiện

Cấp 5 Tham gia Doanh nghiệp quản lý chuỗi có một số ảnh hưởng nhưng hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vẫn quyết định

Cấp 6 Đối tác Doanh nghiệp đàm phán với hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống về quyết định, thực hiện và kiểm soát Cấp 7 Nhượng quyền Doanh nghiệp trao quyền quyết định cho hộ gia đình kinh doanh

Trang 40

bán lẻ truyền thống trên cơ sở quy định chung của doanh nghiệp Cấp 8 Kiểm soát Doanh nghiệp kiểm soát hoàn toàn mọi hành động và ra quyết định

Nguồn: Peter Oakley, David Marsd, 1991

Sự tham gia có thể được định nghĩa là sự bao quát tất cả mọi thứ bắt đầu từ cấp độ 4 (Tham vấn) đến cấp độ 8 (kiểm soát)

Nhìn chúng, có rất nhiều khái niệm khác nhau Trong khuôn khổ nghiên

cứu này, tác giả sử dụng khái niệm "Sự tham gia được hiểu là hành động tích cực

của các bên tham gia nhằm ra quyết định và thực hiện các quyết định chung Nó đòi hỏi sự sẵn sàng chia sẻ quyền lực và trách nhiệm" [27] Hầu như tất cả các lợi ích

của việc tham gia chỉ tích lũy khi các bên tham gia cảm thấy họ có tiếng nói trong các quyết định Một số mức độ trong việc ra quyết định là cần thiết để phát triển bền

+ Tham gia góp vốn: Ở cấp độ này, doanh nghiệp quản lý chuỗi kiểm soát toàn bộ hoạt động của chuỗi, hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống chỉ đóng góp

cơ sở vật chất, vốn và ăn chia trên tỷ lệ thỏa thuận với doanh nghiệp sở hữu chuỗi

+ Sự tham gia tổ chức hợp tác: Ở cấp độ này, việc tạo ra hoặc phát triển của các tổ chức và các tổ chức là một yếu tố quan trọng của việc tham gia Tổ chức chính thức (đại lý của chuỗi, cửa hàng thành viên chuỗi, nhượng quyền thương mại một phần) có thể là kết quả sự tham gia của hộ gia đình kinh doanh bán lẻ truyền thống vào hoạt động của chuỗi Giữa đại lý của chuỗi và cửa hàng thành viên của chuỗi có

sự khác biệt về tổ chức hợp tác, tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, sự phát triển mới (hoặc thay đổi) tổ chức sẽ liên quan đến các quyết định quyền lực và kiểm soát

Ngày đăng: 18/09/2020, 00:22

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w