Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam NHNo&PTNT – Chi nhánh thành phố Vinh trong thời gian vừa qua đã có nhiều biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro tín dụn
Trang 1NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Hà Nội - Năm 2015
Trang 2NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ VINH
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn khoa học Các số liệu và trích dẫn được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy
Trang 4iv
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy, cô Trường Đại học Kinh
tế - Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy , cô trường Đại học Kinh tế ,
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Hà Cường đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, học hỏi, song do thời gian, kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong muốn nhận được sự tham gia đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô giáo cùng bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 5v
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ x
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1.Tổng quan về tình hình nghiên cứu 3
1.2.Cơ sở lý luận hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 6
1.2.1.Tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 6
1.2.2.Hạn chế rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại 25
1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hạn chế rủi ro tín dụng 34
1.3 Kinh nghiệm công tác hạn chế rủi ro tín dụng tại các NHTM trong và ngoài nước 36
1.3.1 Kinh nghiệm hạn chế rủi ro tín dụng tại các NHTM nước ngoài 37
1.3.2 Kinh nghiệm hạn chế rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 40
Chương 2 46
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
2.1 Các phương pháp nghiên cứu 46
2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin 46
2.1.2 Phương pháp thống kê mô tả 47
2.1.3 Phương pháp phân tích 48
2.1.4 Phương pháp tổng hợp 49
2.1.5 Phương pháp so sánh 49
2.2 Trình tự nghiên cứu 50
Chương 3 54
THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ VINH 54
3.1 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh 54
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 54
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ 55
Trang 6vi
3.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam – Chi
nhánh thành phố Vinh từ 2012 – 2014 57
3.2 Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh giai đoạn 2012 – 2014 63
3.2.1 Rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh 63
3.2.2 Hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh 68
3.3 Đánh giá thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh 75
3.3.1 Kết quả đạt được 75
3.3.2 Tồn tại, hạn chế 76
3.3.3 Nguyên nhân 78
Chương 4 83
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ VINH 83
4.1 Định hướng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh 83
4.1.1 Định hướng hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam 83
4.1.2 Định hướng phát triển của NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh thành phố Vinh 84
4.2 Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chi nhánh thành phố Vinh 85
4.2.1 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý 85
4.2.2 Thực hiện đúng quy trình tín dụng 87
4.2.3 Nâng cấp hệ thống thông tin minh bạch chính xác 90
4.2.4 Hoàn thiện công tác chấm điểm, xếp hạng khách hàng 91
4.2.5 Nâng cao hiệu quả công tác đánh giá tài sản đảm bảo 92
4.2.6 Thúc đẩy công tác thu hồi nợ xấu 93
4.2.7 Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nợ xấu phát sinh 94
4.2.8 Hoàn thiện quy trình kiểm soát hoạt động tín dụng tại Chi nhánh 96
4.2.9 Nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ ngân hàng 98
4.3 Một số kiến nghị 99
Trang 7vii
4.3.1 Kiến nghị với các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền 99 4.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 10
Trang 8viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu viết
tắt
Nguyên nghĩa
1 ABA Hiệp hội ngân hàng Châu Á
2 APRACA Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn Châu Á
Thái Bình Dương
3 CBTD Cán bộ tín dụng
4 CICA Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Quốc tế
5 CN Chi nhánh
6 CNH Công nghiệp hóa
7 CPI Chỉ số giá tiêu dùng
15 ICBC Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc
16 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
17 IPCAS Hệ thống thanh toán nội bộ và kế toán khách hàng
18 KQKD Kết quả kinh doanh
19 LDR Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động
20 MTV Một thành viên
21 NHCT Ngân hàng Công thương
Trang 9ix
22 NHTM Ngân hàng thương mại
23 NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 102 Bảng 3.2 Quy mô tín dụng NHNo & PTNT Việt Nam – Chi
nhánh thành phố Vinh giai đoạn 2012-2014 49
3 Bảng 3.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank - CN
4 Bảng 3.4 Tình hình nợ quá hạn tại Chi nhánh giai đoạn năm
5 Bảng 3.5 Tình hình nợ xấu tại Chi nhánh năm 2012 - 2014 54
6 Bảng 3.6 Vòng quay vốn tín dụng NHNo&PTNTViệt Nam -
Chi nhánh thành phố Vinh giai đoạn từ 2012-2014 55
7 Bảng 3.7 Tỷ lệ mất vốn tín dụng NHNo&PTNT chi nhánh thành phố Vinh giai đoạn từ 2012 – 2014 56
8 Bảng 3.8
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh thành phố Vinh giai đoạn 2012 – 2014
57
9 Bảng 3.9
Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh thành phố Vinh giai đoạn 2012 – 2014
57
10 Bảng 3.10
Tổng thu nhập từ hoạt động tín dụng dụng NHNo&PTN Việt Nam - Chi nhánh thành phố Vinh giai đoạn từ 2012-2014
58
11 Bảng 3.11 Cơ cấu lại nợ trong NHNo&PTNT Việt Nam – Chi
II Danh mục biểu đồ
1 Biểu đồ 3.1 Tỷ trọng các biện pháp xử lý nợ xấu của Agribank – Chi nhánh TP.Vinh giai đoạn 2012 – 2014 64
Trang 11xi
DANH MỤC SƠ ĐỒ
2 Sơ đồ 1.2 Mô hình rủi ro tín dụng của ngân hàng 14
3 Sơ đồ 2.1 Mô hình quy trình nghiên cứu luận văn 40
4 Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Việt Nam -
Trang 121
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển theo hình thái kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với sự chuyển đổi cơ chế của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đang được kiện toàn, sắp xếp lại, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển và hội nhập quốc tế Cũng giống như các doanh nghiệp khác, ngoài hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, ngân hàng thương mại (NHTM) còn là một trung gian tài chính, có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với các chủ thể khác trong nền kinh tế thông qua các hoạt động kinh doanh như huy động vốn, cho vay, thanh toán, bảo lãnh và cung cấp các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật Các hoạt động này luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro ở các mức độ khác nhau, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng cho vay
Với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, rủi ro tín dụng đang là vấn
đề lớn, cấp bách, thách thức đối với các nhà quản trị ngân hàng Sự gia tăng của các khoản nợ xấu, nợ quá hạn, thất thoát vốn tín dụng do bị lừa đảo, chiếm dụng vốn, đã khiến nhiều ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến sáp nhập hoặc phá sản
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT) – Chi nhánh thành phố Vinh trong thời gian vừa qua đã có nhiều biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro tín dụng nhưng nợ quá hạn, nợ xấu vẫn còn tương đối cao, đã ảnh hưởng đến nguồn vốn cho vay và kéo theo những hệ lụy kinh tế khác khiến cho hoạt động kinh doanh của Chi nhánh bị ảnh hưởng, trì trệ, hiệu quả thấp Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chi nhánh trong thời gian tới, bên cạnh việc mở rộng tín dụng hoạt động cho vay phải có các giải pháp hữu hiệu để nhận biết, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đạt kết quả tốt nhất
Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh” để nghiên cứu, từ đó đề ra các giải pháp cơ bản nhằm góp
phần nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng trong cho vay của đơn vị
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hạn chế rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh thành phố Vinh giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014
4 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đi sâu làm rõ các câu hỏi sau đây:
- Tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng là gì?
- Tiêu chí nào đánh giá hạn chế rủi ro tín dụng?
- Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh?
- Các giải pháp hạn chế rủi ro đối với hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh?
- Để thực hiện các giải pháp trên, các điều kiện cần thiết nào để hạn chế rủi ro tín dụng mang lại hiệu quả?
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng, biểu đồ, sơ đồ và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh
Chương 4: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh
Trang 143
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã vận dụng lý thuyết về rủi ro tín dụng và
có sự tham khảo các bài báo, tài liệu, công trình đã công bố có nội dung liên quan đến nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và hạn chế rủi ro tín dụng nói riêng, cụ thể như sau:
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011) với bài viết “Quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng – kinh nghiệm quốc tế”, đăng trên Tạp chí ngân hàng, trang 60-67 Tác giả cho rằng quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng là cách thức đảm bảo cho ngân hàng duy trì chất lượng hoạt động tín dụng của mình Để làm tốt công tác này, ngân hàng cần tập trung xây dựng hệ thống xếp hạng chấm điểm khách hàng và ước tính tổn thất rủi ro tín dụng Đồng thời, việc xây dựng danh mục theo kế hoạch cũng là phương thức giúp ngân hàng quản lý được danh mục tín dụng của mình Đối với ngân hàng mà đối tượng phục vụ chủ yếu là doanh nghiệp thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết bởi đặc trưng kinh doanh của đối tượng này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định cấp tín dụng của ngân hàng
Tác giả Đào Ngọc Chuyền (2010) với bài viết “Một số khó khăn trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại”, đăng trên Tạp chí Ngân hàng Theo tác giả, các ngân hàng thương mại thường xuyên hoàn thiện và áp dụng hàng loạt biện pháp ngăn ngừa
và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay, nhưng nhiều khoản nợ xấu vẫn cứ xuất hiện Vì vậy, cùng với việc chủ động phòng ngừa rủi ro thì các ngân hàng thương mại đồng thời phải chú ý thích đáng đến việc xử lý nợ xấu đã phát sinh Trong phạm
vi bài viết, tác giả nêu ra những nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trong việc xử
lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại
Tác giả Phạm Thị Nguyệt và tác giả Hà Mạnh Hùng (2013) với bài viết
“Nguyên nhân và những biểu hiện rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại”, đăng trên Tạp chí Ngân hàng Bài viết nêu khá rõ về những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và một số biện pháp cơ bản nhận biết rủi ro tín dụng Từ đó giúp các ngân hàng thương mại sớm nhận biết và có biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng kịp thời, hiệu quả
Tác giả Nguyễn Thùy Dung (2010) với đề tài “Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long – Chi nhánh Hà Nội”, luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Trước tiên,
Trang 154
tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại, nêu khái niệm về rủi ro tín dụng, những chỉ tiêu đánh giá hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Bên cạnh đó cũng đi sâu vào quy trình tín dụng và phân tích rủi ro tín dụng chủ yếu tại khâu lập hồ sơ, kiểm tra, đề xuất và xử lý nợ, chưa đánh giá chi tiết các nguyên nhân khác tác động đến rủi ro tín dụng như: đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng, chất lượng chuyên môn của cán bộ tín dụng, sự mất cân đối trong cung cấp thông tin của khách hàng vay Đồng thời cũng chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể về hạn chế rủi ro tín dụng gắn liền với đặc điểm và nguyên nhân mà tác giả đã phân tích ở phần cơ sở lý luận và kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước về cổ phần hóa ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước
Tác giả Nguyễn Toàn Trung (2010) với đề tài “Phân tích rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Quảng Nam”, luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã hệ thống các vấn
đề lý luận về rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại: khái niệm về rủi ro tín dụng, quan niệm về quản trị rủi ro tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại, nguyên nhân, hậu quả của các yếu tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng Đề tài đã đưa ra hai chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng là nợ quá hạn và tỷ lệ xóa nợ ròng Tuy nhiên, luận văn chưa tìm hiểu và phân tích được biểu hiện, đặc điểm của rủi ro tín dụng nói chung của ngân hàng thương mại Các chỉ tiêu phân tích chưa nêu rõ được yếu tố nào tác động đến rủi ro tín dụng Đề tài đề cập chủ yếu là các nhân tố khách quan, và dừng lại ở góc độ phân tích chỉ tiêu nợ xấu, chưa tách tỷ trọng nợ xấu theo nhóm và ngành, chỉ rõ một số ngành thường xuyên có rủi ro đặc thù ngành để xây dựng giải pháp hạn chế rủi ro phù hợp
Tác giả Nguyễn Thị Mai (2011) với đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP) Việt Nam Thịnh vượng (VPBank) - Chi nhánh Đà Nẵng”, luận văn Thạc sỹ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Đề tài trình bày lý luận về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại, hệ thống các khái niệm, các tiêu chí đánh giá và cách thức nhận dạng rủi ro tín dụng Phân tích đánh giá từ khái quát đến cụ thể tình hình cấp tín dụng, thực trạng nợ xấu và những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại VPBank - Chi nhánh Đà Nẵng Trên cơ
sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế những rủi ro tại Chi nhánh
Tác giả Dương Thị Hằng Nga (2007) với đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Đồng Nai trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Đề tài nêu một số vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại và cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín
Trang 165
dụng của các ngân hàng thương mại trong hội nhập quốc tế Đồng thời luận văn cũng phân tích tình hình quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Đồng Nai, nêu ra những mặt tích cực và hạn chế Dựa vào những phân tích đó, tác giả
đề xuất một số giải pháp quản trị rủi ro tín dụng có thể áp dụng trong thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tại Chi nhánh
Tác giả Ngô Hải Quỳnh (2010) với đề tài “Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Hàng hải – Chi nhánh Đà Nẵng”, luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Trên cơ sở đánh giá thực trạng rủi ro và công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại chi nhánh, đồng thời kết hợp với những nghiên cứu lý thuyết, đề tài đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải – Chi nhánh Đà Nẵng
Tác giả Nguyễn Thanh Hòa (2011) với đề tài “Giải pháp hạn chế cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tai Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng”, luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Đề tài phân tích lý luận về hoạt động tín dụng và rủi ro cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại, trong đó tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, các phương thức cho vay, cũng như nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng đối với nhóm khách hàng là doanh nghiệp Tác giả phân tích, đánh giá từ khái quát đến cụ thể tình hình cho vay, thực trạng rủi ro tín dụng và những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng Trên cơ sở đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh
Tác giả Tô Thị Thanh Huyền (2008) với đề tài “Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam”, luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Đề tài nghiên cứu các nguyên nhân cơ bản dẫn đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam, thực trạng hoạt động cho vay tại Ngân hàng cũng như những mặt tích cực và hạn chế trong công tác quản trị rủi ro Từ phân tích, đánh giá thực trạng, tác giả cũng đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam
Tóm lại, mặc dù đã có nhiều bài báo, tài liệu, công trình nghiên cứu đã công bố trước đây về vấn đề rủi to tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng, với nhiều ý tưởng có tính kế thừa Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung tiếp cận và nhìn nhận ở cấp
độ quốc gia, cấp độ ngành, chưa có công trình nghiên cứu nào liên quan đến rủi ro tín
Trang 176
dụng mà đối tượng là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thành phố Vinh
1.2 Cơ sở lý luận hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1.1.1 Khái niệm
Tại Việt Nam, có rất nhiều các quyết định ban hành về hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại Cụ thể là: quyết định 1627/2001 - QĐ - NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và hướng dẫn thực hiện số 49/QĐ - HĐQT ngày 31/05/2002 của NHCT Việt Nam, quyết định số 106/QĐ - HĐQT - NHCT ngày 20/08/2002 về việc cho vay đối với khách hàng trong hệ thống ngân hàng công thương Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 số 47/2010/QH12
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì "Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích
và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi"
Còn theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 số 47/2010/QH12 đưa ra khái niệm về cho vay như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”
1.2.1.1.2 Nguyên tắc cho vay
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn: đảm bảo tính thanh khoản trong hoạt động là mục đích tối thượng của các NHTM, bởi lẽ vốn của NHTM cho vay có nguồn gốc chủ yếu là vốn huy động (đi vay) Việc huy động vốn đều có thoả thuận rõ ràng về thời hạn hoàn trả và lãi suất kèm theo Việc huy động tiền gửi của NHTM đòi hỏi phải thanh toán trả gốc và lãi cho người gửi, đồng thời bên cạnh
đó phải đảm bảo chi phí cũng như mức lãi nhất định để NHTM duy trì hoạt động và chấp nhận rủi ro trong hoạt động của mình Do đó việc cho vay đòi hỏi phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi với mức lãi suất đảm bảo chi trả cho người gửi, cho chi phí hoạt động của NHTM và một mức lãi thích hợp cho việc chấp nhận rủi ro trong hoạt động
Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: nhằm bảo vệ an toàn vốn của mình
Trang 187
(đi vay) cho vay đối với khách hàng, NHTM phải thoả thuận với khách hàng về các mục đích sử dụng vốn vay trên cơ sở đảm bảo tính hợp pháp, tính an toàn và quay vòng của đồng vốn Thoả thuận các điều kiện kèm theo mục đích sử dụng vốn vay đó nhằm tạo điều kiện cho các NHTM kiểm soát được rủi ro của đồng vốn mà có được biện pháp kịp thời, chủ động xử lý nhằm giảm thiểu rủi ro mất vốn, dẫn đến ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NHTM Do vậy, vốn vay cần phải được sử dụng đúng mục đích
Vốn vay phải có tài sản tương đương làm đảm bảo: nhằm đảm bảo hơn nữa việc hạn chế những rủi ro, NHTM cho vay trên cơ sở phải có tài sản tương ứng để đảm bảo cho vốn vay nhằm dự phòng nguồn thu cho NHTM khi có rủi ro xảy ra tạo khả năng kiểm soát của NHTM cũng như động lực để khách hàng vay vốn thực hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, thực hiện đúng các thỏa thuận với NHTM
1.2.1.1.3 Các hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng rất phong phú và đa dạng, tùy theo tiêu thức khác nhau mà
có các cách phân loại khác nhau Trên cơ sở đó ngân hàng thiết lập quy trình cho vay, nâng cao hiệu quả tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng được tốt hơn
- Căn cứ vào thời gian (thời gian tín dụng), hoạt động cho vay được phân thành:
Cho vay ngắn hạn: là những khoản cho vay có kỳ hạn tối đa đến 12 tháng, sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng
Cho vay trung, dài hạn: là những khoản cho vay được xác định chủ yếu để đầu
tư mua sắm tài sản cố định, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô thu hồi vốn lớn Loại cho vay này đang ngày càng được các ngân hàng chú trọng phát triển, đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, phù hợp với khả năng vốn của các ngân hàng thương mại Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 60 tháng, thời hạn cho vay dài hạn từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân
- Căn cứ vào mục đích, hoạt động cho vay được phân thành:
Cho vay bất động sản: bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn và giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay dài hạn tài trợ cho việc mua đất canh tác, nhà cửa, trung tâm thương mại và mua các tài sản nước ngoài Đối với loại hình cho vay này, ngân hàng thường được bảo đảm bằng chính tài sản thực: đất đai, toà nhà
và các công trình
Trang 19Cho vay khác: gồm các khoản cho vay không được xếp ở trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán
Tài trợ thuê mua: ngân hàng mua thiết bị máy móc hay phương tiện và cho khách hàng thuê
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng, hoạt động cho vay được chia thành:
Tín dụng không có bảo đảm: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng ngân hàng không nắm giữ một loại tài sản nào của người vay để làm dự phòng nhằm thu hồi khoản vay khi có vi phạm hợp đồng mà thay vào đó là những điều kiện: phương án kinh doanh được ngân hàng đánh giá có tính khả thi, có khả năng đem lại lợi nhuận cao; doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề thời điểm vay vốn Khách hàng là những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả, khi đó ngân hàng dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần nguồn thu nợ bổ sung
Tín dụng có bảo đảm: là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng nắm giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở hữu của người bảo lãnh Các hình thức bảo đảm thường gặp là: thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh Mục đích của việc này là khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng ngân hàng có quyền xử lý các tài sản đó để thu hồi tiền cho vay Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng
có thêm một nguồn, bổ sung cho nguồn thu nợ Các tài sản bảo đảm ở đây thường là các bất động sản, động sản thuộc quyền sở hữu của bên đi vay, được phép giao dịch, không có tranh chấp, tài sản được bảo hiểm theo quy định của pháp luật
- Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng, hoạt động cho vay được phân thành: Tín dụng bằng tiền: là loại hình tín dụng được cung cấp bằng tiền Đây là hình thức cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng và được thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp, v.v
Trang 209
Tín dụng bằng tài sản: là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và đa dạng, mà điển hình nhất là tài trợ thuê mua Theo phương thức này ngân hàng hoặc công ty thuê mua (công ty con của ngân hàng) cung cấp trực tiếp tài sản cho khách hàng và theo định kỳ khách hàng hoàn trả nợ vay gồm cả gốc và lãi
- Căn cứ vào xuất xứ của tín dụng, hoạt động cho vay được phân thành:
Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho những khách hàng có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng
Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ được phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán Các hình thức này gồm có: chiết khấu, mua lại các phiếu bán hàng, nghiệp vụ thanh lý
- Căn cứ vào phương thức cho vay, hoạt động cho vay được phân thành:
Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, cho vay theo các phương thức như sau:
Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng Phương thức này
áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, sản xuất không ổn định;
Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng và khách hàng xác định, thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh Việc cho vay và thu nợ đan xen nhau, không phân định ranh giới, thời điểm cụ thể lúc nào cho vay, lúc nào thu nợ Phương thức này áp dụng đối với các khách hàng có nhu cầu vay trả thường xuyên, tình hình kinh doanh ổn định, vòng quay vốn nhanh và có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng;
Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống;
Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng Trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Ngoài ra cho vay hợp vốn còn phải thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc ngân hàng Nhà nước ban hành;
Cho vay trả góp: khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận
số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay;
Trang 2110
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn, trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng;
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay, trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng;
Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản, chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng, phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;
Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy định tại quy chế cho vay và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay
Trang 2211
1.2.1.1.4 Quy trình nghiệp vụ tín dụng
Sơ đồ 1.1 Quy trình cho vay trong các ngân hàng thương mại
(Nguồn: Nguyễn Minh Kiều, 2012 Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương
mại hiện đại Hà Nội: NXB Thống kê)
Trong mỗi loại hình cho vay, thủ tục có vài điểm khác nhau nhưng về quy trình thì đều được tiến hành theo thứ tự các bước như sau:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ vay vốn
Khách hàng cung cấp các thông tin mà cán bộ tín dụng yêu cầu và làm thủ tục
hồ sơ xin vay vốn bao gồm: giấy đề nghị vay vốn; hồ sơ pháp lý liên quan đến khách hàng và khoản vay: năng lực pháp lý và năng lục hành vi của khách hàng, tính pháp lý của TSBĐ (tài sản đảm bảo),…; phương án / dự án vay vốn
Bước 2: Phân tích, thẩm định các điều kiện vay vốn
Cán bộ tín dụng phân tích khả năng hiện tại và tiềm năng của khách hàng về sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay cả gốc và lãi thông qua các chỉ tiêu đưa ra để đánh giá khách hàng vay vốn của ngân hàng
Bước 3: Quyết định cho vay
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ vay vốn
Bước 2: Phân tích, thẩm định các điều kiện vay vốn
Bước 3: Quyết định cho vay
Bước 4: Giải ngân khoản vay
Bước 5: Kiểm tra, giám sát khoản vay
Bước 6: Thu hồi nợ gốc, lãi và xử lý những phát sinh
Bước 7: Thanh lý hợp đồng tín dụng
Trang 2312
Ngân hàng sau khi phân tích, thẩm định khoản vay sẽ đưa ra quyết định cho vay hay từ chối đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng Nếu ngân hàng từ chối cho vay thì phải có giấy thông báo lý do cho khách hàng biết Nếu đồng ý cho vay, ngân hàng và khách hàng sẽ đàm phán về số tiền, thời hạn, phương thức cho vay sau
đó ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay và đăng ký giao dịch bảo đảm
Bước 4: Giải ngân khoản vay
Ngân hàng thực hiện giải ngân khoản vay cho khách hàng trên cơ sở mức cho vay đã cam kết trong hợp đồng Hình thức giải ngân của ngân hàng sẽ là trao tiền trực tiếp cho khách hàng, hoặc chuyển tiền vào tài khoản khách hàng (nếu khách hàng có tài khoản mở tại ngân hàng), hoặc là trung gian thanh toán tiền hàng của khách hàng cho nhà cung cấp
Bước 5: Kiểm tra, giám sát khoản vay
Bước này nhằm mục tiêu bảo đảm cho tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã cam kết, kiểm soát các rủi ro phát sinh, phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những sai phạm
có thể ảnh hưởng đến khả năng thu nợ sau này Thành viên tham gia vào quá trình giám sát khoản vay gồm: nhân viên kế toán; nhân viên tín dụng; thanh tra, kiểm soát viên của chính ngân hàng đó
Bước 6: Thu hồi nợ gốc, lãi và xử lý những phát sinh
Ngân hàng tiến hành thu nợ khách hàng theo những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng Nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng không có khả năng trả nợ thì ngân hàng có thể xem xét cho gia hạn nợ hoặc chuyển sang nợ quá hạn để sau này
có biện pháp xử lý thích hợp nhằm đảm bảo thu hồi nợ
Bước 7: Thanh lý hợp đồng tín dụng
Nếu hết thời hạn của hợp đồng tín dụng và khách hàng đã hoàn tất các nghĩa vụ trả nợ cả gốc và lãi thì ngân hàng và khách hàng hoàn chỉnh thủ tục thanh lý hợp đồng tín dụng, giải chấp tài sản nếu có và lưu trữ hồ sơ vay vốn của khách hàng vào kho lưu trữ Trong trường hợp ngân hàng giám sát và phát hiện thấy khách hàng vi phạm những cam kết ghi trong hợp đồng tín dụng nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ sau này, ngân hàng có thể đề nghị và tiến hành thanh lý hợp đồng tín
dụng bắt buộc
1.2.1.2 Rủi ro tín dụng
1.2.1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ
cả vốn gốc và lãi của khoản vay, hoặc là thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn
Trang 24Rủi ro tín dụng là khoản lỗ do ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho họ
Trong kinh tế thị trường , môi trường kinh doanh luôn có sự biến động, thì tính
ổn định trong các đơn vị, các tổ chức kinh tế mang tính chất tương đối Khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng để kinh doanh mà gặp phải rủi ro mất khả năng thanh toán
nợ, dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng
1.2.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trường hợp đối với nợ lãi và nợ gốc Đó là việc không thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạn hoặc không thu đủ vốn Tuỳ trường hợp mà ngân hàng hạch toán vào các khoản mục theo dõi khác nhau như lãi treo hoặc nợ quá hạn Khi không thu được lãi đúng hạn, nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và chỉ đưa vào mục lãi treo phát sinh Nếu ngân hàng không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoản mục lãi treo đóng băng, trừ những trường hợp ngân hàng miễn giảm lãi đó cho doanh ngiệp Còn khi không thu được vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát sinh Tuy nhiên, khoản này vẫn chưa thể coi là khoản mất mát hoàn toàn của ngân hàng Vì lý do nào đó doanh nghiệp chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam kết trong hợp đồng Nếu như khoản này ngân hàng không thể thu hồi được (do doanh nghiệp bị phá sản chẳng hạn) thì lúc này ngân hàng coi như gặp rủi ro tín dụng ở mức độ cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi, trừ những trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp vay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo quy định về xoá nợ, ngân hàng có thể xem xét để xoá nợ cho doanh nghiệp
Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức, các hình thức đó luôn chuyển biến cho nhau, mà mức độ cuối cùng là nợ không có khả năng thu hồi Khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào các nguy cơ xảy ra rủi ro như lãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro thực sự nên thường được xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học
Trang 2514
Sơ đồ 1.2
Mô hình rủi ro tín dụng của ngân hàng
(Nguồn:https://voer.edu.vn: Rủi ro trong tín dụng trong hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng thương mại)
Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn những rủi ro gắn liền với khả năng trả nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng bao gồm:
Rủi ro đọng vốn
Đây là loại rủi ro tín dụng do khách hàng không hoàn trả khoản nợ đúng hạn theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và lãi vay Sự sai hẹn này là do trễ hẹn, sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, khoản vay bị ứ đọng không thu được thì kế hoạch đặt ra không thực hiện được, làm cho ngân hàng mất nguồn thu mới, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng trong các khoản vay mới và gây khó khăn trong việc chi trả người gửi tiền
Rủi ro mất vốn
Đây là loại rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và lãi vay Rủi ro mất vốn là do khách hàng không trả được một phần hoặc toàn bộ nợ vay, chi phí ngân hàng tăng do phải trích lập dự phòng rủi ro, chi phí thu hồi nợ, dòng tiền của ngân hàng bị giảm sút, đồng thời doanh thu của ngân hàng chậm lại hoặc mất Nếu bị mất gốc thì quy mô hoạt động của ngân hàng sẽ bị giảm, nếu không thu được lãi vay thì khả năng sinh lời sẽ giảm
1.2.1.2.3 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Không thu đủ lãi Không thu đủ vốn
2 Xóa nợ
Trang 2615
Dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng: khách hàng trì hoãn hoặc gây trờ ngại đối với ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất về tình hình sử dụng vốn vay, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính, có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng Khách hàng chậm hoặc trì hoãn các báo cáo tài chính theo yêu cầu của ngân hàng mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục Khách hàng đề nghị gia hạn, điều chỉnh các khoản nợ nhiều lần không có lý do, hay sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng mở tại ngân hàng Cũng có thể là sự chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn thanh toán Trong quá trình kinh doanh, khách hàng xuất hiện các khoản nợ quá hạn: tiêu thụ hàng chậm, thu hồi công nợ chậm, mức độ vay thường xuyên gia tăng, vượt quá nhu cầu dự kiến Tài sản đảm bảo của khách hàng không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo giảm sút so với định giá khi cho vay, có các dấu hiệu cho người khác thuê, bán hoặc trao đổi,… Ngân hàng dựa vào dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ vào các nguồn thu nhập ngoài sản xuất kinh doanh; dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ từ nhiều nguồn; dấu hiệu đầu tư các khoản tiền ngắn hạn cho hoạt động đầu tư dài hạn hay sự chấp nhận nguồn vốn vay lãi suất cao với mọi điều kiện
Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng: sự chênh lệch lớn giữa doanh thu thực tế so với
kế hoạch đề ra; những thay đổi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản; báo cáo tài chính của khách hàng xuất hiện chi phí bất hợp lý: chi phí quảng cáo, tiếp khách, phô trương tăng cao; khách hàng thay đổi thường xuyên về mặt tổ chức hoặc nhân sự ban điều hành; bỏ hợp đồng nhỏ và vừa có tỷ suất lợi nhuận cao, tìm hợp đồng lớn nhưng tỷ suất lợi nhuận thấp; quá trình khảo sát, thẩm định dự án của khách hàng sai dẫn đến đầu tư không hiệu quả; khách hàng gặp khó khăn khi phát triển sản phẩm dịch vụ mới; việc bán sản phẩm ra thị trường quá sớm hoặc đặt áp lực thời gian sinh lời; quá trình sản xuất kinh doanh gặp thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, dẫn đến mất mùa, thất thu, mất tài sản,… Đối với khách hàng là tư nhân, có dấu hiệu của bệnh kéo dài hoặc dẫn đến tử vong
- Phát sinh từ phía ngân hàng
Trong quá trình cho vay, ngân hàng đưa ra các chính sách tín dụng không hợp
lý Khi ngân hàng cho vay, sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng cũng gây nên rủi ro tín dụng Khi cấp tín dụng, khách hàng cam kết không chắc chắn và thiếu tài sản đảm bảo Chỉ số tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá năng lực kiểm soát Ngân hàng soạn các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng
Trang 2716
tín dụng không rõ ràng Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự hoàn chỉnh Sự cạnh tranh thái quá, giảm thấp lãi suất, tăng hạn mức của các ngân hàng khác cũng gây ra rủi ro tín dụng
1.2.1.2.4 Nguyên nhân và ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
- Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
Có bốn nguyên nhân cơ bản dẫn đến rủi ro tín dụng: nguyên nhân khách quan
từ môi trường bên ngoài; nguyên nhân từ phía khách hàng; nguyên nhân từ ngân hàng; nguyên nhân từ phía bảo đảm tín dụng
Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài
Rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng thuộc về thiên nhiên như: thiên tai dịch họa, lũ lụt, hạn hán, chiến tranh,… gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, làm gia tăng khối lượng các khoản nợ quá hạn
Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định bao gồm các yếu tố như các giai đoạn của chu kỳ kinh tế (phát triển, tăng trưởng hay suy thoái,…), sự thay đổi cơ chế chính sách, lãi suất, tỷ giá, chỉ số giá tiêu dùng (CPI),…
Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển mạnh, hoạt động kinh doanh thuận lợi vì thế dẫn đến việc rủi ro vỡ nợ và rủi ro không trả được nợ thấp hơn Do đó, hoạt động tín dụng là tương đối an toàn.Trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, sản xuất bị đình trệ và ứ đọng vốn dẫn đến khả năng tài chính của khách hàng gặp nhiều khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng kém sẽ dẫn đến các khoản tín dụng gặp rủi ro gia tăng Trong điều kiện nền kinh tế phát triển quá nóng, NHNN sẽ áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất thị trường tăng, doanh nghiệp sẽ phải đi vay với lãi suất cao hơn dẫn đến chi phí tài chính tăng Trong khi đó thì doanh thu của doanh nghiệp giảm một cách rõ rệt, rủi ro tín dụng sẽ gia tăng
Môi trường chính trị, pháp luật
Khi một quốc gia có nền chính trị không ổn định, luôn xảy ra các cuộc chiến tranh, bạo loạn, đình công, tranh chấp giữa các đảng phái,… thì việc kinh doanh trong giai đoạn đầu tư của các doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn và cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các ngân hàng trong hoạt động tín dụng
Trong những trường hợp có sự thay đổi về chính trị, điều chỉnh chính sách, chế
độ, pháp luật của Nhà nước hoặc thay đổi địa giới hành chính của các địa phương, sự sáp nhập hay tách ra của các cơ quan, bộ ngành trong nền kinh tế Những sự thay đổi
và điều chỉnh đó là tất yếu trong quá trình phát triển một đất nước Nhưng nó là
Trang 28Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: quá trình tự
do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho việc bất cân xứng gia tăng, nợ xấu gia tăng khi tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến cho các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại trong nước và hệ thống quản lý yếu kém có nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên, bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút
Nguyên nhân từ phía khách hàng vay
Đối với khách hàng là cá nhân thì nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập của cá nhân, thường có những rủi ro vì những nguyên nhân sau: có thu nhập không ổn định Rủi ro đạo đức như sử dụng vốn sai mục đích, không muốn hoàn trả nợ vay, dùng khoản vay ngân hàng để cho vay với lãi suất cao hơn, công việc bị thay đổi hoặc bị mất việc hay không có nơi cư trú ổn định
Đối với khách hàng là doanh nghiệp thì nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng bao
gồm: trình độ quản lý, dự đoán các vấn đề kinh doanh của khách hàng còn yếu kém,
sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Nhiều
nhà quản trị, khi nhận được khoản tiền vay, họ đẩy mạnh quy mô kinh doanh, trong khi tư duy quản lý của họ còn quá hạn chế, họ thiếu tính toán đến những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng, khắc phục khó khăn trong kinh doanh Hoặc trong công tác quản lý của khách hàng phát sinh các mâu thuẫn khiến hoạt động kinh doanh bị ngừng trệ, sản xuất bị đình đốn Những điều này đã làm cho các phương án
kinh doanh đầy khả thi bị phá sản mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
Do khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, chủ định lừa đảo cán bộ ngân
hàng, thiếu thiện chí trong việc trả nợ Việc khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích
được coi là suy giảm đạo đức trên thị trường cho vay Khách hàng khi vay đều có
Trang 2918
phương án kinh doanh cụ thể, khả thi, nhưng khi nhận được vốn vay, họ có thể có động cơ tham gia vào những hoạt động không mong muốn nếu xét theo quan điểm của người cho vay Trong những tình huống như vậy, có nhiều khả năng khách hàng vay sẽ đầu tư vào các dự án đầu tư có mức rủi ro cao, tức là các dự án đem lại lợi nhuận cao cho người đi vay nếu thành công Song mức rủi ro cao lại là nguyên nhân
làm cho khách hàng vay có nguy cơ vỡ nợ
Do tình hình tài chính của khách hàng yếu kém, thiếu minh bạch Để thuận lợi trong việc vay vốn, khách hàng sẽ có xu hướng thay đổi số liệu, thông tin gây bất lợi cho quá trình đi vay của mình Thậm chí còn có doanh nghiệp sử dụng đồng thời hai
hệ thống kế toán, một luôn lỗ hay lợi nhuận rất thấp để đối phó với cơ quan thuế và một rất đẹp đẽ khi đặt quan hệ giao dịch với ngân hàng Khi được cấp tín dụng, do quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ hơn nhiều so với giấy tờ, quản lý thì yếu kém đã gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của khách hàng
Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Nguyên nhân rủi ro từ phía ngân hàng rất quan trọng, và chủ động vì ngân hàng
là chủ thể của các hoạt động tín dụng Theo đánh giá của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì 50% ngân hàng phá sản trên thế giới là do các yếu tố từ ngân hàng gây ra, vì:
Công tác điều hành quản trị còn bộc lộ các mặt yếu kém Nhiều nhà quản trị chưa được đào tạo một cách cơ bản, chưa đủ khả năng để điều hành ngân hàng nên khả năng lập kế hoạch, khả năng ứng phó với những thay đổi của môi trường xung quanh họ còn hạn chế Điều này đồng nghĩa với việc các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro mà họ đề ra chưa hoàn thiện và bộc
lộ nhiều sai sót, như: họ chưa thể đưa ra được chiến lược chấp nhận nợ xấu đáp ứng các mục tiêu về chất lượng tín dụng, thu nhập, tăng trưởng và phải luôn tính đến các khía cạnh chu kỳ của nền kinh tế và sự dịch chuyển trong cơ cấu, chất lượng của toàn
bộ danh mục đầu tư tín dụng Đồng thời, mô hình quản lý rủi ro mà họ đưa ra không phù hợp, gây khó khăn khi thực hiện, có thể càng làm gia tăng rủi ro
Cán bộ tín dụng hạn chế về năng lực nên mắc phải sai lầm, thiếu sót trong các khâu của quá trình cho vay Trong các khâu đánh giá, thẩm định, xét duyệt khi cho vay, theo dõi quá trình sử dụng vốn,… do hạn chế về năng lực mà một số cán bộ tín dụng bị khách hàng qua mặt, cố tình lừa đảo, gây nên những khoản thất thoát tín dụng Phần lớn thông tin mà cán bộ tín dụng thu thập được chủ yếu là từ hồ sơ vay vốn, các bảng báo cáo tài chính, sổ sách kế toán do khách hàng cung cấp Mà hầu hết các số liệu trên giấy tờ đều thiếu chính xác, không phản ánh kịp thời và đầy đủ tình hình kinh doanh của khách hàng Điều này làm cho cán bộ ngân hàng thiếu thông tin,
Trang 30Ngân hàng chưa chú ý tới sự đa dạng của các danh mục cho vay Chẳng hạn, do cạnh tranh lãi suất khiến ngân hàng tăng lãi suất huy động làm cho lãi suất cho vay tăng theo Kết quả là, các dự án có mức rủi ro thấp bị loại, các dự án có suất sinh lời cao kèm theo rủi ro cao mới vay được vốn ngân hàng Tình hình này khiến cho danh mục cho vay của ngân hàng thiếu đa dạng chỉ tập trung vào các dự án rủi ro cao Khi
mà rủi ro này xảy ra, ngân hàng có thể phải đối mặt với vấn đề nợ xấu gia tăng
Do tư tưởng chạy theo thành tích, ngân hàng tăng dư nợ ồ ạt, không có căn cứ trong khi chất lượng hạn chế, khi đó việc kiểm soát khoản vay sẽ rất khó và rủi ro xẩy
ra Do lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ của ngân hàng Việc không thường xuyên kiểm tra chất lượng tín dụng, hay kiểm tra mang tính chất hình thức, ngân hàng sẽ không đánh giá được mức độ rủi ro, không tìm ra các nguyên nhân để đưa ra biện pháp xử lý kịp thời
Bản thân ngân hàng cũng thiếu thông tin tín dụng hoặc thông tin không chính xác, kịp thời, chưa có danh sách phân loại doanh nghiệp, chưa có sự phân tích, đánh giá doanh nghiệp một cách khách quan, đúng đắn Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng tín dụng Nhờ có thông tin tín dụng, người quản lý có thể đưa ra những quyết định cần thiết có liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay Thông tin tín dụng có thể thu được từ các nguồn sẵn có ở ngân hàng (hồ sơ vay vốn, thông tin giữa các tổ chức tín dụng, phân tích của cán bộ tín dụng,…);
từ khách hàng (theo chế độ báo cáo định kỳ hoặc phản ánh trực tiếp); từ các cơ quan chuyên về thông tin tín dụng ở trong và ngoài nước; từ các nguồn thông tin khác (các
cơ quan thông tấn, báo chí, toà án) Số lượng, chất lượng của thông tin thu nhận được
Trang 3120
có liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích, nhận định thị trường, khách hàng,… để đưa ra những quyết định phù hợp Thông tin càng đầy đủ, nhanh nhạy, chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao
Nguyên nhân từ các bảo đảm tín dụng
Trường hợp bảo đảm bằng tài sản: do sự biến động của giá trị tài sản đảm bảo theo chiều hướng bất lợi; do doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nắm giữ các tài sản đảm bảo để xử lý chúng; tài sản đảm bảo khó định giá, tính thương mại thấp hay có những tranh chấp về mặt pháp lý
Trường hợp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh): người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho người vay tín dụng khi người này không có khả năng trả
nợ
- Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng phát sinh sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới ngân hàng, khách hàng vay, hơn thế nữa là ảnh hưởng tới nền kinh tế
Ảnh hưởng đối với ngân hàng
Lợi nhuận của ngân hàng bị giảm Cho vay là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng Rủi ro tín dụng có thể làm ngân hàng mất một khoản lợi nhuận từ những khoản vay này mang lại, đồng thời ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng rủi ro và tăng chi phí bù đắp những tổn thất do rủi ro tín dụng, dẫn đến lợi nhuận của ngân hàng giảm
Giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng Một ngân hàng dùng vốn vay của những người chủ nợ của mình (những người gửi tiền vào ngân hàng) đem cho vay mà không thu hồi được nợ, ngân hàng phải đối mặt với việc không có tiền trả cho khách hàng đến rút vốn
Ngân hàng bị giảm uy tín Nợ xấu tăng, tức là chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm, khả năng thanh toán giảm, sẽ mất tín nhiệm ngân hàng đối với khách hàng đến rút tiền Và cũng không ai muốn gửi tiền vào ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ
nợ xấu quá cao, vượt cả mức cho phép, chất lượng tín dụng không tốt
Rủi ro tín dụng quá cao, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ phá sản Không phải chỉ có các ngân hàng nhỏ khi gặp phải vấn đề này sẽ bị phá sản mà ngay cả các ngân hàng lớn cũng vậy Như trường hợp của Washington Mutual Bank, trước khi phá sản, đây là NHTM lớn thứ sáu nước Mỹ, nhưng do không trụ nổi với sức nặng của những khoản nợ xấu kếch sù liên quan đến thị trường cho vay, ngân hàng này đã kệ đơn xin phá sản Đây cũng là vụ sụp đổ ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với số tài sản
Trang 32bị ngân hàng đánh giá là do yếu kém trong việc quản lý và sử dụng vốn, nếu nợ xấu cao thì khách hàng khó có thể duy trì mối quan hệ lâu dài với ngân hàng
Nợ xấu làm giảm tốc độ chu chuyển vốn Hầu hết các hoạt động giao dịch của khách hàng đều thông qua ngân hàng và các hoạt động sản xuất kinh doanh thì dựa vào vốn vay từ ngân hàng, nợ xấu làm uy tín của khách hàng với ngân hàng bị giảm Chính vì vậy, ngân hàng phải thận trọng khi đưa ra quyết định cho vay, thời gian quyết định cho vay cũng lâu hơn, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Và ngân hàng có thể đưa ra một hạn mức tín dụng với khách hàng, hạn mức này thấp hơn so với mức mà khách hàng cần Những điều này đều làm giảm tốc
độ chu chuyển vốn của khách hàng
Ảnh hưởng đối với nền kinh tế
Hoạt động sản xuất trong nền kinh tế bị đình trệ Rủi ro tín dụng xuất hiện, ngân hàng khó thu hồi lại vốn, chi phí cho các khoản nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng, ngân hàng sẽ giảm cho vay, khi đó những nơi cần vốn để sản xuất kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng, hoạt động sản xuất kinh doanh bị chậm lại, có khi bị phá sản, sẽ tác động tiêu cực đến sự phát triển chung của nền kinh tế Tăng sức ép lạm phát cho nền kinh
tế Nợ xấu tăng quá cao, vốn của ngân hàng ứ đọng nhiều trong các khoản nợ xấu, tiền trong lưu thông giảm, gây ra sức ép tăng cung tiền, dẫn đến lạm phát tăng
Gây khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng và khủng hoảng kinh tế Nợ xấu gia tăng nếu không xử lý kịp thời, ngân hàng sẽ bị thua lỗ, và có thể dẫn đến phá sản Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh tế dây chuyền, một ngân hàng phá sản có thể gây ảnh hưởng tới các ngân hàng cấp cao hơn, hoặc tới các tổ chức tín dụng, hay ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán, kéo theo sự rối loạn trong hệ thống tài chính (tùy vào quy mô của ngân hàng),…Như vào những năm 1970, các NHTM nước ngoài cho các nước kém phát triển vay hàng trăm tỷ đôla Đến những năm 1980, các khoản cho vay này trở nên khó thu hồi, gây khủng hoảng nợ, các NHTM bị thua lỗ rất lớn
1.2.1.2.5 Các tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng
Trang 3322
Đo lường rủi ro cũng là cơ sở để ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng hợp
lý, chính sách lãi suất phù hợp với từng thời kỳ, xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng cho từng loại tài sản có và cho từng loại hình cho vay Rủi ro tín dụng được đo lường bằng các chỉ tiêu sau đây:
- Chỉ tiêu tổng dư nợ
Tổng dư nợ phản ánh khối lượng vốn mà ngân hàng đã cho vay và chưa thu được nợ hoặc khách hàng chưa phải trả nợ gốc, nó được tính bằng tổng số cho vay năm nay và số dư nợ năm trước trừ đi số thu nợ năm nay
Tổng dư nợ thấp phản ánh ngân hàng không có khả năng mở rộng hoạt động cho vay, trình độ marketing tiếp cận với khách hàng và thị trường còn thiếu nhạy bén Tổng dư nợ cao có thể kì vọng lãi từ hoạt động tín dụng cao nhưng không có nghĩa là chất lượng tín dụng tốt bởi rủi ro đối với ngân hàng sẽ tăng lên, ngân hàng có thể không thu hồi được nợ do khách hàng bị phá sản, không còn khả năng trả nợ hoặc cố tình chây ì, không trả nợ cho ngân hàng, trốn nợ, Thông thường ngân hàng nào theo đuổi mục tiêu lợi nhuận sẽ mong muốn mở rộng dư nợ tín dụng, còn nếu theo đuổi mục tiêu an toàn sẽ thận trọng trong gia tăng dư nợ tín dụng Tuy nhiên, nâng cao chất lượng tín dụng không phải là việc hạn chế rủi ro bằng cách thắt chặt tín dụng mà phải
mở rộng tín dụng với hiệu quả hoạt động cao nhất, nghĩa là có khả năng sinh lời cao nhất và an toàn nhất
Chỉ tiêu này được sử dụng để phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, thể hiện ở dạng số tuyệt đối hoặc số tương đối Bên cạnh đó chỉ tiêu này cũng phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng song không phải là chỉ tiêu duy nhất, người ta phải kết hợp chỉ tiêu tổng dư nợ tín dụng và một số chỉ tiêu khác như doanh số cho vay, thu nợ, để đánh giá chính xác chất lượng tín dụng của NHTM
- Chỉ tiêu nợ quá hạn có khả năng thu hồi
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi : là một tiêu thức quan trọng để đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng, ta thấy dù tỷ lệ nợ quá hạn cao nhưng trong đó chủ yếu
là những khoản nợ quá hạn có khả năng thu hồi lớn thì vẫn có thể khẳng định chất lượng tín dụng của ngân hàng đó là tốt
Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi = NQH có khả năng thu hồi
Nợ quá hạn Nếu chỉ tiêu này cao thì tốt, khi đó mặc dù nợ đã quá hạn nhưng sẽ thu được và ngược lại
- Chỉ tiêu về cơ cấu nợ quá hạn
Trang 3423
Muốn xác định được cơ cấu nợ quá hạn phải xác định được các tiêu thức hợp lý
để phân loại chúng Bằng việc này ngân hàng có thể nắm được nợ quá hạn tập trung chủ yếu ở đối tượng nào, theo hình thức nào, thời hạn bao nhiêu, từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục
Tại Việt Nam, để quản lý và đánh giá đánh giá đúng bản chất các khoản nợ quá hạn nhằm hạn chế rủi ro thấp nhất cho hoạt động kinh doanh của các NHTM, nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng người ta thường phân loại nợ quá hạn theo các tiêu thức sau:
+ Căn cứ theo thành phần kinh tế có thể chia nợ quá hạn như sau:
Nợ quá hạn của doanh nghiệp nhà nước;
Nợ quá hạn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh;
Nợ quá hạn của cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh
+ Phân loại nợ quá hạn theo nguyên nhân:
Việc phân loại nợ quá hạn theo nguyên nhân sẽ giúp ngân hàng quản lý tốt các khoản đã cho vay, là cơ sở cho việc tìm ra các giải pháp phù hợp
Nợ quá hạn theo nguyên nhân chủ quan;
Nợ quá hạn theo nguyên nhân khách quan
Ngoài ra, trong quá trình phân tích, có thể phân loại nợ quá hạn theo thời hạn
cho vay, từng loại đối tượng, v.v
- Chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng nợ quá hạn Tổng dư nợ cho vay Chỉ tiêu nợ quá hạn được tính bằng tổng nợ quá hạn chia tổng dư nợ cho vay Chỉ tiêu này phản ánh tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay Chỉ tiêu này cho phép đánh giá toàn bộ các biểu hiện rủi ro tín dụng tại một ngân hàng
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ xấu
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay phản ánh mức độ rủi ro tín dụng khác nhau cần xem xét sự biến động trong cơ cấu nhóm nợ để thấy rõ hơn mức độ rủi ro tín dụng Tỷ lệ này ở mức cao thì chất lượng cho vay của ngân hàng chưa được tốt, nguy
Trang 3524
cơ tổn thất trong hoạt động cho vay lớn và ngược lại Hiện nay, tỷ lệ nợ xấu an toàn cho phép theo thông lệ quốc tế là 3%
- Chỉ tiêu về tốc độ chu chuyển vốn
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ trong năm
Dư nợ bình quân trong năm Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn nhanh hay chậm, nghĩa là một đồng vốn của ngân hàng cho vay được bao nhiêu lần trong năm Số vòng quay càng lớn chứng tỏ nguồn vốn của ngân hàng luân chuyển nhanh, sử dụng vốn hiệu quả Tuy nhiên, đánh giá nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào đối tượng kinh doanh là ngành nghề nào, là doanh nghiệp thương mại hay doanh nghiệp sản xuất, chẳng hạn đối với các doanh nghiệp thương mại, vòng quay vốn tín dụng đòi hỏi phải lớn, có khi đạt 4-7 lần/năm mới được coi là tốt trong khi đó các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất có thể chỉ cần đạt khoảng 1 – 2 vòng/năm; ngoài ra vòng quay vốn tín dụng còn phụ thuộc vào tính thời vụ, tính chu kì của sản xuất; phụ thuộc vào thời gian của dự án,
- Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Tỷ lệ trích lập dự phòng
Dự phòng RRTD Tổng dư nợ kỳ báo cáo được trích
lập
Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD được tính bằng số dự phòng RRTD của ngân hàng chia tổng dư nợ kỳ báo cáo được trích lập Tổ chức tín dụng thực hiện trích lâp
và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm
4 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ rủi ro rủi ro càng cao vì dự phòng trích lập nhiều sẽ làm tăng chi phí của ngân hàng dẫn đến giảm lợi nhuận
Trang 3625
- Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (LDR):
LDR = Tổng các khoản cho vay
Tổng nguồn vốn huy động Trong đó, tổng các khoản cho vay bao gồm các hình thức cho vay, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá và công cụ chuyển nhượng Tổng nguồn vốn huy động bao gồm: tiền gửi của các cá nhân; tiền gửi có kỳ hạn của
tổ chức (trừ Kho bạc Nhà nước); tiền vay của tổ chức trong nước (trừ Kho bạc, tiền vay của tổ chức tín dụng khác trong nước) và tiền vay của tổ chức tín dụng nước ngoài; vốn huy động từ tổ chức, cá nhân dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá
Một sự gia tăng tỷ lệ LDR cho thấy ngân hàng đang có ít vốn hơn để tài trợ cho tăng trưởng và bảo vệ mình khỏi nguy cơ rút tiền gửi đột ngột, nhất là các ngân hàng dựa quá nhiều vào nguồn tiền gửi để tài trợ cho tăng trưởng Theo thông tư số 13/2010/TT-NHNN thì tỷ lệ này của các ngân hàng không được vượt quá 80%
- Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động cho vay
Như chúng ta đã biết, chất lượng tín dụng nhìn từ phía ngân hàng xét trên hai khía cạnh: lợi nhuận và an toàn Do vậy, chất lượng tín dụng tốt chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó làm tăng cao khả năng sinh lời của ngân hàng Và đây là một chỉ tiêu cần thiết để đánh giá hiệu quả công tác tín dụng ngân hàng
Hiểu theo nghĩa đen, thu nhập từ hoạt động cho vay chính là lãi từ hoạt động cho vay nhưng ta có thể xét thêm thu nhập thực từ hoạt động cho vay của ngân hàng sau khi đã trừ đi các chi phí phát sinh trong quá trình hình thành và chấp nhận cho vay, ví
dụ, các chi phí thẩm định, chi phí quản lý theo dõi khoản vay, Trên thực tế, các NHTM Việt Nam hiện nay hiểu thu nhập từ hoạt động cho vay chính là tỷ lệ lãi từ hoạt động cho vay trên tổng thu nhập
Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động cho vay = Lãi từ hoạt động cho vay
Tổng thu nhập
Tỷ lệ này cho thấy tầm quan trọng của hoạt động tín dụng trong việc tạo ra tổng thu nhập của ngân hàng Ở Việt Nam hiện nay, các NHTM có tỷ lệ thu nhập từ hoạt động cho vay còn rất lớn, điều đó thể hiện rõ tín dụng vẫn là hoạt động sinh lời chủ yếu Ngân hàng ở nước phát triển thì tỷ lệ này lại rất khiêm tốn, các ngân hàng có xu hướng phát triển các loại hình dịch vụ tài chính trung gian khác hơn là việc cung cấp tín dụng
1.2.2 Hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Quan niệm về hạn chế rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
1.2.2.1.1 Quan điểm về hạn chế rủi ro tín dụng
Trang 3726
Hạn chế rủi ro tín dụng là tổ hợp các biện pháp của ngân hàng áp dụng nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại
Hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng chính là năng lực thực hiện các chính sách, quy trình tín dụng dựa trên cơ cấu tổ chức được thiết lập, cơ sở công nghệ ngân hàng hiện có, khả năng chỉ đạo điều hành của ban lãnh đạo, khả năng triển khai đội ngũ nhân viên và các công cụ hỗ trợ thực hiện việc hạn chế sự xuất hiện của rủi ro tín dụng, nhằm giảm thiểu tổn thất của ngân hàng
1.2.2.1.2 Quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường nhân tố rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp phòng ngừa và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ các nhân tố rủi ro trong quá trình cấp tín dụng
Quản trị rủi ro chính là việc xây dựng các hệ thống quản lý và các chính sách quản lý rủi ro thích hợp đối với hoạt động tín dụng nhằm tuân thủ các quy định của pháp luật, nhận diện, cảnh báo và đề ra các biện pháp hạn chế sự xuất hiện của rủi ro tín dụng, giảm thiểu những thiệt hại khi chúng phát sinh, đồng thời xác định sự tương quan hợp lý giữa các nguồn lực của ngân hàng với mức độ mạo hiểm có thể sử dụng khi nguồn vốn ngân hàng cho hoạt động cấp tín dụng Quản trị rủi ro tốt chính là một lợi thế cạnh tranh, là một công cụ tạo ra giá trị, cũng góp phần tạo ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn
1.2.2.2 Nội dung hạn chế rủi ro tín dụng của NHTM
Nội dung của hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại bao gồm:
- Tiến hành các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng xảy ra (bao gồm cả những biện pháp thực hiện trước, trong và sau khi cho vay) nhằm hạn chế khả năng xảy ra rủi ro tín dụng Các biện pháp cần thực hiện bao gồm:
Thiết lập và lưu trữ thông tin về khách hàng: trước khi cấp tín dụng, cán bộ tín
dụng cần phải nắm bắt đầy đủ và chính xác các thông tin về khách hàng từ đó có thể đánh giá được khả năng trả nợ của khách Lưu trữ thông tin về khách hàng là công cụ quan trọng trong việc giám sát sau khi cho vay, cán bộ tín dụng có thể dựa vào các thông tin này để biết được các khoản vay có phát sinh vấn đề xấu hay không, hoặc sẽ
có thông tin cho những lần vay vốn sau của chính khách hàng này Ngân hàng phải thu thập thông tin về khách hàng thường xuyên để nắm bắt tình hình, phòng trường hợp xấu có thể xảy ra để kịp thời xử lý;
Trang 3827
Thường xuyên kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay: áp dụng các biện pháp bảo đảm tài sản phù hợp với từng khách hàng vay; tư vấn, giúp đỡ khách hàng
tháo gỡ khó khăn Khi khách hàng xảy ra khó khăn trong cung cách điều hành, chiến
lược kinh doanh bất hợp lý, chậm thích nghi với sự thay đổi của thị trường, mô hình không còn thích hợp, thì ngân hàng có thể tư vấn, cùng khách hàng tháo gỡ khó khăn, ngăn chặn tình trạng sản xuất kinh doanh ngày một trầm trọng, cụ thể nhằm vào những hướng sau: mở rộng sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm;
đa dạng hóa sản phẩm, tăng sản phẩm mới; thay đổi chiến lược tiêu thụ sản phẩm; loại
bỏ một số hoạt động không sinh lời; bán bớt tài sản, bán bớt một phần doanh nghiệp,… Hay khi hàng tồn kho của khách hàng tăng lên, ngân hàng có thể dựa vào mối quan hệ của mình để giúp khách hàng tìm được đối tác, bán hàng tồn kho, thu hồi vốn để trả nợ Cập nhật thông tin kịp thời về tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng như ngành nghề kinh doanh của khách hàng; đa dạng hóa danh mục cho vay; tiến hành phân loại nợ và trích lập dự phòng theo đúng quy định
Ngân hàng thường xuyên đánh giá lại các khoản vay, giá trị TSBĐ, từ đó tập trung vào các khoản vay có rủi ro cao, và yêu cầu khách hàng bổ sung TSBĐ khi nhận thấy TSBĐ có độ khả mại thấp hơn các khoản vay, để phòng trường hợp khách hàng không trả được nợ, ngân hàng sẽ bán TSBĐ bù đắp đủ khoản nợ của khách Ngân hàng sẽ yêu cầu thu hồi nợ vay trước hạn đối với trường hợp nhận thấy khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích; tiến hành phân tích, đánh giá các lĩnh vực, các loại rủi ro tiềm năng có thể có đối với khoản vay của khách hàng Công việc này cần xuyên suốt trong chu kỳ của khoản vay; triển khai thực hiện tốt công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng, đo lường rủi ro tín dụng của người vay, phân hạng người vay theo các mức độ rủi ro tín dụng khác nhau nhằm áp dụng các chính sách phù hợp cho từng nhóm khách hàng
Phân tán rủi ro: NHTM sẽ đa dạng hóa các danh mục cho vay, khách hàng vay, tránh việc tập trung vào một số khoản vay lớn nhưng mang tính rủi ro cao, tránh việc tập trung chủ yếu vào ngành nghề nào đó bởi khi ngành nghề này có những biến động
bất lợi sẽ ảnh hưởng xấu đến ngân hàng
Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng: để tránh các vấn đề xấu xảy ra trong quá trình vay vốn của khách hàng mà nguyên nhân xuất phát từ chính đạo đức và chuyên
Trang 3928
Tiến hành các biện pháp thanh lý nợ rủi ro: yêu cầu khách hàng tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng và thực hiện các trách nhiệm pháp lý để đạt được mục tiêu thu hồi nợ Biện pháp này áp dụng khi ngân hàng xét thấy khách hàng không còn khả năng phục hồi năng lực trả nợ hoặc khoản vay đã gặp rủi ro
Thành lập các phòng, ban quản lý nợ xấu: xây dựng chính sách xử lý nợ xấu thích hợp, phân công và quy trách nhiệm đòi nợ, liên kết các bên ngân hàng – khách hàng – chính quyền địa phương trong việc xử lý nợ
Cơ cấu lại thời gian trả nợ nhằm giúp khách hàng có thể giảm được lãi vay phải trả, giảm áp lực trả nợ, giúp khách hàng có thời gian thu hồi vốn Biện pháp này thường áp dụng đối với các khoản nợ xấu mà ngân hàng xác định khách hàng có thể trả được sau một thời gian ngắn nữa
Cấp phát thêm vốn để nuôi nợ Sau khi đánh giá khả năng sản xuất kinh doanh của khách hàng trong thời gian tới khả thi, ngân hàng sẽ đưa ra quyết định xem có nên tiếp tục cấp tín dụng nhằm duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không, bởi nó sẽ tạo điều kiện để ngân hàng thu hồi dần các khoản nợ
Bán TSBĐ để bù đắp nợ: phương án này thường không dễ dàng thực hiện Ở nước ta, trong những năm gần đây, các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có nhưng việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và gặp phải nhiều vướng mắc như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ Trong những hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý TSBĐ nợ vay Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao TSBĐ cho ngân hàng để xử lý hoặc việc chuyển TSBĐ nợ vay để Tòa án xử lý qua con đường tố tụng… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng Để thuận lợi, ngân hàng nên thuyết phục khách hàng tự bán TSBĐ của mình trả nợ
Xử lý nợ xấu thông qua tố tụng: đối với những người vay có ý lừa đảo hay chây
ỳ trong việc trả nợ, ngân hàng sẽ phong tỏa tiền gửi trên tài khoản (nếu có), hoặc/và làm hồ sơ gửi lên các cơ quan chức năng hay chính quyền địa phương để giải quyết Nếu nợ xấu là do cán bộ ngân hàng gây ra, cán bộ ngân hàng phải có trách nhiệm đòi
nợ, bồi thường
Trang 4029
Bán các khoản nợ khó đòi cho công ty mua nợ: ngân hàng sẽ bán các khoản nợ này với số tiền ít hơn giá trị của nó Lợi ích của ngân hàng là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ, hơn nữa lại tránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm trả
Xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro: trong các trường hợp gặp phải các khoản nợ khó thu hồi hoặc không thể thu hồi được và để lành mạnh hóa tình hình tài chính, ngân hàng sẽ xử lý các khoản nợ bằng dự phòng rủi ro nhằm loại trừ nợ xấu ra khỏi nội bảng nhưng không cho khách hàng biết, và vẫn tiếp tục đốc thúc thu hồi nợ xấu để giảm thiệt hại xuống mức thấp nhất
Các ngân hàng cùng hợp tác giải quyết nợ xấu: nếu một khách hàng giao dịch với nhiều ngân hàng để vay vốn, khi nợ xấu phát sinh, việc giải quyết gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là các ngân hàng có xu hướng giải quyết đơn lẻ Trong trường hợp này, các ngân hàng có thể cùng hợp tác giải quyết Ngân hàng nào có kinh nghiệm trong xử lý các khoản nợ và có đội ngũ chuyên viên phân tích tín dụng tốt thì đứng ra làm vai trò, đầu mối để sắp xếp các chủ nợ ngồi với nhau đưa ra phương hướng, chiến lược thu hồi khoản nợ chung
Hoàn thiện kỹ thuật, thu hồi nợ có vấn đề: tiến hành các biện pháp cơ cấu nợ trên cơ sở đánh giá được khả năng cải thiện việc trả nợ và tăng cường các biện pháp quản lý nợ được cơ cấu của ngân hàng Đây là quá trình làm việc với khách hàng cho đến khi khoản vay thu hồi được một phần hoặc toàn bộ mà không dựa vào các công
cụ pháp lý Các biện pháp này hướng vào năng lực trả nợ của khách hàng;
Chuyển giao thông qua chứng khoán hóa, bảo hiểm và các hợp đồng phái sinh: đối với các khoản nợ có vấn đề, việc bán nợ và chứng khoán hóa về bản chất là chuyển giao thu hồi nợ cho các tổ chức có lợi thế hơn, giúp ngân hàng có thể cơ cấu lại danh mục cho vay nhưng không làm giảm thiểu tổn thất của ngân hàng Ngân hàng cũng có thể giảm thiểu tổn thất bằng những hợp đồng bảo hiểm tín dụng hoặc những hợp đồng phái sinh tín dụng
1.2.2.3 Các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
1.2.2.3.1 Xây dựng chính sách tín dụng một cách hợp lý
Ngân hàng cần xây dựng chính sách tín dụng dựa vào các tiêu chí cụ thể sau:
- Có mục tiêu rõ ràng, cân đối giữa các mục tiêu quan trọng như: cân đối giữa mục tiêu sinh lời với mục tiêu bảo đảm tín dụng an toàn, mục tiêu đạt thị phần cao với việc đảm bảo uy tín doanh nghiệp cũng như tính an toàn trong hoạt động vay vốn