1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phát triển văn hóa công sở tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn : Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 34 05

83 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn là một cơ quan hành chính sự nghiệp là cơ quan chuyên môn giúp Tổng Cục Hải quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Hải quan và tổ chức thực thi pháp luật

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-***** -

CHU BÁ TOÀN PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -***** -

CHU BÁ TOÀN

PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÔNG

SỞ TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHUNG KHỔ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ 5

1.1 Văn hóa tổ chức 5

1.1.1 Khái niệm văn hóa tổ chức 5

1.1.2 Cấu trúc của văn hóa trong tổ chức 5

1.1.3 Các đặc tính cơ bản về văn hóa của một tổ chức 6

1.1.4 Vai trò của văn hóa đối với việc quản lý và phát triển của tổ chức 7 1.2 Khái niệm, các yếu tố cấu thành văn hóa một tổ chức hành chính 9

1.2.1 Khái niệm văn hóa công sở 9

1.2.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa một tổ chức hành chính 10

1.3 Cấu trúc của văn hóa tổ chức 12

1.4 Các bước xây đựng văn hóa tổ chức 15

Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN 18

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành Hải quan Việt nam 18

2.2 Lịch sử hình thành và phát triển ngành Hải quan tỉnh Lạng Sơn 19

2.3 Tổ chức hoạt động của Cục Hải quan Lạng Sơn 63

2.3.1 Lãnh đạo Cục gồm: Cục trưởng và các phó Cục trưởng 63

2.3.2 Cán bộ, công chức, chuyên viên 63

Trang 4

2.4 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 64 2.4.1 Vị trí, chức năng 64 2.4.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 64 2.5 Đánh giá tình hình phát triển văn hóa công sở tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 66 Chương 3: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CỤC HẢI QUAN LẠNG SƠN 70 3.1 Những quan điểm cơ bản khi xây dựng và thực hiện văn hóa công sở tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 70 3.2 Định hướng giải pháp phát triển văn hóa công sở tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 72 3.3 Mô hình phát triển văn hóa công sở tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 73 KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế, nền kinh tế Việt Nam cũng đã

và đang từng bước hội nhập nền kinh tế thế giới Sự cạnh tranh đang diễn ra trên tất cả các lĩnh vực và ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi mọi loại hình, thiết chế, tổ chức phải cấu trúc lại mình để thích nghi và phát triển, dựa trên

cơ sở phát huy nguồn lực nội sinh và tìm kiếm, dung nạp các ngồn lực ngoại sinh Lý luận và thực tiễn cho thấy, văn hóa là một nguồn nội sinh có thể tạo nên sự phát triển đột phá và bền vững cho một tổ chức khi tổ chức đó biết khai thác, vận dụng các yếu tố văn hóa vào hoạt động của mình Mặt khác, các tổ chức ngày càng nhận thức rõ về vai trò của văn hóa trong tổ chức quản

lý hoạt động Với những lý do trên, các cơ quan hành chính sự nghiệp Nhà nước cần phải nhận thức rõ vai trò quan trọng của việc xây dựng văn hóa hành chính công sở để nâng cao sức cạng tranh, phù hợp với xu thế, tạo mọi điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế địa phương, đóng góp vào thành tích chung của cả nước

Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn là một cơ quan hành chính được hình thành sau một thời gian ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trải qua chặng đường 60 năm xây dựng và trưởng thành, cán bộ công chức Hải quan Lạng Sơn luôn tự hào với truyền thống vẻ vang của mình Cục Hải quan Lạng Sơn đã tham mưu giúp Ngành xây dựng, thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế trong chiến tranh và sau chiến tranh: 1952 - 1964, 1965 - 1978, 1979 - 1985,

1986 - 2000, 2001 – 2005, 2006 – 2009 và 2010 - 2013

Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn luôn luôn đi đầu trong sự nắm bắt và vận dụng những chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống xã hội, chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu, các dự án Tổng cục Hải quan đã đề ra, tham mưu giúp cấp ủy và chính quyền địa

Trang 6

phương điều chỉnh phương hướng mục tiêu phát triển kinh tế có tính đến trước mắt và lâu dài, đảm bảo xây dựng và khai thác triệt để các nguồn lực, phát huy những mặt mạnh, kịp thời phát hiện và tháo gỡ khó khăn, khắc phục yếu kém góp phần đưa nền kinh tế địa phương và đất nước phát triển

Vì vậy, việc hình thành xây dựng và phát triển một nền văn hóa đặc trưng của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn là thiết yếu để Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn ngày càng xứng đáng là một cơ quan thu thuế hàng hóa xuất nhập khẩu, chống buôn lậu, gian lận thương mại vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

2 Tình hình nghiên cứu xây dựng văn hóa công sở.

Thực tiễn đã chứng minh rằng, văn hóa tổ chức có một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nên sự phát triển đột phá và bền vững cho tổ chức nhờ phát huy nguồn nội lực và tìm kiếm dung nạp các nguồn lực ngoại sinh Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn là một cơ quan hành chính sự nghiệp là cơ quan chuyên môn giúp Tổng Cục Hải quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước

về Hải quan và tổ chức thực thi pháp luật về Hải quan, các quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn hoạt động của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn theo quy định của pháp luật

Bởi vậy, vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa tổ chức hay văn hóa công sở đối với Cục Hải quan tỉnh Lạng sơn là hết sức quan trọng Trên cơ sở phân tích các khái niệm và các yếu tố cấu thành văn hóa tổ chức, văn hóa trong cơ quan công sở hành chính, tôi khái quát các đặc trưng cơ bản của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn để đưa ra những vấn đề cần quan tâm và mô hình cần tham khảo cho quá trình phát triển nền văn hóa của Cục Hải quan tỉnh Lạng

Sơn, thực hiện luận văn Thạc sĩ với đề tài: “Phát triển văn hóa công sở tại

Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn”

Trang 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn dựa trên mục đích:

- Thứ nhất: Trên cơ sở lý luận về văn hóa tổ chức đã được lĩnh hội

trong khóa học cùng với thực tế của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn, luận văn thực hiện phân tích và đưa ra các đánh giá chủ quan về tình hình xây dựng và phát triển văn hóa hoạt động của Cục

- Thứ hai: Với kinh nghiệm bản thân đồng thời thông qua nghiên cứu,

tham khảo các bài viết, bài phân tích của các chuyên gia về văn hóa tổ chức Luận văn mạnh dạn đưa ra quan điểm riêng của học viên về việc xây dựng, phát triển văn hóa công sở tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn và đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp cho việc xây dựng và phát triển văn hóa công sở tại Cục Hải quan Lạng Sơn được thiết thực hơn

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích như trên, luận văn này đặt ra những câu hỏi nghiên cứu

cơ bản sau đây:

- Văn hóa phù hợp với Cục Hải quan Lạng Sơn hiện nay là là gì?

- Làm thế nào để xây dựng và phát triển nền văn hóa Cục Hải quan Lạng Sơn trong điều kiện hiện nay?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng của đề tài nghiên cứu này là

nghiên cứu sự hình thành, phát triển văn hóa của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn nói riêng và các cơ quan hành chính sự nghiệp nói chung để từ đó tạo dựng và phát huy một nền văn hóa hành chính công sở năng động, nhiệt tình, phù hợp

và phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Đề tài được nghiên cứu trong nội bộ Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn

Trang 8

+ Thời gian: Chủ yếu nghiên cứu sự hình thành và phát triển văn hóa của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn từ khi thành lập đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính, tổng hợp, nghiên cứu mô tả để làm rõ thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa công sở hành chính tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đồng thời đưa ra những đề xuất, kiến nghị phù hợp

Do thời gian có hạn nên luận văn không thực hiện việc khảo sát thực tế thông qua phiếu khảo sát đối với khách hàng và các chuyên gia Mọi quan điểm, đánh giá trong luận văn được học viên trình bày thông qua nghiên cứu thực tế, tổng hợp qua các nguồn tài liệu tham khảo của cơ quan và các lĩnh

vực khác

6 Những đóng góp của luận văn

Do lần đầu nghiên cứu mô hình luận văn định hướng thực hành còn nhiều mới mẻ, trong khi năng lực, thời gian và tài liệu nghiên cứu có hạn nên luận văn này sẽ còn nhiều những hạn chế, sai sót Tuy nhiên, luận văn này cũng mong đóng góp một phần nhỏ bé trong việc xây dựng, củng cố và phát triển văn hóa tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn

7 Bố cục của luận văn

Luận văn chia làm 3 chương chính với nội dung chủ yếu sau:

Chương 1: Khung khổ lý luận về văn hóa công sở

Chương 2: Thực trạng văn hóa công sở hành chính tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn

Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị chủ yếu nhằm phát triển văn hóa

công sở tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn

Trang 9

Chương 1 KHUNG KHỔ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ

1.1 Văn hóa tổ chức

1.1.1 Khái niệm văn hóa tổ chức

Văn hóa tổ chức là toàn bộ các yếu tố văn hóa được chủ thể (tổ chức) chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động từ đó tạo nên bản sắc riêng của một tổ chức

Văn hóa của tổ chức được xem là một nhận thức chỉ tồn tại trong một

tổ chức chứ không phải trong một cá nhân Vì vậy, các cá nhân có những nền tảng văn hóa, lối sống nhận thức khác nhau, ở những vị trí làm việc khác nhau trong một tổ chức, có khuynh hướng hiển thị văn hóa tổ chức theo cùng một cách hoặc ít nhất có cùng mẫu số chung

Văn hóa của tổ chức có liên quan đến cách nhận thức và lối hành xử của các thành viên đối với bên trong và bên ngoài của tổ chức đó

Đồng thời, văn hóa của tổ chức chính là sự hiện diện sinh động và cụ thể nhất của tổ chức đó mà mọi người có thể dễ dàng nhận ra Hình ảnh đó có thể do nhiều yếu tố cấu thành nên Vì thế, chỉ cần một yếu tố có sự thay đổi thì về lý thuyết, hình ảnh về tổ chức đó sẽ bị khác đi Do đó, trên phương diện

lý thuyết, sẽ không có tổ chức này có văn hóa giống tổ chức kia, dù họ có thể giống nhau

1.1.2 Cấu trúc của văn hóa trong tổ chức

Văn hóa trong tổ chức là một nền tảng văn hóa đặc thù có tổ chức, là cái phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác; là một “tiểu văn hóa” và cái

bộ phận nếu so với nền văn hóa của một dân tộc hay một quốc gia

Trang 10

Mặc dù chỉ là một “tiểu văn hóa” thuộc loại hình văn hóa tổ chức cộng đồng nhưng văn hóa tổ chức vẫn là một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau;

- Hành vi ứng xử, phong cách là lối hành động (chung) của tổ chức

- Các hoạt động sinh hoạt văn hóa văn nghệ như ca nhạc, văn chương… của tổ chức

- Phong tục, tập quán, thói quen, tâm lý chung của tổ chức

- Các triết lý, hệ tư tưởng chung của tổ chức

- Hệ thống các giá trị của tổ chức

Nói cách khác, văn hóa tổ chức chính là lối ứng xử, lối sống và hoạt động, lối suy nghĩ và bảng các giá trị của tổ chức Trong các yếu tố trên, thì các triết lý và bản giá trị của tổ chức có tầm quan trọng nhất Một bảng giá trị

- Mỹ: Quan niệm về cái đẹp, sự hoàn thiện, cái cao cả, anh hùng… mà mọi thành viên trong tổ chức cần vươn tới, duy trì và bảo vệ

1.1.3 Các đặc tính cơ bản về văn hóa của một tổ chức

- Sự tự quản của các cá nhân trong tổ chức ( trách nhiệm, tính độc lập, ứng xử, phong cách làm việc…)

- Các cơ chế của tổ chức đó ( các quy tắc, quy chế, điều lệ …riêng)

- Sự hỗ trợ của các nhà quản lý với nhân viên

- Tinh thần đoàn kết và thể hiện tinh thần đồng đội trong tổ chức

Trang 11

- Sự xem xét, khen thưởng, cách khen thưởng và những căn cứ, cơ sở của nó

- Xung đột, sức chịu đựng và cách giải quyết những xung đột

- Các rủi ro có thể có và sự chịu đựng rủi ro có thể có

1.1.4 Vai trò của văn hóa đối với việc quản lý và phát triển của tổ chức

- Văn hóa tổ chức tạo ra sự thống nhất, đồng tâm của mọi thành viên trong tổ chức bằng một hệ thống các giá trị - chuẩn mực chung, từ đó tạo nên một nguồn lực nội sinh chung của tổ chức

Tổ chức là sự tập hợp của nhiều cá nhân với những nhân cách khác nhau Tính thống nhất của tổ chức chỉ có được khi mọi thành viên của nó đều

tự giác chấp nhận một bảng thang bậc và giá trị chung Nhờ vậy, lãnh đạo tổ chức có thể tạo ra một lực cộng hưởng và động lực chung bằng các hợp lực từ các cá nhân, bộ phận, đơn vị khác nhau Đồng thời, với chức năng định hướng hoạt động một cách tự giác và rộng khắp, văn hóa tổ chức có thể khiến các thành viên đi đúng hướng, hoạt động có hiệu quả mà không cần có quá nhiều quy chế và mệnh lệnh chi tiết, thường nhật từ cấp trên ban xuống Văn hóa tổ chức mạnh tương hợp với lối quản trị tổ chức coi trọng khả năng nhân viên Trái lại, những tổ chức có một nền văn hóa ngèo nàn, dung túng cho những phản giá trị tồn tại, sẽ tạo ra một môi trường phi văn hóa không khuyến khích được tinh thần tự giá của nhân viên, không tạo ra tính thống nhất trong hành động của tổ chức

- Văn hóa tổ chức là bản sắc của tổ chức, là đặc tính để phân biệt tổ chức này với tổ chức khác Bản sắc văn hóa không chỉ là yếu tố để nhận diện tổ chức

mà còn là phương thức sinh hoạt và hoạt động chung của một cộng đồng

- Văn hóa tổ chức có tính “ di truyền”, bảo tồn được cái bản sắc của tổ chức qua nhiều thế hệ thành viên, lãnh đạo tạo ra khả năng phát triển bền vững của tổ chức

Trang 12

Trong công tác quản lý một tổ chức, đổi mới - phát triển và bảo tồn có mối quan hệ biện chứng với nhau Một tổ chức không có khả năng tự đổi mới

và phát triển lâu dài thì sớm muộn cũng bị tụt hậu, không theo kịp với đường lối đổi mới và chính sách mở cửa của Nhà nước Mỗi thế hệ lãnh đạo sẽ tạo nên một màu sắc văn hóa riêng cho tổ chức, những giá trị văn hóa tốt đẹp sẽ được duy trì, phát triển và bổ sung những cái mới Đó là tính di truyền của văn hóa

Với những đặc trưng như vậy, văn hóa tổ chức có vai trò gắn kết các thành viên thành một khối cộng cảm, cộng lợi và cộng mệnh; tạo nên sự ổn định bằng cách đưa ra những chuẩn mực để hướng dẫn các thành viên đi theo mục đích chung của tổ chức một cách tự giác, tự nguyện Các yếu tố văn hóa được chọn lọc và tạo ra có vai trò như là một cơ chế khẳng định mục tiêu của

tổ chức, hướng dẫn uốn nắn những hành vi ứng xử lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ chức, giữa các cá nhân với tổ chức giữa thành viên với lãnh đạo

Tuy nhiên, văn hóa tổ chức cũng có thể trở thành một lực cản đối với những mong muốn thay đổi để thúc đẩy hiệu quả của tổ chức Điều này xuất phát từ tính trễ của văn hóa trong quá trình phát triển

Mỗi một tổ chức bao giờ cũng có một giới hạn về mặt không gian, thể chế và mục tiêu quản trị nhất định Trong khi đó văn hóa là sáng tạo và mang tính cá thể hóa cao Khi nói đến văn hóa là nói đến cái giá trị, chuẩn mực và biểu tượng của một cộng đồng người hình thành từ dưới lên, từ tự thân mang tính tự giác, tự nguyện; còn văn hóa tổ chức lại được định ra có tính khuôn mẫu mang tính định thể Đây là một mâu thuẫn không dễ giải quyết, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam khi môi trường hoạt động chưa thực sự tạo nên cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao cho các tổ chức và bản thân các tổ chức chưa ý thức về vai trò của xây dựng văn hóa tổ chức mà đặc biệt

là đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội

Trang 13

1.2 Khái niệm, các yếu tố cấu thành văn hóa một tổ chức hành chính

1.2.1 Khái niệm văn hóa công sở

Văn hóa công sở là gì? Văn hóa nơi công sở, nói một cách khái quát là một loạt hành vi và quy ước mà con người dựa vào đó để điều khiển các mối quan hệ tương tác của mình với những người khác Văn hóa công sở còn là một hệ thống được hình thành trong quá trình hoạt động của công sở, tạo nên niềm tin giá trị về thái độ của cán bộ làm việc trong công sở ảnh hưởng đến cách làm việc trong công sở và hiệu quả làm việc của nó Văn hóa công sở là tổng hòa những giá trị hữu hình và vô hình bao gồm trình độ nhận thức phương pháp tổ chức, quản lý, môi trường cảnh quan, phương tiện làm việc đạo đức nghề nghiệp và phong cách giao tiếp ứng xử của cán bộ công chức nhằm xây dựng một công sở văn minh, lịch sự, hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả cao

Xây dựng văn hóa công sở là xây dựng lề lối, nề nếp làm việc khoa học, có trật tự kỷ cương, tuân theo những nội quy, quy định chung nhưng không mất đi tính dân chủ Văn hóa công sở được hình thành trong quá trình hoạt động của công sở góp phần tạo dựng niềm tin, sự đoàn kết nhất trí của cả tập thể trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của cơ quan đơn

vị Cách hành xử văn hóa công sở thực tế mang lại rất nhiều lợi ích Văn hóa ứng xử nói chung và văn hóa ứng xử nơi công cộng nói riêng chính là thước

đo sự văn minh của mỗi cán bộ công chức, nó phản ánh sự nhận thức cũng như ý thức của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc công sở Xây dựng văn hóa công sở văn minh, tiến bộ, hiện đại là vô cùng quan trọng mặc dù văn hóa công sở hiện nay đã được hình thành về cơ bản nhưng thực hiện hay không còn phụ thuộc vào ý thức của mỗi cán bộ công chức cũng như phụ thuộc vào nhận thức đúng đắn về phương thức để có ứng xử văn minh tại công sở

Trang 14

Một ai đó có khả năng thích ứng được với những tổ chức khác nhau thì hầu như người đó có vốn kinh nghiệm nhiều về văn hóa công sở và trong bất

kỳ tình huống nào người này cũng có khả năng tự điều chỉnh văn hóa công sở một cách phù hợp để đạt hiệu quả cao trong công việc, nhiệm vụ Nhân tố này giúp người lãnh đạo chỉ đạo, tổ chức đạt mục tiêu và hiệu quả cao trong quá trình hoạt động

1.2.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa một tổ chức hành chính

Có một cách để phân nhóm các yếu tố cấu thành văn hóa một tổ chức hành chính như: yếu tố vật thể, phi vật thể…Song có nhiều nhà nghiên cứu tán đồng theo các phân chia của Edgar H.Shein với việc chia văn hóa tổ chức hành chính bao gồm:

(1) Những quá trình và cấu trúc hữu hình

(2) Hệ thống giá trị được tuyên bố

(3) Những quan niệm chung

1.2.2.1 Những quá trình và cấu trúc hữu hình

Đó là những cái có thể nhìn thấy, dễ cảm nhận khi tiếp xúc với một tổ chức hành chính Là những biểu hiện bên ngoài của văn hóa hành chính Những yếu tố này có thể được phân chia như sau:

- Phong cách thiết kế kiến trúc xây dựng, nội - ngoại thất, trang thiết bị làm việc, các vật dụng, biểu trưng

- Cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế điều hành hoạt động

- Những thực thể vô hình như: Triết lý, nguyên tắc, phương pháp, phương châm giải quyết vấn đề; hệ thống thủ tục quy định…

- Các chuẩn mực hành vi: Nghi thức hoạt động sinh hoạt tập thể, cách thức tổ chức các hội nghị, ngày lễ, các hoạt động văn nghệ, thể thao, câu lạc bộ

- Ngôn ngữ, cách ăn mặc, chức danh

Trang 15

- Các hình thức xử dụng ngôn ngữ như: các băng rôn, khẩu hiệu, ngôn ngữ xưng hô, giao tiếp giữa lãnh đạo với nhân viên, cấp trên với cấp dưới… các bài hát truyền thống

- Các hình thức giao tiếp và ứng xử với bên ngoài

1.2.2.2 Về hệ thống giá trị được tuyên bố

Hệ thống giá trị tuyên bố bao gồm: các chiến lược, mục tiêu, triết lý, giá trị cốt lõi, các bộ quy tắc ứng xử thành văn, các cam kết, quy định…

Hệ thống giá trị tuyên bố là nền tảng, kim chỉ nam cho hoạt động của một tổ chức hành chính; chúng được công bố rộng rãi Những giá trị này có tính hữu hình vì người ta có thể dễ nhận biết và diễn đạt chúng một các rõ ràng, chính xác Chúng thực hiện chức năng hướng dẫn, định hướng và là tài liệu đầu tiên diễn tả về một tổ chức hành chính

1.2.2.3 Những quan niệm chung (niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm

có tính vô thức, mặc nhiên, ngầm định)

Các ngầm định nền tảng thường là những suy nghĩ và trạng thái xúc cảm đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi cá nhân cũng như tạo thành nét chung trong một tập thể Những ngầm định này thường là những quy ước bất thành văn, đương nhiên tồn tại và tạo nền mạch ngầm kết dính các thành viên trong tổ chức; tạo nền tảng giá trị, lối suy nghĩ, cách hành động của họ

Hệ thống giá trị được tuyên bố và các ngầm định nền tảng của một tổ chức hành chính là những thước đo đúng và sai, xác định những gì nên làm trong cách hành xử chung và riêng của lãnh đạo, nhân viên Trong một tổ chức hành chính có thể đề cao giá trị nhân văn, tình yêu thương giữa những đồng nghiệp hay đề cao tính cộng đồng trách nhiệm, sự sáng tạo, tính độc lập trong công việc, coi trọng tính trung thực, thẳng thắn, coi trọng chất lượng công việc

Trang 16

Shein cho rằng, bản chất của văn hóa một tổ chức là nằm ở những quan niệm chung của chúng Nếu nhận biết văn hóa của một tổ chức ở cấp độ một

và hai, chúng ta mới tiếp cận được nó ở bề nổi, tức là có khả năng suy đoán các thành viên của tổ chức đó “nói gì” trong một tình huống nào đó Chỉ khi nào nắm được lớp văn hóa thứ ba thì chúng ta mới có khả năng dự báo họ sẽ làm gì khi vận dụng những giá trị này vào thực tiễn

1.3 Cấu trúc của văn hóa tổ chức

Xây dựng văn hóa tổ chức là một trong những yếu tố giúp tổ chức thích ứng với những thay đổi trong môi trường bên ngoài Những thay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ thông tin đang tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy, trước hết, thông qua vai trò của tư vấn về lĩnh vực này, tổ chức phải có các công cụ để tìm kiếm các dữ liệu và phân tích được các dữ liệu cần thiết nhằm nhận diện được đúng điểm mạnh, điểm yếu của văn hóa hiện đang tồn tại trong tổ chức và giúp hình dung được văn hóa

mà tổ chức sẽ hướng tới để họ thích nghi được với những thay đổi, phát triển

Muốn vậy, lãnh đạo tổ chức cũng phải hiểu được cấu trúc để hình thành nên văn hóa tổ chức gồm những bộ phận nào, quan hệ giữa các bộ phận ra sao

và các bộ phận này có vai trò như thế nào? Có thể hình dung cấu trúc này như kết cấu của tòa nhà Đơn giản nhất, nó phải gồm 4 nhóm yếu tố:

Trang 17

nhiều năm và giá trị chỉ khẳng định được sự xác lập của nó thông qua việc thâm nhập, chuyển tải các biểu hiện của giá trị vào các nhóm yếu tố chuẩn mực và yếu tố hữu hình Điều này cho thấy, giá trị khi đã được xác lập muốn xóa bỏ nó cũng không dễ trong ngày một ngày hai, nhưng giá trị cũng có thể

bị suy thoái, bị thay đổi trong một số điều kiện

Như vậy, cái quan trọng nhất khi nhìn tổ chức ở góc độ văn hóa là các giá trị văn hóa nào đã được tổ chức đề xướng, quán triệt hay tuân thủ

Đây không chỉ là câu khẩu hiệu treo trên tường, hoặc bài phát biểu của Giám đốc tổ chức mà chúng ta phải tìm thấy sự hiển diện của các giá trị này qua nhiều nhóm yếu tố văn hóa khác nhau.Ví dụ, một tổ chức đề cao sự tận tụy với khách hàng là một trong những giá trị mà họ theo đuổi, thì người ta phải thấy giá trị này được tôn vinh qua phiếu đánh giá của khách hàng về nhân viên, giá trị này cũng phải được chuyển tải trong tuyển dụng nhân viên

Chẳng hạn, tổ chức có thể nhận một nhân viên còn non yếu về kỹ năng nhưng anh ta thích thú khi được phục vụ hơn là nhận một người có kinh nghiệm nhưng không có động cơ phục vụ Bởi yếu kém về nhận thức, kỹ năng có thể học để bù đắp, còn sự thay đổi động cơ sẽ khó khăn hơn Và dĩ nhiên, nhân viên nào làm việc có hiệu quả, phục vụ khách hàng tốt sẽ là người được thăng tiến, khen thưởng trong tổ chức Do đó, người ta có thể nói: “Hãy cho tôi biết trong cơ quan anh chị, người được trọng dụng là người như thế nào?, tôi sẽ nói được văn hóa của tổ chức anh chị là văn hóa như thế nào”

Nhóm yếu tố chuẩn mực

Có thể hiểu đây là vòng bên ngoài liền kề với lõi trong cùng của cây

gỗ khi cưa ngang Nhóm yếu tố chuẩn mực là những quy định không thành văn nhưng được mọi người tự giác tuân thủ Ai không tuân theo, cảm giác như mình có lỗi Chẳng hạn, văn hóa truyền thống của Việt Nam vốn đề cao tính cộng đồng, cái cá nhân là cái thuộc về cộng đồng Giá trị này cũng được

Trang 18

đưa vào và biểu hiện trong nhiểu tổ chức Việt Nam Ví dụ, sáng ra đến cơ quan, mọi người thường ngồi cùng nhau ít phút bên ấm trà chuyện trò về thế

sự, hỏi thăm nhau rồi mới vào việc Ai không tham gia cảm thấy không phải

và dường như sẽ có khó khăn khi hòa nhập, chia xẻ trong công việc Trong nhóm có người ốm, nếu cử một người đi thăm đại diện thấy không yên tâm mọi người thấy dường như cần có mặt tất cả nhóm đi thăm mới phải đạo Cũng có thể xếp các yếu tố nghi lễ được sử dụng trong các sự kiện quan trọng của tổ chức….logo vào nhóm này

Nhóm yếu tố không khí và phong cách quản lý của tổ chức

Có thể hình dung đây là vòng bên ngoài liền kề với nhóm yếu tố chuẩn mực Đây là khái niệm chuẩn mực để phản ánh sự làm việc được thoải mái ở mức độ nào Ví dụ, nhân viên cấp dưới được tin tưởng ở mức độ nào, tổ chức

có chấp nhận rủi ro hay nó giữ ở mức an toàn nhất? Thái độ thân thiện hay thù ghét giữa các thành thành viên, xung đột trong tổ chức có được giải quyết hay

lờ đi? Yếu tố phong cách quản lý miêu tả cách thể hiện thái độ và quyền lực của người quản lý trong việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức phong cách quản lý được thể hiện theo nhiều cách khác nhau như: độc đoán, dân chủ, cứng nhắc hay mềm dẻo…

Nhóm yếu tố hữu hình

Nhóm này được ví là vòng ngoài cùng của cây gỗ Các yếu tố của nhóm này dễ nhìn thấy Xếp vào nhóm này là các yếu tố liên quan đến cách kiến trúc trụ sở của tổ chức, dòng chảy thông tin trong tổ chức đi như thế nào, ngôn ngữ sử dụng trong các thông điệp…

Nếu tổ chức đưa ra tuyên bố về giá trị mà tổ chức đề cao là sự hợp tác, chia sẻ Nhưng kiến trúc trụ sở lại toát lên sự đề cao quyền uy, không gian làm việc bị xẻ nhỏ, đóng kín, nhà để xe thì lộn xộn, tùy tiện Sự hiện diện như vậy của các yếu tố hữu hình cho thấy rõ ràng các giá trị mà lãnh đạo tổ

Trang 19

chức muốn đề cao chưa được các thành viên chia xẻ, áp dụng hoặc nó chưa được lãnh đạo và cấp quản lý chung gian chuyển tải vào các hoạt động của tổ chức Ngược lại, trong điều kiện môi trường bên ngoài thay đổi, thì nhóm yếu

tố vòng ngoài cùng này sẽ chịu tác động trước hết và nó dễ thay đổi hơn các nhóm ở vòng trong Khi các nhóm ở các vòng bên ngoài so với lõi trong cùng thay đổi trong một thời gian dài, đến lúc nào đó sẽ làm suy thoái giá trị được

ví như lõi trong cùng của thớ gỗ Đến lúc đó thì văn hóa của tổ chức đã thay đổi một cách tự phát Sự thay đổi này có thể phù hợp hoặc cản trở mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức

Áp dụng cấu trúc văn hóa vừa nêu trên vào các tổ chức sẽ thấy không

có tổ chức nào lại không có văn hoá tổ chức của mình Song điều khiến ta quan tâm ở chỗ: Văn hóa tổ chức là “luật” không thành văn quy định cách thức thực sự mà con người đối xử với nhau hàng ngày trong tổ chức, cách thức thật sự mà tổ chức giải quyết công việc, đáp ứng như cầu khách hàng Văn hóa tổ chức ăn sâu vào niềm tin nên có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức ( Nguồn: lanhdao.net)

1.4 Các bước xây đựng văn hóa tổ chức

Văn hóa tổ chức là hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của tổ chức đồng thuận Nó

có ảnh hưởng đến cách thức hành động của các thành viên Thông thường, văn hóa tổ chức có thể hình thành sau khi tiến hành 4 bước xây dựng sau;

- Phổ biến kiến thức chung: Đây là bước chuẩn bị tinh thần quan trọng cho

quá trình xây dựng văn hóa tổ chức Nếu mỗi chỉ cấp lãnh đạo hiểu về văn hóa tổ chức là chưa đủ Một khi tất cả nhân viên đều hiểu và thấy rõ lợi ích của văn hóa

tổ chức, công cuộc xây dựng mới thành công Giai đoạn này tập chung vào sự phổ biến kiến thức chung về văn hóa tổ chức, các yếu tố cấu thành, ý nghĩa của văn hóa tổ chức cho mọi thành viên Tùy theo quy mô, tổ chức có thể tổ chức các buổi

Trang 20

nói chuyện về khóa học về văn hóa, hoặc phát động các cuộc thi tìm hiểu, xây dựng cơ sở dữ liệu về văn hóa để nhân viên tự tìm hiểu Nên chuẩn bị trước nội dung cần phổ biến xuyên suốt giai đoạn này, từ cơ bản đến nâng cao Mục đích của những việc làm này là giúp cho các thành viên về văn hóa tổ chức và ý nghĩa được lợi ích của nó đối với sự phát triển của bản thân và tổ chức Tổ chức có thể thuê các đối tác đào tạo, hoặc tự đào tạo về nội dung này

- Định hình văn hóa tổ chức: Văn hóa tổ chức không hình thành cùng lúc

với tổ chức Thông thường, nó chỉ có thể được nhận dạng sau 3 năm hoạt động trở lên Giai đoạn này phải có sự chủ trì của người sáng lập và ban lãnh đạo cấo cao của người tổ chức Kết quả của giai đoạn này sẽ xác định được những yếu tố của văn hóa tổ chức, bao gồm: Hệ tư tưởng (hoài bão và sứ mệnh của tổ chức)

hệ giá trị (triết lý kinh doanh và giá trị cốt lõi); các chuẩn mực hành vi và các biểu trưng nhận dạng của tổ chức Văn hóa tổ chức là “ linh hồn” của tổ chức, trong giai đoạn này, “linh hồn ấy mới dần hiện rõ” Chính nó giúp tổ chức dễ dàng được nhận biết bằng những khác biệt của mình Việc thuê một số đối tác vào tư vấn chỉ là phương tiện để những yếu tố của văn hóa tổ chức hình thành, chứ không thể quyết định các yếu tố đó sẽ như thế nào

- Triển khai xây dựng: Giai đoạn này, văn hóa doanh nghiệp cần được

tiến hành từng bước nhưng đồng bộ và kiên trì, từ tuyên truyền những quan điểm, hệ giá trị cho đến việc thực hiện các chuẩn mực hành vi phải được tổ chức một cách khéo léo Tổ chức có thể tổ chức các phong trào, phương thức tôn vinh hành vi văn hóa, góp phần xây dựng văn hóa theo đúng định hướng ở bước hai Giai đoạn này, tổ chức phải đối mặt với một số thay đổi, bước đầu

có thể ban hành quy chế để bắt buộc thực hiện Sau một thời gian, từ vị thế bắt buộc, nhân viên sẽ thực hiện một cách tự nguyện Đây chính là dấu hiệu của thành công Song song với việc điều chỉnh những yếu tố vô hình, tổ chức cần tiến hành thay đổi những yếu tố hữu hình như kiến trúc, màu sắc, nội thất

Trang 21

văn phòng, nghi thức sao cho phù hợp với văn hóa của mình Kết quả của giai đoạn này sẽ dần hình thành những đặc trưng văn hóa của tổ chức, giúp các thành viên nhận biết các giá trị văn hóa của tổ chức mình

- Ổn định và phát triển văn hóa: Bất cứ một yếu tố văn hóa nào hình

thành xong, tổ chức phải bắt tay ngay vào việc duy trì, cập nhật để nó không

bị lạc hậu và mai một Lãnh đạo là người quyết định văn hóa tổ chức nhưng

nó “sống” được hay không là nhờ sức mạnh của mọi thành viên Các hoạt động văn hóa lúc này sẽ phát huy tác dụng tích cực như là công cụ trong việc quản lý điều hành công ty Tổ chức cần thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền nội bộ, quảng bá ra bên ngoài, tôn vinh những cá nhân tập thể, những hành vi phù hợp với văn hóa tổ chức Hãy làm cho các thành viên thấy rằng sẽ mất đi ý nghĩa nếu không có những yếu tố văn hóa tổ chức Ngày nay,

để đánh giá tổ chức, ngoài thị trường, cơ cấu tổ chức…, người ta còn quan tâm đến giá trị cốt lõi của nó Đó chính là văn hóa tổ chức Một tổ chức xây dựng thành công văn hóa của mình tức là đã sở hữu một tài sản đặc trưng, điều làm nên sự khác biệt với đối thủ và giúp cho nó trường tồn Khi văn hóa

tổ chức là một tài sản, một nguồn lực thì nó cũng rất cần khả năng sử dụng để

tạo ra giá trị cho tổ chức, cũng như cho mỗi thành viên của nó

Trang 22

Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CỤC

HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành Hải quan Việt nam

Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công, Hồ Chủ Tịch đã đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt nam dân chủ cộng hòa

- Ngày 10 tháng 09 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ nguyên Giáp thừa ủy quyền của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt nam dân chủ cộng hòa

ký Sắc lệnh số 27 - SL thành lập “ Sở thuế quan và thuế gian thu” khai sinh ngành Hải quan Việt nam Với mục đích thiết lập chủ quyền thuế quan của nước Việt nam độc lập, đảm bảo việc kiểm soát hàng hóa, đảm bảo việc kiểm soát hàng hóa XNK và duy trì nguồn thu ngân sách

- Ngày 29 tháng 5 năm 1946 theo sắc lệnh số 75 - SL của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về tổ chức của Bộ Tài chính, Sở Thuế quan và thuế gián thu được đổi thành Nha Thuế quan và thuế gián thu thuộc Bộ Tài chính

- Ngày 04 tháng 7 năm 1951 Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến đã

ký Nghị định số 54/NĐ quy định lại tổ chức của Bộ Tài chính và Nha thuế quan và thuế gián thu đổi thành Cơ quan thuế XNK

- Ngày 14 tháng 12 năm 1954 Bộ trưởng Bộ Công thương Phan Anh ký Nghị định số 136 – BCT/KB/NĐ thành lập Sở Hải quan thay thế cơ quan thuế XNK thuộc Bộ Công thương

- Ngày 17 tháng 12 năm 1962 để thực hiện Điều lệ Hải quan (Ban hành ngày 27/02/1960) Thứ trưởng Bộ ngoại thương Lý Ban ký Quyết định số 490/BNT/QĐ – TCCB đổi tên Sở Hải quan thành Cục Hải quan Lúc này Cục Hải quan trực thuộc Bộ Ngoại thương

Trang 23

- Ngày 25 tháng 04 năm 1984 thực hiện Nghị quyết số 68/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng đẩy mạnh công tác chống buôn lậu và thành lập Tổng cục Hải quan và Nghị quyết số 547/NQ - HĐNN ngày 30 tháng 08 năm 1984, Hội đồng Nhà nước phê chuẩn thành lập Tổng cục Hải quan và ngày 20 tháng

10 năm 1984, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu ký Nghị định số 139/HĐBT quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Tổng cục Hải quan Tổng cục Hải quan trực thuộc Chính phủ

- Ngày 04 tháng 9 năm 2002 theo Quyết định số 113/2002/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính

2.2 Lịch sử hình thành và phát triển ngành Hải quan tỉnh Lạng Sơn.

THỜI KỲ 1952 - 1964

Sau ngày đất nước giành độc lập, nhân dân ta lại phải bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân pháp quay trở lại xâm lược Thuế quan và thuế gián thu trở thành công cụ trong mặt trận bao vây, phong tỏa kinh tế địch Sau chiến thắng Cao - Bắc - Lạng, ta mở rộng biên giới phía Bắc và mở rộng vùng giải phóng Lúc này Sở thuế quan và thuế gián thu được đổi thành Ngành thuế xuất nhập khẩu Nhằm quản lý tốt nguồn hàng và thu thuế xuất nhập khẩu hàng hóa ở biên giới Việt Trung ngày 1/05/1952, Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký ban hành điều lệ tạm thời số 167-TTg về hàng hóa xuất nhập khẩu và biểu thế nhập khẩu ở biên giới Việt – Trung gồm 5 Chương và 22 Điều:

Ngày 21/02/1955, Bộ Công thương ban hành Nghị định số 21/BCT thành lập Chi Sở Hải quan Lạng Sơn và một số các Chi sở Hải quan khác Theo đó nhiệm vụ của Hải quan lúc này được quy định tại Nghị định số 73/BCT/NĐ/KB của Bộ Ngoại thương ngày 06/04/1955 là: “ Chấp hành những thể lệ về XNK, Thực hiện hoạt động biểu thuế và kiểm nghiệm hàng hóa XNK và Kiểm soát CBL”

Trang 24

Ngày 17/02/1962 Bộ Ngoại thương có Quyết định số 490/BNT/TCCB đổi tên các Chi Sở Hải quan địa phương, theo đó Chi Sở Hải quan Lạng Sơn được đổi thành Chi Cục Hải quan Lạng Sơn

THỜI KỲ 1965 - 1978

Ngày 05/08/1964, đế quốc Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh bắn phá miền bắc, phong tỏa các cảng biển, cản sông Vì vậy Lạng Sơn nơi tuyến đầu biên giới trở thành “cảng nổi” của cả nước tiếp nhận giải tỏa hàng hóa của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em trong phe XHCN, cung cấp cho tiền tuyến lớn Miền Nam bao gồm vũ khí đạn dược, lương thực thực phẩm và hàng hóa khác… ngày đêm theo tuyến đường sắt liên vận quốc tế và quốc lộ

IA, hàng hóa được vận chuyển về qua tỉnh Lạng Sơn Trên tuyến đường sắt Nhà nước mở thêm hàng loạt Ga liên vận quốc tế trong đó có Ga ĐS qua thị trấn Đồng Đăng và thị xã Lạng Sơn để nhanh chóng tiếp nhận và giải tỏa hàng hóa do lực lượng Hải quan Lạng Sơn đảm nhiệm Trên tuyến đường bộ theo thỏa thuận giữa 2 nước Việt Nam - Trung Quốc thì Trung Quốc giúp ta

mở đường Hữu Nghị 3, Đình Lập, Bản Chắt và mở cửa khẩu Bản Chắt để tiếp nhận hàng viện trợ của Trung Quốc qua tuyến đường này, lực lượng Hải quan

ở đây do Cục Hải quan TW đảm nhiệm

Trên tuyến Bưu điện có bưu Cục ngoại dịch Lạng Sơn do Hải quan Lạng Sơn đảm nhiệm làm thủ tục Hải quan, kiểm tra hàng hóa bưu phẩm, bưu kiện từ nước ngoài gửi về theo đường bưu điện Chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ ngày càng mở rộng và ác liệt hơn Trong thời kỳ này, Lạng Sơn trở thành điểm giải tỏa hàng hóa sôi động nhất của cả nước, phương châm công tác của Hải quan lúc này là “đón hàng xuất, theo hàng nhập” nhiệm vụ lúc này là làm thủ tục Hải quan nhanh chóng, chú trọng nhiều đến nhiệm vụ phát hiện và ngăn ngừa tổn thất hàng hóa XNK Không có chính sách thu thuế hàng hóa XNK mậu dịch Với nỗ lực của mình, Hải quan

Trang 25

Lạng Sơn hoàn thành thủ tục XNK nhanh chóng cho hàng vạn lượt phương tiện XNC và hàng triệu tấn hàng hóa và hàng triệu lượt khách qua cửa khẩu phục vụ tích cực cho sản xuất và chiến đấu của nhân dân ta

Năm 1976 - 1978 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn hợp nhất thành tỉnh Cao Lạng nên cơ quan Hải quan lúc này được gọi là Chi cục hải quan Cao Lạng Trụ sở đóng tại thị xã Cao Bằng, việc hợp nhất chỉ liên quan đến tổ chức Hải quan tỉnh, còn các cửa khẩu, các Đội Kiểm soát không có gì thay đổi

Hòa chung với khí thế của chiến thắng lịch sử ngày 30/04/1975, Hải quan Lạng Sơn cùng Hải quan cả nước tích cực thực hiện nhiệm vụ: Đẩy mạnh giáo dục chính trị, đào tạo cán bộ, chấn chỉnh các mặt nghiệp vụ, đơn giản thủ tục giấy tờ, rèn luyện cách làm việc mới, phấn đấu đơn vị vững mạnh

về tổ chức, chặt chẽ về luật lệ, thông thạo về nghiệp vụ để có đủ khả năng phục vụ tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu, đấu tranh chống buôn lậu góp phần tích cực bảo vệ kinh tế đối ngoại, giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội

THỜI KỲ 1979 - 1985

Tháng 2/1979 nổ ra cuộc chiến tranh trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, các cửa khẩu đương nhiên bị đóng cửa Toàn bộ lực lượng Hải quan thu về một mối lập thành một Đội Kiểm soát Hải quan lưu động được Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn giao nhiệm vụ chống buôn lậu nội địa chống hàng tâm lý nhập khẩu

Trong bối cảnh này, Trung ương chủ quan giải thể hải quan các tỉnh biên giới phía Bắc trong đó có Hải quan Lạng Sơn Song nhận thấy vai trò quan trọng của lực lượng hải quan trong việc bảo vệ giữ gìn an ninh biên giới quốc gia, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động quản lý hàng hóa XNK tại cửa khẩu giao thương, thương mại, chống hàng tâm lý sau này UBND tỉnh Lạng Sơn đã quyết định đề nghị vẫn duy trì lực lượng Hải quan bằng ngân sách của tỉnh Lúc này lực lượng Hải quan Lạng Sơn chỉ có 17 người, hầu hết

Trang 26

là cán bộ trẻ, khỏe có lập trường tư tưởng vững vàng, đào tạo chính quy được UBND tỉnh Lạng Sơn giữ lại và duy trì hoạt động bằng ngân sách của tỉnh giao nhiệm vụ xuống các địa bàn công tác Cán bộ Hải quan Lạng Sơn đã tích cực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được tỉnh giao

Năm 1984, trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 139/HĐBT quy định lại nhiệm vụ quyền hạn

tổ chức Hải quan Việt Nam Theo đó thành lập Tổng cục Hải quan là cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, khôi phục và thành lập Hải quan các tỉnh Thời kỳ này, Chi cục Hải quan tỉnh được đổi tên gọi là Hải quan tỉnh; đổi tên Trạm hải quan cửa khẩu thành Hải quan cửa khẩu Đội Kiểm soát không thay đổi

THỜI KỲ 1986 - 2000

Năm 1986 trên tuyến biên giới phía Bắc nói chung và biên giới Lạng Sơn nói riêng việc buôn bán qua lại vùng biên giữa 2 nước tăng lên nhanh chóng, tuy nhiên kéo theo đó tình hình buôn lậu cũng gia tăng gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền sản xuất trong nước Nhiệm vụ của Hải quan Lạng Sơn lúc này là tập chung vào công tác đấu tranh chống buôn lậu hàng hóa qua biên giới

Để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ trong thời gian này, Tổng cục Hải quan quyết định thành lập thêm cho Hải quan tỉnh Lạng Sơn một Đội Kiểm soát cơ động số II đóng tại thị trấn Đồng Đăng đưa tổ chức của Đội kiểm soát thuộc Hải quan tỉnh Lạng Sơn từ 01 đội lên thành 2 Đội

Với biên chế tổ chức bộ máy gồm 50 cán bộ nhân viên năm 1986 (

1987 là 70 người), được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tổng cục Hải quan, của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Lạng Sơn và sự phối hợp của các ngành hữu quan, Lực lượng kiểm soát Hải quan tỉnh đã ngăn chặn, bắt giữ xử lý hàng ngàn vụ buôn lậu trái phép hàng hóa qua biên giới trị giá hàng trăm triệu đồng nộp ngân sách Nhà Nước

Trang 27

Năm 1988, Ban bí thư TW đảng ra chỉ thị 118 cho phép mở cửa biên giới để cư dân các xã giáp biên được phép qua lại thăm thân nhân và trao đổi hàng hóa phục vụ nhu cầu sinh hoạt đời sống và sản xuất hàng ngày của cư dân biên giới Đây là một chủ chương đúng đắn hợp lòng dân

Nhưng chủ chương đúng đắn trên của Đảng đã bị một số đầu nậu lợi dụng để buôn lậu hàng cấm, hàng tâm lý gây mất ổn định cho tình hình sản xuất trong nước

Ban đầu từ một số người ở các xã biên giới lẻ tẻ tự phát đi lại qua biên giới thăm thâm, trao đổi hàng hóa nhanh chóng trở thành dòng người từ hàng trăm rồi vài trăm người, rồi có lúc đế hàng nghìn người sang Trung Quốc trao đổi buôn bán hàng hóa về kiếm lời, nhiều dân cư ở các tỉnh phía sau cũng tham gia vượt biên buôn bán

Trước tình hình đó, Hội đồng Bộ trưởng ra các chỉ thị số 32, 84, 133 chấn chỉnh và chỉ đạo về việc qua lại biên giới thăm thân và trao đổi hàng hóa Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ngành liên quan nhiều lần bàn biện pháp quản lý và đến đầu năm 1989 bắt đầu lập các Trạm Kiểm soát liên hợp để kiểm soát người và hàng hóa trao đổi qua biên giới thu thuế đối với các loại hàng phải chịu thuế, lực lượng Hải quan được lựa chọn là một thành phần tham gia các Trạm Kiểm soát liên hợp như: Dốc Quýt, Khơ Đa vv…

Sau một thời gian tham gia lực lượng liên ngành tại Trạm Kiểm soát liên hợp, UBND tỉnh đã chính thức giao nhiệm vụ kiểm soát hàng hóa và thu thuế XNK tại trạm kiểm soát cho lực lượng Hải quan Song trong thời gian này, Tổng cục Hải quan cũng ra quyết định thành lập các Đội kiểm soát Hải quan biên giới gồm: Chi Ma, Tân Thanh, Khưa Đa, Cốc Nam, Hữu Nghị nâng bộ máy biên chế của lực lượng Hải quan Lạng Sơn từ 70 người năm

1987 lên 100 người năm 1990

THỜI KỲ 2001 - 2005

Trang 28

Năm 2001, Luật Hải quan được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa X thông qua đã tạo hành lang pháp lý cao nhất cho toàn ngành trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan, với mục tiêu thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội vào lĩnh vực công tác hải quan, nội luật hóa các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết tham gia nhằm tạo

ra khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ để điều chỉnh các quan hệ kinh tế -

xã hội liên quan đến hoạt động hải quan phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới, thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho hội nhập quốc

tế đồng thời tham gia bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Để triển khai Luật Hải quan có hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã có Nghị định 96/NĐ ngày 09 tháng 11 năm 2002 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của TCHQ theo đó các đơn vị Hải quan cửa khẩu đổi thành các Chi cục Hải quan cửa khẩu; các cơ quan tham mưu Cục quy định gồm các phòng chức năng: Văn Phòng, Phòng Nghiệp vụ, Phòng TCCB, Phòng Thanh Tra, Phòng TM CBL & XL, Phòng KTSTQ

Tháng 9/2002 thực hiện chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục có Quyết định số 113/2002/QĐ/TTG về việc chuyển TCHQ vào Bộ Tài chính Kể từ đây, dưới sự Lãnh đạo trực tiếp của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan Lạng Sơn đã cùng với Hải quan cả nước chấn chỉnh lại toàn bộ tổ chức bộ máy, thực hiện mạnh mẽ

về cải cách thủ tục hành chính, cải cách thủ tục Hải quan, cải tiến quy trình nghiệp vụ, thực hiện hiện đại hóa Hải quan nhằm xây dựng lực lượng đủ mạnh đáp ứng được nhu cầu nhiệm vụ mới đòi hỏi

Được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Sinh Hùng, Cục Hải quan Lạng Sơn khẩn trương triển khai xây

Trang 29

dựng đề án “ Củng cố, xây dựng và phát triển Cục Hải quan Lạng Sơn trong sạch vững mạnh giai đoạn 2003- 2005 và định hướng trong những năm tiếp theo” 9 đề án mang mã số (LS 01-004) với mục tiêu chung xuyên suốt là: “đủ

về số lượng, mạnh về chất lượng, trong sạch nội bộ và tinh thông nghiệp vụ” Nội dung Đề án xác định 9 giải pháp chủ yếu kèm theo các kế hoạch cụ thể trong đó tập chung vào giải pháp củng cố về bộ máy tổ chức; chống các tiêu cực nhũng nhiễu trong đội ngũ cán bộ, công chức Hải quan Lạng Sơn qua việc tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho CBCC, tăng cường thanh tra, kiểm tra nội bộ; kiên quyết xử lý nghiêm đối với các biểu hiện tiêu cực; thực hiện đào tạo, luân chuyển và phân công bố trí cán bộ theo hướng chuyên sâu Kết quả sau một thời gian triển khai thực hiện đề án, Cục Hải quan từng bước phát triển thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong mọi lĩnh vực công tác Năm 2005 kết thúc, Cục Hải quan Lạng Sơn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ theo đúng mục tiêu của Đề án lớn đã đề ra

THỜI KỲ 2006 - 2009

Sau 5 năm triển khai thực hiện Luật Hải quan, ngày 01 tháng 01 năm

2006, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan và Luật thuế XK,

NK sửa đổi đổi có hiệu lực thi hành, với mục tiêu thực hiện phương châm “ Thuận lợi - Tận tụy - Chính sác” ngành hải quan đã thực hiện quản lý Hải quan theo phương pháp hiện đại đó là áp dụng quản lý rủi ro, chuyển từ „tiền kiểm‟ sang “hậu kiểm”, Luật Hải quan sửa đổi đã tạo ra một nền tảng pháp lý vững chắc, tuân thủ các quy định, chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực Hải quan, đơn giản hóa thủ tục Hải quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp, rút ngắn thời gian thông quan do đó đã được cộng đồng doanh nghiệp tích cực ủng hộ

Năm 2006, cùng với các cấp, các ngành chào mừng thành công đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XIV đồng thời được sự quan tâm chỉ đạo sát

Trang 30

sao, thường xuyên liên tục và kịp thời của Lãnh đạo Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, cấp ủy và chính quyền địa phương, Cục Hải quan Lạng Sơn đã đồng bộ triển khai thực hiện các trương trình hiện đại hóa Hải quan theo Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định 810/QĐ - BTC ngày 16/03/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và các dự án hiện đại hóa Hải quan đã đề ra

Cũng trong thời gian này, được sự đồng ý của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan; sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo và hỗ trợ kịp thời của lãnh đạo tỉnh Bắc Giang, các cơ quan Ban, ngành của tỉnh, Chi cục HQQL các KCN tỉnh Bắc Giang đã chính thức được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 11/2006 Việc thành lập 01 đơn vị Hải quan tại tỉnh Bắc Giang đã có ý nghĩa thiết thực trong việc thu hút hàng chục nhà đầu tư nước ngoài với số vốn hàng

tỉ USD đến đầu tư tại tỉnh Bắc Giang cũng như đã tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp đang có hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh giảm chi phí, tiết kiệm về mặt thời gian khi làm thủ tục Hải quan, đồng thời góp phần tăng thu ngân sách địa phương, đáp ứng các nhu cầu phát triển hội nhập kinh

tế quốc tế

Năm 2007, Cục Hải quan Lạng Sơn có sự thay đổi lớn về nhân sự trong

đó Lãnh đạo cấp Cục và Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc đã được củng cố và kiện toàn Năm 2007 còn là năm luật quản lý thuế bắt đầu có hiệu lực thi hành

do đó đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý thuế; đảm bảo thu nộp đúng - đủ kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, rõ ràng và minh bạch hóa Đây cũng là năm mà Đảng ủy, lãnh đạo Cục Hải quan Lạng Sơn lựa chọn là năm “ thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính, đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính trong công tác quản lý Nhà nước về Hải quan” Trong đó việc cải cách được tập trung thực hiện ở 3 lĩnh vực chủ yếu là cải cách về con người, cải cách quy trình thủ tục và đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác

Trang 31

Năm 2008 cùng với yêu cầu hiện đại hóa chung của ngành, Hải quan Lạng Sơn đã chủ động xây dựng và được Tổng cục Hải quan phê duyệt “ Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa Hải quan Lạng Sơn giai đoạn 2008-

2010, định hướng đến năm 2020” ban hành kèm theo Quyết định số 1234/QĐ

- TCHQ ngày 14 tháng 03 năm 2008 Đây là cơ sở để Hải quan Lạng Sơn thực hiện những mục tiêu chiến lược ngắn hạn và trung hạn Kết quả 2 năm thực hiện Kế hoạch, Hải quan Lạng Sơn đã đạt được những thành tích nổi bật trên các mặt công tác như sau:

- Công tác kiểm tra, giám sát và thu thuế Hải quan

Là một lực lượng chính quy của ngành Hải quan với vị thế đứng thứ 8

về tổ chức bộ máy, đứng thứ 6 về thu nộp ngân sách trên tổng số 33 Cục Hải quan địa phương, trong tương lai Hải quan Lạng Sơn sẽ là trung tâm vùng của Hải quan Vùng khu vực biên giới phía bắc gồm 5 tỉnh Cao Bằng - Bắc Cạn - Thái Nguyên - Bắc Giang và Lạng Sơn Hiện Hải quan Lạng Sơn đang thực hiện quản lý hàng hóa XNK, phương tiện vận tải và hành khách XNC, đồng thời thực hiện đấu tranh chống buôn lậu, GLTM qua hai bên cánh gà 05 cửa khẩu đường bộ, đường sắt và một số cặp chợ biên giới tiếp giáp giữa 2 tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc)

- Công tác đấu tranh CBL, GLTM

Đấu tranh chống buôn lậu biên giới luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Đảng, Nhà nước cấp ủy, chính quyền địa phương giao cho Hải quan Lạng Sơn từ những ngày đầu thành lập cho tới nay do vậy trên mặt trận này, Hải quan Lạng Sơn luôn chú trọng, tăng cường kiểm tra, kiểm soát ở những khu vực, địa bàn trọng điểm, đối tượng trọng điểm Trong những năm qua, Hải quan Lạng Sơn luôn làm tốt công tác chống buôn lậu, GLTM trong địa bàn kiểm soát Hải quan trên tuyến biên giới Lạng Sơn, không để hình thành những đường dây ổ nhóm buôn lậu gây bức xúc trong dư luận

Trang 32

Đặc biệt năm 2008, Hải quan Lạng Sơn đã mạnh dạn thực hiện phương pháp quản lý mới đối với hàng hóa được miễn thuế theo tiêu chuẩn của cư dân biên giới ban hành theo Quyết định 254/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ

đã kiểm soát chặt chẽ được việc những đối tượng buôn lậu lợi dụng chính sách này để thu gom hàng lậu vận chuyển vào nội địa gây lũng loạn cho thị trường, chống thất thu thuế cho nhà nước hàng chục tỷ đồng

Năm 2009, Cục Hải quan Lạng Sơn tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phát triển và hiện đại hóa Hải quan Lạng Sơn, thực hiện nghiêm

kỷ cương của ngành đồng thời quyết liệt triển khai các mặt công tác, tập trung chỉ đạo các đơn vị trực thuộc triển khai tốt việc quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu, đấu tranh chống buôn lậu đạt hiệu quả; triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000; tăng cường kiểm tra, thanh tra nội bộ; thực hiện 5S tại nơi làm việc với mục tiêu nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, chấp hành nghiêm giờ giấc làm việc của cơ quan hành chính nhà nước Đặc biệt Cục Hải quan Lạng Sơn đã triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm túc Quyết định số 103/QĐ-TTg ngày 12/08/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục Hải quan điện tử, đồng thời tổ chức tập huấn Quyết định số 48/2008/QĐ-BTC của Bộ tài chính quy định áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan

- Công tác Tổ chức cán bộ

Song song với những nỗ lực cải tiến và hoàn thành xuất sắc các lĩnh vực nhiệm vụ chuyên môn, Hải quan Lạng Sơn cũng không ngừng củng cố tổ chức bộ máy, cải tiến việc sắp xếp, bố trí cán bộ theo yêu cầu hiện đại hóa Tính đến thời điểm hiện tại bộ máy tổ chức của Cục Hải quan Lạng Sơn gồm

17 đơn vị thuộc và trực thuộc với biên chế tổ chức gần 400 cán bộ, công chức Đội ngũ cán bộ Hải quan Lạng Sơn ngày càng lớn mạnh về cả số lượng và chất lượng; công tác đề bạt, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ luôn

Trang 33

được quan tâm, chú trọng, do vậy cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ hiện đại hóa công tác Hải quan.

- Công tác cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa Hải quan

Với mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, phù hợp với đường lối đổi mới, mở cửa của nhà nước, đồng thời vẫn đảm bảo được sự quản lý hải quan, từ năm 2006 đến nay (đặc biệt là các năm

2007 đến năm 2009) Hải quan Lạng Sơn đã có nhiều cải tiến cải cách về thủ tục hành chính và đạt nhiều kết quả tốt Trong đó phải kể đến năng xuất, chất lượng, hiệu quả công tác hải quan được tăng lên rõ rệt sau khi Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn áp dụng thủ tục hải quan khai báo từ xa đối với tất cả các loại hình XNK và triển khai hải quan địên tử từ tháng 12/2009 Những việc làm trên đã làm thay đổi hẳn phương pháp, phong cách làm việc cũ, tạo thuận lợi tối đa cho việc thông quan nhanh hàng hóa, tăng thêm sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế; đồng thời cũng tạo điều kiện cho

việc quản lý nội bộ chống tiêu cực có kết quả

THỜI KỲ 2010 - 2013

Năm 2010, mặc dù nền kinh tế thế giới đã vượt qua thời kỳ suy thoái,

song tình hình kinh tế trong nước có nhiều biến động như tỷ giá tiền tệ; Chính phủ tăng cường các nhóm biện pháp kìm chế lạm phát, giảm nhập siêu Điều này đã tác động không nhỏ đến ngành Hải quan nói chung và Hải quan Lạng Sơn nói riêng

Năm 2010 là năm có nhiều ngày lễ trọng đại của đất nước như: kỷ niệm

80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, 65 năm Cách Mạng tháng Tám và thành lập nước CHXHCN Việt Nam,

65 năm ngày thành lập ngành Tài chính, 65 năm thành lập Ngành Hải quan Đồng thời thực hiện Kế hoạch cải cách hiện đại hoá Hải quan Lạng Sơn giai đoạn 2008-2010, định hướng đến năm 2020, Cục Hải quan Lạng Sơn đã tổ

Trang 34

chức phát động các phong trào thi đua đến toàn thể cán bộ viên chức, tiếp tục thực hiện mục tiêu đẩy mạnh cải cách hành chính hiện đại hoá là mục tiêu trọng tâm của năm Đồng thời để hoàn thành tốt nhiệm vụ, ngay từ đầu năm Đảng uỷ, Lãnh đạo Cục đã xây dựng kế hoạch công tác của năm, trong đó giao nhiệm vụ cụ thể đến từng đơn vị thuộc và trực thuộc

Bên cạnh đó tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra công vụ; thực hiện quản lý tốt cán bộ trên mọi lĩnh vực công tác, quản lý tốt hàng hoá XNK,

hàng khách XNC, chống buôn lậu và gian lận thương mại có hiệu quả

* Kết quả thực hiện các mặt công tác cụ thể:

- Công tác giám sát, quản lý hải quan

Trong năm 2010, kim ngạch XNK của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn tăng mạnh so với cùng kỳ 2009 (tăng tới 52%) Đặc biệt kim ngạch XK tăng tới gần 100% so với cùng kỳ 2009

Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu qua các cửa khẩu thuộc địa bàn quản lý của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn chủ yếu là ôtô, linh kiện ôtô, máy móc, hoá chất… hàng xuất khẩu chủ yếu vẫn là mặt hàng hoa quả tươi, tinh bột sắn, sắn lát khô, cây cảnh…

Đặc biệt trong quý I, kim ngạch XK hàng hoa quả nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc tăng đột biến nên đã gây ra tình trạng ách tắc cục bộ đối với hàng hoa quả xuất khẩu (đặc biệt là mặt hàng dưa hấu XK) qua cửa khẩu Tân Thanh Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã kịp thời báo cáo Tổng cục Hải quan, UBND tỉnh Lạng Sơn xin ý kiến chỉ đạo, đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng tại cửa khẩu kịp thời phân luồng giải quyết tình trạng ách tắc trên

Tuy kim ngạch XNK cả năm tăng cao song trong Quý II và Quý III/2010 do chính sách giảm nhập siêu của Chính phủ nên một số mặt hàng

NK qua địa bàn Lạng Sơn đã giảm rõ rệt Cụ thể: tại cửa khẩu Hữu Nghị

Trang 35

(đơn vị có số thu chiếm tới 2/3 tổng số thu toàn Cục) trong tháng 6 lƣợng hàng hoá XNK giảm dẫn tới kim ngạch giảm tới 15% so với tháng 5/2010 (trong đó kim ngạch xuất khẩu giảm 9% và kim ngạch nhập khẩu giảm 12%) Đặc biệt trong tháng 8 các mặt hàng nhập khẩu tại cửa khẩu Hữu Nghị giảm

rõ rệt nhƣ: mặt hàng ôtô tải nguyên chiếc số lƣợng nhập khẩu giảm 45% dẫn đến kim ngạch giảm 35% so với tháng 7/2010 Kim ngạch của nhóm hàng máy móc thiết bị (là mặt hàng NK chủ yếu qua cửa khẩu) giảm tới 46%; nhóm hàng nông sản NK số lƣợng giảm 29%, kim ngạch giảm 29%

Kết quả: Toàn Cục làm thủ tục cho: 762.277 lƣợt hành khách xuất nhập

cảnh qua cửa khẩu Hữu Nghị và Ga ĐSQT Đồng Đăng (tăng 18% so với cùng

kỳ năm 2009)

* Làm thủ tục cho: 89.295 bộ tờ khai hàng hoá XNK, với tổng kim

ngạch đạt 2.735,5 triệu USD (tăng 52% so với cùng kỳ năm 2009) Trong đó

kim ngạch tại địa bàn Bắc Giang là 662,5 triệu USD, tăng 124% so với cùng

kỳ 2009; tại địa bàn Lạng Sơn là 2.073 triệu USD, tăng 36% so với cùng kỳ

2009)

- Công tác thu thuế XNK

Năm 2010 dự toán giao cho Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn thu NSNN từ

hoạt động XNK qua địa bàn là 1.430 tỷ đồng (trong đó địa bàn Lạng Sơn là 1.330 tỷ đồng; Bắc Giang là 100 tỷ đồng); chỉ tiêu phấn đấu là 1.650 tỷ đồng

(Lạng Sơn 1.500 tỷ đồng; Bắc Giang 150 tỷ đồng) Tính đến 31/8/2010 Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã hoàn thành chỉ tiêu thu nộp ngân sách

Để hoàn thành sớm chỉ tiêu thu NSNN năm 2010, ngay từ những ngày đầu năm Cục Hải quan tỉnh đã giao chỉ tiêu cho từng đơn vị Hải quan trực thuộc tổ chức thực hiện, đẩy mạnh công tác kiểm tra kiểm soát tránh gian lận

về giá, thuế

Trang 36

Tớch cực phối hợp với cỏc cơ quan chức năng tỡm biện phỏp hữu hiệu trong cụng tỏc thu hồi nợ đọng thuế Thường xuyờn đụn đốc cỏc Chi cục tớch cực triển khai cỏc biện phỏp, giải quyết kịp thời những vấn đề vướng mắc về giỏ, phõn loại hàng hoỏ, chớnh sỏch thuế XNK, thanh khoản quyết toỏn cỏc loại hỡnh hàng hoỏ XNK cho cỏc Chi cục và doanh nghiệp Đồng thời truyền nhận hệ thống thụng tin GT22, KT559 một cỏch kịp thời, đỳng chế độ

Kết quả: Trong năm 2010, toàn Cục đó tham vấn, XĐTG cho 533 bộ tờ khai, (tổng số tờ khai chấp nhận là 413 bộ; tổng số tờ khai bỏc bỏ là: 120

bộ) Tổng số thuế điều chỉnh sau tham vấn: 12,7 tỷ đồng; tổng số thuế thực

nộp sau điều chỉnh là: 9,5 tỷ đồng

* Tổng số thu thuế phỏt sinh toàn Cục đạt: 2.278,1 tỷ đồng, tăng

25% so với cựng kỳ 2009 (Trong đú số thu thuế tại Bắc Giang là: 235,3 tỷ

đồng, giảm 27% so với cựng kỳ 2009; tại Lạng Sơn là: 2.042,8 tỷ đồng, tăng

36% so với cựng kỳ 2009)

* Số thuế thực nộp kho bạc tớnh đến 31/12/2010 đạt: 2.197,3 tỷ đồng

(tăng 33% so với cựng kỳ 2009, đạt 153% so với kế hoạch giao; đạt 133% so với chỉ tiờu phấn đấu năm 2010)

+ Cụ thể số thuế nộp tại Lạng Sơn đạt: 2.011 tỷ đồng, tăng 50% so với cựng

kỳ 2009; nộp tại Bắc Giang đạt 186,4 tỷ đồng, giảm 40% so với cựng kỳ 2009

+ Tổng số nợ đọng chuyờn thu đến 31/12/2010 là: 408,8 tỷ đồng, (gồm:

nợ trong hạn là:195,9 tỷ đồng, nợ quỏ hạn là: 63 tỷ đồng, nợ cưỡng chế thuế là: 149,9 tỷ đồng)

- Cụng tỏc chống buụn lậu và GLTM

Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn nhận được sự chỉ đạo chặt chẽ và thống nhất của Lónh đạo Tổng cục Hải quan, UBND tỉnh, Ban 127 và cỏc Ngành, cỏc lực lượng tại biờn giới và trong nội địa nờn hoạt động buụn bỏn vận

Trang 37

chuyển hàng hoá nhập lậu tại tuyến biên giới thuộc địa bàn kiểm soát của Hải quan Lạng Sơn trong năm 2010 đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2009

Kết quả trong năm 2010 toàn Cục đã bắt giữ được: 503 vụ buôn lậu và

GLTM, trị giá ước tính hơn 4,9 tỷ đồng (giảm 14% số vụ bắt giữ, giảm 67%

trị giá hàng hoá so với cùng kỳ 2009 )

- Công tác thu thập XLTT, QLRR, XLVP và thực thi SHTT

Công tác thu thập thông tin và QLRR: Trong năm 2010, Cục Hải quan

tỉnh Lạng Sơn đặc biệt quan tâm đến công tác thu thập thông tin về Doanh nghiệp, đối tượng hàng hóa xuất nhập khẩu trên hệ thống cơ sở dữ liệu của Ngành như: tiến hành xác minh tài sản, tài khoản của doanh nghiệp có nợ thuế quá hạn; thu thập, xác minh các nguồn thông tin về việc XK các mặt hàng: khoáng sản, xăng dầu, hàng TNTX theo cảnh báo của Cục Điều tra chống buôn lậu tại các Chi cục Hải quan cửa khẩu

Thực hiện và hướng dẫn các đơn vị thực hiên nghiêm chỉnh các quy định tại Quyết định số 35/QQĐ-TCHQ ngày 10/7/2010 về việc ban hành chi tiết và hướng dẫn cụ thể áp dụng QLRR trong thủ tục hải quan đối với hàng hoá XK,

NK thương mại Tăng cường kiểm tra việc áp dụng QLRR tại các Chi cục Hải quan cửa khẩu để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai sót trong việc phân luồng, chuyển luồng

Kết quả: Tổng số tờ khai chuyển luồng: 5.796 bộ Trong đó:

- Tổng số tờ khai chuyển từ luồng Xanh sang luồng Vàng là: 1.706 bộ

- Tổng số tờ khai chuyển từ luồng Xanh sang luồng Đỏ là: 1.737 bộ

- Tổng số tờ khai chuyển từ luồng Xanh sang luồng Xanh là: 3 bộ

- Tổng số tờ khai chuyển từ luồng Vàng sang luồng Đỏ là: 2.348 bộ

- Tổng số tờ khai chuyển từ luồng Đỏ sang luồng Xanh là: 1 bộ

- Tổng số tờ khai chuyển từ luồng Đỏ sang luồng Vàng là: 1 bộ

Trang 38

Thông qua công tác chuyển luồng đối với hàng hóa XNK, toàn Cục đã

điều chỉnh tăng được số thuế là hơn 41,5 tỷ đồng

Công tác thực thi SHTT: Cùng với công tác thu thập thông tin, QLRR

Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo các đơn vị tăng cường thu thập thông tin có liên quan đối với hàng hóa có đơn yêu cầu giám sát và những hàng hóa nghi ngờ vi phạm SHTT Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm đấu tranh, ngăn chặn, xử lý đối với các hành vi vi phạm quyền SHTT một cách có hiệu quả

Công tác xử lý vi phạm: Trong năm 2010, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn

đã xử phạt 308 vụ VPHC về hải quan, tổng số tiền thu phạt gần 1,6 tỷ đồng

- Công tác Kiểm tra sau thông quan

Trong năm 2010, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn tích cực triển khai công tác KTSTQ, trong đó tập trung thu thập thông tin đối với những doanh nghiệp

có dấu hiệu vi phạm, nhằm tránh những gian lận về thuế, giá

* Kết quả công tác phúc tập hồ sơ của toàn Cục như sau:

+ Tổng số hồ sơ phải phúc tập trong kỳ: 91.011 bộ

+ Số hồ sơ đã phúc tập: 85.531 bộ

+ Số hồ sơ chưa phúc tập: 5.480 bộ

Qua công tác phúc tập hồ sơ đã phát hiện 25 bộ hồ sơ vi phạm Tổng

số tiền truy thu trong năm 2010 là 4,3 tỷ đồng; phạt VPHC với tổng số tiền là

341,4 triệu đồng

- Công tác Tổ chức cán bộ và Thi đua khen thưởng

Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành rà soát và kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy các đơn vị thuộc và trực thuộc Cục; triển khai công tác quy hoạch cán bộ Lãnh đạo các cấp, công tác tuyển dụng cán bộ năm 2010, đồng thời ra quyết định thành lập Đội Gíam sát quản lý thuộc Chi cục Hải quan Tân Thanh Sắp xếp lại nhân sự các Phòng: Gíam sát quản lý về Hải quan; Văn

Trang 39

phòng; Thuế XNK; Thanh tra; Chống buôn lậu và XLVP; Quản lý Rủi ro; Tài

vụ -Quản trị

Năm 2010, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện việc luân chuyển, điều động giữa các đơn vị cho 121 CBCC; ra quyết định nâng lương và tăng phụ cấp thâm niên cho 376 CBCC; tiến hành thủ tục bổ nhiệm cho 04 Lãnh đạo cấp Phòng và 13 Lãnh đạo cấp Tổ, Đội; bổ nhiệm lại đối với 03 Lãnh đạo cấp Chi cục, cấp Phòng Đồng thời báo cáo Tổng cục Hải quan đề nghị bổ sung quy hoạch chức danh Phó Cục trưởng đối với 03 trường hợp; tiếp tục quy hoạch cán bộ Lãnh đạo cấp Phòng và tương đương trở xuống đối với 38 trường hợp; bổ sung quy hoạch cán bộ Lãnh đạo cấp Phòng và tương đương trở xuống đối với 38 trường hợp

Về công tác Thi đua-khen thưởng: Tổ chức tốt các phong trào thi đua

chào mừng kỷ niệm 65 năm ngày thành lập ngành Tài chính, ngành Hải quan; Đại hội đảng bộ các cấp

Tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lạng Sơn lần thứ III/2010, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã được UBND tỉnh tặng Bằng khen có thành tích trong phong trào thi đua yêu nước 5 năm 2006-2010

Thực hiện đúng theo quy định về công tác thi đua khen thưởng năm 2010, trong đó 326 cá nhân thuộc Cục được tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến năm 2010”; 140 cá nhân được công nhận “Chiến sỹ thi đua cơ sở”; 58 cá nhân được tặng giấy khen của Cục trưởng; Đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen cho 02 tập thể và 05 các nhân thuộc Cục; đề nghị Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động Hạng Ba cho 03 tập thể và 02 cá nhân thuộc Cục

- Công tác cải cách, phát triển HĐH Hải quan

Năm 2010, công tác cải cách hiện đại hoá đã được Cục Hải quan tỉnh

Lạng sơn ưu tiên hàng đầu Bởi đây là năm cuối thực hiện “Kế hoạch Kế

Trang 40

hoạch cải cách phát triển hiện đại hoá hải quan giai đoạn 2008-2010, tầm nhìn 2020”

Cụ thể như: Việc triển khai thí điểm thông quan điện tử tiếp tục được thực hiện tốt tại 03 đơn vị lựa chọn thí điểm giai đoạn I Đồng thời đã triển khai kế hoạch mở rộng thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) tại 03 Chi cục còn lại đó là Chi Ma, Tân Thanh và Cốc Nam Đến 1/8/2010 Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã đạt 100% Chi cục thực hiện thông quan điện tử

Bên cạnh đó đã phối hợp với Cục Công nghệ thông tin-TCHQ tiến hành khắc phục kịp thời các lỗi về hệ thống đường truyền, mạng, triển khai hệ thống quét virut tự động, an ninh mạng, an toàn mạng AD, bổ sung hệ thống máy chủ, máy trạm cho các Chi cục đảm bảo việc triển khai TTHQĐT đạt hiệu quả cao

Tính đến 31/12/2010 đã có 749 doanh nghiệp tham gia thực hiện thủ tục hải quan điện tử và thực hiện thông quan bằng hình thức này cho 24.830 bộ tờ khai (chiếm 27% tổng số tờ khai toàn Cục).Tổng kim ngạch đạt hơn 755,4 triệu

USD (chiếm 27% tổng kim ngạch toàn Cục) Trong đó loại hình nhập kinh

doanh: 16.876 tờ khai, chiếm 51% tổng tờ khai theo loại hình; kim ngạch đạt

297,9 triệu USD chiếm 28% tổng kim ngạch theo loại hình; tổng tổng tờ khai

Nhập SXXK: 1.394 tờ khai chiếm 72% tổng tờ khai, đạt 113,3 triệu USD

chiếm 69% kim ngạch theo loại hình; tổng tờ khai xuất kinh doanh đạt: 816 tờ chiếm 24% tổng tờ khai, kim ngạch đạt 67 triệu USD chiếm 31% tổng kim ngạch theo loại hình; tổng tờ khai Xuất SXXK 936 tờ khai chiếm 48% tổng tờ

khai, đạt 114,1 triệu USD chiếm 83% tổng kim ngạch theo loại hình

Năm 2011, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã tiếp tục đẩy mạnh cải cách

thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan, đặc biệt là triển khai có hiệu quả việc làm thủ tục hải quan điện tử đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn Đồng thời tập trung mọi nguồn lực để triển khai các

Ngày đăng: 17/09/2020, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w