Nền kinh tế nước ta đang phát triển với ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, để thực hiện quá trình CNH - HĐH đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những vấn đề qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ THỊ THU HÀ
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐÀO THỊ BÍCH THỦY
Trang 3Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
4 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
5 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
6 GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân
8 IMF International Monetary Fund Quĩ Tiền tệ Quốc tế
9 ICOR Incremental Capital - Output
Ratio
Hệ số sản lượng vốn tăng thêm
16 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Cơ cấu GDP các ngành kinh tế của tỉnh Bắc Ninh từ
1997-2008
43
Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng GTSX giai đoạn 1997-2008 theo các
ngành kinh tế (Theo giá so sánh 1994)
Bảng 2.5 Thùc tr¹ng chuyÓn dÞch c¬ cÊu gieo trång tõ 1997-2008 50
Bảng 2.6 KÕt qu¶ ch¨n nu«i cña tØnh B¾c Ninh tõ 1997-2008 53 Bảng 2.7 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu trong ngành công nghiệp -
Tên biểu đồ chương 2
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu GDP phân theo ba ngành kinh tế 44 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu lao động theo ba ngành kinh tế 66
Trang 5MỤC LỤC Trang phụ bìa
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 1
1.2.1 Khái niệm, ý nghĩa và các yếu tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu
1.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại một số địa phương
ở nước ta giai đoạn từ 1997 đến nay
18
1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Hưng Yên 19 1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Vĩnh Phúc 23 1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
Trang 62.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 35 2.1.4 Vai trò của Nhà nước, nhu cầu của thị trường trong từng giai đoạn
2.3.2 Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp - xây dựng 55
2.5 Đánh giá chung sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Bắc Ninh 68
Chương 3 Quan điểm và giải pháp chủ yếu thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm
3.1.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới 77
Trang 73.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 79
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện để phát triển nền kinh tế Nền kinh tế nước ta đang phát triển với ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, để thực hiện quá trình CNH - HĐH đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu, trong đó đặc biệt chú trọng tới vùng KTTĐ của đất nước
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng KTTĐ Bắc Bộ: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế Cũng như các tỉnh khác trong cả nước, Bắc Ninh đã và đang nỗ lực thực hiện theo đường lối của Đảng: tiến hành CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Xuất phát điểm là một tỉnh thuần nông, có cơ cấu ngành kinh tế không cân đối, ngành công nghiệp thấp kém, do đó thực hiện công cuộc hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là một vấn đề hết sức khó khăn đối với Bắc Ninh Ngay từ thời kỳ đầu tái lập (01/01/1997), Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra kế hoạch chính sách phát triển kinh tế gắn với chuyển dịch mạnh cơ cấu ngành kinh tế, phấn đấu đưa Bắc Ninh thoát ra khỏi tình trạng thấp kém
Đến nay, Bắc Ninh đã đạt được nhiều kết quả đáng kể trong lĩnh vực kinh tế - xã hội: GDP liên tục tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm, tăng tương ứng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện
Có được thành tựu như vậy là do Bắc Ninh đã xác định được một hướng đi phù hợp, hoà nhập được với tinh thần chung của cả nước cũng như
Trang 9xu thế phát triển của thế giới, xây dựng được một cơ cấu ngành kinh tế hợp
lý, tận dụng được ưu thế riêng của tỉnh để phát triển kinh tế
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Bắc Ninh vẫn còn bộc lộ một số mặt yếu kém như: tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa xứng với lợi thế của tỉnh, GDP bình quân đầu người chưa cao, thu hút vốn đầu tư bên ngoài vào chưa mạnh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng dịch vụ trong GDP đạt thấp
Do vậy, tiếp tục hoàn thiện cơ cấu ngành kinh tế để phát huy lợi thế so sánh của Bắc Ninh là một vấn đề hết sức cấp bách, phù hợp với tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X; với chính sách phát triển kinh tế của tỉnh và trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay Chính vì lẽ đó, tác giả
chọn “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Bắc Ninh” làm đề tài của luận văn
Thạc sỹ kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu:
Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu đề cập ở các cấp độ khác nhau về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh đã được công bố Cụ thể là:
“Bắc Ninh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2005” của Nguyễn Hữu Thành, (2005) - tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 17, tr 8-12 Trong bài này, tác giả đã phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh giai đoạn 2001 - 2005, đánh giá thành công và hạn chế, sau đó đưa ra giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành này trong những năm tới Vì phạm vi của bài viết chỉ dừng lại ở ngành nông nghiệp, phạm vi thời gian trong một giai đoạn ngắn nên chưa phản ánh được rõ nét bức tranh về các ngành kinh tế của tỉnh Bắc Ninh
2001-“Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Bắc Ninh từ 1986-2005 và một số giải pháp, kiến nghị” - Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học: Chuyển dịch cơ
Trang 10cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh từ 1986-2005 của tác giả Ngô Văn Tuệ - Cục Thống kê Bắc Ninh
“Động thái kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 1997 - 2005”, Nxb Thống kê (2006) Qua đó, những số liệu về các lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh đã được phân tích và tập hợp một cách hệ thống và khá đầy đủ, vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 1997 - 2005 cũng được khái quát qua tài liệu này Tuy nhiên, phạm vi thời gian chỉ tính đến năm 2005 nên đến nay công trình này không còn phù hợp để phản ánh thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Bắc Ninh
“Nông thôn, nông nghiệp và nông dân Bắc Ninh trên đường đổi mới” của Trần Văn Tuý (Chủ biên), Nxb Thống kê (2008) Tuy không đề cập sâu
về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhưng cuốn sách này được ví như một kho thông tin về nông thôn, nông nghiệp và nông dân Bắc Ninh rất đồ sộ và phong phú Nó giúp người đọc hình dung phần nào về sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp và định hướng phát triển ngành này sau hơn 10 năm tái lập tỉnh
Bên cạnh đó, còn một số tài liệu về Bắc Ninh như: Báo cáo thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và Báo cáo thực hiện kế hoạch
5 năm 2001 - 2005 của Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh; bài viết của tác giả Nguyễn Thế Thảo, (2003), “Bắc Ninh: Thành tựu đột phá và triển vọng đến năm 2010” - Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 8, tr 22-24; (2002), “Bắc Ninh và
5 giải pháp thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn”
- Tạp chí Nông thôn mới, số 1+2, tr 64-65
Những nghiên cứu trên vì mục đích và yêu cầu khác nhau nên nhìn chung chưa thoả đáng để phản ánh một cách có hệ thống về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến nay Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay, Bắc Ninh định hướng phát triển kinh tế
Trang 11theo hướng CNH - HĐH thì liệu sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với tốc
độ như các giai đoạn trước có còn phù hợp không? Đây là một trong những câu hỏi đặt ra cho đề tài “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Bắc Ninh”
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh
từ năm 1997 đến nay và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh trong những năm tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
- Phân tích chuyển dịch cơ cấu ngành và chuyển dịch trong nội bộ ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến nay
- Từ đó đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh + Về thời gian: Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2008
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình nghiên cứu, kết hợp cùng các phương pháp như: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, lôgic, xử lý các nguồn số liệu và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra
Đồng thời, luận văn cũng tham khảo các công trình nghiên cứu đã được công bố, kế thừa kết quả để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
Trang 136 Dự kiến đóng góp của luận văn:
- Trình bày một cách hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế
- Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh
- Làm rõ những nhân tố tác động tới quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh: quá trình xây dựng cơ cấu ngành kinh tế hợp
lý và tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm tới
7 Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn gồm có 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
- Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Bắc Ninh
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Bắc Ninh trong những năm tới
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH KINH TẾ 1.1 Khái niệm và phân loại cơ cấu ngành kinh tế
1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế
Khái niệm cơ cấu kinh tế được định nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào cách tiếp cận, nghiên cứu Khi tìm hiểu về cơ cấu kinh tế, cần làm rõ khái niệm về cơ cấu
Cơ cấu là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống Biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng, và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng [25, tr 269 - 270] Bởi vậy khi nghiên cứu về cơ cấu của một đối tượng nào đó cần phải tiếp cận một cách hệ thống đối với nó
Cũng như vậy đối với nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp, có thể thấy rất nhiều các bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành của chúng Nếu đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể hiểu: Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, tương tác qua lại
cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế -
xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định Do vậy,
cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội
Theo lý luận kinh tế chính trị, khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội, Các Mác đã nhấn mạnh: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của
Trang 15các lực lượng sản xuất vật chất”[5, tr 7] Đó là tính thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong khái niệm cơ cấu kinh tế, là kết quả của sự phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
và kiến trúc thượng tầng
Một cách tiếp cận khác thì cho rằng: “Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân
là tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế: Các lĩnh vực (sản xuất, trao đổi, tiêu dùng), các ngành (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ), các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá thể) hay các vùng kinh tế.[19, tr 21]
Nhìn chung, có thể hiểu một cách đơn giản cơ cấu kinh tế là tổng thể
các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia Trong quá trình vận động của nền kinh tế, chúng có quan hệ tương tác lẫn nhau về số lượng, tỷ trọng và cùng hướng vào những mục tiêu đã xác định
Nền kinh tế quốc dân dưới góc độ cấu trúc là sự đan xen của nhiều loại
cơ cấu khác nhau, có mối quan hệ chi phối lẫn nhau trong quá trình phát triển kinh tế Trên bình diện vĩ mô, có các loại cơ cấu kinh tế cơ bản là cơ cấu vùng, lãnh thổ; cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế
1.1.2 Cơ cấu ngành kinh tế
1.1.2.1 Khái niệm
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp ngành kinh tế được hình thành trên các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ tổng hợp giữa các ngành với nhau phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
Biểu thị cơ cấu ngành kinh tế bằng vị trí, tỷ trọng của mỗi ngành trong
hệ thống nền kinh tế quốc dân Cơ cấu vùng, lãnh thổ được hình thành bởi việc bố trí không gian địa lý Trong cơ cấu lãnh thổ, có sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ Tuỳ theo tiềm năng
Trang 16phát triển kinh tế, gắn liền với sự hình thành phân bố dân cư trên lãnh thổ để phát triển tổng hợp hay ưu tiên một vài ngành kinh tế nào đó Trong khi đó,
cơ cấu thành phần kinh tế biểu hiện hệ thống tổ chức kinh tế với các chế độ sở hữu khác nhau có khả năng thúc đẩy phân công lao động xã hội Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng, lãnh thổ trong quá trình phát triển
Trong ba loại cơ cấu trên của cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế là biểu hiện quan trọng nhất và đặc trưng nhất Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, vai trò của từng ngành trong phát triển kinh tế-xã hội, căn cứ vào điều kiện thực tế để phát triển chúng Thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của nền kinh tế nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển khác
Một số đặc trưng của cơ cấu ngành kinh tế bao gồm: bị chi phối bởi các quy trình kỹ thuật, công nghệ và yêu cầu thị trường; bị ràng buộc bởi tính hệ thống và yêu cầu cân đối (hay ở chừng mực nào đó là yêu cầu đồng bộ); đan xen tính hiện đại và tính lạc hậu; bị chi phối bởi các yếu tố chính trị, xã hội
Để xem xét số lượng các ngành tạo nên nền kinh tế và chất lượng các mối quan hệ giữa chúng với nhau ra sao, người ta thường chia nền kinh tế thành các nhóm ngành để quan sát Theo quan điểm của tác giả Ngô Doãn Vịnh, về mặt định lượng, cơ cấu ngành kinh tế bao gồm số ngành kinh tế và
tỷ trọng trong mỗi ngành đó trong tổng thể nền kinh tế quốc dân; về mặt định tính, cơ cấu ngành thể hiện mối quan hệ giữa các ngành kinh tế và vị trí của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân Trong mối quan hệ giữa các ngành kinh tế thường biểu hiện hai mối quan hệ chủ yếu, gồm: ngành có mối quan
hệ trực tiếp, trong đó có các ngành quan hệ ngược chiều, các ngành quan hệ xuôi chiều và ngành quan hệ gián tiếp.[29, tr.99-100]
Trang 17Cơ cấu ngành kinh tế hình thành trên cơ sở phân công lao động xã hội
và chuyên môn hoá sản xuất Do đó, nó phản ánh phần nào trình độ sản xuất
và phân công lao động xã hội của một quốc gia
Nghiên cứu các loại cơ cấu kinh tế nhằm tìm ra cách thức duy trì tính hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung cao nguồn lực có hạn của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ Từ đó thúc đẩy sự phát triển của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh chóng nhất, có hiệu quả nhất
1.1.2.2 Phân loại cơ cấu ngành kinh tế
Có nhiều cách phân loại các ngành hợp thành trong cơ cấu ngành kinh
tế Tuy nhiên, căn cứ vào phân ngành của Tổng cục Thống kê Việt Nam, có thể nhìn nhận nền kinh tế nước ta là tổng hòa của ba nhóm ngành sau:
Nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp (ngành nông nghiệp), gồm các ngành
trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp; Nhóm ngành công nghiệp và xây
dựng (ngành công nghiệp), gồm các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp
khai thác, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, công nghiệp lọc dầu,
ngành xây dựng; Nhóm ngành dịch vụ gồm các ngành thương mại, du lịch, giao
thông vận tải, tài chính ngân hàng, bưu điện và các ngành dịch vụ khác
Cơ cấu theo hai nhóm ngành dựa trên phương thức, công nghệ sản xuất:
nông nghiệp và phi nông nghiệp Việc phân chia cơ cấu kinh tế thành hai nhóm ngành này để quan sát trình độ của cơ cấu, yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Khi phân tích theo hai nhóm ngành này, chúng ta cần quan sát phương thức, công nghệ tạo ra sản phẩm Khi nhóm ngành phi nông nghiệp càng phát triển và chiếm tỷ trọng càng lớn thì nền kinh tế càng phát triển ở trình độ cao Nhóm ngành nông nghiệp gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; nhóm ngành phi nông nghiệp gồm các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Đối với các nước đang phát triển thì việc xem xét cơ cấu ngành kinh tế theo kiểu này có ý nghĩa to lớn Việc chuyển dân cư nông thôn sang sống tại các đô thị và
Trang 18chuyển lao động nông nghiệp sang làm việc trong các khu vực phi nông nghiệp là vấn đề có tính quy luật tiến tới sự hiện đại; sự chuyển động này đến một mức đô nào đó thì nền kinh tế được coi là phát triển Ở các nước đang phát triển, các ngành nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế; khi đó công nghệ của nền kinh tế không cao.[30, tr.100]
Căn cứ vào phương thức sản xuất, người ta còn chia các ngành thành hai nhóm sau đây:
- Cơ cấu giữa các doanh nghiệp theo quy mô Tức là, cơ cấu giữa doanh nghiệp quy mô nhỏ, vừa và doanh nghiệp quy mô lớn Trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng nhạy nhanh, kịp thời với những biến động kinh tế trong một quốc gia hay trên phạm vi toàn thế giới Nhờ đó, có thể giảm thiểu tổn thất cho đầu tư và cho sản xuất Mặt khác, một vấn đề quan trọng cần chú ý trong bối cảnh toàn cầu hoá là luôn tồn tại sự cạnh tranh khốc liệt Những tập đoàn kinh tế lớn mạnh có điều kiện cạnh tranh tốt hơn Vì thế, bên cạnh việc khuyến khích phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần đặc biệt chú ý tạo dựng những tập đoàn kinh tế lớn
- Cơ cấu giữa các doanh nghiệp có công nghệ trình độ cao với các doanh nghiệp có công nghệ trình độ trung bình Dù hiển nhiên những doanh nghiệp có công nghệ cao sẽ quyết định sự phát triển của cơ cấu kinh tế, nhưng trong khi lao động cần việc làm có số lượng lớn và lực lượng lao động có chất lượng không cao thì việc phát triển các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động vô cùng cần thiết Nó không chỉ góp phần giải quyết việc làm mà còn có ý nghĩa toàn dụng lao động để tăng trưởng kinh tế
Cơ cấu theo hai nhóm ngành dựa vào tính chất sản phẩm cuối cùng: nhóm
ngành sản xuất sản phẩm vật chất và nhóm ngành sản xuất sản phẩm dịch vụ Việc phân chia cơ cấu kinh tế theo hai nhóm ngành này nhằm nghiên cứu về mức
độ hài hoà giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân Trong quá trình CNH-HĐH
Trang 19nền kinh tế không thể không quan sát quan hệ giữa hai khối ngành này Dịch vụ phát triển được coi như làm “trơn tru” các quá trình sản xuất kinh doanh Nếu khu vực sản xuất phát triển mà khu vực dịch vụ không phát triển thì sản xuất cũng sẽ
bị ngưng trệ Sự hài hoà giữa hai khối ngành này là rất cần thiết Nếu xét theo hành vi tăng trưởng (hành vi tham gia tăng trưởng) thì các ngành sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ có quan hệ khăng khít với nhau theo một tương quan nhất định Đặc trưng tiêu biểu nhất là các ngành dịch vụ phải tăng nhanh hơn các ngành sản xuất vật chất [30, tr.101]
Khi xem xét cơ cấu ngành kinh tế, chúng ta cũng phải chú ý đến tỷ trọng hay mức đóng góp của các sản phẩm chủ lực cho nền kinh tế, cũng như của các sản phẩm chứa hàm lượng công nghệ cao, hàm lượng chất xám cao Nếu như các sản phẩm này chiếm tỷ trọng càng lớn thì nền kinh tế càng tốt và ngược lại Một nền kinh tế được xem là phát triển phải có các ngành chế tạo chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (trên 30%) Mặt khác, phải chú ý đến cơ cấu nội bộ của các ngành kinh tế Tính hợp lý trong nội bộ của các ngành và cơ cấu ngành kinh tế sẽ đảm bảo tính hiệu quả cho sự phát triển nền kinh tế
Nghiên cứu cơ cấu giữa hai nhóm ngành sản xuất vật chất và khối sản xuất sản phẩm dịch vụ nhằm phát huy toàn diện, đầy đủ quan hệ giữa chúng làm cho nền kinh tế có sức mạnh tổng hợp, phát triển cân đối, hài hoà giữa các mặt, giữa đầu vào và đầu ra Cơ cấu ngành kinh tế quốc dân luôn vận động và phát triển, việc phân tích và đưa ra hướng điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế thích hợp trong quá trình đổi mới và thực hiện CNH - HĐH là vấn đề hết sức cần thiết
1.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.2.1 Khái niệm, ý nghĩa và các yếu tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Trang 20Quá trình phát triển kinh tế, đồng thời cũng là quá trình làm thay đổi cơ cấu kinh tế (trong đó có cơ cấu ngành kinh tế) cả về tỷ lệ, số lượng và chất lượng Sự ổn định của cơ cấu kinh tế chỉ là tương đối, nó thường xuyên ở trạng thái vận động và biến đổi không ngừng Sự biến đổi ấy phụ thuộc vào cả những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, như: điều kiện tự nhiên, khoa học công nghệ, trình độ phân công lao động xã hội, sự liên kết hợp tác kinh tế và nhân tố chủ quan của nhà nước… Trong đó có nhân tố quan trọng
và dễ dàng nhìn nhận thấy đó là quá trình chuyên môn hoá trong phạm vi quốc gia và mở rộng chuyên môn hoá quốc tế, thay đổi công nghệ, tiến bộ kỹ thuật Chuyên môn hoá mở đường cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến, hoàn thiện tổ chức, nâng cao năng suất lao động xã hội Bên cạnh đó, tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ lại thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá Điều đó làm cho tỷ trọng các ngành truyền thống giảm đi, tỷ trọng các ngành dịch vụ kỹ thuật mới tăng lên nhanh chóng và dần dần chiếm
ưu thế Phân công lao động và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ ngày càng phát triển sâu sắc tạo ra những tiền đề cho việc phát triển các yếu tố sản xuất Và ngược lại, việc phát triển thị trường các yếu tố sản xuất lại thúc đẩy quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và do vậy làm sâu sắc thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.[27, tr.13-14]
Thực chất của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự phát triển không đồng đều giữa các ngành Ngành có tốc độ phát triển cao hơn tốc
độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng và ngược lại, ngành có tốc độ phát triển thấp hơn sẽ giảm tỷ trọng Nếu tất cả các ngành có cùng một tốc độ tăng trưởng thì tỷ trọng các ngành sẽ không đổi, nghĩa là không có chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Do vậy có thể hiểu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự thay đổi cả
về vị trí, vai trò, số lượng và chất lượng của các yếu tố, bộ phận hợp thành
Trang 21các ngành kinh tế đã có sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh
tế và xã hội của một nước
Mục tiêu của sự chuyển dịch là đạt được sự hài hòa, hợp lý giữa các bộ phận trong một chỉnh thể thống nhất của nền kinh tế quốc dân hay của khu vực nào đó Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải phản ánh được sự tác động của quy luật khách quan và phù hợp với các quy luật phát triển khách quan đó Trên cơ sở nhận thức sâu sắc các quy luật ấy, người ta phân tích và đánh giá những xu thế phát triển để tìm ra phương án thay đổi cơ cấu có hiệu lực nhất trong từng điều kiện cụ thể
Ngày nay, kinh tế học phát triển coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế Sự khẳng định này là bước tiến quan trọng trong lí luận nhận thức và tư duy chính sách kinh tế Thực tế, những quốc gia đạt mức độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng cơ cấu của nền kinh tế vẫn ít có sự thay đổi, thậm chí có sự tách rời giữa khu vực sản xuất công nghiệp hiện đại với các khu vực nông nghiệp lạc hậu; vì vậy, khu vực nông nghiệp với đông đảo nông dân nghèo khó vẫn không chia sẻ những thành quả của tăng trưởng kinh tế
Trong quá trình phát triển, tỉ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng, nhất là công nghiệp chế biến trong khi tỉ trọng của nông nghiệp trong GDP giảm Sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế phản ánh mức độ thay đổi của phương thức sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại, những khu vực có năng suất lao động cao, giá trị gia tăng lớn có tốc độ phát triển cao hơn
và thay thế những khu vực sản xuất kinh doanh có năng suất lao động và giá trị gia tăng thấp Đặc biệt, một vài thập kỉ gần đây, sự phát triển của khu vực dịch vụ được xem là một trong những đặc trưng mới của xu hướng phát triển thế giới nên cách tiếp cận vấn đề cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu trong quá trình phát triển nền kinh tế có những thay đổi
Trang 22Tuy nhiên, phải lưu ý đến tính khách quan của chuyển dịch cơ cấu kinh
tế mang tính qui luật thông qua các xu hướng dưới đây:
- Xu hướng chuyển dịch cơ cấu của kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, tức là từ một nền kinh tế có kết cấu giản đơn sang nền kinh tế có mối quan hệ phức tạp và ở một trình độ cao hơn Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc tận dụng, khai thác lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối, tranh thủ sự phân công lao động quốc tế để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng này được nhiều quốc gia chọn lựa
- Xu hướng tăng tỷ trọng giá trị sản xuất và lao động trong công nghiệp
và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Nguyên nhân là do chi tiêu cho các loại hàng hóa thiết yếu sẽ giảm khi thu nhập tăng Do vậy, nhu cầu về sản phẩm công nghiệp và dịch vụ sẽ phát triển nhanh hơn nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp Mặt khác, do đặc tính sinh học của cây trồng, vật nuôi và đất canh tác có tác hại nên nông nghiệp phát triển chậm hơn công nghiệp và dịch vụ
- Xu hướng đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người luôn tịnh tiến cùng với thu nhập Chính quy luật thị trường và lợi ích là động lực tác động đến sản xuất, làm cho sản xuất phát triển nhanh theo xu hướng đa dạng hóa sản phẩm
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với sự biến đổi không ngừng của các yếu tố, bộ phận và những quan hệ hợp thành của nền kinh tế quốc dân Nó là một quá trình tất yếu của một quốc gia, đặc biệt là sự phát triển trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu hiện nay
1.2.1.2 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế do yêu cầu của CNH-HĐH Đảng ta
đã xác định: “Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các
hoạt động kinh tế-xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với phương tiện và phương pháp
Trang 23tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động cao Đối với nước ta đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, xã hội nhằm cải biến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản
đà cùng nhau phát triển
Ngày nay, xu hướng hội nhập nền kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh
mẽ, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giúp các quốc gia có thể phát huy được lợi thế so sánh của mình, có điều kiện tiếp thu trình độ khoa học - công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao tính hiệu quả và mở rộng hơn quan hệ hợp tác kinh
tế quốc tế trên mọi lĩnh vực
1.2.2 Những chỉ tiêu và nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.2.2.1 Những chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu kinh tế phản ánh cả về lượng lẫn về chất mối tương quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế Khi đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần chú ý cả những quan hệ tỷ lệ về mặt lượng cũng như
Trang 24phân tích sự thay đổi về chất (theo quan điểm lượng đổi chất đổi) của các mối tương quan ấy Hơn nữa, trong quá trình phân tích, đánh giá, không thể không chú ý tới những đặc điểm riêng của mỗi loại cơ cấu kinh tế (và cả cơ cấu kinh
tế theo lãnh thổ, cơ cấu các thành phần kinh tế…) Những chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế bao gồm:
Cơ cấu GDP
Một trong những thước đo khái quát nhất để đo lường, đánh giá về tốc
độ tăng trưởng, trạng thái và xu hướng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế đó
là chỉ tiêu GDP Mặc dù còn có những hạn chế nhất định nhưng trong khoa học kinh tế hiện đại, chỉ tiêu này vẫn được sử dụng khá phổ biến
Trong đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh xu hướng vận động và mức độ thành công của công nghiệp hóa Tỷ lệ phần trăm GDP của các ngành cấp I (khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) là một trong những tiêu chí đầu tiên thường được dùng để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế Trong quá trình đổi mới nền kinh
tế và thực hiện công nghiệp hóa, mối tương quan này có xu hướng chung là khu vực nông nghiệp có tỷ lệ ngày càng giảm, còn khu vực phi nông nghiệp (công nghiệp và dịch vụ) ngày càng tăng lên Và trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện đại, khu vực dịch vụ đang trở thành khu vực chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó là công nghiệp và cuối cùng là nông nghiệp
Ở góc độ cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô và cơ cấu các thành phần kinh tế, một chỉ số kinh tế khác cũng thường được sử dụng cơ cấu GNP chỉ ở chỗ, chỉ tiêu GNP chỉ phần giá trị tăng thêm hàng năm được sản xuất ra thuộc sở hữu của một nền kinh tế, còn GDP thì ở trong nền kinh tế đó Tuy nhiên, sự ưa dùng cơ cấu GDP đối với những nền kinh tế đang phát triển, đang công nghiệp hóa không phải bởi nhìn chung quy mô GDP ở đây thường lớn hơn
Trang 25GNP (do phần FDI ở đây thường lớn hơn là đầu tư của họ ra nước ngoài), điều quan trọng là ở chỗ quy mô GDP phản ánh rõ hơn những khía cạnh khác nhau của môi trường kinh doanh và đặc biệt là cùng với cơ cấu GDP, cơ cấu lao động của nền kinh tế cũng được phản ánh rõ ràng hơn
Để đánh giá sát thực hơn sự chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế trong quá trình đổi mới nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH, việc phân tích cơ cấu các ngành (cấp II, cấp III…) có một ý nghĩa rất quan trọng Thông thường, cơ cấu phân ngành phản ánh sát hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hóa của nền kinh tế
Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế và thực hiện CNH - HĐH, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được đánh giá qua một chỉ tiêu rất quan trọng là cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế được phân bố như thế nào vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau Các nhà kinh tế học đánh giá rất cao chỉ tiêu cơ cấu lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế, vì ở góc độ phân tích kinh tế vĩ mô, cơ cấu lao động xã hội mới là chỉ tiêu phản ánh sát thực nhất mức độ thành công về mặt kinh tế-xã hội của quá trình CNH
- HĐH Bởi vì công nghiệp hóa, hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó, không phải chỉ đơn thuần là sự gia tăng tỷ trọng giá trị của sản xuất công nghiệp, mà là cùng với mức đóng góp vào GDP ngày càng tăng của lĩnh vực công nghiệp (hiện nay, công nghiệp và dịch vụ dựa trên công nghệ kỹ thuật hiện đại), phải
là quá trình CNH - HĐH đời sống xã hội con người, trong đó, cơ sở quan trọng nhất là số lượng lao động đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế
Cơ cấu lao động phân theo ngành sở dĩ được các nhà kinh tế học đánh giá cao và coi trọng là do chỉ tiêu này không chỉ phản ánh xác thực hơn mức
Trang 26độ chuyển biến xã hội công nghiệp của một đất nước, mà nó còn ít bị ảnh hưởng bởi các nhân tố ngoại lai hơn Ở một số nền kinh tế, trong khi tỷ trọng lao động phi nông nghiệp (nhất là khu vực sản xuất công nghiệp) còn chiếm
tỷ trọng nhỏ, nhưng trong cơ cấu GDP lại chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều Lý giải cho hiện tượng này, các nhà kinh tế học đã chỉ ra tình trạng “méo mó” về giá cả, nhất là trong những trường hợp có sự chênh lệch giá cánh kéo lớn giữa sản phẩm công nghiệp và dịch vụ so với sản phẩm nông nghiệp Vì thế, cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế đôi khi không phản ánh đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế
Tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu lao động thậm chí còn được một số kinh tế gia xem như chỉ tiêu quyết định nhất để đánh giá mức độ thành công của quá trình công nghiệp hóa trong nghiên cứu so sánh giữa các nền kinh tế Chẳng hạn, Iungho Yoo (KDI School of Public Policy and Management, Korea) đã so sánh thời kỳ công nghiệp hóa giữa các nước dựa trên một tiêu chí duy nhất là coi trọng lao động nông nghiệp chiếm 50% tổng lao động xã hội và kết thúc khi tỷ trọng lao động nông nghiệp chỉ còn 20% tổng lao động xã hội
Có thể còn có những tranh luận về điểm khởi đầu và điểm kết thúc của quá trình công nghiệp theo quan điểm này, nhưng cách tiếp cận ở đây là đã xuất phát từ chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động trong mối tương quan giữa
tỷ trọng lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp để đánh giá tiến trình công nghiệp hóa.[37, tr.39-40]
Cơ cấu hàng xuất khẩu
Trong điều kiện đổi mới một nền kinh tế đang công nghiệp hóa, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được xem như một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quy luật phổ biến của quá trình
Trang 27công nghiệp hóa (đối với phần lớn các nước đang phát triển hiện nay) là xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP và số lượng lao động làm nông nghiệp chiếm phần lớn nhất trong tổng lực lượng lao động xã hội và do đó, trong tổng giá trị xuất khẩu ít ỏi mà họ có được, một phần rất lớn là sản phẩm nông nghiệp hoặc sản phẩm của công nghiệp khai thác ở dạng nguyên liệu thô (chưa qua chế biến hoặc chỉ ở dạng sơ chế) Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ quá trình phát triển công nghiệp lại rất lớn nên tình trạng khan hiếm và thiếu hụt ngoại tệ luôn là một điểm yếu mang tính kinh niên
Hầu hết các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa để trở thành một nước công nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chung trong
cơ cấu sản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩu hàng sơ chế sang các mặt hàng công nghiệp chế biến, lúc đầu là các loại sản phẩm của công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp như lắp ráp, sản phẩm dệt may, chế biến nông lâm thủy sản…chuyển dần sang các loại sản phẩm sử dụng nhiều công nghệ kỹ thuật cao như sản phẩm cơ khí chế tạo, hóa chất, điện tử, v.v…Chính vì vậy, sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, từ những mặt hàng sơ chế sang những loại sản phẩm chế biến dựa trên
cơ sở công nghệ - kỹ thuật cao luôn được xem như một trong những thước đo rất quan trọng đánh giá mức độ thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hơn nữa, đối với nhiều nước chậm phát triển, do những chỉ số tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia nhiều khi thấp hơn tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế nên cơ cấu sản phẩm xuất khẩu (được thị trường quốc tế chấp nhận) sẽ là một tiêu chí tốt để
bổ sung đánh giá kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 28Đồng thời, với cơ cấu giá trị của các sản phẩm xuất khẩu, cơ cấu nguồn lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia vào chế tạo sản phẩm xuất khẩu cũng
có ý nghĩa trong phân tích, đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu nguồn lao động xã hội
Tóm lại, khi phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, các nhà kinh tế học thường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu gồm cơ cấu GDP, cơ cấu lao động, cơ cấu hàng xuất khẩu để xem xét Mức độ chi tiết, cụ thể và các khía cạnh tiếp cận của những phân tích này trước hết phụ thuộc vào yêu cầu mục tiêu cần đánh giá, vào nguồn tài liệu sẵn có và nhiều yếu tố khác Mỗi tiêu chí nêu trên đều hàm chứa một ý nghĩa kinh tế nhất định trong phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thời kỳ CNH-HĐH
Một nhóm các chỉ tiêu khác góp phần đánh giá tính hiệu quả của cơ cấu kinh tế với tư cách là kết quả của cơ cấu phân bổ các nguồn lực xã hội, trước hết là cơ cấu đầu tư Đó là các chỉ số về tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động xã hội, chỉ số ICOR, mức độ tiêu hao năng lượng trên mỗi đơn vị GDP được tạo ra, số chỗ việc làm mới được tạo ra, tỷ lệ thất nghiệp, tốc độ giảm nghèo…Những chỉ tiêu này vốn là những chỉ tiêu tổng hợp phân tích tình hình phát triển kinh tế của đất nước, nhưng trong một chừng mực nhất định, chúng góp phần đáng kể vào việc đánh giá tính hiệu quả của cơ cấu kinh
tế đang được xây dựng của một nền kinh tế.[37, tr 40-43]
1.2.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Như trên đã đề cập, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế diễn ra dưới những tác động nhất định, bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan Vì thế, những
nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế bao gồm:
Điều kiện tự nhiên: tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, hải sản, lâm
sản, nguồn nước ) phong phú và các điều kiện tự nhiên (khí hậu, thời tiết, bờ biển ) thuận lợi tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp, du lịch, ngư
Trang 29nghiệp và nông nghiệp Chính Các Mác đã viết: “Bất cứ một nền sản xuất xã hội nào cũng là việc con người chiếm hữu lấy những đối tượng tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định” Tuy vậy, việc khai thác các yếu tố này phục vụ phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Thông thường ở mỗi giai đoạn phát triển, người ta tập trung khai thác tài nguyên có lợi thế, trữ lượng lớn, giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường lớn và ổn định Như vậy sự đa dạng, phong phú của tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, là nhân tố phải tính đến trong quá trình hoạch định chiến lược cơ cấu
Dân số và lao động được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển
kinh tế Trong đó, kết cấu dân cư và trình độ dân trí, quy mô dân số và thu nhập của họ là những mặt tác động này lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bên cạnh đó, sự phát triển của các ngành nghề truyền thống trong công nghiệp cũng như trong các ngành kinh tế khác thường gắn liền với tập quán, truyền thống, phong tục của một địa phương Sản phẩm của các ngành nghề này hầu hết là các sản phẩm độc đáo, có ưu thế và được ưa chuông trên thị trường quốc tế Sự phát triển và chuyển hoá các nghề này gắn chặt với đội ngũ các nghệ nhân Vì vậy yếu tố này cũng ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một địa phương
Vị trí địa lý cũng là một yếu tố phải được xem xét khi hình thành cũng
như định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Yếu tố này trở nên quan trọng trong điều kiện xây dựng nền kinh tế mở, tăng cường mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
Tiến bộ khoa học - công nghệ không những chỉ tạo ra những khả năng
sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm tăng tỷ trọng của chúng trong tổng thể nền kinh tế (làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế) mà còn tạo
Trang 30ra những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất hiện một số ngành công nghiệp non trẻ công nghệ tiên tiến như: dầu khí, điện tử do đó có triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai
Trong điều kiện mở cửa và hội nhập, tiến bộ khoa học - công nghệ cho phép tạo ra các sản phẩm mới chất lượng cao, chi phí kinh doanh hạ, tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Vì vậy sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung theo hướng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu và hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới
Vai trò của Nhà nước bao gồm đường lối chính sách, cơ chế quản lý,
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ ảnh hưởng rất lớn đến
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (dù là chuyển dịch theo hướng
nào) thì Nhà nước đóng vai trò quyết định Thứ nhất, Nhà nước xây dựng và
quyết định chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội tổng thể của đất nước Đó thực chất là các định hướng phát triển, định hướng phân bổ nguồn lực đầu tư theo ngành và theo
vùng lãnh thổ Thứ hai, bằng hệ thống pháp luật, chính sách Nhà nước
khuyến khích hay hạn chế, thậm chí gây áp lực để các doanh nghiệp, nhà đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh theo định hướng Nhà nước đã xác định
Trong một quốc gia, sự đồng bộ và tính ổn định của môi trường thể chế
có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế
Xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế như quan hệ kinh tế đối ngoại
và hợp tác phân công lao động quốc tế Do sự khác nhau về điều kiện sản xuất
ở trong nước, đòi hỏi phải có sự trao đổi kết quả lao động với bên ngoài ở mức độ và phạm vi khác nhau Trong trao đổi quốc tế, mỗi nước, mỗi vùng đều phát huy lợi thế so sánh của mình trên cơ sở chuyên môn hoá vào các
Trang 31ngành, lĩnh vực có chi phí tương đối thấp Chính chuyên môn hoá đã thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội phát triển và kết quả là làm biến đổi cơ cấu ngành kinh tế Rõ ràng là bối cảnh toàn cầu hoá tạo cho nước ta nhiều cơ hội những cũng không ít thách thức Vì thế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hội nhập là phải vượt qua được những thách thức đó để tranh thủ được các cơ hội tạo lập nên một cơ cấu ngành kinh tế mới phù hợp, tiến bộ và hiệu quả hơn
Trong điều kiện quốc tế hoá và khu vực hoá đời sống kinh tế hiện nay,
cơ cấu ngành kinh tế của một nước còn chịu sự tác động của cơ cấu kinh tế các nước trong khu vực Khái quát hoá tác động qua lại đó, các nhà kinh tế đã nêu lên một số đặc trưng quan trọng về biến đổi cơ cấu kinh tế theo kiếu làn sóng Khi phân tích quá trình tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản, dựa trên những số liệu thống kê dài hạn Kamane Akamatsu đã sử dụng thuật ngữ “ Đàn ngỗng trời bay” để mô tả sự nối tiếp tăng trưởng liên tục của các ngành trong cơ cấu kinh tế được xét cả về mặt số lượng lẫn chu kỳ biến thiên trong quá trình xuất nhập khẩu Năm 1963, kết hợp với sự phân tích của Akamatsu với chu kỳ sản phẩm của Vesnon, Kojima đã đặt tên lại cho mô hình “Đàn ngỗng trời bay” là mô hình “Chu kỳ đuổi kịp sản phẩm” Mô hình này phản ánh một thực tế sống động gọi là “Hiệu ứng chảy tràn” về cơ cấu kinh tế từ các quốc gia ở các nấc thang phát triển cao hơn sang quốc gia phát triển thấp hơn Sự quan sát thực tế cho thấy khi Nhật bản khởi động và đạt được thành tích tăng trưởng rực rỡ vào thập niên 1950- 1960, bốn quốc gia hiện đã trở thành NICs đã tiếp theo đó bắt nhịp vào quá trình tăng trưởng vào thập niên 1960- 1970; đến thập kỷ 1970 và 1980 là một số nước thuộc ASEAN và từ thập niên 1980 đến nay “ Hiệu ứng chảy tràn” đang lan sang Trung Quốc và Việt Nam Rõ ràng đây là một quá trình tăng trưởng liên tục và diễn ra theo đúng kiểu “ làn sóng”
Trang 32Mức độ hoàn thiện của nền kinh tế thị trường cũng ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Bởi vậy sự hình thành và phát triển đồng
bộ các loại thị trường trong nước (thị trường hàng hoá - dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học - công nghệ ) có tác động mạnh đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước tạo điều kiện phát triển đồng
bộ, điều tiết các loại thị trường và tạo môi trường, điều kiện cho thị trường và các hoạt động sản xuất - kinh doanh thông qua các chính sách vĩ mô Hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nào phụ thuộc vào chiến lược
và các định hướng phát triển của Nhà nước trong từng thời kỳ có tính đến các yếu tố trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế
1.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại một số địa phương ở nước ta giai đoạn từ 1997 đến nay
Hưng Yên và Vĩnh Phúc là hai tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Kể từ khi tái lập tỉnh (1/1/1997) đến nay, các địa phương này đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, đặc biệt là tỉnh Vĩnh Phúc Tuy mỗi vùng có những đặc điểm riêng, nhưng việc tìm hiểu kinh nghiệm của nhau để rút ra bài học là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi địa phương, cũng như của Bắc Ninh
Sau đây là những thành tựu cơ bản về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
ở Hưng Yên và Vĩnh Phúc
1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, có vị trí địa lý thuận lợi, diện tích tự nhiên là 923,45 km2, dân số 1.156 nghìn người (năm 2007) Mật độ dân số của tỉnh là 1.252 người/km2, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 9,36%/năm, tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm
Trang 332002 Hưng Yên có lực lượng lao động 674.102 người, chiếm 51% dân số (2007) Lao động đã qua đào tạo nghề đạt 25%, chủ yếu trình độ đại học, cao đẳng, trung học và công nhân kỹ thuật được đào tạo cơ bản Trung bình hàng năm lực lượng lao động trẻ bổ sung khoảng trên 2 vạn người Đây là nguồn lực cơ bản phục vụ tốt cho phát triển công nghiệp của tỉnh
Từ khi tái lập tỉnh (01/01/1997), thực hiện công cuộc CNH - HĐH, phấn đấu đưa Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020, những năm qua, tỉnh đã tích cực thực hiện thu hút đầu tư, tạo môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn Nhiều nhà đầu tư đã chọn Hưng Yên làm nơi “đất lành chim đậu” Đây là một vấn đề quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Hưng Yên
Những năm qua, tốc độ tăng kinh tế của tỉnh luôn duy trì ở mức cao so với bình quân chung của cả nước, tạo sự chuyển dịch nhanh về cơ cấu kinh tế theo hướng công - nông nghiệp và dịch vụ Mức tăng trưởng kinh tế đạt khá, bình quân đạt 11,87%/năm; trong đó, nông nghiệp tăng 5,6%/năm, công nghiệp tăng 42%/năm, dịch vụ tăng 15%/năm; đời sống của người dân đang dần được nâng lên rõ rệt Cùng với việc tập trung phát triển kinh tế, Hưng Yên coi trọng việc đào tạo và phát huy nguồn lực con người, thực hiện tốt các chính sách xã hội, nâng cao mức hưởng thụ các giá trị văn hoá, tinh thần của nhân dân
Khai thác lợi thế gần thủ đô Hà Nội, nguồn lực dồi dào, giao thông thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, Hưng Yên đặc biệt chú trọng nhấn mạnh đến công tác thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp và dịch vụ, xem đây là điểm nhấn của tỉnh Trong giai đoạn 2000 -
2006, Hưng Yên đã thu hút được 478 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký tương đương 1.223 triệu USD, 160 dự án đã đi vào hoạt động, giá trị sản xuất
Trang 34tăng hàng ngàn tỷ đồng/năm, đóng góp 70% số thu ngân sách hằng năm trên địa bàn và tạo việc làm thường xuyên cho trên 4 vạn lao động
Xét toàn bộ nền kinh tế của tỉnh Hưng Yên, sau hơn 10 năm tách tỉnh,
tỷ trọng của khu vực nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) trong tổng sản phẩm của tỉnh (GDP) đã giảm dần, nếu năm 1997 tỷ trọng nông lâm nghiệp còn chiếm 51,87% trong tổng GDP của tỉnh thì đến năm
2008 chỉ còn 27,66% Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 20,26% năm 1997; 32,44% năm 2001 lên 42,63% năm 2008; tỷ trọng dịch vụ tăng từ 27,87
% năm 1997 lên 29,71% năm 2008 Sự thay đổi đó là phù hợp với xu hướng biến đổi cơ cấu kinh tế trong quá trình CNH - HĐH (tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong tổng sản phẩm của cả nước (GDP) năm 2008 là 22,10%; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng là 39,73%; dịch vụ là 38,17%)
Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp cũng có sự chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hoá, tỷ trọng ngành trồng trọt giảm, tỷ trọng ngành chăn nuôi, dịch vụ tăng Nhiều mô hình sản xuất hiệu quả như: lúa-cá, lúa-cá-vườn, hoa-cây cảnh, chăn nuôi thuỷ-đặc sản,… đã có xu hướng phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, từng bước nâng cao giá trị, thu nhập và hiệu quả kinh tế cho người sản xuất Tỷ trọng giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt giảm từ 66,67% năm
1997 xuống còn 58,46% năm 2008, ngành chăn nuôi tăng từ 31,78% (1997) lên 40,09% (2008), ngành dịch vụ từ 1,46% (1997) giảm còn 1,45 % (2008) Giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá so sánh 1994) giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2008 nhìn chung tăng khá từ 1.809,759 tỷ đồng năm 1997 lên 3.094,972 tỷ đồng năm 2008; giá trị sản xuất trồng trọt từ 1.295,229 tỷ đồng lên 2.017,987 tỷ đồng; giá trị sản xuất chăn nuôi tăng từ 491,405 tỷ đồng lên 1.002,250 tỷ đồng năm 2008; dịch vụ nông nghiệp tăng từ 23,125 tỷ đồng lên 128,455 tỷ đồng
Trang 35Sản xuất công nghiệp tăng trưởng nhanh Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 26,7%/năm Năm 2007 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 12.631
tỷ đồng, tăng 28,8% so cùng kỳ, đạt kế hoạch năm Hình thành một số ngành sản xuất chủ lực như: điện tử, dệt may, cơ khí và luyện thép…với công nghệ tiên tiến, sản phẩm công nghiệp ngày càng đa dạng về chủng loại, chất lượng tốt hơn, nhiều sản phẩm có thương hiệu và sức cạnh tranh trên thị trường Những năm gần đây công nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn Hưng Yên đã
có sự phát triển tích cực Năm 2001 có 17 doanh nghiệp hoạt động chế biến ở quy mô công nghiệp, đến năm 2008 có 65 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này với 15 ngành hàng sản phẩm
Một số ngành công nghiệp phục vụ cho phát triển nông nghiệp và kinh
tế nông thôn được tổ chức và sắp xếp lại sản xuất Đặc biệt là lựa chọn các sản phẩm ưu tiên và có lợi thế trong nước và thế giới để đầu tư về chiều sâu, đổi mới công nghệ, đạt chất lượng cao hơn
Làng nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp ở nhiều thôn được nhân rộng và phát triển: Nổi bật là hình thành các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dưới dạng làng nghề, đã tạo ra cơ hội tham gia cho nhiều lao động hơn
là công nghiệp tập trung và tăng thu nhập cho người lao động Thay đổi dần
cơ cấu lao động nông thôn theo hướng chuyển dần sang lao động dịch vụ, làng nghề, giải quyết thêm việc làm và dần dần làm thay đổi bộ mặt nông thôn Từ năm 1997 đến năm 2003, làng nghề và ngành tiểu thủ công nghiệp tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 12,5%, từ năm 2006 đến năm 2008 tăng bình quân tăng khoảng 13%/năm
Quy hoạch phát triển công nghiệp có tiến bộ, 2 khu công nghiệp đã được phê duyệt đi vào sản xuất, tỉnh đang trình duyệt các khu công nghiệp khác và triển khai xây dựng các khu công nghiệp phía nam của tỉnh; quy hoạch 10 khu công nghiệp làng nghề Cơ cấu sản xuất hàng hoá chuyển dịch
Trang 36theo hướng gia tăng giá trị hàng hoá xuất khẩu, hàng tiêu dùng và hàng chất lượng cao
Hoạt động thương mại và dịch vụ chuyển biến theo hướng đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống Giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân đạt trên 15,0%/năm Tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 20,5%/năm; năm 2007 giá trị các ngành dịch vụ đạt 5.271 tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông được mở rộng Dịch vụ vận tải hành khách doanh thu tăng bình quân 14%/năm Hưng Yên đang phấn đấu trở thành một tỉnh phát triển, công nghiệp hoá, hiện đại hoá với một cơ cấu kinh tế hợp lý, nâng cao hiệu quả đầu tư và giải quyết tốt các vấn đề xã hội
Cùng với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lao động cũng có những thay đổi, chuyển biến tích cực, lao động nông nghiệp giảm từ 80,4% năm 2001 xuống còn 70,9% năm 2005 và 50,7% năm 2008, lao động công nghiệp tăng từ 9,2% (năm 2001) lên 20,3% (năm 2008) và dịch vụ tăng từ 10,4% (năm 2001) lên 19,4% (năm 2008)
Nhìn chung, những năm qua, Hưng Yên đã đạt được những thành tựu trên là do:
Thứ nhất là chính sách phát triển đúng đắn, xây dựng nền kinh tế nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trường khơi dậy tiềm năng trong nhân dân, phát huy kinh tế tự chủ, mở rộng hành lang thị trường, coi trọng việc sản xuất và chế biến tại chỗ, v.v…từ đó tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trên địa bàn nông thôn phát triển
Thứ hai là với chính sách mở cửa, ưu đãi đầu tư tự nhiên dự án sản
xuất, công nghiệp đã được triển khai hoạt động có hiệu quả mở ra một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ tham gia xuất khẩu làm phong phú thêm chủng loại hàng xuất khẩu của tỉnh
Trang 37Thứ ba là, khuyến khích hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng
nghề Khôi phục các làng nghề truyền thống, nhân cấy nghề mới được coi trọng, trong một số làng nghề, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã hoạt động trở lại và có chiều hướng phát triển như nghề thêu ren, chạm bạc, mộc mỹ nghệ, gốm sứ, mây tre đan,…
Phát huy tinh thần của vùng KTTĐ phía Bắc, nhiệm vụ phát triển kinh
tế xã hội của Hưng Yên luôn gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế của vùng và cả nước Phấn đấu đến năm 2010, Hưng Yên trở thành tỉnh khá trong
cả nước, tạo cơ sở để trở thành tỉnh công nghiệp phát triển theo hướng hiện
đại trước năm 2020
1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là tỉnh đồng bằng sông Hồng, có vị trí địa lý thuận lợi, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, Vĩnh phúc có nhiều lợi thế trong việc phát triển kinh
tế
Xuất phát điểm Vĩnh Phúc là một tỉnh thuần nông, trên 90% dân số sống ở nông thôn, diện tích tự nhiên 1.371 km2, dân số hơn 1,1 triệu người, công nghiệp phát triển kém, thu nhập bình quân đầu người thấp và tăng chậm (GDP bình quân đầu người chỉ bằng 48% GDP bình quân của cả nước), thu ngân sách chỉ dưới 100 tỷ đồng/năm Đến nay, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã lập được một kỳ tích Nền kinh tế nói chung, đặc biệt là công nghiệp - xây dựng luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đứng nhất, nhì toàn quốc, bình quân đạt trên 70%/năm, xếp thứ 7 trong cả nước về giá trị sản xuất công nghiệp và đứng thứ ba ở phía Bắc, sau Hà Nội và Hải Phòng; gia nhập
“câu lạc bộ một ngàn tỷ đồng thu ngân sách” Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh chóng Nếu như năm 1997, khi mới được tái lập, cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh là: Nông nghiệp 52%, dịch vụ 36%, công nghiệp 12% thì đến năm
2008, cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi: nông nghiệp 17,73%, dịch vụ 24,02%,
Trang 38công nghiệp 58,25%, GDP bình quân đầu người đạt khá, thu ngân sách ước năm 2008 là 9.228 tỷ đồng
Thực hiện Nghị quyết TƯ 5 (khoá IX) về đẩy nhanh quá trình HĐH nông nghiệp, nông thôn, Đại hội đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ 13 đã
CNH-ra nghị quyết chuyên đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thời kỳ 2001-2005 Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã xây dựng đề án tập trung phát triển
6 cây, 3 con và triển khai thực hiện 18 dự án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và 15
dự án xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản Bên cạnh đó, nhiều cơ chế, chính sách mới có tác dụng khuyến khích sản xuất phát triển được nhân dân đồng tình ủng hộ, và
đã hoàn thành cơ bản mục tiêu giai đoạn 2001-2005 Kết quả là, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp đạt bình quân 7,15%/năm, tỷ trọng chăn nuôi tăng
từ 28,16% (năm 2001) lên 39,08% (năm 2005), trồng trọt giảm từ 67,8% xuống còn 56,41%, bước đầu hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá có giá trị sản xuất 50-70 triệu đồng/ha/năm, có nơi đạt hàng trăm triệu đồng/ha/năm; hình thành một số mô hình kinh tế tổng hợp, kinh tế trang trại mang lại hiệu quả kinh tế cao Riêng lĩnh vực chăn nuôi đạt tốc độ tăng trưởng cao (13,2%/năm), giá trị sản xuất ngành thuỷ sản tăng 19,95% Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm do phát triển công nghiệp và đô thị hoá, nhưng năng suất, sản lượng lương thực có hạt vẫn tăng, diện tích cây công nghiệp phát triển khá Trên địa bàn tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, mô hình vùng trồng hoa ở huyện Mê Linh, vùng nuôi trồng thuỷ sản huyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Bình Xuyên với diện tích trên 6.500 ha, đã thu được kết quả cả về giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nông dân Thực hiện cải tạo diện tích vùng trũng cấy lúa không hiệu quả chuyển thành vùng cấy 1 lúa, 1 cá do đó đến năm 2005 tổng sản phẩm thuỷ sản có mức tăng trưởng khá cao, đạt 17,6%/năm, năm 2008 đạt 18,3%/năm
Trang 39Trong trồng trọt đã có sự chuyển đổi từ độc canh cây lương thực sang
đa dạng hoá cây trồng trong đó có 6 cây chủ lực được tập trung đầu tư là cây lúa, ngô, rau, hoa, quả và dâu tằm Tích cực ứng dụng những tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất do đó năng suất các loại cây trồng không ngừng được tăng lên và đảm bảo chất lượng phục vụ nhu cầu của cuộc sống Đến năm
2005, năng suất cây lúa đạt 50 tạ/ha/vụ, cây rau màu có diện tích 9.000 ha, cây ăn quả đạt 9.052 ha Năm 2008, năng suất cây lúa đạt 52,03 tạ/ha
Bên cạnh đó, lĩnh vực chăn nuôi có chuyển biến tích cực nhờ có ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nên số lượng, chất lượng đàn bò, đàn lợn được nâng cao Các dự án phát triển đàn bò, đàn lợn được nhân dân tích cực tham gia Đến năm 2005, tổng đàn bò có 149,6 nghìn con Năm 2008, đàn bò giảm xuống 142,9 nghìn con do tác động của dịch bệnh và giá thức ăn, con giống tăng cao
Ngành lâm nghiệp của tỉnh cũng đạt được những kết quả đáng kể do thực hiện tốt công tác chăm sóc, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Trong những năm qua, tỉnh đã trồng mới được 4.214 ha rừng tập trung và 1.200 ha cây phân tán; chăm sóc 12.039 ha rừng, khoanh nuôi rừng tái sinh đạt 452 ha, luôn chú trọng, quan tâm đầu tư chăm sóc và phát triển tài nguyên rừng Đến năm 2005, tổng diện tích rừng của Vĩnh Phúc được bảo vệ là 53.797 ha, nâng
độ che phủ của rừng đạt 23,7%
Các hoạt động dịch vụ nông nghiệp bước đầu phát triển, hình thành một
số mô hình dịch vụ tiêu thụ, chế biến nông sản có hiệu quả Kết cấu hạ tầng nông thôn được quan tâm xây dựng, nhất là hệ thống đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, trụ sở làm việc, đèn thắp sáng…Các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm có nhiều tiến bộ Đời sống nhân dân từng bước cải tiến, nâng cao Nhìn chung, trong những năm qua ngành nông nghiệp-thuỷ sản tăng trưởng khá ổn định, giá trị sản xuất
Trang 40nông nghiệp/1 ha đất nông nghiệp ngày một tăng Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thay đổi theo xu hướng tạo ra giá trị kinh tế cao và sử dụng đất đai, nguồn lao động tốt hơn
Vĩnh Phúc xác định nhiệm vụ trọng tâm là đầu tư, phát triển, tiếp tục
mở rộng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh để đến năm 2010 có khoảng 4.500 đến 5.000 ha đất nông nghiệp chuyển thành khu công nghiệp với hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, chất lượng cao
Định hướng phát triển các ngành mũi nhọn có tính cạnh tranh cao như ngành cơ khí chế tạo, điện tử tin học, công nghiệp dệt may, chế biến thực phẩm, đồ uống và đặc biệt quan tâm thu hút các dự án công nghệ cao Hiện tỉnh đang tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh đa dạng hoá các hình thức vận động, đổi mới và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin liên lạc, tuyên truyền chính sách thu hút phát triển công nghiệp; chú trọng khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài Thu hút đầu tư trên địa bàn tăng mạnh Trong 5 năm (2001 - 2006) tỉnh thu hút được 450 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 2 tỉ USD, trong đó có 74 dự án FDI, 376 dự án ODA, chiếm trên 90% tổng số dự án đã thu hút từ trước đến nay Hình thành 5 khu công nghiệp tập trung, 4 cụm công nghiệp nhỏ và vừa, 28 cụm thủ công nghiệp, làng nghề với diện tích gần 1.400 ha, thu hút hàng vạn lao động, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, đô thị hóa, tạo thêm tiền đề cho nông nghiệp, nông thôn phát triển
Phát triển các hệ thống chợ, trung tâm thương mại, siêu thị,… đặc biệt với tiềm năng về du lịch, tỉnh có chính sách khuyến khích đầu tư phát triển các loại hình du lịch như: Khu nghỉ mát Tam Đảo, khu danh thắng Tây Thiên, một quần thể di tích về Phật giáo và lịch sử văn hoá gồm hệ thống Đền Chùa, Miếu thờ Quốc Mẫu vợ Vua Hùng Vương thứ 7, núi Sáng Sơn, thác Bay,… Ngoài ra, Vĩnh Phúc còn có tiềm năng du lịch nhân văn vì toàn tỉnh có 967 di