Với những kiến thức thực tế cũng như nhìn nhận, đánh giá của bản thân trong quá trình làm việc và công tác tại Tổng cục Hải quan, hy vọng rằng, đề tài “Ảnh hưởng của quá trình thực thi c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ HIỀN ÁNH
ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH THỰC THI CAM KẾT WTO VỀ THUẾ NHẬP KHẨU ĐẾN THU NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ HIỀN ÁNH
ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH THỰC THI CAM KẾT WTO VỀ THUẾ NHẬP KHẨU ĐẾN THU NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số : 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN BÌNH GIANG
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iiiii LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THUẾ NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 5
1.1 Thu Ngân sách Nhà nước và thuế Nhập khẩu 5
1.1.1 Thu Ngân sách Nhà nước 5
1.1.2 Thuế Nhập khẩu 12
1.2 Thuế Nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO 18
1.2.1 Tổ chức Thương mại thế giới và cam kết cắt giảm thuế Nhập khẩu 18
1.2.2 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới thuế Nhập khẩu khi Việt Nam gia nhập WTO 26
1.2.3 Khảo sát kinh nghiệm của một số nước 27
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH THỰC THI CAM KẾT WTO VỀ THUẾ NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM 34
2.1 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sau 6 năm gia nhập WTO 34
2.1.1 Giá trị XNK 34
2.1.2 Tốc độ tăng Xuất khẩu, nhập khẩu, tỷ lệ nhập siêu……… 36
2.2 Thực trạng thu Ngân sách Nhà nước sau 6 năm gia nhâp WTO 38
2.2.1 Quy mô và cơ cấu thu Ngân sách Nhà nước phân theo lĩnh vực 42
2.2.2 Quy mô và cơ cấu thu Ngân sách Nhà nước phân theo sắc thuế 49
2.3 Phân tích ảnh hưởng của việc thực thi cam kết WTO về thuế Nhập khẩu đến thu Ngân sách Nhà nước của Việt Nam 51
2.3.1 Ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp 53
2.3.2 Ảnh hưởng ngắn hạn và ảnh hưởng dài hạn 77
Trang 42.4 Đánh giá ảnh hưởng của quá trình thực thi cam kết WTO về thuế Nhập khẩu đối với thu Ngân sách Nhà nước của Việt Nam 84 2.4.1 Những thành công đạt được 84 2.4.2 Những hạn chế cơ bản và nguyên nhân 86 2.4.3 Một số vấn đề đặt ra trong thời gian tới về thu ngân sách Nhà nước khi cắt giảm thuế suất Nhập khẩu 91 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC THI CAM KẾT WTO VỀ THUẾ NHẬP KHẨU 95 3.1 Kinh tế thế giới và những tác động đến Việt Nam 95 3.1.1 Kinh tế thế giới và những tác động đến nền kinh tế Việt Nam 95 3.1.2 Kinh tế thế giới và những tác động đến thu Ngân sách Nhà nước của Việt Nam 97 3.2 Quan điểm và phương hướng đảm bảo tăng trưởng bền vững thu Ngân sách Nhà nước Việt Nam trong quá trình thực thi cam kết về thuế Nhập khẩu khi gia nhập WTO 99 3.2.1 Quan điểm và phương hướng 99 3.2.2 Mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể đạt ra 101 3.3 Các giải pháp đảm bảo tăng trưởng bền vững thu ngân sách nhà nước trong quá trình thực thi cam kết về thuế nhập khẩu theo gia nhập WTO 103 3.3.1 Tăng khả năng cạnh tranh và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế 103 3.3.2 Cải cách chính sách và đề cao vai trò của các loại thuế có liên quan trực tiếp đến hàng hóa XNK 111 3.3.3 Đẩy mạnh Xuất khẩu, hạn chế nhập siêu 117 3.3.4 Cải cách và hoàn thiện hệ thống thuế đảm bảo tính ổn định và nâng cao hiệu quả thu NSNN 123 KẾT LUẬN 127 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆiU VIẾT TẮT
1 DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
3 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
4 GDP Tổng sản phẩm trong nước
5 GTGT Giá trị gia tăng
6 ITA Hiệp định Công nghệ thông tin
7 KT-XH Kinh tế xã hội
9 SXKD Sản xuất kinh doanh
10 TNDN Thu nhập doanh nghiệp
11 TTĐB Tiêu thu đặc biệt
12 WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1: Diễn giải mức thuế bình quân cam kết 20
2 Bảng 1.2: Mức thuế cam kết bình quân theo nhóm
11 Bảng 2.6: Số thu thuế Hải quan giai đoạn 2001-2012 56
12 Bảng 2.7: Nhập khẩu phân theo nhóm hàng giai đoạn 58
13 Bảng 2.8:
Biểu cam kết các mặt hàng quan trọng vẫn giữ nguyên và tăng thuế suất khi gia nhập WTO
65
14 Bảng 2.9:
Biểu cam kết của một số mặt hàng quan trọng ràng buộc ở mức trần cao hơn mức MFN theo cam kết với WTO
74
15 Bảng
2.10: Nợ thuế Hải quan tính đến tháng 12/2012 77
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 1.1: Vai trò bảo hộ thuế quan danh nghĩa của Chính
52
4 Hình 2.4: Quy mô kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 2001-2012 53
5 Hình 2.5: Cơ cấu thu ngân sách theo các khu vực kinh tế 2
giai đoạn 2001-2006 và 2007-2012
59
6 Hình 2.6: Kim ngạch Xuất khẩu từ năm 2001-2012 62
7 Hình 2.7: Số thu Thuế GTGT nội địa và Thuế TNDN năm
66
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Gia nhập WTO là một bước ngoặt khá quan trọng trên con đường Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam Sự kiện này mở ra cho nền kinh tế Việt Nam rất nhiều cơ hội và cũng không ít những thách thức Một trong những vấn đề nổi cộm sau khi Việt Nam gia nhập WTO là việc thực thi cam kết cắt giảm thuế suất Nhập khẩu Bởi số thu từ thuế Nhập khẩu chiếm tỷ
lệ cao trong tổng thu Ngân sách Nhà nước của Việt Nam và phụ thuộc rất nhiều vào độ mở của nền kinh tế Vì vậy, khi các yếu tố khác không thay đổi, việc cắt giảm thuế suất Nhập khẩu làm giảm số thu từ thuế Nhập khẩu và giảm thu Ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, trong thực tế, việc cắt giảm thuế suất Nhập khẩu sau khi gia nhập WTO lại làm lợi cho nhiều doanh nghiệp trong việc Nhập khẩu máy móc và nguyên vật liệu, phụ liệu để sản xuất và để Xuất khẩu, góp phần thu hút FDI Nhờ đó, thu từ các sắc thuế khác như thuế Giá trị gia tăng, thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế Thu nhập doanh nghiệp, v.v… lại có cơ hội gia tăng
Có thể nói ảnh hưởng của thuế Nhập khẩu đến thu Ngân sách Nhà nước sau khi gia nhập WTO vừa bao gồm ảnh hưởng trực tiếp lẫn ảnh hưởng gián tiếp và có rất nhiều chiều hướng Do đó, cần có cái nhìn tổng hợp đối với ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế suất Nhập khẩu đến thu Ngân sách Nhà nước Với những kiến thức thực tế cũng như nhìn nhận, đánh giá của bản thân trong quá trình làm việc và công tác tại Tổng cục Hải quan, hy vọng rằng, đề tài
“Ảnh hưởng của quá trình thực thi cam kết WTO về thuế Nhập khẩu đến thu Ngân sách Nhà nước của Việt Nam” sẽ góp phần vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn nói trên
Trang 91 Tình hình nghiên cứu
Việt Nam gia nhập WTO là một đề tài rộng được lựa chọn khá nhiều để nghiên cứu bởi các sinh viên khối Đại học, học viên khối Cao học, Nghiên cứu sinh…Mỗi nghiên cứu, đều tập trung vào những khía cạnh, lĩnh vực và phạm
vi khác nhau, trong đó có những nghiên cứu thuộc lĩnh vực Thuế, Ngân sách Nhà nước, Hải quan…ví dụ như:
1 Luận văn “ Trung Quốc gia nhập WTO và những tác động đối với
hàng hóa của Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thị Ngọc, năm 2009
2 Luận văn “ Giải pháp hoàn thiện thuế Việt Nam theo xu hướng hội
nhập kinh tế quốc tế”, tác giả Hoàng Minh Phát, năm 2007
3 Luận văn “Hoàn thiện hoạt động quản lý Nhà nước về Hải quan đối
với thuế Xuất Nhập khẩu ở Hải quan Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO”, tác giả Vũ Quyết Thắng, năm 2007
4 Luận văn “Hoàn thiện chính sách thuế Xuất Nhập khẩu nhằm phục
vụ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thu
Trang, năm 2005
5 Luận văn “Luật thuế Xuất Nhập khẩu Việt Nam trước thềm WTO Lỗ
hổng và giải pháp”, tác giả Nguyễn Hải Ngọc, năm 2005
6 Luận văn “Ngân sách Nhà nước của Việt Nam thời kỳ hậu WTO”, tác
giả Phạm Hoài Thanh, năm 2008
Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc phân tích tình hình Xuất Nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ trước và sau khi gia nhập WTO (năm 2006-2007) mà chưa có sự phân tích, đánh giá, đi sâu vào ảnh hưởng của thuế Nhập khẩu đối với thu Ngân sách Chính vì vậy, luận văn tập trung
đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của việc thực thi cam kết WTO về thuế Nhập khẩu đến thu Ngân sách Nhà nước của Việt Nam và sử dụng số liệu từ năm
2001 đến 2012
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích của đề tài : Mục đích của đề tài này là phân tích ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế suất Nhập khẩu sau gia nhập WTO đến thu Ngân sách Nhà nước; từ đó rút ra hàm ý chính sách để bảo đảm tăng trưởng bền vững thu Ngân sách Nhà nước
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu : Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài tự đặt ra cho mình các nhiệm vụ sau đây:
- Khái quát những lý luận chung và phân tích mối quan hệ giữa thuế Nhập khẩu và thu Ngân sách Nhà nước
- Tóm tắt các cam kết về cắt giảm thuế suất Nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
- Phân tích thực trạng thu Ngân sách Nhà nước từ khi Việt Nam trước khi gia nhập và từ khi gia nhập WTO đến nay
- Phân tích tác động của cắt giảm thuế suất Nhập khẩu tới thu Ngân sách Nhà nước của Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu : lộ trình cắt giảm thuế suất Nhập khẩu theo cam kết gia nhập WTO và ảnh hưởng của việc cắt giảm này đến thu Ngân sách Nhà nước của Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu :
Để thực hiện đề tài, ngoài việc thu thập số liệu thực tế từ Cục Công nghệ Thông tin và Thống Kê Hải quan - Tổng Cục Hải quan, Tổng cục Thống
Trang 11Kê, Kho bạc Nhà nước, luận văn sử dụng phương pháp biện chứng kết hợp lý luận và thực tiễn ; Phương pháp phân tích, tổng hợp thống kê, toán học, mô hình đồ thị để làm rõ kết quả nghiên cứu
5 Dự kiến những đóng góp của đề tài
Với việc chỉ ra các kênh ảnh hưởng chủ yếu của việc cắt giảm thuế suất Nhập khẩu đến thu Ngân sách Nhà nước, luận văn đã xây dựng các tiêu chí đánh giá, các bài học kinh nghiệm cũng như đưa ra các giải pháp nhằm góp phần đảm bảo tăng trưởng bền vững thu Ngân sách Nhà nước
6 Những điểm nổi bật của luận văn:
Luận văn nghiên cứu và phân tích tương đối cụ thể các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thu NSNN; Đề xuất một số giải pháp cải cách nhằm tăng tính bền vững thu NSNN trong tiến tình hội nhập WTO của Việt Nam
7 Bố cục của luận văn :
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm các nội dung sau đây :
Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của chính sách thuế Nhập khẩu đối với thu Ngân sách Nhà nước
Chương 2: Ảnh hưởng của quá trình thực thi cam kết WTO về thuế Nhập khẩu đối với thu Ngân sách Nhà nước của Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp đảm bảo tăng trưởng bền vững thu Ngân sách Nhà nước của Việt Nam trong quá trình thực thi cam kết WTO về thuế Nhập khẩu
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THUẾ NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI
THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Thu Ngân sách Nhà nước và thuế Nhập khẩu
1.1.1 Thu Ngân sách Nhà nước (NSNN)
bộ phận cấu thành quan trọng nhất của NSNN
Về phương diện kinh tế, thu NSNN được hiểu là những nguồn vốn tiền
tệ do Nhà nước huy động từ trong hoặc từ bên ngoài nền kinh tế quốc nội, thông qua nhiều phương thức khác nhau (như đánh thuế, thu tiền phạt vi phạm hành chính, vay nợ,…) để tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu rất lớn của Nhà nước về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng và quản lý Nhà nước
Về phương diện cấu trúc của thu NSNN, thu NSNN bao gồm các khoản
thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và các nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Cần lưu ý là không tính vào thu NSNN các khoản thu mang tính chất hoàn trả như vay nợ và viện trợ có hoàn lại Vì thế, các văn bản hướng dẫn Luật NSNN (Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ và Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính) chỉ tính vào thu NSNN các khoản viện trợ không hoàn lại; còn các khoản viện trợ có hoàn lại thực chất là các khoản vay ưu đãi không được tính vào thu NSNN
Trang 13Như vậy, thu NSNN là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực Nhà nước,nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ KT-XH của Nhà nước
1.1.1.2 Đặc điểm thu Ngân sách Nhà nước
Thu NSNN là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Mọi khoản thu của Nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước; Nguồn tài chính được tập trung vào NSNN chính là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư được chuyển giao cho Nhà nước Đó là khoản thu nhập của Nhà nước được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Thu NSNN phản ảnh các quan hệ nảy sinh trong quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trọng xã hội Sự phân chia đó là tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu tồn tại phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng KT-XH của Nhà nước Đối tượng phân chia là nguồn tài chính quốc gia, là kết quả do lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể hiện dưới hình thức tiền tệ Như vậy, thu NSNN trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề và là yếu tố khách quan hình thành nên các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN
- Về mặt nội dung, thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực tập trung một phần nguồn tài chính Quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước
- Thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị như GDP, giá cả, lãi suất, thu nhập… Sự vận động của các
Trang 14phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN
- Thu NSNN được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu
1.1.1.3 Các nguồn thu NSNN
Việc phân loại các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích, đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN Có 3 cách phân loại phổ biến là:
a) Căn cứ vào phạm vi phát sinh
Các khoản thu NSNN được chia làm hai nhóm là thu trong nước và thu ngoài nước Cụ thể:
*) Các khoản thu trong nước, bao gồm:
- Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là lĩnh vực tạo ra đại bộ phận tổng sản phẩm xã hội và cũng là nơi tạo ra số thu chủ yếu cho NSNN
- Thu từ hoạt động dịch vụ (là những hoạt động phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội) bao gồm cả thu sự nghiệp và thu từ các dịch vụ tài chính Số thu từ lĩnh vực này có xu hướng ngày càng tăng
- Thu từ các hoạt động khác như thu về bán và cho thuê tài sản quốc gia, nguồn tài nguyên, vay nợ trong nước dưới các hình thức.v.v
*) Các khoản thu ngoài nước, bao gồm:
- Thu từ các hoạt động XNK, Xuất khẩu lao động và hợp tác chuyên gia với nước ngoài
- Thu viện trợ không hoàn lại bằng tiền hoặc hiện vật của Chính phủ các nước, các tổ chức và các cá nhân ở nước ngoài theo pháp luật
- Thu từ vay nợ nước ngoài, kể cả vay các tổ chức tài chính quốc tế
Ý nghĩa của cách phân loại này: Phản ánh cơ cấu của nền kinh tế, thông
qua đó có thể đánh giá tính hiệu quả, tính hợp lý của nền kinh tế
Trang 15b) Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế
Các khoản thu được chia làm hai loại:
- Các khoản thu thường xuyên: là các khoản thu phát sinh tương đối đều
đặn, ổn định về mặt thời gian và số lượng gồm thuế, phí, lệ phí
- Các khoản thu không thường xuyên: là những khoản thu không ổn
định về mặt thời gian phát sinh cũng như số lượng tiền thu được, bao gồm các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, thu từ viện trợ nước ngoài, từ vay trong nước và ngoài nước và các khoản thu khác
Ý nghĩa của cách phân loại này: Việc phân loại các khoản thu NSNN
dựa trên sự kết hợp giữa hai tiêu chí: theo nội dung kinh tế và tính chất phát sinh của nguồn thu là cần thiết, bởi qua cách phân loại này để thấy rõ sự phát triển của nền kinh tế, tính hiệu quả của nền kinh tế và mức độ ổn định vững chắc của nguồn thu Ngân sách
c) Căn cứ theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN
Có thể chia các khoản thu NSNN thành hai loại:
- Thu trong cân đối NSNN, bao gồm các khoản thu:
+ Thuế, phí, lệ phí
+ Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, bao gồm: thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi)
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp
+ Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước
+ Các khoản thu khác theo luật định.Trong các khoản thu nói trên thì thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu của NSNN
- Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: khi số thu NSNN không đáp ứng được
nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm vay trong nước từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức KT-XH, vay từ nước ngoài.v.v
Trang 16Ý nghĩa của cách phân loại này: Cách phân loại này cho phép đánh giá
sự lành mạnh của NSNN và rất có ý nghĩa trong tổ chức điều hành NSNN
1.1.1.4 Các nhân tố cơ bản tác động tới thu NSNN
Một vấn đề hết sức quan trọng trong thu NSNN là việc xác định mức động viên và lĩnh vực động viên một cách đúng đắn, hợp lý Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến số thu NSNN, mà còn tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển KT-XH Mức động viên và lĩnh vực động viên lại chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN cần phải kể đến là:
a) Nhân tố trong nước
Sự tăng trưởng của nền kinh tế: Sự vận động của các phạm trù kinh tế
như giá cả, thu nhập lãi suất cũng có tác động đến thu NSNN Chúng vừa có tác động đến sự tăng giảm mức động viên của NSNN vừa đặt ra yêu càu sử dụng hợp lý các công cụ thu của NSNN để điều tiết các hoạt động KT-XH cho phù hợp Do đó trong tổng thu của NSNN phải coi trọng nguồn thu trong nước
là chủ yếu, mà quan trọng hơn cả là nguồn mới sáng tạo ra trong các ngành sản xuất Ngày nay các hoạt động dịch vụ cũng là nơi tạo ra nguồn thu chủ yếu của NSNN Do đó, để tăng thu cho NSNN, về lâu dài con đường chủ yếu là nâng cao trình độ phát triển, tìm cách mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất của nền kinh tế Có thể nói tăng trưởng kinh tế là yếu tố tác động tới thu NSNN trong dài hạn, tạo nên tính bền vững cho thu NSNN
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Như đã nói ở trên thu NSNN lấy từ mọi
lĩnh vưc,mọi ngành, mọi khu vực, mọi vùng , địa phương trong nền kinh tế Vì vậy cơ cấu thu NSNN phụ thuộc vào cơ cấu của nền kinh tế theo ngành, theo khu vực, theo vùng,…Do đó khi có sự chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế thì chắc chắn sẽ làm chuyển dịch cơ cấu thu NSNN tương ứng Nến chuyển dịch theo hướng tích cực thì cơ cấu thu ngân sách sẽ chuyển dịch theo hướng tăng
Trang 17tính bền vững cho thu NSNN Nếu chuyển dịch theo hướng không tích cực sẽ làm cho cơ cấu thu NSNN sẽ chuyển dịch theo hướng tăng tính bất ổn định cho thu NSNN Do vậy cơ cấu kinh tế là một yếu tố tác động rất lớn tới cơ cấu thu NSNN và tính bền vững của thu NSNN
Kim ngạch XNK: So với các nước khác, tỷ lệ thuế Nhập khẩu của Việt
Nam còn khá cao ( khoảng 13% tổng thu NSNN) Vì vậy thu từ hoạt động Nhập khẩu vẫn là nguồn thu khá lớn Nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đối với một nước phải luôn ở tình trạng nhập siêu thì mặc dù thuế suất có giảm nhưng nguồn thu từ hoạt động Nhập khẩu vẫn tăng lên do đó, kim ngạch Nhập khẩu sẽ tăng rất mạnh Không chỉ vậy, Xuất khẩu cũng mang lại nguồn thu cho NSNN từ các doanh nghiệp Xuất khẩu Và khi hội nhập kinh tế sâu rộng thì hoạt động Xuất khẩu ngày càng phát triển Vì vậy trong tương lai không xa nguồn thu từ hoạt động này sẽ khá lớn
Vốn đầu tư toàn xã hội: Vốn đầu tư toàn xã hội bao gồm toàn bộ vốn
trong nước và ngoài nước Vốn đầu tư toàn xã hội là yếu tố tác động tới sự phát triển nguồn vốn cho sự tăng trưởng kinh tế Vì vậy nó cũng tác động tới thu NSNN Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đang khuyến khích nguồn vốn từ khu vực tư nhân và nước ngoài Có thể nói nguồn vốn FDI là một nhân
tố tác động mang tính dài hạn và lợi ích mang lại hết sức to lớn đối với những nước như Việt Nam (đang thiếu vốn, công nghệ, trình độ quản lý) Nhờ nguồn vốn đầu tư, các doanh nghiệp có thể đầu tư theo chiều sâu, chuyển giao công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh Đặc biệt Xuất khẩu trong khu vực FDI đại diện cho xu hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam vì phần lớn Xuất khẩu của khu vực này là các mặt hàng chế tác có giá trị tăng cao Như vậy thu hút FDI phải được xem là hướng chủ đạo để đẩy mạnh Xuất khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO Từ đó sẽ đóng góp nhiều hơn vào NSNN từ các doanh nghiệp Xuất khẩu
Trang 18Hệ thống pháp luật và các chính sách trong lĩnh vực thu: Nếu như các
nhân tố trên tạo ra nguồn thu cho Ngân sách thì hệ thống Pháp luật, cơ chế chính sách về lĩnh vực thu và tổ chức thu là căn cứ, là quy định để chúng ta biết thu như thế nào, thu từ đâu, thu với tỷ suất bao nhiêu sao cho hiệu quả Thu NSNN có thể lấy từ nhiều nguồn, duới nhiều hình thức nhưng nét đặc trưng là luôn gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước, thể hiện tính cưỡng chế và mang tính không hoàn trả là chủ yếu Do đó, các luật, các chính sách do Nhà nước quy định về nguồn thu và tổ chức quản lý thu là căn cứ cho quá trình động viên vào Ngân sách Các quy định về nguồn thu bao gồm các luật lệ, các quy định về phí, lệ phí, về bán tài nguyên, tài sản quốc gai, về các doanh nghiệp Nhà nước
Yêu cầu đối với các chính sách huy động nguồn thu NSNN là phải đảm bảo tập trung một bộ phận tài chính quốc dân vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cần thiết cho việc vận hành bộ máy cũng như thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Đồng thời đảm bảo khuyến khích, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo nguồn thu ngày càng lớn Đặc biệt cũng phải coi trọng yêu cầu công bằng xã hội, điều tiết thu nhập giữa các thành phần trong nền kinh tế
Có thể nói kết quả thu NSNN phụ thuộc rất lớn vào hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thu Đây là nhân tố chủ quan vì Nhà nước là chủ thể đưa ra các quyết định này, vừa mang tính khách quan vì hệ thống Pháp luật được xây dựng trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác của nền kinh tế
b) Hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một nhân tố cũng rất quan trọng đối với thu NSNN Hội nhập kinh tế quốc tế tác động trực tiếp tới thu NSNN thông qua việc cắt giảm thuế quan theo lộ trình, thực hiện nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tác đối xử quốc gia; tuân thủ Hiệp định trị giá Hải quan theo quy định
Trang 19của WTO Hội nhập kinh tế quốc tế còn tác động gián tiếp tới NSNN thông qua tác động đến nền kinh tế thông qua tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, tiêu dùng - tiết kiệm - đầu tư, thương mại và hệ thống kinh tế vi mô, đặc biệt là hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự biến động của
cơ cấu kinh tế, sự thay đổi tỷ lệ tiết kiệm- tiêu dùng- đầu tư Trong đó hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp là điều mà chúng ta có thể thấy rất rõ ,
nó làm thay đổi cả mức độ và cơ cấu thu NSNN, cụ thể là số thu và cơ cấu các loại thuế như thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế XNK, thuế TNDN, thuế TNCN…
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang ngày càng mở cửa để hội nhập sâu rộng vào trường quốc tế , đặc biệt là sự kiện gia nhập WTO thì nhân tố này trở nên cực kỳ quan trọng vì nó không chỉ là tác động đơn thuần tới thu thuế XNK mà còn tác động gián tiếp đến thu NSNN thông qua rất nhiều yếu
tố khác Do vậy nghiên cứu về hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng tới thu NSNN là điều cần thiết và cấp bách hiện nay
Khi phương tiện vận tải (tàu thủy, máy bay, phương tiện vận tải đường
bộ hay đường sắt) đến cửa khẩu biên giới (cảng hàng không quốc tế, cảng sông quốc tế hay cảng biển quốc tế, cửa khẩu biên giới bộ) thì các công chức Hải quan sẽ tiến hành kiểm tra hàng hóa so với khai báo trong tờ khai Hải quan đồng thời tính số thuế Nhập khẩu phải thu theo các công thức tính thuế Nhập khẩu đã quy định trước Về mặt nguyên tắc, thuế Nhập khẩu phải được nộp trước khi thông quan để nhà Nhập khẩu có thể đưa mặt hàng Nhập khẩu vào lưu thông trong nội địa (trừ khi có các chính sách ân hạn thuế hay có bảo
Trang 20lãnh nộp thuế) nên đây có thể coi là một trong những loại thuế dễ thu nhất, và chi phí để thu thuế Nhập khẩu là khá nhỏ
b) Mục đích:
Thuế Nhập khẩu theo truyền thống được đưa ra chủ yếu để tăng thu cho
Ngân sách, tuy nhiên nó cũng có thể để:
- Giảm Nhập khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt hàng thay thế có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân thương mại
- Chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng Nhập khẩu của mặt hàng phá giá lên tới mức giá chung của thị trường
- Trả đũa trước các hành vi dựng hàng rào thuế quan do quốc gia khác đánh thuế đối với hàng hóa Xuất khẩu của mình, nhất là trong các cuộc chiến tranh thương mại
- Bảo hộ cho các lĩnh vực sản xuất then chốt (chẳng hạn Nông nghiệp) giống như các chính sách về thuế quan của Liên minh châu Âu đã thực hiện trong chính sách Nông nghiệp chung của họ
- Bảo vệ các ngành Công nghiệp non trẻ cho đến khi chúng đủ vững mạnh để có thể cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế
- Không khuyến khích Nhập khẩu các mặt hàng có thể bị coi là xa xỉ phẩm hay đi ngược lại các truyền thống văn hóa dân tộc…
c) Phân loại
*) Theo phương thức tính thuế:
- Thuế quan theo đơn giá hàng: Là một tỷ lệ phần trăm nào đó tính trên
giá trị của mặt hàng (chẳng hạn 10% trên giá CIF của hàng NK, được gọi là thuế suất thuế Nhập khẩu) Đôi khi ở đây cũng có vấn đề do giá cả trên thị trường quốc tế của hàng hóa giảm xuống thì thuế Nhập khẩu cũng giảm theo
và các ngành sản xuất trong nước trở thành dễ bị thương tổn hơn trong cạnh tranh Ngược lại, khi giá hàng hóa tăng lên trên thị trường quốc tế thì thuế
Trang 21Nhập khẩu cũng tăng lên, nhưng khi đó thì sản xuất nội địa của mặt hàng đó thông thường cũng ít quan tâm đến việc bảo hộ khi giá cả là cao hơn Bên cạnh đó, ở đây còn có vấn đề chuyển dịch giá khi mà các tổ chức Nhập khẩu khai báo giá/giá trị của mặt hàng mà họ đang kinh doanh thấp hơn nhiều so với giá thị trường, nhằm mục đích giảm nghĩa vụ thuế tổng thể
- Thuế quan theo trọng lượng: Được tính theo trọng lượng của mặt hàng
(chẳng hạn $5 trên 1 tấn) Kiểu tính thuế Nhập khẩu này có thể là khó khăn hơn trong việc quyết định số lượng tiền thuế phải nộp, do nó cần sự cập nhật thường xuyên vì các thay đổi trên thị trường hay vì lạm phát
Hiện nay, nói chung Hải quan thực hiện tính thuế Nhập khẩu theo kiểu thuế quan theo đơn giá hàng là chủ yếu
*) Theo mục đích đánh thuế:
- Thuế quan tăng thu Ngân sách: Là một tập hợp các mức thuế suất
được đưa ra mà mục đích chính là làm tăng nguồn thu cho NSNN, còn mục đích bảo hộ cho sản xuất trong nước chỉ là thứ yếu
- Thuế quan bảo hộ: Được đưa ra với mục đích làm tăng giá một cách
nhân tạo đối với hàng hóa Nhập khẩu nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh từ nước ngoài; được tính toán và đưa ra khi người ta cho rằng ở mức thuế suất thấp hơn thì sản xuất trong nước sẽ gặp phải sự cạnh tranh rất quyết liệt từ hàng Nhập khẩu và thị phần về cơ bản sẽ nằm trong tay các nhà Nhập khẩu
- Thuế quan cấm đoán: Là thuế quan đưa ra với thuế suất rất cao, gần
như không còn nhà Nhập khẩu nào dám nhập mặt hàng đó nữa Ranh giới giữa thuế quan tăng thu Ngân sách và thuế quan bảo hộ là khá mỏng manh và nhiều khi không thể phân biệt được Thuế quan tăng thu Ngân sách thuần túy chỉ có thể có khi quốc gia đó không có bất kỳ cơ sở sản xuất, gia công, chế biến nào
có liên quan đến mặt hàng Nhập khẩu đó Ngoài trường hợp này ra thì các loại thuế quan tăng thu Ngân sách không nhiều thì ít đều có tính chất bảo hộ cho sản xuất trong nước ngoài chức năng tăng thu cho Ngân sách, nhưng tính chất bảo hộ không rõ nét như ở thuế quan bảo hộ
Trang 22Ý nghĩa của viêc phân loại: giúp cho việc xác định đúng mục đích khi
đưa ra các chính sách thuế quan đồng bộ và hợp lý trong việc vừa tăng thu Ngân sách, vừa có thể bảo vệ các ngành Công nghiệp non trẻ, các lĩnh vực sản xuất then chốt, và hạn chế Xuất khẩu một số mặt hàng mà Nhà nước không khuyến khích
d) Các loại thuế suất
Theo mức thuế suất đối với cùng một mặt hàng, có thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường:
Thuế suất ưu đãi: Áp dụng đối với hàng hóa Nhập khẩu có xuất xứ từ
nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện quy chế tối huệ quốc(MFN) trong quan hệ thương mại với quốc gia đó Thuế suất ưu đãi thông thường được quy định cụ thể cho từng mặt hàng trong Biểu thuế Nhập khẩu ưu đãi do
cơ quan chức năng ban hành
Thuế suất ưu đãi đặc biệt: Áp dụng đối với hàng hóa Nhập khẩu có xuất
xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế Nhập khẩu với quốc gia đó theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác
Thuế suất thông thường: Áp dụng đối với hàng hóa Nhập khẩu có xuất
xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện quy chế tối huệ quốc cũng như không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế Nhập khẩu với quốc gia đó Thuế suất thông thường luôn luôn cao hơn so với thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt của cùng mặt hàng đó
1.1.2.2 Vai trò của thuế Nhập khẩu đối với nền kinh tế nói chung và thu Ngân sách Nhà nước nói riêng
Khi đánh thuế Nhập khẩu, người sản xuất hàng trong nước được lợi vì
nó làm tăng giá của hàng Nhập khẩu từ mức giá thế giới lên bằng với giá thế giới cộng với thuế Nhập khẩu Đồ thị này chỉ ra tác động của thuế Nhập khẩu:
Trang 23Hình 1.1: Vai trò bảo hộ thuế quan danh nghĩa của Chính phủ
Nguồn: http://vi.wikipedia.org
- Khi thực hiện thương mại tự do, cân bằng thị trường như sau: người tiêu dùng muốn mua một số lượng Qd hàng hoá ở mức giá thế giới trong khi những nhà sản xuất trong nước chỉ sản xuất một số lượng Qs ở mức giá thế giới Bằng cách Nhập khẩu phần thiếu hụt (chênh lệch giữa Qd và Qs) ở mức giá thế giới, người tiêu dùng có thể thoả mãn toàn bộ nhu cầu ở mức giá này
- Khi có thuế Nhập khẩu, cân bằng thị trường như sau: giá hàng hoá trong nước bị tăng lên đến mức bằng giá thế giới công với thuế Nhập khẩu kích thích những nhà sản xuất trong nước sản suất thêm, đẩy sản lượng sản xuất trong nước từ Qs lên Qs' Tuy nhiên do giá tăng nên cầu của người tiêu dùng bị kéo từ Qd xuống Qd' Rõ ràng việc giá bị đẩy lên cao đã làm cho người tiêu dùng phải trả thêm một khoản tiền bằng diện tích của hình chữ nhật CEGH để mua số lượng hàng Qd' Khoản trả thêm này một phần (bằng diện tích hình BCEF) được chuyển cho chính phủ dưới dạng thuế Nhập khẩu thu được, một phần (bằng diện tích hình AFGH) được chuyển thành lợi nhuận của nhà sản xuất trong nước do vậy hai phần này không làm thiệt hại lợi ích tổng thể của quốc gia Tuy nhiên phần diện tích hình ABF đã bị mất trắng, đây chính là tổn thất của xã hội để chi phí cho sự yếu kém của những nhà sản xuất trong nước Diện tích hình ECD lại là một tổn thất nữa khi độ thoả dụng của người tiêu dùng bị giảm sút: thay vì có thể tiêu thụ Qd hàng hoá, do có thuế Nhập khẩu họ chỉ có thể tiêu dùng Qd' mà thôi
Trang 24Tóm lại, thuế Nhập khẩu dẫn đến cả thu nhập chuyển giao từ người tiêu dùng sang Chính phủ và nhà sản xuất trong nước đồng thời gây tổn thất lợi ích ròng của toàn Xã hội Do những tác động ấy, nó khuyến khích sản xuất phi hiệu quả trong nước, làm cho người tiêu dùng giảm sút độ thoả dụng do phải tiêu dùng ít đi nhưng nó tạo ra nguồn thu cho Chính phủ
*) Vai trò của thuế Nhập khẩu: Qua mô hình phân tích trên ta có thấy được vai trò của thuế Nhập khẩu là hết sức quan trọng bao gồm:
- Là một nguồn thu khá quan trọng của Ngân sách: Như trên đã nêu thì
thuế Nhập khẩu là bộ phận cấu thành của thu Ngân sách nên chúng cũng đóng góp một phần đáng kể cho NSNN Đặc biệt Việt Nam là một nước đang phát triển, nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng tăng, khả năng sản xuất nội địa chưa đáp ứng, mặt khác khả năng tài chính của Chính phủ lại eo hẹp, nên nguồn thu nhập từ thuế XNK nói chung và thuế Nhập khẩu nói riêng là rất quan trọng Để thực hiện đựoc vai trò này các nước thường mở rộng hoạt động ngoại thương, cho phép tự do không khống chế việc XNK hàng hoá sao cho động viên được tối đa nguồn tài chính từ hoạt động ngoại thương mang lại tập trung vào NSNN
- Là công cụ bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển:
Tuỳ theo đặc điểm kinh tế của mỗi quốc gia mà công cụ này được xem xét ở các mức độ khác nhau Ở các nước có nền kinh tế phát triển cao, khả năng cạnh tranh của hàng hoá nội địa lớn, thì mục tiêu này trong việc sử dụng thuế quan thường ít được coi trọng Ngược lại, các nước có nền kinh tế kém phát triển lại thực hiện mô hình kinh tế hướng nội, độc lập, tự chủ trong kinh tế làm trọng, thì hết sức coi trọng mục tiêu bảo hộ nền sản xuất trong nước Tuy nhiên khi nhấn mạnh mục tiêu này thì thường mâu thuẫn với mục tiêu ngân khố mà các nước phát triển vấp phải
- Thuế quan điều tiết hoạt động ngoại thương: Vai trò này được coi
trọng ở tất cả các nước thông qua việc sử dụng thuế quan Thông qua việc sử
Trang 25dụng công cụ thuế quan, Chính phủ có thể quản lý mặt hàng XNK, và điều tiết cán cân thương mại
1.2 Thuế Nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
1.2.1 Tổ chức Thương mại thế giới và cam kết cắt giảm thuế Nhập khẩu
1.2.1.1 WTO và những nguyên tắc cơ bản
a) Khái niệm:
WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization) - Tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới Trọng tâm của WTO chính là các Hiệp định đã
và đang được các nước đàm phán và ký kết
b) Những nguyên tắc, luật lệ, quy định cơ bản của WTO
Các Hiệp định của WTO rất nhiều và phức tạp, tuy nhiên xuyên suốt các Hiệp định này là những nguyên tắc và chúng được coi là nền tảng của hệ thống thương mại đa phương
- Không phân biệt đối xử: Mỗi thành viên sẽ dành cho sản phẩm của
một thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành cho sản phẩm của một nước thứ 3 (Đãi ngộ tối huệ quốc-MFN) Tuy nhiên, vẫn có một số ngoại lệ trong nguyên tắc này Chẳng hạn, các nước có thể thiết lập một hiệp định thương mại tự do áp dụng đối với những hàng hoá giao dịch trong nhóm quốc gia, phân biệt với hàng hoá từ bên ngoài nhóm
- Thương mại ngày càng được tự do hơn thông qua đàm phán: Các
hàng rào cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương
- Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch: Ðây là
nguyên tắc quan trọng của WTO Đôi khi cam kết không tăng một cách tuỳ
Trang 26tiện các hàng rào thương mại (thuế quan và phi thuế quan khác) đem lại sự an tâm rất lớn cho các nhà đầu tư Với sự ổn định và dễ dự đoán, thì việc đầu tư
sẽ được khuyến khích , việc làm sẽ được tạo ra nhiều hơn và khách hàng sẽ được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường Hệ thống thương mại đa phương là một nỗ lực lớn của các chính phủ để tạo ra một môi trường thương mại ổn định và có thể dự đoán
- Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn: WTO đôi khi
được miêu tả như là một hệ thống “thương mại tự do”, tuy nhiên điều đó không hoàn toàn chính xác Hệ thống này vẫn cho phép có sự tồn tại của thuế quan và trong một số trường hợp nhất định, vẫn cho phép có các biện pháp bảo hộ Như vậy nói một cách chính xác hơn thì WTO đem lại một sự cạnh tranh lành mạnh và công bằng hơn.WTO cũng có thể hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định
- Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi: Các ưu đãi
này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển một
số quyền và không phải thực hiện một số quyền và một số nghĩa vụ hay thời giam quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách
Qua các vòng đàm phán, lợi ích của các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển đã tăng lên rất nhiều Sau vòng đàm phán Uruguay, các nước giàu WTO đã cam kết sẽ rộng mở hơn nữa đối với hàng hoá Xuất khẩu
từ những nước kém phát triển và trợ cấp kỹ thuật cho các nước này Gần đây, những nước phát triển đã bắt đầu cho phép Nhập khẩu tự do, không thuế, không hạn ngạch đối với tất cả những sản phẩm từ hầu hết quốc gia kém phát triển trong WTO
1.2.1.2 Những yêu cầu đặt ra đối với thuế Nhập khẩu
- Nguyên tắc tiếp cận thị trường đòi hỏi thuế suất thuế Nhập khẩu phải được cắt giảm theo những cam kết mở cửa thị trường mà quốc gia thành viên chấp nhận khi đàm phán gia nhập WTO
Trang 27- Sự cắt giảm này phải tuân thủ nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN), tức là không có sự phân biệt đối xử với hàng hoá, dịch vụ Nhập khẩu
từ các quốc gia thành viên khác nhau
- Thuế Nhập khẩu chỉ được sử dụng như một công cụ để bảo hộ sản xuất trong nước, chứ không thể sử dụng như một công cụ nhằm tăng nguồn thu NSNN
1.2.1.3 Cam kết của Việt Nam về thuế nhập khẩu khi gia nhập WTO
Tổng hợp chung toàn bộ các cam kết về thuế quan của Việt Nam trong WTO được thể hiện trong Biểu cam kết về Hàng hoá của Việt nam, có thể tóm lược một số nét lớn như sau:
Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế Nhập khẩu hiện hành gồm 10.600 dòng thuế Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% so với mức thuế bình quân hiện hành (thuế suất MFN) của Biểu thuế (từ 17,4% xuống còn 13,4%) Thời gian thực hiện sau 5- 7 năm
Bảng 1.1: Diễn giải mức thuế bình quân cam kết
Bình quân
chung và theo
ngành
Thuế suất MFN hiện hành (%)
Thuế suất cam kết khi gia nhập WTO (%)
Thuế suất cam kết vào cuối lộ trình (%)
Mức giảm so với thuế MFN hiện hành (%)
Cam kết WTO của Trung Quốc
Mức cắt giảm thuế chung tại Vòng Uruguay
Nước phát triển
Nước đang phát triển
Nông sản 23,5 25,2 21,0 10,6 16,7 giảm 40% giảm 30% Hàng Công
nghiệp 16,6 16,1 12,6 23,9 9,6 giảm 37% giảm 24% Chung màn
biểu 17,4 17,2 13,4 23,0 10,1
Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị phổ biến các cam kết WTO của
Việt Nam tháng 11 năm 2006, Hà Nội
Trang 28Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc theo mức thuế trần – cao hơn mức thuế suất hiện hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của Biểu thuế), chủ yếu là đối với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hoá chất, một số phương tiện vận tải
Một số mặt hàng đang có thuế suất cao từ trên 20%, 30% sẽ được cắt giảm thuế ngay khi gia nhập Những nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc, thiết bị điện-điện tử
Đối với lĩnh vực Nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào
thời điểm gia nhập và 21,0% sẽ là mức cắt giảm cuối cùng So sánh với mức thuế MFN bình quân đối với lĩnh vực Nông nghiệp hiện nay là 23,5% thì mức cắt giảm đi sẽ là 10% Trong lĩnh vực Nông nghiệp, Việt Nam sẽ được áp dụng cơ chế hạn ngạch thuế quan đối với 4 mặt hàng, gồm: trứng, đường, thuốc lá, muối (muối trong WTO không được coi là mặt hàng nông sản) Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế MFN hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 50-60%, thuốc lá lá: 30%, muối ăn 30%), thấp hơn nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch
Đối với lĩnh vực Công nghiệp, mức cam kết bình quân vào thời điểm gia
nhập là 16,1%, và mức cắt giảm cuối cùng sẽ là 12,6% So sánh với mức thuế MFN bình quân của hàng Công nghiệp hiện nay là 16,6% thì mức cắt giảm đi
sẽ là 23,9%
Các mức cắt giảm này có thể so sánh tương ứng với các mức cắt giảm trung bình của các nước đang phát triển và đã phát triển trong vòng đàm phán Uruguay (1994) như sau: trong lĩnh vực Nông nghiệp các nước đang phát triển
và đã phát triển cam kết cắt giảm là 30% và 46%; với hàng Công nghiệp
Trang 29tương ứng là 37% và 24%; Trung quốc trong đàm phán gia nhập của mình cam kết cắt giảm khoảng 45% thuế nhập khẩu (từ 17,5% xuống 10%)
Mức độ cam kết và cắt giảm thuế của Việt Nam tổng hợp theo một số nhóm ngành hàng và nhóm mặt hàng chính với thời gian thực hiện được cụ thể hoá trong bảng 1.2 và bảng 1.3 dưới đây:
Bảng 1.2: Mức thuế cam kết bình quân theo nhóm ngành hàng chính
Nhóm hàng mặt
Thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập WTO (%)
Thuế suất cam kết cắt giảm cuối cùng cho WTO (%)
Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị phổ biến các cam kết WTO của
Việt Nam tháng 11 năm 2006, Hà Nội
Trang 30Bảng 1.3: Tổng hợp cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong đàm phán gia
nhập WTO đối với một số nhóm hàng quan trọng
TT Ngành hàng/Mức thuế suất
Thuế suất MFN (%)
Cam kết với WTO Thuế
suất khi gia nhập (%)
Thuế suất cuối cùng(%)
Thời gian thực hiện
Trang 31- Dệt may (thuế suất bình quân) 37,3 13,7 13,7
Ngay khi gia nhập (thực tế
đã thực hiện theo Hiệp định dệt may với
Mỹ và EU)
+ Loại không quá 5 tấn 100 80 50 10 năm
+ Loại thuế suất khác hiện hành
Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị phổ biến các cam kết WTO của
Việt Nam tháng 11 năm 2006, Hà Nội
Như tất cả các nước mới gia nhập khác, Việt Nam cũng cam kết tham gia vào một số Hiệp định tự do hoá theo ngành Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia đầy đủ là sản phẩm Công nghệ Thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế
Trang 32Những ngành mà Việt Nam tham gia một phần là thiết bị máy bay, hoá chất và thiết bị xây dựng Thời gian để thực hiện cam kết giảm thuế là từ 3-5 năm
Trong các Hiệp định trên, tham gia ITA là quan trọng nhất, theo đó khoảng 330 dòng thuế thuộc diện công nghệ thông tin sẽ phải có thuế suất 0% sau 3-5 năm Như vậy, các sản phẩm điện tử như: máy tính, điện thoại di động; máy ghi hình, máy-ảnh kỹ thuật số… sẽ đều có thuế suất 0%, thực hiện sau 3-5 năm, tối đa là sau 7 năm Việc tham gia Hiệp định dệt may (thực hiện
đa phương hoá mức thuế đã cam kết theo các Hiệp định dệt may với EU, Hoa Kỳ) cũng dẫn đến giảm thuế đáng kể đối với các mặt hàng này: vải từ 40% xuống 12%, quần áo từ 50% xuống 20%, sợi từ 20% xuống 5% Bảng 1.4 dưới đây sẽ đề cập cụ thể về tình hình cam kết theo các Hiệp định tự do hoá theo ngành của Việt Nam trong WTO
Bảng 1.4: Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngành
Hiệp định tự do hoá theo ngành Số dòng thuế
T/s MFN (%)
T/s cam kết cuối cùng (%)
1 HĐ công nghệ thông tin ITA- tham gia
2 HĐ hài hoà hoá chất CH- tham gia 81% 1.300/1.600 6,80% 4,40%
3.HĐ thiết bị máy bay dân dụng CA- tham
4 HĐ dệt may TXT- tham gia 100% 1.170 37,20% 13,20%
5 HĐ thiết bị y tế ME- tham gia 100% 81 2,60% 0%
Ngoài ra, tham gia không đầy đủ một số hoạt động khác như thiết bị khoa học, thiết bị xây dựng…
Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị phổ biến các cam kết WTO của
Việt Nam tháng 11 năm 2006, Hà Nội
Trang 331.2.2 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới thuế Nhập khẩu khi Việt Nam gia nhập WTO
- Sự phát triển kinh tế trong nước làm gia tăng các loại hình doanh nghiệp, các hoạt động kinh tế và các loại hình dịch vụ: Nền kinh tế nước ta
lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Phát triển kinh tế nhiều thành phần với nhiều loại hình doanh nghiệp trong thời gian qua đã có bước chuyển biến rõ rệt, là một trong những nội dung quan trọng nhất của đường lối đổi mới của Đảng ta Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu
Trong GDP, xu hướng chung là tỷ trọng kinh tế Nhà Nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể giảm, trong khi tỷ trọng kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên Xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới, bởi những doanh nghiệp tư nhân tiếp tục được thành lập nhiều trong các năm qua từ khi Luật Doanh nghiệp ra đời, công tác cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước theo kế hoạch được đẩy mạnh; tỷ trọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cũng sẽ được gia tăng khi vốn đầu tư nước ngoài từ cuối năm 2004 đến nay và tới đây sẽ gia tăng mạnh tạo thành làn sóng mới cả về số vốn đăng ký mới, số vốn bổ sung cũng như số vốn thực
- Sự thay đổi quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế cũng như mọi công dân: Việt Nam đã trải qua cơn khủng hoảng
sau những năm trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp, ngày nay hoạt động trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế phải thay đổi phương thức hoạt động
để thích nghi được với điều kiện cạnh tranh gay gắt; Đồng thời mọi công dân cũng có nhiều sự lựa chọn hơn đối với hàng hóa, dịch vụ trên thị trường,
Trang 34các quy luật về giá cả được phát huy điều đó cũng tạo ra cách nghĩ, cách ứng
xử mới phù hợp với nền kinh tế thị trường
1.2.3 Khảo sát kinh nghiệm của một số nước
Một quốc gia theo đuổi chính sách kinh tế mở cửa và tham gia vào các hiệp hội hoặc tổ chức thương mại khu vực hay thế giới, dù muốn hay không cũng phải tiến hành cắt giảm thuế XNK theo những cam kết tham gia Trong bối cảnh như vậy, cải cách thuế ở các nước chủ yếu hướng tới mục tiêu tăng nguồn thu một cách bền vững và chú trọng tính hiệu quả Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm ở các giải pháp, chính sách của các nước đang phát triển và
có nền kinh tế đang chuyển đổi
1.2.3.1 Kinh nghiệm của các nước Đông Âu
Cải cách thuế ở một số nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, như Ba Lan, Hungari, Bungari, Rumani Đặc điểm nổi bật ở các nước này là quá trình cải cách thuế gắn liền với quá trình cải tổ và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, tức là cả nội dung và biện pháp đã có sự thay đổi cơ bản so với trước Có thể phân chia quá trình này thành hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu: Nhiệm vụ trọng tâm là thay đổi nội dung và cơ cấu hệ
thống thuế nhằm tăng số thu để giảm thâm hụt Ngân sách vốn là đặc trưng chủ
yếu của các nước này Trong giai đoạn này, các nước đã tiến hành giảm đáng
kể số lượng thuế suất thuế doanh thu để chuẩn bị điều kiện cho việc ban hành thuế GTGT Thuế TTĐB và thuế TNDN cũng được sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới Thuế TNCN lũy tiến cũng được ban hành trong thời kỳ này, có kết hợp với thuế qũy lương và thuế bảo hiểm xã hội trong việc tăng thu và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đồng thời chuyển hàng loạt các hàng rào phi thuế quan (chủ yếu là các biện pháp mệnh lệnh hành chính) thành hệ thống thuế
Trang 35Nhập khẩu với thuế suất tương đối thấp tính trên giá hàng Nhập khẩu Sự đổi mới quan trọng trong giai đoạn này chính là ban hành được các loại thuế với thuế suất rõ ràng, mang tính pháp lý cao, được dựa trên cơ sở kinh tế nhiều hơn là ý nghĩa chính trị; một sự thay đổi cơ bản so với chế độ thu dưới thời kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, nhằm sử dụng công cụ thuế điều tiết vĩ
mô nền kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường mở cửa với bên ngoài
Giai đoạn thứ hai: Đa số các nước Đông Âu nói trên hướng vào việc
chuyển hoàn toàn sang hệ thống thuế theo cơ chế thị trường; ban hành và sửa đổi các sắc thuế chủ yếu như: thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế TNCN lũy tiến đánh trên diện rộng, thuế thu nhập công ty với một thuế suất duy nhất nhằm đẩy mạnh sản xuất, nhất là sản xuất hàng Xuất khẩu
Tuy nhiên, nhìn trên tổng thể, công cuộc cải cách thuế trong thời gian này ở các nước Đông Âu nói trên đã không đạt được nhiều kết quả như đặt ra ban đầu Có thể nêu lên mấy nguyên nhân chính là: nền kinh tế đang trong thời kỳ khủng hoảng, sản lượng sản xuất giảm sút, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp; Nhà nước xóa bỏ bao cấp trong khi các doanh nghiệp quốc doanh chưa
có giải pháp để thích ứng kịp thời với cơ chế thị trường nên dẫn đến bị thua lỗ, không nộp được thuế Cùng với việc nới lỏng cho khu vực kinh tế tư nhân nhằm phát triển mạnh, các nước đều thực hiện tư nhân hóa sớm khu vực Nông nghiệp, nên đã dẫn đến tình trạng công nhân bỏ doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang phát triển trang trại; ý thức chấp hành pháp luật nói chung là chưa tốt, dẫn đến tình trạng trốn lậu thuế xảy ra khá phổ biến, có nước tự đánh giá thất thu thuế tới 50% Nhưng nguyên nhân quan trọng và trực tiếp là cải cách
hệ thống chính sách thuế không đi liền với việc củng cố bộ máy và thiết lập công tác quản lý thuế đủ mạnh, phù hợp với việc chuyển đổi nền kinh tế sang
cơ chế thị trường, trong đó khu vực kinh tế tư nhân đang phát triển mạnh
Như vậy, bài học rút ra từ quá trình cải cách thuế ở Đông Âu trong thời
Trang 36kỳ chuyển đổi đó là khi đã chuyển nền kinh tế thị trường thì đồng thời phải cải cách một cách cơ bản hệ thống chính sách thuế cho phù hợp thì mới đạt được yêu cầu tăng thu NSNN và phát huy tác dụng của thuế điều tiết vĩ mô nền kinh tế và hội nhập được vào hệ thống kinh tế thế giới, bài học này rất có ích với Việt Nam khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3.2 Khảo sát một số kinh nghiệm của Trung Quốc
Bảng 1.5: Lộ trình giảm nhượng thuế quan đối với Trung Quốc (%)
Năm Mức Thuế quan
Nguồn: Tình hình phát triển XH Trung Quốc từ năm 2000 - 2012, Viện NC TQ
Trung Quốc đã có một chính sách lớn nhằm tăng trưởng nhanh và bền vững thu NSNN trong quá trình cắt giảm thuế xuất XNK
- Nông nghiệp: Đây là một trong những lĩnh vực được Trung Quốc đánh giá là có thể sẽ chịu nhiều tác động tiêu cực sau khi gia nhập WTO Theo các
nhà lãnh đạo của Trung Quốc, khi cắt giảm thuế XNK thì Nông nghiệp là
Trang 37ngành bị tác động theo hướng tiêu cực mạnh nhất, sớm nhất, nhanh nhất Nên ngay từ khi mới gia nhập WTO, Trung Quốc đã đưa ra những chính sách điều chỉnh Nông nghiệp phù hợp với những cam kết WTO
- Công nghiệp: Công nghiệp Trung Quốc qua hơn 50 năm phát triển,
đặc biệt là từ khi thực hiện chiến lược cải cách mở cửa đã mở rộng cả về số lượng, quy mô, chất lượng, hiệu quả và kỹ thuật Hệ thống sản xuất Công nghiệp của Trung Quốc tương đối hoàn thiện với một loạt các doanh nghiệp được trang bị kỹ thuật mới, có khả năng sản xuất nhiều sản phẩm đứng hàng đầu thế giới, việc cải cách doanh nghiệp quốc hữu theo hướng thị trường hoá tiến triển tương đối nhanh chóng Sau khi gia nhập WTO vì phải tuân thủ những cam kế về giảm nhượng thuế quan nên Công nghiệp Trung Quốc phải chịu những tác động lớn Điều này ảnh hưởng lớn đến thu Ngân sách từ ngành Công nghiệp Đối với ngành Năng lượng - dầu mỏ, Trung Quốc phải mở cửa
các ngành dầu thô và chế biến dầu cho khu vực tư nhân thông qua việc giảm
dần độc quyền mua bán dầu Ngoài ra, trong lĩnh vực phân phối sản phẩm dầu
mỏ, Trung Quốc cũng đã có những cam kết mạnh mẽ hơn so với Việt Nam, cụ thể là sau 3 năm vào WTO, Trung Quốc mở cửa lĩnh vực phân phối bán lẻ các mặt hàng dầu và năng lượng Và sau 5 năm, thị trường bán buôn các sản phẩm này được mở cửa
Ngoài ra, Trung Quốc đã thực hiện những điều chỉnh khá toàn diện và đồng bộ trên nhiều lĩnh vực và ở nhiều cấp độ khác nhau Những điều chỉnh này không chỉ tập trung vào việc bảo đảm đáp ứng một cách trực tiếp những yêu cầu của cam kết mà còn hướng tới xử lý nhiều vấn đề gián tiếp khác để nhằm đạt được mục tiêu chung là nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế Có thể thấy những điều chỉnh này tập trung ở một
số nhóm nội dung sau: Sửa đổi Hiến pháp, điều chỉnh thể chế luật pháp…Để đạt được mục tiêu tăng cường Xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao,
Trang 38Trung Quốc tiếp tục sử dụng các biện pháp thương mại và các biện pháp khác nhằm khuyến khích sản xuất trong nước trong các ngành Xuất khẩu hoặc là đầu vào cho các nhà sản xuất trong nước
Không chỉ vậy, Trung Quốc đã tận dụng rất tốt việc gia nhập WTO, đặc biệt là những quy định về chống phá giá hàng hoá Họ sử dụng những quy định của WTO để bảo vệ các lợi ích kinh tế của mình Có thể thấy hầu hết các điều tra về chống bán phá giá đều nhằm trực tiếp vào Trung Quốc, nhưng Trung Quốc cũng chủ động điều tra nhằm vào các nước khác Đó là một bài học có thể rút ra từ Trung Quốc, và một bài học nữa là Trung Quốc sử dụng các quy định của WTO nhưng cũng thay đổi chúng để tăng lợi thế cho mình
Mặt khác, khi đàm phán, nếu các nước công nhận Trung Quốc là nền kinh tế thị trường, điều sẽ có lợi trong các vụ kiện chống bán phá giá, Trung Quốc sẽ nhường một số điều khoản liên quan đến lợi ích kinh tế Rõ ràng là Trung Quốc không vi phạm các quy định của WTO, nhưng biến đổi chúng theo hướng có lợi cho mình Đây là điều đáng để Việt Nam học tập vì trong các vụ kiện bán phá giá, việc các bạn bị coi là nền kinh tế phi thị trường là một trở ngại lớn Tuy nhiên, không thể nói thành công của Trung Quốc trong việc gia nhập WTO hoàn toàn là kết quả trên đàm phán, hoặc chủ yếu là do kết quả đàm phán Nguyên nhân sâu xa và chủ yếu đưa tới thành công của Trung Quốc trong việc gia nhập WTO chính là những thành tựu trong cải cách, mở cửa phát triển kinh tế trong hơn 20 năm Theo nhiều chuyên gia kinh tế, một số kinh nghiệm có thể rút ra từ thực tiễn gia nhập WTO của Trung Quốc, đó là:
1 Về cải cách và hoàn thiện luật pháp, Trung Quốc coi việc cải cách và hoàn thiện luật pháp là nội dung quan trọng nhất trong toàn bộ tiến trình gia nhập WTO Tiếp đó là định ra được một lộ trình cải cách và hoàn thiện thích hợp vừa có thể đáp ứng yêu cầu của WTO vừa có thể bảo vệ quyền lợi và lợi
Trang 39ích chính đáng của cả đất nước, cũng như của doanh nghiệp nội địa Do những quy tắc của WTO được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc của kinh tế thị trường, nên việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với WTO cũng chính là đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế thị trường Muốn đẩy nhanh tiến độ lập pháp và nâng cao chất lượng lập pháp, kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy cần phải thực hiện chế độ uỷ thác pháp luật, tức là ngoài việc trao quyền cho các bộ, ngành hữu quan, nên giao cho những tổ chức và cá nhân (nếu có thể) am hiểu và có trình độ pháp luật cao cùng soạn thảo Trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật thì việc thanh lọc, sửa đổi, bổ sung các văn bản về hành chính là phức tạp nhất Kinh nghiệm của Trung Quốc trong xử lý vấn đề này là đưa ra một số nguyên tắc như “ban ngành nào ban hành thì ban ngành đó giải quyết” nhưng dưới sự điều phối của một
cơ quan chức năng
2 Về cải cách chính sách kinh tế vĩ mô, bài học quan trọng lớn nhất của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập WTO chính là chủ động cải cách chính sách kinh tế vĩ mô gắn liền với cải cách thể chế Bởi vì, theo Trung Quốc, mức
độ sẵn sàng gia nhập WTO phụ thuộc rất lớn vào sự vững mạnh của thể chế kinh tế vĩ mô và “sự chuyển đổi chức năng của Chính phủ” Nếu Chính phủ không có những động thái tích cực để thích ứng với thể chế thị trường, vẫn duy trì tư duy, cách làm và công cụ cũ thì khó có thể chủ động đối phó với quá trình tự do hoá và hội nhập kinh tế, thậm chí còn trở thành lực cản cho tiến trình này
3 Về biện pháp hạn chế những tác động tiêu cực tới các ngành kinh tế chủ chốt, Trung Quốc một mặt đẩy mạnh công cuộc cải cách cơ cấu nền kinh
tế, đặc biệt là cải cách hệ thống tài chính - tiền tệ Mặt khác, Trung Quốc cũng luôn cố gắng tận dụng những điều khoản tự vệ của WTO để bảo hộ một cách hợp lý những ngành trọng yếu của nền kinh tế Những ngành nhạy cảm như tài
Trang 40chính, Ngân hàng… được Trung Quốc tự do hoá một cách tuần tự, với những bước đi thích hợp, phù hợp với điều kiện cụ thể trong nước cũng như với nguyên tắc cơ bản của WTO
4 Về biện pháp hạn chế những tác động tiêu cực tới các vấn đề xã hội, kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy, nguồn gốc trực tiếp tác động tiêu cực đến các vấn đề xã hội khi Trung Quốc gia nhập WTO là sự khác biệt trong
cơ cấu việc làm và trình độ nguồn nhân lực Việc tự do hoá di cư lao động
và đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục tại khu vực nông thôn là giải pháp cơ bản đang được áp dụng để hạn chế tác động tiêu cực tới xã hội do việcTrung Quốc gia nhập WTO
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan Tuy nhiên, thời gian phía trước vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết Và để giải quyết những vấn đề còn tồn tại đó, đòi hỏi Chính phủ phải
có hệ thống giải pháp đồng bộ trên nhiều khía cạnh Trung Quốc đã gia nhập WTO và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Những kinh nghiệm của Trung Quốc trong thực hiện gia nhập WTO là tài liệu tham khảo hữu ích cho Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO