1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình giới thiệu các tác phẩm kinh điển triết học

116 2,6K 34
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới thiệu các tác phẩm kinh điển triết học
Tác giả Hoàng Ngọc Vĩnh
Người hướng dẫn ThS. GVC Hoàng Ngọc Vĩnh, Giám Đốc: Võ Văn Đáng, Tổng Biên Tập: Nguyễn Đức Hùng, Biên Tập: Nguyễn Kim Huy
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2005
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 759 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình giới thiệu các tác phẩm kinh điển triết học

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA -

HOÀNG NGỌC VĨNH

GIÁO TRÌNH

GIỚI THIỆU CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN TRIẾT HỌC

Nhà xuất bản Đà Nẵng

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA

THS GVC HOÀNG NGỌC VĨNH

Trang 3

GIỚI THIỆU CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN TRIẾT HỌC

THS.GVC HOÀNG NGỌC VĨNH

Chịu trách nhiệm xuất bản:

Giám đốc: VÕ VĂN ĐÁNGTổng biên tập: NGUYỄN ĐỨC HÙNGBiên tập: NGUYỄN KIM HUYBìa và trình bày: TIẾN LINH

In 1.000 cuốn, khổ 16x24 cm tại Công ty cổ phần in Thừa Thiên Huế – 57Bà Triệu-Huế Theo TNKH số 135/1834/XB – QLXB Cục xuất bản cấp ngày 17tháng 12 năm 2004 Giấy trích ngang XB số: 174-XB, của NXB Đà Nẵng cấpngày 23/3/2005 In xong nộp lưu chiểu tháng 5 năm 2005

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 4

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” CỦA C.MÁC VÀ F.ENGHEN 5

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” CỦA CÁC MÁC VÀ PHRI-ĐRÍCH ĂNG-GHEN 19

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “LUDWIG FEUER BACH - SỰ CÁO CHUNG CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC” CỦA F.ENGHEN 33

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY RINH (ĐIIH RING)” CỦA F.ENGHEN (Ông Đuy Rinh làm đảo lộn khoa học) 49

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” CỦA V I LÊNIN 67

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA F.ENGHEN 84

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “BÚT KÝ TRIẾT HỌC” CỦA V.I.LÊNIN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 5

tư liệu của cuốn “Giới thiệu và hướng dẫn nghiên cứu các tác phẩm và chuyên đề Triết học Mác - Lênin - Bộ môn Triết đại học kinh tế quốc dân 1991”.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng biên soạn theo quyết định số 3244/

GD - ĐT ngày 12/ 09/ 1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, song cuốn sách cũng không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, đọc giả xa gần để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 6

I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm.

Vào những năm 1845-1846, Tây Âu đang tiến nhanh đến một cuộc cáchmạng mới Phong trào công nhân phát triển mạnh và rộng rãi khắp châu Âunhưng chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng

Lúc này C.Mác và F.Enghen đã đi sâu vào hoạt động chính trị, hai ôngnhận thấy cần phải xây dựng một lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học để phânranh giới rõ ràng giữa hệ tư tưởng của giai cấp vô sản với hệ tư tưởng của giaicấp tư sản, tiểu tư sản, vạch con đường đi đến chủ nghĩa cộng sản một cách hiệnthực mà giai cấp vô sản đang đi vào một cách tự phát

Theo F.Enghen, lúc này (mùa xuân 1845) quan niệm duy vật ở C.Mác đãhình thành đầy đủ Hai ông nhất trí lấy quan niệm đó để phê phán toàn bộ nềnmóng triết học cổ điển Đức sau Heghen

Phê phán “Hệ tư tưởng Đức” là mục đích của tác phẩm: ”Muốn đánh giáđúng cái bịp bợm triết học đó, nó thậm chí làm thức tỉnh trong lòng người thịdân Đức trung thực một tình cảm dân tộc dễ chịu, muốn hiểu rõ tính nhỏ nhen,tính thiển cận địa phương của toàn bộ phong trào của phái Hêghen trẻ đó, và đặcbiệt muốn hiểu rõ sự trái ngược vừa bi đát vừa buồn cười giữa những chiến cônghiện thực của các vị anh hùng đó, với những ảo tưởng của họ về chính nhữngchiến công ấy thì cần phải xem xét tất cả sự ầm ĩ đó theo một quan điểm ở bênngoài nước Đức”1

“Hệ tư tưởng Đức” là tác phẩm viết chung của C.Mác và F.Enghen vàocuối giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác: Lúc mà hai ông đã khắc phục chủnghĩa duy tâm trong lĩnh vực xã hội và xây dựng những nguyên lý của chủ nghĩaduy vật, đặt nền móng triết học cho lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học

Tác phẩm này viết từ tháng 08/1845 đến tháng 05/1846 Nó gồm hai tập,nhưng nội dung quan trọng nhất của tác phẩm là ở chương 1 của tập I

- Trong tác phẩm, hai ông trình bày quan niệm duy vật lịch sử của mìnhvà đấu tranh với triết học duy tâm về lịch sử của Ludwig Feuerbach, Bauer,Xtiêc-nơ và những nhà Xã hội chủ nghĩa “chân chính”

- Nội dung của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” rất phong phú Trong đó,C.Mác và F.Enghen đã trình bày một cách rõ ràng, hoàn chỉnh những nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa duy vật về lịch sử “Hệ tư tưởng Đức” thực sự là tác phẩmlớn nhất của thời kỳ hình thành chủ nghĩa Mác (1842 - 1848)

- Thời C.Mác, tác phẩm này không được xuất bản vì bị kiểm duyệtnghiêm ngặt Nó được xuất bản lần đầu tiên tại Matxcơva năm 1932 Tại ViệtNam nó đã được tái bản bốn lần:

Lần 1 có tựa đề “Hệ tư tưởng Đức - Phần thứ nhất: Phơ bách

1 C.Mác - F.Enghen -Hệ tư tưởng Đức - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1987 - Trang 9.

Trang 7

Lần thứ hai và ba có tựa đề “Ludwig Feuerbach - Sự đối lập giữa quanđiểm duy vật chủ nghĩa và quan điểm duy tâm chủ nghĩa” (Chương 1 Hệ tưtưởng Đức)

Lần thứ tư, trước khi bước vào thời kỳ đổi mới, tác phẩm được xuất bảnvào tháng 10 / 1986, do Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội ấn hành - có tựa đề “Hệ

tư tưởng Đức - Chương 1 Ludwig Feuerbach sự đối lập giữa quan điểm duy vậtvà quan điểm duy tâm”, đúng như trong C.Mác và F.Enghen tuyển tập - Nhàxuất bản Sự Thật - Hà Nội 1980 - Tập 1 - Trang 259 đến 369

- Tất cả các lần xuất bản thành tác phẩm riêng bằng tiếng Việt và cả trongC.Mác và F.Enghen tuyển tập - Tập 1 nói trên, đều chỉ là Chương 1 trong tập Icủa tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” của C.Mác và F.Enghen

II Bố cục của tác phẩm (Tái bản 10 / 1986).

- I Phơ bách Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và duy tâm Trang 7 -9(261 - 263)

- Phơ bách A Hệ tư tưởng nói chung, hệ tư tưởng Đức nói riêng Trang

III NHỮNG NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA TÁC PHẨM.

Tác phẩm có hai nội dung chính: Phê phán triết học Đức sau Hêghen vàHệ thống quan niệm duy vật về lịch sử tương đối hoàn chỉnh của C.Mác và

F.Enghen

1 Phê phán triết học Đức sau Heghen.

- Trong tác phẩm hai ông đã chỉ rõ: Phái Heghen trẻ om sòm tự xưng làcách mạng, nhưng trên thực tế họ không vượt qua chủ nghĩa duy tâm củaHeghen Họ “tin rằng, tôn giáo, khái niệm, cái phổ biến thống trị trong thế giớihiện tại” Họ phê phán ý thức hiện nay - cái mà họ cho là sai lầm - đòi thay thế

nó bằng ý thức phê phán - những quan niệm của chính họ, nhưng trên thực tế họlà những kẻ bảo thủ, chỉ cách mạng bằng lời lẽ mà thôi: “Mặc dù họ đã dùngnhững lời lẽ khoa trương dường như làm đảo lộn thế giới, các nhà tư tưởng củaphái Hêghen trẻ vẫn là những kẻ đại bảo thủ Những người trẻ nhất trong bọn họ

đã tìm được những từ ngữ chính xác để chỉ hoạt động của họ, khi họ tuyên bố

Trang 8

rằng họ chỉ đấu tranh chống lại “những câu nói” Không một người nào trongnhững nhà triết học đó có ý nghĩ tự hỏi xem mối liên hệ giữa triết học Đức vớihiện thực Đức là như thế nào, mối liên hệ giữa sự phê phán của họ với hoàncảnh vật chất của chính bản thân họ là như thế nào”2.

Trong lĩnh vực lịch sử, hai ông chỉ rõ phái Heghen trẻ cũng như chủ nghĩaduy tâm không biết đến cơ sở hiện thực của lịch sử Theo hai ông, họ chỉ coimỗi thời đại lịch sử là thể hiện của một tư tưởng, một quan niệm nào đó Chínhthế, khi phân tích một thời đại lịch sử nào đó ở họ suy cho cùng chỉ là sự “tánđồng ảo tưởng của thời đại đó”

Hai ông hoàn thành việc phê phán phái Heghen trẻ bằng cách phân tích vàchỉ ra nguồn gốc xã hội của họ Theo hai ông, họ thuộc giai cấp thị dân Đức,một giai cấp trung gian của một nước Đức chưa từng thực hiện một cuộc cáchmạng tư sản triệt để “Triết học Đức là hậu quả của những quan hệ tiểu tư sản”.Tính nghèo nàn, bất lực của tư tưởng Đức phản ánh chính tính nghèo nàn, thảmhại của hiện thực Đức Một nước Đức phong kiến bảo thủ tồn tại bên cạnh mộtnước Pháp tư sản triệt để của một xã hội phương Tây sục sôi cách mạng tư sản

- Như nhan đề của chương 1 đã chỉ rõ, hai ông dành phần quan trọng đểphê phán Ludwig Feuerbach, vạch rõ tính duy tâm về xã hội của triết học ấy.Hai ông viết “Feuerbach không bao giờ hiểu được rằng thế giới cảm giác đượclà tổng số những hoạt động sống và cảm giác được của những cá nhân hợp thànhthế giới ấy, vì vậy ông không nhìn thấy chẳng hạn một đám người đói, còi cọc,kiệt quệ vì lao động và ho lao, chứ không phải những người khoẻ mạnh thì ôngbuộc phải lẩn trốn vào trong “quan niệm cao hơn” và trong “sự bù trừ” lý tưởng

“trong loài” nghĩa là ông lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm, đúng ở chỗ mà ngườiduy vật cộng sản chủ nghĩa nhìn thấy cả sự tất yếu lẫn điều kiện của một sự cảitạo cả nền công nghiệp lẫn cơ cấu xã hội Khi Ludwig Feuerbach là nhà duy vậtthì ông không bao giờ vận dụng đến lịch sử, còn khi ông tính đến lịch sử thì ôngkhông phải là nhà duy vật Ở Feuerbach, lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàntách rời nhau, điều này đã được nói rõ ở bên trên”3

+ Hai ông chỉ rõ, Ludwig Feuerbach duy tâm ở chỗ ông ta thừa nhận conngười là đối tượng cảm tính, một thực thể có cảm giác và tình cảm (ở điểm nàyông hơn các nhà triết học duy vật máy móc), nhưng ông ta không thấy giữangười với người một mối quan hệ nào khác ngoài tình bạn, tình yêu Thậm chíông ta coi tình bạn, tình yêu là động lực quan trọng nhất của lịch sử Cái nơi cầngiữ lập trường duy vật nhất thì ông ta lại duy tâm sa lầy trong cái trừu tượng vềcon người và không bao giờ đi tới được con người hiện thực, con người xã hội:

“Đành rằng so với những nhà duy vật thuần tuý thì Feuerbach có ưu điểm lớn làông thấy rằng con người cũng là một “đối tượng của cảm giác”; nhưng hãy gạt

bỏ việc ông coi con người chỉ là “đối tượng của cảm giác” chứ không phải là

2 Sách đã dẫn - Trang 13.

3 Sđd - Trang 33.

Trang 9

“hoạt động cảm giác được”, vì cả ở đây nữa, ông vẫn còn bám vào lý luận vàkhông xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trongnhững điều kiện sinh hoạt nhất định của họ, những điều kiện làm cho họ trởthành những con người đúng như họ đang tồn tại, thì Feuerbach cũng không baogiờ đi tới được những con người đang tồn tại và hành động thực sự, mà ông vẫn

cứ dừng lại một sự trừu tượng: “Con người” và có thể nhận ra con người ”hiệnthực, cá thể, bằng xương bằng thịt” chỉ trong tình cảm thôi, nghĩa là ông khôngbiết đến những “quan hệ con người”, “giữa người với người” nào khác, ngoàitình yêu và tình bạn, hơn nữa là tình yêu và tình bạn được lý tưởng hoá Ôngkhông phê phán những điều kiện hiện tại”4

+ Hai ông cũng chỉ rõ, thái độ tĩnh quan của Ludwig Feuerbach đã dẫnông ta đến tự nhiên chủ nghĩa về lịch sử xã hội, coi con người là sản phẩm của

tự nhiên, phục tùng những quy luật của tự nhiên, những quy luật sinh học Ông

ta chỉ thấy cái tự nhiên mà không thấy cái xã hội ở con người Ông ta đã tách rời

tự nhiên với xã hội, không thấy mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên với xãhội

Thật ra, con người không chỉ là đối tượng cảm tính mà còn hoạt động cảmtính Dĩ nhiên là từ tự nhiên tách ra con người, nhưng con người lại cải tạo tựnhiên “Bao giờ con người cũng đứng trước một giới tự nhiên lịch sử và một lịch

sử tự nhiên” Tự nhiên có vị trí ưu tiên của nó, song không thể xem nó là cái chủyếu, bất biến, không thay đổi Chính cái xã hội mới là cái cơ sở, cái tự nhiênphát triển, thành cái xã hội, trở thành cái xã hội, không biến mất mà chỉ thay đổihình thức của mình

- Quan điểm tự nhiên chủ nghĩa về lịch sử chỉ thừa nhận quy luật tự nhiên,quy luật sinh học tác động trong xã hội Quan niệm ấy luôn luôn gặp các mâuthuẫn không thể giải quyết được giữa tính quy luật khách quan và hoạt động có

ý thức của con người; hoặc quy luật tự nhiên quyết định lịch sử hay ý thức conngười quyết định lịch sử; hoặc hoàn cảnh quyết định con người hay con ngườiquyết định hoàn cảnh của họ Về điểm này, hai ông chỉ ra Ludwig Feuerbachduy tâm khi ông ta cho rằng, bản thân con người sáng tạo ra lịch sử của mình màchỉ đóng khung con người trong phạm vi thể chất, tình cảm - tức ông ta chỉ thấycái chủ quan mà không thấy cái khách quan, không thấy cái đặc thù của cáikhách quan trong lĩnh vực xã hội, không thấy cái đặc thù của quy luật xã hội(Triết học duy vật biện chứng coi con người sáng tạo ra hoàn cảnh lịch sử trongchừng mực nào, thì hoàn cảnh lịch sử cũng tạo ra con người trong chừng mựcấy) Ở đây, Ludwig Feuerbach đã thụt lùi hơn so với Heghen Heghen cho rằng,kết quả hoạt động có mục đích của con người không phụ thuộc vào bản thânhoạt động ấy, tức kết quả ấy là cái khách quan Tuy nhiên, Heghen đã giải thíchtính khách quan ấy một cách tư biện (Quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin vềcon người và bản chất con người là: Con người là một chỉnh thể thống nhất của

4 Sđd - Trang 32-33.

Trang 10

ba hệ thống các quy luật: Hệ thống các quy luật sinh học tạo nên phương diệnsinh học ở con người; Ý thức con người hình thành và hoạt động trên cơ sở nềntảng sinh học của con người; Hệ thống các quy luật xã hội tạo nên cái xã hội củacon người, nó quy định mối quan hệ giữa người với người Trong đời sống hiệnthực ba quy luật đó không tách rời nhau mà đan quyện hoà vào nhau, tạo nênbản chất con người với tư cách là cái đồng nhất của cái tự nhiên sinh học và cái

xã hội Con người trước hết là một động vật bậc cao Nhưng con vật chỉ tái sảnxuất ra chính mình, còn con người thì còn tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên.Nhu cầu tự nhiên của con người được biểu hiện ở các mặt: nhu cầu ăn, ở, mặc ;nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần, nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tìnhcảm và nhu cầu hiểu biết Để đáp ứng những nhu cầu đó con người cần phải laođộng Trong lao động con người quan hệ với nhau, hình thành nên những quanhệ khác trong lĩnh vực đời sống tinh thần Chính thế C.Mác khẳng định “trongtính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội” Bảnchất con người không là cái bẩm sinh cũng không là cái chỉ sinh ra một lần làxong, mà nó là một quá trình được trải qua hoạt động thực tiễn Trong quá trình

đó con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh vừa cải biến hoàn cảnh Con ngườivừa là sản phẩm của lịch sử vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của mình.)

+ Hai ông chỉ rõ “toàn bộ suy diễn của Ludwig Feuerbach về quan hệgiữa người với người chỉ nhằm chứng minh người ta cần có nhau và bao giờcũng cần có nhau Cũng như những nhà duy lý khác, Ludwig Feuerbach khôngphải là một nhà cách mạng, mà là một nhà bảo thủ Lý luận của LudwigFeuerbach chỉ là sự ca tụng tuyệt diệu cái đang tồn tại Ông ta viết “Bản chất củatôi như thế nào thì tồn tại của tôi như thế ấy” Cái đang tồn tại mà LudwigFeuerbach ca ngợi chính là trật tự tư sản Là người có tấm lòng nhân đạo,Ludwig Feuerbach không thể thờ ơ với cảnh khổ của người lao động Nhưng lànhà dân chủ tư sản ông ta không thể nhìn thấy được nguyên nhân của tình cảnhấy và lối thoát hợp quy luật khỏi tình cảnh đó Ông ta không có ý thức bênh vựctrật tự dân chủ tư sản, mà chính do hạn chế bản chất giai cấp của tư tưởng củaông ta tạo ra Ludwig Feuerbach không phủ định mà thừa nhận sự tồn tại của cáíđang tồn tại Mà cái đang tồn tại không là cái gì khác ngoài hơn là trật tự dânchủ tư sản

- Như vậy, hai ông đã tiến hành hai bước làm cơ sở để xây dựng quanniệm duy vật về lịch sử của mình là: Thứ nhất là phê phán chủ nghĩa duy tâm vềlịch sử của các nhà triết học duy tâm như Heghen và phái Heghen trẻ Thứ hai làphê phán chủ nghĩa duy tâm về lịch sử của các nhà triết học duy vật cũ mà đỉnhcao là Ludwig Feuerbach Đây là điểm mới trong xây dựng chủ nghĩa duy vật vềlịch sử của Mác và Ăngghen

2 Hệ thống quan niệm duy vật về lịch sử tương đối hoàn chỉnh của C.Mác

và F.Enghen trong tác phẩm.

Trang 11

Quan niệm duy vật lịch sử của C.Mac và F.Enghen có hai nội dung chính

là Tiền đề và bản chất của quan niệm duy vật lịch sử; Quan niệm duy vật về lịch

sử

a) Tiền đề và bản chất của quan niệm duy vật lịch sử của

C.Mác và F Enghen (Có năm tiền đề)

Theo C.Mác và F.Enghen, tiền đề đầu tiên của mọi lịch sử là sự tồn tại

của những cá nhân con người “người ta phải có khả năng sống để rồi mới có khảnăng làm ra lịch sử” Con người muốn tồn tại ít nhất phải ăn, ở và mặc Muốn

vậy con người phải sản xuất ra bản thân đời sống vật chất Trong sản xuất vật

chất thì sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt là tiền đề cơ bản của mọi lịch sử, nó

là sự thực lịch sử đầu tiên, là quan hệ lịch sử đầu tiên Hai ông viết “có thể phân

biệt con người với loài vật bằng ý thức, tôn giáo, nói chung bằng cái gì cũngđược Còn chính con người thì bắt đầu tự phân biệt với loài vật khi con ngườibắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình Khi sản xuất ranhững tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình con người gián tiếp sản xuất ra chínhđời sống vật chất của bản thân mình” “Người ta phải có khả năng sống đã rồimới có thể “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải cóthức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy hành vilịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy,việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất, và đó là một hành vi lịch sử, mộtđiều cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trướcngười ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ chỉ nhằm để duy trì đời sống conngười”5 Như vậy tiền đề đầu tiên của mọi lịch sử suy cho cùng là việc sản xuất

ra những tư liệu sinh hoạt.

Hai ông chỉ ra quan hệ lịch sử thứ hai là sự thoả mãn nhu cầu đầu tiên

đưa tới những nhu cầu mới Và sự sản sinh ra những nhu cầu mới này là hành vilịch sử đầu tiên Nhưng muốn thỏa mãn nhu cầu thì phải sản xuất, nhưng chínhsản xuất lại tạo ra những nhu cầu mới Đến lượt nó, những nhu cầu mới lại trở

thành nguyên nhân của sự phát triển sản xuất “Bản thân nhu cầu đầu tiên được

thoả mãn - khi đã có được hành động được thoả mãn ấy và công cụ đạt được để

thoả mãn nhu cầu ấy - đưa tới những nhu cầu mới”, chính là tiền đề quan hệ lịch

sử thứ hai, trong xây dựng quan niệm duy vật lịch sử của hai ông

Quan hệ lịch sử thứ ba là trong tái sản xuất ra đời sống vật chất của chính bản thân mình, thì con người cũng tái sản xuất ra con người thông qua quan hệ gia đình Tức là, trong khi tái sản xuất ra đời sống của chính mình, thì

con người cũng sản xuất ra những con người khác, con người luôn sinh sôi nảy

nở Khi những nhu cầu đã tăng lên sinh ra những nhu cầu mới thì quan hệ giađình cũng là một quan hệ phụ thuộc Gia đình lúc đầu là quan hệ xã hội duynhất, về sau trở thành một quan hệ phụ thuộc khi mà những nhu cầu đã tăng lên

đẻ ra những quan hệ xã hội mới và dân số đã tăng lên đẻ ra những nhu cầu mới

5 S đ d Trang 34.

Trang 12

Ba mặt đó của hoạt động xã hội là ba mặt hay ba yếu tố tồn tại đồng thời vớinhau ngay từ buổi đầu của lịch sử, từ khi con người đầu tiên xuất hiện, và chúngcòn biểu hiện ra trong lịch sử.

Thứ tư là sự sản xuất ra bản thân đời sống (vật chất) là một quan hệ hai mặt: Một mặt là quan hệ tự nhiên, một mặt là quan hệ xã hội Quan hệ tự nhiên

với ý nghĩa là hoạt động sản xuất để tái sản xuất ra đời sống vật chất Quan hệ

xã hội với ý nghĩa là hoạt động kết hợp của nhiều cá nhân bất kể trong điều kiệnnào, theo cách nào và nhằm mục đích gì Một phương thức sản xuất nhất địnhhay một giai đoạn công nghiệp nhất định bao giờ cũng thống nhất với mộtphương thức hoạt động kết hợp nhất định, một giai đoạn xã hội nhất định Tứctrong sản xuất ra đời sống, hai mặt quan hệ này là cái thống nhất với nhau trongmột phương thức sản xuất Nói cách khác, tổng hợp những sức sản xuất mà con

người đã đạt được quyết định trạng thái xã hội Quan hệ giữa sức sản xuất (hay

giai đoạn công nghiệp) với giai đoạn xã hội, trạng thái xã hội là quan hệ lịch sử thứ tư (phương thức sản xuất) “Người ta phải luôn nghiên cứu và viết lịch sử

loài người gắn liền với lịch sử của công nghiệp và trao đổi Ngay từ đầu đã cómột hệ thống những mối liên hệ vật chất giữa người với người, một hệ thốngquy định bởi những nhu cầu và phương thức sản xuất và cũng lâu đời như bảnthân loài người”6

Sau khi xem xét bốn nhân tố, bốn mặt của những quan hệ lịch sử đầu tiên

ấy mới thấy con người còn có cả ý thức nữa - “Con người có một lịch sử, vì họ

phải sản xuất ra đời sống của họ và hơn nữa lại phải sản xuất như vậy theo mộtphương thức nhất định, đó là do tổ chức thể xác của họ quy định, ý thức của họcũng bị quy định giống như vậy”7 Bởi ý thức và ngôn ngữ “chỉ sinh ra từ nhucầu, từ sự cần thiết thực sự phải giao dịch giữa người với người” Ngay từ đầu, ýthức (dù chỉ là ý thức cá nhân) đã là một sản phẩm của xã hội, là ý thức về hoàncảnh gần gủi nhất có thể cảm giác được Ý thức này ban đầu còn mang tính hạnchế động vật (do quan hệ giữa người với tự nhiên, quan hệ giữa người với ngườicòn mang tính hạn chế động vật), ý thức phát triển lên nhờ sự phát triển của sảnxuất, sự phân công của lao động Đặc biệt khi xuất hiện sự phân công lao độngvật chất với lao động tinh thần thì từ đó ý thức thực sự có thể tưởng tượng rằng

nó là một cái gì khác chứ không phải là ý thức về thực tiễn hiện có Phân tíchmối quan hệ giữa ý thức với thực tiễn, đặc biệt từ sau khi có sự phân công laođộng vật chất với lao động tinh thần, C.Mác và F.Enghen khẳng định: ý thức (lýluận) chỉ mâu thuẫn với những quan hệ hiện có khi những quan hệ xã hội hiện

có mâu thuẫn với sức sản xuất hiện có Hoạt động tinh thần không tách rời vớihoạt động vật chất Ý thức không độc lập với đời sống vật chất, mà trái lại phải

phụ thuộc vào nó Như vậy, quan hệ lịch sử thứ năm mà C.Mác và F.Enghen xét

đến là quan hệ giữa hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần; giữa đời sống vật chất và ý thức (hoạt động tinh thần, ý thức đã tách mình ra không thống

6 S đ d Trang 36.

7 S đ d Trang 37.

Trang 13

nhất với hoạt động vật chất, đời sống vật chất) Ý thức ở con người ban đầu dù

chỉ là ý thức về giới tự nhiên thì tự nó tất yếu phải quan hệ với những ngườixung quanh nó phải là một ý thức xã hội Bước đầu dù mang tính động vật thìcon người khác với động vật ở chỗ trong con người ý thức thay thế bản nănghoặc bản năng của con người là bản năng được ý thức Phân công lao động chỉtrở thành phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia thành laođộng vật chất và lao động tinh thần

C.Mac và F.Enghen đã hoàn thành việc xây dựng năm tiền đề cho quanniệm duy vật về lịch sử của mình bằng cách: Từ sản xuất mà giải thích giao dịchvật chất và giao dịch tinh thần, từ giai đoạn công nghiệp mà giải thích giai đoạn

xã hội và giai đoạn tư tưởng Chính phương thức sản xuất vật chất quyết địnhhình thức giao dịch (xã hội công dân, cơ sở của toàn bộ lịch sử), trên cơ sở đóxây dựng nên chế độ nhà nước và mọi hình thái ý thức

C.Mac và F.Enghen tom tắt “quan niệm đó về lịch sử là ở chỗ: xuất pháttừ chính ngay sự sản xuất vật chất ra đời sống trực tiếp mà xem xét quá trìnhhiện thực của sản xuất và lý giải hình thức giao dịch - tức là xã hội công dântrong các giai đoạn khác nhau của nó - gắn liền với phương thức sản xuất nhấtđịnh và do phương thức sản xuất ấy sinh ra, coi như là cơ sở của toàn bộ lịch sử.Sau đó, phải hình dung hoạt động của xã hội công dân trong lĩnh vực đời sốngnhà nước Đồng thời phải từ đó phải giải thích mọi sản phẩm lý luận khác nhauvà mọi hình thái ý thức, tôn giáo, triết học, đạo đức, v.v và theo dõi quá trìnhhình thành của chúng trên cơ sở đó Nhờ vậy mà tất nhiên có thể hình dung đượctoàn bộ quá trình trong tính hoàn chỉnh của nó.” “Quan niệm đó về lịch sửkhông đi tìm một phạm trù nào đó trong mỗi thời đại như quan niệm duy tâm vềlịch sử đã làm mà luôn luôn đứng trên miếng đất hiện thực của lịch sử; nó khôngcăn cứ vào tư tưởng để giải thích thực tiễn; nó giải thích sự hình thành của tưtưởng căn cứ vào thực tiễn vật chất; và do đó nó đi tới kết luận rằng không thểđập tan được mọi hình thái và sản phẩm của ý thức bằng sự phê phán tinh thần,bằng việc quy chúng thành tự ý thức hay biến chúng thành những “u hồn”,

“bóng ma”, “tính kỳ quặc” v.v mà chỉ bằng việc lật đổ một cách thực tiễnnhững quan hệ xã hội hiện thực đã sinh ra tất cả những điều nhảm nhí duy tâmđó; Rằng không phải sự phê phán mà cách mạng mới là động lực của lịch sử,của tôn giáo, của triết học và của mọi lý luận khác”8

Bản chất của quan niệm duy vật lịch sử của C.Mac và F.Enghen là khôngxuất phát từ tư tưởng để giải thích thực tiễn, mà giải thích sự hình thành của tưtưởng từ thực tiễn vật chất Tư tưởng phụ thuộc vào hoạt động vật chất và hoạtđộng giao dịch vật chất Ý thức không là cái gì khác hơn cái tồn tại được ý thức(tồn tại của con người là quá trình hiện thực đời sống của con người) Ý thức làphản ánh, là tiếng vọng về mặt tư tưởng của quá trình sinh hoạt Chính đời sốngcon người quyết định ý thức của họ chứ không phải ngược lại “Trong mọi thời

8 S đ d Trang 55

Trang 14

đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị, nói mộtcách khác giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lựclượng tinh thần thống trị Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chấtthì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung

tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bịgiai cấp thống trị đó chi phối Những tư tưởng thống trị không phải là cái gìkhác, mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị,chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tưtưởng; Do đó là sự biểu hiện của chính ngay những quan hệ làm cho một giaicấp trở thành giai cấp thống trị; nói cách khác đó là những tư tưởng của sự thốngtrị của giai cấp ấy.”9

b) Quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mac và F.Enghen

1- C.Mac và F.Enghen xuất phát từ sản xuất vật chất mà lý giải “hình thứcgiao dịch” Hai ông đã phân tích quá trình sản xuất vật chất từ chiếm hữu nô lệđến tư bản chủ nghĩa rồi phát hiện ra: Trình độ phát triển của sức sản xuất biểuhiện trong trình độ phát triển của phân công lao động, mà mỗi giai đoạn củaphân công lao động cũng quyết định những quan hệ cá nhân với nhau phù hợpvới những quan hệ của họ đối với tư liệu, công cụ và sản phẩm lao động Haiông kết luận: Sức sản xuất (lực lượng sản xuất) quyết định hình thức giao dịch(quan hệ sản xuất) Cốt lõi của quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu Hai ông đãrút ra từ trong mối quan hệ xã hội muôn màu muôn vẻ cái cơ bản nhất quyếtđịnh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất là quan hệ sảnxuất (quan hệ sản xuất được hai ông gọi là hình thức giao dịch, hay quan hệ giaodịch, hay phương thức giao dịch, hay quan hệ sản xuất và giao dịch) Quan hệsản xuất là mối quan hệ cơ bản nhất, quyết định nhất bởi lẽ nó trực tiếp quyếtđịnh toàn bộ kết cấu bên trong của một dân tộc Tức là, hai ông đã quy toàn bộquan hệ xã hội (quan hệ giữa người với người trên cả hai bình diện vật chất vàtinh thần) về sự quyết định của quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với ngườitrong quá trình sản xuất vật chất), và khẳng định quan hệ sản xuất là yếu tốquyết định toàn bộ kết cấu của đời sống xã hội

2- C.Mac và F.Enghen cũng khẳng định, hình thức giao dịch (quan hệ sảnxuất) - mà cốt lõi là hình thức sở hữu (quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất) -quyết định kết cấu bên trong của xã hội Đó là kết cấu giai cấp trong xã hội cógiai cấp Hai ông viết: “Cho đến nay, xã hội bao giờ cũng phát triển trong khuônkhổ đối lập, thời cổ đại là sự đối lập giữa công dân tự do và nô lệ, thời trung cổlà sự đối lập giữa quý tộc và nông nô, thời đại mới là giữa tư sản và vô sản.”

3- Theo hai ông, sự đối lập giai cấp tạo nên cơ sở thực tế của nhà nước.Nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc giai cấp thống trị dùng để thực hiệnlợi ích chung của họ và là hình thức trong đó toàn bộ xã hội công dân của mộtthời đại được biểu hiện một cách tập trung Nhà nước là con đẻ của chế độ tư

9 S đ d Trang 64 - 65.

Trang 15

hữu Pháp luật cũng là con đẻ của chế độ tư hữu Tức các ông đã khẳng định chếđộ tư hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất là nguồn gốc thực sự của Nhà nước.

- Các tiền bối trước C.Mac và F.Enghen đã thấy nhà nước và pháp luật lànhững công cụ bạo lực, cần thiết cho lợi ích chung, thể hiện ý chí chung củatoàn xã hội (ví như Tômát Hốpxơ (1588-1679) chẳng hạn) Hai ông gạt bỏ quanniệm chung chung ấy của giai cấp tư sản về nhà nước và pháp luật mà chỉ rõ bảnchất giai cấp của nó Nhà nước chỉ là cái vẻ bề ngoài là hình thức tập thể Nó làtập thể giả tạo, trong đó “tự do cá nhân chỉ tồn tại đối với những cá nhân đã pháttriển trong khuôn khổ của giai cấp thống trị và trong chừng mực họ là những cánhân của giai cấp ấy , đối với giai cấp bị trị nó không những là tập thể hoàntoàn ảo tưởng mà còn là những xiềng xích” C.Mac và F.Enghen rút ra kết luậncực kỳ quan trọng: giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị thì trước tiên giai cấpấy phải nắm lấy chính quyền để có thể nêu ra lợi ích của bản thân mình như làlợi ích phổ biến

- Vạch ra bản chất giai cấp của nhà nước, C.Mac và F.Enghen cũng vạch

rõ bản chất giai cấp các hệ tư tưởng, chỉ rõ sự khác biệt giữa hệ tư tưởng củagiai cấp thống trị với hệ tư tưởng của giai cấp cách mạng “Tư tưởng của giaicấp thống trị là tư tưởng thống trị trong mỗi thời đại” Điều đó có nghĩa là giaicấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì đồng thời là lực lượngthống trị tinh thần trong xã hội Hệ tư tưởng của mỗi giai cấp là phản ánh tồn tại

xã hội của giai cấp đó vào ý thức chủ quan của nó, là biểu hiện chủ quan của tồntại khách quan của nó Sự tồn tại của những tư tưởng cách mạng trong mỗi thờiđại nhất định phải đã có sự tồn tại của giai cấp cách mạng làm tiền đề

4- C.Mac và F.Enghen đã nêu ra và chứng minh rằng, tồn tại xã hội quyếtđịnh ý thức xã hội

- Quan niệm duy tâm cho rằng dường như mỗi giai đoạn lịch sử có những

tư tưởng nào đó thống trị xã hội vì nó chính xác hơn, hợp lý hơn

- Hai ông bác bỏ quan niệm đó và chỉ ra rằng, mỗi giai cấp mới thay thếcho giai cấp thống trị cũ, bao giờ cũng buộc phải nêu lợi ích của bản thân mìnhthành lợi ích chung của toàn xã hội Nói một cách trừu tượng là làm cho những

tư tưởng của bản thân mình mang hình thức phổ biến, nêu nó thành tư tưởng duynhất hợp lý, có ý nghĩa phổ biến Sở dĩ như thế là vì, ban đầu lợi ích của nó gắnliền với lợi ích của các giai cấp bị trị chưa phát triển thành lợi ích riêng biệt củamột giai cấp riêng biệt được

5- Xuất phát từ sự phát triển sức sản xuất biểu hiện trong trình độ củaphân công lao động, C.Mac và F.Enghen chỉ ra các hình thức sở hữu trong lịch

sử rằng: “Những giai đoạn khác nhau của phân công lao động đồng thời cũng lànhững hình thức khác nhau của sở hữu” Tức tương ứng với những giai đoạnkhác nhau của phân công lao động là những hình thức sở hữu tư liệu sản xuấtkhác nhau ứng với nó

Trang 16

- Hình thức sở hữu đầu tiên là sở hữu thị tộc Đây là hình thức sở hữu tậpthể (công xã) phù hợp với giai đoạn chưa phát triển sản xuất, con người cònsống nhờ săn bắn, chăn nuôi và nhiều lắm là trồng trọt Chế độ nô lệ gắn liền vớigia đình phụ quyền đã nảy sinh trong lòng nó hình thức sở hữu tư nhân dướihình thức che dấu.

- Hình thức sở hữu thứ hai là hình thức sở hữu công xã - nhà nước cổ đại.Trong nó, bên cạnh sở hữu công xã đã phát triển sở hữu tư nhân về động sản vàsau nữa là bất động sản Tùy theo sự phát triển của sở hữu tư nhân mà quan hệgiai cấp trong xã hội nô lệ phát triển đến hoàn bị

- Hình thức sở hữu thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp là sởhữu ruộng đất đối lập giữa quý tộc và nông nô trên địa bàn nông thôn Phù hợpvới hình thức sở hữu này là chế độ phường hội ở thành thị trong công nghiệp thủcông

- Hai ông đã chỉ ra một cách sâu sắc những đặc điểm cơ bản của ba loạiquan hệ sản xuất trước tư bản chủ nghĩa và dành nhiều trang để phân tích sự rađời của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: Sự phát triển của thương nghiệp sinh

ra tư bản lưu thông khác với tư bản tự nhiên phường hội; Các thành thị đượcchuyên môn hóa sản xuất làm nảy sinh công trường thủ công: quan hệ hàng tiềnthay thế cho quan hệ gia trưởng giữa thợ cả và thợ bạn; Máy móc xuất hiện làmnảy sinh thị trường thế giới; Công nghiệp lớn ra đời sinh ra tư bản hiện đại tạo ra

ở khắp nơi những quan hệ giống nhau là sự đối lập giữa tư sản và vô sản

Nhờ sự phân tích “kể từ thời trung cổ, sở hữu thị tộc trải qua nhiều giaiđoạn khác nhau - sở hữu ruộng đất phong kiến sở hữu động sản phường hội, tưbản công trường thủ công - trước khi chuyển hoá thành tư bản hiện đại thành

sở hữu tư nhân thuần tuý”, hai ông là người đầu tiên đã vạch rõ rằng: Lịch sử làlịch sử nối tiếp những hình thức sở hữu - tức là những quan hệ sản xuất - khácnhau, những quan hệ này phụ thuộc vào những phương thức tiến hành lao độngnông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp (gia trưởng, đẳng cấp nô lệ, giaicấp) Khi phân tích xã hội tư bản, hai ông đã chỉ ra mâu thuẫn giữa lực lượngsản xuất và quan hệ sản xuất ngày càng quyết liệt dẫn đến nổ ra các cuộc cáchmạng thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với tínhchất và trình độ của lực lượng sản xuất đang phát triển là động lực sâu xa nhất -động lực kinh tế - của những biến đổi trong lịch sử, là nguồn gốc cơ bản của lịch

sử (sự phát triển của lực lượng sản xuất là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổiquan hệ sản xuất, nó là động lực kinh tế, là nguồn gốc cơ bản của lịch sử)

6- C.Mac và F.Enghen chỉ ra những đặc điểm của phân công lao độngtrong xã hội có giai cấp:

- Phân công lao động luôn gắn liền với chế độ tư hữu Là sự phân cônglao động ngay từ đầu đã bao hàm sự phân chia không đồng đều về những điềukiện của lao động, là sự tách rời giữa lao động tích lũy và lao động thực tại, do

Trang 17

vậy cũng bao hàm luôn cả sự phân phối không đồng đều những sản phẩm củaquá trình lao động tạo ra Theo nghĩa đó, phân công lao động chỉ trở thành phâncông lao động thực sự khi hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất, hưởng thụvà lao động, sản xuất và tiêu dùng được chia phần cho những cá nhân khác

nhau Tư hữu như vậy là hậu quả của phân công lao động Tư hữu chính là

quyền chi phối sức lao động của người khác (Nhưng tư hữu không phải là sở

hữu cá nhân Bộ áo quần của cá nhân là sở hữu tư nhân chứ không là tư hữu, bởibộ áo quần cá nhân không cho cá nhân khả năng sử dụng bất kỳ một lực lượnglao động nào dù là nhỏ nhất của kẻ khác Ở đây cũng cần phải lưu ý phân biệt vàkhông bao giờ được nhầm lẫn rằng: xoá bỏ tư hữu cũng là xoá bỏ sở hữu tưnhân Chúng ta đang dần xóa bỏ tư hữu đối với tư liệu sản xuất, nhưng khôngxóa bỏ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất Bởi lẽ, người lao động nếu khôngđược sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất thì không thể tiến hành sản xuất vậtchất được.)

- Chính phân công lao động đã hình thành sự giao dịch giữa lợi ích cánhân với lợi ích chung C.Mac và F.Enghen chỉ ra trong xã hội có giai cấp, lợiích chung dưới dạng nhà nước chỉ là một hình thức cộng đồng ảo tưởng, vì nó làcông cụ bảo vệ lợi ích chỉ cho giai cấp thống trị Chính vậy, nhà nước - cái “xalạ không phụ thuộc” vào cá nhân - trở nên cần thiết để trấn áp những lợi íchriêng biệt luôn luôn thực sự chống lại những lợi ích chung và chung một cách ảotưởng

- Phân công lao động trong xã hội có giai cấp đẻ ra tình hình: hành độngcủa con người trở nên một lực lượng xa lạ, chống đối chính con người, nô dịchcon người chứ không phải con người thống trị nó Con người bị cột chặt vào mộtnghề lao động bó buộc Ở đây con người cũng phụ thuộc vào giai cấp, tư cách cánhân của mỗi con người bị ràng buộc bởi tư cách cá nhân giai cấp (cái hoàn toànngẫu nhiên ở bên ngoài ý muốn con người) Quan hệ giữa người và người trong

xã hội lẽ ra chỉ là hoạt động kết hợp của họ lại với nhau và không phụ thuộc vào

ý chí của họ, thì phân công lao động trong xã hội có giai cấp lực lượng xã hội do

họ tạo ra đã trở thành lực lượng xa lạ ở bên ngoài và thống trị lại chính conngười Đó là sự tha hóa của hoạt động xã hội

- C.Mac và F.Enghen kết luận: Sự phân công lao động không xảy ra mộtcách tự nguyện mà xảy ra một cách tự phát đã dẫn đến hậu quả các hoạt độngcủa con người bị tha hóa Nguyên nhân của sự tha hóa đó chính là sự phân cônglao động gắn liền với tư hữu Muốn khắc phục tình trạng tha hóa đó phải tiếnhành cách mạng vô sản, xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu thựchiện chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản

- Chủ nghĩa cộng sản xoá bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu,buộc lực lượng vật chất do lao động tạo ra chịu sự kiểm soát của con người,phục tùng con người Chủ nghĩa cộng sản xoá bỏ sự đối lập giữa cá nhân và tậpthể, nó là tập thể thực sự Trong đó mỗi cá nhân có khả năng phát triển toàn diện

Trang 18

những năng khiếu của mình, ở đây các cá nhân đạt đến tự do đồng thời với sựkết hợp của họ, và nhờ vào sự kết hợp ấy Chủ nghĩa cộng sản loại bỏ tính tựphát của quá trình tiến hoá lịch sử mà nhảy vọt từ thế giới tất yếu sang thế giới

tự do Dưới chủ nghĩa cộng sản mọi tư liệu sản xuất đều thuộc công hữu của xãhội, mọi tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đều bị xoá bỏ

7- Cuối cùng hai ông chỉ ra tính tất yếu của cách mạng Xã hội chủ nghĩa:

- Theo hai ông, cách mạng Xã hội chủ nghĩa có hai tiền đề thực tiễn: Mộtlà, đông đảo quần chúng trở thành những người không có sở hữu đối lập với cáithế giới đương thời đầy của cải và học thức (sự tha hóa đã trở thành một lựclượng không thể chịu đựng được, một lực lượng mà người ta phải làm cáchmạng để chống lại nó) Tức, về xã hội là mâu thuẫn đối kháng ngày càng quyếtliệt giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động; Hai là, sựphát triển của sức sản xuất làm cho sản xuất và giao dịch có tính chất thế giới,lịch sử biến thành lịch sử thế giới Tức, sự phát triển của đại công nghiệp đã tạo

ra một lực lượng sản xuất có tính chất thế giới thì tất yếu với nó phải là mộtquan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất mang tính công cộng

Theo C.Mac và F.Enghen cả hai tiền đề này đều đã có cùng với sự phâncông lao động rộng nhất (đại công nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản) Ở đó, một mặtsức sản xuất vật thể hóa (tư hữu) với những người lao động bị tách rời khỏi sứcsản xuất ấy là rất sâu sắc Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã xóa bỏnhững hàng rào dân tộc, tạo ra thị trường thế giới, nền sản xuất thế giới, sự phụthuộc toàn diện của các cá nhân vào lực lượng tự phát có khả năng biến thành sựkiểm soát toàn diện và sự thống trị có ý thức đối với các lực lượng tự phát ấy.Chính ở đây, chủ nghĩa xã hội không còn là một tình trạng cần thiết lập, khônglà một lý tưởng mà là một tình trạng hiện thực phải khuôn theo

- Hai ông cũng phân biệt sự khác nhau về nguyên tắc giữa chủ nghĩa xãhội khoa học với chủ nghĩa xã hội không tưởng về việc xóa bỏ tình trạng hiệnthực hiện nay Người không tưởng lên án chủ nghĩa tư bản như là một xã hộikhông có đạo đức đồng thời lên án cả đấu tranh giai cấp (tức lên án phong tràođấu tranh của giai cấp công nhân), tưởng tượng và miêu tả rất tỷ mỷ về chủnghĩa cộng sản C.Mac và F.Enghen chỉ vạch ra những nét cơ bản về chủ nghĩacộng sản và chứng minh rằng tiền đề vật chất (giai cấp công nhân và nền sảnxuất đại công nghiệp) của những nét cơ bản đó đã hình thành trong lòng xã hội

tư bản Chủ nghĩa cộng sản là khuynh hướng phát triển hiện thực của lịch sử thếgiới

8- Từ toàn bộ quan niệm duy vật lịch sử đó, C.Mac và F.Enghen đưa rabốn kết luận:

1 Lực lượng sản xuất đã phát triển đến một trình độ, mà quan hệ sản xuấtbắt đầu kìm hãm sự phát triển đó, gắn liền với nó giai cấp vô sản ra đời và phát

Trang 19

triển đối lập quyết liệt với trật tự hiện có và có ý thức về cuộc cách mạng cơbản, ý thức cộng sản.

2 Cho đến nay, lực lượng sản xuất vận động trong điều kiện thống trị củamột giai cấp nhất định, biểu hiện trong hình thức nhà nước nên bất cứ cuộc cáchmạng nào cũng nhằm chống lại giai cấp thống trị cũ

3 Cách mạng Xã hội chủ nghĩa khác về chất so với các cuộc cách mạngkhác trong lịch sử trước nó: nó xóa bỏ tư hữu và xóa bỏ giai cấp

4 Cách mạng Xã hội chủ nghĩa không chỉ xóa bỏ quan hệ kinh tế cũ,quan hệ chính trị cũ mà còn cải tạo đông đảo quần chúng kể cả giai cấp vô sản

Do đó cách mạng là cần thiết không chỉ vì chỉ có cách mạng mới lật đổ đượcgiai cấp thống trị cũ, mà còn vì chỉ có cách mạng giai cấp lật đổ mới có thể dứt

bỏ khỏi bản thân mình mọi sự thối nát cũ và trở thành có năng lực tạo ra cơ sởmới của xã hội

Với bốn kết luận đó, hai ông đã chứng minh rằng: quan niệm duy vật vềlịch sử tất nhiên dẫn đến kết luận cộng sản chủ nghĩa Kết luận cộng sản chủnghĩa là hệ quả đương nhiên của quan niệm duy vật về lịch sử

Bác lại luận điểm của Stiếcne đòi giai cấp vô sản phải tự cải tạo mìnhtrước khi cải tạo xã hội, C.Mac và F.Enghen cho rằng: chỉ có tiến hành cải tạo

xã hội thì giai cấp vô sản mới có thể cải tạo mình một cách triệt để Chỉ trongnhững hoàn cảnh biến đổi thì người vô sản mới không còn như cũ và đầy quyếttâm làm biến đổi hoàn cảnh ngay khi nào có khả năng đầu tiên Trong hoạt độngcách mạng, sự biến đổi bản thân mình trùng với sự cải tạo hoàn cảnh Quanđiểm cách mạng triệt để này, đối lập với mọi quan điểm tiểu tư sản sẵn sàngđiều hoà giai cấp hoặc lẩn tránh cách mạng

Câu hỏi ôn tập:

1- Những nội dung triết học cơ bản của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”?2- Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mac và F.Enghen đã phêphán những hạn chế của phái Hêghen trẻ như thế nào?

Trang 20

3- Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mac và F.Enghen đã chỉ rõchủ nghĩa duy tâm của Phơ Bách biểu hiện ở những mặt nào?

4- Những tiền đề xuất phát của quan niệm duy vật lịch sử của C.Macvà F.Enghen trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” là gì?

5- Những nội dung cơ bản của quan niệm duy vật về lịch sử củaC.Mac và F.Enghen trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” là gì?

6- Nêu và phân tích bốn kết luận quan trọng của C.Mac và F.Enghen

về chủ nghĩa cộng sản trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”?

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” CỦA CÁC MÁC VÀ PHRI-ĐRÍCH ĂNG-GHEN

“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong khotàng của lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại này, đánhdấu sự thành công về cơ bản lý luận của chủ nghĩa Mác bao gồm ba bộ phận hợpthành là Triết học, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa Cộng sản khoa học

Tác phẩm này không chỉ là tác phẩm quan trọng trong kho tàng lý luậncủa chủ nghĩa Mác-Lênin, mà còn là cương lĩnh chính trị của phong trào cộngsản và công nhân quốc tế Nó tập trung luận giải vai trò lịch sử của giai cấp vôsản, tính tất yếu và những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản Nó là kim chỉnam cho hành động của toàn bộ phong trào công nhân và cộng sản quốc tế Làngon cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trongcuộc đấu tranh chống chủ nghiã tư bản, giải phóng loài người vĩnh viễn thoátkhỏi mọi ách áp bức bóc lột giai cấp, bảo đảm cho loài người thực sự sống trong

tự do, hoà bình, hạnh phúc

I HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM.

1 Hoàn cảnh ra đời:

Giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến trình độ khá cao.Cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp ở các nước tư bản châu Âu, giaicấp công nhân hiện đại đã ra đời và sớm bước lên vũ đài chính trị đấu tranhchống lại giai cấp tư sản Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ởthành phố Li-ông (Pháp) năm 1831, vùng Xi-li-di (Đức) năm 1834 và phongtrào có quy mô toàn nước Anh kéo dài 10 năm từ 1838 - 1848 Tuy nhiên, cáccuộc đấu tranh của phong trào công nhân đến cuối giữa thế kỷ XIX vẫn luôn thấtbại trước sự đàn áp của giai cấp tư sản

Thực tế đó, chứng tỏ sự lớn mạnh của phong trào công nhân đòi hỏi bứcthiết phải có một lý luận soi đường và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ namcho hành động cách mạng thực sự khoa học và cách mạng

Trang 21

Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1847, Đại hội lần thứ hai của ‘Đồngminh những người cộng sản’ đã thảo luận và thông qua những nguyên lý củaCHỦ NGHĨA CỘNG SẢN do C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày, bảo vệ; đồngthời đã uỷ thác cho C.Mác và Ph.Ăngghen viết “Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản” Tác phẩm được ra mắt đầu tiên vào ngày 18 tháng 3 năm 1848 (trùng ngàynổ ra các cuộc cách mạng ở Mi-Lan và Béc-Linh).

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời không những là sản phẩm củatrình độ chín muồi của những điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội đương thờimà còn là sự kết tinh những tinh hoa trí tuệ loài người, là công lao sáng tạo củaC.Mác và Ph.Ăngghen Sự ra đời của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đánhdấu một bước chuyển lịch sử của phong trào công nhân quốc tế: Kể từ đây, giaicấp công nhân với tư cách là một lực lượng xã hội độc lập, giai cấp vô sản hiệnđại tiến hành cuộc đấu tranh tự giải phóng, đồng thời giải phóng cho nhân loạivĩnh viễn thoát khỏi tình trạng áp bức và bóc lột giai cấp

2 Ý nghĩa của tác phẩm

Hiện nay có một số ý kiến của giai cấp tư sản và những người phi mác-xítnhằm phủ nhận giá trị của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, nhưng từ khi rađời cho đến nay đã trãi qua hơn 156 năm, nó vẫn còn nguyên giá trị lịch sử vàcách mạng của nó:

- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là văn kiện mang tính cương lĩnh củaphong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nó đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩaMác-Lênin Tuy chỉ là một tập sách nhỏ chưa đầy 100 trang, nhưng chứa đựngtri thức đồ sộ bằng nhiều bộ sách Khi nghiên cứu “Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản” cần phải nghiên cứu những lời tựa C.Mác và Ph.Ăngghen viết cho nhữnglần xuất bản sau 1848

- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” có những giá trị lâu dài sau: Lần đầutiên trong lịch sử tư tưởng, triết học, sử học xuất hiện một quan niệm khoa họcvà có hệ thống về lịch sử phát triển của xã hội loài người, về những động lực củaphát triển lịch sử Hai ông đã xuất phát từ sự vận động của đời sống kinh tế-xãhội mà phân tích xã hội và xuất phát từ kinh tế-xã hội mà phân tích chính trị vàvăn hoá Tuyên ngôn đã chỉ ra những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng áp dụng triệt để trong lĩnh vực lịch sử, từ đó chỉ ra quy luật chungcủa sự phát triển của xã hội loài người Đây là cơ sở lý luận, phương pháp luậncủa chủ nghĩa Mác-Lênin Học thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế-xã hội đếnnay vẫn giữ nguyên giá trị

+ Bằng thế giới quan khoa học, bằng phương pháp luận duy vật biệnchứng, hai ông đi sâu phân tích những quy luật vận động của xã hội tư bản, vạch

ra quy luật vận động kinh tế của xã hội tư bản là quy luật giá trị thặng dư, cũngtức là vạch ra bản chất của chủ nghĩa tư bản “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”khẳng định tính tất yếu về mặt lịch sử của sự hình thành và phát triển của chủ

Trang 22

nghĩa tư bản, đồng thời vạch ra những mâu thuẫn nội tại của chủ nghiã tư bản,phân tích những cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, khẳngđịnh cuộc đấu tranh này sẽ dẫn đến kết quả: Xã hội tư bản sẽ bị thay thế bằngmột xã hội khác tiến bộ hơn, phát triển hơn, đó là xã hội cộng sản.

+ Hạt nhân chủ đạo của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là: Phươngthức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi cùng với cơ cấu xã hội do phươngthức đó quyết định đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch

sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại Do đó toàn bộ lịch sử của nhân loại cógiai cấp là lịch sử của đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa những giai cấp bóc lộtvà những giai cấp bị bóc lột, giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị áp bức Giaicấp vô sản không thể tự giải phóng mình, nếu không đồng thời giải phóng toàn

xã hội, giải phóng con người khỏi ách bóc lột, áp bức, khỏi tình trạng phân chiagiai cấp và áp bức giai cấp Tức giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giảiphóng nhân loại đồng thời đều là sứ mệnh của giai cấp công nhân

+ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” chủ trương xây dựng một xã hộiCộng sản thay thế xã hội Tư bản, đó là một xã hội công bằng, nhân đạo, khôngcòn tình trạng người áp bức, bóc lột người Xã hội Cộng sản là một liên hợptrong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cảmọi người Mục đích đó của CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN không phải là mongmuốn chủ quan mà là chiều hướng khách quan của sự phát triển của lịch sử Một

xã hội phát triển cao như vậy không thể được hình thành một cách dễ dàng, tựphát, mà phải trải qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa: Lật đổ sự thống trị củagiai cấp tư sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải dành được chínhquyền, xây dựng và sáng tạo ra xã hội mới cao hơn, tiến bộ hơn xã hội tư bản vềmọi phương diện

+ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” và các tác phẩm khác của hai ông đề

ra các vấn đề chiến lược, sách lược chủ yếu về hình thức, phương pháp, về conđường quá độ từ xã hội cũ lên xã hội mới Hai ông chỉ rõ thái độ khoa học,phương pháp luận duy vật biện chứng trong nghiên cứu, vận dụng các tư tưởng,luận điểm, kết luận trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”

3 Những tư tưởng cơ bản của tác phẩm.

Một là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định hai nguyên lý củachủ nghĩa Mác: Phương thức sản xuất và trao đổi kinh tế cùng với cơ cấu xã hộicủa phương thức đó quyết định sự sự hợp thành nền tảng của xã hội; Lịch sửphát triển của xã hội có giai cấp là lịch sử của đấu tranh giai cấp

Hai là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định giai cấp vô sản chỉ

có thể tự giải phóng khỏi tình trạng bị áp bức bóc lột, nếu đồng thời và vĩnh viễngiải phóng toàn bộ xã hội khỏi tình trạng bị áp bức bóc lột, phân chia giai cấp vàđấu tranh giai cấp

Trang 23

Ba là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” công khai trình bày trước toànbộ thế giới về chiến lược, sách lược của Đảng Cộng sản và đập tan những hưtruyền về “bóng ma cộng sản” mà các thế lực chính trị phản động đang loantruyền ở châu Âu lúc bấy giờ.

Bốn là, Từ khi ra đời cho đến nay đã trên 156 năm, “Tuyên ngôn củaĐảng Cộng sản” luôn là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hành động củaphong trào cộng sản và công nhân thế giới, nó soi sáng con đường tiến lên củacách mạng thế giới Đồng thời, mỗi thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh của giaicấp công nhân và nhân dân lao động thế giới lại càng khẳng định tính chất khoahọc và cách mạng, và làm phong phú thêm những tư tưởng thiên tài của C.Mácvà Ph.Ăngghen đã nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”

II BỐ CỤC CỦA TÁC PHẨM (cuốn tái bản năm 1976).

“Các lời tựa 1872, 1882, 1883, 1888, 1890, 1892, 1893” Trang 7 đếntrang 42

“Tư sản và vô sản” trang 42 đến 66

“Những người vô sản và những người cộng sản” trang 66 đến trang 81

“Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghiã” trang 81 đến trang 99

“Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập” trang 99đến trang 102

III NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CÁC CHƯƠNG, MỤC CỦA TÁC PHẨM.

1 Các lời tựa.

Các lời tựa của C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến hai nội dung chính: Một là, hai ông khẳng định “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là Cươnglĩnh của ‘Đồng minh những người Cộng sản’ công bố công khai với toàn thếgiới những nguyên lý của Đảng Cộng sản Bản Cương lĩnh này gọi là “Tuyênngôn của Đảng Cộng sản” mà không gọi là “Tuyên ngôn xã hội chủ nghĩa” là đểphân biệt tính chất giai cấp của phong trào cộng sản với các trào lưu xã hội chủnghĩa đương thời

Hai là, với tư cách là một cương lĩnh của Đảng Cộng sản, về mặt lý luận

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” trình bày thế giới quan của giai cấp vô sản vềđấu tranh giai cấp, cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản; thuyết minh sựdiệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, vai trò của giai cấp vô sản; phân địnhranh giới giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với các trào lưu xã hội chủ nghĩa khác(chủ nghĩa xã hội không tưởng)

Trang 24

Về mặt chỉ đạo thực tiễn, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” nêu lênnhững nhiệm vụ và những biện pháp cụ thể để thực hiện bước quá độ từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; những nguyên lý sách lược và thái độ củaĐảng Cộng sản đối với các Đảng Xã hội-Dân chủ Nhiệm vụ của “Tuyên ngôncủa Đảng Cộng sản” là tuyên bố sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng tất yếunhư sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản hiện đại là người có sứmệnh đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội, chủ nghĩa cộng sản

Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1872, C.Mác vàPh.Ăngghen viết: “Mặc đầu hoàn cảnh đã thay đổi nhiều trong mười lăm nămqua, nhưng cho đến nay, xét về đại thể, những nguyên lý tổng quát trình bàytrong Tuyên ngôn này vẫn còn hoàn toàn đúng Ở đôi chỗ, có một vài chi tiếtcần phải xem lại Chính ngay Tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ởđâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàncảnh lịch sử đương thời, và do đấy, không nên quá câu nệ những biện pháp cáchmạng nêu ra ở cuối chương II Và cũng hiển nhiên là những nhận định về tháiđộ của người cộng sản đối với các đảng đối lập (chương IV) nếu cho đến nayvẫn còn đúng trên những nét cơ bản thì trong chi tiết, những nhận định ấy đã cũrồi, vì tình hình chính trị đã hoàn toàn thay đổi và sự tiến triển lịch sử đã làmtiêu tan phần lớn những đảng được kể ra trong đó.”10

Trong lời tựa viết cho bản tiếng Nga xuất bản năm 1882 C.Mác vàPh.Ăngghen đã chỉ ra, nếu Tuyên ngôn được xuất bản bằng tiếng Nga vào đầunhững năm 60 giỏi lắm chỉ là một của lạ về văn chương mà thôi, thì tình hìnhngày nay không còn như thế nữa Bởi lẽ, “Trong cuộc cách mạng 1848-1849,bọn vua chúa ở châu Âu cũng hệt như giai cấp tư sản châu Âu, đều coi sự canthiệp của nước Nga là phương tiện duy nhất để cứu thoát chúng thoát khỏi taygiai cấp vô sản vừa mới bắt đầu giác ngộ về lực lượng của mình Chúng tôn NgaHoàng làm trùm phe phản động châu Âu Hiện nay Nga Hoàng, ở Ga-tsi-na, đãlà tù binh của cách mạng, và nước Nga đang đi tiên phong trong phong trào cáchmạng châu Âu”11 “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ngày nay ở Nga có nhiệmvụ tuyên bố diệt vong không tránh khỏi và sắp xảy ra của chế độ sở hữu tư sản

Sau khi phân tích những thay đổi cơ bản của xã hội Nga, C.Mác vàPh.Ăngghen tiên đoán tài tình rằng “nếu cách mạng Nga báo hiệu một cuộc cáchmạng vô sản ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhauthì chế độ ruộng đất công cộng ở Nga hiện nay sẽ có thể là khởi điểm của một

sự tiến triển cộng sản chủ nghĩa.”12

Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1883, Ph.Ăngghen chỉ

ra, do C.Mác đã mất nên không thể nói đến việc sửa lai hay bổ sung Tuyên ngôn

10 C.Mác và F.Enghen - Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội 1976 - trang 8, 9.

11 S đ d trang 11, 12.

12 S đ d trang 12.

Trang 25

nữa Ph.Ăngghen khẳng định: “Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của Tuyên ngôn là:trong mỗi thời đại lịch sử sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếuphải do sản xuất kinh tế mà ra - cả hai cái đó cấu thành cơ cấu của lịch sử chínhtrị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy: do đó (từ khi chế độ công hữu ruộng đấtnguyên thủy tan rã), toàn bộ lịch sử là lịch sử các cuộc đấu tranh giai cấp, đấutranh giữa những giai cấp bị bóc lột và những giai cấp đi bóc lột, giữa nhữnggiai cấp bị trị và những giai cấp thống trị, qua các giai đoạn của sự phát triển xãhội của họ; nhưng cuộc đấu tranh ấy hiện nay đã đến một giai đoạn mà giai cấpbị bóc lột và giai cấp bị áp bức (tức giai cấp vô sản) không còn có thể tự giảiphóng khỏi tay giai cấp bóc lột và áp bức mình (tức giai cấp tư sản) được nữa,nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóc lột,ách áp bức và khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp - Tư tưởng chủ chốt ấy hoàntoàn và tuyệt đối là của C.Mác”13

Trong lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, sau khi chỉ ra sự

ra đời và sức sống của Tuyên ngôn trên thế giới, Ph.Ăngghen giải thích, sở dĩtên gọi của Tuyên ngôn là “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” mà không gọi là

“Tuyên ngôn xã hội chủ nghĩa” là để phân biệt đây là tuyên ngôn của giai cấp vôsản giác ngộ chứ không là khát vọng không tưởng của giai cấp tư sản và tiểu tưsản về xã hội chủ nghĩa Ông cũng lại khẳng định, tuy Tuyên ngôn là tác phẩmviết chung, nhưng luận điểm chủ yếu làm hạt nhân cho sách là của C.Mác

Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1890, Ph.Ăngghenviết: “Vô sản tất cả các nước doàn kết lại!” Chỉ có một vài tiếng đáp lại chúngtôi, khi chúng tôi tung lời kêu gọi ấy với thế giới, cách đây bốn mươi hai năm,ngay trước ngày cuộc cách mạng đầu tiên nổ ra ở Pa Ri, trong đó giai cấp vô sản

đã xuất hiện với những yêu sách của chính mình Nhưng ngày 28 tháng 9năm1864, những người vô sản trong phần lớn các nước Tây Âu đã liên hợp lạiđể lập ra Hiệp hội lao động quốc tế, một hội mà tên tuổi vẻ vang được ghi nhớmãi mãi Thật ra bản thân Quốc tế chỉ sống có Chín năm Nhưng sự đoàn kết bấtdiệt do Quốc tế đã xây dựng được giữa những người vô sản tất cả các nước vẫntồn tại và càng mạnh hơn bao giờ hết Bởi vì ngày hôm nay, khi tôi viết nhữngdòng này, giai cấp vô sản châu Âu và châu Mỹ đang điểm lại lực lượng chiếnđấu của mình, lực lượng lần đầu tiên được huy động thành một đạo quân duynhất, dưới cùng một ngọn cờ và nhằm cùng một mục đích trước mắt là đòi phápluật quy định ngày làm việc bình thường là tám giờ, yêu sách đã được tuyên bốtừ 1866 tại Đại hội của Quốc tế ở Giơ-ne-vơ và sau này lại được tuyên bố lầnnữa tại Đại hội công nhân ở Pa ri năm 1889 Cảnh tượng ngày hôm nay sẽ chỉcho bọn tư bản và bọn địa chủ tất cả các nước thấy rằng những người vô sản tấtcả các nước đã thật sự đoàn kết với nhau.”14

13 S đ d trang 13, 14.

14 S đ d trang 31, 32.

Trang 26

Trong lời tựa viết cho bản tiếng Ba Lan xuất bản năm 1892, Ph.Ăngghenchỉ ra ảnh hưởng to lớn và rộng rãi của Tuyên ngôn trong công nhân châu Âu và

sự in mới của Tuyên ngôn bằng tiếng Ba lan là bằng chứng chứng tỏ yêu cầungày càng tăng sự phổ biến về Tuyên ngôn trong công nhân công nghiệp Ba lan.Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ: “Chỉ có thể có được sự hợp tác quốc tế thành thực giữacác dân tộc châu Âu khi nào mỗi dân tộc đó là người chủ tuyệt đối trong nhàmình Chỉ có giai cấp vô sản Ba Lan trẻ tuổi mới có thể giành được nền độc lập

đó, và nắm trong tay họ, nền độc lập đó sẽ được bảo vệ chắc chắn.”15

Trong lời tựa viết cho bản tiếng Ý xuất bản năm 1893, Ph.Ăngghen viết:

“nếu cách mạng 1848 không phải là một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thì ít

ra nó cũng dọn đường, chuẩn bị địa bàn cho cách mạng xã hội chủ nghĩa Chế độ

tư sản đã làm cho đại công nghiệp phát triển ở tất cả các nước thì đồng thời cũngtạo ra ở khắp nơi, trong bốn mươi lăm năm gần đây, một giai cấp vô sản đôngđảo, đoàn kết chặt chẽ và mạnh; do đó nó đã sinh ra, như Tuyên ngôn đã nói,những người đào huyệt chôn nó Tuyên ngôn hoàn toàn thừa nhận vai trò cáchmạng mà chủ nghĩa tư bản đã đóng trong quá khứ Hiện nay, cũng như năm

1300, đang mở ra một kỷ nguyên lịch sử mới Để đời đời truyền tụng sự nảysinh của kỷ nguyên mới này, kỷ nguyên vô sản, liệu nước Ý có cung cấp đượccho chúng ta một Đan-tơ mới chăng?”16

2 Mở đầu.

Chỉ với 26 dòng, lời mở đầu đã thể hiện tính khoa học và tính chiến đấucủa “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳngđịnh CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN đa được tất ca các thế lực Giáo hoàng, Ngahoàng, bọn cấp tiến Pháp, bọn cảnh sát Đức ở châu Âu thừa nhận là một thếlực, chứ không còn là một bóng ma đang ám ảnh châu Âu Do đó đã đến lúcnhững người cộng sản phải công khai trình bày trước toàn thế giới những quanđiểm, mục đích và ý đồ của mình để đập lại câu chuyện hoang đường về bóng

ma cộng sản

3 Chương 1: Tư sản và Vô sản

Trong chương này, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” nêu lên sự đối lậpgiữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản - hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản;

sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản cùng với giai cấp tư sản Hai ông đãlàm rõ:

- Lịch sử xã hội loài người từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã chođến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp giữa giai cấp bị áp bức, bóc lột với giai cấpbóc lột, thống trị Cuộc đấu tranh ấy diễn ra không ngừng và kết thúc bằng mộtcuộc cách mạng xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của cả hai giai cấp đấu tranh vớinhau Trong xã hội tư sản hiện đại, cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản hiện đại

15 S d d trang 34, 35.

16 Sdd trang 37, 38.

Trang 27

với giai cấp tư sản dẫn đến sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và thắnglợi của chủ nghĩa cộng sản.

- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã làm rõ vai trò lịch sử của hai giaicấp tư sản và vô sản hiện đại

Giai cấp tư sản là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của một

loạt các cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất và trao đổi Khi mới ra đờigiai cấp tư sản đã đóng vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử Nó đại diện cho

sự phát triển của lực lượng sản xuất đang lên, đánh đổ sự thống trị của giai cấpphong kiến, thiết lập nền chuyên chính tư sản thực hiện những tiến bộ xã hội

“Chưa đầy một thế kỷ, giai cấp tư sản thống trị đã tạo ra được một lực lượng sảnxuất nhiều và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộplại” Đại diện cho lực lượng sản xuất mới, giai cấp tư sản đã đập tan xiềng xíchcủa chế độ phong kiến, thay vào đó là chế độ tự do cạnh tranh thích hợp với sựthống trị về chính trị của giai cấp tư sản Là một giai cấp tư hữu bóc lột, nên vaitrò của giai cấp tư sản bị hạn chế ngay từ đầu, đấu tranh giữa giai cấp vô sản vàgiai cấp tư sản nổ ra ngay từ khi chủ nghĩa tư bản mới ra đời Giai cấp tư sảnkhông những đã rèn vũ khí để giết mình, mà còn tạo ra những người sử dụng vũkhí ấy để đánh đổ chính bản thân giai cấp tư sản: “Những vũ khí mà giai cấp tưsản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chínhngay giai cấp tư sản Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽgiết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy - những công nhân hiệnđại, những người vô sản”17

Giai cấp vô sản hiên đại là người có sứ mệnh đào huyệt chôn chủ nghĩa tư

bản và và sáng tạo ra một xã hội mới tốt đẹp hơn Sứ mệnh lịch sử thế giới củagiai cấp vô sản do vị trí kinh tế - xã hội của giai cấp vô sản trong lịch sử quyđịnh Giai cấp vô sản hoàn toàn có khả năng hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giớicủa mình, do họ là giai cấp tiên tiến gắn liền với nền đại công nghiệp, lớn lêncùng nền đại công nghiệp; là sản phẩm của nền đại công nghiệp, đại biểu cho xuhướng tiến lên của đại công nghiêp Họ là giai cấp thực sự cách mạng, dưới chủnghĩa tư bản những người vô sản bị tước hết mọi tư liệu sản xuất nên họ chẳng

có gì là của riêng mình để bảo vệ cả Muốn giải phóng, họ phải phá huỷ hết thảynhững gì từ trước đến nay vẫn bảo đảm và bảo vệ chế độ tư hữu

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, trước hết là phải thanh toánxong giai cấp tư sản trong nước mình, đánh đổ toàn bộ sự thống trị của giai cấp

tư sản cả về kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật mưu lợi ích cho tuyệt đại đasố nhân dân, sau đó tiến lên hoàn thành sự nghiệp giải phóng thế giới khỏi ácháp bức bóc lột giai cấp

- Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản diễn ra ngay tưkhi giai cấp vô sản mới ra đời và phát triển đi từ thấp đến cao, từ tự phát lên tự

17 S dd trang 54.

Trang 28

giác Thắng lợi của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sảnlà tất yếu Cuộc đấu tranh này sẽ dẫn đến bùng nổ cách mạng công khai, giai cấp

vô sản thiết lập sự thống trị của mình bằng cách dùng bạo lực cách mạng lật đổgiai cấp tư sản “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sảnđều tất yếu như nhau”18 Kết luận này của hai ông trong “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản” không những vững vàng và khoa học mà còn sâu sắc về chính trị

4 Chương 2: Những người vô sản và những người cộng sản.

Trong chương này hai ông tập trung trình bày về tính giai cấp của ĐảngCộng sản, mối quan hệ giữa Đảng và giai cấp, những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa cộng sản khoa học, một số nguyên lý chiến lược và sách lược cách mạngcủa cách mạng xã hội chủ nghĩa

- Tính chất giai cấp của Đảng Cộng sản và quan hệ giữa Đảng với giaicấp: Đảng là đội quân tiên phong, bộ phận giác ngộ nhất của giai cấp vô sản

Về mặt lý luận Đảng có ưu thế hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở

chỗ có nhận thức sáng suốt về điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phongtrào vô sản

Về mặt thực tiễn, Đảng là bộ phận kiên quyết nhất bao giờ cũng cổ vũ

phong trào vô sản tiến lên giành thắng lợi; Đảng là bộ phận không tách rời giaicấp, luôn bảo vệ lợi ích của giai cấp và đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phongtrào vô sản Phải có Đảng lãnh đạo giai cấp vô sản mới là tròn sứ mệnh lịch sửcủa mình Nhiệm vụ của Đảng trước hết là tổ chức những người vô sản thànhgiai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền

Tóm lại, Đảng là bộ phận gắn liền với giai cấp vô sản, là bộ phận tiên tiến

nhất và kiên quyết cách mạng nhất của giai cấp vô sản, Có sự lãnh đạo củaĐảng, giai cấp vô sản mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử thế giới của mình

- Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học:

Về sở hữu: hai ông cho rằng, tư bản vận động được là nhờ sự hoạt động

chung của xã hội Do đó việc biến tư bản thành sở hữu chung chỉ có nghĩa làthay đổi tính chất giai cấp của nó - giải phóng lực lượng sản xuất có trình độ xãhội hoá cao Hai ông tuyên bố xoá bỏ mọi chế độ tư hữu và thiết lập chế độ cônghữu về tư liệu sản xuất

Về vấn đề tự do cá nhân, hai ông tuyên bố phải xoá bỏ cá tính tư sản, tính

độc lập tư sản và tự do tư sản, thứ tự do buôn bán và bóc lột sức lao động củangười khác

Về vấn đề gia đình, hai ông khẳng định những người cộng sản chủ trương

xoá bỏ gia đình tư sản, bởi lẽ quan hệ gia đình tư sản dựa trên tư bản, lợi nhuậncá nhân nhà tư sản, người phụ nữ bị coi như là một công cụ sản xuất, cha mẹ bóclột con cái, cộng thê, mãi dâm chính thức và không chính thức Chưa thỏa mãn

18 S dd trang 65.

Trang 29

với việc phá hoại hạnh phúc của những người vô sản, họ còn lấy việc cắm sừnglẫn nhau làm thú vui đặc biệt.

Về vấn đề giáo dục: Người cộng sản không bịa ra tác động của xã hội đối

với giáo dục, vì nó là cái vốn sẵn có, mà chỉ thay đổi tính chất của sự tác độngấy và kéo giáo dục ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp tư sản mà thôi

Về vấn đề dân tộc, tổ quốc và quốc tế: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”

khẳng định dưới chủ nghĩa tư bản giai cấp vô sản và nhân dân lao động không

có tổ quốc, bởi mọi quyền đại diện tổ quốc, dân tộc và tất cả các lợi ích khác đều

do giai cấp tư sản nắm giữ Chính thế, giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải

tự mình thành giai cấp dân tộc, phải tự mình thành dân tộc nhưng không phảitheo kiểu như giai cấp tư sản hiểu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” cũngkhẳng định: “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc khôngcòn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” Không cóđộc lập, thống nhất cho từng dân tộc thì không thể thực hiện được sự liên hợpquốc tế của giai cấp vô sản

Về vấn đề tôn giáo, triết học và những quan điểm ý thức tư tưởng nói chung, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” quan niệm đó là công cụ thống trị về

tinh thần của các giai cấp bóc lột thống trị, dưới chủ nghĩa tư bản nó nói lên thời

kỳ thống trị của cạnh tranh tự do trong lĩnh vực tri thức mà thôi “Cách mạngcộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền,không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nóđoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng cổ truyền”

- Những nguyên lý chiến lược và sách lược cách mạng:

Cách mạng CSCN phải trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1, Phải xây

dựng giai cấp vô sản thành giai cấp thống trị Sau khi nắm được chính quyềngiai cấp vô sản phải dùng thế lực chính trị của mình tập trung phát triển lựclượng sản xuất đồng thời với việc phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” cũng đã nêu ra 10 biện pháp cụ thể19 màC.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng có thể áp dụng ở những nước tư bản phát triểnnhất lúc bấy giờ nhằm cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới Trong đó, sáu biệnpháp đầu nói về cách mạng quan hệ sản xuất như tước đoạt sở hữu ruộng đất,đánh thuế luỹ tiến, xoá bỏ quyền thừa kế, tập trung tín dụng vào ngân hàng nhànước, tập trung phương tiện vận tải quan trọng vào tay nhà nước Ba biện pháptiếp theo nói về phát triển lực lượng sản xuất như tăng cường các xí nghiệp quốcdoanh, tiến hành khai hoang cải tạo ruộng đất, thi hành nghĩa vụ lao động, kếthợp lao động nông nghiệp với lao động công nghiệp, xoá dần khoảng cách giữathành thị với nông thôn Biện pháp thứ mười nói về giáo dục công cộng và kếthợp giáo dục với sản xuất Trong mười biện pháp trên, cho đến nay nhiều biện

19 Xem sdd trang 79, 80.

Trang 30

pháp còn mang đầy đủ tính hiện thực phổ biến của nó đối với con đường lên chủnghĩa xã hội ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

Giai đoạn 2, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã phác hoạ ra xã hộiCộng sản trong tương lai Ở đó không còn giai cấp và không còn đấu tranh giaicấp Nhà nước với tư cách là bộ máy thống trị giai cấp cũng không còn nữa Mộtthế liên hợp của người lao động phát triển toàn diện xuất hiện, trong đó “sự pháttriển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọingười”

Về Cách mạng phát triển không ngừng: Điều này có liên quan đến lời tựa

hai ông viết năm 1882 “Nếu cách mạng Nga báo hiệu một cuộc cách mạng vôsản ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhau thì chế độruộng đất công cộng ở Nga hiện nay sẽ có thể là khởi điểm của một sự tiến triểncộng sản chủ nghĩa”

Về vấn đề chính quyền nhà nước “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” coi nó

là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản”, hai ông chưa dùng đến thuật ngữ chuyên chính vô sản, nhưng tư tưởng vềchuyên chính vô sản đã được diễn đạt một cách rõ ràng qua các thuật ngữ “Giaicấp vô sản nắm chính quyền”, “giai cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thốngtrị” Sau này, trong thư gửi Vây-ơ-đờ-mây-e ngày 5/3/1852 C.Mác đã sử dụngkhái niệm “chuyên chính vô sản” - một trong những nguyên lý cơ bản nhất củachủ nghĩa cộng sản khoa học

5 Chương 3: Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Trong chương này, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” tập trung phân tích,phê phán những trào lưu xã hội chủ nghĩa phi vô sản nhằm bảo đảm thắng lợicho việc truyền bá học thuyết chủ nghĩa cộng sản khoa học vào phong trào côngnhân Tinh thần, thái độ, phương pháp phân tích, phê phán của hai ông đối vớicác trào lưu văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa phi mac-xít luôn là

cơ sở khoa học giúp chúng ta phân biệt ranh giới giữa chủ nghĩa cộng sản khoahọc với các trào lưu xã hội chủ nghĩa phản động, phản bội, cải lương, xét lại,không tưởng hiện nay

- Hai ông vạch rõ tính chất phản động kéo lùi lịch sử, chống lại phongtrào cộng sản của các trào lưu xã hội chủ nghĩa phong kiến và tiểu tư sản:

Chủ nghĩa xã hội phong kiến là thứ văn học của bọn quý tộc phong kiến

bị gạt khỏi địa vị thống trị bởi giai cấp tư sản Bọn này một mặt giơ cái bị ănmày lên làm cớ để lôi kéo nhân dân, mặt khác lại “không bỏ qua cơ hội để lượmlấy những quả táo bằng vàng và đem lòng trung thành, tình yêu và danh dự màđổi lấy việc buôn bán len, củ cải đường và rượi mạnh.”20

20 S dd trang 83.

Trang 31

Chủ nghĩa xã hội của Cơ đốc giáo là thứ chủ nghĩa xã hội đi sát với chủ

nghĩa xã hội phong kiến, nó là thứ nước thánh mà bọn thầy tu dùng để xức chonỗi giận hờn của bọn quý tộc phong kiến và phủ lên chủ nghĩa khổ hạnh một lớpsơn xã hội chủ nghĩa

Chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản tuy phân tích sâu những mâu thuẫn của nền

sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng nó có tính chất không tưởng và có tính chấtphản động Tính chất phản động tiêu biểu của nó là muốn đem nền sản xuất đạicông nghiệp đặt vào trong chiếc áo chật hẹp của chủ nghĩa phường hội, và vềsau trào lưu này chỉ còn là những lời oán thán hèn nhát

Chủ nghĩa xã hội chân chính Đức chỉ là sự cưỡng hôn giữa tư tưởng xã

hội chủ nghĩa Pháp với Triết học Đức Nó là loại văn học bẩn thỉu và khó chịu.Một mặt nó là thứ ngáo ộp mà giai cấp tiểu tư sản hằng mơ ước để dọa lại giaicấp tư sản Mặt khác nó là thứ vũ khí trong tay chính phủ chuyên chế Đức đểchống lại giai cấp tư sản non trẻ và đem “cái lối giả nhân giả nghĩa đường mậtcủa nó bổ sung cho roi vọt và súng đạn mà những chính phủ ấy đã dùng để trấnáp những cuộc khởi nghĩa của công nhân Đức”21

- Hai ông phân tích và phê phán chủ nghĩa xã hội bảo thủ (chủ nghĩa xãhội tư sản) Hai ông coi tư tưởng xã hội chủ nghĩa của giai cấp tư sản là bảo thủ,bởi lẽ nó muốn duy trì chủ nghĩa tư bản chứ không kéo lùi lịch sử như các tràolưu xã hội chủ nghĩa khác Loại chủ nghĩa xã hội này do đủ loại các nhà cảilương ngồi xó buồng nặn ra nhằm chữa bệnh cho xã hội tư bản, hy vọng tẩy trừđược những yếu tố làm cho xã hội tư bản tan rã Nội dung chủ nghĩa xã hội bảothủ có thể tóm lại là “sở dĩ những người tư sản là những người tư sản, đó là vìlợi ích của giai cấp công nhân”22 Có nghĩa chúng thừa nhận sự tồn tại của giaicấp tư sản là vì lợi ích của giai cấp vô sản

- Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng cuối thế kỷXVIII, đầu thế kỷ XIX theo đánh giá của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” thì:

+ Họ đả kích mạnh mẽ xã hội đương thời và vẽ lên bức tranh toàn cảnh vềmột xã hội tương lai hợp với nguyện vọng bản năng đầu tiên của giai cấp vô sản,góp phần thức tỉnh cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản

+ Họ nêu lên những đề nghị tích cực, những dự kiến rất có giá trị về một

xã hội tương lai, trong đó có những luận điểm mà sau này hai ông kế thừa, pháttriển thành những luận điểm của chủ nghĩa cộng sản khoa học

+ Tuy nhiên những biện pháp thực hiện lại không mang tính cách mạng

Họ chỉ bằng những hành động gương mẫu, những cuộc thí nghiệm nhỏ, nhữnglời kêu gọi lòng từ thiện của những người giàu có

+ Những hạn chế này của họ là do những điều kiện vật chất cần thiết cho

sự giải phóng của giai cấp vô sản chưa đầy đủ và những người đại biểu cho cho

21 S dd trang 89, 90.

22 S dd trang 93.

Trang 32

trào lưu tư tưởng này chưa thấy được sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản Chínhvậy, họ đã đi tìm một khoa học xã hội ở ngoài xã hội, lấy tài ba cá nhân thay thếcho hoạt động xã hội, lấy những điều tưởng tượng chủ quan thay thế cho nhữngđiều kiện lịch sử cụ thể, đem một xã hội hoàn thiện, hoàn mỹ hư cấu từ trong tưduy chụp lên xã hội hiện tại Những đề nghị, những biện pháp của họ dù vĩ đạicũng chỉ là ước mơ.

+ Khi phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản mới bắt đầu thì họ lànhững nhà cách mạng xét về nhiều phương diện Nhưng khi phong trào đấutranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản trở nên quyết liệt thì các môn đồcủa họ trở thành những kẻ thông thái rởm một cách có hệ thống, những kẻ bảothủ và phản động Chẳng hạn tông phái Rô-bet Ô-oen chống lại phong trào HiếnChương ở Anh, tông phái Sác-lơ Phu-ri-ê chống lại phái Cải cách ở Pháp

6 Chương 4: Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập.

Trong chương này hai ông khẳng định lập trường kiên định của ĐảngCộng sản về những vấn đề chiến lược và sách lược mềm dẻo của Đảng đối vớicác Đảng Xã hội-Dân chủ Tư sản hoặc Tiểu tư sản đang đối lập với các thế lựcphản động cầm quyền ở các nước Pháp, Thuỵ Sỹ, Đức, Ba Lan lúc bấy giờ Ởđây đã thể hiện tư tưởng cách mạng không ngừng, có ý nghĩa chỉ đạo chiến lượcđối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và là kim chỉ nam soi sángcon đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước có trình độ chậm phát triển vềkinh tế:

- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định: Những người cộng sảnchiến đấu cho những mục đích và những lợi ích trước mắt của giai cấp vô sản,nhưng đồng thời trong phong trào hiện tại họ cũng bảo vệ và đại biểu cho tươnglai của phong trào

- Trong khi liên hợp với các Đảng phái để chống lại thế lực phản độngđang thống trị những người cộng sản vẫn giành cho mình quyền phê phán nhữnglời nói suông, những ảo tưởng và “không giờ phút nào Đảng Cộng sản lại quêngây cho công nhân một ý thức sáng suốt và rõ ràng về sự đối kháng kịch liệtgiữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản”23, để sau khi thanh toán xong các thế lựcphản động thống trị là có thể tiến hành ngay cuộc đấu tranh chống giai cấp tưsản

- Mục đích của những người cộng sản chỉ có thể đạt được bằng cách dùngbạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện có Trong cuộc cách mạng ấy, nhữngngười vô sản không mất gì hết ngoài những xiềng xích trói buộc họ Trong cuộccách mạng ấy họ giành được cả một thế giới về mình

IV KẾT LUẬN

23 S dd trang 100.

Trang 33

“VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC ĐOÀN KẾT LẠI” Kết luận đầy niềmtin và khẩu hiệu chiến đấu đầy sức mạnh của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”luôn vang lên như hồi kèn xung trận của giai cấp vô sản trên toàn thế giới trongcuộc đấu tranh đánh đổ chủ nghĩa tư bản vì thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản

Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là tác phẩm đầu tiên trong sốcác tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin mà sinh viên cần phải đượcnghiên cứu một cách hoàn chỉnh và sâu sắc theo quyết định số 472-QĐ ngày 20tháng 05 năm 1985 của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (Nay là Bộ GDvà ĐT)

Ngày 18 tháng 03 năm 1848 tác phẩm này đã được xuất bản bằng nhiềuthứ tiếng, cho đến nay trên thế giới nó đã được tái bản trên 150 lần Từ nhữngnăm 1929 - 1930 nó đã được các chiến sỹ cộng sản Việt Nam chuyền tay nhaunghiên cứu, kể cả trong hoàn cảnh bị Pháp giam cầm, và đến nay nó đã được táibản ở Việt Nam lần thứ 15 Tư tưởng chủ đạo và những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa cộng sản khoa học của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” luôn là bóđuốc soi đường, là kim chỉ nam hành động, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạngcủa nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản ViệtNam luôn đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong sự nghiệp đổi mới hiệnnay, việc nghiên cứu và nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộngsản của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” có ý nghĩa thiết thực, quan trọng, gópphần nâng cao trình độ tư duy khoa học, trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa vàtrình độ tự giác chấp hành các đường lối chính sách của Đảng

Khi nghiên cứu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” cần nắm vững hoàncảnh ra đời, những tư tưởng cơ bản, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộngsản khoa học được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày trong tuyên ngôn để soiđường cho nhận thức khoa học và phương pháp tư duy của mình Không thần bíhoá nó, không coi những nguyên lý đó là những tín điều bất di bất dịch rồi mangkhuôn mẫu đó chụp lên hiện tại bất chấp mọi sự đổi thay của hoàn cảnh lịch sử.Mặt khác từ những tư tưởng cơ bản và những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩacộng sản khoa học trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” mà xem xét sự vậnđộng của nó ở Việt Nam và trên thế giới Trên cơ sở đó hiểu rõ hơn giá trị chỉđạo của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, khẳng định sự đúng đắn, sáng tạocủa cách mạng Việt Nam trong Luận cương của Đảng năm 1930 và các Nghịquyết đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nâng cao trình độ tự giác chấp hànhcác đường lối, chính sách của Đảng

Câu hỏi ôn tập:

1- Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản”?

2- Những nội dung cơ bản của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản”?

Trang 34

3- Những nội dung cơ bản của chương “Tư sản và Vô sản” của tácphẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”?

4- Những nội dung cơ bản của chương “Những người vô sản và nhữngngười cộng sản” của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”?

5- Nêu và phân tích những nội dung cơ bản và ý nghĩa của chương

“Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa” của tác phẩm “Tuyên ngôncủa Đảng Cộng sản”?

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “LUDWIG FEUER BACH - SỰ CÁO CHUNG CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC” CỦA F.ENGHEN

I. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm.

- Tác phẩm “Ludwig Feuerbach - sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”

đã được F.Enghen viết vào năm 1886, nhân việc ban biên tập tạp chí “NeueZeit” đề nghị ông viết bài phê bình cuốn sách của Starcke nói về LudwigFeuerbach Nhưng trong tác phẩm này F.Enghen không tập trung phê phán cuốnsách của Starcke, mà trình bày một cách khái quát, có hệ thống quan hệ của Ôngvà C.Mac với các triết thuyết của Heghen và Ludwig Feuerbach, vạch ra bướcchuyển biến cách mạng trong lĩnh vực triết học do C.Mac và F.Enghen thựchiện

- Tác phẩm này là một cần thiết, do lúc này ở Đức, triết học cổ điển đangsống lại dưới nhiều hình thức khác nhau

- Đây là tác phẩm quan trọng nhất trong kho tàng lý luận triết học Lênin Nó trình bày một cách có hệ thống những quan điểm cơ bản của triết họcMác Theo Lênin, đây là một trong những cuốn sách gối đầu giường của côngnhân giác ngộ

Mác-II. Bố cục của tác phẩm.

Tác phẩm này hiện được đăng trong Tuyển tập C.Mac và F.Enghen - Tập

VI - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1984 - Trang 353 - 422 và được đăng trongC.Mac và F.Enghen toàn tập - Tập 21 - Trang 259 - 307

Tác phẩm gồm Lời tựa viết năm 1888 và bốn phần được phân bố như sau:

- Lời tựa 1888 từ trang 357 đến 359

- Phần I từ trang 360 đến 372

- Phần II từ trang 372 đến trang 386

- Phần III từ trang 386 đến trang 397

- Phần IV từ trang 397 đến trang 422

III. Những nội dung cơ bản của tác phẩm.

1- Lời tựa viết năm 1888.

Trang 35

F.Enghen nêu ra sự cần thiết phải viết tác phẩm “Ludwig Feuerbach sựcáo chung của triết học cổ điển Đức”, trình bày một cách vắn tắt có hệ thốngquan hệ của C.Mac và F.Enghen với triết học của Heghen (xuất phát và đoạntuyệt với nó như thế nào?) và triết học của Ludwig Feuerbach (ảnh hưởng lớnthứ hai sau Heghen).

F.Enghen viết: “Trong bài tựa quyển Góp phần phê phán chính trị kinh tế

học xuất bản ở Béc-linh năm 1859, Mác kể lại việc năm 1845 ở Bơ-ru-xen, hai

chúng tôi quyết định như thế nào để “cùng nhau xây dựng quan điểm của haichúng tôi” (tức là quan niệm duy vật lịch sử, chủ yếu do Mác nêu lên) “đối lậpvới quan điểm tư tưởng của triết học Đức; thực ra làm như thế là để thanh toánnhận thức triết học của chúng tôi trước kia Ý định đó đã được thực hiện dướihình thức phê phán nền triết học sau Hêghen Bản thảo gồm hai quyển dày theokhổ giấy gấp làm 8, đã nằm trong tay nhà xuất bản ở Ve-spha-li từ lâu, nhưnglúc đó người ta lại báo cho chúng tôi biết rằng tình hình đã thay đổi nên khôngthể in được Chúng tôi càng sẵn sàng để bản thảo đó cho chuột phê phán bằngcách gậm nhấm, nhất là vì chúng tôi đã đạt được mục đích chủ yếu tức là đã giảithích được rõ vấn đề cho bản thân mình”

Từ đó đến nay, đã hơn bốn mươi năm hiện nay Mác đã qua đời, Mác cũngnhư tôi, không lần nào có dịp trở lại vấn đề đó nữa Về thái độ của chúng tôi đốivới Hêghen, chúng tôi đã phát biểu nhiều lần, nhưng không chỗ nào chúng tôilàm được một cách đầy đủ cả Còn về Phơ Bách, người mà tuy về mặt nào đó, làcái khâu trung gian giữa triết học Hêghen với lý luận của chúng tôi, thì chúng tôichưa hề bao giờ trở lại nói đến cả

Trong thời gian đó, thế giới quan của Mác đã có nhiều người tán thành ở

xa ngoài biên giới nước Đức và châu Âu, và bằng tất cả các ngôn ngữ văn họctrên thế giới Mặt khác ở nước ngoài, đặc biệt là ở Anh và ở các nước Scan-đi-na-vơ, nền triết học cổ điển Đức hiện nay đang sống lại bằng một cách nào đó.Và hình như ngay cả ở Đức, người ta đã bắt đầu chán món xúp chiết trungnghèo nàn mà người ta vẫn đem cung cấp trong các trường đại học dưới nhãnhiệu triết học

Do hoàn cảnh đó, tôi càng thấy là đã đến lúc cần phải trình bày vắn tắt và

có hệ thống thái độ của chúng tôi đối với triết học của Hêghen, tức là trình bàyviệc chúng tôi đã xuất phát từ triết học của Hêghen như thế nào và chúng tôi đãđoạn tuyệt với nó ra làm sao Và chúng tôi cũng cần phải thừa nhận đầy đủ rằngtrong thời kỳ đầy bão tố của chúng tôi, Phơ-bách đã ảnh hưởng đến chúng tôinhiều hơn bất cứ một nhà triết học nào khác sau Hêghen; đó là món nợ danh dựmà chúng tôi vẫn chưa trả được Bởi thế, tôi vui lòng nhận lời của ban biên tậptạp chí “Neue Zeit” (Thời Mới) viết bài phê bình cuốn sách của Stác-cơ nói về

Trang 36

Phơ-bách Bài của tôi viết, đăng trong các số 4 và 5 của tờ tạp chí nói trên, ranăm 1886, nay xuất bản thành sách sau khi đã được tôi xem lại.”24

Theo F.Enghen thì tác phẩm in tháng 2 năm 1888 là bản đính chính bổsung bản thảo đã đăng báo năm 1886 Đây là sự kế thừa và phát triển bản thảo

1845 - 1846 và bút ký của C.Mác về 11 luận cương của Ludwig Feuerbach(Xem phần phụ lục của tác phẩm trang 81 đến 85 hoặc trong Tuyển tập C.Macvà F.Enghen - Tập I - Trang 252-258)

2- Phần I.

Trong phần này F.Enghen đã đánh giá những cống hiến của Heghen về sựphát triển triết học đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn trong triết học Heghen vàvai trò của chủ nghĩa duy vật của Ludwig Feuerbach

- Tính cách mạng của triết học Heghen là: Nó giáng một đòn chí mạngvào quan niệm về đích cuối cùng tuyệt đối của tư tưởng và hoạt động của conngười Theo Heghen, chân lý mà triết học có nhiệm vụ phải nhận thức giờ đâykhông còn là tập hợp những nguyên lý giáo điều có sẵn để con người học thuộclòng khi tìm ra được Từ Heghen, chân lý là chân lý nằm trong quá trình nhậnthức, trong sự phát triển lịch sử lâu dài của khoa học đang tiến từ trình độ hiểubiết thấp lên trình độ hiểu biết cao hơn, nhưng không bao giờ không còn cái gìđể làm

Điều này không chỉ xảy ra trong nhận thức mà còn xảy ra trong mọi lĩnhvực Trong lịch sử cũng không bao giờ đạt đến trạng thái tận cùng hoàn thiệnhoàn toàn lý tưởng của loài người Mỗi giai đoạn lịch sử đều là tất yếu, và do đólà chính đáng trong thời đại và trong những điều kiện đã sản sinh ra nó, songtrong những điều kiện mới đang phát triển cao hơn nó sẽ trở nên không có giá trịvà không chính đáng Với phương pháp biện chứng không có cái gì là tối hậu, làtuyệt đối, là thiêng liêng cả Nó chỉ ra tính quá độ của mọi sự vật và trong mọi

sự vật đối với nó Không có cái gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sựhình thành và của sự tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp đến cao màbản thân nó cũng chỉ là sự phản ánh đơn thuần quá trình đó vào trong bộ óc đang

tư duy

F.Enghen viết: “Nhưng ý nghĩa chân thực, và tính chất cách mạng củatriết học Hêghen (ở đây chúng ta phải giới hạn trong việc khảo sát triết họcHêghen coi như là sự kết thúc của sự phát triển triết học từ Can tơ tới nay),chính là ở chỗ nó đã vĩnh viễn chấm dứt mọi quan niệm về tính chất cuối cùngcủa những kết quả của những tư tưởng và hành động của con người TheoHêghen, chân lý mà triết học phải nhận thức, không còn là sự gom góp nhữngnguyên lý giáo điều đã có sẵn, những nguyên lý mà người ta chỉ có việc họcthuộc lòng, một khi đã tìm ra nó; từ nay chân lý nằm trong bản thân quá trình

24 Ăng-ghen - Lut vích Phơ bách sự cáo chung của triết học cổ điển Đức -Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1969 - Trang 5,6,7.

Trang 37

nhận thức, trong sự phát triển lịch sử lâu dài của khoa học đang tiến từ trình độhiểu biết thấp lên trình độ hiểu biết cao hơn, song không bao giờ lại đi đến chỗ

do tìm ra được cái gọi là chân lý tuyệt đối nên khoa học không còn có thể tiến xahơn được nữa, không còn gì mà làm nữa ngoài việc khoanh tay đứng ngắm mộtcách kinh ngạc cái chân lý tuyệt đối đã tìm ra được Điều đó xảy ra trong nhậnthức triết học cũng như trong mọi nhận thức khác và cả trong lĩnh vực hoạt độngthực tiễn nữa Không hơn gì nhận thức, lịch sử cũng không bao giờ có thể đạt tớimột sự hoàn thành cuối cùng trong một trạng thái lý tưởng toàn thiện toàn mỹcủa loài người; một xã hội toàn thiện toàn mỹ, một nhà nước toàn thiện toàn mỹ,

đó là những cái có thể tồn tại trong sự tưởng tượng mà thôi; trái lại, tất cả nhữngchế độ xã hội nối tiếp nhau trong lịch sử chỉ là những giai đoạn tạm thời trong

sự phát triển vô cùng tận của xã hội loài người đi từ thấp lên cao Mỗi giai đoạnđều là tất yếu, và do đó có lý do tồn tại trong thời đại và trong những điều kiệnmà nó ra đời; song trước những điều kiện mới, cao hơn, những điều kiện đangdần dần phát triển ở ngay trong lòng của nó, nó sẽ trở nên không vững chắc vàmất hết lý do tồn tại của nó; nó buộc phải nhường chỗ cho giai đoạn cao hơn,giai đoạn này đến lượt nó cũng sẽ đi đến chỗ suy tàn và diệt vong.”25

- Tính hạn chế của triết học Heghen là một hệ thống triết học duy tâm bảothủ, giáo điều Hệ thống đó mâu thuẫn gay gắt với phép biện chứng TheoHeghen, ý niệm tuyệt đối tự tha hóa thành tự nhiên, sau đó lại trở về với bảnthân nó trong tinh thần - tức trong tư duy và lịch sử Đỉnh cao của phát triển lànhân loại nhận thức được ý niệm tuyệt đối ấy Đỉnh cao ấy đã đạt được trongtriết học của Heghen Tức triết học của Heghen đều là những chân lý tuyệt đối.Theo Heghen sự phát triển xã hội đạt đến điểm tận cùng trong chính thể quânchủ đại nghị dựa trên những đẳng cấp xã hội

Những kết luận đó của Heghen đã làm cho hệ thống triết học của ônghoàn toàn mâu thuẫn với phương pháp biện chứng của chính ông Triết học củaông, mặt cách mạng của học thuyết Hêghen đã bị đè bẹp bởi sự trưởng thànhquá khổ của mặt bảo thủ của nó Theo F.Enghen thì hạn chế đó của Hêghen là

do Hêghen chưa thoát khỏi cái đuôi phi-li-xtanh (con người tầm thường, dungtục), Hêghen là một Giuy-pi-te (người tài giỏi phi thường ví như tượng thầnGiuy-pi-te ở Ô-lanh-pơ - một trong bảy kỳ quan của thế giới) nhưng không baogiờ trút bỏ được tính chất phi-li-stanh Có nghĩa là không thể bắt Hêghen làm cáiđiều mà đương thời Hêghen chưa đặt ra

F.Enghen viết: “Dù cho Hêghen đã nhấn mạnh, nhất là trong cuốn Lôgichọc của ông rằng chân lý vĩnh viễn chẳng qua chỉ là bản thân quá trình lôgic, và

do đó, là bản thân quá trình lịch sử, nhưng Hêghen lại buộc phải gán cho quátrình ấy một điểm tận cùng, chính là vì ông ta phải kết thúc hệ thống của ôngbằng một cái gì Trong quyển Lôgic học, ông ta lại có thể làm cho điểm tận cùng

đó thành một điểm bắt đầu vì ở đây, cái điểm tận cùng tức là ý niệm tuyệt đối - ý

25 S đ d trang 12, 13.

Trang 38

niệm đó sở dĩ tuyệt đối, chỉ là vì ông ta tuyệt đối không biết nói gì về nó cả,

-“tự tha hoá đi” (tức là chuyển hoá) thành tự nhiên, và về sau trở lại về với bảnthân nó trong tinh thần, tức là trong tư duy và trong lịch sử Nhưng ở điểm tậncùng toàn bộ triết học, muốn quay trở lại điểm bắt đầu như thế thì chỉ có một

biện pháp duy nhất: tức là phải giả định rằng điểm tận cùng của lịch sử là ở chỗ:

Nhân loại đã đạt tới chính sự nhận thức ý niệm tuyệt đối ấy và tuyên bố rằng sựnhận thức ấy về ý niệm tuyệt đối đã đạt được trong triết học của Hêghen Songnhư thế có nghĩa là tuyên bố rằng toàn bộ nội dung giáo điều của hệ thốngHêghen đều là chân lý tuyệt đối và như thế là trái với phương pháp biện chứngcủa ông ta, phương pháp đả phá mọi cái gì có tính chất giáo điều Như thế cónghĩa là bóp nghẹt mặt cách mạng của học thuyết Hêghen dưới sực nặng bảo thủđang phát triển quá mức, - và không những trong lĩnh vực nhận thức triết họcmà cả trong thực tiễn lịch sử nữa”.26

- F.Enghen cũng chỉ ra chính mâu thuẫn đó đã dẫn đến sự phân liệt tronghọc phái Heghen, nhất là khi tôn giáo và chính trị trở nên vấn đề có ý nghĩa thựctiễn Ai coi trọng hệ thống triết học của Heghen, họ là bảo thủ cả về tôn giáo vàchính trị (phái Heghen già, phái hữu) Ai coi trọng phương pháp của Heghen, thì

về tôn giáo và chính trị, họ được coi là phái đối lập cực đoan (phái Heghen trẻ,phái tả) Chính sự phân liệt này đã dẫn đến sự tan rã của học phái Hêghen

F.Enghen viết: “Như chúng ta thấy, xét toàn bộ, học thuyết của Hêghen đãđể lại một khoảng rất rộng cho các quan điểm đảng phái thực tiễn hết sức khácnhau Nhưng trong sinh hoạt lý luận ở nước Đức hồi ấy, trước hết có hai việc có

ý nghĩa thực tiễn: tôn giáo và chính trị Người nào bám vào hệ thống củaHêghen thì người đó có thể là khá bảo thủ trong mỗi lĩnh vực đó, còn người nàocho phương pháp biện chứng là chủ yếu, thì người đó về chính trị cũng như tôngiáo, có thể thuộc vào phái phản đối cực đoan nhất Mặc dâu thường khá nhiềunhững cơn giận có tính chất cách mạng trong các tác phẩm của ông, song nóichung thì bản thân Hêghen thì hình như cũng ngả về phía bảo thủ nhiều hơn Sovới phương pháp của ông, thì hệ thống của ông đã chẳng làm cho ông phải bắt

“tư tưởng của ông làm việc gian khổ” nhiều hơn đó sao? Đến cuối khoảng 1830

- 1840 sự phân liệt trong học phái Hêghen ngày càng trở nên rõ rệt”.27

- F.Enghen cũng chỉ ra sự tan rã của học phái Heghen tất yếu dẫn đếnbước phát triển mới về triết học Chính thực tiễn đấu tranh chống tôn giáo màđông đảo người của phái Heghen trẻ đã trở về với chủ nghĩa duy vật Anh - Phápvà xung đột với học phái của họ

F.Enghen viết: “Chúng ta sẽ không nói chi tiết về phương diện ấy của quátrình tan rã của học phái Hêghen Đối với chúng ta, điều quan trọng hơn là điềusau đây: những yêu cầu của thực tiễn của cuộc đấu tranh của họ chông tôn giáohiện có đã kéo nhiều người kiên quyết nhất trong số đông những người Hêghen

26 S đ d trang 14, 15.

27 S đ d trang 19.

Trang 39

trẻ trở về với chủ nghĩa duy vật Anh - Pháp Và ở đây, họ đi đến chỗ xung độtvới hệ thống của học phái họ Trong khi chủ nghĩa duy vật coi tự nhiên là cáihiện thực duy nhất, thì ở trong hệ thống Hêghen, tự nhiên chỉ là “sự tha hoá” của

ý niệm tuyệt đối, có thể nói là sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối; vô luận thế nào,

ở đây tư duy và sản phẩm tư tưởng của nó, tức ý niệm cũng là yếu tố có trước,còn tự nhiên là cái phát sinh, tồn tại được chỉ là do ý niệm hạ mình xuống đếnmức đó Và phái Hêghen trẻ lúng túng trong cái vòng mâu thuẫn ấy”.28

- Trong bước phát triển mới của chủ nghĩa duy vật, F.Enghen đánh giácao vai trò của Ludwig Feuerbach Ông chỉ ra, trong lúc phái Heghen tan rã thìtác phẩm “Bản chất đạo Cơ Đốc” ra đời Ludwig Feuerbach đã giáng một đònphá tan ngay mâu thuẫn trên, đưa chủ nghĩa duy vật về lại ngôi vua Trong tácphẩm này, Ludwig Feuerbach đã chỉ ra tự nhiên tồn tại độc lập đối với triết học

Nó là cơ sở trên đó, con người - sản phẩm của tự nhiên - đã sinh trưởng Ngoài

tự nhiên và con người ra không còn gì nữa cả Những tạo vật cao siêu do trítưởng tượng tôn giáo tạo ra chỉ là phản ánh hư ảo của thực thể chúng ta mà thôi

F.Enghen cũng chỉ ra một số thiếu sót của tác phẩm này là ở chỗ, LudwigFeuerbach đã thần thánh hóa tình yêu một cách thái quá F.Enghen viết: “Thậmchí cả những khuyết điểm trong tác phẩm của Phơ bách, hồi ấy, cũng làm tăngthêm ảnh hưởng của sách đó Lối viết văn hoa và thậm chí đôi chỗ cầu kỳ đãđảm bảo cho tập sách có được nhiều người đọc, và bất luận như thế nào, nó cũngđem lại một sự khoan khoái nhẹ nhàng sau nhiều năm thống trị của chủ nghĩaHêghen trừu tượng và tối tăm Người ta cũng có thể nói như vậy về sự thầnthánh hoá tình yêu một cách thái qua Có thể tha thứ cho sự thần thánh hoá này -mặc dầu không thể biện hộ cho nó - coi như đó là một sự phản ứng chống lại sựchuyên chế của “tư duy thuần tuý” đã trở thành hoàn toàn không thể dung nạpđược nữa Song chúng ta không nên quên rằng “chủ nghĩa xã hội chân chính” đãbám lấy cả hai nhược điểm đó của Phơ bách, chủ nghĩa xã hội này đã lan truyền,như một bệnh dịch, từ năm 1844, trong “giới có học thức” ở Đức nó dùng nhữngcâu nói văn hoa thay thế cho sự nghiên cứu khoa học, dùng sự giải phóng loàingười bằng “tình yêu” thay thế cho sự giải phóng giai cấp vô sản bằng conđường cải tạo nền sản xuất về mặt kinh tế - Tóm lại nó đã chìm đắm trongnhững lời văn khả ố và những lời nói suông sặc mùi tình cảm Các Gơ-ruyn làđại biểu điển hình nhất cho khuynh hướng đó.”29

3- Phần II.

Phần này F.Enghen tập trung nói về vấn đề cơ bản của triết học và nhữnghạn chế của triết học duy vật thế kỷ XVIII và của triết học của LudwigFeuerbach

- Trong tác phẩm này, lần đầu tiên F.Enghen nêu ra vấn đề cơ bản củatriết học Ông nói: “Vấn đề cơ bản lớn nhất của mọi triết học, đặc biệt là triết

28 S đ d trang 21.

29 S đ d trang 22.

Trang 40

học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”30, giữa tinh thần với tựnhiên

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt Mặt thứ nhất là xem xét giữa tinhthần và tự nhiên cái nào có trước cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Tuỳthuộc câu trả lời của các nhà triết học đối với mặt thứ nhất mà triết học đã chiathành hai trào lưu cơ bản duy vật và duy tâm Mặt thứ hai là giải quyết về nhậnthức luận, các nhà triết học tranh luận với nhau về việc con người có khả năngnhận thức thế giới không? Theo ngôn ngữ triết học nó được gọi là tính đồngnhất giữa tư duy và tồn tại Ở mặt này triết học cũng đã chia thành hai trào lưuchính là khả tri và bất khả tri

- Ở mặt này Heghen là khả tri nhưng trên lập trường của chủ nghĩa duytâm Trong số các nhà triết học bất khả tri hiện đại (hoặc chí ít thừa nhận conngười không thể nhận thức một cách đầy đủ về thế giới) phải kể đến Hume vàKant F.Enghen khẳng định rằng sự bác bỏ đanh thép các triết học ấy, cũng nhưcác triết học khác là thực tiễn - thực nghiệm và công nghiệp “Nếu chúng ta cóthể chứng minh được rằng quan niệm của chúng ta về một hiện tượng nào đócủa tự nhiên là chính xác, bằng cách tự chúng ta chế taọ ra hiện tượng ấy, bằngcách sản sinh ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa còn bắt nó phải phụcvụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn nữa cái “vật tự nó” không thể nắmđược của Can-tơ Những chất hóa học được tạo ra trong các cơ thể thực vật vàđộng vật vẫn còn là những “vật tự nó” mãi cho đến khi khoa học hoá học hữu cơbắt đầu chế tạo ra các chất ấy hết thứ này đến thứ khác, do đó mà “vật tự nó” trởthành vật cho ta, tỷ như chất nhuộm của cây thiên thảo là chất a-li-da-rin, hiệnnay chúng ta không còn lấy ở rễ cây thiên thảo trồng ngoài ruộng đồng nữa, màlấy một cách giản đơn hơn và rẻ tiền hơn từ trong chất hắc-ín của than đá ”31

- Trong khi chỉ ra sự nhầm lẫn của Ludwig Feuerbach về chủ nghĩa duyvật với các hình thức cụ thể của nó, F.Enghen đã chỉ ra chủ nghĩa duy vật đã trảiqua một loạt giai đoạn phát triển Mỗi lần có một phát minh vượt thời đại thì chủnghĩa duy vật lại phải thay đổi hình thức của nó “Nhưng cũng giống như chủnghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật đã trãi qua một loạt những giai đoạn pháttriển Mỗi lần có một phát minh vạch thời đại ngay cả trong khoa học tự nhiên,thì chủ nghĩa duy vật không tránh khỏi phải thay đổi hình thức của nó Và từ khicả đến lịch sử cũng được giải thích theo quan điểm duy vật chủ nghĩa thì ở đâycũng mở ra một con đường mới cho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật.”32

- Theo F.Enghen chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII có những hạn chế sau:

+ Ở thế kỷ XVIII, vì chỉ có vật lý cơ học của Niutơn là phát triểnnhất, nên tính chất của chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chủ yếu là tính chất máymóc Các nhà triết học giải thích các quá trình tự nhiên cũng như xã hội đều theo

30 S đ d trang 23.

31 S đ d trang 27.

32 S đ d trang 30, 31.

Ngày đăng: 25/08/2012, 17:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w