Khái quát về những công trình đã công bố liên quan đến hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội .... Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Khái quát về những công trình đã công bố liên quan đến hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội 5
1.1.2 Kết quả chủ yếu của các công trình trên và một số vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu tiếp 8
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng đối với hộ nghèo 9
1.2.1 Hộ nghèo và những điều kiện cần thiết để thoát nghèo 9
1.2.2 Ngân hàng chính sách xã hội và vai trò của tín dụng Ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo 18
1.3 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của một số ngân hàng chính sách xã hội và bài học cho ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Nghệ An 36
1.3.1 Kinh nghiệm của ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Thanh Hóa 36
1.3.2 Kinh nghiệm của ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Hà Tĩnh 39
1.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Nghệ An 41
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Phương pháp luận 43
2.2 Phương pháp cụ thể 43
2.2.1 Phương pháp thu thập và xử lí số liệu 43
2.2.2 Phương pháp thống kê – so sánh 44
Trang 42.2.3 Phương pháp logic – lịch sử 44
2.2.4 Phương pháp phân tích – tổng hợp 45
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN TỪ NĂM 2003 ĐẾN NAY 46
3.1 Khái quát về Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An 46
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 46
3.1.2 Chức năng 48
3.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 49
3.1.4 Đặc điểm hoạt động 52
3.2 Thực trạng tín dụng hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An từ năm 2003 đến năm 2013 53
3.2.1 Phát triển nguồn vốn 53
3.2.2 Đối tượng thụ hưởng và doanh số cho vay 56
3.2.3 Hoạt động thu nợ, thu lãi 60
3.3 Đánh giá chung 62
3.3.1 Những thành tựu cơ bản 62
3.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 65
CHƯƠNG 4 MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN 69
4.1 Mục tiêu hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo đến năm 2020 69
4.1.1 Mục tiêu tổng quát 69
4.1.2 Mục tiêu cụ thể 69
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An đến năm 2020 70
4.2.1 Hoàn thiện tổ chức mạng lưới hoạt động 70
Trang 54.2.2 Đẩy mạnh hình thức tín dụng ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội 72 4.2.3 Gắn việc cho vay vốn với các hoạt động dịch vụ sau đầu tư 74 4.2.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ đi đôi với công khai hóa, xã hội hóa hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội 75 4.2.5 Chú trọng hình thức cho vay theo dự án đi đôi với tăng mức đầu tư cho hộ nghèo 80 4.2.6 Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay 81 4.2.7 Cần có sự quan tâm và phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền cấp trên 86 KẾT LUẬN 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
11 UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
Trang 7
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động tín dụng của NHCSXH tỉnh
Nghệ An giai đoạn 2003 - 2013 47
Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức và hoạt động của NHCSXH tỉnh Nghệ An 50 Bảng 3.2 Cơ cấu nguồn vốn hộ nghèo của NHCSXH Nghệ An 2003 - 201355 Biểu đồ 3.1: Diễn biến nguồn vốn cho vay hộ nghèo 2003-2013 56 Bảng 3.3 Doanh số cho vay hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An giai đoạn
2003 - 2013 57 Bảng 3.4 Dƣ nợ cho vay hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An giai đoạn
2003 - 2013 58 Bảng 3.5 Cho vay ủy thác qua các hội đoàn thể tại NHCSXH Nghệ An 59 tính đến 31/12/2013 59 Bảng 3.6 Doanh số thu nợ đối với cho vay hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ
An giai đoạn 2003 - 2013 61 Bảng 3.7 Kết quả xử lý rủi ro do nguyên nhân khách quan đối với cho vay hộ
nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây 62
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối Đổi Mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đếu đạt mức khá cao, ngay cả thời kỳ suy thoái của nền kinh tế thế giới Nhờ đó, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 60% năm 1990 xuống còn 17,2% năm 2000 và 9,64% năm 2012 Tuy vậy, XĐGN là một sự nghiệp khó khăn và lâu dài, đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của các ngành, các cấp, trong đó Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) có vai trò quan trọng nhất và trực tiếp nhất
Tại Nghệ An, Chương trình xóa đói giảm nghèo (XĐGN) đã và đang được các cấp, các ngành tại địa phương hết sức quan tâm Nhờ vậy, đã có hàng trăm hộ thoát nghèo, trong đó nhiều hộ đã tự vươn lên làm giàu chính đáng Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh đã giảm từ 20,65% năm 2007 xuống còn 15,61% vào cuối năm 2012 Góp sức vào sự nghiệp chung đó có sự nỗ lực của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) của tỉnh Cụ thể, hàng năm Ngân hàng này đã cho hàng nghìn lượt hộ nghèo vay vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh Đến nay đã có 432.867 lượt hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, góp phần giúp 62.378 hộ vượt qua ngưỡng nghèo
Dù đã đạt được những thành tựu, song hoạt động cho vay hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An hiện vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế Đó là: nguồn vốn huy động thiếu tính ổn định, qui mô cho vay còn nhỏ, điều kiện cho vay còn thiếu rõ ràng, và đặc biệt, thủ tục cho vay còn rườm rà Để nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động cho vay hộ nghèo nói chung, cho vay hộ nghèo tại NHCSXH nói riêng, trong thời gian tới tỉnh Nghệ An cần tìm được các giải pháp phù hợp, nhất là những giải pháp mang tính đột phá
Trang 9Là một cán bộ đang làm việc tại NHCSXH tỉnh Nghệ An, với mong muốn góp phần tìm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của NH nói chung, hoạt động tín dụng hộ nghèo nói riêng, tôi chọn đề tài luận văn thạc sĩ
quản lý kinh tế của mình là "Hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An”
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: NHCSXH tỉnh Nghệ An đã có tác
động thế nào đến các hộ nghèo trong quá trình vươn lên thoát nghèo trên địa bàn tỉnh? Và trong thời gian tiếp theo NH phải làm gì để nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại địa phương?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là dựa trên cơ sở những thành tựu và hạn chế được rút ra từ phân tích thực trạng hoạt động tín dụng cho người nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An từ năm 2003 - 2014 để tìm ra một số giải pháp phù hợp với thực tiễn địa phương nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng này, góp phần XĐGN bền vững trên địa bàn tỉnh
2.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về đói nghèo và tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An từ 2003 - 2014
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với người nghèo
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp tổng hợp, thống
kê, chứng minh, diễn giải, sơ đồ, biểu mẫu và đồ thị trong trình bày luận văn
5 Đóng góp mới của luận văn
- Kế thừa những người đi trước, luận văn bổ sung và làm rõ hơn những
vấn đề lý luận về tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng của NHCSXH nói riêng đối với người nghèo
- Làm rõ những thành tựu, hạn chế trong hoạt động tín dụng cho người nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghê ̣ An hiện nay, tìm ra nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHCSXH đối với người nghèo,
nhằm giúp họ thoát nghèo bền vững trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Trang 11Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn
về hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An từ năm 2003 đến nay
Chương 4: Mục tiêu và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với
hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Khái quát về những công trình đã công bố liên quan đến hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội
Vấn đề XĐGN và tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đã được nhiều người nghiên cứu, trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương Trong số các công trình đã công bố, liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài có các công trình tiêu biểu sau:
- "Ngân hàng Chính sách Xã hội giúp người dân thoát nghèo bền
vững” (2013), của Đàm Hữu Đắc, đăng tên tờ Báo mới điện tử,
http://www.baomoi.com Bài này viết về quá trình nỗ lực phấn đấu để tập trung nguồn lực lớn, tạo bước đột phá trong công tác giảm nghèo; nâng cao chất lượng và hiệu quả vốn tín dụng chính sách; huy động lực lượng toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn
- “Tín dụng cho người nghèo và các Quỹ xóa đói giảm nghèo ở nước ta
hiện nay” (2002), của TS Nguyễn Trung Tăng, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận án nghiên cứu về vấn đề tín dụng đối với người nghèo và các Quỹ XĐGN ở nước ta trong thời kỳ hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo
- “Giải pháp tín dụng góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo của
Ngân hàng Phục vụ người nghèo Việt Nam” (2003), của TS Đào Tấn
Nguyên, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội Luận án
Trang 13nghiên cứu và đề xuất các giải pháp về cho vay đối với hộ nghèo của Ngân hàng Phục vụ người nghèo Việt Nam nhằm góp phần thực hiện Chương trình XĐGN ở nước ta
- “Thực trạng và giải pháp tín dụng Ngân hàng hỗ trợ cho công cuộc
xóa đói giảm nghèo” (2001), do TS Đỗ Quế Lượng chủ nhiệm đề tài khoa
học ngành Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội Đề tài khoa học nghiên cứu về thực trạng công tác tín dụng của các Ngân hàng Thương mại nhằm phục vụ cho công cuộc XĐGN của Đảng và Chính phủ Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả tín dụng ngân hàng để hỗ trợ cho công tác xóa đói giảm nghèo
- "Mô hình Ngân hàng Chính sách và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động của Ngân hàng chính sách” (2002), do TS Đỗ Tất Ngọc chủ nhiệm đề
tài khoa học ngành Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội Đề tài khoa học nghiên cứu về mô hình Ngân hàng Chính sách và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Chính sách nói chung
- "Về thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai
đoạn 2011-2020” (2013), của GS, TS Trần Ngọc Hiên, Học viện Chính trị
– Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, đăng trên tờ Tạp chí cộng sản điện
tử, http://www.tapchicongsan.org.vn Tác giả đưa ra và làm rõ những nhân
tố tác động đến chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2020
Ba nhân tố sẽ tác động đến chính sách này là, tăng trưởng kinh tế phiến diện, môi trường bị tàn phá và sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các cấp Đồng thời cũng đưa ra 3 định hướng cho chính sách
xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn này Đó là: Thứ nhất, đổi mới mô hình
tăng trưởng kinh tế Đây là hướng chung của sự nghiệp đổi mới, là bước chuyển giai đoạn từ tăng trưởng số lượng lên tăng trưởng cả số lượng và chất
Trang 14lượng, là giai đoạn lấy chất lượng làm động lực tăng trưởng kinh tế; thứ hai,
tạo lập những tiền đề, điều kiện để giải quyết vấn đề đói nghèo trong mô hình mới Đây là những tiền đề vừa để xây dựng mô hình kinh tế mới, vừa giải
quyết có hiệu quả vấn đề đói nghèo; thứ ba, đổi mới tổ chức và thể chế quản
lý của Nhà nước theo yêu cầu đổi mới mô hình kinh tế
- "Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo” (2014), của Ngô Thị Huyền
đăng trên báo điện tử: http://old.voer.edu.vn Bài viết về hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo, tác giả đưa ra khái niệm về hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo
Đó là một khái niệm tổng hợp bao hàm ý nghĩa toàn diện về kinh tế, chính trị
xã hội Có thể hiểu hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo là sự thoả mãn nhu cầu
về sử dụng vốn giữa chủ thể Ngân hàng và người vay vốn, những lợi ích kinh
tế mà xã hội thu được và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng
Đồng thời tác giả cũng đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo, như: luỹ kế số lượt hộ nghèo được vay vốn Ngân hàng, tỷ lệ
hộ nghèo được vay vốn, số tiền vay bình quân 1 hộ, số hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói
- “Nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo tại Chi nhánh Ngân hàng
Chính sách xã hội thành phố Hà Nội” (2007), luận văn thạc sỹ kinh tế của
Đặng Thị Phương Nam Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu lý luận
về chất lượng cho vay hộ nghèo của NHCSXH, phân tích thực trạng chất lượng cho vay hộ nghèo của chi nhánh NHCSXH thành phố Hà Nội, từ đó rút
ra những kết quả đạt được những hạn chế và nguyên nhân hạn chế, giải pháp nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo tại chi nhánh
- “Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân
hàng Chính sách xã hội tỉnh Thanh Hóa” (2011), luận văn thạc sỹ kinh tế của
Lê Thị Thúy Nga Trong công trình này, tác giả đã hệ thống hoá những vấn đề
lý luận cơ bản về đói nghèo, tín dụng đối với hộ nghèo Phân tích, đánh giá
Trang 15thực trạng và hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Thanh Hóa, đồng thời đề xuất một hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Thanh Hóa
- "Phát triển tín dụng đối với học sinh sinh viên tại Ngân hàng Chính
sách xã hội Việt Nam” (2014), luận văn thạc sĩ của Lã Thị Hồng Yến, bảo vệ
tại Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội Theo luận văn này, tín dụng đối với HSSV có hoàn cảnh khó khăn trong thời gian theo học tại các trường chuyên nghiệp và dạy nghề là rất quan trọng, bới nó có tác động lớn đến sự
phát triển nguồn nhân lực trong tương lai Vì vậy, Chương trình cho vay
HSSV không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc
Chương trình cho vay đối với HSSV có hoàn cảnh khó khăn tại NHCSXH là chương trình tín dụng lớn, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Với nỗ lực của bản thân ngân hàng cùng với sự ủng hộ của các cấp Chính quyền từ Trung ương đến địa phương và toàn dân, đến nay vốn cho vay ưu đãi đối với HSSV đã đến với 100% số xã, phường trong cả nước
Bản luận văn đã tổng quan khá đầy đủ và toàn diện lý luận chung về tín dụng ngân hàng, nguyên nhân hình thành tín dụng đối với HSSV Phân tích, đánh giá được thực trạng việc cho vay chương trình tín dụng đối với HSSV tại NHCSXH, tìm ra các vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại đó Trên cơ sở phân tích các tồn tại đã đưa ra một số giải pháp cũng như các kiến nghị nhằm phát triển tín dụng đối với HSSV tại NHCSXH Việt Nam
1.1.2 Kết quả chủ yếu của các công trình trên và một số vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu tiếp
Các công trình trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn
đề tín dụng đối với hộ nghèo; trong đó tập trung làm rõ vai trò, sự cần thiết, hay tác động của tín dụng NHCSXH đối với xóa đói giảm nghèo; phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng hộ nghèo của NHCSXH, kể cả ở cấp Trung
Trang 16ương và các địa phương Các công trình cũng đã cố gắng xoáy quanh vấn
đề tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo Đó là nguồn tài liệu quý báu để chúng tôi
kế thừa và phát triển
Tuy nhiên, vấn đề hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An thì cho đến nay vẫn còn là khoảng trống, nhất là với tư cách một luận văn thạc sỹ Vì vậy, đề tài “Hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An” có nhiệm
vụ phải lấp đầy khoảng trống đó
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng đối với hộ nghèo
1.2.1 Hộ nghèo và những điều kiện cần thiết để thoát nghèo
1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hộ nghèo
* Khái niệm hộ nghèo
Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và
số lượng, thay đổi theo thời gian Người nghèo của quốc gia này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác Bởi vậy, để nhìn nhận và đánh giá được tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng và nhận dạng được hộ đói nghèo, để từ đó có giải pháp phù hợp để XĐGN, đòi hỏi chúng ta phải có sự thống nhất về khái niệm và các tiêu chí để đánh giá đói nghèo tại từng thời điểm
Phải khẳng định rằng không có định nghĩa duy nhất về đói, nghèo Trước đây, người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp, xem thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người Quan niệm này có ưu điểm là thuận lợi trong việc xác định số người nghèo dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo Nhưng thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ đo được một phần của cuộc sống Thu nhập thấp không phản ánh hết được các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho chúng ta
Trang 17biết được mức khốn khổ và cơ cực của những người nghèo Do đó quan niệm này còn rất nhiều hạn chế
Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo
đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp cạn khác nhau Tại hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc – Thái Lan
đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương
+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng
Như vậy có thể hiểu, nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực
và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế Nói rộng hơn, nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng
Năm 1998 UNDP công bố một bản báo cáo nhan đề "Khắc phục sự nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo Đó là:
+ Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng đồng và được nuôi dưỡng tạm đủ
+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ khốn cùng tức là không có khả năng
Trang 18thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu
+ Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như sự không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phí lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hoặc nước khác
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng: Ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành hai khái niệm riêng biệt
+ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
+ Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về hộ nghèo: Đó là những hộ dân cư có mức thu nhập thực tế bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo trong năm Còn chuẩn nghèo là số tiền đảm bảo mức tiêu dùng thiết yếu (bao gồm cả lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm) cho 1 người trong 1 tháng, trong đó mức thu nhập thực tế là thu nhập hiện hành của hộ dân cư tại thời gian điều tra sau khi
đã loại trừ ảnh hưởng của giá cả theo thời gian (theo tháng) và không gian (theo thành thị, nông thôn các vùng)
Vào năm 2000, chuẩn hộ nghèo đã được điều chỉnh cho phù hợp với chuẩn quốc tế Theo đó, chuẩn mực phân loại hộ nghèo do Bộ LĐ- TB&XH quy định tại văn bản số 1143 ngày 01/11/2000 đã công bố mức chuẩn nghèo
Trang 19mới áp dụng cho thời kỳ 2001 - 2005, thì hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người hàng tháng như sau:
- 80.000 đồng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vùng miền núi nông thôn
- 100.000 đồng/người/tháng ở các vùng đồng bằng nông thôn
- 150.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
Theo tiêu chí đánh giá này, thì thời điểm đầu năm 2001 cả nước có khoảng 2,7 triệu hộ nghèo, tỷ lệ 17,3% Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006 - 2010:
- Đối với khu vực thành thị: Hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người 1 tháng dưới 260.000 đồng
- Đối với khu vực nông thôn: Hộ nghèo là những hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người 1 tháng dưới 200.000 đồng
Theo tiêu chí cũ về hộ nghèo, thì đến năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam còn 7%, còn theo tiêu chí mới tỷ lệ hộ nghèo tới 22%
Ngày 30/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-Ttg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng trở xuống, hộ nghèo ở thành thị là hộ
có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống
Ở nước ta trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng
kể Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng thu nhập và nâng cao đời sống của số đông dân chúng, vẫn còn tồn tại một bộ phận dân chúng sống nghèo khổ, đặc biệt là những hộ nông dân nghèo sống tập trung ở các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa Chính vì vậy, trong xã hội sự phân hoá giàu nghèo
Trang 20đang diễn ra ngày một sâu sắc, khoảng cách giàu, nghèo ngày càng rộng Đây
là một thách thức lớn đặt ra đòi hỏi phải có những chính sách và giải pháp phù hợp, đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội phải thực hiện thành công chương trình, mục tiêu quốc gia về XĐGN
* Đặc điểm của hộ nghèo
Qua nghiên cứu về các hộ gia đình nghèo, nhóm dân nghèo cho thấy nổi lên một số đặc điểm chính sau đây:
Thứ nhất, người nghèo đa phần là những nông dân sống ở các vùng
nông thôn, cơ bản họ vẫn còn tư liệu sản xuất như ruộng đất Nhưng họ thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất Đó chính là một trong những cơ sở tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả chính sách xoá đói giảm nghèo Khi có chính sách và sự hỗ trợ thích đáng của Nhà nước, người nghèo
sẽ có cơ hội tiếp xúc với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội để vượt qua đói nghèo bằng chính sức lao động của mình
Thứ hai, đa số người nghèo có trình độ học vấn thấp, bị hạn chế về khả
năng tiếp cận kỹ năng, kỹ thuật sản xuất tiên tiến và những thông tin thị trường Trong sản xuất thường đạt hiệu quả thấp, chậm tiếp thu và thiếu những điều kiện áp dụng những kỹ thuật tiên tiến, thiếu những kiến thức về kinh tế thị trường
Thứ ba, những hộ nghèo thường rất dễ bị tổn thương bởi những biến cố
khách quan mang tính thời vụ hoặc những biến động bất thường xảy ra như:
sự biến động về giá thị trường của mặt hàng nông sản sản xuất hoặc những biến cố thiên nhiên như: hạn hán, lũ lụt, bão, Người nghèo thường không đủ nguồn lực để chống đỡ khi có biến cố xảy ra
Thứ tư, các hộ nghèo thường có nhiều con hoặc có ít lao động trong gia
đình, chịu những áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục, phải tốn kém nhiều để giữ gìn, nâng cao nguồn nhân lực Những hộ nghèo do có ít lao động nên có
Trang 21thu nhập ít, hoặc có thu nhập nhưng con đông không đủ để trang trải các chi phí y tế, giáo dục, vì vậy các khoản chi phí dịch vụ về y tế, giáo dục thường là gánh nặng về tài chính đối với người nghèo Trẻ em - con của dân nghèo phần lớn ít có khả năng đến trường và bị hạn chế trong việc chăm sóc sức khoẻ nên thường bị suy dinh dưỡng, bệnh tật Bị rơi vào vòng đói nghèo không có khả năng đáp ứng cho các chi phí y tế, giáo dục, cho nên con em họ tiếp tục sống trong hoàn cảnh đói, nghèo
Thứ năm, các hộ nghèo thuộc dân tộc ít người thường chịu nhiều bất lợi
do bị tách biệt về mặt địa lý và về mặt xã hội, chịu nhiều tốn kém cho những phong tục lạc hậu, còn sống theo cách du canh, du cư, vệ sinh môi trường kém, thường bị nhiều bệnh tật, thiếu thốn về vốn nhân lực, vật lực, cuộc sống chịu tác động trực tiếp của thiên nhiên đến quá trình sản xuất
1.2.1.2 Điều kiện cần thiết để thoát nghèo
Để các hộ nghèo có thể thoát nghèo, cần phải có các điều kiện sau:
Thứ nhất, phải có vốn để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh
Bất kể một hoạt động nào muốn thực hiện được đều phải có những tiền
đề cơ bản Ví dụ như để nấu được cơm thì trước hết phải có gạo và nước Và
để hoạt động sản xuất kinh doanh có thể được thực hiện thì trước hết phải cần
có vốn
Với bất kỳ một ai, dù ở hình thức nào thì muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được đều phải có lượng vốn nhất định Đây là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh Có vốn, hộ gia đình mới
có điều kiện để trang bị các thiết bị, nguyên vật liệu, con giống… cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, vốn còn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục từ khoản mua sắm vật tư, chăm sóc, nuôi trồng, sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, muốn tồn tại và phát triển phải có các bí
Trang 22quyết công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tiêu thụ sản phẩm Để thực hiện được cả quá trình trên thì
hộ gia đình phải có vốn để đầu tư
Như vậy, vốn có một vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt đối với những hộ nghèo Thiếu vốn, đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến hộ gia đình trở thành hộ nghèo
Tín dụng chính sách đối với hộ nghèo sẽ góp phần giải quyết được vấn
đề về vốn sản xuất kinh doanh cho hộ nghèo
Thứ hai, người nghèo phải có kiến thức tối thiểu về kỹ thuật sản xuất
kinh doanh và kỹ năng tiếp cận thị trường
Để có thể thoát nghèo, hộ nghèo cần được trang bị, tiếp cận những kiến thức, kỹ thuật sản xuất kinh doanh mới, đem lại năng suất lao động cũng như hiệu quả cao Nói khác đi, một khi người nghèo có kiến thức, kỹ năng về sản xuất và thị trường, họ sẽ biết cần phải sản xuất cái gì, sản xuất thế nào và bán
ở đâu để có lợi nhất, khi đó họ sẽ có thu nhập cao, không chỉ thoát nghèo mà còn trở nên giàu có
Thực tế cho thấy, đại đa số hộ nghèo ở Việt Nam hiện nay đều do thiếu kiến thức và kỹ năng về sản xuất Nói cách khác, phương pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức của họ, vì vậy họ không có kiến thức về marketting ; thị trường; sản phẩm đầu ra hạn hẹp, chủ yếu là hàng sơ chế nên giá trị thấp Hơn nữa sản phẩm làm ra chưa xuất phát từ nhu cầu của thị trường (bán sản phẩm của mình có, chứ không bán cái mà thị trường cần) Những người sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện thông tin liên lạc, con cái thất học không có cơ hội tiếp cận với khoa học kỹ thuật sản xuất mới hay ngành nghề mới nên không tìm được việc làm, dẫn đến nghèo đói vì không có thu nhập Đây cũng là một trong trong những nguyên nhân chính dẫn tới nghèo
Trang 23Vậy nhưng, trên thực tế, khả năng tiếp cận thị trường là một trong những hạn chế rất lớn đối với người nghèo Hộ nghèo thường gặp khó khăn
và thiếu tự tin trong việc giải quyết các vấn đề của chính bản thân mình Về giao tiếp xã hội, người nghèo thường quan hệ với những người nghèo như mình, hoặc nghèo hơn mình Không muốn quan hệ với những người khá giả hơn mình Từ đó, càng làm hạn chế về khả năng tiếp cận tư duy mới, cũng như kinh nghiệm làm kinh tế giỏi Hơn nữa, hộ nghèo thường thiếu thông tin, khả năng nắm bắt thị trường cũng gặp nhiều hạn chế, từ đó sản phẩm sản xuất
ra không được tiêu thụ hoặc không đạt hiệu quả
Thứ ba, phải có sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân
Quyết định cơ bản của chiến lược phát triển xã hội mà Đảng ta đã đề ra
là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh
Do vậy, hỗ trợ người nghèo là một đòi hỏi khách quan Xuất phát từ căn nguyên của sự đói nghèo, nó khẳng định một điều: mặc dù kinh tế đất nước có tăng trưởng nhưng nếu không có chính sách và chương trình riêng về XĐGN thì các hộ nghèo cũng không tự thoát khỏi đói nghèo được Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra nhiều chính sách đặc biệt để trợ giúp người nghèo nhằm dần dần thu hẹp khoảng cách giữa giàu và nghèo nhưng không phải tạo
ra cơ chế bao cấp mà tạo ra cơ hội cho người nghèo vươn lên bằng những chính sách và giải pháp cụ thể, như:
- Tiến hành điều tra, nắm được tình trạng hộ nghèo và thực hiện nhiều chính sách đồng bộ như: tạo công ăn việc làm, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng với quy mô nhỏ ở vùng nghèo, cho hộ nghèo vay vốn vốn, cung cấp thông tin cần thiết tạo cho hộ nghèo có thể tiếp cận với thị trường và hoà nhập với cộng đồng
Trang 24- Hỗ trợ về giáo dục, y tế, hướng dẫn hộ nghèo cách thức làm ăn, khuyến nông , khuyến lâm, khuyến ngư…
- Có các chương trình hỗ trợ đặc biệt các dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt
- Thực hiện định canh, định cư, di dân kinh tế mới
- Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác XĐGN và cán bộ các cấp xã thuộc vùng nghèo, xã đặc biệt khó khăn
- Thực hiện một số chính sách khuyến khích và giúp đỡ hộ nghèo như miễn giảm thuế, học phí, viện phí… Đối với hộ nghèo không còn khả năng lao động tạo ra nguồn thu nhập, nhà nước sẽ trợ cấp hàng tháng và vận động các tổ chức đoàn thể, quần chúng các nhà hảo tâm giúp đỡ dưới nhiều hình thức khác nhau
- Mở rộng sự hợp tác quốc tế với các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ để giúp đỡ nhau về nguồn lực và trao đổi kinh nghiệm
Theo kinh nghiệm thực tiễn nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới, việc cung cấp nguồn tài chính cho công cuộc XĐGN thường theo hai phương thức, đó là: phương thức trợ cấp thông qua kênh cứu tế xã hội và phương thức hỗ trợ thông qua kênh tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo
Tại Việt Nam, việc trợ cấp xã hội chỉ áp dụng đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt, không thể tự mình lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất, như những người già cả, neo đơn, người bị tàn tật do chiến tranh, trẻ em
mồ côi… hoặc những đối tượng Nhà nước phải thực hiện chính sách đền ơn, đáp nghĩa
Phương thức cung cấp tài chính thông qua kênh tín dụng cho người nghèo, đây là một trong những phương thức thương mại hoá dần các nguồn tài chính phục vụ cho XĐGN Phương thức này làm giảm dần phương thức
Trang 25bao cấp thông qua kênh cứu tế xã hội của Nhà nước và phương thức này ngày càng được phổ biến và đánh giá là hữu hiệu hơn cả
1.2.2 Ngân hàng chính sách xã hội và vai trò của tín dụng Ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo
1.2.2.1 Ngân hàng Chính sách xã hội và đặc điểm hoạt động của nó
* Sự ra đời của Ngân hàng Chính sách xã hội
Tín dụng chính sách là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Xoá đói giảm nghèo Tiền thân của NHCSXH là Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện từ năm 1994-1995, sau đó là Ngân hàng Phục
vụ người nghèo từ tháng 8/1995 đến tháng 12/2002
Kế thừa và phát huy những kết quả đạt được trong 7 năm hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo, ngày 04 tháng10 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 131/2002/QĐ - TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo được thành lập theo Quyết định số 230/QĐ - NH5 ngày 01 tháng 9 năm 1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ngân hàng Chính sách xã hội có chức năng:
+ Tổ chức huy động vốn trong nước và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo
+ Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước, vay tiết kiệm Bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, vay Ngân hàng Nhà nước Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước
Trang 26+ Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội
+ Nhận làm dịch vụ uỷ thác cho vay từ các tổ chức quốc tế, quốc gia,
cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác
+ Được nhận các nguồn vốn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không hoàn trả gốc của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn của của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp để cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác
+ Ngân hàng Chính sách xã hội có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước; Được thực hiện các dịch
vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ
Như vậy, Ngân hàng chính sách xã hội là một định chế tài chính, là một loại hình ngân hàng chính sách có nhiệm vụ chủ yếu là thực thi tín dụng chính sách của Chính phủ trong từng thời kỳ đối với nhóm đối tượng chính sách xã hội
* Đặc điểm hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội
NHCSXH là ngân hàng đặc thù của Chính phủ, hoạt động trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, có nhiều điểm khác biệt so với các Ngân hàng thương mại Những điểm khác biệt chủ yếu là:
Thứ nhất, đây là ngân hàng dành cho người nghèo và các đối tượng
chính sách Theo quyết định số 30/2007/QĐ- TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ, đối tượng vay vốn của NHCSXH là những hộ gia đình nghèo, các đối tượng chính sách gặp khó khăn thiếu thốn trong cuộc sống không đủ điều kiện để vay vốn từ các Ngân hàng thương mại, các đối tượng sinh sống ở những xã thuộc vùng khó khăn
Trang 27Như vậy, khác với các NHTM, khách hàng của NHCSXH chủ yếu là những hộ nghèo, hộ gia đình thụ hưởng chính sách tín dụng chỉ định của Chính phủ, các tổ chức kinh tế và các hộ sản xuất kinh doanh thuộc khu vực nghèo, vùng sâu, vùng xa Họ được vay vốn theo một cơ chế ưu đãi do Nhà
nước quy định Thực chất vốn hỗ trợ cho người nghèo và các đối tượng chính
sách (kể cả trường hợp ở những nước cho vay theo lãi suất thị trường) là phương thức tài trợ thể hiện tính chính sách trong nền kinh tế thị trường
Thứ hai, là ngân hàng của Chính phủ, có tư cách pháp nhân Dù vậy,
NHCSXH vẫn là đơn vị tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động tín dụng của mình trước pháp luật; thực hiện bảo tồn và phát triển vốn; bù đắp chi phí và rủi ro hoạt động tín dụng Là đơn vị tự chủ, nhưng NHCSXH thực hiện hạch toán tập trung toàn hệ thống
Vốn điều lệ ban đầu của NHCSXH là 5.000 tỷ đồng và được cấp
bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ Đến ngày 31/12/2011, vốn điều lệ của NHCSXH là 10.000 tỷ đồng
Thứ ba, NHCSXH có nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách và được ngân
sách tài trợ chi phí Hoạt động huy động vốn của NHCS xuất phát từ tính chất của các món cho vay mà ngân hàng cung ứng Đó là các món vay có tỷ lệ sinh lời thấp (cho vay xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm…), thời gian dài (cho vay đối với đầu tư phát triển), rủi ro cao nên yêu cầu đối với ngân hàng là phải huy động vốn có lãi suất tương đối thấp, thời gian sử dụng dài và chịu đựng rủi ro Vốn cho hoạt động của ngân hàng bao gồm:
- Vốn có nguồn gốc từ Nhà nước (là nguồn chủ yếu) Nhà nước hỗ trợ vốn cho NHCSXH thể hiện vai trò chủ sở hữu của Nhà nước đối với ngân hàng, cung ứng vốn khi ngân hàng mới đi vào hoạt động (vốn ban đầu) và bổ sung trong quá trình hoạt động khi cần thiết (vốn chủ sở hữu) Nguồn này một phần được ngân hàng sử dụng để hình thành nên các tài sản cố định của ngân
Trang 28hàng (trụ sở, phương tiện làm việc và đi lại, thiết bị…), một phần gộp vào các nguồn khác để cho vay Việc gia tăng nhuồn vốn này tùy thuộc vào nhiều yếu
tố như: chính sách đối với các đối tượng chính sách, năng lực tài chính của bản thân NHCS, nhu cầu về vốn của khách hàng…
- Nguồn vốn từ các tổ chức chính trị, xã hội Đây là một nguồn quan trọng của ngân hàng Mục tiêu kinh tế xã hội mà NHCS theo đuổi có thể phù hợp với mục tiêu hoạt động của nhiều tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ trong và ngoài nước: phát triển ngành, phát triển vùng
và khu vực, xoá đói giảm nghèo… thông qua xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp… Vốn từ nguồn này có khối lượng lớn, lãi suất tương đối thấp, thời hạn sử dụng thường là dài hạn, có thời gian ân hạn, kèm theo chuyển giao công nghệ, chuyên gia, cung cấp thông tin và đào tạo Tuy vậy, nguồn vốn này thường kèm theo các điều kiện kinh tế, chính trị mà ngân hàng không
dễ thực hiện và nhiều khi những điều kiện này làm cho vốn đắt lên và hiệu quả sử dụng thấp đi
- Vốn huy động trên thị trường trong và ngoài nước Vốn NHCSXH huy động trên thị trường bao gồm: huy động tiền gửi, tiết kiệm của dân cư và
đi vay Ngân hàng khuyến khích mở tài khoản tiền gửi và tiết kiệm đối với các tổ chức và cá nhân có vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng Đặc biệt, các NHCSXH thường tập trung vận động các tổ chức lớn như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tiền gửi, các dự án, NHTM, công ty tài chính gửi tiền vào ngân hàng dưới hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi không hưởng lãi hoặc hưởng lãi suất thấp
Đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng đối với ngân hàng, đánh giá vị thế của ngân hàng trên thị trường tài chính NHCSXH được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán đối với các nguồn mà ngân hàng huy động vì ngân hàng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên nếu không được Chính phủ
Trang 29đảm bảo khả năng thanh toán thì việc huy động vốn của những ngân hàng này
sẽ rất khó khăn
Thứ tư, NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì an sinh
xã hội, thực hiện cho vay với lãi suất và các điều kiện ưu đãi Nói cách khác, mục tiêu chủ yếu của NHCSXH là xoá đói giảm nghèo, vì vậy mức cho vay
và lãi suất cho vay của NHCSXH là do Chính phủ qui định, tùy thuộc vào từng thời kỳ cụ thể Hiện nay, lãi suất của các chương trình cho vay của NHCSXH từ 0%/tháng đến 0,9%/tháng NH thực hiện phương thức cho vay
ủy thác thông qua các tổ chức chính trị - xã hội
NHCSXH có Hội đồng quản trị và Ban đại diện HĐQT các cấp HĐQT NHCSXH cấp Trung ương có 14 thành viên, gồm 12 thành viên kiêm nhiệm
và 02 thành viên chuyên trách HĐQT có chức năng quản trị các hoạt động của NHCSXH, phê duyệt chiến lược phát triển dài hạn, kế hoạch hoạt động hàng năm, ban hành các văn bản về chủ trương, chính sách, quy định, quy chế
tổ chức và hoạt động của NHCSXH các cấp, nghị quyết các kỳ họp HĐQT thường kỳ và đột xuất
Tại các chi nhánh NHCSXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Ban đại diện HĐQT có chức năng giám sát việc thực thi các Nghị quyết, Văn bản chỉ đạo của HĐQT tại các địa phương Chỉ đạo việc gắn tín dụng chính sách với kế hoạch xoá đói giảm nghèo và dự án phát triển kinh tế xã hội tại địa phương để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ưu đãi Thành phần, số lượng thành viên Ban đại diện HĐQT các cấp tại địa phương tương đương như thành phần của HĐQT ở Trung ương (nhưng không có thành viên chuyên trách)
Trang 30Thứ năm, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt
buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách
1.2.2.2 Vai trò của tín dụng NHCSXH đối với hộ nghèo
Thứ nhất, cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông
thôn mới
Tín dụng cho người nghèo của NHCSXH thực hiện theo các quy định nghiệp vụ như bình xét công khai đối tượng được vay, thành lập tổ vay vốn, phải qua sự kiểm tra của chính quyền xã, phường, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp từ Trung ương đến xã, vốn vay được phát trực tiếp tận người vay Do đó, thông qua vay vốn, các hộ nghèo trong tổ cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống; trao đổi kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản
lý kinh tế, chia sẻ rủi ro, hoạn nạn Thông qua đó mà tình làng nghĩa xóm được gắn bó hơn Đồng thời số lượng các hội viên sinh hoạt tại các tổ chức hội (HND, HPN, HCCB, ĐTN) ngày càng đông, hoạt động của các tổ chức hội phong phú hơn về nội dung, các hội làm dịch vụ uỷ thác cho vay hộ nghèo cũng có thêm khoản thu nhập từ phí uỷ thác ngân hàng trả theo tỷ lệ
và định kỳ nhất định (hàng quý) Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi
bộ mặt kinh tế nông thôn Trật tự an ninh, an toàn xã hội được giữ vững; hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn
Thứ hai, giúp người nghèo có việc làm, nâng cao kiến thức tiếp cận thị
trường, có điều kiện hoạt động SXKD trong nền kinh tế thị trường
Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho SXKD để XĐGN; sau một thời gian thu hồi cả gốc và lãi đã buộc người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào
để có hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho gia đình; đồng thời trả nợ cho
Trang 31ngân hàng Để làm được điều đó, họ phải học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý Từ đó, tạo cho họ tính năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế Mặt khác, khi số đông người nghèo sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá thông qua việc trao đổi trên thị trường, làm cho họ tiếp cận được kinh tế thị trường một cách trực tiếp Đồng thời giải quyết tình trạng không có việc làm cho hàng vạn lao động nghèo, phát huy tiềm năng sẵn có của các hộ gia đình Như chúng ta đã biết diện tích đất nông nghiệp trên đầu người hiện nay ở các vùng nông thôn của đất nước quá thấp (do quá trình đô thị hoá nhanh làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp) Trong khi đó, số lao động nông thôn ngày càng tăng (một phần do sinh đẻ không có kế hoạch), sản xuất thuần nông (không có ngành nghề phụ) nên thời gian nông nhàn của người nghèo lớn (thời gian làm việc của một lao động trong một năm chỉ khoảng 100 ngày, còn 265 ngày không có việc làm) Tình trạng không có việc làm diễn ra phổ biến ở các vùng nông thôn Thông qua vốn tín dụng cho người nghèo đã hỗ trợ phát triển ngành nghề ở nông thôn, như: Chế biến nông sản, thủy hải sản, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống cũng như thủ công
mỹ nghệ, ngành nghề truyền thống Nhờ vậy, đã giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động Giải quyết phần lớn thời gian nông nhàn Tận dụng lao động
để khai thác ngành nghề truyền thống, khai thác tiềm năng nội lực, tạo cơ hội cho người nghèo tự vận động, vượt qua khó khăn, vươn lên thoát khỏi đói nghèo hoà nhập cộng đồng
Thứ ba, tín dụng ngân hàng làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi
Tệ nạn cho vay nặng lãi đã có từ lâu đời nay, hiện nay vẫn đang tồn tại khá nặng nề ở nông thôn, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa Cho vay nặng lãi thể hiện ở lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay của ngân hàng
Trang 32hoặc dưới dạng mua bán sản phẩm non như lúa non, lạc non, mía non…ở thời
kỳ giáp hạt
Do nhu cầu cấp bách (thường là do đói kém, ốm đau bệnh tật, chi phí con đi học hoặc nhu cầu đột xuất), nên họ phải vay nặng lãi Tín dụng nặng lãi gây nhiều tác hại cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, làm cho hộ nghèo càng nghèo thêm Chính hoạt động tín dụng ngân hàng, nhất là NHCSXH đã trực tiếp làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi
Thứ tư, cung cấp vốn tín dụng, góp phần cải thiện thị trường tài chính
cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống
Vốn tín dụng cho người nghèo đã góp phần cải thiện tình hình thị trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống Trong ba yếu tố
cơ bản để hộ nghèo có điều kiện SXKD; đó là vốn bằng tiền hoặc đất đai, lao động và kỹ thuật; trong đó, vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng nhất vì nếu
có vốn bằng tiền, thì người sản xuất có thể mua sắm các tư liệu sản xuất khác,
kể cả đất đai Hiện nay, tích luỹ của người nghèo ở nước ta rất thấp, do đó hầu như các hộ nghèo đều thiếu vốn để SXKD Nhờ nguồn vốn của ngân hàng mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được khoa học kỹ thuật, công nghệ mới như các giống cây, con mới, kỹ thuật canh tác mới và cũng nhờ vay vốn, mà
hộ nghèo tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư
1.2.2.3 Nội dung hoạt động tín dụng của NHCSXH đối với hộ nghèo
Trang 33- Nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng Nhà nước theo quy định của Chính phủ;
- Vay vốn của các tổ chức: Tiết kiệm bưu điện và Bảo hiểm xã hội;
- Vay vốn Ngân hàng Nhà nước;
- Tiếp nhận vốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư từ Chính phủ, các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước
Để phát triển nguồn vốn, NHCSXH thường áp dụng đa dạng các hình thức huy động vốn, đồng thời chú trọng: hoàn thiện cơ sở vật chất , phương tiện làm việc , trang thiết bị kỹ thuật ; thành lập Trung tâm thanh toán để tham gia thanh toán liên ngân hàng; thực hiện hoạt động về ngoại hối; áp dụng các công nghệ mới, hiện đại trong lĩnh vực tin học phục vụ cho hoạt động ngân hàng
* Mở rộng đối tượng thụ hưởng và tăng doanh số cho vay
Do đối tượng cho vay của NHCSXH là người nghèo, nên việc mở rộng đối tượng thụ hưởng và tăng doanh số cho vay có vai trò rất lớn trong sự nghiệp XĐGN của mỗi địa phương cũng như của quốc gia Để mở rộng đối tượng thụ hưởng theo đúng qui định của Nhà nước, NH phải bám sát các nội dung sau:
Mục đích cho vay: NHCSXH cho vay ưu đãi hộ nghèo nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm, ổn định xã hội
Khách hàng vay vốn: là hộ nghèo có hộ khẩu thường trú hoặc đăng ký
tạm trú dài hạn tại đại phương nơi cho vay; có tên trong danh sách hộ nghèo
ở xã (phường, thị trấn) sở tại theo chuẩn nghèo do Chính phủ công bố từng thời kỳ;
Những hộ nghèo không được vay vốn gồm: những hộ không còn sức lao động, những hộ độc thân đang trong thời gian thi hành án hoặc những hộ
Trang 34nghèo được chính quyền địa phương xác nhận loại khỏi danh sách hộ vay vốn
vì mắc tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, lười biếng không chịu lao động; những hộ nghèo thuộc diện chính sách (già cả, neo đơn, thiếu ăn do ngân sách nhà nước cấp)
* Điều chỉnh hợp lý mức vay và lãi suất cho vay
Mức cho vay đối với hộ nghèo cần phải được điều ch ỉnh thường xuyên cho phù hợp với giá cả thi ̣ trường và đáp ứng nhu cầu của họ trong sản xuất
và đời sống
Lãi suất cho vay là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bền vững tín du ̣ng đối với hộ nghèo Do vậy, một chính sách ưu đãi về lãi suất cho vay sẽ giúp người nghèo giảm nhẹ gánh nặng về tài chính khi nợ đến hạn Tuy nhiên viê ̣c điều chỉnh lãi suất cho vay cũng cần phải xem xét mức đô ̣ ưu đãi sao cho hợp lý, phù hợp với thị trường và khả năng cấp bù của Ngân sách Nhà nước
* Tăng doanh số thu nợ
Để phát triển tín du ̣ng , nâng cao hiê ̣u quả sử du ̣ng nguồn vốn tín du ̣ng đối với hộ nghèo , một nội dung quan tro ̣ng là phải thu hồi được nợ để ta ̣o nguồn vốn quay vòng Cần tìm kiếm các giải pháp thu nợ phù hợp với đối tượng vay vốn đă ̣c thù của chương trình này
Hiện nay, Ngân hàng Chính sách xã hội đặt điểm giao dịch tại xã nhằm tạo điều kiện thuận lợi cũng như tiết kiệm chi phí đi lại cho các hộ vay khi vay vốn cũng như thanh toán nợ vay hay trả tiền lãi vay Các hoạt động này được thực hiện vào một ngày cố định hàng tháng Cụ thể:
- Thu nợ gốc: Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo
đúng hạn đã cam kết Trong đó, mãn vay ngắn hạn: thu nợ gốc khi đến hạn; mãn vay trung hạn: phân kỳ trả nợ nhiều lần: theo quý, 6 tháng hoặc 1 năm do Ngân hàng và người vay vốn thoả thuận
Trang 35Người vay vốn được quyền trả nợ trước thời hạn
- Thu lãi: Thực hiện thu lãi hàng tháng trên số dư nợ thoả thuận giữa ngân hàng và hộ nghèo vay vốn
* Xử lý nợ rủi ro
Đối tượng khách hành là hộ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn nên thường
là cho vay dài hạn và mang tính đầu tư cho tương lai , do đó nguy cơ rủi ro cũng thường cao hơn các đối tượng vay vốn khác Do đó NHCSXH cần có cơ chế xử lý rủi ro phù hợp, đảm bảo giúp người vay khắc phu ̣c khó khăn khi rủi
ro xảy ra ; đồng thời đảm bảo cho hoa ̣t đô ̣ng tài chính của NHCSXH được lành mạnh và phát triển bền vững
Để giảm thiểu rủi ro, NHCSXH cần đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc cho vay là: sử dụng vốn đúng mục đích xin vay và hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn thoả thuận Trong đó, mục đích vay vốn phải được sử dụng vào các việc sau:
- Đối với cho vay sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, gồm: (i) cho vay vốn
phục vụ cho các ngành trồng trọt, chăn nuôi; (ii) đầu tư làm các nghề thủ công trong hộ gia đình; (iii) chi phí nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thuỷ hải sản; (iv) góp vốn thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh do cộng đồng người lao động sáng lập và được chính quyền địa phương cho phép hoạt động
- Đối với cho vay đời sống, gồm: (i) cho vay làm mới, sửa chữa nhà ở; (ii) cho vay điện sinh hoạt; (iii) cho vay nước sạch; (iv) cho vay vốn giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về học tập
1.2.2.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng hộ nghèo tại NHCSXH
* Khái niệm hiệu quả tín dụng hộ nghèo
Trang 36Hiệu quả tín dụng hộ nghèo là sự thoả mãn nhu cầu về sử dụng vốn giữa chủ thể Ngân hàng và người vay vốn, những lợi ích kinh tế mà xã hội thu được và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng
* Tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH
Tín dụng cho hộ nghèo chủ yếu là hoạt động xã hội, vì thế hiệu quả của
nó cũng được thể hiện ở mức độ thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước đến đâu Nó có thể được đánh giá qua các tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng
- Khả năng hoàn trả và hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của người vay
Nếu tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ hộ nghèo thấp, cho thấy các khoản tín dụng đối với hộ nghèo an toàn, lành mạnh Tỷ lệ nợ quá hạn cao, phản ảnh sự rủi ro các khoản tín dụng
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay
Dư nợ quá hạn cho vay hộ nghèo
x 100%
Trang 37hộ nghèo thoát nghèo Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ vốn tín dụng cho vay hộ nghèo đã được cho vay đúng đối tượng, hiệu quả
+ Nhóm chỉ tiêu định tính
- Thủ tục vay vốn:
Đây là chỉ tiêu phản ánh việc thực hiện các thủ tục hành chính khi vay vốn, nó thể hiện ở mức độ đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc tín dụng Việc giải ngân vốn tín dụng nhanh chóng, thuận tiện cho người nghèo
để tạo niềm tin cho họ cũng rất quan trọng, bởi cho vay người nghèo không
có tài sản bảo đảm, nếu không tạo niềm tin cho người nghèo về một sự gần gũi giữa ngân hàng với họ thì khả năng rủi ro tín dụng có nguy cơ sẽ tăng lên
- Mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Tính dân chủ, công khai trong bình xét vay vốn đầy đủ, đến đúng địa chỉ hộ nghèo cần vay vốn (hộ nghèo có sức lao động, có khả năng SXKD nhưng thiếu vốn), vốn cho vay đáp ứng đầy đủ, kịp thời và được sử dụng đúng mục đích sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của từng địa phương phát triển, giúp cho người nghèo thoát nghèo, giảm bớt các áp lực về mặt kinh tế
- xã hội đối với các địa phương và phát huy các nguồn lực trong phát triển kinh tế
1.2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo của NHCSXH
Trang 38a) Nhóm nhân tố khách quan
Đây là những nhân tố rất quan trọng, tác động mạnh tới chất lượng hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo Thuộc nhóm này bao gồm nhiều nhân tố, chủ yếu bao gồm:
(1) Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo Cụ thể, những hộ sống ở vùng đồng bằng, nơi có cơ sở hạ tầng tốt, trình độ dân trí cao, khí hậu ôn hòa, đất đai rộng, thì vốn tín dụng hộ nghèo dễ
có điều kiện phát huy hiệu quả cao; Và ngược lại, những nơi cơ sở hạ tầng thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, đất đai ít, cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt thì vốn tín dụng phát huy hiệu quả không cao
(2) Điều kiện xã hội
Do tập quán canh tác ở một số nơi vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn lạc hậu, như chăn nuôi gia súc, gia cầm thả rông, không có chuồng trại, không tiêm phòng dịch, nên hiệu quả sử dụng vốn không cao Từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo
Điều kiện y tế, giáo dục cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tín dụng
hộ nghèo Những nơi có trạm y tế, có đội ngũ y, bác sỹ đầy đủ, thì nơi đó việc chăm sóc sức khỏe cho người dân được đảm bảo, người dân có sức khỏe tốt đồng nghĩa với sức lao động tốt, có điều kiện để SXKD tốt, sử dụng vốn có hiệu quả; trong đó, có vốn tín dụng hộ nghèo và ngược lại Giáo dục có ý nghĩa quyết định đến việc sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả Nếu nơi nào có
tỷ lệ người được học cao, thì nơi đó dễ có điều kiện tiếp thu khoa học, kỹ thuật vào sản xuất; nơi đó con người có ý thức tốt hơn; SXKD có hiệu quả, chấp hành pháp luật Nhà nước và thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng
(3) Điều kiện kinh tế
Trang 39Hộ nghèo hầu như không có vốn (chỉ có sức lao động), nên vốn SXKD chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng cũng là một yếu tố làm giảm hiệu quả của vốn vay Cùng với việc thiếu vốn SXKD, thì việc lồng ghép tập huấn các chương trình như: Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư…hạn chế cũng góp phần làm giảm hiệu quả tín dụng hộ nghèo
Thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo Nơi nào có chợ, chợ họp thường xuyên, thì nơi đó kinh tế phát triển, hàng hóa sản xuất ra dễ tiêu thụ, người dân tiếp cận được với khoa học kỹ thuật, có điều kiện tiếp cận được kinh tế thị trường
(4) Chính sách nhà nước
Sự can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế là một tác nhân quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế Sự điều tiết của Nhà nước đúng, kịp thời sẽ giúp môi trường kinh tế được lành mạnh hóa, hoặc ngược lại sẽ gây rối loạn thị trường Để Nhà nước có các chính sách hỗ trợ vốn cho các vùng nghèo, xã nghèo, hộ nghèo kịp thời, liên tục; có chính sách hướng dẫn
hộ đầu tư vốn vào lĩnh vực nào trong từng thời kỳ, xử lý rủi ro kịp thời cho hộ nghèo, thì vốn vay dễ có điều kiện phát huy hiệu quả cao Sản phẩm làm ra của hộ nghèo, nếu có thị trường tiêu thụ tốt, thì dễ tiêu thụ có lợi nhuận và hiệu quả đồng vốn cao và ngược lại; nếu Nhà nước có các chính sách đúng, kịp thời hỗ trợ hộ nghèo trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, thì góp phần làm cho việc sử dụng vốn có hiệu quả Nhà nước phải đầu tư cơ sở hạ tầng, bao gồm xây dựng và nâng cấp các con đường giao thông nông thôn, các công trình thuỷ lợi và chợ Hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, bao gồm cung cấp giống mới và các loại vật tư nông nghiệp khác, tập huấn và khuyến nông để người nghèo có các điều kiện cần thiết sử dụng vốn có hiệu quả
(5) Bản thân hộ nghèo
Trang 40Phát triển là do sự vận động nội tại, vậy nên sự nỗ lực của bản thân người nghèo có tác dụng quyết định đến mục tiêu thoát nghèo của họ Sự hỗ trợ từ Nhà nước hay ngân hàng chỉ có tác dụng tạo cú “hích” để các hộ nghèo thoát nghèo thôi, chứ không thể làm thay các hộ nghèo được Cho nên, nếu các hộ nghèo không chịu khó vươn lên thì đồng vốn tín dụng ưu đãi mà NHCSXH giao cho họ sẽ không phát huy được hiệu quả
Các hộ nghèo thường thiếu nhiều thứ, trong đó, có tri thức, kinh nghiệm SXKD, dẫn đến hiệu quả của SXKD hạn chế, sản phẩm sản xuất ra chi phí cao, chất lượng và khả năng cạnh tranh kém khó vượt qua các rủi ro trong sản xuất và đời sống Về vốn chủ yếu là vốn vay ngân hàng, dẫn đến bị động về vốn sản xuất Nếu hộ nghèo có ý thức sử dụng vốn đúng mục đích gặp thuận lợi trong sản xuất, chăn nuôi thì có hiệu quả Vậy nên sự thờ ơ của
hộ nghèo, ý thức kém của hộ nghèo thì việc sử dụng vốn vay sẽ không đạt hiệu quả, theo đó hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng kém do hộ sử dụng vốn sai mục đích, không chấp hành việc trả nợ (gốc, lãi) cho ngân hàng đúng hạn, đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tín dụng của NHCSXH
b) Nhóm nhân tố chủ quan
Đây là những nhân tố thuộc về nội tại của bản thân NHCSXH Chúng bao gồm một số nhân tố chủ yếu sau đây:
(1) Chiến lược hoạt động của ngân hàng
Đây là một nhân tố ảnh hưởng có tính quyết định tới chất lượng tín dụng đối với người nghèo của NHCSXH Nếu như ngân hàng chỉ hoạt động mang tính chất thụ động, không định hướng một cách cụ thể và có chiến lược hoạt động của mình thì tất yếu ngân hàng không thể nâng cao chất lượng hoạt động của mình, trong đó có hoạt động tín dụng Một khi chất lượng lĩnh vực hoạt động chính không được chú ý thì hoạt động của ngân hàng càng nhanh chóng trở nên bế tắc Điều này có nghĩa là trước hết ngân hàng cần chú ý