Với sự phát triển năng động, đến nay khu vực kinh tế có vốn FDI đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam; tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI trên 18,97% vào tăn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐẶNG THÀNH DŨNG
CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐẶNG THÀNH DŨNG
CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM QUANG VINH
Hà Nội – 2014
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Khái niệm về đầu tư 9
1.1.2 Bản chất vai trò của FDI 10
1.1.3 Các khái niệm và định nghĩa của các hình thức FDI 22
1.1.4 Quản lý Nhà nước đối với vác hình thức FDI và căn cứ xem xét để lựa chọn các hình thức FDI 29
1.2 Cơ sở thực tiễn 34
1.2.1 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước đang phát triển 34
1.2.2 Xu hướng phát triển các hình thức FDI ở các nước đang phát triển 39
1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 41
2.1 Thực trạng các hình thức FDI theo pháp luật đầu tư ở Việt Nam 41
2.1.1 Hình thức Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 41
2.1.2 Hình thức Doanh nghiệp liên doanh 42
2.1.3 Hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT, BT, BTO (gọi chung là hình thức BOT) 43
2.1.4 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh 45
2.1.5 Hình thức Công ty cổ phần có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 46
Trang 42.1.6 Hình thức Công ty Mẹ-con (Holding company) 47
2.1.7 Hình thức Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng 49
2.1.8 Hình thức Mua lại và sát nhập (M&A) 50
2.1.9 Hình thức Chi nhánh Công ty nước ngoài 52
2.2 Động thái phát triển của các hình thức FDI 53
2.2.1 Cơ cấu các hình thức FDI 53
2.2.2 Các hình thức đầu tư cụ thể 62
2.3 Tình hình quản lý Nhà nước đối với các hình thức FDI 70
CHƯƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 75
3.1 Hình thức Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 75
3.2 Hình thức doanh nghiệp liên doanh 77
3.3 Hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT, BT, BTO 79
3.4 Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh 81
3.5 Hình thức công ty cổ phần có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 81
3.6 Hình thức đầu tư công ty mẹ-con (holding company) 82
3.7 Hình thức kinh doanh trên cơ sở hợp đồng 83
3.8 Hình thức Mua lại và sát nhập (M&A) 84
3.9 Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
1 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
2 BOT Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
3 BT Hợp đồng xây dựng – chuyển giao
4 BTO Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh
5 CN Công nghiệp
6 ĐTNN Đầu tư nước ngoài
7 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
8 GDP Tổng sản phẩm quốc nội
9 GTVT Giao thông vận tải
10 KCN Khu công nghiệp
11 KCX Khu chế xuất
12 M&A Mua lại và sáp nhập
13 NĐT Ngành đầu tư
14 VĐK Vốn đăng ký
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1 So sánh ưu điểm và hạn chế của các hình
thức FDI ở các nước đang phát triển 32
2 Bảng 2.1 Dự án được cấp giấy phép phân theo hình
3 Bảng 2.2 Dự án được cấp giấy phép phân theo hình
4 Bảng 2.3 Dự án được cấp giấy phép phân theo hình
5 Bảng 2.4 Dự án được cấp giấy phép phân theo hình
6 Bảng 2.5 Dự án được cấp giấy phép phân theo
7 Bảng 2.6 Dự án được cấp phép phân theo vùng
8 Bảng 2.7 20 nước đầu tư lớn nhất trong giai đoạn
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 2.1 Tỷ lệ số dự án phân theo hình thức đầu tư
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam Với sự phát triển năng động, đến nay khu vực kinh tế có vốn FDI đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam; tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI trên 18,97% vào tăng trưởng GDP chung của cả nước, bổ sung 69,47 tỷ USD chiếm gần 22,75 % tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011, góp phần tăng năng lực sản xuất của một số ngành, đổi mới công nghệ, nâng cao trình
độ quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, phát huy và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn khác Năm 2012, FDI cũng góp phần quan trọng vào xuất khẩu chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tạo nguồn thu khoảng 3,7 tỷ USD cho Ngân sách nhà nước chiếm 11,9% tổng thu ngân sách Tính đến cuối năm 2012, khu vực FDI tạo việc làm cho khoảng 2,3 triệu lao động trực tiếp và 3-4 triệu lao động gián tiếp, góp phần quan trọng trong việc thu hút công nghệ hiện đại chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, nâng cao năng lực công nghệ trong nhiều lĩnh vực, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, thúc đẩy mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế
Để đạt được những kết quả nêu trên cần thấy rõ vai trò quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, đặc biệt với hoạt động FDI nói riêng Vai trò đó trước hết thể hiện ở khả năng tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn Sự hấp dẫn của môi trường đối với các nhà đầu tư nước ngoài chính là sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý an toàn, các thủ tục hành chính đơn giản, cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển và có những định
Trang 9hướng đúng đắn khuyến khích các nhà đầu tư kinh doanh có hiệu quả và an toàn
Nhà nước với vai trò quan trọng trong việc xây dựng một triết lý kinh doanh hiện đại, tiến tiến mang bản sắc văn hoá Việt Nam, thấm nhuần tư tưởng của đảng:” Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển
Mặc dù Việt Nam rất tích cực cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, trong đó đặc biệt là môi trường pháp lý nhưng vẫn chưa thực sự tạo được sự hấp dẫn giới đầu tư nước ngoài Một trong những vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm nhiều là các hình thức FDI họ được phép đầu tư và sự chuyển đổi các hình thức đầu tư này trong quá trình đầu tư ở Việt Nam Trong khi các nhà đầu tư muốn được đa dạng hóa các hình thức đầu tư và được phép chuyển đổi linh hoạt giữa các hình thức đầu tư này thì Chính phủ Việt Nam còn cân nhắc và dè dặt làm các nhà đầu tư nản lòng
Mặt khác, trong nhiều trường hợp, không nhất thiết phải khuyến khích hoặc có điều kiện đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong việc việc lựa chọn các hình thức đầu tư thì luật đầu tư của Việt Nam lại qui định chặt chẽ Những qui định này không đem lại kết quả như mong muốn, mà trái lại đó gây ra nhiều tổn thất cho Việt Nam và các nhà đầu tư Những hiện tượng này khá phổ biến trong các dự án liên doanh với nước ngoài
Tình trạng trên mặc dù đã được quan tâm giải quyết trong thời gian gần đây, nhưng vẫn còn lúng túng trong chỉ đạo điều hành của các cơ quan chức năng và cho đến nay, hiệu quả của các chính sách, giải pháp vẫn chưa thực sự
rõ rệt Nhiều nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn băn khoăn, phàn nàn về sự bất cập, đơn điệu và thiếu linh hoạt trong chuyển đổi giữa các hình thức FDI ở Việt Nam Vậy có phải sự băn khoăn, phàn nàn của các nhà đầu tư nước ngoài là
Trang 10đúng sự thật? hay do sự khác biệt, chưa hài hòa được trong mục tiêu lựa chọn các hình thức FDI của các nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ Việt Nam? nếu vậy thì làm thế nào để hài hòa được lợi ích giữa các bên? Những câu hỏi này rất cần trả lời có cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục Vì thế cần phải thực hiện nghiên cứu này
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam đó thu hút được khá nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước Trong số các nghiên cứu ở Việt Nam về các hình thức FDI, đáng chú ý nhất là “định hướng phát triển các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” (luận án tiến sĩ của Ngô Công Thành, 2005) đã khái quát khá hệ thống về đặc điểm, thực trạng và các định hướng phát triển của các hình thức FDI ở Việt Nam Đặc biệt, nghiên cứu này đó nêu ra nhiều vấn đề bất cập về pháp luật của Việt Nam trong việc cho phép áp dụng và chuyển đổi các hình thức FDI Tuy nhiên, tại sao lại có những bất cập này và làm thế nào để giải quyết một cách hiệu quả thì chưa được làm rõ
Ngoài ra, phần lớn các nghiên cứu khác cũng chưa sâu, nằm rải rác trong các nghiên cứu về FDI ở Việt Nam hoặc dưới dạng các bài báo chuyên ngành Một số nghiên cứu đó phân tích đặc điểm của các hình thức FDI theo luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam (Vũ Quốc Bình, 1999, Phạm Ngọc Dũng
2001, Nguyễn Thị Hường & Bùi Huy Nhượng 2003) Các nghiên cứu này đó cho thấy các hình thức FDI ở Việt Nam tuy cơ bản, có tính phổ biến nhưng còn đơn điệu chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài, và ít hấp dẫn hơn các hình thức FDI của Trung Quốc Một số nghiên cứu khác lại tập trung phân tích hạn chế của hình thức liên doanh và sự cần thiết phải chuyển đổi các hình thức đầu tư nước ngoài (Thành Nam 1998, Lê Hà 2002,
Trang 11Nguyễn Thị Thu Hiền 2002)… Theo các tác giả, mặc dù liên doanh có nhiều
ưu đãi hơn các hình thức FDI khác nhưng ít hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vì năng lực của bên Việt Nam còn yếu đặc biệt là năng lực quản lý và tài chính Bởi vậy nhiều nhà đầu tư nước ngoài có nhu cầu chuyển sở hữu từ liên doanh sang các hình thức FDI khác như 100% vốn nước ngoài, hoặc công
ty cổ phần (Lê Mai 2000, Đoàn Năng 2000) … Một số nghiên cứu khác tuy không định hướng vào các hình thức FDI nhưng cũng phân tích ở nhiều khía cạnh của sự cần thiết phải chuyển đổi các hình thức FDI (Phạm Ngọc Dũng
2001, Bảo Minh 2003….) hoặc đa dạng hóa hơn nữa các hình thức FDI ở Việt Nam (Nguyễn Thị Ánh Nga 2002, Trần Minh 2000, Lê Đăng Doanh 2002….) Mặc dù chưa nghiên cứu sâu, mới ở dạng bài báo chuyên ngành nhưng một số nghiên cứu đó phân tích trực tiếp những bất cập của các hình thức FDI ở Việt nam và đưa ra các đề xuất cổ phần hóa các doanh nghiệp nước ngoài (Lê Minh Toàn 2000, Phạm Hùng Nghị 2000, Nguyễn Văn 1999, Thái Thanh 2000…)
Nhìn chung các hình thức FDI ở Việt Nam được khá nhiều tác giả đề cập tới nhưng chưa sâu và lẻ tẻ trong các nghiên cứu về FDI ở Việt Nam Mặt khác phần lớn các nghiên cứu mới chủ yếu nêu bức xúc, hạn chế của các hình thức FDI, đặc biệt là hình thức liên doanh mà chưa có nghiên cứu nào phân tích có hệ thống, làm rõ bản chất kinh tế của các hình thức FDI, trên cơ sở đó
lý giải có căn cứ khoa học về những bất cập, hạn chế của các hình thức đầu
tư này ở Việt Nam
Trong số các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, đáng chú ý nhất là nghiên cứu của Cameron Mc Cullough (1998) đã phân tích khá kỹ các đặc điểm, nội dung của các hình thức FDI ở Việt Nam Theo tác giả, các hình thức FDI ở Việt nam còn đơn giản, mới chủ yếu đáp ứng được mục tiêu của chính phủ Việt Nam chứ chưa tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho các nhà đầu tư
Trang 12nước ngoài Tuy vậy những hạn chế của các hình thức FDI ở Việt Nam và những hình thức đầu tư nào cần bổ sung thêm thì nghiên cứu này còn chưa làm rõ Một số nghiên cứu khác (Albert C.Tan 2003, KPMG 2002, Duc.V.Trang 2001, David Glovert 1980-1982…) cũng phân tích so sánh các hình thức đầu tư nước ngoài ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) đó cho thấy các hình thức liên doanh thường hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài giai đoạn đầu họ tiếp cận vào thị trường, sau đó ngày càng nhiều liên doanh chuyển đổi sở hữu sang các hình thức đầu tư khác, trong đó hướng nhiều vào các hình thức 100% vốn nước ngoài (Philippine, Thái Lan, Ấn Độ…) và cổ phần (Trung Quốc, Singapor, Malaisia….) Tuy nhiên, phần so sánh với Việt Nam còn mờ nhạt, thiếu cập nhật Ngoài ra cũng có một số phân tích về các hình tức FDI trong các nghiên cứu của học giả nước ngoài về FDI ở Việt Nam Tuy nhiên các phân tích này còn sơ bộ, chủ yếu là đưa ra các số liệu thống kê về các hình thức FDI ở Việt Nam trong từng giai đoạn hoặc đối tác cụ thể
Kế thừa những kết quả của các nghiên cứu đó nêu, đề tài sẽ tiếp tục giải quyết một số vấn đề còn chưa được nghiên cứu Cụ thể, làm rõ lợi ích kinh tế trong từng hình thức FDI đối với nhà đầu tư nước ngoài và nước chủ nhà (Việt Nam) Trên có sở các kết quả nghiên cứu này, tác giả sẽ khuyến nghị một số chính sách, giải pháp nhằm phát triển có hiệu quả hơn các hình thức FDI ở Việt Nam Đây cũng chính là những điểm mới của đề tài
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ lợi ích kinh tế của các nhà đầu tư nước ngoài và lợi ích của Việt Nam trong từng hình thức FDI nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc xây dựng và thực hiện chính sách đa dạng các hình thức FDI
ở Việt Nam
Trang 13* Nhiệm vụ nghiên cứu:
(i) Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc quyết định lựa chọn các hình thức FDI của các nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ Việt Nam;
(ii) Thực trạng các hình thức FDI ở Việt Nam;
(iii) Đề xuất một số giải pháp nhằm đa dạng và quản lý có hiệu quả các hình thức FDI ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu: Các hình thức FDI ở Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu: Giai đoạn 1988-2012 (từ khi thực hiện Luật đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam-1987 đến cuối năm 2012) Các hình thức FDI thực hiện ở 2 vựng miền (Bắc, Nam); 15 ngành/lĩnh vực kinh tế chủ yếu (công nghiệp dầu khí, công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, xây dựng, nông-lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ, giao thông vận tải-bưu điện, khách sạn-du lịch, tài chính-ngân hàng, văn hóa-y tế-giáo dục, xây dựng
cơ sở hạ tầng KCX-KCN, xây dựng khu đô thị mới, xây dựng văn phòng-căn hộ) và 20 quốc gia, vùng lãnh thổ có đầu tư lớn nhất ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu:
* Cách tiếp cận: Lợi ích kinh tế là đặc trưng cốt lõi trong các hình thức FDI Mục tiêu của các nhà đầu tư là lợi nhuận, do đó họ mong muốn hoặc lựa chọn hình thức FDI phự hợp nhất để khai thác được lợi thế của họ và tận dụng được những ưu đãi, thuận lợi của nước chủ nhà, nhờ đó mà tối đa hóa được lợi nhuận Đối với nước chủ nhà, mặc dù có rất nhiều mục tiêu trong việc cho phép thực hiện các hình thức FDI, nhưng mục tiêu kinh tế luôn được quan tâm hàng đầu Nếu lợi ích kinh tế không thỏa đáng giữa các bên thì hình thức FDI rất khó được thực hiện Do đó, nếu làm rõ được lợi ích kinh tế của từng hình thức FDI đối với nhà đầu tư và nước chủ nhà (Việt Nam) thì sẽ giúp cho các bên có được căn cứ khoa học trong việc phát triển các hình thức FDI, lựa
Trang 14chọn từng hình thức FDI hoặc chuyển đổi giữa các hình thức đầu tư này một cách linh hoạt và có hiệu quả
* Phương pháp nghiên cứu: Ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu kinh tế, đề tài sử dụng các phương pháp thống kê và so sánh để phân tích các số liệu theo chuỗi thời gian (1988-2012) và số liệu đan chéo giữa các vùng miền, ngành kinh tế, các nước đầu tư lớn ở Việt Nam
6 Những đóng góp của luận văn:
* Ý nghĩa lý luận: Xây dựng cơ sở khoa học cho việc xây dựng và thực hiện chính sách đa dạng các hình thức FDI ở Việt Nam
* Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất một số giải pháp nhằm đa dạng và quản lý
có hiệu quả các hình thức FDI ở Việt Nam
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
* Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn các hình thức FDI ở Việt Nam (chương 1) Nội dung chính của chương này là làm rõ bản chất kinh tế của các hình thức FDI thông qua phân tích lợi ích kinh tế của từng hình thức FDI đối với nhà đầu tư và Chính phủ nước chủ nhà (Việt Nam), nhờ
đó thấy rõ được những yếu tố quyết định việc lựa chọn các hình thức FDI của hai phía Đồng thời, một số kinh nghiệm thực tiễn trong lựa chọn các hình thức FDI của các nước cũng được phân tích để làm minh chứng cho các phân tích, nhận định trước đó
* Thực trạng các hình thức FDI ở Việt Nam (chương 2) Chương này phân tích cụ thể các nội dung của từng hình thức FDI theo qui định của luật pháp Việt Nam Các số liệu thống kê phong phú và cập nhật về các hình thức FDI ở Việt Nam được phân tích chi tiết theo chuỗi thời gian và chéo giữa các hình thức FDI, ngành kinh tế, vựng miền, đối tác, để làm rõ hình thức FDI
Trang 15nào phát triển mạnh ở Việt Nam, nguyên nhân chuyển đổi giữa các hình thức FDI, trong đó đặc biệt là chuyển đổi từ hình thức liên doanh sang hình thức 100% vốn nước ngoài Đồng thời qua các phân tích so sánh các số liệu thống
kê sẽ thấy được rõ hình thức FDI nào được hấp dẫn hơn giữa các vùng miền, ngành kinh tế, đối tác đầu tư nước ngoài
* Các khuyến nghị chính sách là nội dung của chương 3 Trên cơ sở phân tích các chương trước, mỗi hình thức đầu tư sẽ được đề xuất một số khuyến nghị cụ thể Trong từng hình thức FDI, các nhà đầu tư nước ngoài cũng được tư vấn ở các mức độ nhất định
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về đầu tư
Đầu tư nói chung là sự sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đó bỏ ra để đạt được các kết quả đó
Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động hoặc trí tuệ Nhưng kết quả thu được trong tương lai có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật ….) và các nguồn nhân lực
có đủ điều kiện để làm việc có năng suất trong nền sản xuất xã hội
Trong những kết quả đạt được trên đây, những kết quả trực tiếp của sự
hy sinh các nguồn lực là các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc, mọi nơi không chỉ đối với người đầu tư mà cả đối với toàn bộ kinh tế Những kết quả này không chỉ người đầu
tư mà cả nền kinh tế được hưởng thụ Chẳng hạn một nhà máy được xây dựng; tài sản vật chất của người đựơc đầu tư trực tiếp tăng thêm, đồng thời tài sản vật chất tiềm lực của xã hội cũng được tăng thêm
Lợi ích trực tiếp do hoạt động của nhà máy này đem lại cho người đầu tư được lợi ích nhuận, còn cho nền kinh tế được thoả mãn nhu cầu tiêu dùng (cho sản xuất và cho ngân sách, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động……trình độ nghề nghiệp chuyên môn của người lao động tăng thêm không chỉ có lợi cho chính họ mà còn bổ sung nguồn lực kỹ thuật cho nền kinh
tế để có thể tiếp nhận công nghệ này càng hiện đại, góp phần nâng cao trình độ công nghệ kỹ thuật của nền sản xuất quốc gia
Trang 17Đối với từng cá nhân, đơn vị đầu tư là điều kiện quyết định sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đối với nền kinh tế đầu tư là yếu tố quyết định sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là chìa khóa của sự tăng trưởng
Có nhiều hình thức đầu tư và xuất phát từ nhiều nguồn vốn khác nhau, một trong số hình thức đầu tư quan trọng là đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2 Bản chất vai trò của FDI
Hiện nay ở trên nhiều loại sách báo, tạp chí của các tổ chức quốc tế cũng như Chính phủ các nước có tương đối nhiều định nghĩa về FDI, như định nghĩa của tổ chức Ngân hàng Thế giới thì FDI là đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư từ nước ngoài mà mang lại lãi suất từ 10% trở lớn
Theo giáo trình Kinh tế Đầu tư của trường Đại học Kinh tế Quốc dân
do PGS TS Nguyễn Ngọc Mai làm chủ biên thì đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia trực tiếp quản lý quá trình
sử dụng và thu hồi số vốn bỏ ra
Đến nay định nghĩa mà nhiều nước và các tổ chức hay dùng nhất là định nghĩa của tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) đó đưa ra vào năm 1977 như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư còn mong muốn dành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường”
Đầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI) Trong đó, FDI quan trọng hơn nhiều, dù cho đầu tư gián tiếp
có xu hướng tăng lên (trong năm 1992, FDI lên tới khoảng 15 tỷ USD, bằng 38% tổng chu chuyển vốn nước ngoài còn đầu tư gián tiếp lên tới 4,7 tỷ USD) FDI tăng lên nhanh chóng trong vòng 15 năm qua với đặc điểm tập
Trang 18trung co cụm về địa dư, ngành, và hãng Hầu hết FDI diễn ra ở Đông Á (Malaisia, Thái Lan, Singapore, Hong Kong, Trung Quốc) và Châu Mĩ Latinh (Brazil, Mexico), trong lĩnh vực thiết bị vận tải, hoá chất, máy móc và điện tử Một số lượng ít các hãng lớn từ các nước công nghiệp chiếm một phần lớn đầu tư nước ngoài Mô hình đầu tư cũng thiên lệch về địa lý; các hãng của Mỹ đầu tư mạnh vào châu Mỹ Latinh, các hãng của Nhật đầu tư vào châu Á, còn các hãng của Anh lại tập trung vào các nước thuộc khối Thịnh vượng Chung
Tầm quan trọng tăng nhanh của FDI là nhờ nhận thức về những đóng góp to lớn của FDI vào phát triển kinh tế, cung cấp cho các nước chủ nhà về vốn, công nghệ, và kỹ năng quản lý hiện đại FDI chịu ảnh hưởng của các yếu
tố cụ thể trong nước chủ nhà cũng như nước đầu tư
Với nước chủ nhà, các yếu tố hấp dẫn FDI là nguồn tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản (như dầu mỏ ở Indonesia) hay giá lao động rẻ mạt (như Trung Quốc, Malaisia) cũng có vai trò quan trọng không kém, đặc biệt khi áp dụng chính sách thay thế nhập khẩu là một cơ hội lớn cho các nhà đầu tư Để thu hút FDI, nhiều Chính phủ đưa ra các biện pháp khuyến khích như miễn giảm thuế, khấu hao nhanh, giảm thuế nhập khẩu đầu vào sản xuất, đặc khu kinh tế, hay khuyến khích xuất khẩu đối với những người muốn đầu tư Dù có những khuyến khích đặc biệt như vậy nhưng người ta nhận thấy FDI trở nên hấp dẫn ở những nước có môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường chính trị tốt Chính sách bảo hộ - chống cạnh tranh của hàng ngoại nhập - của các nước chủ nhà đôi khi khiến các nhà đầu tư đặt cơ sở sản xuất ngay tại nước chủ nhà
FDI cũng phụ thuộc vào các yếu tố của các nước đi đầu tư Các hãng đầu tư ra nước ngoài nhằm giành trước hay ngăn chặn những hoạt động tương
tự của các đối thủ cạnh tranh Một số nước cho phép các nhà đầu tư được
Trang 19nhập khẩu miễn thuế một số sản phẩm chế tạo tại các chi nhánh của họ tại nước ngoài
Cuối cùng, phân tán rủi ro bằng cách đầu tư tại nhiều đặc điểm khác nhau cũng là một động cơ của các nhà đầu tư
Trên đây ta có thể thấy được một số nét đặc trưng của FDI:
FDI mặc dù vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ, nhưng nó ít bị lệ thuộc hơn vào quan hệ chính trị hai bên nếu so sánh với hình thức tín dụng quan hệ quốc tế
Bên nước ngoài trực tiếp tham gia quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, nên họ trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và đưa ra những quyết định
có lợi nhất cho việc đầu tư Vì vậy mức độ khả thi của công cuộc đầu tư khá cao, đặc biệt trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu
Do quyền lợi của chủ đầu tư nước ngoài gắn liền với lợi ích do đầu tư đem lại cho nên có thể lựa chọn kỹ thuật, công nghệ thích hợp, nâng cao dần trỡnh độ quản lý, tay nghề cho công nhân ở nước tiếp nhận đầu tư
FDI liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia
và sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế
Đối với nước đi đầu tư
Đứng trên góc độ quốc gia
Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là cách để các quốc gia có thể
mở rộng và nâng cao quan hệ hợp tác về nhiều mặt đối với các quốc gia khác
mà mình sẽ đầu tư Khi một nước đầu tư sang nước khác một mặt hàng thì nước đó thường có những ưu thế nhất định về mặt hàng như về chất lượng, năng suất và giá cả cùng với chính sách hướng xuất khẩu của nước này; thêm vào đó là sự có một sự sẵn sàng hợp tác chấp nhận sự đầu tư đó của nước sở tại cùng với những nguồn lực thích hợp cho sản phẩm đó Mặt khác, khi đầu
tư FDI nước đi đầu tư có rất nhiều có lợi về kinh tế cũng như chính trị
Trang 20Thứ nhất, quan hệ hợp tác với nước sở tại được tăng cường và vị thế của nước đi đầu tư được nâng lên trên trường quốc tế
Thứ hai, mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, khi trong nước sản phẩm đang thừa mà nước sở tại lại thiếu
Thứ ba, giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động, vì khi đầu tư sang nước khác, thì nước đó phải cần có những người hướng dẫn, hay còn gọi
là các chuyên gia trong lĩnh vực này Đồng thời tránh được việc phải khai thác các nguồn lực trong nước, như tài nguyên thiên nhiên hay ô nhiễm môi trường
Thứ tư, đó là vấn đề chính trị, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lợi dụng những kẻ hở của pháp luật, sự yếu kém về quản lý hay sự ưu đói của Chớnh phủ nước sở tại sẽ có những mục đích khác như làm gián điệp
Đứng trên góc độ doanh nghiệp
Mục đích của doanh nghiệp cũng như mục đích của một quốc gia thường là lợi nhuận, lợi nhuận càng nhiều càng tốt Một khi trong nước hay các thị trường quen thuộc bị tràn ngập những sản phẩm của họ và sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh thì họ phải đầu tư ra nước khác để tiêu thụ số sản phẩm đó Trong khi đầu tư ra nước ngoài, họ chắc chắn sẽ tìm thấy ở nước sở tại những lợi thế so sánh so với thị trường cũ như lao động rẻ hay tài nguyên chưa bị khai thác nhiều
Một nguyên nhân nữa là họ có thể bán được những máy móc và công nghệ cũ kỹ lạc hậu hay bị hao mòn vô hình do thời gian với giá cao nhưng lại
là mới đối với nước nhận đầu tư (khi nước đầu tư là nước đang phát triển)
Thêm vào đó, là sản phẩm của họ được bán tại thị trường này sẽ ngày càng tăng uy tín và tiếng tăm cho nó và làm tăng sức cạnh tranh đối với các đối thủ có sản phẩm cùng loại
Trang 21Đối với nước nhận đầu tư
Những mối lợi khi nhận đầu tư
Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý (chuyển giao nguồn lực): Đối với một nước lạc hậu, trình độ sản xuất kém, năng lực sản xuất chưa được phát huy kèm với cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn thì việc tiếp thu được một nguồn vốn lớn, công nghệ phù hợp để tăng năng suất và cải tiến chất lượng sản phẩm, trình độ quản lý chặt chẽ là một điều hết sức cần thiết
Như ta đó biết thì công nghệ chính là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá một đất nước đang phát triển như nước ta Chúng ta cần có vốn và công nghệ để có thể thực hiện được nó Khi đầu tư trực tiếp diễn ra thì công nghệ được du nhập vào trong đó có cả một số công nghệ bị cấm xuất theo con đường ngoại thương, các chuyên gia cùng với các kỹ năng quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công nghệ này, do vậy các cán bộ bản địa có thể học hỏi kinh nghiệm của họ
Có những khác biệt lớn giữa các nước về mức độ thay thế của FDI cho các luồng vốn nước ngoài khác, do những khác biệt trong cơ cấu kinh tế có những tác động đến sức hấp dẫn của đất nước đối với các nhà đầu tư, cũng như những khác biệt trong các yếu tố kinh tế vĩ mô đòi hỏi phải có các luồng vốn chảy vào Các nước có thị trường nhỏ bé, ít các nguồn lực tự nhiên, kết cấu hạ tầng yếu kém và ít khả năng xuất khẩu hàng công nghiệp thì ít có khả năng thu hút các nguồn FDI lớn, ngay cả khi có những qui chế tự do và những
ưu đãi hào phóng Về cơ bản, các nước đó nói chung cũng không có khả năng vay nợ theo các điều kiện thương mại thông thường, và chủ yếu dựa vào kết quả ưu đãi Kết quả là những khả năng thay thế giữa tín dụng thương mại nước ngoài và FDI chủ yếu có liên quan tới các nước lớn, có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, hoặc có khu vực công nghiệp khá phát triển Các nước đó có được một số lượng lớn các nguồn FDI nói chung cũng sẽ dễ tác
Trang 22động hơn tới cơ cấu tương lai của nguồn vốn, bởi vì họ cũng có thể tác động tới hoạt động FDI thông qua cơ cấu tài chính của các chi nhánh hiện hữu thuộc các công ty nước ngoài, và cụ thể là tới số lượng vay từ các nguồn trong nước và các nguồn khác ở nước ngoài Nhưng so với vay nước ngoài, FDI có
xu hướng tập trung nhiều hơn tại một số ít nước
Những nguyên nhân kinh tế vĩ mô của các luồng vốn vào cũng có thể ảnh hưởng lớn tới mức độ thay thế giữa FDI và tín dụng thương mại với tư cách là nguồn vốn nước ngoài Tại các nước có các thị trường vốn phát triển, các nguồn gốc mất cân bằng kinh tế vĩ mô riêng lẻ có thể chỉ có tác động hạn chế tới cơ cấu luồng vốn vào Tuy nhiên, phần lớn các nước đang phát triển đều có các thị trường vốn trong nước phân tán, và đối với các nước này, những nguyên nhân làm cho luồng vốn chảy vào có ý nghĩa lớn hơn Có ba loại yếu tố khiến cần thiết phải có các luồng vốn chảy vào ngày càng nhiều, thể hiện khả năng thay thế khác nhau giữa FDI và vay nước ngoài
Thứ nhất là, tổng cầu có thể tăng lên tương đối so với tổng cung do chỉ tiêu tăng thêm vào các dự án đầu tư mà chúng được coi là có khả năng thành công về mặt tài chính Nếu hoạt động đầu tư ấy diễn ra trong khu vực tư nhân thì khả năng thay thế sẽ cao, miễn là các qui định về thuế khoá và qui chế tỏ
ra thích hợp đối với FDI Nếu hoạt động đầu tư ấy được thực hiện chủ yếu bởi các doanh nghiệp nhà nước, thì tại nhiều nước, khả năng thay thế sẽ thấp do các hàng rào thể chế ngăn cản hoạt động FDI Tuy nhiên, vẫn có khả năng lớn cho sự tham gia cổ phần của nước ngoài thông qua những thoả thuận đầu tư liên doanh với các doanh nghiệp nhà nước thích hợp, với điều kiện những hỡnh thức này là phù hợp với phương hướng phát triển chung của nước nhận đầu tư Những thoả thuận như vậy là phổ biến trong ngành thăm dò và khai thác khoáng sản, một ngành có nhiều rủi ro với vốn cổ phần nước ngoài hoạt
Trang 23động liên kết với các công ty nhà nước, nhưng chúng còn được thấy rõ trong nhiều khu vực khác nữa
Thứ hai là, tổng cầu có thể tăng lên tương đối so với tổng cung, do chi tiêu nhiều hơn cho tiêu dùng hoặc cho các dự án đầu tư được coi như không khả thi về tài chính (bao gồm các dự án về kết cấu hạ tầng có thể đưa lại lợi nhuận kinh tế nói chung cao hơn, nhưng lại không tạo ra một nguồn thu trực tiếp nào) Sự vượt quá của nhu cầu như vậy thường xảy ra ở dưới dạng những thâm hụt lớn về tài chính, ví dụ như chi tiêu nhà nước vào các khoản trợ cấp, các khoản trả lương cao hơn hoặc sự mở rộng kết cấu hạ tầng xã hội Trong trường hợp này, FDI khó có thể thay thế việc Chính phủ hoặc ngân hàng trung ương đi vay nước ngoài Sẽ không có những dự án đầu tư bổ xung có khả năng thu hút các nhà đầu tư trực tiếp Về nguyên tắc, khoản vay mượn cao hơn ở trong nước do Chính phủ thực hiện sẽ làm tăng mức lãi suất ở trong nước và dẫn tới các luồng vốn chảy vào hoặc đầu tư trực tiếp lớn hơn Tuy nhiên, trong thực tế, những ảnh hưởng gián tiếp đó tới các luồng vốn nước ngoài là có hạn, bởi vì ở nhiều nước đang phát triển, thị trường vốn bị phân tán và không có các chính sách linh hoạt
Cuối cùng, một phần vốn vay nước ngoài của các nước đang phát triển thường không dùng để trang trải cho sự gia tăng trong tổng chi phí quốc nội
mà để bù vào luồng vốn chảy ra của tư nhân Khả năng thay thế sự vay mượn
đó bằng đầu tư trực tiếp là thấp, đặc biệt là do chính sách tỷ giá hối đoái và lãi suất không thích hợp Những chính sách này thường gây ra sự thất thoát vốn,
và như vậy cũng thường không thúc đẩy được hoạt động FDI
Do đó, mức độ thay thế vay nước ngoài bằng FDI trong thập kỷ vừa qua của các nước đang phát triển có lẽ phụ thuộc vào cách thức sử dụng khoản vay mượn đó Phần lớn số vốn vay sau hai lần tăng đột biến giá dầu lửa
là nhằm hỗ trợ cho thâm hụt cán cân thanh toán ngắn hạn Đối với khoản vay
Trang 24đó, khả năng thay thế là rất thấp Tuy nhiên, phạm vi chuyển dịch giữa các hình thức vốn vào có lẽ đó tăng lên theo độ dài của thời kỳ diễn ra sau sự mất cân đối đối ngoại ban đầu Về vấn đề này, bằng chứng nêu ra trên tờ Triển vọng Kinh tế Thế giới 1983 về nguồn vốn đó cho thấy rằng, đối với hầu hết các nước vay mượn lớn nhất trong số các nước đang phát triển không sản xuất dầu lửa, sự gia tăng nợ nước ngoài trong thập kỷ vừa qua đó gắn liền với mức đầu tư cao hơn và phần lớn không sử dụng vào việc chi cho tiêu dùng Tuy nhiên, một bộ phận đầu tư lớn cần được dành cho các dự án về kết cấu hạ tầng, nhưng chúng không thu hút được FDI
Những hoạt động chuyển giao công nghệ (bao gồm cả năng lực quản lý
và marketing) khó đo lường hơn so với các luồng chảy vào, nhưng phần lớn chuyển giao đó diễn ra ở công ty mẹ ở nước ngoài và các chi nhánh của chúng Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tầm quan trọng của các hoạt động chuyển giao công nghệ trong nội bộ các công ty như thế tuỳ thuộc vào những chuyển giao từ các phía khác nhau Trong các ngành sử dụng kỹ thuật mới hoặc kỹ thuật đặc thù của doanh nghiệp (như các ngành điện tử), đa số các hoạt động chuyển giao diễn ra giữa các công ty mẹ và chi nhánh thuộc quyền
sở hữu hoàn toàn hoặc sở hữu một phần lớn của công ty mẹ; do có sự lo lắng tới việc duy trì sự kiểm soát chặt chẽ đối với kỹ thuật công nghệ có liên quan Tuy nhiên, trong nhiều ngành khác, các hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra thông qua các hợp đồng cấp giấy phép sản xuất khác nhau đó tăng lên nhanh hơn so với sự chuyển giao công nghệ thông qua FDI
Các nhà đầu tư gánh chịu rủi ro: Đầu tư trực tiếp khác với đầu tư gián tiếp là nhà đầu tư phải tự đứng ra quản lý đồng vốn của mình, tự chịu trách nhiệm trước những quyết định đầu tư của mình, do vậy độ rủi ro cao hơn so với đầu tư gián tiếp Các nước nhận đầu tư trực tiếp do vậy cũng không phải
Trang 25lo trả nợ hay như đầu tư gián tiếp theo mức lói suất nào đó hay phải chịu trách nhiệm trước sự phá sản hay giải thể của nhà đầu tư nước ngoài
Tăng năng suất và thu nhập quốc dân; cạnh tranh hơn, hiệu quả kinh tế hơn: Do có công nghệ cùng với trình độ quản lý được nâng lên nên đối với các ngành sản xuất thì việc tăng năng suất là điều tất yếu Không những thế những công nghệ này còn cho ra những sản phẩm cú chất lượng cao hơn, tính năng đa dạng hơn, bền hơn và với những mẫu mó đa dạng, hàng hoá lúc này
sẽ nhiều và tất nhiên sẽ rẻ hơn so với trước Điều này chính là cung tăng lên nhưng thực ra nó tăng lên để đáp ứng lại lượng cầu cũng tăng lên rất nhanh do quá trình đầu tư có tác động vào Tốc độ quay của vòng vốn tăng lên nhanh hơn, do vậy sản phẩm cũng được sản xuất ra nhiều hơn và tiêu thụ cũng nhiều hơn Do sự tiêu thụ được tăng lên do vậy các ngành sản xuất, dịch vụ được tiếp thêm một luồng sức sống mới, nhân lực, máy móc và các nguyên vật liệu được đem ngay vào sản xuất, từ đó sức đóng góp của các ngành này vào GDP cũng đó tăng lên
Việc có được những công ty có hiệu quả với khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới có thể đưa lại một sự khai thông quan trọng, tiềm tàng cho việc chuyển giao các kỹ năng quản lý và cụng nghệ cho cỏc nước chủ nhà Điều này có thể xảy ra ở bên trong một ngành công nghiệp riêng rẽ, trong đó
có những người cung ứng các đầu vào cho các chi nhánh nước ngoài, những người tiêu dùng trong nước đối với các sản phẩm của chi nhánh này và những đối thủ cạnh tranh của chúng, tất cả đều muốn lựa chọn những phương pháp
kỹ thuật có hiệu quả hơn Nó cũng có thể diễn ra một cách rộng rói hơn trong nội bộ nền kinh tế thông qua sự tăng cường có kết quả công tác đào tạo và kinh nghiệm của lực lượng lao động và thông qua sự khuyến khích có thể có đối với các ngành hỗ trợ tài chính và kỹ thuật có khả năng dẫn tới sự hạ thấp toàn bộ chi phí công nghiệp
Trang 26Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước: Do có các nhà đầu tư nước ngoài nhảy vào các thị trường vốn có các nhà đầu tư trong nước chiếm giữ phần lớn thị phần, nhưng ưu thế này sẽ không kéo dài đối với nhà đầu tư trong nước khi ưu thế về nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài trội hơn hẳn Chính vì vậy các nhà đầu tư trong nước phải đổi mới cả quá trình sản xuất của mỡnh từ trước từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ bằng việc cải tiến công nghệ và phương pháp quản lý để có thể trụ vững trên thị trường đó Đó chính
là một trong những thử thách tất yếu của nền kinh tế thị trường đối với các nhà sản xuất trong nước, không có kẻ yếu nào có thể tồn tại nếu không tự nó làm mình mạnh lên để sống trong cơ chế đó
Tiếp cận với thị trường nước ngoài: Nếu như trước đây khi chưa có FDI, các doanh nghiệp trong nước chỉ biết đến có thị trường trong nước, nhưng khi có FDI thỡ họ được làm quen với các đối tác kinh tế mới không phải trong nước Họ chắc chắn sẽ nhận thấy rất nhiều nơi cần cái họ đang có,
và họ cũng đang cần thì ở nơi đối tác lại có, do vậy cần phải tăng cường hợp tác sẽ có nhiều sản phẩm được xuất khẩu để thu ngoại tệ về cho đất nước đồng thời cũng cần phải nhập khẩu một số loại mặt hàng mà trong nước đang cần Từ các việc trao đổi thương mại này sẽ lại thúc đẩy các công cuộc đầu tư giữa các nước Như vậy quá trình đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế là một quá trình luôn luôn thúc đẩy nhau, hỗ trợ nhau và cùng phát triển
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế: Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của nước sở tại theo chiều hướng tích cực hơn
Nó thường tập trung vào những ngành công nghệ cao có sức cạnh tranh như công nghiệp hay thông tin Nếu là một nước nông nghiệp thì bây giờ trong cơ cấu kinh tế các ngành đòi hỏi cao hơn như công nghiệp và dịch vụ đó tăng lên
về tỷ trọng và sức đóng góp cho Ngân sách, GDP và cho xã hội nói chung Ngoài ra về cơ cấu lãnh thổ, nó có tác dụng giải quyết những mất cân đối về
Trang 27phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo đói, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, đưa những tiềm năng chưa khai phá vào quá trình sản xuất và dịch vụ, và làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển
Những thua thiệt khi nhận đầu tư:
Vốn nước ngoài rất hạn chế: Mặc dù tính tổng thể vốn đầu tư trực tiếp lớn hơn và quan trọng hơn đầu tư gián tiếp, nhưng so với đầu tư gián tiếp thì mức vốn trung bình của một dự án đầu tư là thường nhỏ hơn nhiều Do vậy tác động kịp thời của một dự án đầu tư trực tiếp cũng không tức thì như dự án đầu tư gián tiếp Hơn thế nữa các nhà đầu tư trực tiếp thường thiếu sự trung thành đối với thị trường đang đầu tư, do vậy luồng vốn đầu tư trực tiếp cũng rất thất thường, đặc biệt khi cần vốn đầu tư trực tiếp thì nó lại rất ít làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh tế chung của đất nước nhận đầu tư
Công nghệ không thích hợp, “giá chuyển nhượng nội bộ” cùng với việc giảm tính linh hoạt trong xuất khẩu, ảnh hưởng đến cán cân thanh toán: người
ta cho rằng các công ty có sự kiểm soát nước ngoài có thể sử dụng các kỹ thuật sản xuất sử dụng nhiều tư bản là chủ yếu (mà chúng sẵn có, nhưng không thích hợp) dẫn tới sự chuyển giao công nghệ không đầy đủ ở mức chi phí quá cao (để duy trì ưu thế công nghệ), định ra những giá cả chuyển nhượng giao cao một cách giả tạo (để bòn rút lợi nhuận quá mức), gây ra sự căng thẳng cho cán cân thanh toán (bởi vì với tư cách là một bộ phận của các chi nhánh sản xuất đa quốc gia, các doanh nghiệp đó có thể có ít khả năng hơn so với các công ty thuộc quyền kiểm soát trong nước trong việc mở rộng xuất khẩu, và có thể phải lệ thuộc nhiều vào hàng nhập khẩu) Bản chất thông tin của công nghệ được chuyển giao, cho nên nó được chuyển giao trong một thị trường không hoàn hảo cao độ mà trong đó thường khó có thể cố định giá
cả một cách chính xác Các nước đang phát triển thường xuyên ở vào vị trí
Trang 28thương lượng yếu hơn trong các thị trường này, đặc biệt là khi họ thiếu lực lượng cán bộ chuyên môn để có thể giúp xác định mức đóng góp thích hợp của hoạt động chuyển giao công nghệ cần thiết Điều này có thể đặc biệt đúng khi công nghệ được chuyển giao như một yếu tố trong hệ thống các nguồn lực
do FDI đưa vào, bởi vì thường không được biết rõ các chi phí chính xác của công nghệ đó Một số nước đang phát triển đó cố gắng tăng cường vị trí thương lượng của họ bằng cách đặt ra những giới hạn cho các khoản tiền trả
sử dụng bản quyền phát minh (chẳng hạn trả theo tỷ lệ cố định phần trăm của doanh thu) hoặc bằng cách thiết lập các thủ tục xem xét lại đối với toàn bộ các hợp đồng công nghệ Sự sẵn sàng hơn của công ty xuyên quốc gia trong việc xem xét các hình thức chuyển giao công nghệ có thể khác nhau - bao gồm việc cấp giấy phép cho đặc quyền sử dụng và cho bao thầu lại - có thể giúp để
hạ thấp các khoản chi phí chuyển giao này, đặc biệt là cho các nước chủ nhà
mà họ có thể không cần tới các yếu tố khác trong hệ thống FDI trọn gói, chẳng hạn như kỹ năng về quản lý và marketing
Giá chuyển nhượng nội bộ được áp dụng trong các hoạt động giao dịch kinh doanh nội bộ công ty như vậy có thể khác xa với giá thị trường tương ứng nằm ngoài tầm kiểm soát của nó và nó có thể phải trả trong quan hệ buôn bán giữa các bên không có quan hệ với nhau Việc lập hoá đơn hàng thấp hơn hay cao hơn so với số thực có là nhằm thay đổi mức lợi nhuận tính thuế, hay
để tránh thuế ngoại thương, hoặc kiểm soát hối đoái đều là những vấn đề chung cho mọi hoạt động thương mại Nhưng cơ hội cho các hoạt động như vậy rừ ràng lớn hơn trong nội bộ công ty Điều này đặt gánh nặng tương ứng lên khả năng kiểm soát hải quan đặc biệt là đối với các sản phẩm có thể phân chia nhỏ được (chẳng hạn như các loại dược phẩm), hoặc đối với các cấu kiện chuyên dùng không có một mức giá nhất định với khách hàng bên ngoài
Trang 29Và những vấn đề khác: Các vấn đề ô nhiễm môi trường cùng với tài nguyên bị cạn kiệt và những lợi dụng về chính trị đó là một trong những điều tất yếu mà nước chủ nhà phải hứng chịu khi quá trình FDI diễn ra
1.1.3 Các khái niệm và định nghĩa của các hình thức FDI
Xét từ chiến lược đầu tư, các công ty đầu tư ra nước ngoài theo hai hình thức chủ yếu: đầu tư mới (greenfield investment-GI) và mua lại & sát nhập (mergers and acquisitions-M&A) Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu
tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển vào đầu tư ở các nước đang phát triển Ngược lại, không giống như GI, kênh M & A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại
& sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài
Mục tiêu cơ bản của đầu tư qua hình thức GI là xây dựng các cơ sở sản xuất, kinh doanh mới ở nước ngoài và mở rộng (dịch chuyển hoặc phát triển thêm) mạng lưới sản xuất, phân phối của công ty trên phạm vi toàn cầu Hình thức đầu tư này thường có tư cách pháp nhân và hoạt động theo qui định của luật pháp nước chủ nhà Trong khi đó mục tiêu chủ yếu của đầu tư qua hình thức M & A là tiếp cận thị trường mới (mở rộng mạng lưới phân phối), tăng sức cạnh tranh và giảm chi phí quản lý Các công ty xuyên quốc gia thường thực hiện hỗn hợp giữa hai hình thức đầu tư GI và M & A trong chiến lược đầu
tư ra nước ngoài
Xét theo mục đích đầu tư, đầu tư trực tiếp của các công ty ra nước ngoài được phân làm các loại: đầu tư theo chiều ngang (horizontal integration-HI) và đầu tư theo chiều dọc (vertical integration-VI) Hình thức đầu tư HI là chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh (công nghệ, kỹ năng quản lý, ) trong sản xuất một loại sản phẩm nào đó Với lợi thế này, họ có thể kiếm lợi nhuận cao khi chuyển sản xuất sản phẩm ra nước ngoài Mục đích của hình thức này là mở
Trang 30rộng và thôn tính thị trường ở nước ngoài đối với cùng loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, do đó thường dẫn tới cạnh tranh độc quyền
Khác với hình thức đầu tư HI, hình thức VI là đầu tư ra nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên và các yếu tố sản xuất đầu vào
rẻ (lao động, đất đai, ) Khi đầu tư ra nước ngoài, các chủ đầu tư thường chú
ý đến khai thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu sản xuất ra một loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế Do đó, các sản phẩm thường được hoàn thiện qua các khâu lắp ráp ở nước nhận đầu tư Sau đó, các sản phẩm này có thể lại được nhập khẩu về nước đầu tư hoặc xuất khẩu sang các nước khác Đây là hình thức đầu tư ra nước ngoài điển hình của Nhật Bản (theo kiểu mô hình đàn nhạn bay) và được thực hiện khá phổ biến ở các nước đang phát triển
Xét từ khía cạnh pháp lý của nước chủ nhà, các nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn đầu tư dưới nhiều hình thức: Doanh nghiệp liên doanh; Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng; Hợp đồng xây dựng-kinh doanh- chuyển giao (BOT); M & A; Công ty mẹ-con (Holding company); Công ty cổ phần; Công ty hợp doanh;
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký kết giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên và các Bên nước ngoài để đầu tư, kinh doanh tại nước chủ nhà Về mặt pháp lý, doanh nghiệp liên doanh là một dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, có
tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ nhà; mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi vốn góp của mình vào vốn pháp định Về phương diện kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh
do các bên tham gia góp vốn, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận và cùng chia sẻ rủi ro phát sinh Lợi nhuận thu được và rủi ro gánh chịu được phân chia dựa theo tỷ lệ góp vốn
Trang 31Thông qua hình thức liên doanh, nước nhận đầu tư sẽ kiểm soát và học được trực tiếp kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nhà đầu tư nước ngoài Đồng thời họ còn được chia sẻ lợi nhuận với các chủ đầu tư nước ngoài Còn đối với nhà đầu tư nước ngoài, đầu tư dưới dạng doanh nghiệp liên doanh giúp họ tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của các đối tác nước chủ nhà, được đầu
tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lĩnh vực bị cấm hoặc hạn chế đối với hình thức khác Họ cũng không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ đồng thời chia sẻ được chi phí
và rủi ro đầu tư với đối tác nước chủ nhà
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Về mặt pháp lý, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ nhà, chịu
sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại Về mặt kinh doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành, quản lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tùy thuộc vào các điều kiện về môi trường kinh doanh nước sở tại như các điều kiện về chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa, mức độ cạnh tranh…
Ưu điểm trước tiên của hình thức này đối với nước chủ nhà là nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù doanh nghiệp bị lỗ Ngoài ra, với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nước chủ nhà có thể giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư cũng như có thể tập trung thu hút vốn, công nghệ nước ngoài vào những lĩnh vực khuyến khích xuất khẩu Tuy nhiên, nước chủ nhà khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài để nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật ở các doanh nghiệp trong nước như so với hình thức liên doanh
Trang 32Đối với nhà đầu tư nước ngoài, hình thức đầu tư 100% khiến họ có thể chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực, triển khai nhanh dự án đầu tư để thực hiện chiến lược toàn cầu của tập đoàn Nhưng đồng thời, chủ đầu tư cũng phải gánh chịu toàn bộ rủi ro và phải chi phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận một thị trường mới
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp doanh) là văn bản được ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (gọi tắt là các bên hợp doanh) quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên (nước ngoài và sở tại) để tiến hành đầu tư kinh doanh ở nước chủ nhà mà không thành lập pháp nhân
Về mặt pháp lý, hợp doanh là một thực thể kinh doanh hoạt động theo pháp luật của nước sở tại, chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại Về mặt kinh doanh, các bên thực hiện các hoạt động kinh doanh trên cơ sở ký kết một hợp đồng hợp tác mà không hình thành một pháp nhân mới Với kết quả kinh doanh thu được, hình thức hợp doanh phân chia theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thỏa thuận giữa các bên Nghĩa vụ tài chính đối với nước sở tại được các bên hợp doanh thực hiện một cách riêng rẽ
Hình thức này có ưu điểm giúp nước nhận đầu tư giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ, tạo ra thị trường mới nhưng vẫn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền điều hành dự án Tuy nhiên, rất khó thu hút được đầu tư dưới hình thức này, và chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời
Đối với bên nước ngoài, hình thức hợp doanh giúp tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại, vào được những lĩnh vực hạn chế đầu tư và thâm nhập được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà Nhà đầu tư cũng không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới, xây dựng các mối quan hệ, không bị tác động lớn do khác biệt về văn hóa, chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư Tuy nhiên, nhược điểm chính
Trang 33của hình thức này là: nhà đầu tư nước ngoài không được trực tiếp quản lý điều hành dự án và mối quan hệ hợp tác với đối tác nước sở tại thiếu tính chắc chắn Điều này làm họ trở nên e dè hơn khi đầu tư theo hình thức này
Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với các cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng, mở rộng nâng cấp, khai thác công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định (thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý), sau đó chuyển giao không bồi hoàn toàn
bộ công trình cho nước chủ nhà Đặc trưng quan trọng của hình thức này là: cơ
sở pháp lý là hợp đồng, vốn đầu tư của nước ngoài, hoạt động dưới các hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài, chuyển giao không bồi hoàn cho Việt Nam, đối tượng hợp đồng là các công trình cơ sở hạ tầng
Ngoài ra, BOT còn có một số dạng thức khác như: BTO (xây dựng - chuyển giao - kinh doanh) được hình thành cũng tương tự như BOT, nhưng sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư nước ngoài giao lại cho nước chủ nhà, chính phủ nước chủ nhà dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý Hợp đồng BT (xây dựng - chuyển giao) được hình thành cũng giống như BOT và BTO, nhưng sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài bàn giao lại công trình cho nước chủ nhà, chính phủ nước chủ nhà trả cho nhà đầu tư nước ngoài chi phí liên quan tới công trình và một tỷ lệ thu nhập hợp lý
Qua hình thức đầu tư này, nhiều quốc gia nhận đầu tư có thể thu hút được vốn đầu tư vào những dự án cơ sở hạ tầng đòi hỏi vốn lớn, do đó, giảm được sức ép cho ngân sách nhà nước, đồng thời nhanh chóng có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, giúp khai thác các nguồn lực trong nước và thu hút thêm FDI để phát triển kinh tế Nhược điểm của hình thức này là là
Trang 34khó tiếp nhận kinh nghiệp quản lý và khó kiểm soát được công trình Nhà nước cũng phải chịu mọi rủi ro ngoài khả năng kiểm soát của nhà đầu tư
Đối với nhà đầu tư nước ngoài, do được chủ động quản lý điều hành và
tự chủ kinh doanh, hiệu quả đồng vốn đầu tư của họ được đảm bảo và lợi nhuận không bị chia sẻ Ngoài ra, các dự án đầu tư được Nhà nước sở tại đảm bảo và tránh được rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần khác nhau được gọi là cổ phần, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp Cổ đông có thể là tổ chức, các nhân có số lượng tối đa không hạn chế, từ
ba trở lên Công ty có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
Công ty cổ phần có đại hội cổ đông, hội đồng quản trị và giám đốc Đại hội cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất ở một số nước, công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hóa doanh nghiệp FDI (doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt động, mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hóa
M&A là hình thức đầu tư mà các nhà đầu tư chủ yếu tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài Đầu tư theo hình thức M&A là xu hướng phổ biến hiện nay và hình thức này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng FDI trên thế giới Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các TNCs lớn và tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp ôtô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở các nước phát triển
Xét từ quan điểm của nước chủ nhà, M&A có những ưu điểm và hạn chế Hình thức M&A chủ yếu chuyển sở hữu từ các doanh nghiệp đang tồn tại
ở nước chủ nhà cho các công ty nước ngoài Tuy nhiên, về dài hạn, hình thức
Trang 35này cũng sẽ thu hút mạnh nguồn vốn từ bên ngoài cho nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt động Về mặt tạo công ăn việc làm, nếu như hình thức GI tạo ngay việc làm cho nước chủ nhà trong khi hình thức M&A không tạo được việc làm ngay, mà thậm chí còn tăng thêm tình trạng căng thẳng về việc làm (tăng thất nghiệp) cho nước chủ nhà
Hình thức GI tác động ngay đến thay đổi cơ cấu kinh tế thông qua xây dựng các doanh nghiệp mới, trong khi M&A lại không tác động như vậy trong giai đoạn ngắn hạn M&A tuy không tác động đáng kể tới cạnh tranh về ngắn hạn, nhưng trong dài hạn có thể làm tăng cạnh tranh độc quyền Mặt khác, M&A có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước chủ nhà vì tài sản của nước chủ nhà rơi vào tay người nước ngoài
Còn đối với nhà đầu tư, họ tiến hành mua lại & sát nhập với mục đích khai thác lợi thế thị trường mới, giúp công ty có cơ hội mở rộng nhanh chóng hoạt động ra thị trường nước ngoài Khi các TNCs sáp nhập với nhau thành công ty khổng lồ hoạt động trong nhiều lĩnh vực, khả năng cạnh tranh toàn cầu của họ tăng lên rất đáng kể Ngoài ra, thông qua hình thức M&A, các công ty
có thể giảm chi phí trong lĩnh vực R&D, sản xuất, phân phối và lưu thông
Holding Company là một trong những mô hình tổ chức quản lý được thừa nhận rộng rãi ở hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường Theo định nghĩa được thừa nhận rộng rãi, holding company là một công ty
sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức độ đủ để kiểm soát hoạt động quản lý và điều hành công ty đó thông qua việc gây ảnh hưởng hoặc việc lựa chọn thành viên hội động quản trị
Thông thường trên thế giới, các holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạn hoạt động trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giám sát hoạt động quản lý của các công ty con Các công
Trang 36ty con vẫn duy trì quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh hàng ngày của mình một cách độc lập
Chi nhánh công ty nước ngoài Khác với công ty con 100% vốn nước ngoài, hình thức chi nhánh không phải là một pháp nhân độc lập và nếu như trách nhiệm của công ty con chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của nước sở tại thì trách nhiệm của chi nhánh, theo quy định của một số nước, không chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của chi nhánh, mà còn được mở rộng đến cả phần tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài
Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể là thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề của công ty, còn thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định tại điều lệ công ty nhưng không được tham gia quản lý công ty và hoạt động nhân danh công ty
1.1.4 Quản lý Nhà nước đối với các hình thức FDI và căn cứ xem xét để lựa chọn các hình thức FDI
Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động và sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn FDI Chỉ có nhà nước với quyền lực và chức năng của mình mới có khả năng tạo lập được môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực và thế giới để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài Vai trò quản lý nhà nước đối với FDI được thể hiện thông qua vai trò của nhà nước trong việc hình thành phát triển và hoàn thiện môi trường đầu tư cho sự vận động có hiệu quả FDI Mỗi hình thức đầu tư FDI đều có vai
Trang 37trò quan trọng đối với Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế, tạo nguồn thu nhập, vì vậy Nhà nước cần phải:
Ổn định chính trị và môi trường kinh tế vĩ mô cho sự vận động vốn FDI
Tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo và khuyến khích FDI định hướng theo chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc
A Cách tiếp cận từ phân tích các mục tiêu của nhà đầu tư và nước chủ nhà:
Các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn các hình thức đầu tư ở nước chủ nhà thường căn cứ vào các yếu tố chủ yếu sau:
- Tìm kiếm thị trường nước ngoài để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm khi thị trường trong nước trở nên kém sức hấp dẫn đối với sản phẩm công ty và tăng mức độ cũng như phạm vi ảnh hưởng của công ty ở nước ngoài
- Tìm kiếm các nguồn lực để làm tăng thêm giá trị
- Tận dụng những ưu đối của nước chủ nhà
- Đảm bảo độc quyền công nghệ
- Mức độ hiểu biết về thị trường của nước chủ nhà
Tương tự như các nhà đầu tư, chính phủ nước chủ nhà cũng phải tính toán lợi ích của từng hình thức đầu tư đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của mình, cụ thể thường căn cứ vào các yếu tố cơ bản sau:
Trang 38- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát và học tập kinh nghiệm kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài
- Giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội cụ thể
- Năng lực góp vốn, khả năng sinh lời và rủi ro của dự án đầu tư cũng
là các yếu tố quan trọng khi xem xét phê chuẩn hình thức đầu tư nước ngoài của nước chủ nhà
B Cách tiếp cận từ phân tích so sánh ưu điểm và hạn chế của các hình thức FDI đối với các nhà đầu tư nước ngoài và nước chủ nhà:
Để làm rõ hơn sự lựa chọn giữa các hình thức đầu tư nước ngoài của các nhà đầu tư và nước chủ nhà, chúng ta sẽ phân tích từ những ưu điểm và hạn chế của các hình thức FDI phổ biến ở các nước đang phát triển (xem bảng 1)
Bảng 1.1 cũng đó thể hiện những ưu điểm và hạn chế của từng hình thức FDI đối với nước chủ nhà Trên cơ sở những những phân tích lợi ích của từng hình thức FDI, nước chủ nhà có những chính sách ưu đãi hơn hay hạn chế hơn với một số hình thức đầu tư
Trang 39Bảng 1.1: So sánh ưu điểm và hạn chế của các hình thức FDI ở các nước đang phát triển
Tự chủ kinh doanh (+) Giảm khả năng hòa nhập (-)
Lợi nhuận không cao (-) Lợi nhuận ổn định (+)
Giảm rủi ro (+)
Nước chủ
nhà
Tăng được vốn đầu tư (+) Giảm chi phí đầu tư (+)
Khó kiểm soát được đối tác (-) Không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý (-)
Lợi nhuận không cao (-) Lợi nhuận ổn định (+)
Giảm rủi ro (+)
Ghi chú: Ưu điểm (+), hạn chế (-)
b Doanh nghiệp liên doanh
DNLD
Cùng đóng góp vốn, tài sản,…
Cùng quản lý Cùng chia lợi nhuận
Cùng chịu rủi ro
Nhà đầu
tư nước
ngoài
Giảm chi phí đầu tư (+)
Giảm tự chủ trong kinh doanh
(-) Tăng khả năng hòa nhập (+)
Lợi nhuận chia
sẻ nên không cao (-) Lợi nhuận ổn định (+)
Tiếp nhận kinh nghiệm quản lý
(+) Kiểm soát được đối tác nước ngoài
Trang 40c Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
DN 100%
Không chia lợi nhuận
Tự chịu rủi ro
Nhà đầu
tư nước
ngoài
Tăng chi phí đầu tư (-)
Tự chủ kinh doanh
(+) Giảm khả năng hoà nhấp (-)
Lợi nhuận không bị chia
sẻ (+) Lợi nhuận không ổn định (-)
Tăng rủi ro(-)
Nước chủ
nhà
Tăng được vốn đầu tư (+) Giảm chi phí đầu tư (+)
Khó kiểm soát được đối tác (-) Không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý (-)
Không có lợi nhuận (-)
Không phải chịu rủi
ro (+)
d Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT)
Tự chủ kinh doanh
(+)
Lợi nhuận không bị chia
sẻ (+) Lợi nhuận không ổn định (+)
Tăng rủi ro (-)
Nước
chủ nhà
Giảm chi phí đầu tư (+)
Khó kiểm soát được công trình (-) Không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý (-)
Có được công trình hoàn chỉnh (+)
Chịu mọi rủi
ro khác ngoài khả năng kiểm soát của nhà đầu tư (-) Nguồn: Phân tích của tác giả (đề tài)
Qua các phân tích trên cho thấy nhà đầu tư nước ngoài và nước chủ nhà
có các mục tiêu khác nhau trong lựa chọn các hình thức FDI Mỗi bên đều tìm cách tối đa lợi ích của mình khi lựa chọn hoặc cho phép áp dụng hình thức FDI Trong thực tế, thường có sự khác biệt về lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài và