1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoạt động nghiên cứu và phát triển của một số công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam : Luận văn ThS. Kinh tế học: 60 31 01

117 60 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp để phân tích lý luận và luận giải thực tiễn như phép duy vật biện chứng của Mác-Lênin, phương pháp lấ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số : 60 31 01 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH

XÁC NHẬN CỦA

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh,

người đã tận tình hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ tôi về chuyên môn trong suốt thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cám ơn tập thể các thầy cô giáo trong phòng Đào tạo, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiện tốt luận văn này

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, những người luôn ủng hộ, động viên tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài Trong quá trình thực hiện, luận văn khó tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cám ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG R&D CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 4

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 6

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động R&D của các công ty xuyên quốc gia 8

1.2.1 Tổng quan về các công ty xuyên quốc gia 8

1.2.2 Khái quát về hoạt động R&D của các công ty xuyên quốc gia 25

1.2.3 Vai trò của hoạt động R&D đối với doanh nghiệp 30

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Qui trình nghiên cứu 43

2.2 Các phương pháp nghiên cứu 44

2.2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 44

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG R&D CỦA MỘT SỐ CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM 47

3.1 Yếu tố thu hút hoạt động R&D của một số TNCs vào Việt Nam 47

3.1.1 Chính sách của Nhà nước đối với sự phát triển R&D của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam 47

3.1.2 Trình độ nguồn nhân lực của Việt Nam 57

3.1.3 Qui mô thị trường 60

3.2 Phân tích hoạt động R&D của các TNCs tại Việt Nam 62

3.2.1 Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam 62

Trang 6

3.2.2 Hoạt động R&D của một số công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam 68

3.2.3 Lĩnh vưc hoạt động của R&D 74

3.3 Một số thuận lợi và hạn chế khi thu hút R&D của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam 76

3.3.1 Thuận lợi 76

3.3.2 Hạn chế khi thu hút R&D của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam 77 CHƯƠNG 4: MỘT SỐ HÀM Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH R&D TRONG DOANH NGHIỆP 81

4.1 Bối cảnh 81

4.1.1 Bối cảnh kinh tế Việt Nam 81

4.1.2 Định hướng 85

4.2 Một số hàm ý đối với Việt Nam trong việc đẩy mạnh R&D của doanh nghiệp 88

4.2.1.Thu hút R&D của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam 88

4.2.2 Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam để tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế 90

4.2.3 Phát triển nguồn lực 95

4.2.4 Đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư 98

4.2.5 Tái cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh 99

4.2.6 Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN 101

4.3 Kiến nghị 101

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

3 FDI (Foreign Direct Investment) Đầu tư trực tiếp nước ngoài

6 MNC (Multinational corporation) Công ty đa quốc gia

7 ODA (Official Development Assistance) Hỗ trợ phát triển chính thức

8 R&D (Research & Development) Nghiên cứu và phát triển

9 TNC (Transnational corporation) Công ty xuyên quốc gia

11 TPP (Trans-Pacific

Partnership Agreement)

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

12 UNCTAD (United Nations Conference

on Trade and Development)

Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốc

13 WTO (World Trade Organization) Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

3 Bảng 3.2 Lao động cho chuyên môn, khoa học và công nghệ của TNCs 59

4 Bảng 3.3 10 nước có vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam lớn nhất tính

5 Bảng 3.4 Các trung tâm nghiên cứu R&D của Samsung trên thế giới 69

7 Bảng 4.1 Tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005-2015 82

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

2 Biểu đồ 3.2 Vốn đăng ký FDI vào Việt Nam qua các năm 66

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Từ một đất nước đói nghèo và lạc hậu, đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình thấp Từ một nền kinh tế khép kín, tập trung quan liêu bao cấp, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế năng động, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với chủ trương “chủ động

và tích cực hội nhập quốc tế” đã đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Tiến trình hội nhập quốc tế đã có những tác động to lớn, nhiều mặt đến thế và lực của Việt Nam trong phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân; tạo sức ép và điều kiện để hoàn thiện thể chế kinh tế; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Sau hơn 25 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), kinh tế Việt Nam đã có nhiều chuyển biến rất tích cực Thực tế đã cho thấy, vốn FDI đã và đang khẳng định vai trò quan trọng của mình đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam Các nguồn vốn FDI này phần lớn thông qua các công ty xuyên quốc gia Sự hiện diện của các TNCs đồng nghĩa với việc cung cấp một nguồn vốn quan trọng cho nền kinh tế Nguồn vốn FDI luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế quốc dân Đồng thời, các TNCs đã đóng góp phần tích cực trong việc thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Với lợi thế của mình

về nhiều vốn kỹ thuật hiện đại, kỹ năng quản lý tiên tiến và mạng lưới thị trường rộng lớn các TNCs luôn tích cực đầu tư ra nước ngoài nhằm tối đa hoá lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu

Các TNCs ngày nay đã và đang phát triển mạnh mẽ với quy mô toàn cầu Không những các công ty này đầu tư vào các nước phát triển, mà họ còn đầu tư vào các nước đang phát triển Việt Nam sau khi gia nhập WTO đã đón nhận làn sóng đầu tư và kinh doanh mạnh mẽ từ các công ty xuyên quốc gia, với mục đích khai thác thị trường mới tiềm năng Do vậy để tạo ra sự thành công khi vào Việt Nam, những sản phẩm về dịch vụ, hàng hóa, tài chính luôn được nghiên cứu cụ thể, chi tiết để có sự phù hợp với văn hóa tiêu dùng cũng như các chính sách của Việt Nam

Trang 11

Để các TNCs thành công trong việc đầu tư và hiệu quả trong kinh doanh tới các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thì hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) đang trở nên thiết thực cho mỗi TNCs Và Việt Nam cần làm gì để tạo ra môi trường đầu tư lý tưởng cho các TNCs trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phù hợp với hoạt động R&D của các TNCs

Trong bối cảnh ấy, việc lựa chọn để tài: " Hoạt động nghiên cứu và phát triển của một số công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam" là thực tiễn cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu :

Mục đích chung: Nghiên cứu thực trạng hoạt động R&D của TNCs tại Việt Nam nhằm đề xuất giải pháp tăng cường thu hút FDI cho R&D của TNCs vào Việt Nam Mục tiêu cụ thể :

(i) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động R&D của TNCs tại Việt Nam

(ii) Nghiên cứu thực trạng hoạt động R&D của TNCs tại Việt Nam nhằm phát hiện những thành công, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đang tồn tại (iii) Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút hoạt động R&D của TNCs vào Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích như trên, đề tài sẽ đi sâu thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu: + Tổng quan tình hình nghiên cứu để hệ thống hóa cơ sở khoa học của hoạt động R&D

+ Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích dữ liệu thứ cấp về thực trạng hoạt động R&D của một số công ty xuyên quốc gia, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm

+ Tổng quan tình hình hoạt động R&D của các TNCs tại Việt Nam, qua đó đưa ra được những hàm ý để đầy mạnh R&D các doanh nghiệp trong nước

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở các nghiên cứu đã được thực hiện và tính cấp thiết của chủ đề nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu mà luận văn đặt ra gồm:

(1) Các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về R&D là gì?

Trang 12

(2) Thực trạng hoạt động R&D của TNCs tại Việt Nam như thế nào?

(3) Việt Nam cần giải pháp nào nhằm thúc đẩy R&D của công ty xuyên quốc gia ?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động R&D của TNCs tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động R&D của TNCs tại Việt Nam trong giai đoạn 2005-2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp để phân tích

lý luận và luận giải thực tiễn như phép duy vật biện chứng của Mác-Lênin, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, phân tích tổng hợp và so sánh, mô hình hóa…

Nguồn số liệu được lấy từ các doanh nghiệp FDI đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2005 - 2015, số liệu từ tổng cục thống kế, nguồn dữ liệu của worldbank, case study của các công ty đa quốc gia

Phương pháp nghiên cứu này, sẽ được tác giả trình bày chi tiết trong chương 2 Ngoài phần mở đầu và kết luận, thì luận văn có 4 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động R&D của công ty xuyên quốc gia

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Phân tích hoạt động R&D của một số công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam

Chương 4 Một số hàm ý đối với Việt Nam trong việc đẩy mạnh R&D của doanh nghiệp

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG R&D CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN

QUỐC GIA

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hoạt động R&D hiện nay được các doanh nghiệp tập trung và đầu tư mạnh

mẽ, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của công ty Sự tập trung này thể hiện trong việc đầu tư lớn trong những năm trở lại đây Vì vậy hoạt động R&D đã thu hút đông đảo các nhà khoa học tham gia nghiên cứu Đã có rất nhiều bài nghiên cứu khoa học, các hội thảo, công trình trên thế giới cũng như Việt Nam về R&D được công bố, có thể chia làm các nhóm cơ bản như sau: các công trình nghiên cứu ngoài nước và các công trình nghiên cứu trong nước

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây, Việt Nam có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động R&D của các doanh nghiệp Như trong công trình

"Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn địa điểm phân tán hoạt động R&D của các MNCs Nhật vào Việt Nam" Nguyễn Thị Trang (2016) luận văn

đã đưa ra các lý luận và khái niệm về hoạt động R&D của các công ty đa quốc gia,

và nghiên cứu chi tiết về các hoạt động R&D của các công ty đa quốc gia Nhật Bản vào Việt Nam Nghiên cứu này tập trung vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phân tán hoạt động R&D của các MNCs Nhật tại Việt Nam Và đề tài cũng đưa ra được giải pháp trong việc thu hút đầu tư nước ngoài gắn với R&D Đề tài này có hạn chế chỉ đưa ra được hoạt động R&D từ các công ty của Nhật mà chưa phân tích chung cho các công ty nước ngoài khác một các sâu rộng

Đề tài " Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) trong các doanh nghiệp Việt Nam" Hoàng Văn Tuyên (2009) đã chỉ ra được khái niệm của hoạt động R&D và đổi mới công nghệ, chỉ ra vai trò của hoạt động R&D đối với doanh nghiệp, các cách thức tiến hành hoạt động R&D của doanh nghiệp Từ đó, đề tài phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động R&D của doanh nghiệp các yếu tố

Trang 14

bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, phân tích thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ tại các doanh nghiệp ở Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị đề xuất cho việc thu hút hoạt động này tại Việt Nam Tuy nhiên trong đề tài này chỉ đề cập đến hoạt động R&D của các doanh nghiệp Việt Nam, mà không phân tích cụ thể các hoạt động R&D của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam

Nghiên cứu về R&D doanh nghiệp ngoài quốc doanh có đề tài " Hoàn thiện chính sách tài chính thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại thành phố Cần Thơ" Bùi Hồng Xa ( 2014) đưa

ra một số vấn đề lý luận chung về hoạt động R&D như khái niệm và phân loại, đặc điểm của hoạt động R&D Luận văn chỉ ra rằng hoạt động R&D là sự tìm tòi, khám phá mang tính sáng tạo những vấn đề mà người nghiên cứu chưa biết vì vậy mà đặc trưng của nó bao gồm tính mới, tính tin cậy, tính thông tin, tính khách quan, tính rủi

ro, tính kế thừa bên cạnh đó, luận văn còn chỉ ra thực trạng hoạt động R&D của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại thành phố Cần Thơ từ đó đưa ra các chính sách nhằm túc đẩy sự phát triển của hoạt động này

Ngày 17/5/2015, Thaco đã tổ chức chương trình Hội thảo Khoa học với chuyên đề “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động R&D tại Thaco” Hội thảo được

tổ chức với mục tiêu định hướng mô hình phù hợp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D) của Thaco, tạo mối liên kết hợp tác giữa Thaco với các đối tác có năng lực, các trường đại học, viện nghiên cứu và các nhà khoa học trong nước nhằm chung tay phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam Trong hội thảo này, đã đưa ra những kinh nghiệm và các vấn đề cốt lõi liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển R&D; một số mô hình R&D tiêu biểu, và chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động R&D của một số doanh nghiệp Đồng thời, các thành viên cũng đã thảo luận nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại; cũng như chia sẻ, trao đổi thông tin, kinh nghiệm hữu ích, thiết thực để định hướng và đẩy mạnh hoạt động R&D của Thaco trong thời gian tới Tuy nhiên hội thảo chỉ đưa ra được trong ngành

ô tô, còn các lĩnh vực khác chỉ mang tính chất tham khảo và chia sẻ kinh nghiệm

Trang 15

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Đối với công trình nước ngoài có rất nhiều bài phân tích sâu về R&D, như bài

"The Economic Growth Effect of R&D Activity in Korea* (Jin Woong Kim, 2011)

đã phân tích chuyên sâu sự tác động của R&D đối với sự phát triển kinh tế Hàn Quốc giai đoạn từ năm 1976 - 2009 Trong bài này tác giả đã sử dụng hàm Cobb-Douglas cho sự phân tích tác động của R&D đến sự phát triển kinh tế Tác giả đã sử dụng các yếu tố như đầu tư, vốn, lao động và hoạt động R&D tác động động đến nền kinh tế, qua đó phân tích sau về các yếu tố này ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào Đối với yếu tố R&D, tác giả phân tích sự đầu tư cho R&D như viện nghiên cứu, các trường đại học và các hãng sản xuất, thương mại từ năm 1976 đến năm 2008 Từ số liệu phân tích tác giả đã đưa ra được R&D tác động như thế nào đến sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc Công trình nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp định lượng, thống kê cho hàm kinh tế, cho ra kết quả chính xác Công trình này của tác giả đã cho người đọc thấy được vai trò và tác động của R&D nhưng chưa cho thấy được tình hình hoạt động R&D của các doanh nghiệp như thế nào

Tạp chí kinh doanh Journal of Business, Economics & Finance ISSN: 2146-7943

có bài viết " the effect of R&D expenditure (investments) on firm value: case of Istanbul stock exchange" của hai tác giả Pinar Basgoze và H Cem Sayin viết về tác động đầu tư cho R&D đối với giá trị công ty và trường hợp cụ thể là thị trường chứng khoán Istanbul Bài viết đưa ra phân tích sâu sắc sự đầu tư cho R&D đối với giá trị của một công ty như thế nào Trong bài phân tích này tác giả sử dụng hàm kinh tế với giá trị công ty là tổng và R&D là một yếu tố trong hàm Trường hợp cụ thể tác giả đưa ra chính là đầu tư R&D tác động đến giá trị của chứng khoán Istanbul như thế nào Tuy nhiên, bài báo này cũng giông như nghiên cứu trên là sử dụng hàm để chỉ sự tác động của R&D đến hàm giá trị như thế nào mà chưa đưa ra được cách thức hoạt động R&D để tạo nên giá trị của công

ty Bài viết cho người đọc thấy được hàm giá trị với yếu tố tác động là R&D, ảnh hưởng của nó đến chứng khoán Istanbul như thế nào

Trong bài phân tích" Attracting R&D Of Multinational Companies In The Czech Republic" Jose Guion Worldbank 2013 đã nói về thu hút R&D của các công

Trang 16

ty đa quốc gia tại Cộng hòa Séc Bài phân tích chuyên sâu về thu hút R&D từ các công ty đa quốc gia tại Cộng hòa Séc, phân tích các chính sách đưa ra và thực tiễn thực hiện như thế nào để hiểu quả, qua đó thu được những kết quả và bài học gì từ những chính sách này Và tác giả đưa ra quan điểm việc thu hút R&D cũng quan trọng như thu hút FDI vào đất nước, là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển công nghệ cao và tăng trưởng nền kinh tế Trong bài phân tích, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh để cho thấy tầm quan trọng của R&D qua đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị đối với chính phủ trong việc thu hút R&D Tuy nhiên trong bài này, tác giả chưa đưa ra được các yếu tốc để thúc đẩy R&D tại Cộng hòa Séc cũng như thực tế hoạt động R&D như thế nào của các công

ty xuyên quốc gia

Ngoài ra ra có một số nghiên cứu về phân loại R&D như Darius Mahdjoubi (2009) phân tích và chỉ ra có 4 loại R&D là loại R&D chuỗi các hoạt động (R&D as

a Set of Activities); loại R&D như mô hình đổi mới (R&D as a Paradigm of Innovation); loại R&D là một đối ứng cho thiết kế và phát triển (R&D as a Counterpart for Design and Development D+D) và loại R&D là nguồn của các ý tưởng (R&D as a Source of Idea) Tác giả cũng phân tích cụ thể từng loại R&D để đưa ra cái nhìn đa chiều về các loại R&D được đề cập Kuemmerle (1997) đã phân chia hoạt động đầu tư vào R&D của các TNCs thành 2 loại là R&D khai thác ( Home-base exploiting) và R&D mở rộng ( Home-base augumenting) R&D khai thác: các TNCs tập trung vào việc củng cố những hoạt động R&D có sẵn ở những thị trường nước ngoài và trung tâm của quá trình sáng tạo vẫn được đặt ở nước đầu

tư Những phòng thí nghiệm R&D tại nước ngoài chỉ đóng một vai trò phụ trợ đối với tổng công ty R&D mở rộng diễn ra khi các TNCs tìm kiếm những tri thức sẵn

có ở những vị trí đặc biệt và bên ngoài quốc gia, khi đó các trung tâm R&D nước ngoài tham gia vào cả quá trình sang tạo của các công ty bằng cách đóng góp những giá trị sẵn có cho nền tảng tri thức của công ty

Cũng trong phần phân loại R&D này, Satoshi Shimizutani và Yasuyuki Todo (2008) lại có cách phân chia hoạt động đầu tư và R&D của các TNCs thành R&D

Trang 17

sáng tạo (innovative R&D) và R&D ứng dụng (adaptive R&D) R&D sáng tạo hay còn gọi là R&D tìm kiếm nguồn tri thức: với hình thức R&D này, các TNCs muốn tiếp thu những công nghệ, kỹ năng và năng lực của nước ngoài Hoạt động phân tán R&D này hầu như sẽ được các TNCs chú ý tại các nước phát triển, nơi có thể tìm và tiếp thu được những công nghệ hiện đại và kỹ năng chuyên nghiệp R&D ứng dụng hay còn gọi là R&D định hướng thị trường: các TNCs muốn ứng dụng các sản phẩm và sản xuất cho phù hợp với luật lệ, điều kiện và yêu cầu của nước đầu tư Hoạt động phân tán R&D ở hình thức này sẽ được các TNCs chú trọng hơn tại các nền kinh tế mới nổi hay các quốc gia đang phát triển để có thể tận dụng, ứng dụng vào thị trường này một cách dễ dàng hơn

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động R&D của các công ty xuyên quốc gia

1.2.1 Tổng quan về các công ty xuyên quốc gia

1.2.1.1.Khái niệm về công ty xuyên quốc gia:

Sự phát triển liên tục của công ty xuyên quốc gia về quy mô, cơ cấu tổ chức, phương thức sở hữu từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay đã làm nảy sinh rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về công ty xuyên quốc gia Mặc dù đều thừa nhận rằng các công ty xuyên quốc gia phải là những công ty độc quyền lớn, hoạt động trên phạm vi quốc tế và có thể gọi là công ty xuyên quốc gia hay công ty đa quốc gia tuỳ theo tiến trình phát triển nhận thức chung về loại hình công

ty này Tuy nhiên trên thế giới vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về công ty xuyên quốc gia

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng trên thị trường quốc tế đã và đang tồn tại nhiều loại công ty khác nhau Cụ thể là:

- Công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation) là công ty tư bản độc quyền mà tư bản sở hữu (vốn) của một nước (cũng có nghĩa là mang quốc tịch của một nước nhất định), thực hiện kinh doanh ở nước ngoài bằng hình thức thiết lập các công ty, các xí nghiệp phụ thuộc vào nó Ví dụ, công ty Sony là một tập đoàn tư bản Nhật Bản Trong quá trình kinh doanh, nó từng bước thực hiện việc xây dựng

Trang 18

các chi nhánh ở các nước Đông, Đông Nam Á và một số nước khác thì đó là một công ty xuyên quốc gia

- Công ty đa quốc gia (Multinational Corporation) cũng là công ty tư bản độc quyền thực hiện thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành các hoạt động kinh doanh quốc tế, nhưng khác với công ty xuyên quốc gia ở chỗ tư bản thuộc sở hữu của công ty mẹ là của hai hoặc nhiều nước Ví dụ: công ty mẹ “Royal Ducth/Shell Group” và công ty mẹ “Unilever” có vốn sở hữu của các chủ tư bản Anh và Hà Lan (tài sản tương ứng là 111,543 tỷ USD và 46,922 tỷ USD), công ty

mẹ “Fortis” thuộc sở hữu của Bỉ và Hà Lan (tài sản 177 tỷ USD) là những công ty

mẹ đã thiết lập hàng trăm chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới Vì sở hữu của công

ty thuộc chủ tư bản của hai nước, do đó người ta gọi chúng là công ty thuộc dạng công ty đa quốc gia, hay còn gọi là công ty liên quốc gia, công ty siêu quốc gia

Như vậy, quan niệm này có sự phân định rõ hai loại hình công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế Đó là công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia Sự phân định này chủ yếu căn cứ vào vốn của công ty thuộc sở hữu của chủ tư bản một nước hay nhiều nước và từ đó liên quan đến tập đoàn lãnh đạo quản lý công ty Nếu là công ty xuyên quốc gia thì tập đoàn lãnh đạo quản lý công ty thuộc về các nhà tư bản của một nước Còn nếu là công ty đa quốc gia thì hội đồng quản trị lãnh đạo công ty gồm các nhà tư bản có cổ phần ở nhiều nước khác nhau Sự phân định về những tiêu chuẩn này chủ yếu vẫn căn cứ vào công ty mẹ chứ không căn cứ vào công ty hoặc xí nghiệp chi nhánh Ví dụ: Exxon là công ty mẹ mà vốn của nó thuộc về các nhà tư bản có quốc tịch Mỹ (tổng tài sản trên 80 tỷ USD) Công ty Exxon đã thực hiện việc mở rộng thị trờng quốc tế, thiết lập nhiều chi nhánh ở các nước khác nhau

mà chúng ta gọi nó là công ty xuyên quốc gia Khi công ty thiết lập chi nhánh ở nước ngoài, thực hiện liên doanh với các doanh nghiệp nước chủ nhà, trong hội đồng quản trị của xí nghiệp chi nhánh có các nhà quản lý người địa phương, thậm chí thuê các nhà quản lý của một nước thứ ba, nguồn vốn có thể thuộc quyền sở hữu của hai, ba nước vẫn không làm thay đổi tính chất công ty xuyên quốc gia của công

ty mẹ Người ta không gọi nó là công ty đa quốc gia vì theo cơ chế tổ chức, các

Trang 19

công ty chi nhánh tuy có sự độc lập tương đối nhưng vẫn phụ thuộc vào công ty mẹ

và chịu sự chi phối của công ty mẹ ở mức độ khác nhau

Sự phân định như trên về công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia có tính hợp

lý nhất định, đã coi trọng tiêu chuẩn tư bản sở hữu vì đây là tiêu chuẩn có ý nghĩa quyết định đến mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của một công ty

Có một vấn đề cần chú ý ở đây là trong số 500 công ty lớn nhất thế giới hiện nay chỉ có 3 công ty là thuộc sở hữu của các nhà tư bản ở hai nước Số còn lại, 497 công ty (99,4% tổng số công ty) thuộc sở hữu của tư bản chỉ của một nước Không

có công ty nào thuộc sở hữu của ba nước trở lên Điều đó có nghĩa là tính chất “đa quốc gia” của các công ty mẹ là rất thấp Mặt khác, dùng thuật ngữ “đa quốc gia” chỉ mới phản ánh tính bề ngoài nhiều hơn, vả lại dễ gây cho ngời ta hiểu lầm về sự bình đẳng giữa các quốc gia trong một công ty, mà trên thực tế sự bình đẳng này lại phải dựa trên sức mạnh kinh tế với tiền đề là số tư bản sở hữu Đó là điều chưa hợp

lý trong sự phân định này

Ý kiến thứ hai cho rằng chỉ có một loại công ty hoạt động trên thị trờng quốc

tế Đó là công ty quốc tế (International Corporation) hoặc còn gọi là công ty toàn cầu (Global Corporation), trong đó bao gồm cả các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia và siêu quốc gia Các tác giả này không quan tâm đến nguồn gốc tư bản sở hữu cũng như quốc tịch của công ty, đồng thời cũng không phân biệt bản chất quan hệ sản xuất của quốc gia mà công ty đó xuất thân Họ chỉ quan tâm về mặt hoạt động sản xuất, kinh doanh quốc tế Quan niệm như trên đơn giản dễ hiểu, mang tính phổ thông, phù hợp với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế hiện nay Nhưng quan niệm này có nhược điểm mới chỉ căn cứ vào hiện tượng bên ngoài, chưa đi sâu vào bản chất của sự vật, đồng thời bỏ qua tính lịch sử trong sự phát triển

Ý kiến thứ ba cũng gần giống ý kiến thứ hai Các tác giả thuộc trường phái này (chủ yếu là các chuyên gia của Liên Hợp Quốc) cho rằng mặc dù trên thế giới

đã tồn tại nhiều loại công ty hoạt động không chỉ trong phạm vi biên giới quốc gia

mà trên phạm vi quốc tế Song trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế như hiện nay thì xu hướng xuyên quốc gia hóa trong sản xuất kinh doanh là một xu hớng

Trang 20

phổ biến Hiện tượng công ty của một quốc gia trong những điều kiện nhất định ượt biên giới quốc gia thực hiện thiết lập các mạng lưới sản xuất, kinh doanh ở các nước khác dưới hình thức 100% vốn của mình, hoặc liên minh tư bản nhiều nước đã trở thành một hiện tượng đặc trưng của kinh doanh quốc tế và là nét phổ biến đối với tất cả các loại nước Vì vậy, các tác giả này đã gọi chung tất cả các công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế hiện nay, dù của các nước tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa, là công ty xuyên quốc gia

v-Các công ty xuyên quốc gia là những công ty của một quốc gia thực hiện sự bành trướng quốc tế bằng cách thiết lập hệ thống chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh quốc tế Quan niệm như vậy về cơ bản là đúng

vì đã phản ánh được hiện thực của sự phát triển sản xuất kinh doanh quốc tế hiện nay, mặt khác cũng phản ánh được tính lịch sử phát triển của công ty xuyên quốc gia (từ công ty quốc gia chuyển thành xuyên quốc gia) Đồng thời dùng chung một thuật ngữ “xuyên quốc gia” để chỉ tất cả các công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế

sẽ khắc phục được tính phức tạp không cần thiết về khái niệm đã tồn tại nhiều năm

Hiệu quả tối ưu nhằm thu được lợi nhuận độc quyền cao Năm 1998, trong Báo cáo đầu thế giới 1998, các chuyên gia của Liên Hợp Quốc đã nêu định nghĩa về công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation) cụ thể hơn như sau: Các công

ty xuyên quốc gia là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn bao gồm các công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài của chúng Các công ty mẹ được định nghĩa như là các công ty mà việc kiểm soát tài sản của các thực thể kinh tế khác ở nước ngoài thường được thực hiện thông qua việc góp vốn tư bản cổ phần của chúng Mức góp vốn cổ phần với 10% hoặc cao hơn, các loại cổ phiếu thường hoặc

cổ phiếu có quyền biểu quyết đối với loại công ty trách nhiệm hữu hạn, hoặc tương đương với công ty trách nhiệm vô hạn thường được xem như là ngưỡng đối với quyền kiểm soát tài sản của các công ty khác

Tóm lại, công ty xuyên quốc gia – công ty mẹ phải là công ty cư trú ở một nước nhất định, với các chủ sở hữu của một quốc gia nhất định được gọi là Parent Company Công ty đó tiến hành đầu tư, hoạt động thương mại ở nước ngoài, có thể

Trang 21

là trực tiếp hoặc thông qua hệ thống chi nhánh được gọi là Foreign Affiliate Các chi nhánh – công ty con có thể là công ty 100% vốn của công ty mẹ chuyển đến hoặc có tỷ lệ vốn do công ty mẹ góp vào ít hơn nếu là liên doanh với các đối tác của nước sở tại Nếu thực hiện liên doanh, khả năng bành trướng, chi phối thị trường của công ty sẽ lớn hơn Giữa công ty mẹ và công ty con có rất nhiều mối quan hệ, trước tiên là về tài chính, công nghệ và thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhãn hiệu…

Nói chung công ty xuyên quốc gia để chỉ tất cả các công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế là hợp lý vì nó không chỉ nêu được đặc trưng kinh tế nổi bật của công ty trong thời đại quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, phản ánh đúng tính chất hoạt động của công ty trong thực tế, mà còn thể hiện rõ bản chất cốt lõi của nền sản xuất xã hội Đó là quyền sở hữu thuộc về ai và ai là người quyết định, chi phối toàn bộ giá trị tư bản được sở hữu đó, được tập trung tại đó (cũng như số lợi nhuận được sinh ra từ nguồn tư bản đó) Chỉ có công ty mẹ có quốc tịch rõ ràng chi phối tổng số tư bản khổng lồ được tập trung trong công ty, còn các công ty con, các cổ đông đông đảo ở khắp nơi trên thế giới chỉ là người góp vốn kinh doanh kiếm lời, không có tiếng nói quyết định về phương hướng hoạt động chiến lược của công ty Tính xuyên suốt của việc chi phối quyền sở hữu công ty thể hiện hợp lý bản chất nội dung phạm trù xuyên quốc gia trong định nghĩa về công ty xuyên quốc gia Tuy nhiên, để nêu được một khái niệm bao quát cả về nguồn gốc và bản chất của công ty xuyên quốc gia phải xuất phát từ sự vận động lịch sử của hình thái tế bào của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay được thể hiện ở công ty xuyên quốc gia Do đó, công ty xuyên quốc gia được hiểu là một cơ cấu tổ chức kinh doanh quốc tế, dựa trên cơ sở kết hợp giữa quá trình sản xuất quy

mô lớn của nhiều thực thể kinh doanh quốc tế, với quá trình phân phối và khai thác thị trường quốc tế đạt hiệu quả cao

1.2.1.2 Nguồn gốc và sự phát triển của công ty xuyên quốc gia

a Nguồn gốc của công ty xuyên quốc gia

Sự ra đời của các công ty xuyên quốc gia trên thế giới đi liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa Về thực chất, chúng là sự phát triển

Trang 22

cao của chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa, là sự vận động mở rộng và sâu sắc hơn của các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi các mối quan hệ kinh tế vượt dần ra khỏi phạm vi quốc gia và gia nhập vào guồng máy sản xuất kinh doanh quốc tế ngày càng phát triển

Những hình thức tổ chức sản xuất hiệp tác giản đơn, công trường thủ công đều là những hình thức tổ chức sản xuất đầu tiên của chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa Công trường thủ công ban đầu do một thợ cả thành đạt, giàu có lập ra bằng cách tập trung tất cả những người thợ thủ công độc lập, phân tán hoạt động trên thị trường mà người thợ cả đó quen biết và đã có quan hệ vào cùng làm việc trên một mặt bằng xác định Ở đây diễn ra quá trình tổ chức và quản lý sản xuất có tính thống nhất đầu tiên Về đại thể, những người thợ thủ công được tổ chức, sắp xếp vào dây chuyền sản xuất bằng hai cách Một là, liên kết theo chiều dọc, tức là những người thợ có cùng một nghề nghiệp được tập hợp lại và được phân công chuyên môn hoá theo từng công đoạn của quá trình sản xuất nhằm tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh và theo đó, quá trình dịch chuyển trực tiếp từ phân công lao động trong nội bộ ngành kinh tế sang phân công trong nội bộ công trường thủ công đã diễn ra Hai là, liên kết theo chiều ngang, tức là liên kết giữa những người thủ công có nghề nghiệp hoàn toàn khác nhau Họ được tập trung lại trên cùng một mặt bằng sản xuất

để lao động theo sự chỉ đạo của chủ nghĩa tư bản, được gọi là hiệp tác giản đơn, sau

đó họ được chọn lọc và được phân công chuyên môn hoá theo những hoạt động nhất định, dới sự điều khiển, chỉ huy thống nhất của chủ công trường thủ công

Hai phương pháp liên kết trên đều dẫn đến một kết quả giống nhau là thực hiện phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất, ban đầu từ những thực thể thị trường nhỏ bé, đơn lẻ, độc lập, phân tán trong nền kinh tế tự do thị trường điều tiết chuyển dần thành sự phân công, hiệp tác của một thực thể thị trờng đơn nhất quy

mô lớn hơn, tức là trong nội bộ công trường thủ công, có tổ chức chặt chẽ và do một ngời chủ duy nhất quản lý

Việc quản lý quá trình phân công và trao đổi trong nội bộ công trường thủ công được tăng cường để nâng cao hiệu quả phân công và hiệp tác, tiết kiệm hao

Trang 23

phí vật chất và thời gian Do quy mô sản xuất còn tương đối nhỏ nên nói chung, việc quản lý do người sở hữu xí nghiệp gánh vác Chủ xí nghiệp tự mình hoặc dựa vào đốc công tiến hành điều tiết và kiểm soát quá trình sản xuất

Tính chất và quy mô của loại xí nghiệp như vậy tuy hết sức đơn giản và nguyên thuỷ nhưng nó đã trở thành cơ sở để công trường thủ công thay thế cho cơ chế trao đổi của thị trường Do sự thay thế này mà quy tắc có kế hoạch trong phân công nội bộ công trường thủ công đã thay thế cho quy tắc tự phát trong sự phân công lao động xã hội Hơn nữa, hiệu quả về mặt tổ chức, phân công sản xuất và trao đổi của công trường thủ công được xã hội tự giác sử dụng ngay khi nó mới ra đời và trở thành cơ sở của chế độ công xưởng truyền thống Chế độ công xưởng là hình thức phôi thai, tế bào của xí nghiệp truyền thống hiện đại và đi cùng với nó, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất dưới tác động của quy luật thị trường cũng diễn ra ngay thời kỳ đầu xuất hiện của các hình thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Chế độ xí nghiệp là chế độ điển hình sinh ra trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Nó được hoàn thiện bằng các hình thức quá độ phức tạp, đan xen nhau trong quá trình đổi mới về kỹ thuật và tổ chức lao động sản xuất lâu dài, trên cơ sở công trường thủ công Khởi đầu, xí nghiệp ra đời bằng con đường công trường thủ công nhờ sự kết hợp lao động Trong đó việc kết hợp lao động là nguyên nhân ban đầu của việc nâng cao hiệu quả lao động Một khi lao động đã liên kết theo một hình thức nào đó, nó sẽ tạo điều kiện cho việc sáng tạo ra máy móc, đặc biệt là việc sáng tạo ra các máy động lực

Khi các máy công tác và động lực hơi nước được các bộ phận truyền lực hợp thành hệ thống sản xuất bằng máy móc được xác định, chế độ xí nghiệp đã có cơ sở vững chắc về kỹ thuật Cùng với chế độ tự do cạnh tranh của thị trường phát triển

đã điều tiết sự phân công và trao đổi của xã hội, xí nghiệp, nhà máy cũng nhanh chóng trở thành hình thức tổ chức sản xuất điển hình để tổ chức sự phân công lao động xã hội Đồng thời, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, chế độ

xí nghiệp, nhà máy đã mở rộng phạm vi lĩnh vực phân công xã hội từ nội bộ quốc gia sang địa bàn quốc tế Do vậy, phân công lao động và trao đổi quốc tế về nguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản xuất giữa các nước ngày càng phát triển

Trang 24

Như vậy, cạnh tranh tự do không chỉ làm cho quá trình tích tụ và tập trung sản xuất tăng lên, mà còn là nguyên nhân cho sự ra đời của nền sản xuất dựa trên máy móc và theo đó, chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa xuất hiện và ngày càng hoàn thiện Đến lượt nó, chế độ xí nghiệp ra đời lại thúc đẩy phân công lao động mở rộng từ nội bộ quốc gia sang địa bàn quốc tế, đã làm cho tích tụ và tập trung tư bản, sản xuất tăng lên cao độ và theo đó, các tổ chức độc quyền bắt đầu xuất hiện

Các xí nghiệp độc quyền hiện đại được hình thành bởi sự kết hợp giữa quá trình sản xuất quy mô lớn và quá trình phân phối quy mô quốc tế vào trong một công ty đơn nhất Nghĩa là trong xí nghiệp bao gồm cả các hoạt động sản xuất công nghiệp lẫn thương mại, dịch vụ, tài chính… và chúng được gọi là xí nghiệp công th-ương hiện đại

Xí nghiệp công thương hiện đại trưởng thành và phát triển theo sự liên kết theo chiều dọc và chiều ngang Xí nghiệp liên kết theo chiều dọc thường là những xí nghiệp dùng kỹ thuật sản xuất hàng loạt và cả những xí nghiệp dịch vụ phân phối, tiêu thụ sản phẩm đặc thù theo ngành dọc của mình Xí nghiệp liên kết theo chiều ngang phần lớn thuộc các ngành khác nhau, trong đó có cả những xí nghiệp quy mô tương đối nhỏ, của gia tộc hoặc cá nhân Để khống chế sản lượng, nâng cao giá cả, các xí nghiệp này tiến hành hợp nhất hoặc liên kết Người ta nhanh chóng phát hiện

ra rằng: để cho xí nghiệp sau khi hợp nhất vẫn có thể phát triển quy mô cần phải tiếp tục liên kết theo chiều dọc cả hướng lên trên và xuống dưới Do đó sự liên kết theo chiều dọc mới là con đường cơ bản hình thành nên xí nghiệp hiện đại Sự liên kết này không chỉ đơn thuần là hành vi sách lược cạnh tranh của xí nghiệp mà là một loại hành vi sáng tạo ra cái mới về chế độ hoạt động của xí nghiệp Xí nghiệp công thương hiện đại có khả năng chuyển một bộ phận phân công xã hội do thị trường tổ chức thành phân công trong nội bộ xí nghiệp để khắc phục sự mất hiệu quả thị trường do dùng kỹ thuật mới, hoặc sản xuất sản phẩm mới gây nên

Xí nghiệp công thương hiện đại đã từng bước thay thế cho xí nghiệp đơn nhất truyền thống, trở thành hình thức điển hình, thích ứng với sự phát triển kỹ thuật hiện đại và đặc điểm thị trường được quốc tế hoá ngày càng mở rộng Đến những

Trang 25

thập kỷ 50, 60, một loạt xí nghiệp hiện đại khổng lồ, đa chức năng kinh doanh đã khống chế các ngành kinh tế then chốt và trở thành lực lượng chủ yếu chi phối nền kinh tế thế giới

Cùng với sự phát triển của các xí nghiệp công thương hiện đại, chế độ xí nghiệp của Mỹ cũng đã được mở rộng sang Tây Âu và Nhật Bản Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong các xí nghiệp của Tây Âu và Nhật Bản cũng xuất hiện cao trào hợp nhất, nhưng do quy mô và cơ cấu thị trường cũng như bối cảnh chính trị, văn hoá và chế độ xã hội không giống nhau nên xí nghiệp công thương trưởng thành chậm chạp làm cho chế độ xí nghiệp chưa diễn ra sự thay đổi về bản chất Sau chiến tranh, dưới tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là sự thách thức của xí nghiệp Mỹ buộc các xí nghiệp của Tây Âu và Nhật Bản phải có những cải biến mạnh mẽ để phát triển

Về quy mô, mức độ phức tạp trong quản lý và phạm vi phân công trong nội

bộ xí nghiệp công thương hiện đại thì không có bất cứ loại xí nghiệp nào trước đây

có thể so sánh được Hiện nay, mức tiêu thụ hàng năm của một xí nghiệp công thương hiện đại đã vượt tổng giá trị thu nhập quốc dân của một số nước vừa và nhỏ Quy mô và năng lực quản lý nội bộ những xí nghiệp này khiến nhiều tổ chức chính phủ của một số nước đang phát triển khó lòng theo kịp Phạm vi phân công lao động của nó ngày càng mở rộng Rất nhiều xí nghiệp đã hình thành hệ thống phân công nội bộ xí nghiệp liên kết theo liên kết chiều dọc bao trùm cả sản xuất nguyên liệu, gia công bộ phận rời, sản xuất sản phẩm và tiêu thụ Ngoài ra, nó còn mở rộng hoạt động sang rất nhiều lĩnh vực sản xuất sản phẩm có liên quan nhau hoặc không liên quan nhau, hình thành một cơ cấu phân công nội bộ theo kiểu liên kết hỗn hợp đa nguyên Xí nghiệp công thương hiện đại còn đi vào nghiên cứu phát triển kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm mới Sự phát triển của nội bộ xí nghiệp đã cung cấp những vật liệu, đối tượng, không gian mới cho việc mở rộng và đổi mới không ngừng sự phân công nội bộ của xí nghiệp hiện đại Đồng thời, do sự phát triển của thông tin hiện đại và kỹ thuật vận tải làm cho phạm vi địa lý của sự phân công nội bộ xí nghiệp công thương hiện đại cũng nhanh chóng mở rộng Các xí nghiệp công

Trang 26

thương hiện đại có thể dựa vào đặc điểm kỹ thuật của nó để bố trí được mạng lưới

và điểm sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của nó trên một không gian địa lý tương đối lớn Nó có thể lợi dụng hiệu quả của hội tụ kinh tế, tập trung một số khâu sản xuất lại, hoặc dựa vào sự khác nhau về các điều kiện kỹ thuật như thị trường khu vực không giống nhau, vận tải và ưu thế đặc thù về sự sẵn có các yếu tố tự nhiên… để

bố trí tách rời các khâu khác nhau của sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Khi phạm vi địa

lý của sự phân công nội bộ xí nghiệp công thương hiện đại vượt quá biên giới quốc gia thì công ty xuyên quốc gia hình thành

Công ty xuyên quốc gia là một cơ cấu kinh doanh quốc tế dựa trên sự kết hợp giữa quá trình sản xuất quy mô lớn của nhiều thực thể kinh doanh quốc tế và quá trình phân phối quy mô quốc tế vào trong cơ cấu công ty nhằm chiếm lĩnh và khai thác thị trường quốc tế đạt hiệu quả tối ưu để thu lợi nhuận độc quyền cao

Công ty xuyên quốc gia được hình thành trực tiếp trên cơ sở xí nghiệp công thương hiện đại Vì sự ứng dụng kỹ thuật sản xuất hàng loạt đòi hỏi xí nghiệp phải thành lập tổ chức tiêu thụ không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài Việc thành lập

và phát triển tổ chức tiêu thụ lại đòi hỏi xí nghiệp phải lập ra các đơn vị sản xuất nước ngoài Sự phát triển kỹ thuật vận tải hiện đại khiến xí nghiệp có thể vận chuyển nguyên vật liệu, bộ phận rời và sản phẩm một cách nhanh chóng với số lượng lớn và

rẻ Sự ứng dụng kỹ thuật thông tin hiện đại cho phép công ty có thể quản lý có hiệu quả việc kinh doanh của nó ở khắp nơi trên thế giới Sự trưởng thành và hoàn thiện của chế độ quản lý theo cấp bậc của xí nghiệp công thương hiện đại khiến xí nghiệp

có thể tổ chức và điều tiết nhịp nhàng, có hiệu quả sự phân công lao động trong nội

bộ của nó trên phạm vi quốc tế Do đó, các xí nghiệp công thương hiện đại hưng thịnh lên Chúng đã bắt đầu ngay việc đầu tư ra nước ngoài để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hoặc sản xuất và tìm mua nguyên liệu Khi chế độ quản lý theo cấp bậc của

xí nghiệp công thương hiện đại chín muồi, phần lớn những xí nghiệp này đã trở thành công ty xuyên quốc gia có tác động mạnh trong nền kinh tế thế giới

Có thể nêu lên một số nhận xét về nguồn gốc và quá trình phát triển của các công ty xuyên quốc gia đi từ tích tụ và tập trung sản xuất, hình thành các công ty,

Trang 27

công ty cổ phần, các công ty kinh doanh lớn trong ngành công thương, sau này cả dịch vụ đa ngành, các công ty xuyên quốc gia hiện đại… như sau:

Một là, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất diễn ra song song với quá trình tích tụ quyền lực kinh tế Tích tụ và tập trung sản xuất tạo ra những công ty cực lớn bao gồm trong đó rất nhiều công ty Người ta cũng gọi đó là những tập đoàn, với công ty mẹ đứng đầu và các công ty con, chúng còn được gọi là các công ty nhỏ và vừa, chúng phụ thuộc về tài chính, kỹ thuật vào công ty mẹ Bên cạnh đó còn có rất nhiều công ty nhỏ và vừa độc lập hoạt động phụ thuộc hoặc độc lập với các công ty lớn Nhìn chung ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển như Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Italia, Canada, số xí nghiệp nhỏ và vừa chiếm đến 70 – 80% tổng số các xí nghiệp

Sự thâu tóm các xí nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí cả các hộ gia đình nằm trong guồng máy sản xuất, thực hiện sự kiểm soát tài chính, kỹ thuật, và nằm trong hệ thống phân công lao động theo kiểu công trường thủ công đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho tư bản sinh lợi Đồng thời về mặt tổ chức sản xuất, đây cũng là hình thức tỏ

rõ tính hiệu quả cao vì giảm được chi phí sản xuất, tận dụng được mọi khả năng, nguyên liệu, phát huy tính năng động sáng tạo… do đó làm tăng quy mô và tỷ suất lợi nhuận

Hai là, quá trình tích tụ sản xuất cũng dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc quyền Độc quyền hiện đại mang nhiều dấu ấn của thời đại cách mạng khoa học, kỹ thuật hiện đại Sự liên kết theo chiều ngang và dọc được đẩy mạnh hơn bao giờ hết dẫn đến quá trình liên kết đa ngành, trong đó lĩnh vực dịch vụ, ngân hàng được các tổ chức độc quyền quan tâm và bành trướng quyền lực Tình hình đó đã đưa đến sự hình thành của conglomerate với sự tập trung tư bản, tập trung sản xuất kinh doanh hết sức to lớn, hoạt động nghiên cứu và phát triển cũng như chuyển giao công nghệ là thế mạnh của công ty xuyên quốc gia, cùng với mạng lới thị trường rộng khắp thế giới (thông qua các công ty con và các mối quan hệ kinh tế quốc tế) đã khiến cho chúng trở thành những

“vương quốc” kinh tế khổng lồ với khả năng phát triển không ngừng

Ba là, quá trình tích tụ sản xuất trong nông nghiệp ngày càng đẩy mạnh đưa đến việc xuất hiện các hình thức công ty liên hợp nông - công nghiệp, nông -

Trang 28

thương nghiệp Ở Mỹ, những năm 80, liên hiệp nông - công nghiệp đã chiếm trên 30% sản lượng nông sản Ở Nhật Bản, các liên hiệp nông - thương nghiệp kiểm soát

80 - 95% sản lượng ngũ cốc Quá trình tích tụ sản xuất trong nông nghiệp cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã đa đến hiện tượng cấu tạo hữu cơ tăng lên và giảm ý nghĩa của địa tô tuyệt đối, tạo ra mối liên hệ ngày càng tăng giữa công - nông nghiệp, đẩy mạnh xu hớng giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu lao động cũng như trong tổng sản phẩm quốc dân (hiện nay chỉ còn khoảng 2 - 10%, thậm chí tỷ trọng đó còn thấp hơn ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao) Điều này cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã có tác động trở lại, thúc đẩy nông nghiệp phát triển Và để cho toàn bộ nền kinh tế có thể phát triển mạnh trong cạnh tranh, nền nông nghiệp cũng phải có khả năng cạnh tranh cao Nông nghiệp các nước phát triển đã được tập trung cao độ với những hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh hiện đại

Như vậy, có thể thấy rằng quá trình tích tụ tư bản và tập trung sản xuất lâu dài đã dẫn đến sự hình thành các công ty xuyên quốc gia Bởi đó chính là quá trình tạo ra cơ sở vật chất cho sự bành trướng, giúp cho các tập đoàn tư bản có khả năng thực hiện vợt ra khỏi biên giới quốc gia, thực hiện việc đầu tư vào các nước dưới nhiều hình thức, thoả mãn được mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao

b Sự phát triển của công ty xuyên quốc gia

Dưới tác động của sự bùng nổ cách mạng khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ, công ty xuyên quốc gia đã phát triển nhanh chóng Hơn nữa, đầu tư to lớn của công ty xuyên quốc gia vào nghiên cứu và phát triển đòi hỏi phải mở rộng sang những ngành nghề và khu vực lớn hơn Nhưng sự phân công lao động xã hội

và chế độ trao đổi hiện có rất khó xác định được một chế độ mới Để tổ chức hệ thống công nghệ mới và điều tiết được lợi ích trong trao đổi, phân phối những sản phẩm mới giữa những nhà sản xuất độc lập phải dùng biện pháp của xí nghiệp thay cho biện pháp của thị trường Từ đó mà buộc các xí nghiệp phải chiếm lĩnh các ngành và khu vực kinh tế mới Điều này đã dẫn tới sự trưởng thành nhanh chóng của công ty xuyên quốc gia ở các nước phát triển Cùng với sự trưởng thành của

Trang 29

các công ty xuyên quốc gia, sự cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu của chúng khốc liệt hơn Công ty xuyên quốc gia của các nước bắt đầu điều chỉnh lại hoạt động kinh doanh phân tán của nó, xây dựng hệ thống phân công quốc tế, kết hợp liên kết theo chiều dọc và ngang trong nội bộ công ty Cơ cấu tổ chức toàn cầu của công ty xuyên quốc gia tương ứng cũng ra đời Công ty xuyên quốc gia trở thành hình thức hoàn thiện điển hình của chế độ xí nghiệp thích ứng với sự phân công và trao đổi

quốc tế hiện đại

Hai thập kỷ gần đây, ở hầu hết các nước tư bản phát triển đã xuất hiện nhiều biện pháp kích thích mạnh mẽ vào quá trình tích luỹ tư bản Do khó khăn về điều kiện đầu tư, tư bản trong thập kỷ 70 và 80, do việc giảm sút tỷ suất lợi nhuận bình quân dưới tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật đã buộc nhiều công ty lớn phải thu hút các đối thủ của mình để cùng tồn tại Chính vì vậy, công ty xuyên quốc gia đã trở thành hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh quốc tế phổ biến Chúng như những dây xích neo chặt các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau lại thành từng khối trong guồng máy phân công lao động quốc tế Làn sóng hợp nhất và thôn tính lẫn nhau giữa các tập đoàn xuyên quốc gia hiện nay thực tế không vượt ra ngoài khuôn khổ công ty xuyên quốc gia Nó bị quy định bởi những điều kiện đặc thù của giá trị tư bản tự tăng lên và cuộc khủng hoảng cơ cấu kéo dài ngày càng đe dọa các ngành truyền thống, vốn là những ngành chịu sự chi phối và thống trị của các nhóm công ty khổng lồ, đã đặt chúng trước sự diệt vong tất yếu nên không kịp thời xâm nhập vào các ngành mũi nhọn có hàm lượng công nghệ cao Mặt khác, sự suy giảm hiệu lực rõ rệt trong các điều khoản của luật chống độc quyền ở một số nước này đã tạo điều kiện cho công ty xuyên quốc gia của nước khác tăng cường cắm nhánh bằng con đường hợp nhất

Ở Mỹ, từ nửa đầu của thập kỷ 80 đã diễn ra hàng loạt những vụ hợp nhất lớn với số vốn hàng tỷ USD Bắt đầu từ các công ty hoạt động trong ngành công nghiệp, sau đó lấn sang toàn bộ nền kinh tế và cuối cùng tràn ra toàn thế giới

Trong chiến lược chiếm lĩnh và khai thác thị trường quốc tế của công ty xuyên quốc gia, việc nhanh chóng mở rộng quy mô bằng cắm nhánh trở thành giải

Trang 30

pháp hữu hiệu để giải toả áp lực khủng hoảng cơ cấu và xu hướng giảm sút tỷ suất lợi nhuận của các công ty trong nước, đồng thời củng cố vị trí của mình trên thị trường quốc tế

Sự kết hợp vốn của nhiều công ty ở các quốc gia khác nhau diễn ra nhanh chóng và sâu rộng Công ty “Ford” (Mỹ) có một phần vốn của “Toyota Motor” (Nhật Bản), công ty “General Motor” (Mỹ) kết hợp vốn với công ty “Isuzu” và

“Suzuki” (Nhật Bản), các công ty của CHLB Đức, Pháp, Nhật Bản cũng bỏ vốn ra mua các xí nghiệp trong ngành hoá chất, luyện kim, ôtô… của Mỹ Đến cuối năm

1985, 10% các công ty Mỹ thuộc sở hữu tư bản nước ngoài Tỷ trọng của nó trong giá trị sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến tăng từ 5,1% (1981) lên 8,5% (1985) Cuối năm 1988, “Cục thẩm toán chung” của Quốc hội Mỹ công bố một bản nghiên cứu cho biết số công ty của Mỹ bị tư bản nước ngoài hợp nhất không ngừng tăng lên: 182 công ty với giá trị 8 tỷ USD (1984) tăng vọt lên 362 công ty với giá trị

42 tỷ USD (1987)

Tình hình từ đầu những năm 2000 đến nay cho thấy trong làn sóng hợp nhất các công ty lớn diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, các công ty xuyên quốc gia Mỹ đang

đi đầu với những cuộc mua bán, sáp nhập lớn nhất

Trong vòng 10 năm, làn sóng của các công ty xuyên quốc gia được đẩy mạnh

đã gây ấn tợng sâu sắc trong nền kinh tế thế giới Năm 2000 tổng số vụ sáp nhập trên toàn thế giới là 11.300 vụ với tổng giá trị khoảng 500 tỷ USD thì đến năm

2008, tổng số vụ sáp nhập đã lên đến 26.200 vụ với tổng giá trị tài sản 24.000 tỷ USD, tăng gần 50% so với năm 2007 Các cuộc sáp nhập được bắt đầu từ ngành ngân hàng, được phẩm sau lan rộng ra các ngành hoá chất, viễn thông, công nghiệp ôtô, công nghiệp điện tử tin học, công nghiệp dầu khí…

Đây là biểu hiện mạnh mẽ của quá trình tập trung sản xuất được nêu ở trên Song hiện nay, có nhiều nhân tố mới buộc các doanh nghiệp, các công ty xuyên quốc gia tìm kiếm những đối tác thích hợp và thay đổi thực chất các liên minh mong muốn Những nhân tố này vừa mang tính tình huống vừa mang tính lâu dài của quá trình có tính quy luật của tập trung sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhất là ở nước Mỹ

Trang 31

Thứ nhất, tìm kiếm lợi nhuận trong điều kiện lạm phát diễn ra yếu Trong những năm gần đây, các nền kinh tế công nghiệp phát triển mạnh, đặc biệt là kinh tế

Mỹ đã thoát khỏi tình trạng lạm phát ngựa phi, các doanh nghiệp không có khả năng tăng giá và một giải pháp duy nhất để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận là làm sao giảm được giá và chiếm lĩnh được thêm thị phần càng rộng càng tốt

Thứ hai, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán trở thành một điểm tựa quan trọng của các doanh nghiệp và giúp chúng có khả năng dùng các cổ phần của mình để thanh toán cho các vụ mua lại đạt quy mô lớn

Thứ ba, môi trường pháp quy liên quan đến một yếu tố đặc biệt xuất phát từ luật chống Trust Nhờ luật này, nhiều lĩnh vực mới đã mở cửa cho cạnh tranh và việc tập hợp lại các tập đoàn cũng được khuyến khích trong một số trường hợp

Thứ tư, do điều kiện môi trường cạnh tranh kinh doanh cực kỳ khốc liệt, không một ai có thể lường trước được điều gì sẽ xảy ra nên một nhu cầu bức bách nảy sinh là phải thực hiện được những thay đổi chiến lợc, chính sách, càng nhanh càng tốt, thậm chí ngay cả khi điều này có nghĩa là lao vào một cuộc chiến tranh thù địch

Thứ năm, để thích ứng được với quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra với cường độ cao cha từng thấy, các doanh nghiệp cần phải có tầm vóc đủ sức cạnh tranh toàn cầu và phơng sách phù hợp là mua thêm hoặc mua lại bằng con đường nào đó

1.2.1.3 Đặc trưng của công ty xuyên quốc gia

Trước hết, các công ty xuyên quốc gia về mặt xuất xứ là công ty tư bản độc quyền, là sản phẩm của thời đại tư bản tài chính, cũng có nghĩa chúng chính là sản phẩm của sự liên minh giữa những nhà tư bản có thế lực nhất Đặc trưng này phân biệt các công ty xuyên quốc gia trong thời đại tư bản tài chính (tức là các công ty xuyên quốc gia hiện đại) với các công ty hoạt động quốc tế ra đời từ thời kỳ tư bản

tự do cạnh tranh và ngay cả thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản Trong thời đại ngày nay, khi quốc tế hoá sản xuất được đẩy mạnh, việc các công ty của những quốc gia đang phát triển (nhất là những công ty của nhóm các nước công nghiệp mới) mở rộng thị trường cạnh tranh quốc tế và với sự giúp đỡ của nhà nước

Trang 32

dân tộc thì chúng có thể vươn ra hoạt động trên phạm vi quốc tế, thậm chí thiết lập những chi nhánh ở ngay tại các nước tư bản phát triển là điều hoàn toàn có khả năng hiện thực và đã diễn ra Chẳng hạn như trường hợp Samsung, Hyundai (Hàn Quốc), Formosa (Đài Loan), Sime Darby (Malaysia) Những công ty này tuy không thuộc

sở hữu của các tập đoàn tư bản ở các nước tư bản phát triển nhưng chúng vẫn là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản độc quyền và mang dấu ấn của quá trình phát triển cuả chủ nghĩa tư bản và quốc tế hoá đời sống kinh tế

Hai là, nhìn chung các công ty xuyên quốc gia là những công ty có tầm cỡ quốc tế, có chi nhánh hoặc hệ thống chi nhánh ở nước ngoài với mục đích nâng cao

tỷ suất lợi nhuận thông qua việc bành trướng quốc tế Chúng thực hiện việc phân công lao động và phân chia thị trường thế giới (giữa các công ty tư bản nói riêng và các cường quốc công nghiệp nói chung) Đây là một đặc trưng quan trọng thứ hai Nhìn chung chỉ có các công ty lớn mới có thể đứng vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế gay gắt, còn các công ty nhỏ dù có hoạt động được thì nói chung trước sau rồi cũng bị phụ thuộc vào các công ty lớn dưới hình thức này hay hình thức khác Song trong điều kiện hiện nay vẫn có những công ty nhỏ, nhưng do biết cách làm

ăn, có thể lọt vào những “khe hở” của thị trường thế giới Đây là trường hợp đặc thù của một số công ty của các quốc gia và lãnh thổ công nghiệp mới Châu Á Đặc trư-

ng thứ hai này là đặc trưng phân biệt với các công ty độc quyền quốc gia, mà nét nổi bật nhất là việc cắm nhánh ở nước ngoài, có ít nhất một chi nhánh, thiết lập cơ

sở thực hiện việc sản xuất tại nước đó (đặc trưng này không có ở các công ty độc quyền quốc gia)

Ba là, công ty xuyên quốc gia trước hết nó phải hình thành từ công ty quốc gia, mang quốc tịch của một nước và tư bản sở hữu của công ty mẹ thuộc về các nhà

tư bản nước đó Tư bản đó được xuất khẩu ra nước ngoài để đầu tư thiết lập và mở rộng các cơ sở sản xuất gọi là chi nhánh Số tư bản đầu tư vào chi nhánh có thể hoàn toàn là của tập đoàn tư bản nước mẹ, nhưng cũng có thể thuộc sở hữu chung giữa các nhà tư bản nước mẹ và các nhà tư bản bản xứ trong trường hợp các công ty chi nhánh được thành lập mang hình thức công ty phối hợp (hoặc công ty hỗn hợp)

Trang 33

Dạng công ty hỗn hợp (dưới hình thức góp cổ phần) đang là hình thức được ưa chuộng đối với nhiều nước đang phát triển, đồng thời cũng là hình thức mà các công ty xuyên quốc gia ưa thích Dù những hình thức chi nhánh ở nước ngoài như thế nào chăng nữa, sở hữu tư bản ở chi nhánh dù có tồn tại dới hình thức này hay hình thức khác thì các chi nhánh đó thực chất cũng là những bộ phận của một tổ hợp, quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, sản xuất kinh doanh vẫn thuộc về những nhà tư bản nước mẹ

Bốn là, một công ty xuyên quốc gia thường có cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản Đó là công ty mẹ và một hoặc nhiều công ty chi nhánh ở nước ngoài

- Công ty mẹ (Parent Company) hay còn gọi là công ty gốc hoặc công ty chủ đạo Thuật ngữ công ty gốc để chỉ nguồn gốc của công ty xuyên quốc gia Công ty này thường có trụ sở đặt ở nước mà công ty đó mang quốc tịch Nước đó gọi là n-ước mẹ hay chính quốc Cũng có trường hợp công ty xuyên quốc gia có hai trung tâm chỉ đạo, song trung tâm chính tập trung mọi quyền lực vẫn là công ty gốc

- Công ty chi nhánh (Subsidiary, Branch…) có thể quan niệm danh từ công

ty chi nhánh bao gồm toàn bộ các hãng, xí nghiệp, công ty ở ngoài nước, không phân biệt thứ bậc phụ thuộc đối với công ty gốc Nước có chi nhánh đóng tại đó gọi

là nước chủ nhà Về lý luận cũng như thực tế đều chứng tỏ rằng với chế độ tham dự thì không chỉ có công ty chi nhánh cấp I mà còn có các công ty chi nhánh cấp II, cấp III… Trong đó mối quan hệ giữa các công ty chi nhánh cấp I, II, III… với công

ty mẹ không giống nhau Do đó có tác giả đã dùng danh từ công ty “con”, “cháu” để chỉ chúng Song cũng có thể dùng thuật ngữ cấp II, III, IV… để chỉ các công ty chi nhánh theo mức độ phụ thuộc vào công ty mẹ và có thể coi các công ty chi nhánh cấp III, IV… như là các công ty mạng lới

Giữa công ty mẹ với công ty chi nhánh có mối quan hệ phụ thuộc, trong đó công ty mẹ đóng vai trò lãnh đạo, các công ty chi nhánh là những đơn vị hạch toán độc lập nhưng phụ thuộc chủ yếu về tài chính, kỹ thuật vào công ty mẹ và tất cả hợp thành một hệ thống Hệ thống này là một chỉnh thể nhưng luôn chứa đựng mâu thuẫn Trong phạm vi hoạt động của chúng có cả những lực hướng tâm và lực ly

Trang 34

tâm Các lực hướng tâm gắn hệ thống các công ty thành một tổ hợp kinh tế quốc tế thống nhất qua nhiều mối dây liên hệ, móc nối và phụ thuộc nhau ở mức độ nhất định Còn các lực ly tâm đẩy các công ty yếu về mặt kinh tế kinh doanh ra ngoài, làm suy yếu cơ sở và phá vỡ cơ chế hoạt động của công ty

Về mặt quản lý, người ta thấy rằng nét nổi bật là việc kiểm soát của công ty gốc đối với các công ty chi nhánh theo lối riêng, bằng cách sử dụng các đòn bẩy kinh tế, thực hiện việc tập trung hoá có mức độ và kiểm soát chủ yếu theo hệ thống dọc từ trung tâm đến ngoại vi Theo cách quản lý đó vai trò định hướng chiến lợc về kinh tế, kỹ thuật, cung cấp tài chính, tín dụng của công ty mẹ rất quan trọng, còn các công ty chi nhánh là những đơn vị kinh doanh mang tính độc lập tương đối và trở thành những đơn vị hạch toán độc lập Do đó buộc chúng phải năng động và có điều kiện để phát huy tính năng động

1.2.2 Khái quát về hoạt động R&D của các công ty xuyên quốc gia

1.2.2.1 Khái niệm về R&D của các TNCs

R&D là từ viết tắt của research & development - nghiên cứu và phát triển; một trong những chìa khóa thành công của nhiều tập đoàn, công ty lớn trên thế giới Nghiên cứu và phát triển bao gồm việc đầu tư, tiến hành và/hoặc mua bán các nghiên cứu, công nghệ mới phục vụ cho quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Công tác nghiên cứu và phát triển cũng nhằm khám phá những tri thức mới

về các sản phẩm, quá trình, và dịch vụ, sau đó áp dụng những tri thức đó để tạo ra sản phẩm, quá trình và dịch vụ mới, có tính cải tiến để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc của thị trường tốt hơn

Theo UNESCO, thuật ngữ “nghiên cứu và phát triển” được dùng để chỉ hoạt động sáng tạo được thực hiện trên một cơ sở có tính hệ thống nhằm tạo ra những kiến thức mới về con người, văn hóa và xã hội,và việc sử dụng những kiến thức mới

đó để tạo ra những ứng dụng mới Hoạt động R&D trong các ngành công nghiệp được doanh nghiệp thựchiện nhằm mục đích chống đỡ, hỗ trợ và mở rộng hoạt động kinh doanh hiện tại, phát triển hoạt động kinh doanh mới, mở rộng hoặc phát triển theo chiều sâu năng lực công nghệ của doanh nghiệp R&D là quá trình chuyển đổi

Trang 35

các yếu tố đầu vào R&D thành các yếu tốđầu ra R&D Đầu vào R&D là kiến thức,

sự tinh thông và sáng tạo của các nhà nghiên cứu, lao động R&D, chi phí đầu tư cho nhà xưởng, thiết bị,nguyên nhiên vật liệu và dịch vụ mua ngoài Đầu ra của R&D là

sự phát triển của vốn kiến thức, công nghệ mới, các phát minh, sáng chế, khả năng nhận thức, lĩnh hội và áp dụng kiến thức mới, sự cải thiện về kết quả kinh doanhcủa doanh nghiệp khi áp dụng các kiến thức, công nghệ mới hay khai thác các sáng chế Hiệu quả của quá trình biến đổi là sự so sánh giữa giá trị đầu ra với giátrị đầu vào của nó Với các đầu ra và đầu vào được xác định như trên, trong đó có nhiều yếu tố không thể hoặc khó định lượng, cho thấy tính phức tạp của việc đánh giá hiệu quả của R&D Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định R&D Hiệu quả = Tổng giá trị đầu ra/Tổng giá trị đầu vào

Bảng 1.1: Top 20 công ty đầu tư R&D năm 2015

Trang 36

Computing and

19 Glaxo Smith

Nguồn: Strategy&

Đầu từ vào R&D luôn đi đầu trong chiến lƣợc của các công ty TNCs, trong năm

2015 Volkswagen và Samsung là hai công ty dẫn đầu thế giới về đầu tƣ cho R&D

R&D và cải tiến công nghệ, quy trình công nghệ luôn là mục tiêu và chức năng quan trọng của các công ty tiên tiến, công ty đa quốc gia (TNCs) tiên phong, lớn trên thế giới Nghiên cứu & phát triển có nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển sản phẩm; Cải tiến nội địa hóa công nghệ sản xuất; Nghiên cứu và thay thế dần các vật liệu và công nghệ phù hợp nhằm nâng cao hàm lƣợng công nghệ trên các sản phẩm; Nghiên cứu nội địa hóa một số vật tƣ nhằm tăng giá trị gia tăng và chủ động trong sản xuất với chi phí hợp lý để đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng

Trang 37

R&D của các TNC là một dự án chứ không đơn thuần là bộ phận hay một phòng ban thường thấy ở các công ty khác R&D là nơi nghiên cứu, thử nghiệm, chế tạo thử sản phẩm trước khi đưa vào thị trường toàn cầu; nó có thể được xem như bộ não của các TNC

1.2.2.2 Các chức năng của R&D

Nghiên cứu và phát triển là cụm từ rất thường được dùng trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất Nếu như trước đây, hoạt động nghiên cứu và phát triển vẫn còn rất xa lạ với các doanh nghiệp thì hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ đã chú trọng hoạt động này

và làm nó trở nên cần thiết hơn bao giờ Hầu hết các doanh nghiệp lớn đều có một

bộ phận (hoặc phòng) R&D Bộ phận này có nhiệm vụ chính là nghiên cứu để phát triển sản phẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và thực hiện chiến lược phát triển của doanh nghiệp

Trên thế giới, chức năng nghiên cứu và phát triển không chỉ giới hạn ở việc cho ra đời sản phẩm mới Một bộ phận R&D chuyên nghiệp trong một tập đoàn xuyên quốc gia thường “bao sân” đồng thời nhiều chức năng dưới đây:

Nghiên cứu - phát triển sản phẩm (Product R&D)

Đây là chức năng nghiên cứu và phát triển thuần túy về mặt sản phẩm nhằm cho ra đời những sản phẩm có thiết kế, chất liệu, đặc tính, công dụng mới Chẳng hạn, sản phẩm nước mắm làm từ cá hồi, bột nêm làm từ rong biển, trà thảo mộc đóng chai, cửa nhựa uPVC… Hoạt động nghiên cứu và phát triển này thường chú trọng nhiều đến công thức sản phẩm, thành phần cấu tạo, màu sắc, hương vị, chất liệu, kiểu dáng sản phẩm… Ngoài ra, nghiên cứu và phát triển sản phẩm còn bao gồm cả việc nghiên cứu, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có

Đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ, chức năng này tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các dịch vụ mới với nội dung mới, đem lại lợi ích mới Chẳng hạn như các tour du lịch đến những địa điểm mới, dịch vụ chăm sóc sắc đẹp

sử dụng chất liệu chiết xuất từ thiên nhiên, dịch vụ tắm bùn trong khu resort…

Nghiên cứu - phát triển bao bì (Packaging R&D)

Trang 38

Ngoài việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, đối với một số doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các loại hàng tiêu dùng nhanh (FMCG), bộ phận R&D còn có chức năng nghiên cứu, phát triển các loại chất liệu bao bì mới (khác với thiết kế kiểu dáng, màu sắc, trang trí, in ấn bao bì - thường do

bộ phận marketing đảm nhiệm)

Chẳng hạn một công ty trong ngành nước giải khát tung ra các sản phẩm trà xanh đóng chai, được chiết rót ở nhiệt độ cao, buộc phải có một loại chai nhựa làm bằng chất liệu chịu nhiệt mà không bị biến dạng, không độc hại Bộ phận R&D của công ty phải nghiên cứu để chọn một loại chất liệu phù hợp với chi phí hợp lý nhất cho sản phẩm mới này Còn phần kiểu dáng sản phẩm, nhãn mác, việc trang trí gian hàng trưng bày đẹp, bắt mắt là do bộ phận tiếp thị đảm nhiệm Đôi khi, việc nghiên cứu, phát triển bao bì còn nghiên cứu luôn cả các kiểu dáng đặc biệt của bao bì (ví dụ hộp sữa bằng giấy có hình bánh ú, hình chóp…), cũng như cách thức đóng gói bao bì tối ưu

Việc nghiên cứu và phát triển bao bì đóng góp rất lớn vào thành công trong việc tiêu thụ sản phẩm Nhiều khi, chỉ cần thay đổi chất liệu bao bì, trong khi vẫn giữ nguyên thành phần, chất lượng, số lượng sản phẩm bên trong, mức tiêu thụ sản phẩm đã có thể tăng lên nhiều lần Bao bì cho các sản phẩm mì ăn liền là một ví dụ Khi chuyển từ bao bì giấy sang bao bì nhựa, các sản phẩm mì gói của doanh nghiệp Việt Nam, vốn được định vị là bình dân, đã có thể cạnh tranh ngang ngửa với các sản phẩm của nước ngoài, mặc dù chất lượng bên trong chưa thay đổi nhiều

Nghiên cứu - phát triển công nghệ (Technology R&D)

Việc nghiên cứu, tìm kiếm công nghệ sản xuất, chế biến tối ưu để cho ra đời sản phẩm (cả cũ lẫn mới) với chất lượng và giá thành tối ưu cũng là một trong những chức năng quan trọng của bộ phận nghiên cứu và phát triển Ví dụ, công nghệ lên men tự nhiên khác với công nghệ thủy phân bằng a-xít trong sản xuất nước tương, công nghệ sản xuất bia tươi khác với bia “luộc”, công nghệ pha chế hương liệu trong ngành thức uống…

Nghiên cứu - phát triển công nghệ bao gồm cả hoạt động “tình báo công nghệ”, nghiên cứu bí quyết công nghệ của đối thủ để bắt chước hoặc phát triển công nghệ mới cho mình

Trang 39

Nghiên cứu - phát triển quy trình (Process R&D)

Bản chất của chức năng này là nghiên cứu, tìm kiếm các quá trình sản xuất, chế biến, lắp ráp, vận hành, phối hợp… tối ưu, được thể hiện bằng các quy trình cụ thể mang tính ứng dụng cao, đem lại hiệu suất và hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp Điển hình cho hoạt động này là việc nghiên cứu để cải tiến, phát triển các quy trình sản xuất (đối với sản phẩm), quy trình phục vụ (đối với dịch vụ), quy trình vận hành (đối với máy móc)… Hoạt động này có thể được xem là hoạt động nghiên cứu - phát triển “phần mềm” của sản phẩm, khác với “phần cứng” là chất liệu, công thức, bao bì sản phẩm, công nghệ sản xuất, chế biến…

Công tác nghiên cứu, phát triển “phần mềm” này thường bị xem nhẹ hoặc bỏ qua, trong khi hiệu quả mang lại có khi còn cao hơn cả “phần cứng” Đặc biệt, đối với các loại hình dịch vụ, việc nghiên cứu, phát triển các quy trình phục vụ mang ý nghĩa hết sức quan trọng, nếu không muốn nói là có tính quyết định trong sự thành công hay thất bại của loại hình dịch vụ đó

Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, bộ phận R&D không thể không chú trọng đến một quy trình thật khoa học, thật hợp lý cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, thường được đặt cho một tên gọi rất rõ ràng là “quy trình nghiên cứu - phát triển” Quy trình này quy định trình tự các bước thực hiện trong hoạt động nghiên cứu - phát triển, mô tả sự phối hợp giữa bộ phận R&D với các bộ phận khác trong doanh nghiệp như marketing, sản xuất, kiểm soát chất lượng, tài chính…; từ việc tiếp nhận yêu cầu, nghiên cứu, phân tích, sản xuất thử, đến sản xuất hàng loạt

Như vậy, hoạt động nghiên cứu và phát triển cần được hiểu rộng ra, không giới hạn trong khuôn khổ thuần túy và cứng nhắc của sản phẩm hoặc dịch vụ Với cách hiểu này, chức năng của một phòng R&D sẽ được mở rộng, tạo điều kiện cho việc mở rộng phạm vi nghiên cứu, phát triển để nhờ đó doanh nghiệp tận dụng được nguồn lực và tiết kiệm chi phí

1.2.3 Vai trò của hoạt động R&D đối với doanh nghiệp

1.2.3.1 Vai trò của hoạt động R&D

Hoạt động R&D có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Vai trò của hoạt động R&D trong doanh nghiệp được thể hiện

Trang 40

dưới nhiều khía cạnh: tăng khả năng đổi mới của doanh nghiệp, tăng cường năng lực công nghệ cho doanh nghiệp, tăng vị thế và giá trị của doanh nghiệp, tăng cường hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp phát triển nhanh Hoạt động R&D trong doanh nghiệp còn đặc biệt hữu dụng đối với những doanh nghiệp muốn có năng lực lõi và công nghệ lõi Ngoài ra, việc thực hiện hoạt động R&D cho dù bằng cách nào còn giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, vị thế, lan tỏa và thu hút nhân lực chất lượng cao, thậm chí tạo ngành công nghiệp mới và nhiều tác động vô hình khác

Thứ nhất, Tăng khả năng đổi mới của doanh nghiệp

Mô hình đổi mới tuyến tính

Trong cách tiếp cận này, nghiên cứu, sản xuất và marketing một sản phẩm mới được giả định theo một trình tự thời gian được xác định rõ theo các giai đoạn riêng biệt Quá trình đổi mới bắt đầu từ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, đến giai đoạn triển khai tạo vật mẫu, sau đó đến sản xuất và có thể phổ biến Tuy nhiên, mô hình này

có hạn chế: không có thông tin phản hồi; đổi mới tuyến tính từ khoa học

Mô hình đổi mới theo liên kết chuỗi

Hoạt động đổi mới bao gồm một loạt các khâu và R&D chỉ là một trong các hoạt động này và có thể được thực hiện ở các giai đoạn khác nhau của quá trình đổi mới R&D có thể có tác dụng không chỉ với tư cách là cội nguồn của các ý tưởng sáng tạo mà còn là phương tiện giải quyết vấn đề mà có thể cần đến ở bất cứ thời điểm nào

Mô hình đổi mới mở

Sự quan tâm về tầm quan trọng của nguồn tri thức bên ngoài đối với các doanh nghiệp để thiết lập đổi mới ngày càng được nhấn mạnh Mô hình “mở” nhấn mạnh rằng có rất nhiều cách cho những ý tưởng để chảy vào quá trình, và nhiều cách để nó chảy ra ngoài thị trường

Mô hình “đổi mới động”

Mô hình đổi mới mở tiếp cận hoạt động R&D giống như trong mô hình tuyến tính Vả lại mô hình này chưa làm rõ được sự phát triển tri thức do kết hợp

Ngày đăng: 17/09/2020, 23:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w