7 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại Theo Luật Các tổ chức tín dụng do Quốc hội Nước Cộng hòa Xã
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt i
Danh mục bảng, biểu .ii
Danh mục sơ đồ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 7
1.2 Dịch vụ phi tín dụng và phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại 7
1.2.1 Dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại 7
1.2.2 Phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại 19
1.2.2.1 Vai trò phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại 19
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại 22
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại 27
1.3 Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển dịch vụ phi tín dụng và bài học cho Việt Nam 33
1.3.1 Kinh nghiệm từ một số ngân hàng nước ngoài 33
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Ngân hàng Union – Philippines 33
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng Citibank 34
1.3.1.3 Kinh nghiệm của Ngân hàng DBS Group Holdings 35
1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với các Ngân hang thương mại Việt Nam 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH LÁNG HẠ 37
2.1 Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ 37
Trang 42.1.1 Giới thiệu về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam – Chi nhánh Láng Hạ 37
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ 38
2.1.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Agribank – Chi nhánh Láng Hạ40 2.2 Thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Agribank – Chi nhánh Láng Hạ 45
2.2.1 Dịch vụ thanh toán. 45
2.2.2 Dịch vụ bảo lãnh 59
2.2.3 Dịch vụ ngân quỹ 61
2.2.4 Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ 61
2.2.5 Nhóm dịch vụ ngân hàng hiện đại 63
2.3 Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ 66
2.3.1 Những kết quả đạt được 66
2.3.2 Những hạn chế 74
2.3.3 Nguyên nhân 77
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG 82
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH LÁNG HẠ 82
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 82
3.1.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 82
3.1.2 Định hướng phát triển của Agribank – Chi nhánh Láng Hạ 82
3.2 Giải pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt nam – Chi nhánh Láng Hạ 84
3.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò phát triển dịch vụ phi tín dụng 84
3.2.2 Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ phi tín dụng mang tầm dài hạn và phù hợp với điều kiện thực tế tại Agribank – Chi nhánh Láng Hạ 85
Trang 53.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 86
3.2.4 Tăng cường đầu tư hiện đại hoá công nghệ 89
3.2.5 Đẩy mạnh công tác marketing, tăng cường tiếp thị khách hàng 90
3.2.6 Khai thác hiệu quả mối quan hệ tương hỗ, gắn kết chặt chẽ giữa dịch
3.3.1 Đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam 96
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thông Việt Nam. 97
KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 6i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
2 BIDV Ngân hàng Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
3 DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
4 NHNN Ngân hàng Nhà nước
5 NHTM Ngân hàng thương mại
6 TCTD Tổ chức tín dụng
8 Vietcombank Ngân hàng Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
9 Vietinbank Ngân hàng Cổ phần Công thương Việt Nam
Trang 7ii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
1 Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh doanh chính của Agribank – Chi nhánh Láng Hạ 41
2 Bảng 2.2 Kết quả huy động vốn của Agribank - Chi nhánh Láng
3 Bảng 2.3 Kết quả hoạt động tín dụng của Agribank - Chi nhánh Láng Hạ 44
4 Bảng 2.4 Kết quả dịch vụ thanh toán trong nước 47
5 Bảng 2.5 Kết quả dịch vụ thanh toán quốc tế theo phương thức chuyển tiền 52
6 Bảng 2.6 Kết quả dịch vụ thanh toán quốc tế theo phương thức L/C 54
7 Bảng 2.7 Kết quả hoạt động dịch vụ kiều hối và Western Union 57
8 Bảng 2.8 Kết quả thực hiện dịch vụ thẻ ngân hàng 59
9 Bảng 2.9 Kết quả hoạt động của dịch vụ bảo lãnh 60
10 Bảng 2.10 Kết qủa hoạt đông của dịch vụ kinh doanh ngoại tệ 62
11 Bảng 2.11 Kết quả thu dịch vụ phi tín dụng 66
12 Bảng 2.12 Doanh thu từ các dịch vụ của Agribank – Chi nhánh
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Tự do hóa” và “toàn cầu hóa” đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới và Việt Nam cũng là quốc gia không đứng ngoài xu thế đó “Tự
do hóa” và “toàn cầu hóa” mang lại cho nền kinh tế Việt Nam nhiều biến chuyển quan trọng Song song với quá trình đổi mới nền kinh tế, hoạt động ngân hàng Việt Nam cũng ngày càng phát triển và hội nhập Sức ép lớn nhất của hội nhập và mở cửa nền kinh tế tác động đến ngành ngân hàng là cạnh tranh Cạnh tranh buộc các ngân hàng phải không ngừng phát triển và đổi mới theo hướng hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ có sẵn, tiếp cận và ứng dụng các sản phẩm dịch vụ mới để tăng trưởng và phát triển hoạt động kinh doanh của mình Bên cạnh đó, trong những năm gần đây kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng kinh tế chậm lại, thất nghiệp tăng cao, sức mua hạn chế, nợ công nhiều hơn Trong khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới nên cũng không tránh khỏi những tác động và ảnh hưởng của
nó Hàng loạt doanh nghiệp phá sản, thị trường bất động sản đóng băng, lạm phát tăng cao và đặc biệt là lượng hàng tồn kho của các doanh nghiệp tăng cao, …đã tác động mạnh và trực tiếp tới hoạt động của các ngân hàng thương mại
Hiện nay các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn kinh doanh theo cách thức cổ điển, doanh thu chủ yếu từ hoạt động tín dụng, thu dịch vụ chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ Với điều kiện thị trường ngày càng phức tạp, hoạt động tín dụng có quá nhiều rủi ro nên nếu chỉ dựa vào nguồn thu từ tín dụng sẽ rất bấp bênh Chính vì vậy phát triển dịch vụ phi tín dụng là cách thức có hiệu quả nhất để thay đổi cơ cấu doanh thu cũng là cách để giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam phát triển theo hướng ngân hàng hiện đại
Trang 10tư - kinh doanh thông qua các công cụ tài chính phái sinh,…
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ là một chi nhánh nằm trên địa bàn Hà Nội, trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), là ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng, đây là điều kiện thuận lợi cho ngân hàng phát triển các dịch vụ phi tín dụng Thời gian qua, Agribank - Chi nhánh Láng Hạ
đã nhận thức được vai trò của dịch vụ phi tín dụng mang lại như: Tạo nguồn thu ổn định, an toàn; góp phần đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng,
từ đó thu hút và mở rộng đến nhiều đối tượng khách hàng; góp phần nâng cao
vị thế của ngân hàng Chính vì vậy Agribank nói chung và Agribank – Chi nhánh Láng Hạ nói riêng nhận thấy sự cần thiết phải phát triển dịch vụ phi tín dụng nhanh hơn nữa bằng chất lượng cũng như sự đa dạng về dịch vụ trước
sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại khác và đặc biệt là trước khi các ngân hàng lớn của nước ngoài với công nghệ và dịch vụ hiện đại thâm nhập sâu vào thị trường Việt Nam
Xuất phát từ những lý do trên, là cán bộ của Agribank – Chi nhánh Láng
Hạ qua thực tiễn công tác, nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển
Trang 113
dịch vụ phi tín dụng tới sự phát triển của ngân hàng Tôi đã chọn đề tài “Phát
triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Láng Hạ” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc
Giáo trình ngân hàng thương mại của Phan Thị Thu Hà, Nxb Thống kê, Hà Nội hay cuốn Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại của Nguyễn Minh Kiều, Nxb Thống kê, Hà nội Các tác giả đã đưa ra những khái niệm cơ bản về hoạt động của NHTM, đã làm rõ bản chất, đặc điểm, các loại hình dịch vụ của NHTM Các giáo trình đã giúp hình thành một khung lý thuyết về vấn đề mà luận văn đang quan tâm Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là những kiến thức mang tính lý thuyết chưa phản ánh được thực tế cũng như chưa đi vào vấn đề cụ thể mà luận văn cần giải quyết
Theo tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước, cho vay vẫn là mảng hoạt động chính tại các ngân hàng Việt Nam, trong khi xu hướng của các ngân hàng trên thế giới hiện nay là lợi nhuận dựa chủ yếu vào các hoạt động dịch vụ Một hai năm trở lại đây, không ít ngân hàng trong nước đã mạnh mẽ cải cách, nâng cấp và mở rộng hợp tác về dịch vụ như thu hộ tiền mặt, thanh toán, cho vay hợp vốn, tài trợ vốn cho các dự án, tài trợ vốn tiêu dùng, phát hành thẻ, lắp đặt máy ATM… nhưng lợi nhuận thu được mới dừng ở mức khiêm tốn
Trang 124
Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược Ngân hàng cho thấy, so với các nước trong khu vực và trên thế giới, mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng của Việt Nam còn thấp: Tính đến năm 2010, hệ thống các TCTD mới đạt tỷ lệ 3,72 TCTD/100.000 dân Đã vậy, mức độ phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm là hai “đầu tàu” Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh đây là những khó khăn khiến cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân ở các vùng sâu vùng xa khó tiếp cận được thị trường tài chính ngân hàng
Bên cạnh đó đã có một số công trình nghiên cứu về phát triển dịch vụ phi tín dụng; phát triển dịch vụ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam như: Luận văn thạc sĩ “Phát triển dịch vụ ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”, tác giả Đoàn Thị Thu Sương; Luận văn thạc sĩ “Giải pháp tăng nguồn thu từ dịch vụ phi tín dụng ở các ngân hàng thương mại Việt Nam”, tác giả Nguyễn Hồ Ngọc mà tác giả được biết Nhưng các nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu về phát triển dịch vụ ngân hàng nói chung áp dụng cho tất cả các NHTM Việt Nam hoặc áp dụng cho một số Chi nhánh không thuộc hệ thống Agribank Nhưng lại chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Agribank – Chi nhánh Láng Hạ để thấy được những thế mạnh cũng như những hạn chế trong việc phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Chi nhánh
Do đó rất cần phải có công trình nghiên cứu sâu nghiên cứu về phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Chi nhánh Láng Hạ, nên việc phiên cứu đề tài “Phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Agribank – Chi nhánh Láng Hạ” là cần thiết và
có ý nghĩa thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu dịch vụ phi tín dụng tại Agribank – Chi nhánh Láng Hạ, nhằm phát triển hơn nữa các dịch vụ phi tín
Trang 135
dụng tại Chi nhánh cũng như góp phần vào sự phát triển an toàn và bền vững của Chi nhánh trong bối cảnh hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý thuyết về dịch vụ phi tín dụng và phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Agribank - Chi nhánh Láng Hạ
- Đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Agribank - Chi nhánh Láng Hạ trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ phi tín dụng tại Agribank – Chi nhánh Láng Hạ
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính
và định lượng, thu thập cả nguồn thông tin sơ cấp và thông tin thứ cấp
Tác giả đã tổng hợp thông tin từ các báo cáo thống kê trong ngân hàng, đặc biệt là các bảng tổng kết hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán của ngân hàng qua các năm để tổng hợp, so sánh, thống kê, phân tích, để có được những kết quả mong muốn phục vụ cho việc đánh giá thực trạng từ đó tìm ra nguyên nhân nhằm đưa ra giải pháp để phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng
Trang 146
Các nguồn dữ liệu cần thu thập:
- Nguồn thông tin thứ cấp: Bảng cân đối kế toán, Kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank - Chi nhánh Láng hạ từ năm 2010 – 2013; Kết quả hoạt động kinh của một số Chi nhánh khác trên cùng địa bàn
- Nguồn thông tin sơ cấp: Phỏng vấn Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng phòng tại Agribank – Chi nhánh Láng hạ
Các nguồn dữ liệu sẽ được trích dẫn trực tiếp trong luận văn và được ghi chú chi tiết trong phần tài liệu tham khảo
6 Những đóng góp của luận văn
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trước đây, đề tài tiếp tục nghiên cứu thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Agribank
- Chi nhánh Láng Hạ với những đóng góp chủ yếu sau
- Phân tích, đánh giá thực trạng của các dịch vụ phi tín dụng tại Agribank - Chi nhánh Láng hạ giai đoạn 2010 - 2013, từ đó rút ra những kết quả đạt được
và những hạn chế còn tồn tại cũng như nguyên nhân của những hạn chế đó
- Trên cơ sở định hướng phát triển của Agribank, định hướng phát triển của Agribank – Chi nhánh Láng hạ, tác giả đã đề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Agribank – Chi nhánh Láng hạ
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn được bố cục thành 3 Chương với các nội dung như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Láng Hạ
Trang 157
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
Theo Luật Các tổ chức tín dụng do Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngay 16 tháng 6 năm 2010, tại Điều 4 có nêu:
- Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
- Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
- Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận
Hoạt động của Ngân hàng thương mại đã được mô tả chi tiết từ Điều 98 đến Điều 107 tại Mục 2, Chương IV của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
1.2 Dịch vụ phi tín dụng và phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Khái niệm
Hiện nay dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ phi tín dụng của
ngân hàng thương mại nói riêng chưa được định nghĩa một cách rõ ràng và
cụ thể trong các tự điển về kinh tế - tài chính
Trong luận văn này, dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại là
Trang 168
tất cả các dịch vụ mà ngân hàng thương mại cung ứng cho khách hàng để thu phí, hoa hồng, chênh lệch giá hoặc chỉ nhằm nâng cao uy tín của ngân hàng như dịch vụ thanh toán và dịch vụ khác theo yêu cầu, uỷ nhiệm của khách hàng; không bao gồm hoạt động cho vay và huy động vốn
* Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ thanh toán là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán
Một trong các vai trò lớn nhất của các ngân hàng thương mại là cung cấp các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho nền kinh tế Với các dịch
vụ thanh toán qua ngân hàng thương mại khách hàng không cần phải mang theo một lượng lớn tiền, cũng như không cần phải đến tận nơi để thanh toán cho đối tác Việc thanh toán qua hệ thống ngân hàng đã cho phép khách hàng thanh toán một cách an toàn, nhanh chóng với chi phí hợp lý Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá trong nền kinh
tế, tiết kiệm chi phí lưu thông, đồng thời tạo điều kiện hỗ trợ cho các sản phẩm dịch vụ tiền gửi và tín dụng của ngân hàng thương mại Các ngân hàng
Trang 179
thương mại thực hiện cung cấp sản phẩm dịch vụ thanh toán trên cơ sở nắm giữ các tài khoản thanh toán của các tổ chức, cá nhân và có mối liên hệ thanh toán liên ngân hàng với nhau qua các kênh thanh toán được thiết lập riêng cho hoạt động ngân hàng
- Thanh toán và chuyển tiền trong nước
Thanh toán và chuyển tiền trong nước là sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng thương mại thực hiện theo lệnh của khách hàng, chuyển tiền cho một người thụ hưởng nhất định, hay ngân hàng thương mại trích một khoản tiền từ tài khoản theo lệnh của khách hàng, để ghi có cho tài khoản của người khác
và ngân hàng thương mại thu được một khoản phí nhất định
Để thực hiện yêu cầu thanh toán và chuyển tiền của khách hàng, ngân hàng thương mại sử dụng các phương thức thanh toán giữa các ngân hàng như thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng; thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước; thanh toán thu hộ, chi hộ giữa các ngân hàng; thanh toán điện tử liên ngân hàng; thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng thương mại khác; với các công cụ thanh toán chủ yếu:
+ Thanh toán séc: Séc là phương tiện thanh toán do người chủ tài khoản lập dưới hình thức chứng từ theo mẫu in sẵn, lệnh cho ngân hàng thương mại trả không điều kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng có tên trên séc hay cho chính người cầm tờ séc Séc được dùng để thanh toán tiền hàng, dịch
vụ, nộp thuế, trả nợ hoặc để rút tiền mặt tại các ngân hàng thương mại với nhiều loại: séc ký danh, séc vô danh, séc tiền mặt, séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc du lịch, …
+ Thanh toán bằng lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi: Lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản yêu cầu ngân hàng thương mại phục vụ mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi Lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi
Trang 1810
được áp dụng trong thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ hoặc chuyển tiền của người sử dụng dịch vụ thanh toán tại một chi nhánh ngân hàng thương mại hoặc giữa các chi nhánh ngân hàng thương mại cùng hoặc khác hệ thống trong phạm vi cả nước
+ Thanh toán bằng nhờ thu hoặc uỷ nhiệm thu: Uỷ nhiệm thu là giấy uỷ nhiệm do người thụ hưởng lập nhờ ngân hàng thương mại thu hộ tiền trên cơ
sở khối lượng hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung ứng Uỷ nhiệm thu được sử dụng để thanh toán hàng hoá, dịch vụ giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một ngân hàng thương mại hoặc các chi nhánh ngân hàng thương mại cùng hệ thống hoặc khác hệ thống trên cơ sở có thoả thuận bằng hợp đồng về điều kiện thu hộ giữa bên trả tiền và bên thụ hưởng
+ Thanh toán bằng thẻ ngân hàng: Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán
do ngân hàng thương mại phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động Để được sử dụng thẻ ngân hàng, khách hàng phải thực hiện thủ tục đăng ký sử dụng thẻ và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của ngân hàng thương mại phát hành thẻ Các ngân hàng thương mại ngày nay đang phát hành và thực hiện thanh toán các loại thẻ:
● Thẻ ghi nợ: Là loại thẻ gắn liền với tài khoản tiền gửi thanh toán hay tài khoản séc của khách hàng Khách hàng có thể sử dụng thẻ để thanh toán, chi trả tiền mua hàng hoá, dịch vụ ở bất kỳ điểm bán hàng nào có đặt máy đọc thẻ của ngân hàng thương mại, không phải trực tiếp đến ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh của nó Khi khách hàng sử dụng loại thẻ này để thanh toán thì giá trị giao dịch được khấu trừ ngay vào tài khoản của khách hàng đồng thời ghi có ngay vào tài khoản của người thụ hưởng thông qua mạng máy tính điện tử tự động
Trang 1911
● Thẻ tín dụng: Là loại thẻ được sử dụng phổ biến, ngân hàng thương mại cho phép chủ thẻ không cần có số dư trên tài khoản và được sử dụng một hạn mức nhất định Thẻ tín dụng được dùng để mua hàng hoá và các dịch vụ trả tiền sau Việc thanh toán hàng hoá, dịch vụ được thực hiện tại những nơi
có máy đọc thẻ và tại các điểm bán lẻ có các ký hiệu của loại thẻ tín dụng mà chúng chấp nhận Các ngân hàng thương mại cấp thẻ tín dụng cho các khách hàng có quan hệ thường xuyên, có tình hình tài chính tốt, luôn đảm bảo khả năng thanh toán
● Thẻ rút tiền mặt: Với chức năng chuyên biệt chỉ để rút tiền mặt nên chủ thẻ phải ký quĩ một số tiền bằng số tiền trên thẻ Hiện nay thẻ rút tiền mặt dùng để rút tiền tại các máy ATM và chủ thẻ có thể thực hiện các giao dịch thanh toán các chi phí điện, nước, điện thoại,
+ Dịch vụ ngân hàng điện tử: Khách hàng có tài khoản tiền gửi thanh toán mở tại ngân hàng thương mại muốn sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện
tử phải có thỏa thuận trước với ngân hàng thương mại về việc yêu cầu ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử Ngân hàng thương mại
sẽ cung cấp cho khách hàng “mã số” để truy cập đến các dịch vụ ngân hàng Các dịch vụ này khách hàng được ngân hàng thương mại đáp ứng dựa trên việc xử lý thông tin hai chiều giữa ngân hàng thương mại và khách hàng qua mạng Internet hoặc mạng điện thoại di động Ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ ngân hàng điện tử như:
● Internet Banking: Dịch vụ Internet Banking là dịch vụ ngân hàng mà khách hàng giao dịch với ngân hàng thông qua Internet Khách hàng có thể kiểm tra các thông tin về tài khoản, số dư, tiền gửi, tiền vay và thực hiện các giao dịch như chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, Hiện tại, ở Việt Nam đã có một số ngân hàng thử nghiệm và đưa vào phục vụ khách hàng dịch vụ này như: BIDV, Vietcombank, Vietinbank, ACB, Techcombank, Agribank,
Trang 2012
● Telephone Banking: Dịch vụ Telephone Banking là loại hình dịch vụ
mà khách hàng sử dụng điện thoại gọi đến một số máy cố định của ngân hàng cung cấp dịch vụ để thực hiện các giao dịch hoặc kiểm tra thông tin tài khoản (tùy thuộc vào dịch vụ ngân hàng cung cấp)
● Mobile Banking: Dịch vụ Mobile Banking là loại hình dịch vụ ngân hàng giao dịch qua điện thoại di động Mobile Banking cho phép khách hàng thông qua điện thoại di động có thể truy cập các thông tin về tài khoản cá nhân hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán hoá đơn và nhận thông tin về tỷ giá hối đoái, giá cả thị trường, lãi suất tiết kiệm
- Thanh toán và chuyển tiền quốc tế
Thanh toán quốc tế là việc chi trả các nghĩa vụ và yêu cầu về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, tài chính giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các doanh nghiệp, giữa các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, bằng các hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại các ngân hàng thương mại
+ Các công cụ thanh toán
● Hối phiếu: là tờ lệnh vô điều kiện do một người ký phát để đòi tiền người khác bằng việc yêu cầu người này, khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày nhất định; hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai, phải trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi quy định trên hối phiếu; hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác; hoặc trả cho người cầm phiếu
● Séc: là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do chủ tài khoản phát hành yêu cầu NHTM phục vụ mình trích tài khoản để trả cho người thụ hưởng
có tên trên séc hoặc trả cho người cầm tờ séc
+ Các phương thức thanh toán
● Thư tín dụng (L/C): Phương thức thanh toán này là một sự thoả thuận
mà trong đó một ngân hàng nơi mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng
Trang 2113
(người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng nếu bên bán thực hiện đúng và đầy đủ những quy định theo thư tín dụng
Phương thức thanh toán này có độ an toàn và chuẩn xác cao, do đó, nó được dùng phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế
● Phương thức thanh toán nhờ thu: Nhờ thu là phương thức thanh toán
trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tiến hành uỷ thác cho ngân hàng thương mại phục vụ mình thu hộ tiền từ người nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu và chứng từ do người xuất khẩu lập ra
Các bên tham gia phương thức thanh toán nhờ thu: Người uỷ nhiệm thu (người xuất khẩu); Ngân hàng thu hộ (ngân hàng phục vụ người xuất khẩu); Ngân hàng xuất trình (ngân hàng xuất trình chứng từ cho người trả tiền – ngân hàng đại lý cho ngân hàng thu hộ); Người trả tiền (người nhập khẩu)
● Phương thức thanh toán chuyển tiền: Thanh toán chuyển tiền là
phương thức thanh toán trong đó người chuyển tiền yêu cầu ngân hàng thương mại phục vụ mình thông qua ngân hàng đại lý hay chi nhánh ở nước ngoài chuyển trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng
Các bên tham gia phương thương thức thanh toán chuyển tiền: Người chuyển tiền (người có nhu cầu chuyển tiền cho người thụ hưởng nước ngoài); Ngân hàng chuyển tiền (ngân hàng nhận thực hiện chỉ thị chuyển tiền của người chuyển tiền); Người thụ hưởng (người nhận chuyển tiền); Ngân hàng đại lý (ngân hàng phục vụ cho người thụ hưởng và có quan hệ đại lý với ngân hàng chuyển tiền)
Trang 2214
* Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng là một sản phẩm dịch vụ được nhiều ngân hàng thương mại quan tâm Bảo lãnh ngân hàng là cam kết của ngân hàng thương mại (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng thương mại số tiền đã được trả thay và phí bảo lãnh
Sản phẩm dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại được sử dụng ngày càng rộng rãi trong giao dịch quốc tế giữa các nước và quan hệ thương mại giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong thị trường nội địa Dịch
vụ bảo lãnh là điều kiện cần thiết để khách hàng (bên được bảo lãnh) được mua hàng hoá, dịch vụ trả chậm nhằm giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Căn cứ vào mục đích bảo lãnh, các ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ bảo lãnh dưới nhiều hình thức khác nhau:
- Bảo lãnh vay vốn: là bảo lãnh do ngân hàng thương mại phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, đúng hạn
- Bảo lãnh thanh toán: là bảo lãnh do ngân hàng thương mại phát hành cho bên nhận bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ của mình khi đến hạn
- Bảo lãnh dự thầu: là bảo lãnh do ngân hàng thương mại phát hành cho bên mời thầu để đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng Trường hợp khách hàng bị phạt do vi phạm quy định dự thầu mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì ngân hàng thương mại thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết
Trang 23- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm: là bảo lãnh do ngân hàng thương mại phát hành cho bên nhận bảo lãnh đảm bảo khách hàng thực hiện đúng các thỏa thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng bị phạt tiền do không thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng về chất lượng sản phẩm với bên nhận bảo lãnh mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh, ngân hàng thương mại thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết
- Các sản phẩm dịch vụ bảo lãnh khác:
+ Bảo lãnh đối ứng: là bảo lãnh do một ngân hàng thương mại (bên phát hành bảo lãnh đối ứng) phát hành cho một ngân hàng thương mại khác (bên bảo lãnh) về việc đề nghị bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh cho các nghĩa
vụ của khách hàng của bên phát hành bảo lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên phát hành bảo lãnh đối ứng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng cho bên bảo lãnh
+ Xác nhận bảo lãnh: là bảo lãnh do ngân hàng thương mại (bên xác nhận bảo lãnh) phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại được xác nhận bảo lãnh (bên được xác nhận bảo lãnh) đối với khách hàng Trường hợp bên được xác nhận bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình đã cam kết với bên nhận bảo lãnh thì bên xác nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được xác nhận bảo lãnh
Trang 2416
+ Đồng bảo lãnh: là việc nhiều ngân hàng thương mại cùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ của khách hàng thông qua một ngân hàng thương mại làm đầu mối
* Dịch vụ ngân quỹ
Hoạt động chủ yếu của dịch vụ này là ngân hàng cử cán bộ đến thu, chi tiền mặt trực tiếp tại địa điểm khách hàng yêu cầu Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ như thu đổi tiền rách nát không đủ tiêu chuẩn lưu thông, dịch vụ kiểm đếm tiền mặt,
Ngân hàng cũng cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh, tiến hành đầu tư tạm thời phần thặng dư tiền mặt vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán
* Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ
Kinh doanh ngoại tệ là việc một ngân hàng thương mại đứng ra mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ Các sản phẩm dịch vụ kinh doanh ngoại tệ chủ yếu của một ngân hàng thương mại gồm có:
- Giao dịch giao ngay (Spot Transaction): là giao dịch ngân hàng
thương mại mua hay bán ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là trong hai ngày làm việc kể từ khi ký kết hợp đồng mua bán Giao dịch giao ngay được thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ giao ngay của các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu và của chính ngân hàng thương mại
- Giao dịch kỳ hạn (Forward Transaction): là giao dịch ngân hàng
thương mại mua hay bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ sẽ được thực hiện sau một thời gian nhất định kể từ khi ký kết hợp đồng Giao dịch kỳ hạn
là phương tiện phòng chống rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ - rủi
ro do sự biến động bất thường của tỷ giá hối đoái Thực hiện giao dịch kỳ hạn
Trang 2517
giúp cho các ngân hàng thương mại cố định được khoản thu nhập hay chi trả theo một tỷ giá hối đoái cố định đã biết trước bất chấp sự biến động tỷ giá trên thị trường
- Giao dịch hoán đổi (Swap Transaction): là giao dịch ngân hàng
thương mại thực hiện đồng thời hai giao dịch mua và bán cùng một số lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác (chỉ có hai đồng tiền được thực hiện trong giao dịch) trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng giao dịch hoán đổi Giao dịch hoán đổi có thể bao gồm một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ hạn hoặc bao gồm cả hai giao dịch kỳ hạn
- Giao dịch quyền chọn (Options Transaction): là quyền được mua
hoặc bán một số lượng ngoại tệ trong một khoảng thời gian hoặc một thời điểm xác định trong tương lai với một tỷ giá thỏa thuận ấn định tại thời điểm giao dịch Nói cách khác, giao dịch quyền chọn cho người mua “quyền” chứ không phải nghĩa vụ để mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ nhất định vào hoặc trước ngày thỏa thuận trong tương lai (ngày đến hạn) tại một tỷ giá thỏa thuận đồng thời phải trả cho người bán “quyền” một khoản phí nhất định Đặc điểm cơ bản của giao dịch quyền chọn là người mua “quyền” có quyền thực hiện quyền (quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán) và người bán
"quyền” phải đợi người mua “quyền” quyết định thực hiện hay không thực hiện giao dịch
* Nhóm sản phẩm dịch vụ khác
Bên cạnh những sản phẩm dịch vụ nêu trên được coi là những hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng thương mại, rất nhiều các sản phẩm dịch vụ khác được các ngân hàng thương mại phát triển trên cơ sở tận dụng những lợi thế về uy tín, cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng, khả năng khai thác và kiểm soát thông tin, năng lực cán bộ của chính ngân hàng thương mại đó
Trang 2618
Một số sản phẩm dịch vụ có thể kể đến là:
- Kinh doanh vàng bạc, đá quý: Việc kinh doanh vàng bạc, đá quý
được các ngân hàng thương mại thực hiện trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp Các ngân hàng thương mại mua kim loại, đá quý từ các nhà sản xuất trên thị trường sơ cấp và bán lại cho người tiêu dùng hoặc các nhà đầu tư trên thị trường thứ cấp
- Kinh doanh chứng khoán: Hoạt động kinh doanh chứng khoán rất
phong phú, đa dạng mang nhiều đặc trưng riêng và có không ít các rủi ro Cung cấp sản phẩm này, các ngân hàng thương mại phải tổ chức thành bộ phận kinh doanh riêng hoặc thành lập công ty chứng khoán phụ thuộc; cung cấp các sản phẩm dịch vụ như môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục vốn đầu tư, tư vấn đầu tư chứng khoán
- Dịch vụ thông tin, tƣ vấn: Các ngân hàng thương mại nhờ khả năng
ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống thông tin nên
có khả năng đáp ứng các nhu cầu tư vấn về tài chính và quản lý mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cá nhân, các tổ chức yêu cầu Các ngân hàng thương mại sẽ hướng dẫn các vấn đề về hoạch định tài chính và kiểm soát như: xây dựng phương án sản xuất kinh doanh; tính chi phí, định giá; đánh giá đầu tư
cơ bản; dự báo nguồn thu nhập và quản lý tài sản; thậm chí tư vấn về chiến lược kinh doanh (thành lập doanh nghiệp, tổ chức lại, huy động vốn, mặt hàng
và số lượng hàng sản xuất kinh doanh )
- Dịch vụ bảo hiểm: Các ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ bảo
hiểm cho tất cả các khách hàng thông qua các công ty con hoặc thông qua các nhà môi giới bảo hiểm Các dịch vụ bảo hiểm mà ngân hàng thương mại có thể thực hiện cho các doanh nghiệp bao gồm: bảo hiểm tổn thất lợi nhuận (hoả hoạn, lũ lụt, ); bảo hiểm tín dụng để bảo hiểm cho những khoản nợ khó đòi, bảo hiểm nhân thọ
Trang 2719
- Dịch vụ bảo quản vật có giá: Từ khi mới hình thành, các ngân hàng
đã thực hiện lưu giữ vàng, các khế ước vay nợ, các vật có giá khác cho khách hàng trong hệ thống kho bảo quản của ngân hàng Ngân hàng là một địa chỉ tin cậy để người dân cũng như các tổ chức gửi những vật có giá trị của mình ở
đó Ở các nước phát triển ngày nay, dịch vụ bảo quản giấy tờ có giá rất phát triển vì ngân hàng có hệ thống kho bảo quản hiện đại, an toàn, có đội ngũ nhân viên phục vụ tận tình chu đáo và nhu cầu cất giữ của người dân cũng tương đối nhiều
1.2.2 Phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
Phát triển dịch vụ phi tín dụng của NHTM có thể được hiểu một cách đơn giản là việc gia tăng các loại hình dịch vụ phi tín dụng đồng thời mở rộng thị phần, đối tượng khách hàng kết hợp nâng cao chất lượng các loại hình dịch
vụ phi tín dụng của NHTM để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng
1.2.2.1 Vai trò phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
Phát triển dịch vụ phi tín dụng của NHTM có vai trò quan trọng không chỉ với bản thân các NHTM mà cả với nền kinh tế và cả với khách hàng, cụ thể như sau:
* Đối với nền kinh tế xã hội
- Góp phần tăng cường sự luân chuyển của dòng vốn trong nền kinh tế thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng kinh tế Dịch vụ ngân hàng cung cấp có tác động tới tổng thể các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, từ công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu và dịch vụ, …
- Thúc đẩy nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thế giới Ngày nay xu hướng hội nhập vào nền kinh tế quốc tế đã được coi là tất yếu Trong xu hướng đó, từng quốc gia không ngừng khai thác những nguồn lực của mình, chủ động hội nhập vào nền kinh tế chung của khu vực và thế giới Dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trang 28tế xã hội như: tham nhũng, trốn thuế, rửa tiền, tạo điều kiện cho dịch vụ ngân hàng trong việc điều hành chính sách tiền tệ, lành mạnh hóa nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế quốc gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu, rộng hơn
Tóm lại, ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ phi tín dụng giúp hoạt động kinh tế trở nên thuận lợi, nhanh chóng và an toàn hơn, đồng thời hạn chế lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế, giúp giảm đáng kể chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản Có thể nói các dịch vụ phi tín dụng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hầu hết các khía cạnh của nền kinh tế
* Đối với các ngân hàng thương mại
Sự phát triển dịch vụ phi tín dụng có vai trò rất quan trọng, quyết định
sự tồn tại của một ngân hàng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể là:
- Góp phần đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, từ đó thu hút
và mở rộng đến nhiều đối tượng khách hàng Bên cạnh các sản phẩm dịch vụ
cơ bản như huy động tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, các ngân hàng còn
có nhiều sản phẩm khác như bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thẻ, cho thuê tài chính, sản phẩm dịch vụ đa dạng sẽ đáp ứng được không chỉ nhu cầu của khách hàng truyền thống mà còn có thể thu hút được nhiều đối tượng khách hàng mới trong nền kinh tế, làm cho thị phần của ngân hàng được mở rộng hơn
Trang 2921
- Tăng thêm lợi nhuận và phân tán rủi ro cho ngân hàng thương mại Trong hoạt động của một ngân hàng thương mại hiện đại, lợi nhuận không chỉ tập trung chủ yếu từ sản phẩm tín dụng mà còn được khai thác từ các sản phẩm dịch vụ khác Bên cạnh đó, nếu như hoạt động tín dụng chứa nhiều rủi
ro thì hoạt động phi tín dụng chứa ít rủi ro và mang lại nguồn thu ổn định cho ngân hàng Do đó, nếu phát triển dịch vụ này thì các ngân hàng có thể san sẻ, hạn chế bớt rủi ro trong hoạt động của mình
- Phát triển sản phẩm dịch vụ phi tín dụng góp phần nâng cao uy tín và
vị thế của ngân hàng thương mại Do đó phát triển dịch vụ phi tín dụng để đáp ứng tối ưu nhu cầu mà nền kinh tế yêu cầu, góp phần củng cố sự lớn mạnh và nâng cao uy tín, vị thế của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
- Thúc đẩy quan hệ hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng Để phát triển dịch vụ ngân hàng theo hướng hiện đại, các ngân hàng buộc phải có sự liên kết, hợp tác với nhau Cùng với xu thế hội nhập toàn cầu cho phép các ngân hàng trên toàn thế giới có cơ hội hợp tác, liên kết
để cùng phát triển, một ngân hàng có thể hoạt động cung cấp dịch vụ đến khắp nơi trên toàn thế giới thông qua sự liên kết với các ngân hàng quốc tế và các tổ chức kinh tế quốc tế
- Cung cấp các thông tin kịp thời và hiệu quả thông qua dịch vụ phi tín
Trang 3022
dụng mà ngân hàng cung cấp, khách hàng không chỉ được cung cấp các nhu cầu đơn giản nhất của mình mà còn được tư vấn hay nhanh chóng tiếp cận thông tin tin cậy, kịp thời, từ đó có thể đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn đem lại hiểu quả cao
- Giúp khách hàng nâng cao trình độ hiểu biết sử dụng dịch vụ Các dịch vụ phi tín dụng do ngân hàng cung cấp thường hàm chứa các yếu tố tri thức cao, vì vậy kích thích người tiêu dùng tìm hiểu và tiếp cận với những yếu
tố công nghệ hiện đại, giúp nâng cao trình độ nhận thức và hiểu biết của khách hàng
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
a Nhóm các chỉ tiêu định tính
* Chất lượng dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
Chất lượng sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của NHTM được đánh giá qua các tiêu chí sau:
- Thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng thương mại;
- Tính tiện ích của sản phẩm dịch vụ phi tín dụng;
Trang 3123
khách hàng về các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng, với tiêu chí này thì sự phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng có thể được đánh giá ở nhiều cấp độ khác nhau và có thể chia thành ba cấp độ chính:
- Thứ nhất, sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thể hiện là khách hàng có thể chọn sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng để sử dụng khi thấy tiện mà chưa có điều kiện đến các ngân hàng khác để đăng ký sử dụng được thì chứng tỏ dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng mới chỉ bước đầu phát triển mà sự cạnh tranh trên thị trường chưa cao, so với nhiều ngân hàng khác vẫn còn thua kém
- Thứ hai, sự hài lòng của khách hàng thể hiện ở việc khách hàng đánh giá dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng và dịch vụ phi tín dụng của các ngân hàng khác mà khách hàng thường sử dụng là như nhau thì sự phát triển dịch
vụ phi tín dụng của ngân hàng đã đạt ở mức độ cao, tương đương với nhiều ngân hàng có thế mạnh về cung cấp dịch vụ phi tín dụng trên thị trường
- Thứ ba, sự hài lòng của khách hàng thể hiện thông qua việc khách hàng chỉ chọn dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng để sử dụng mà không có bất cứ dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng nào có thể thay thế được Điều này chứng tỏ rằng dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng rất phát triển và đang dẫn đầu về tính cạnh tranh trên thị trường
* Những phàn nàn, khiếu nại của khách hàng về dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
Đây là chỉ tiêu hoàn toàn ngược lại với chỉ tiêu “sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại” Khi nhu cầu của khách hàng không những không được đáp ứng mà sự đáp ứng còn kém, gây phiền hà cho khách hàng thì khách hàng sẽ có những phàn nàn hay khiếu nại về ngân hàng Từ đó khách hàng sẽ đi tìm cho mình một ngân hàng khác cung cấp dịch vụ phi tín dụng tốt hơn để giao dịch Như vậy những phàn
Trang 3224
nàn, khiếu nại của khách hàng càng nhiều thì càng chứng tỏ dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng là chưa phát triển Ngược lại, phàn nàn, khiếu nại của khách hàng ngày càng giảm đi và chuyển dần sang sự hài lòng hay khen ngợi
sẽ là dấu hiệu tốt thể hiện sự phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng ngày càng cao
Trong quá trình cung cấp dịch vụ phi tín dụng cho khách hàng, ngân hàng phải đặc biệt chú ý quan tâm đến những ý kiến phản hồi của khách hàng
để từ đó có những giải pháp xử lý kịp thời góp phần phát triển dịch vụ phi tín dụng một cách tốt nhất
* Mức độ rủi ro đối với tài sản của khách hàng và ngân hàng thương mại Dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro đối với khách hàng cũng như ngân hàng Rủi ro có thể do chủ quan từ phía ngân hàng hoặc chủ quan từ phía khách hàng như: do cán bộ ngân hàng cố tình lợi dụng quá trình cung cấp dịch vụ phi tín dụng để lấy tài sản của khách hàng hay tài sản của ngân hàng để gia tăng lợi ích cá nhân, hoặc do cán bộ liên kết với khách hàng để làm thất thoát tài sản của ngân hàng, hoặc do khách hàng lợi dụng những kẽ hở của ngân hàng (trình độ cán bộ yếu kém, quy trình cung cấp dịch vụ chưa chặt chẽ, ) để chiếm đoạt tài sản của ngân hàng Rủi ro cũng có thể do khách quan như: công nghệ chưa hiện đại, sơ suất của cán bộ ngân hàng, …
Khi mức độ rủi ro được giảm thiểu cho thấy NHTM đã sử dụng công nghệ hiện đại, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ cao, quá trình cung ứng dịch vụ phi tín dụng được thực hiện đúng quy trình, quy định,…chứng tỏ dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng ngày càng phát triển và ngược lại
b Nhóm chỉ tiêu định lƣợng
* Quy mô và thị phần dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại Đây là chỉ tiêu phản ánh sự xâm nhập của dịch vụ phi tín dụng của
Trang 3325
ngân hàng thương mại trên thị trường Dịch vụ phi tín dụng đã tiếp cận được với các địa bàn nào, phạm vi tiếp cận rộng hay hẹp, phần thị trường chiếm lĩnh được lớn hay nhỏ Quy mô và thị phần của dịch vụ phi tín dụng càng lớn thể hiện sự phát triển dịch vụ phi tín dụng càng cao và ngược lại Để tồn tại và
có sức cạnh tranh trên thị trường, dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng phải chiếm giữ được phần thị trường nhất định, ở đó ngân hàng duy trì được mối quan hệ với khách hàng truyền thống và khai thác được nhiều khách hàng tiềm năng trong tương lai Đó chính là thước đo cũng như nền tảng vững chắc cho sự phát triển dịch vụ phi tín dụng của mỗi ngân hàng thương mại
* Tốc độ tăng trưởng doanh số và lợi nhuận do sản phẩm dịch vụ phi tín dụng mang lại, tỷ trọng thu dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập
Đây chính là chỉ tiêu đánh giá kết quả tổng hợp của việc đa dạng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ phi tín dụng gắn với mức giá (hoặc phí) dịch vụ hợp lý để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng Tăng trưởng doanh số và lợi nhuận từ các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng phản ánh việc ngày càng có nhiều khách hàng tin tưởng, lựa chọn sử dụng sản phẩm dịch vụ phi tín dụng
Tỷ trọng thu dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của một ngân hàng thương mại nói lên vai trò, sự đóng góp của dịch vụ phi tín dụng đối với
sự phát triển của ngân hàng đó Tỷ trọng này càng cao chứng tỏ tỷ trọng thu của hoạt động cho vay ngày càng giảm, và ưu thế phát triển thuộc về các dịch
vụ phi tín dụng, rủi ro trong hoạt động cho vay ngày càng được san sẻ bớt bởi
Trang 3426
như chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ, mà còn phải đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng về các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng hiện đại như thanh toán thẻ, ngân hàng điện tử, tư vấn môi giới đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, Nếu một ngân hàng thương mại chỉ cung cấp các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng truyền thống hoặc chỉ đáp ứng nhu cầu của khách hàng về một vài sản phẩm dịch vụ phi tín dụng thì chắc chắn ngân hàng đó sẽ gặp nhiều khó khăn và không có ưu thế khi cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác
Một ngân hàng thương mại có số lượng sản phẩm dịch vụ phi tín dụng càng nhiều thì năng lực cạnh tranh càng cao hay nói cách khác chúng ta có thể đánh giá khả năng phát triển sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của một ngân hàng thương mại qua số lượng danh mục sản phẩm dịch vụ phi tín dụng hoặc chủng loại trong mỗi danh mục sản phẩm dịch vụ phi tín dụng mà ngân hàng thương mại đó cung cấp
* Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ phi tín dụng và quy mô giao dịch của một khách hàng
Có thể nói đây là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng để đánh giá sự phát triển dịch vụ phi tín dụng của mỗi ngân hàng Bởi xét về bản chất, khách hàng vừa
là mục tiêu, vừa là đối tượng, vừa là động lực để ngân hàng cung cấp dịch vụ nói chung và dịch vụ phi tín dụng nói riêng
Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng có thể được phản ánh thông qua số lượng khách hàng đến giao dịch với ngân hàng, số lượng khách hàng truyền thống, số lượng giao dịch và tần suất giao dịch, hoặc số lượng dịch vụ mà một khách hàng sử dụng
Nếu ngày càng có nhiều đối tượng khách hàng đến sử dụng dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng, số lượng khách hàng truyền thống của ngân hàng tăng lên, một khách hàng đến giao dịch nhiều hơn với quy mô của một giao
Trang 3527
dịch ngày càng lớn hơn, một khách hàng có nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều loại hình dịch vụ phi tín dụng hơn thì chứng tỏ rằng số lượng và chủng loại dịch vụ phi tín dụng ngày càng nhiều hơn, chất lượng dịch vụ phi tín dụng ngày càng tốt hơn hay nói cách khác dịch vụ phi tín dụng ngày càng phát triển cao hơn
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
có vốn để mua sắm trang thiết bị, đầu tư công nghệ ngân hàng, đào tạo nguồn nhân lực và mở rộng mạng lưới hoạt động Đối với các ngân hàng thương mại có quy mô vốn nhỏ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư phát triển các sản phẩm dịch vụ phi tin dụng thì phải xây dựng chiến lược tăng vốn dài hạn, theo những lộ trình thích hợp, phù hợp với nhu cầu phát triển và khả năng kiểm soát của mỗi ngân hàng thương mại trong từng thời kỳ
- Cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng
Đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển sản phẩm dịch
vụ phi tín dụng của các ngân hàng thương mại Một ngân hàng thương mại có trụ sở làm việc khang trang, bề thế, cơ sở vật chất tiện nghi, đầy đủ sẽ tạo được tâm lý và gây ấn tượng tốt đối với mỗi khách hàng khi đến giao dịch, từ
đó sẽ thu hút được ngày càng nhiều khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng ngân hàng
Trang 3628
Mặt khác, khi ngân hàng thương mại muốn đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng thì cần phải có sự gắn kết chặt chẽ với yếu tố công nghệ ngân hàng Công nghệ ngân hàng tiên tiến, hiện đại sẽ giúp ngân hàng cung cấp được cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ nhiều tiện ích, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Bên cạnh những sản phẩm dịch vụ truyền thống, ngày nay khách hàng có nhu cầu ngày càng cao với những sản phẩm dịch vụ gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ như thanh toán bằng thẻ, Internet banking, Mobile banking…Tất cả những sản phẩm dịch vụ đó ngân hàng thương mại chỉ có thể cung cấp được khi áp dụng những công nghệ hiện đại như máy rút tiền tự động ATM, máy đọc thẻ POS, các chương trình hỗ trợ hiện đại hoá công nghệ ngân hàng
- Nguồn nhân lực
Để phù hợp với môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt và tạo ra năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại thì lợi thế thông qua con người được xem là yếu tố căn bản Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực có năng lực, có trình độ cao được coi là yếu tố then chốt mang lại sự thành công cho các ngân hàng thương mại Các ngân hàng thương mại muốn đưa ra được những sản phẩm dịch vụ phi tín dụng tốt, có chất lượng để thu hút được khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ phi tín dụng thì cần phải có trong tay một đội ngũ cán bộ có chất lượng Chất lượng ở đây thể hiện ở nhiều mặt:
về chuyên môn nghiệp vụ thì cần phải nắm vững, có kiến thức chuyên sâu, am hiểu các mặt nghiệp vụ; về tác phong phải nhanh nhẹn, năng động; có đạo đức nghề nghiệp, động cơ phấn đấu và mức độ cam kết gắn bó với ngân hàng thương mại Hơn nữa, do đặc thù của ngành ngân hàng là cung cấp các sản phẩm dịch vụ nên công tác chăm sóc, phục vụ khách hàng lại càng quan trọng Đối với bộ phận giao dịch trực tiếp với khách hàng, ngoài những yếu tố
Trang 3729
trên cần phải có thái độ niềm nở, chu đáo, tận tình phục vụ và có khả năng tư vấn cho khách hàng Đây chính là động lực để lôi kéo khách hàng đến sử dụng các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng ngân hàng ngày càng đông hơn
- Hoạt động marketing
Marketing có vị trí quan trọng trong hoạt động của ngân hàng thương mại Mục tiêu của marketing là phát triển và đưa ra các loại sản phẩm dịch vụ phi tín dụng ngân hàng mới; ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại để phục
vụ khách hàng; nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút thêm khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng, qua đó mở rộng thị phần hoạt động của ngân hàng thương mại Nhiệm vụ của marketing là xác định được các thị trường tiềm năng, lựa chọn thị trường cụ thể, làm sáng tỏ nhu cầu của khách hàng về sản phẩm dịch vụ phi tín dụng và quan trọng hơn là phải xây dựng được chương trình đồng bộ cũng như kế hoạch hoạt động để đảm bảo thành công những mục tiêu chính của nó
- Mục tiêu, chiến lược hoạt động của ngân hàng thương mại
Mỗi ngân hàng thương mại đều có mục tiêu và chiến lược hoạt động riêng của mình Trong từng giai đoạn nhất định, các ngân hàng thương mại thường đề ra các mục tiêu cụ thể và trên cơ sở mục tiêu này các ngân hàng thương mại mới xây dựng chiến lược hoạt động để đạt được mục tiêu đề ra Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các ngân hàng thương mại phải xác định rõ mục tiêu và xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ phi tín dụng phù hợp, đảm bảo cung cấp các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng thỏa mãn nhu cầu khách hàng và có khả năng cạnh tranh cao
- Uy tín của ngân hàng thương mại
Chất lượng luôn là yếu tố được quan tâm hàng đầu trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ Đối với các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng ngân hàng cũng vậy, khách hàng luôn mong muốn được cung cấp những sản phẩm có
Trang 3830
chất lượng tốt nên khi có nhu cầu, tâm lý khách hàng thường tìm đến những ngân hàng thương mại có uy tín Do vậy, uy tín của ngân hàng thương mại giữ một vai trò khá quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của chính ngân hàng thương mại đó
- Giá (hoặc phí) sản phẩm dịch vụ phi tín dụng
Giá (hoặc phí) sản phẩm dịch vụ phi tín dụng cũng quyết định rất nhiều đến sự phát triển của sản phẩm dịch vụ phi tín dụng ngân hàng thương mại Tương tự như đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa nếu giá (phí) sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của một ngân hàng thương mại thấp hơn các ngân hàng thương mại khác thì khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và thu hút khách hàng sẽ cao hơn Tuy nhiên, giá (hoặc phí) sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại chỉ có thể thấp hơn đến một mức độ nào đó
vì nó phản ánh chất lượng sản phẩm dịch vụ phi tín dụng và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại
Giá (phí) sản phẩm dịch vụ phi tín dụng là một tiêu thức mà khách hàng dựa vào đó để lựa chọn ngân hàng thương mại cung cấp sản phẩm dịch
vụ phi tín dụng Khách hàng có xu hướng chọn những ngân hàng thương mại
có giá (phí) sản phẩm dịch vụ phi tín dụng hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng sao cho có lợi cho họ nhất Thực tế đặt ra cho các ngân hàng thương mại là phải duy trì hai mục tiêu có tính trái ngược nhau là lợi nhuận cao và sức cạnh tranh về giá (phí) lớn, cụ thể nếu một ngân hàng thương mại áp dụng mức giá (phí) đảm bảo mang lại doanh thu và lợi nhuận cao thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của sản phẩm dịch vụ phi tín dụng Điều này đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải cân nhắc khi định giá (hoặc phí) sản phẩm dịch vụ phi tín dụng, phải căn cứ vào các yếu tố như chi phí đầu vào, chi phí quản lý, chi phí trang bị cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng, thông thường giá (hoặc phí) phải bù đắp đủ chi phí Trong thực tế, có những ngân hàng thương mại đưa ra
Trang 3931
các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng với giá (hoặc phí) thấp hơn chi phí để thu hút khách hàng sử dụng thêm các sản phẩm dịch vụ khác, qua đó đem lại lợi ích tổng thể lớn hơn cho ngân hàng thương mại
1.2.3.2 Nhân tố khách quan
Ngoài các nhân tố chủ quan nêu trên, sự phát triển sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng còn phụ thuộc vào các nhân tố khách quan là:
- Môi trường kinh tế chính trị xã hội
Khi nền kinh tế phát triển thì đồng nghĩa với các ngành trong nền kinh
tế cũng phát triển như: du lịch, công nghiệp, thương mại, , kéo theo đó là nhu cầu về các dịch vụ phi tín dụng ngân hàng sẽ tăng lên Từ đó các ngân hàng phải nghiên cứu phát triển dịch vụ phi tín dụng theo hướng phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng, phức tạp của thị trường
Mặt khác hoạt động kinh doanh dịch vụ của ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào sự tín nhiệm của khách hàng và bản thân dịch vụ phi tín dụng ngân hàng lại mang tính vô hình nên các vấn đề về chính trị, xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động dịch vụ phi tín dụng của các ngân hàng Khi môi trường chính trị, xã hội bất ổn, các hoạt động đầu tư sẽ bị đình trệ, kinh tế tăng trưởng chậm, các giao dịch thương mại bị hạn chế dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ phi tín dụng ngân hàng cũng giảm xuống Thêm vào đó sự ổn định về kinh tế vĩ mô, sự ổn định trên thị trường ngoại hối, thị trường tài chính, sẽ tạo nên một hệ thống dịch vụ phi tín dụng ngân hàng phát triển lành mạnh và hiệu quả
- Môi trường pháp lý
Bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động của thị trường và dịch vụ ngân hàng Môi trường pháp lý là nhân tố khách quan có ảnh hưởng thường xuyên đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động dịch vụ
Trang 40- Tiến bộ khoa học công nghệ
Xu thế quốc tế hóa nền kinh tế đưa các quốc gia tiến gần hơn với các công nghệ hiện đại trên thế giới Tuy nhiên việc khai thác và sử dụng các công nghệ như thế nào lại phụ thuộc vào năng lực của mỗi quốc gia Việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào phát triển dịch vụ phi tín dụng ngân hàng cũng vậy, công nghệ cho phép ngân hàng không ngừng mở rộng được các loại hình dịch vụ phi tín dụng mà còn nâng cao được khả năng đáp ứng nhu cầu về chất lượng dịch vụ phi tín dụng đó
- Các nhân tố khác
Đó là các nhân tố như: tập quán, thói quen của khách hàng, vị trí địa lý, trình độ dân trí, đối thủ cạnh tranh, khối các đơn vị hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong đó cần nghiên cứu tập trung vào yếu tố tâm lý khách hàng, đối thủ cạnh tranh và khối các đơn vị hỗ trợ Khách hàng là yếu
tố trung tâm, nghiên cứu tâm lý khách hàng, nghiên cứu nhu cầu khách hàng
sẽ cho ngân hàng biết cần phải cung cấp các dịch vụ phi tín dụng gì, yêu cầu như thế nào Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh để tạo nên sự khác biệt cho sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của mình Sử dụng khối các đơn vị hỗ trợ như thông tin tuyên truyền, quảng cáo, để quảng bá và giới thiệu dịch vụ phi tín dụng của mình tới đông đảo đối tượng khách hàng