1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh : Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 34 01

99 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu Tín dụng ngân hàng nói chung, quản lý rủi ro tín dụng nói riêng là vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu cũng như các chuyên gia ngân hàng quan tâm nghiên cứu, công t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

oOo

BÙI ĐẠI THẮNG

QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU

TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM –

CHI NHÁNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

oOo

BÙI ĐẠI THẮNG

QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU

TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM –

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình!

Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Bùi Đại Thắng

Trang 4

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Hà Tĩnh cùng toàn thể các anh chị em đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Bùi Đại Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC HÌNH iii

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8

1.1 Tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại 8

1.1.1 Khái quát về hoạt động của Ngân hàng thương mại 8

1.1.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng 10

1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng 12

1.1.4 Quy trình tín dụng ngân hàng 13

1.1.5 Rủi ro tín dụng ngân hàng 15

1.2 Quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng 18

1.2.1 Quy trình quản lý rủi ro tín dụng 18

1.2.2 Nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng 21

1.2.3 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng 23

1.2.4 Đánh giá kết quả quản lý rủi ro tín dụng 32

1.3 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng 35

1.3.1 Kinh nghiệm tại một vài ngân hàng thương mại Việt Nam 35

1.3.2 Kinh nghiệm một số ngân hàng trên thế giới 39

1.3.3 Bài học cho BIDV - Chi nhánh Hà Tĩnh 41

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI BIDV – CHI NHÁNH HÀ TĨNH 44

2.1 Giới thiệu về BIDV - Chi nhánh Hà Tĩnh 44

2.1.1 Lịnh sử ra đời và phát triển 44

Trang 6

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 44

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh 46

2.2 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh 47

2.2.1 Cơ cấu tín dụng 47

2.2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh 49

2.2.3 Quản lý rủi ro tín dụng 53

2.3 Đánh giá chung quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV- Chi nhánh Hà Tĩnh65 2.3.1 Thành tựu 65

2.3.2 Khó khăn, vướng mắc 67

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI BIDV – CHI NHÁNH HÀ TĨNH 72

3.1 Định hướng chung về quản lý rủi ro 72

3.1.1 Bối cảnh kinh tế mới và dự báo về rủi ro tín dụng ngân hàng 72

3.1.2 Định hướng chung của BIDV 73

3.1.3 Định hướng của BIDV - Chi nhánh Hà Tĩnh 74

3.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh 76

3.2.1 Nâng cao chất lượng công tác phân tích, thẩm định và đánh giá RRTD 76

3.2.2 Tăng cường hoạt động kiểm tra nội bộ 77

3.2.3 Nâng cao trình độ nguồn nhân lực 78

3.3 Kiến nghị 79

3.3.1 Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 79

3.3.2 Kiến nghị Trụ sở chính BIDV 82

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 BIDV Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và

Phát triển Việt Nam

10 NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh BIDV - Chi nhánh

6 Bảng 2.6 Kết quả phân loại nợ Chi nhánh từ năm 2010-2013 50

7 Bảng 2.7 Nợ xấu theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam 51

8 Bảng 2.8 Dự phòng rủi ro và nợ ngoại bảng 52

9 Bảng 2.9 Kết quả XHTDN theo HTXHTDNB từ năm 2010-2013 67

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 1.1 Chu trình kiểm soát tín dụng liên tục 19

2 Hình 1.2 Ngăn ngừa và xử lý rủi ro tín dụng 20

3 Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của BIDV Hà Tĩnh 45

4 Hình 2.2 Cơ cấu bộ phận cấp tín dụng của BIDV Hà Tĩnh 55

5 Hình 2.3 Lưu đồ quy trình tín dụng tại chi nhánh 62

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân hàng thương mại là một trong những ngành kinh doanh ra đời sớm nhất, trong thời kỳ đầu hình thành nghiệp vụ cơ bản của nó là nhận tiền gửi và cho vay Ngày nay các ngân hàng thương mại phát triển rất nhanh cả

về số lượng và chất lượng, nghiệp vụ cũng trở nên vô cùng phong phú và đa dạng, tuy nhiên hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động truyền thống, mang lại thu nhập không nhỏ cho các ngân hàng Song hoạt động này chứa đựng rủi ro rất cao, gây ra hậu quả nặng nề không chỉ đối với bản thân ngân hàng mà còn đối với cả doanh nghiệp và nền kinh tế Vì vậy, nâng cao hiệu quả đối với công tác quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại thực sự cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của bản thân mỗi ngân hàng

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh ( BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh ) đã hoạt động với thời gian dài, liên tục tăng trưởng, phát triển trở thành Chi nhánh ngân hàng thương mại hàng đầu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Tuy nhiên thời gian qua, trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động tiêu cực do cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ nước Mỹ đã gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh nói riêng Hiện nay chất lượng - hiệu quả hoạt động suy giảm đang phải thực hiện tái cơ cấu, đặc biệt là hoạt động tín dụng đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế và đáng lo ngại do thực trạng chất lượng tín dụng với tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ phát sinh ở mức cao, mà nguyên nhân chính là từ những hạn chế trong công tác quản lý rủi ro tín dụng trong những năm qua

Với yêu cầu nhiệm vụ thực hiện tái cơ cấu toàn diện các mặt hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng; kiểm soát rủi ro và tăng

Trang 11

trưởng bền vững Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đó, là một người đang làm việc liên quan cấp tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh , tôi lựa chọn

vấn đề “ Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển

Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh” làm đề tài luận văn cao học của mình và

góp phần đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh

2 Tình hình nghiên cứu

Tín dụng ngân hàng nói chung, quản lý rủi ro tín dụng nói riêng là vấn

đề luôn được các nhà nghiên cứu cũng như các chuyên gia ngân hàng quan tâm nghiên cứu, công trình nghiên cứu gần đây như:

“Quản trị rủi ro tài chính” của tác giả Nguyễn Minh Kiều và “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng” của tác giả Nguyễn Văn Tiến Hai

công trình này đã đề cập đến các vấn đề chung về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng như quan điểm về RRTD, các nguyên nhân dẫn đến RRTD, các tiêu chí đo lường RRTD, các công cụ, biện pháp phòng ngừa

RRTD Đặc biệt, “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng” của tác giả

Nguyễn Văn Tiến còn chỉ ra các đặc điểm chung đối với các khoản nợ có vấn

đề (nợ xấu) và đưa ra 8 bước cần thực hiện để xử lý các khoản nợ này

Các công trình nghiên cứu như: “Kiểm soát tăng trưởng tín dụng đối

với các NHTM Việt Nam, Tác động và biện pháp” của TS Nguyễn Thị Loan;

“RRTD trong cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các Chi nhánh Ngân

hàng BIDV khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” của PGS.TS Lê Khương

Ninh Các công trình này cũng đã đề cập đến vấn đề tăng trưởng tín dụng, các nguy cơ dẫn đến RRTD và đưa ra các biện pháp để phòng ngừa RRTD cho các NHTM

Luận văn thạc sỹ của tác giả Bế Quang Minh ( 2008): “Rủi ro trong tín

dụng chứng từ tại Agribank và các biện pháp phòng ngừa”, Đại học kinh tế

Trang 12

TP.Hồ Chí Minh Ở công trình này, tác giả đã chỉ ra thực trạng sử dụng các phương thức trong thanh toán quốc tế như chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ…, phân tích các rủi ro phát sinh trong hoạt động này và các giải pháp phòng ngừa rủi ro trong tín dụng chứng từ của Agribank

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến các vấn đề về RRTD, rủi ro trong tín dụng và đã đưa ra được các giải pháp cụ thể giúp các NHTM trong đó có Agribank tăng cường hoạt động quản lý RRTD

Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Kim Thoa (2009): “Phân tích rủi

ro tín dụng và giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Song Phú”, Trường Đại học Cần

Thơ Luận văn đã phân tích cụ thể các loại rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng và đưa ra một số giải pháp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh

Luận văn thạc sỹ của tác giả Ngô Thị Thanh Trà (2010): “Các giải

pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài gòn”, Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh Luận văn đưa ra 4

giải pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD tại Chi nhánh Đồng thời đưa ra các

đề xuất và kiến nghị đối với Ngân hàng cấp trên, ngân hàng nhà nước và chính phủ để các giải pháp ngày được phát huy hiệu quả tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài gòn

Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Vân Anh (2010): “Nâng cao giải

pháp quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hoàng Mai”, Học viện Ngân

hàng Tác giả nghiên cứu và đưa ra 7 giải pháp nâng cao công tác quản lý RRTD và 02 giải pháp hạn chế tổn thất khi xảy ra RRTD

Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Lê Đình Hải (2010): “Tăng

cường phòng ngừa và hạn chế RRTD tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình”, Trường Đại học Đà Nẵng Công trình

Trang 13

đã phân tích, đánh giá thực trạng RRTD tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường phòng ngừa và hạn chế RRTD tại Ngân hàng này

Luận văn thạc sỹ Tài chính – Ngân hàng của tác giả Nguyễn Ngọc Lý

(2012): “Rủi ro tín dụng tại VPBANK- Chi nhánh Thái Nguyên”, Trường

Đại học Kinh tế- ĐHQG Hà Nội Luận văn phân tích những nghiệp vụ ngân hàng được VPBANK- Chi nhánh Thái Nguyên thực hiện nhằm kiểm soát tình hình RRTD tại Chi nhánh

Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Đinh Bá Quyết (2012): “Rủi ro

tín dụng tại Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nghệ An – Thực trạng và giải pháp khắc phục”, Trường Đại Huế Luận văn phân tích thực

trạng và các nhân tố ảnh hưởng tới RRTD tại Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nghệ An Luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp nhằm khắc phục RRTD tại Chi nhánh ngân hàng này

- Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác đề cập tới các vấn đề khác nhau trong hoạt động tại một số Chi nhánh của Ngân hàng TMCP Đầu

tư và Phát triển Việt Nam

Mặc dù các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến các vấn đề

về rủi ro tín dụng và đã đưa ra được một số giải pháp cụ thể giúp các ngân hàng thương mại nói chung, trong đó có Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập về quản

lý rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về quản lý RRTD của ngân hàng thương mại và thực trạng công tác quản lý RRTD tại BIDV Hà Tĩnh;

Trang 14

luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý RRTD của ngân hàng thương mại

- Tổng kết kinh nghiệm về quản lý RRTD của một số ngân hàng trong nước và quốc tế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho BIDV Hà Tĩnh

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý RRTD tại BIDV Hà Tĩnh

- Đề xuất ra một số định hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý RRTD tại BIDV Hà Tĩnh thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh theo cách tiếp cận của khoa học quản lý kinh tế: Nghiên cứu các công cụ, cơ chế và chính sách quản lý RRTD trong kinh doanh Ngân hàng

4.2 Phạm vi

4.2.1 Phạm vi không gian: Nghiên cứu hiệu quả công tác quản lý rủi ro tín

dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh

4.2.2 Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động tín dụng và công tác

quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh từ năm 2010 đến 2013

và định hướng đến năm 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh

tế để hoàn thiện kết cấu luận văn, thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh số liệu; rút ra những mặt được và tồn tại trong quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV-

Chi nhánh Hà Tĩnh

Trang 15

Phương pháp logic - lịch sử

Phương pháp logic được sử dụng để xây dựng khung lý thuyết về RRTD

và quản lý RRTD Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng tại một số ngân hàng các nước trên thế giới

Sử dụng kết hợp phương pháp logic và phương pháp lịch sử được thể hiện tập trung nhất trong cấu trúc toàn bộ luận văn

Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê được sử dụng phổ biến trong chương 2 Các bảng

số liệu thống kê về tín dụng, nguồn vốn , chất lượng tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu, trích lập dự phòng RRTD, kết quả kinh doanh của BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh qua các năm đã được thống kê nhằm cung cấp tư liệu cho việc phân tích,

so sánh trong các nội dung quản lý RRTD tại ngân hàng

Phương pháp phân tích - tổng hợp

Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng chủ yếu được trong chương 2 Từ các thông tin được thu thập, tác giả tiến hành phân tích các nội dung quản lý RRTD tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh, để từ đó tổng hợp lại nhằm đề xuất một số giải pháp nhằm phù hợp với thực tế

Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương 2 để phân tích, so sánh

số liệu từ biểu đồ, bảng số liệu qua các năm của BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ hơn lý luận chung về rủi ro tín dụng và công tác quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của các NHTM

- Đánh giá những thành công, những hạn chế và nguyên nhân hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh

Trang 16

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, danh mục sơ đồ bảng biểu, đề tài được cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh Chương 3: Một số giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV – Chi nhánh Hà Tĩnh

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái quát về hoạt động của Ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương, chủ thể tham gia nói riêng Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng quan niệm như thế nào về một Ngân hàng, và sự phân biệt nó với các tổ chức phi Ngân hàng không phải là điều đơn giản Rõ ràng, có thể định nghĩa Ngân hàng thông qua chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ không chỉ chức năng của các Ngân hàng thay đổi, mà có sự “thâm nhập” vào chức năng hoạt động Ngân hàng của các đối thủ cạnh tranh Do đó tuỳ theo điều kiện của mỗi nước và sự phát triển của hệ thống tài chính nước đó mà có những định nghĩa khác nhau về Ngân hàng

Theo luật Ngân hàng của Pháp (1941) thì Ngân hàng được định nghĩa:

“Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác, hay hình thức khác số tiền mà

họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.” [13]

Còn luật pháp Ấn Độ lại có cái nhìn về Ngân hàng như sau, họ định

nghĩa: “ Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay

hay tài trợ và đầu tư.” [13]

Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 4 đã xác định "tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín

Trang 18

dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân" và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì "ngân hàng là hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã" Theo khoản 3 và khoản 12 điều 4 thì

“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt

động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của

Luật tổ chức tín dụng (năm 2010) nhằm mục tiêu lợi nhuận”, còn “Hoạt động

ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các

nghiệp vụ sau: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng và Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.[13]

Có nhiều quan điểm về NHTM, nhìn chung có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch

vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội

NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong hoạt động kinh doanh thể hiện ở các đặc điểm sau: Vốn và tiền vừa là phương tiện, vừa là mục đích kinh doanh nhưng đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh của NHTM Nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của NHTM là vốn huy động của người khác Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, lĩnh vực hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau

Với sự phát triển của kinh tế, khoa học công nghệ hiện đại, sự gia tăng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, hoạt động kinh doanh dịch vụ của ngân hàng ngày càng đa dạng Bên cạnh các hoạt động truyền thống như huy động vốn, tín dụng và đầu tư, hoạt động dịch vụ thanh toán ngân quỹ, NHTM còn

Trang 19

được thực hiện một số hoạt động khác như: cung ứng dịch vụ bảo hiểm, kinh doanh ngoại hối, tư vấn tài chính, bảo quản vật quý giá,

Như bất kì một doanh nghiệp hay một tổ chức nào khác, một NHTM thực hiện mục tiêu kiếm tiền của mình và phải chấp nhận tất cả những rủi ro nhất định Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng Và rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu như là một tất yếu và là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ tác động trực tiếp tới kết quả lợi nhuận, nguy cơ phá sản của các ngân hàng Do vậy việc thừa nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và từ đó tìm kiếm nhiều phương pháp chống đỡ, hạn chế các rủi ro là đòi hỏi của sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Trong hoạt động kinh doanh của NHTM luôn chứa đựng các loại rủi ro tín dụng, rủi

ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro giá cả, rủi ro pháp lí, rủi ro chiến lược, rủi ro uy tín, rủi ro tác nghiệp, rủi ro đạo đức,…

Ngày nay các ngân hàng thương mại phát triển rất nhanh cả về số lượng

và chất lượng, nghiệp vụ cũng trở nên vô cùng phong phú và đa dạng, tuy nhiên hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động truyền thống, mang lại thu nhập không nhỏ cho các ngân hàng Song hoạt động này chứa đựng rủi ro rất cao, gây ra hậu quả nặng nề không chỉ đối với bản thân ngân hàng mà còn đối với

cả doanh nghiệp và nền kinh tế

1.1.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng xuất phát từ chữ Latin là Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm.[13]

Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, "tín dụng" có nghĩa là sự vay mượn Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn .[13]

Trang 20

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tín dụng ngân hàng được hiểu là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng (bên cho vay) và khách hàng (bên đi vay) trong đó ngân hàng chuyển giao một số tiền nhất định cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, khách hàng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn

Hoạt động tín dụng (cho vay) là hoạt động cơ bản của các ngân hàng thương mại Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản của ngân hàng thương mại và thu nhập từ tín dụng thường chiếm từ 50% - 70% tổng thu nhập của ngân hàng thương mại Bên cạnh việc mang lại thu nhập chính cho ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập trung vào danh mục tín dụng Chính vì vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các ngân hàng thương mại cũng như thanh tra ngân hàng

Theo khoản 14 điều 4, Luật các tổ chức tín dụng (2010), Cấp tín dụng

là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác .[13]

Theo đó hoạt động tín dụng được giới hạn về phạm vi nghiên cứu trong luận văn là hoạt động cho vay có các đặc điểm sau:

- Tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền

- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy khi ngân hàng chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cở sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn Đây chính là yếu tố hết sức cơ bản trong quan hệ tín dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định cho vay

- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, tức là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc

- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam

Trang 21

kết hoàn trả vô điều kiện Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan

hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán

1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng

Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau [13]:

- Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành 3 loại sau: + Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời

về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân

+ Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 01 đến 05 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật,

mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh

+ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 05 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn

+ Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất

- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại: + Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh

+ Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cung cấp cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên

Trang 22

- Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau:

+ Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát

ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh

+ Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ

Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để

so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng

1.1.4 Quy trình tín dụng ngân hàng

Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng [13]

Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một NHTM

Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng

nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng

Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng: Làm cơ sở cho việc

phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng, làm

cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn

Trang 23

Một quy trình tín dụng căn bản thường bao gồm các bước sau:

Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn

Bước này do cán bộ quản lý khách hàng ( tại các NHTM khác cán bộ nếu chỉ chuyên thực hiện cấp tín dụng gọi là Cán bộ tín dụng ) thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:

- Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng

Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng,

dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng

Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm

cơ sở cho việc ra quyết định cho vay

Bước 3: Ra quyết định tín dụng

Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng

Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản:

Đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt

Hoặc từ chối cho vay với một khách hàng tôt

Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng

Trang 24

Bước 4: Giải ngân

Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng

Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng

Bước 5: Giám sát tín dụng

Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng, để đảm bảo khả năng thu nợ

Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng: Đây là khâu cuối cùng trong quy

trình cho vay của một NHTM

1.1.5 Rủi ro tín dụng ngân hàng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD:

Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern

Perpective”, A Saunder và H Lange định nghĩa RRTD là: “Khoản lỗ tiềm

tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời hạn” [28]

Theo cuốn Risk Management in Banking của Joel Bessis thì: “RRTD là

những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc làm giảm sút chất lượng tín dụng của các khoản vay” [29]

Theo quan điểm của Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng, RRTD được định nghĩa là những rủi ro khi khách hàng vay hay đối tác không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cam kết theo hợp đồng tín dụng

Ở Việt Nam, theo điều 2.1, chương I, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN

Trang 25

ngày 22/4/2005 ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự

phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD thì: “RRTD

trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [21]

* Phân loại rủi ro tín dụng:

- Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau: Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro danh mục (Portfolio risk) và rủi ro giao dịch (Transaction risk)

+ Rủi ro danh mục là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng được phân ra hai loại rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk)

> Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi

chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn

> Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao

+ Rủi ro giao dịch có 3 thành phần: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ dụng

> Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng: liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay

> Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài

Trang 26

sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo

> Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề

- Nếu căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng được phân chia 2 thành các loại sau: Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn

và rủi ro do không có khả năng trả nợ:

+ Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): Đó là RRTD khi người vay sai hẹn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã

ký kết bao gồm gốc và/hoặc lãi vay Sự sai hẹn này do trễ hạn

+ Rủi ro do không có khả năng trả nợ: Đó là rủi ro mà người vay không

thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm cả gốc và/hoặc lãi vay

* Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng:

Có thể phân chia những yếu tố (nguyên nhân) dẫn đến rủi ro tín dụng làm 3 nhóm chính:

- Nguyên nhân bên ngoài: Bao gồm những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của ban lãnh đạo công ty và người cho vay (thay đổi trong kinh tế hoặc luật định, môi trường, thảm họa tự nhiên ), ví dụ như suy thoái kinh tế, lãi suất cao, xuất hiện công nghệ mới hoặc đối thủ cạnh tranh mới, và các trường hợp “thiên định” bất khả kháng khác;

- Nguyên nhân bên trong (hay từ phía khách hàng): Bao gồm những yếu

tố do ban lãnh đạo công ty gây ra Những nguyên nhân này thường xuất phát

từ bất cập trong quản lý, ví dụ như thiếu kiểm tra về hoạt động và/hoặc về tài chính, sản phẩm suy giảm chất lượng, đánh mất thị phần, và gian lận

- Nguyên nhân từ phía người cho vay: Gồm những yếu tố do người cho vay gây ra, thường là xác định cơ cấu khoản cho vay không hợp lý, số tiền

Trang 27

cho vay không đủ hoặc quá nhiều, không giám sát được khoản vay một cách đầy đủ Nguyên nhân từ phía người cho vay cũng có thể là phân tích không chính xác báo cáo tài chính, tài sản bảo đảm không đủ, hồ sơ giấy tờ không đầy đủ, người cho vay thiếu kinh nghiệm và gian lận

1.2 Quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng

Quản lý RRTD là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp hạn chế nhằm không để thất thoát vốn cho vay, tăng tối đa tiền lãi, trong khi giảm tối đa những mất mát trong phạm vi giới hạn về vốn, đạt được mục tiêu an toàn và hiệu quả, phát triển bền vững[14]

Mục tiêu của quản lý RRTD là tối đa hoá tỷ lệ thu hồi vốn, duy trì một mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, hạ thấp rủi ro và nâng cao mức độ an toàn trong kinh doanh Các ngân hàng cần quản lý RRTD phát sinh trong toàn

bộ danh mục các khoản tín dụng cũng như trong từng giao dịch cụ thể Đồng thời các ngân hàng cũng phải xem xét tới mối quan hệ giữa RRTD với các

loại rủi ro khác vì chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau

1.2.1 Quy trình quản lý rủi ro tín dụng

Quy trình quản lý rủi ro tín dụng là một quá trình liên tục bắt đầu từ khâu thẩm định đánh giá trước phê duyệt khoản vay; giải ngân; theo dõi khoản vay (bao gồm cả việc đưa ra các dấu hiệu cảnh báo sớm về tình trạng của khách hàng), quản lý các khoản nợ có vấn đề, nợ xấu (bao gồm cả việc đưa ra các giải pháp, phương án thu hồi nợ nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại cho ngân hàng), cho đến khi thu hồi vốn

Quy trình quản lý rủi ro tín dụng, gồm:

Quản lý rủi ro tín dụng thực chất là một quá trình liên tục bắt đầu từ khâu thẩm định đánh giá trước phê duyệt khoản vay; giải ngân; theo dõi khoản vay (bao gồm cả việc đưa ra các dấu hiệu cảnh báo sớm về tình trạng

Trang 28

của khách hàng), quản lý các khoản nợ có vấn đề, nợ xấu (bao gồm cả việc đưa ra các giải pháp, phương án thu hồi nợ nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại cho ngân hàng), cho đến khi thu hồi vốn.[13]

Hình 1.1: Chu trình kiểm soát tín dụng liên tục

(Nguồn: Quy trình kiểm soát tín dụng BIDV )

Trong đó:

Kiểm soát trước

khi cho vay

(1) Xây dựng chính sách và thủ tục cấp tín dụng bằng văn bản

(2) Thẩm định, đánh giá khoản vay trước khi cho vay

(3) Phê duyệt khoản vay

Kiểm soát trong

khi cho vay

(1) Xác lập Hợp đồng tín dụng (2) Giám sát quá trình giải ngân (3) Giám sát tín dụng

Kiểm soát sau

khi cho vay

(1) Theo dõi, đôn đốc thu hồi nợ (2) Tái xét cấp tín dụng và định hạng tín dụng

(3) Kiểm soát tín dụng nội bộ độc lập (4) Đánh giá lại chính sách tín dụng

Kiểm soát trước khi cho vay

Kiểm soát trong khi cho vay Kiểm soát sau

khi cho vay

Trang 29

Hình 1.2: Ngăn ngừa và xử lý rủi ro tín dụng

(Nguồn: Quy trình kiểm soát tín dụng BIDV )

Giám sát thường xuyên danh mục tín

dụng

Rà soát định kỳ hiện tượng phát sinh

Xuống hạng rủi ro tín dụng, khoản

vay bị xuống nhóm nợ xấu

Nếu không thành công

Trang 30

1.2.2 Nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng

Mặc dù các biện pháp quản lý RRTD cụ thể ở từng ngân hàng là khác nhau do khả năng và cách quản lý của từng ngân hàng hay do tính chất và mức độ phức tạp của các hoạt động tín dụng Nhưng một chương trình quản

lý RRTD đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng nói chung có những nguyên tắc cơ bản sau (Cụ thể tại ấn phẩm số 75 tháng 09/2000, Uỷ ban Basel đã đưa ra 16 nguyên tắc về quản lý rủi ro tín dụng ) như sau

1.2.2.1 Thiết lập môi trường rủi ro tín dụng phù hợp

Nguyên tắc 1: HĐQT có trách nhiệm phê duyệt và rà soát định kỳ (ít nhất

là hàng năm) chiến lược và chính sách về rủi ro tín dụng của Ngân hàng Chiến lược này phản ánh sức chịu đựng của Ngân hàng đối với rủi ro và mức độ sinh lời

mà Ngân hàng dự kiến đạt được khi phải gánh chịu các loại rủi ro tín dụng

Nguyên tắc 2: Ban điều hành phải có trách nhiệm triển khai thực hiện chiến lược rủi ro tín dụng do HĐQT phê duyệt, và xây dựng chính sách và quy trình để nhận dạng, đo lường, kiểm soát và hạn chế rủi ro tín dụng Những chính sách và quy trình này cần chỉ rõ rủi ro tín dụng trong toàn bộ hoạt động của Ngân hàng ở từng khoản tín dụng cũng như ở cấp độ quản lý danh mục

Nguyên tắc 3: Ngân hàng cần phải xác định và quản lý rủi ro tín dụng phát sinh trong tất các sản phẩm và các hoạt động Ngân hàng phải đảm bảo rằng rủi ro của các sản phẩm và hoạt động mới phải được kiểm soát và thực hiện theo quy trình quản lý rủi ro thích hợp trước khi sản phẩm và hoạt động

đó được ban hành hoặc triển khai và phải được phê duyệt trước bởi hội đồng quản trị hoặc một uỷ ban thích hợp

Các nguyên tắc này quy định ngân hàng cần phải thiết lập một môi trường rủi ro tín dụng phù hợp hay nói cách khác là phải xác định được mức độ chấp nhận rủi ro hay khẩu vị rủi ro của Ngân hàng (Risk appetite)

Trang 31

1.2.2.2 Thực hiện theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý

Nguyên tắc 4: Ngân hàng phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng được xác định rõ ràng và hiệu quả Những tiêu chí này cần bao gồm những chỉ số rõ ràng về thị trường mục tiêu của Ngân hàng và sự hiểu biết thấu đáo của người vay vốn hay đối tác, nguồn trả nợ của khách hàng cũng như mục đích và cơ cấu tín dụng

Nguyên tắc 5: Ngân hàng phải xây dựng các hạn mức tín dụng tổng thể cho mỗi khách hàng hoặc đối tác vay vốn, hoặc nhóm khách hàng có liên quan được tổng hợp lại theo các loại rủi ro khác nhau theo các phương pháp

có nghĩa và có thể so sánh được cả trong sổ ngân hàng và sổ kinh doanh cả trong và ngoài bảng tổng kết tài sản

Nguyên tắc 6: Ngân hàng cần phải có quy trình rõ ràng cho việc phê duyệt mới, sửa đổi, cấp lại hoặc tái tài trợ các khoản tín dụng hiện tại

Nguyên tắc 7: Việc cấp tín dụng phải được thực hiện trên nguyên tắc thận trọng và khách quan Cụ thể là các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân có liên quan phải được giám sát và quan tâm đặc biệt và cần có những biện pháp thích hợp để kiểm soát và giảm thiểu rủi ro trong việc cho vay

1.2.2.3 Duy trì một quy trình đo lường, kiểm soát và quản trị tín dụng phù hợp

Nguyên tắc 8: Ngân hàng cần phải có một hệ thống để thực hiện quản trị và giám sát thường xuyên, liên tục danh mục các khoản cho vay có rủi ro

Nguyên tắc 9: Ngân hàng cần phải có hệ thống giám sát điều kiện của từng khoản tín dụng, bao gồm cả việc xác định đủ mức dự phòng rủi ro tín dụng

Nguyên tắc 10: Ngân hàng cần có hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng nội

bộ để quản lý rủi ro tín dụng Hệ thống định hạng cần phải nhất quán với bản chất, quy mô và mức độ phức tạp trong hoạt động củaNgân hàng

Nguyên tắc 11: Ngân hàng phải có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích để trợ giúp cán bộ quản lý có thể đo lường rủi ro tín dụng phát sinh

Trang 32

trong các hoạt động trong và ngoài Bảng cân đối kế toán Hệ thống thông tin quản lý cần cung cấp đủ thông tin về cơ cấu của danh mục tín dụng để có thể nhận dạng các rủi ro tín dụng do tập trung vào một ngành, lĩnh vực

Nguyên tắc 12: Ngân hàng phải có hệ thống giám sát cấu trúc tổng thể

và chất lượng danh mục tín dụng

Nguyên tắc 13: Ngân hàng cần phải đánh giá đầy đủ những biến động

về điều kiện kinh tế có thể xảy ra trong tương lai khi xem xét từng khoản tín dụng cũng như danh mục cho vay của mình và cần đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong điều kiện xấu nhất (Stress testing)

1.2.2.4 Đảm bảo kiểm soát đầy đủ rủi ro tín dụng

Nguyên tắc 14: Ngân hàng phải xây dựng hệ thống rà soát, đánh giá độc lập và liên tục quy trình quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng, kết quả rà soát phải được báo cáo trực tiếp Hội đồng Quản trị và Ban điều hành

Nguyên tắc 15: Ngân hàng phải đảm bảo rằng chức năng cấp tín dụng được quản lý đúng mức và rủi ro tín dụng được kiểm soát theo các giới hạn và chuẩn mực nội bộ Ngân hàng cần thiết lập và thực thi hệ thống kiểm tra nội

bộ và các thông lệ khác để đảm bảo rằng các trường hợp ngoại lệ so với chính sách, quy trình và hạn mức được báo cáo một các kịp thời tới cấp quản lý thích hợp để xử lý

Nguyên tắc 16: Ngân hàng phải có hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản tín dụng có nguy cơ giảm sút, quản lý các khoản cho vay có vấn đề và các trường hợp nợ xấu tương tự

1.2.3 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng

1.2.3.1 Quản lý danh mục cho vay

Rủi ro là tất yếu của quá trình kinh doanh, chỉ có thể phòng ngừa chứ không thể loại trừ Vì vậy, ngân hàng luôn chấp nhận một mức rủi ro và đưa

ra các chính sách để kiểm soát rủi ro trong mức độ cho phép đã đề ra

Trang 33

Ngân hàng phải thường xuyên kiểm soát danh mục cho vay, đặc biệt là các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề để đưa ra những biện pháp xử lý kịp thời khi

có rủi ro xảy ra

Ngân hàng tiến hành phân loại nợ để phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn Ngân hàng kiểm soát đối với các khoản nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn, đây là những khoản nợ xấu của ngân hàng Ngoài ra, ngân hàng cũng cần hết sức lưu ý đến các khoản nợ cần chú ý

vì khi có biến động bất lợi xảy ra đối với hoạt động cho vay của ngân hàng, các khoản này dễ bị chuyển thành nợ xấu

Trên cơ sở phân loại nợ và phân tích nguyên nhân, thực trạng, khả năng giải quyết đối với các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề, ngân hàng đưa ra các biện pháp quản lý các khoản nợ trên để đảm bảo chất lượng tín dụng cho ngân hàng

Trường hợp người vay có khó khăn tài chính tạm thời song vẫn còn khả năng và ý chí trả nợ, ngân hàng áp dụng chính sách hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi,…

Trường hợp người vay lừa đảo và không có khả năng trả nợ, ngân hàng áp dụng chính sách phát mại tài sản đảm bảo, phong toả tiền gửi trên tài khoản, …

Quản lý danh mục cho vay có thể bao gồm:

- Miêu tả thị trường tín dụng mục tiêu của ngân hàng;

- Chính sách khách hàng; chính sách quy mô và giới hạn tín dụng;

- Xác định quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ tham gia quá trình cấp tín dụng;

- Chính sách, phương pháp xác định lãi suất, các khoản phí và thời hạn vay vốn, kỳ hạn trả nợ;

- Đánh giá tài sản thế chấp; phát hiện, phân tích và xử lý các khoản vay

có vấn đề

Trang 34

1.2.3.2 Ngăn ngừa rủi ro tín dụng

a Chính sách quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng

Hoạt động tín dụng liên quan tới nhiều bộ phận trong ngân hàng đòi hỏi phải có sự kết hợp và chỉ đạo chung, thông qua chính sách, quy tắc và sự kiểm soát chung để đảm bảo kiểm soát được rủi ro tín dụng

Chính sách quản lý rủi ro tín dụng với mục tiêu tăng trưởng tín dụng đồng thời hạn chế rủi ro tín dụng nhằm nâng cao thu nhập cho ngân hàng Chính sách quản lý rủi ro tín dụng nhằm hạn chế rủi ro như: Chính sách khách hàng, chính sách tài sản đảm bảo, chính sách bảo lãnh, chính sách đồng tài trợ,… Chính sách quản lý rủi ro tín dụng là cơ sở để hình thành nên quy trình tín dụng với những hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết, các bước cụ thể trong quá trình cấp tín dụng

Một chính sách quản lý rủi ro tín dụng tốt là một chính sách quản lý rủi

ro tín dụng được trình bày bằng những thuật ngữ chính xác, những hướng dẫn được thể hiện rõ ràng đối với các loại hình tín dụng khác nhau và phải là một ứng dụng thông minh của những nguyên tắc tín dụng thích hợp với những thay đổi của các nhân tố và môi trường kinh tế Chính sách phải vạch ra cho cán bộ quản lý khách hàng phương hướng hoạt động và một khung tham chiếu rõ ràng

để làm căn cứ xem xét các nhu cầu vay vốn

Mục đích chính của phân tích tín dụng là xác định khả năng trả nợ và ý muốn của khách hàng trong việc hoàn trả tiền vay, tìm kiếm những tình

Trang 35

huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng khi cho vay và tiên lượng khả năng kiểm soát của ngân hàng về các rủi ro đó, cũng như dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra

Phân tích tín dụng có vai trò sau:

- Phân tích tín dụng chính là cơ sở cho việc ra quyết định tín dụng Phân tích tín dụng giúp ngân hàng sàng lọc được các khách hàng tốt, khách hàng tiềm năng để cho vay

- Phân tích tín dụng dự đoán các rủi ro có thể xảy ra sau khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, đồng thời đề xuất các biện pháp ngân hàng phải

áp dụng để phòng ngừa, hạn chế các rủi ro đó

- Việc đánh giá mức độ rủi ro của khoản tín dụng trong quá trình phân tích tín dụng giúp ngân hàng xác định được giá cả khoản tín dụng hay chính là lãi suất cho vay Khoản vay có mức độ rủi ro cao hơn sẽ có mức lãi suất cao hơn

Phân tích tín dụng là một khâu quan trọng trong quy trình tín dụng, là

lá chắn đầu tiên để phòng ngừa và hạn chế các rủi ro tín dụng có thể xảy ra đối với ngân hàng

Ngân hàng có thể xây dựng công cụ hỗ trợ cho quá trình phân tích tín dụng đó là mô hình đánh giá khách hàng Các mô hình này rất đa dạng bao gồm mô hình phân tích tín dụng cổ điển (định tính) và các mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng Phương pháp định tính có nhược điểm là mất thời gian, tốn kém, lại mang tính chủ quan Mô hình lượng hoá có ưu điểm so với phương pháp truyền thống ở chỗ là, nó cho phép xử lý nhanh chóng một khối lượng lớn hồ sơ xin vay, với chi phí thấp, khách quan, do đó góp phần tích cực trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng ngân hàng Mặc dù vậy trong phê duyệt tín dụng của các khách hàng doanh nghiệp rất nhiều ngân hàng vẫn chủ yếu dựa vào hệ thống chuyên gia (định tính) trong đánh giá các khách hàng tiềm năng Ngoài ra, các mô hình này không loại trừ nhau nên một ngân hàng có thể sử

Trang 36

dụng nhiều mô hình để phân tích, đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng Ở Việt Nam hiện nay, các ngân hàng thương mại đang bắt đầu vào quá trình xây dựng các mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng, điển hình là các hệ thống cho điểm tín dụng, xếp hạng khách hàng và vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp truyền thống để đánh giá rủi ro tín dụng

Phương pháp phân tích tín dụng là cách thức xử lý thông tin để đưa ra đánh giá, nhận xét Ngân hàng thường sử dụng các phương pháp sau đây để phân tích, đánh giá khách hàng:

Phương pháp truyền thống:

Khoảng 20 năm về trước, để đánh giá mức độ tin cậy của bên vay, ngân hàng thường chỉ dựa duy nhất vào phương pháp truyền thống (hay còn gọi là phương pháp chuyên gia, phương pháp phán đoán) Tuy nhiên phương pháp phân tích truyền thống có một số hạn chế là mất thời gian và mang tính chủ quan Do vậy, ngân hàng đã không ngừng cải tiến phương pháp đánh giá, phân tích tín dụng

Phương pháp chấm điểm khách hàng:

Ngày nay, một số ngân hàng đã sử dụng phương pháp chấm điểm khách hàng để lượng hóa mức độ rủi ro tín dụng người vay Phương pháp này có ưu điểm là cho phép xử lý nhanh chóng một khối lượng lớn các đơn xin vay với chi phí thấp và khách quan Phương pháp chấm điểm khách hàng sử dụng các số liệu phản ánh những đặc điểm của người vay để lượng hóa xác suất không trả được nợ

và phân loại người vay thành các nhóm có mức độ rủi ro khác nhau Để sử dụng phương pháp này, phải xác định được các tiêu chí về kinh tế và tài chính có liên quan đến rủi ro đối với từng nhóm khách hành cụ thể

Các mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng trên đây cho thấy một phương pháp luận mới trong phân tích, đo lường rủi ro tín dụng Tuy nhiên để đưa vào ứng dụng trong thực tế nhà quản lý phải dựa vào cơ sở dữ liệu thống kê và

Trang 37

phần mềm máy vi tính để xây dựng các mô hình cho từng nhóm khách hàng

cụ thể Mặt khác các mô hình chấm điểm cũng thay đổi theo thời gian khi môi trường kinh tế xã hội thay đổi Các ngân hàng lớn ở các nước phát triển đã thiết lập nhiều mô hình chấm điểm khác nhau cho từng loại khách hàng và từng loại vay Đối với các ngân hàng nhỏ mô hình chấm điểm chủ yếu áp dụng cho một vài nhóm khách hàng

c Lập danh mục tín dụng

Việc lập ra các danh mục tín dụng nhằm phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng, đó là việc thực hiện cấp tín dụng cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, khu vực sản xuất kinh doanh nhằm tránh những tổn thất lớn xảy ra cho ngân hàng thương mại Phân tán rủi ro là một giải pháp chủ yếu thường được các ngân hàng thương mại áp dụng Các hình thức phân tán rủi ro chủ yếu bao gồm:

- Không tập trung cấp tín dụng cho một ngành, một lĩnh vực hay một khu vực:

Để hạn chế rủi ro không nên tập trung vốn quá nhiều vào một loại hình kinh doanh, một vùng kinh tế Đó là khuyến cáo và cũng là bài học hết sức có

ý nghĩa mà các nhà kinh doanh trước kia rút ra khi họ gánh chịu những thiệt hại, đổ vỡ do không tuân thủ những nguyên tắc này

Chính vì vậy một ngân hàng thương mại nên coi đây như một giải pháp hữu hiệu cho công tác phòng ngừa rủi ro

Khi ngân hàng tập trung cấp tín dụng vào một lĩnh vực kinh tế sẽ giống như “Bỏ trứng vào một rổ” điều đó có nghĩa là: khi lĩnh vực kinh tế mà ngân hàng tập trung vốn đầu tư gặp phải những biến động bất lợi thì thiệt hại của ngân hàng sẽ là vô cùng lớn

Như vậy phân tán rủi ro hay chia nhỏ lĩnh vực đầu tư, khu vực đầu tư là một biện pháp cho các ngân hàng thương mại trong phòng chống rủi ro

- Không nên dồn vốn đầu tư vào một hoặc một số khách hàng

Trang 38

Cùng với mục đích như trên là phân tán rủi ro, đây là lời khuyến cáo quan trọng cho việc ra quyết định cấp tín dụng của ngân hàng Cho dù một khách hàng kinh doanh hiệu quả hay có quan hệ lâu năm với ngân hàng thì yêu cầu trên vẫn cần được tuân thủ bởi vì nếu khách hàng gặp khó khăn rủi ro đột xuất xảy ra thì ngân hàng cũng chịu tổn thất lớn, hơn nữa những thay đổi trong chu kỳ kinh doanh của khách hàng là khó tránh khỏi

- Đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng

Đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng có tác dụng phân tán rủi ro theo danh mục tài sản, giảm thiệt hại xảy ra khi có rủi ro đối với một vài loại tài sản nhất định

- Cho vay đồng tài trợ

Là hình thức cho vay của một các tổ chức tín dụng cho một dự án đầu

tư và do một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối giữa các bên để thực hiện tài trợ

Mục đích: Nâng cao hiệu quả trong hoạt động cho vay, giúp ngân hàng thương mại phân tán được rủi ro mà vẫn không bị mất nguồn thu từ phương

án kinh doanh khả thi

Các tổ chức tín dụng tham gia đồng tài trợ, phải ký kết với nhau một hợp đồng mà ở đó ghi rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng thành viên tham gia đồng tài trợ Do đó khi rủi ro xảy ra gánh nặng sẽ được phân tán cho mỗi đơn vị chịu một phần rủi ro tương ứng với mức vốn tham gia của mình

d Kiểm tra, giám sát sau khi cho vay

Trong quan hệ tín dụng một trong những khả năng dẫn đến rủi ro tín dụng là rủi ro đạo đức hay còn gọi là tâm lý ỷ lại Để hạn chế rủi ro đạo đức, người ta thường dùng cơ chế giám sát (monitoring) Trong cơ chế giám sát, ngân hàng thường thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay theo định kỳ

Trang 39

Trong các hợp đồng tín dụng, luôn có điều khoản yêu cầu khách hàng vay cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tín liên quan đến tình hình hoạt động, những thay đổi tác động nhiều đến bên vay Ngoài ra, ngân hàng còn sử dụng các hệ thống giám sát khác như hệ thống thông tin tín dụng, thông tin trên thị trường chứng khoán, thông tin từ các đối thủ cạnh tranh, các cơ quan quản lý Trong hệ thống giám sát nêu trên, hệ thống thông tin tín dụng thường do ngân hàng trung ương hoặc cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng thiết lập và tổ chức hoạt động Hệ thống thông tin tín dụng làm nhiệm vụ thu thập tất cả các thông tin liên quan đến hoạt động của tất cả các đối tượng được cấp tín dụng và sẽ cung cấp cho các thành viên trong hệ thống thông tin này hoặc cung cấp (bán) cho những đối tượng khác có nhu cầu Ngoài ra, ở các thị trường tài chính phát triển, còn có một hệ thống giám sát khác rất hiệu quả đó

là các tổ chức đánh giá, xếp loại độc lập như S&P, Moody, Vì kết quả xếp loại của các tổ chức độc lập này có ảnh hưởng rất lớn đến ví trị của một doanh nghiệp trên thị trường

Rủi ro đạo đức không chỉ được hạn chế bằng cơ chế giám sát mà còn được giảm thiểu bằng cơ chế khuyến khích Các tổ chức tín dụng sẽ cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, phí, hạn mức tín dụng, tài sản đảm bảo cho những khách hàng có uy tín trong quan hệ, vay trả sòng phẳng Ngược lại, đối với các khách hàng không có uy tín trong quan hệ sẽ bị hạn chế hạn mức tín dụng (thậm chí chấm dứt quan hệ tín dụng), phải chịu lãi suất cao và những điều kiện khắt khe hơn về đảm bảo tiền vay

1.2.3.3 Giảm thiểu hậu quả của rủi ro tín dụng

* Lập quỹ dự phòng rủi ro

Ngân hàng phải lập quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất Dựa trên tỷ lệ rủi ro chấp nhận và danh mục các khoản cho vay rủi ro, ngân hàng lập quỹ dự phòng Các khoản dự phòng được trích lập đối với các khoản nợ từ nhóm nợ đặc biệt

Trang 40

chú ý đến nhóm nợ có khả năng mất vốn theo tỷ lệ tăng dần Quỹ này không có tác dụng giảm rủi ro mà để chống đỡ cho vốn của chủ khi tổn thất xảy ra

* Bán các khoản cho vay

Các ngân hàng thường bán những khoản cho vay để giảm thiểu rủi ro Thông thường, ngân hàng bán nợ vẫn giữ quyền phục vụ đối với các khoản cho vay được bán Với quyền này thì ngân hàng có thể có thu nhập từ lệ phí quản lý khoản vay từ việc thu nợ rồi chuyển các khoản phải thu này cho những người mua nợ, ngân hàng cũng đồng thời giám sát hoạt động của người

đi vay nhằm bảo đảm rằng người đi vay tôn trọng mọi điều khoản của hợp đồng vay vốn

Hoạt động bán nợ gồm hai loại chính: bán nợ tham gia (participation loan) và chuyển nhượng nợ (assignment) Với loại thứ nhất, người mua nợ không phải là một bên trong hoạt đồng tín dụng giữa ngân hàng với người đi vay Chỉ trong trường hợp có những thay đổi quan trọng trong hợp đồng tín dụng thì người mua mới có thể tác động đến các điều khoản của hợp đồng tín dụng Vì vậy, người mua phải đối mặt với rủi ro lớn, như ngân hàng bán khoản cho vay bị phá sản hoặc người đi vay không có khả năng trả nợ Vì thế, người mua phải theo sát cả người đi vay lẫn ngân hàng bán Do những hạn chế này, phần lớn các khoản cho vay được bán dưới dạng chuyển nhượng nợ (assignment) Với phương pháp này, quyền sở hữu khoản cho vay được chuyển cho người mua và người mua có quyền yêu cầu trực tiếp với người đi vay Trong một số trường hợp, điều này có nghĩa người đi vay phải đồng ý với việc bán khoản nợ của họ trước khi sự chuyển nhượng được thực hiện Một hình thức bán nợ thứ ba, gần giống với bán nợ tham gia là bán nợ từng phần (loan strip) Ngân hàng chia một khoản nợ dài hạn thành các khoản nợ ngắn hạn, thường có kỳ hạn rất ngắn khoảng vài ngày hoặc vài tuần, tổ chức mua nợ sẽ được được một phần trong tổng số tiền lãi của khoản cho vay

Ngày đăng: 17/09/2020, 23:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w