1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp Việt Nam : Luận văn ThS. Kinh tế: 60 31 01

105 24 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biểu đồ 2.11: Tỷ suất lợi nhuận của 1 đồng vốn của doanh nghiệp công nghiệp phân theo ngành 52 BIỂU 2.12: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT GO Tổng giá trị

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-  -

VŨ ĐÌNH KHOA

CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CÔNG NGHIỆP VIỆT

Trang 2

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG

NGÀNH CÔNG NGHIỆP

1.1.1 Hệ thống ngành kinh tế quốc dân theo hệ thống tài

khoản quốc gia (SNA_System of National Accounts) 12 1.1.2 Các nhóm ngành thuộc ngành công nghiệp theo

hệ thống tài khoản quốc gia Việt Nam 12

1.1.3 Khái niệm tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng 13 1.1.4 Khái niệm chất lượng tăng trưởng 13

1.2.1 Thước đo tốc độ tăng trưởng ngành 17 1.2.2 Thước đo chất lượng tăng trưởng ngành kinh tế 18

1.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỐC ĐỘ VÀ CHẤT LƯỢNG

1.4.1 Các lý thuyết về quan hệ giữa tốc độ và chất lượng

1.4.2 Vai trò chất lượng tăng trưởng công nghiệp 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH CÔNG

NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (1991 - 2005)

Trang 3

2.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành

2.2.6 Biến động môi trường do phát triển công nghiệp 63

2.3 BÀI HỌC TĂNG TRƯỞNG CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 4

để thay thế hàng hoá nhập khẩu tiến tới xuất khẩu

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CÔNG

NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (2006 - 2020)

3.1 XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

3.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện nâng cao

3.1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra thách thức

nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp 83

3.2 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

3.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG

3.3.1 Tăng cường huy động nguồn vốn cho

3.3.5 Gắn tăng trưởng công nghiệp với bảo vệ môi trường 94 3.3.6 Cải thiện môi trường chính sách, pháp luật, đầu tư 95

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 : Cơ cấu lao động trong các cơ sở sản xuất công nghiệp

Bảng 2.2: Cơ cấu sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994)

phân theo ngành công nghiệp (1991 – 2005) 44

Bảng 2.3: Cơ cấu sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994)

phân theo ngành công nghiệp (1995 – 2005) 45

Bảng 2.4: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994)

phân theo hình thức sở hữu 46

Bảng 2 5: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994)

Bảng 2 6: Năng suất lao động ngành công nghiệp giai đoạn (1995 - 2005) 50

Bảng 2 7: Năng suất lao động theo ngành công nghiệp (1995 -

Bảng 2 8: Tỷ suất lợi nhuận 1 đồng vốn SXKD của doanh nghiệp

công nghiệp phân theo sở hữu (không gồm cá thể) 51

Bảng 2 9: Tỷ suất lợi nhuận của 1 đồng vốn SXKD của doanh nghiệp

công nghiệp phân theo ngành (không gồm cá thể) 52

Bảng 2 10: Các nguồn tăng trưởng công nghiệp Việt Nam 1991 –

Bảng 2.11: Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp 1991 – 2005 56

Bảng 2 12: Cơ cấu chi phí trung gian ngành công nghiệp (theo giá thực tế) 57

Bảng 2 13: Tỷ lệ chi phí trung gian trong giá trị sản xuất

ngành công nghiệp (theo giá thực tế) 57

Bảng 2 14: Tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp

công nghiệp Việt Nam 1991 – 2005 59

Trang 6

nghiệp

Bảng 2 16: Tỷ trọng công nghệ cao, trung bình, thấp tính theo giá trị

sản xuất (giá thực tế) của ngành công nghiệp chế biến 61

Bảng 2 18: Tỷ lệ xuất khẩu công nghiệp Việt Nam giai đoạn 1996 –

Bảng 2 19: Bảng so sánh giá hàng hoá sản xuất trong nước với

hàng hoá nhập khẩu tại cảng Việt Nam (năm 2005) 63

Bảng 2 20: Đánh giá chung về ô nhiễm môi trường của các

Bảng 2 21: Chỉ tiêu thực tế sử dụng nước của một số

Bảng 2 22: Chỉ tiêu thực tế tiêu hao năng lượng của một số

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

BIỂU ĐỒ 2.1: CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG CÁC CƠ SỞ SẢN

XUẤT CÔNG NGHIỆP

PHÂN THEO HÌNH THỨC SỞ HỮU, NĂM 1991

39

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu lao động trong các cơ sở sản xuất công nghiệp

phân theo sở hữu, năm 1995 39

BIỂU ĐỒ 2.3: CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG CÁC CƠ SỞ SẢN

XUẤT CÔNG NGHIỆP

PHÂN THEO SỞ HỮU, NĂM 2000

40

BIỂU ĐỒ 2.4: CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG CÁC CƠ SỞ SẢN

XUẤT CÔNG NGHIỆP

PHÂN THEO SỞ HỮU, NĂM 2005

40

Biểu đồ 2.5: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994)

phân theo ngành công nghiệp, giai đoạn (1991 – 2005) 44

BIỂU ĐỒ 2.6: CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Trang 8

Biểu đồ 2.11: Tỷ suất lợi nhuận của 1 đồng vốn của doanh nghiệp

công nghiệp phân theo ngành 52

BIỂU 2.12: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GO Tổng giá trị sản xuất (Gross Output)

FTA KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO (FREE TRADE AREA)

NSLĐ Năng suất lao động

TỔ CHỨC CÁC NƯỚC CÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN CỦA

LIÊN HIỆP QUỐC (UNITED NATIONS INDUSTRIAL

DEVELOPMENT)

USD Đơn vị tiền tệ Hoa kỳ (United States Dollar)

Trang 9

VA GIÁ TRỊ GIA TĂNG (VALUE ADDED)

WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong 15 năm (1991 - 2005) đổi mới, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì mức cao, trung bình hàng năm giai đoạn này là 7,2%/năm, trong đó ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân 13,5%/năm với tốc độ tăng trưởng này ngành công nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Giai đoạn

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm

Tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân hàng năm

Tỷ trọng công nghiệp trong GDP bình quân hàng năm

(Nguồn: Tổng cục thống kª)

Trang 10

Tû träng c«ng nghiÖp trong GDP b×nh qu©n hµng n¨ m

Vì vậy chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp có tác động to lớn đến chất lượng tăng trưởng nền kinh tế như thế nào? Thực trạng nền công nghiệp đóng góp cho tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Việt Nam được bao nhiêu? Để đạt được mục tiêu mà đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt

ra “đến năm 2020, Việt Nam cơ bản là nước công nghiệp” ngành công nghiệp phải đi đầu và là đầu tàu của nền kinh tế Việt Nam, vậy ngành công nghiệp muốn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó trong thời gian tới cần phải làm gì?

Chính vì những lý do trên đã thôi thúc tác giả nghiên cứu đề tài “Chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp Việt Nam" giai đoạn 1991 - 2005

2 Tình hình nghiên cứu

Để khẳng định sự lựa chọn con đường „„Đổi mới‟‟ của Đảng và Nhà nước ta là đúng đắn, thời gian vừa qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vai trò ngành công nghiệp Việt Nam trong 20 năm đổi mới:

Bộ công nghiệp (2005), ‟‟60 năm công nghiệp Việt Nam‟‟, NXB Lao động – Xã hội, tác phẩm điểm lại quá trình phát triển nền công nghiệp Việt Nam

từ ngày lập nước và những thành tựu mà ngành công nghiệp Việt Nam đạt được trong nhưng bối cảnh lịch sử hết sức khó khăn

Viện chiến lược và chính sách công nghiệp „„Công nghiệp Việt Nam 1945 – 2010‟‟, NXB Thống kê, tác phẩm là tập hợp các bài viết của các chuyên gia

Trang 11

trong ngành công nghiệp viết về những giai đoan đã qua của ngành công nghiệp

và dự báo ngành công nghiêp Việt Nam đến năm 2010

Tổng cục thống kê „„Số liệu công nghiệp Việt Nam 1989 – 2005‟‟, NXB thống kê, tác phẩm là nguồn số liệu về các ngành công nghiệp phân theo thời gian, phân theo sở hữu và không gian địa lý

Bên cạnh những đóng góp của các tác phẩm trên, người đọc vẫn còn thấy những hạn chế như: tác phẩm mới chỉ mang tính chất thống kê, điểm lại những thành tựu và một vài những hạn chế phát triển Vì vậy, trong đề tài này tác giả muốn tập trung nghiên cứu “Chất lượng tăng trưởng công nghiệp Việt Nam‟‟ nhằm làm rõ hơn chất lượng của quá trình tăng trưởng giai đoạn 1991 – 2005, đóng góp của chất lượng tăng trưởng công nghiệp đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam, bài học rút ra từ chất lượng tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 1991 – 2005, giải pháp để nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp giai đoạn tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu vào quá trình tăng trưởng và phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam giai đoạn 1991 – 2005 và phân tích yếu tố tác

Trang 12

động đến tăng trưởng và phát triển, sử dụng các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của tăng trưởng công nghiệp giai đoạn này

Vấn đề chất lượng tăng trưởng công nghiệp do nhiều yếu tố tác động, nhiều quan điểm khác nhau về đánh giá chất lượng, nhưng luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ kinh tế chính trị như quan hệ sản xuất, phân phối trao đổi, sở hữu

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng để chứng minh tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp có được là nằm ngoài ý muốn chủ quan quan của con người Đồng thời xem xét tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng công nghiệp trong mối quan hệ tác động với các ngành, lĩnh vực khác trong nền kinh tế, các trào lưu phát triển công nghiệp trên thế giới

Phương pháp trừu tượng hoá khoa học được sử dụng để gạt bỏ các yếu tố đơn giản, ngẫu nghiên, tạm thời tác động, giữ lại những yếu tố điển hình, ổn định, đại diện từ đó tìm ra bản chất của tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương khác như: Phương pháp thống

kê, phương pháp phân tích, phương pháp mô hình toán, phương pháp logic

6 Đóng góp của luận văn

Hệ thống hoá lý thuyết tăng trưởng, đánh giá chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp trên cơ sở đó ứng dụng đánh giá chất lượng tăng trưởng công nghiệp Việt Nam trong 15 năm (1991-2005) đổi mới Từ những đánh giá đó rút

ra bài học cho chiến lược phát triển công nghiệp trong giai đoạn (2006 – 2020)

Đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Trang 13

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh muc tài liệu tham khảo, luận văn gồm

NGÀNH CÔNG NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM TỐC ĐỘ VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH.

1.1.1 Hệ thống ngành kinh tế quốc dân theo hệ thống tài khoản quốc

gia (SNA_System of National Accounts)

Ngành trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) phân theo hoạt động sản xuất Ngành bao gồm tất cả các đơn vị cơ sở cùng một loại hoạt động sản xuất

Trang 14

Như vậy, ngành không phải bao gồm các đơn vị sản xuất mà bao gồm các đơn vị

cơ sở giống nhau thuộc các đơn vị sản xuất khác nhau Trong phân tích kinh tế

vĩ mô ở mức độ gộp nhất người ta phân nền kinh tế thành ba ngành: Nông nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ Phân ngành hoạt động được sắp xếp theo thứ

tự từ các sản phẩm khai thác trong tự nhiên (khu vực I), chế biến (khu vực II), hoạt động dịch vụ (khu vực III)

Bảng phân ngành theo nghị định số 75/NĐ_CP ban hành ngày 27/10/21993 (có hiệu lực từ ngày 01/01/1994) Việt Nam có 20 ngành cấp I Các ngành cấp I được chi tiết thành 60 ngành cấp II Các ngành cấp II được chi tiết thành 159 ngành cấp III Các ngành cấp III được chi tiết thành 299 ngành cấp

IV

1.1.2 Các nhóm ngành thuộc ngành công nghiệp theo hệ thống tài

khoản quốc gia Việt Nam

Công nghiệp là ngành sản xuất của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân,

có các hoạt động sản xuất chủ yếu là: khai thác; chế biến; sản xuất & cung ứng điện, nước, khí đốt

Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản nhằm khai thác các tài nguyên thiên nhiên sẵn có trong tự nhiên để tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến hoặc tích luỹ tư bản cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá

Ngành công nghiệp chế biến là ngành mà thực chất hoạt động biến vật chất tự nhiên thành dạng vật chất có tính năng, tác dụng phù hợp với nhu cầu và khả năng sử dụng của con người, biến vật chất thành của cải vật chất

Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước, khí đốt thuộc các ngành kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội cần thiết cho mọi ngành, mọi lĩnh vực của sản xuất, đời sống xã hội

1.1.3 Khái niệm tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một kỳ nhất định (đơn vị thời gian thường là một năm) Khi đo lường tăng trưởng người ta thường hay dùng các số đo tuyệt đối và các số đo tương đối:

Trang 15

Mức tăng trưởng tuyệt đối:

t

t Y Y

Mức tăng trưởng tương đối (tốc độ tăng trưởng): là tỷ lệ phần trăm (%)

của giá trị sản lượng kỳ sau so với kỳ trước

1.1.4 Khái niệm chất lượng tăng trưởng

Từ khi kinh tế học ra đời các trường phái kinh tế cố gắng xây dựng cho mình lý thuyết hoặc mô hình kinh tế để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng, các yếu tố của tăng trưởng, yếu tố quan trọng nhất, mối quan hệ giữa tăng trưởng và giải quyết các vấn đề xã hội Tuy nhiên, các mô hình này mới chủ yếu tập trung vào phân tích và đánh giá sự tăng trưởng kinh tế vế số lượng còn về mặt chất lượng tăng trưởng kinh tế thì chưa được nhắc đến nhiều

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng tăng trưởng Có quan điểm cho rằng chất lượng tăng trưởng được đánh giá ở đầu ra Sự tăng trưởng tạo ra cho con người có cuộc sống vật chất và tinh thần ngày một tốt hơn, tiến bộ trong bình đẳng thu nhập, bình đẳng giới, môi trường sống ngày một tốt đẹp

Quan điểm cho rằng cùng đạt được tốc độ tăng trưởng như nhau nhưng nền kinh tế nào sử dụng ít các yếu tố đầu vào và đòi hỏi các yếu tố đầu vào dễ

Trang 16

hơn thì nền kinh tế đó có hiệu suất sử dụng nguồn lực tốt hơn có chất lượng tăng trưởng cao hơn

Quan điểm khác cho rằng với những nguồn lực tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế nào tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn thì có chất lượng tăng trưởng tốt hơn

Tóm lại cho đến nay chưa có một khái niệm chính thức về chất lượng tăng trưởng, phần tiếp theo sẽ giới thiệu quan niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế của các nhà khoa học trong nước và quốc tế

Quan niệm 1: Chất lượng tăng trưởng kinh tế đồng nghĩa với cơ cấu kinh

tế tiến bộ Cơ cấu tăng trưởng thể hiện ở chỉ tiêu tỷ lệ phần trăm đóng góp của các ngành vào tăng trưởng và tỷ trọng đóng góp các bộ phận trong 100% giá trị sản lượng Ví dụ như tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp và xây dựng Việt Nam năm 2005 là 10,6% trong đó công nghiệp khai thác đóng góp 3,5%; công nghiệp chế biến đóng góp 4,2%; công nghiệp điện, khí đối, nước đóng góp 2,7% Cơ cấu tăng trưởng công nghiệp cụ thể: công nghiệp khai thác chiếm tỷ trọng 25,6%, công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng 50,5%, công nghiệp điện, khí đốt, nước chiểm tỷ trọng 23,9%

Chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp ngày càng cao khi mà cơ cấu ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng tiến bộ, điều này có nghĩa là trong ngành công nghiệp tăng tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp điện, khí đốt, nước xây dựng, giảm tỷ trọng ngành công nghiệp khai thác Bởi vì ngành công nghiệp khai thác có hàm lượng chất xám thấp nên giá trị gia tăng thấp và ngành này phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên

Quan niệm 2: Dùng thước đo hiệu quả kinh tế để đánh giá chất lượng

tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế có hai phương thức:

Tăng trưởng theo chiều rộng là sự gia tăng sản lượng nền kinh tế nhờ gia tăng các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, tài nguyên, khoa học kỹ thuật)

Tăng trưởng theo chiều sâu là sự gia tăng sản lượng nhờ gia tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, tăng cường sử dụng khoa học công nghệ

Trang 17

Hiện nay, trên thế giới tăng trưởng theo chiều sâu rất phổ biến ở các nước phát triển, tại những nước này các nguồn lực cho tăng trưởng theo chiều rộng đã được huy động gần hết nên muốn tăng trưởng buộc phải phải tăng trưởng theo chiều sâu ngoài ra không còn con đường nào khác Đối với các nước đang phát triển thì tăng trưởng theo chiều rộng vẫn là chủ đạo

Trong bối cảnh đi lên của nền kinh tế thế giới, con người sẽ đi qua nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, nền kinh tế tri thức có những ưu điểm vượt trội so với nền kinh tế truyền thống, thước đo sự vượt trội này là hiệu quả

Quan niệm 3: Chất lượng tăng trưởng kinh tế phản ánh bởi khả năng cạnh

Quan niệm 4: Chất lượng tăng trưởng kinh tế góp phần giải quyết hiệu

quả các vấn đề xã hội Tăng trưởng kinh tế là nguồn gốc gia tăng của cải xã hội,

sự gia tăng đó chỉ có ý nghĩa khi được phân phối công bằng hiệu quả, tham gia tích cực giải quyết các vấn đề xã hội như nâng cao thu nhập cho người dân, giảm thất nghiệp, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo

Quan niệm 5: Chất lượng tăng trưởng kinh tế là phát triển bền vững

Theo UNEP: Phát triển bền vững là một sự phát triển lành mạnh, trong đó

sự phát triển của cá nhân này không làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác,

sự phát triển của cá nhân không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng, sự phát triển của cộng đồng này không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng khác, sự phát triển của thế hệ hôm nay không xâm phạm đến lợi ích của các thế hệ mai sau và sự phát triển của loài người không đe doạ sự sống còn hoặc làm suy giảm nơi sinh sống của các loài khác trên hành tinh

Trang 18

Thông qua kết quả thống kê của WB, mức độ ô nhiễm môi trường tăng dần theo tốc độ tăng trưởng kinh tế cho tới khi thu nhập bình quân đầu người đạt tới 12.000USD/người/năm, thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng thì chất lượng môi trường giai đoạn tiếp theo được cải thiện rõ rệt

Quan niệm 6: Một vấn đề kinh tế do càng nhiều yếu tố quyết định thì chất

lượng tăng trưởng kinh tế càng cao và ngược lại

Một số nhà kinh tế học đã đưa ra những khái niệm đầy đủ hơn về chất lượng tăng trưởng kinh tế:

Theo quan điểm của Thoms, Dailami và Dhareshwar: chất lượng tăng trưởng kinh tế được thể hiện trên hai khía cạnh: tốc độ tăng trưởng cao cần được duy trì trong dài hạn và tăng trưởng cần phải đóng góp trực tiếp vào cải thiện một cách bền vững và xoá đói giảm nghèo

Theo quan điểm của một số nhà kinh tế học nổi tiếng gần đây như Lucas, Sen, Stiglitz, thì cùng với quá trình tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng được biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính sau: (1) yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cao, đảm bảo cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động bên ngoài; (2) tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; (3) tăng trưởng đi kèm với phát triển môi trường bền vững; (4) tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến lượt nó thúc đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn; (5) tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và giảm đói nghèo

Theo quan điểm của Lê Xuân Bá (Viện quản lý kinh tế trung ương – CIEM), chất lượng tăng trưởng kinh tế thể hiện nhất quán và liên tục trong suốt quá trình tái sản xuất xã hội Chất lượng tăng trưởng kinh tế thể hiện cả ở yếu tố đầu vào như việc quản lý và phân bổ các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất, lẫn kết quả đầu ra của quá trình sản xuất với chất lượng cuộc sống được cải thiện, phân phối sản phẩm đầu ra đảm bảo tính công bằng và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái Chất lượng tăng trưởng kinh tế thể hiện sự bền vững của

Trang 19

tăng trưởng và mục tiêu tăng trưởng dài hạn, mặc dù tốc độ tăng trưởng cao trong ngắn hạn là những điều kiện rất cần thiết

Theo quan điểm của Lê Huy Đức (Giảng viên khoa Kế hoạch và phát triển - trường Đại học Kinh tế quốc dân): chất lượng tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế dùng để chỉ tính ổn định của trạng thái bên trong vốn có của quá trình tăng trưởng kinh tế là tổng hợp các thuộc tính cơ bản hay đặc tính tạo thành bản chất của tăng trưởng kinh tế trong một hoàn cảnh và giai đoạn nhất định

Từ những quan điểm và khái niệm nêu trên, tác giả khái quát chất lượng tăng trưởng như sau:

Chất lượng tăng trưởng kinh tế là sự tăng trưởng bền vững dựa trên sự tăng năng suất nhân tố tổng hợp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến

bộ, tăng trưởng đi đôi với giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, ô nhiễm môi trường

1.2 ĐO LƯỜNG TỐC ĐỘ VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH

1.2.1 Thước đo tốc độ tăng trưởng ngành

1.2.1.1 Tổng giá trị sản xuất ngành (GO):

Tổng giá trị sản xuất ngành là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ ngành tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định Đây chính là doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị, ngành trong toàn

bộ nền kinh tế quốc dân hoặc giá trị sản xuất có thể tính trực tiếp từ sản xuất và dịch vụ gồm chi phí trung gian và giá trị gia tăng từ sản phẩm và dịch vụ

GIÁ TRỊ SẢN XUẤT = DOANH THU BÁN HÀNG + GIÁ TRỊ HÀNG HOÁ SỬ DỤNG KHÁC + GIÁ TRỊ THAY ĐỔI TỒN KHO

Hay:

GIÁ TRỊ SẢN XUẤT = GIÁ TRỊ GIA TĂNG + CHI PHÍ TRUNG GIAN

1.2.1.2 Giá trị gia tăng (VA):

Trang 20

Giá trị gia tăng là thước đo quan trọng của ngành công nghiệp Giá trị gia tăng phản ánh giá trị mới tạo ra thêm nhờ sự đóng góp chung của mọi người trong ngành Giá trị gia tăng khác với giá trị sản lượng ở chỗ nó không bao gồm giá trị của cải do các ngành cung cấp đầu vào cho ngành công nghiệp tạo ra, vì thế, giá trị gia tăng đánh giá giá trị thực tế của ngành công nghiệp tạo ra Giá trị gia tăng được tạo ra dùng để phân bổ cho những người đã đóng góp cho việc tạo

ra nó dưới dạng tiền lương và phụ cấp lao động, lãi suất vay vốn, thuế, lợi tức, lợi nhuận

Giá trị gia tăng là chênh lệch giữa tổng đầu ra với nguyên liệu và dịch vụ mua vào, giá trị gia tăng được tạo ra trong sản xuất và trừ đi khấu hao hay tiêu dùng vốn cố định

Giá trị gia tăng được tính theo hai phương pháp:

1.2.2 Thước đo chất lượng tăng trưởng ngành kinh tế

Chỉ tiêu giá trị sản xuất (GO), chỉ tiêu giá trị gia tăng (VA) là những chỉ

tiêu tốt nhưng không đủ để đánh giá ngành công nghiệp một cách toàn diện Muốn đo chất lượng tăng trưởng, cần xét đến nhiều chỉ số không nằm trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), để đánh giá nhiều mặt của nền công nghiệp Tuy nhiên để đánh giá chất lượng tăng trưởng, cũng cần phải giới hạn những tiêu chí trong một phạm vi

1.2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp:

Cơ cấu ngành công nghiệp thể hiện cấu trúc bên trong của ngành Cơ cấu ngành biểu hiện qua tỷ trọng của các phần tử tạo nên cơ cấu và qua các quan hệ chặt chẽ hay lỏng lẻo giữa các phần tử hợp thành Cơ cấu kinh tế ngành quyết

Trang 21

định sự phát triển hài hoà, nhịp nhàng của tất cả các phần tử tạo nên cơ cấu và cuối cùng đem lại tăng trưởng chung cho ngành

Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp được xem xét dưới các góc độ:

Ngành: Sự chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là quá trình chuyển

dịch cơ cấu ngành hẹp từ trạng thái này sang trạng thái khác theo hướng hiện đại, tiên tiến và phù hợp với điều kiện của quốc gia, mà cụ thể tăng tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp chế biến, ngành sản xuất và phân phối điện, khí và nước, ngành xây dựng, giảm tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp khai thác

Lãnh thổ: Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp nhìn nhận dưới sự bố trí lực

lượng sản xuất giữa các vùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng cần bảo đảm sự phát triển cân đối, hài hoà giữa các vùng để đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển Tuy nhiên cũng cần phải xem xét vai trò trung tâm của các vùng trọng tâm phát triển, vùng đó sẽ là nơi lôi kéo

và thúc đẩy các vùng khác phát triển theo

Sở hữu: Đa dạng hoá các loại hình sử hữu để thu hút các nguồn lực đầu tư

cho phát triển Tạo điều kiện cho loại hình sở hữu nào có tính quyết định là trung tâm cho sự phát triển nền kinh tế

1.2.2.2 Năng suất lao động ngành:

Năng suất lao động ngành được tính bằng giá trị sản xuất trên số lao động của ngành Chỉ tiêu này có thể sử dụng để so sánh hiệu quả kinh tế giữa các ngành kinh tế hoặc so sánh với các quốc gia khác Đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng để giúp cho việc cơ cấu ngành kinh tế cho phù hợp Đối với ngành công nghiệp nặng chỉ tiêu này thường thấp hơn vì kết cấu của các yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến giá trị gia tăng có thể được tạo ra

1.2.2.3 Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP_ Total Factor Productivity):

Năng suất nhân tố tổng hợp bản chất là phần làm tăng thêm năng suất chung ngoài phần tăng do cường độ vốn (lượng vốn trang bị cho 1 lao động) và

Trang 22

phần tăng năng suất lao động do gia tăng yếu tố đầu vào Năng suất lao động tăng do tác động của những nhân tố vô hình khó có thể lượng hoá Có thể hiểu TFP là kết quả của quá trình “chất lượng hoá‟‟ các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm – dịch vụ Để nhận biết TFP, phải xem xét mối quan hệ giữa kết quả đầu

ra và những yếu tố đầu vào của các quá trình tạo ra sản phẩm Phần chênh lệch của các kết quả đầu ra đạt được khi mà lượng đầu vào như nhau chính là do tác động của các yếu tố vô hình, các tác động vô hình hày được thể hiện qua TFP Trong thực tế, TFP chỉ có thể nhận biết, tính toán, đánh giá được thông qua tính toán, đánh giá sự biến đổi về chất của các yếu tố hữu hình, chủ yếu là vốn cố định và lao động

TFP là cơ sở để tạo ra và thể hiện sự phát triển bền vững của các quốc gia trong phát triển kinh tế, đó là sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, năng suất lao động cao nhưng sử dụng hợp lý các nguồn lực, không huỷ hoại môi trường TFP

sẽ tăng dần cùng với quá trình nâng cao trình độ sản xuất và quản lý Thực tế số liệu thống kê của , nhờ trình độ sản xuất cao, hiệu quả quản lý cao nên TFP ở các nước phát triển đạt mức rất cao (60 – 70% tổng mức tăng năng suất chung) Ngược lại, ở các nước đang phát triển do trình độ sản xuất còn thấp và hiệu quả quản lý kém nên TFP ở các nước chưa chiếm được ưu thế, mới chỉ chiếm từ 20 – 30% trong tổng mức năng suất chung

Các yếu tố có thể tác động đến gia tăng TFP bao gồm:

Cơ cấu kinh tế (chuyển đổi kinh tế từ lĩnh vực hay sản phẩm hàng hoá có giá trị gia tăng thấp sang lĩnh vực có giá trị gia tăng cao)

Nâng cao chất lượng lao động, đặc biệt là kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm, tác phong làm việc

Nâng cao chất lượng vốn, đặc biệt tính năng, công dụng, công nghệ của thiết bị

Cải tiến tổ chức và phương thức quản lý, đặc biệt là phát huy ưu thế của quản lý theo các quá trình và ứng dụng công nghệ thông tin

Phương pháp để tính TFP từ hàm sản xuất Cobb Douglas

Ta có hàm sản xuất:

Trang 23

Quan tâm đến tốc độ tăng của TFP cho thấy rõ việc tăng hiệu quả kinh

tế xã hội do tác động của các yếu tố vô hình nhằm chất lượng hoá các yếu tố hữu hình như nâng cao chất lượng lao động, đổi mới công nghệ, nâng cao các tính năng công nghệ cơ bản của thiết bị, đổi mới cơ chế và phương pháp quản lý đảm bảo kiểm soát quá trình và kiểm soát chất lượng sản phẩm hàng hoá Tốc độ tăng TFP có ý nghĩa lớn trong phân tích, xác định xu hướng tăng trưởng chung, vừa đặc trưng cho xu hướng phát triển theo chiều sâu, coi trọng chất xám và công nghệ Chính vì vậy, coi trọng vai trò của TFP, tăng tốc TFP trở thành quan điểm chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội bền vững của nhiều nước

1.2.2.4 Khả năng cạnh tranh của ngành:

Khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp cần xem xét dưới 3 góc độ: sản phẩm công nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp, quốc gia

+ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trong

nước:

Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất hoặc trên doanh thu thường được dùng để đo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất = Lợi nhuận sau thuế x 100%

Vốn sản xuất

Trang 24

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận sau thuế x 100%

Giá trị sản xuất

Tỷ suất lợi nhuận càng cao nghĩa là sản xuất càng hiệu quả Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tỷ suất lợi nhuận có cùng xu thế thì chất lượng tăng trưởng tốt và ngược lại

+ Khả năng cạnh tranh của hàng hoá công nghiệp trong nước:

Hàng hoá công nghiệp trong nước được chia làm hai loại: hàng hoá sản xuất phục vụ xuất khẩu và hàng hoá sản xuất phục vụ thay thế hàng nhập khẩu:

Khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu:

Tỷ lệ xuất khẩu = Giá trị xuất khẩu theo giá thực tế x 100%

Giá trị sản xuất theo giá thực tế

Tỷ lệ xuất khẩu càng cao điều này chứng tỏ sản phẩm công nghiệp của đất nước làm ra có chất lượng tốt, được các nước khác ưa chuộng nên xuất khẩu tốt

và như vậy chính là có khả năng cạnh tranh tốt và ngược lại Như vậy, nền kinh

tế tăng trưởng có chất lượng xét theo khả năng cạnh tranh phải đảm bảo sản phẩm sản xuất ra có khả năng xuất khẩu tốt, phải đảm bảo tỷ lệ giá trị xuất khẩu trong giá trị sản xuất tăng lên hoặc chí ít giữ nguyên Nếu tỷ lệ xuất khẩu giảm, điều đó có nghĩa là khả năng cạnh tranh ngày một giảm

Bên cạnh đó khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu còn thể hiện ở

tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu trong nước:

Tỷ lệ xuất khẩu sản

phẩm sản xuất từ

nguyên liệu trong nước =

Giá trị xuất khẩu sản phẩm sản xuất từ

nguyên liệu trong nước

x 100% Tổng giá trị xuất khẩu

Nếu sản phẩm xuất khẩu từ nguyên liệu trong nước càng nhiều, tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm từ nguyên liệu trong nước càng cao, thì có nghĩa là với cùng tổng giá trị xuất khẩu như nhau, chúng ta có thể thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước hơn, tận dụng được nhiều công ăn việc làm cho người dân hơn Tỷ lệ này

Trang 25

càng cao thì tăng trưởng kinh tế càng bền vững, hạn chế sự phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu của nước ngoài

Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng thể hiện sức mạnh cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu

Khả năng cạnh tranh của hàng hoá công nghiệp thay thế hàng nhập

khẩu: Trong thực tế hàng hoá thay thế nhập khẩu thường được bảo hộ bởi các

hàng rào thuế quan và phi thuế quan Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hoá, việc các nền kinh tế tham gia tích cực vào các tổ chức và các khu vực kinh tế – thương mại quốc tế cho thấy những rào cản bảo hộ này sẽ ngày càng được hạ thấp, tiến tới rỡ bỏ hoàn toàn Bởi vậy, việc đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước thay thế hàng hoá nhập khẩu là điều quan trọng để nhận biết năng lực sản xuất của đất nước

Để đo khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước so với hàng hoá nhập khẩu, ta có thể xem xét mức chênh lệch giá cả giữa hai loại hàng hoá,

tỷ trọng nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng so với tổng kim ngạch nhập khẩu, mức

độ nhập siêu của nền kinh tế

1.2.2.5 Tác động môi trường:

Đối với các nước đang phát triển giải bài toán bảo vệ môi trường quả là một vấn đề khó, khó ví nhu cầu vốn cho phát triển cần nhiều mà tích lũy thấp, mỗi quốc gia phải tự giải bài toán tối ưu nguồn vốn và tài nguyên môi trường Bài học của các nước phát triển đang phải trả giá cho việc đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng càng làm cho các nước đang phát triển lúng túng Vậy để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường cần xem xét mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với tốc độ cạn kiệt tài nguyên và mức độ ô nhiễm môi trường

Trang 26

1.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỐC ĐỘ VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG

1.3.1 Các nhân tố kinh tế

1.3.1.1 Lao động:

Lao động là yếu tố sản xuất, nguồn lực sức lao động được tính trên tổng

số người ở tuổi lao động và có khả năng lao động trong dân số Nguồn lao động với tư cách là yếu tố đầu vào, trong sản xuất, cũng giống như các yếu tố khác được tính bằng tiền, giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu sức lao động và biểu hiểu hiện ra là mức tiền lương quy định Lao động là yếu tố sản xuất đặc biệt do lượng lao động không chỉ đơn giản là số lượng (đầu người lao động hay số giờ lao động) mà bao gồm chất lượng của lao động mà người ta thường gọi là vốn nhân lực, đó là lao động có kỹ năng sản xuất, lao động có thể vận hành máy móc thiết bị phức tạp, lao động có sáng kiến

và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế Do vậy, những chi phí nhằm nâng cao trình độ người lao động - vốn nhân lực, cũng được coi là đầu tư dài hạn cho đầu vào

Đối với các nước đang phát triển sự tăng trưởng của nền kinh tế chủ yếu được đóng góp bởi quy mô (số lượng) lao động còn yếu tố vốn nhân lực của các nước này còn thấp

1.3.1.2 Nguồn vốn:

Nguồn vốn là yếu tố đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng

trưởng kinh tế Vốn sản xuất là một bộ phận của tài sản quốc gia được trực tiếp

sử dụng vào quá trình sản xuất hiện tại cùng với các yếu tố sản xuất khác, để tạo

ra sản phẩm hàng hoá Vốn sản xuất bao gồm: máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sản xuất Trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi thì tăng tổng vốn sản xuất trên đầu mỗi nhân lực

sẽ làm tăng thêm sản lượng Tuy nhiên, sự biến thiên của vốn không chỉ đơn giản như vậy, vì nó có liên quan đến nhiều yếu tố khác

1.3.1.3 Khoa học- Kỹ thuật:

Trang 27

Tiến bộ khoa học kỹ thuật là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng ở các nền kinh tế Yếu tố công nghệ bao hàm các dạng: thứ nhất, những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ; thứ hai, là áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất Sự chuyển nhượng và ứng dụng những phát minh tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất là một lợi thế lịch sử của các dân tộc, các nước kém phát triển, vì những chi phí cho việc mua kỹ thuật và công nghệ mới ở các nước đã phát triển đỡ tốn kém thời gian và của cải hơn rất nhiều so với việc phải đầu tư để có những phát minh mới

1.3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên:

Vai trò của tài nguyên được đưa vào sản xuất sản phẩm cho xã hội ngày các mất vị trí, nhưng không ai giám phủ nhận tài nguyên là lợi thế cho các nước đang phát triển trong giai đoạn đầu tích luỹ tư bản nhưng phải đảm bảo chúng được sử dụng có hiệu quả, không lãng phí Việc sử dụng tài nguyên là vấn đề có tính chiến lược, lựa chọn công nghệ để có thể sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên của quốc gia là vấn đề sống còn của phát triển Sử dụng lãng phí tài nguyên có thể được xem như sự huỷ hoại môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên

Như vậy, có thể thấy nguồn gốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố hợp thành, vai trò của nó phụ thuộc vào hoàn cảnh và thời kỳ phát triển của mỗi quốc gia Đối với các nước đang phát triển, vốn tài nguyên và lao động rẻ đóng vai trò quan trọng Ngược lại đối với các nước phát triển thì vai trò của vốn nhân

lực và tiến bộ khoa học kỹ thuật quan trọng hơn

1.3.2 Các nhân tố phi kinh tế

1.3.2.1 Thể chế chính trị - kinh tế:

Thể chế biểu hiện như một lực lượng đại diện cho ý chí của một cộng đồng, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, theo lợi ích của cộng đồng đặt ra Thể chế được biểu hiện thông qua các mục tiêu phát triển

dự kiến, các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế – xã hội, luật pháp, chế độ, chính sách là các công cụ mà bộ máy tổ chức thực hiện Thể chế chính trị – xã

Trang 28

hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng Ngược lại, một thể chế không phù hợp sẽ gây ra những cản trở, mất ổn định thậm chí đi đến chỗ phá vỡ những quan hệ cơ bản làm cho nền kinh tế đi vào suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra xung đột chính trị, xã hội

1.3.2.2 Tác phong người lao động:

Tác phong người lao động thể hiện là sự sắp xếp bố trí công việc một cách khoa học, hợp lý, đứng trước công việc thì giải quyết một cánh khẩn trương, chính xác, hiệu quả

Tác phong của người lao động là kết quả của sự tích lũy lâu dài của văn hóa, điều kiện cuộc sống và sản xuất

Tác phong của người lao động chuyên nghiệp sẽ giúp cho hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi và cao hơn Ngược lại tác phong lao động kém sẽ làm cho cá nhân người lao động khó có thể hoàn thành công việc theo yêu cầu, đôi khi làm cản trở sự phát triển của cá nhân và tổ chức kinh tế

1.3.2.3.Tổ chức quản lý:

Tổ chức quản lý là hoạt động thiết yếu, hoạt động phối hợp những nỗ lực

cá nhân nhằm thu được hiệu quả, mà nếu để mỗi người hoạt động đơn lẻ thì không thể đạt được Như vậy, tổ chức quản lý tốt là hướng người lao động nhằm đạt được mục tiêu đã định và khai thác mức tối đa tiềm năng của mỗi con người cho mục tiêu tăng trưởng và phát triển

1.3.2.4 Văn hoá - xã hội:

Văn hoá - xã hội là nhân tố quan trọng, tác động nhiều tới quá trình phát triển của mỗi quốc gia, nhân tố văn hoá - xã hội bao trùm nhiều mặt, từ tri thức phổ thông đến những tích luỹ tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ văn học, lối sống, phong tục tập quán Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia Nhìn chung, trình độ văn hoá của mỗi dân tộc là nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý

Trang 29

1.3.2.5 Cơ cấu dân tộc:

Cơ cấu dân tộc là tỷ lệ các tộc người khác nhau cùng sống tạo nên một cộng đồng quốc gia Cơ cấu này có thể phân theo chủng tộc, theo khu vực sinh sống lâu đời tạo ra những khác biệt nhất định, theo tỷ trọng số lượng trong tổng dân số Do những điều kiện sống khác nhau, đã tạo ra sự khác nhau về trình độ tiến bộ văn minh về mức sống vật chất về vị trí địa lý, vị trí chính trị – xã hội trong cộng đồng Sự phát triển của tổng thể kinh tế đem đến những biến đổi có lợi cho dân tộc này nhưng bất lợi cho dân tộc khác Đó chính là những nguyên nhân nảy sinh ra xung đột giữa các dân tộc, mà ta thường thấy hiện nay Do vậy, phải lấy tiêu chuẩn bình đẳng, cùng có lợi cho tất cả các dân tộc, nhưng lại bảo tồn được bản sắc riêng và các truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc, khắc phục được các xung đột và sự mất ổn định chung của cộng đồng Điều đó, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tăng trưởng và phát triển

1.3.2.6 Cơ cấu tôn giáo:

Vấn đề tôn giáo đi liền với vần đề dân tộc, mỗi tộc người đều theo một tôn giáo Trong một quốc gia có thể có nhiều tôn giáo, mỗi tôn giáo còn chia thành nhiều giáo phái Ngoài ra còn nhiều đạo giáo riêng mà chỉ một số tộc người tôn thờ

Mỗi đạo giáo có những quan niệm, triết lý tư tưởng riêng, ăn sâu vào cuộc sống của dân tộc từ lâu đời, tạo ra những ý thức tâm lý – xã hội riêng của dân tộc Những ý thức tôn giáo thường là cố hữu, ít thay đổi theo sự biến đổi của

sự phát triển kinh tế – xã hội Những thiên kiến của tôn giáo nói chung có ảnh hưởng tới sự tiến bộ xã hội tuỳ theo mức độ, song có thể có sự hoà hợp, nếu có chính sách đúng đắn

1.4 VAI TRÒ CỦA CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH

1.4.1 Các lý thuyết về quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng

Trang 30

Khi nghiên cứu quá trình tăng trưởng cần phải xem xét một cách đầy đủ hai mặt số lượng và chất lượng của tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ giữa mặt lượng và mặt chất của quá trình tăng trưởng là rất chặt chẽ

Chất lượng tăng trưởng kinh tế là một khái niệm mang nhiều phần định tính Nó phản ánh nội dung bên trong của quá trình tăng trưởng, biểu hiện ở phương tiện, phương thức, mục tiêu và hiệu ứng đối với môi trường chứa đựng quá trình tăng trưởng Khác với chất lượng tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng phản ánh mặt ngoài của quá trình tăng trưởng, thể hiện ở mức độ số lượng lớn nhỏ, nhanh hay chậm của việc mở rộng quy mô

Tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng là hai mặt của một vấn đề,

có quan hệ ràng buộc lẫn nhau Tăng trưởng kinh tế về mặt lượng thường diễn ra trước và là điều kiện tiền đề để đẩy mạnh, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh

tế Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng bền vững và hiệu quả, đến lượt nó góp phần tạo ra nhiều của cải, tăng thu nhập tạo điều kiện bổ sung nguồn lực cho chu kỳ sản xuất sau, và thúc đẩy việc tăng trưởng về mặt lượng Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau và tuỳ theo sự lựa chọn mô hình phát triển khác nhau mà vị trí của mặt số lượng và mặt chất lượng được đặt ra khác nhau Một số nền kinh tế đi lên từ nước đang phát triển thành nước phát triển trải qua hai giai đoạn cơ bản:

Giai đoạn đầu của quá trình phát triển nền kinh tế huy động mọi nguồn lực cho tăng trưởng về số lượng, tăng trưởng là đầu tàu kéo theo giải quyết các vấn đề khác điều này có nghĩa là giai đoạn đầu này chú trọng tăng trưởng về mặt

số lượng khi của cải đã dồi dào khi đó tự khắc nó sẽ giải quyết các vấn đề xã hội

Giai đoạn sau, khi các chỉ tiêu tăng trưởng đã đạt được một mức độ nhất định thì mới quan tâm đến vấn đề chất lượng của tăng trưởng Vấn đề đặt ra cho giai đoạn này không phải là đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng là bao nhiêu mà là tính hiệu quả và sự bền vững của các chỉ tiêu ấy như thế nào Vị trí ngày càng nâng cao của mặt chất lượng tăng trưởng là hoàn toàn phù hợp với xu thế tăng

Trang 31

trưởng dài hạn của nền kinh tế, cũng như phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững

Theo phân tích động thái thay đổi vị trí số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế như trên, có thể thấy mối quan hệ của hai mặt này cũng có những thay đổi theo từng giai đoạn

Giai đoạn đầu do quan tâm đến mặt số lượng của tăng trưởng nhiều hơn, trong nhiều trường hợp phải bỏ qua yêu cầu của chất lượng tăng trưởng Mặt số lượng và chất lượng tăng trưởng gần như là hai yếu tố đánh đổi cho nhau

Giai đoạn sau hai yếu tố này hỗ trợ lẫn nhau thúc đẩy nhau và tạo điều kiện cho nhau cùng hoàn thiện Chính việc quan tâm đến chất lượng tăng trưởng lại là cơ hội để đạt được mục tiêu về số lượng của tăng trưởng lại tạo ra những

hỗ trợ về vật chất cho việc hướng tới chất lượng tăng trưởng tốt hơn

Việc phân chia vị trí mối quan hệ của hai yếu tố số lượng và chất lượng tăng trưởng theo hai giai đoạn, như phân tích ở trên, mang tính chất tương đối Mức độ khác biệt giữa hai giai đoạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạng phát triển kinh tế – xã hội, quan điểm, chính sách của chính phủ trong quá trình lựa chọn con đường phát triển cho đất nước mình ngoài ra phải kể đến yếu tố bối cảnh quốc tế, xu hướng hội nhập cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giải quyết mối quan hệ của hai yếu tố này Đối với các nước đang phát triển có lợi thế lịch sử có thể khắc phục những khó khăn trong giải quyết mối quan hệ của hai yếu tố số lượng và chất lượng tăng trưởng, dung hoà và giải quyết đồng thời, hợp lý hoá mối quan hệ này ngay từ giai đoạn đầu của quá trình phát triển

Các nhà kinh tế thế giới đã tổng kết lại ba mô hình tăng trưởng kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng tăng trưởng:

Mô hình 1: Tăng trưởng không bền vững, quy mô của nền kinh tế được

mở rộng trong thời kỳ tăng trưởng nhanh, nhưng tại các thời kỳ khác, tăng trưởng kinh tế chậm lại và nền kinh tế suy giảm trì trệ

Mô hình 2: Tăng trưởng nhanh, mất cân đối phải trả giá bằng những tổn

thất to lớn về tài nguyên thiên nhiên, môi trường Do đánh giá thấp các loại tài sản, nguồn vốn cho nên chậm trễ trong đầu tư, hoặc đầu tư không đúng mức cho

Trang 32

các loại vốn, đặc biệt vốn nhân lực, do đó không nâng cao hiệu quả của vốn hoặc không sản sinh ra vốn mới

Mô hình 3: Tăng trưởng bền vững nhờ nguồn vốn tích luỹ từ các loại vốn

tăng lên theo thời gian một cách cân đối Chính phủ tập trung đầu tư nhiều hơn cho khu vực kinh tế công cộng như giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Vốn nhân lực được tiếp sức có giá trị tăng cao hơn, tạo điều kiện đổi mới công nghệ và tăng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP)

Như vậy, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn vốn vật chất thì không thể bền vững

1.4.2 Vai trò chất lượng tăng trưởng công nghiệp

Ngày nay, ngành công nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của nền kinh tế Việt Nam và có vai trò quyết định trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Ngành công nghiệp thúc đẩy ngành nông nghiệp và dịch vụ phát triển theo Công nghiệp vừa tạo ra thị trường vừa tạo ra những điều kiện cần thiết như tư liệu sản xuất cho các ngành khác phát triển

Chất lượng tăng trưởng công nghiệp càng ngày càng cao đồng nghĩa với việc năng suất và giá trị gia tăng ngày càng tăng cao làm gia tăng thuế, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tăng lích luỹ cho doanh nghiệp, tăng thu nhập cho dân cư, tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (1991 - 2005)

2.1 THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (1991 - 2005)

2.1.1 Quá trình phát triển ngành công nghiệp giai đoạn 1991 - 2005

2.1.1.1 Giai đoạn tiền đổi mới (1986 - 1990)

Trong giai đoạn này Nhà nước ta đã có những điều chỉnh lớn đối với nền

kinh tế nói chung và ngành công nghiệp nói riêng:

Thứ 1: Nhà nước đã ngừng đầu tư 40 công trình lớn và cắt giảm gần 300

công trình nhỏ Tập trung tới 60% vốn đầu tư của ngân sách trung ương và trên 70% vốn đầu tư của ngân sách địa phương cho 3 chương trình kinh tế lớn

Thứ 2: Trong thời kỳ này các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng

đầu tư 2990 tỷ đồng bằng 38% tổng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách cho công nghiệp của trung ương và địa phương Đây là một bước đổi mới quan trọng việc thừa nhận các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và sự chuyển đổi theo hướng giảm bao cấp của nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản

Thứ 3: Tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng giao cho

các xí nghiệp quốc doanh quyền tự chủ kinh doanh

Trang 34

Tất cả những đổi mới trên đã có tác dụng thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển Về sản xuất hàng tiêu dùng, tuy sản xuất trong nước còn kém nhưng sản lượng mỗi năm một tăng, chất lượng ngày một cao, hình thức ngày một tiến

bộ So với năm 1986 giá trị tổng sản lượng hàng tiêu dùng năm 1990 tăng 60% Hàng hoá trên thị trường dồi dào và đa dạng

Về xuất khẩu, kim ngạch năm 1990 tăng gấp hơn 3 lần so với năm 1986 Ngoài những mặt hàng truyền thống như: quặng, cao su, các mặt hàng lâm thổ sản và tiểu thủ công nghiệp, mỹ nghệ, chúng ta dần xuất khẩu dầu thô và gạo

Về sản xuất công nghiệp, giá trị tổng sản lượng năm 1990 đạt 137,51 tỷ đồng gấp 1,25 lần so với năm 1986 Bình quân hàng năm đạt tốc độ tăng trưởng 5,9% Đặc biệt các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng phát triển khá chiếm bình quân tới 40% giá trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp

Năm 1990 Nhà nước chấm dứt cơ chế kế hoạch hoá cũ, chuyển sang kế hoạch hoá định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài một số sản phẩm đặc biệt cần có chỉ tiêu pháp lệnh (điện, nhập khẩu xăng dầu, phân bón, ) các xí nghiệp được quyền gần như chủ động hoàn toàn trong sản xuất và tiêu thụ Nhà nước cũng cho phép thành lập các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, đồng thời tiến hành giải thể sáp nhập doanh nghiệp quốc doanh thua lỗ Các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh không còn được bao cấp, lại phải cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, nên gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là công nghiệp chế tạo, từ năm 1989 lâm vào tình trạng suy thoái, hàng hoá không bán được, sản xuất đình đốn, thiếu vốn, hàng loạt lao động bị thất nghiệp, nặng nhất là xí nghiệp địa phương và các cơ sở sản xuất tập thể Nhiều xí nghiệp phải ngừng sản xuất Số xí nghiệp quốc doanh do trung ương quản lý từ 681 cơ sở vào năm

1988, giảm xuống còn 666 cơ sở vào năm 1989, đến năm 1990 chỉ còn 589cơ

sở Số xí nghiệp địa phương giảm tương ứng từ 2411 xuống 2354 và đến năm

1990 chỉ còn 2173 cơ sở Các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp giảm rất mạnh từ 32.034 cơ sở xuống còn 21.901 và đến năm 1990 chỉ còn 13.086 Trong khi các doanh nghiệp tư doanh và hộ kinh doanh cá thể đều tăng Mặc dù giá trị sản lượng công nghiệp năm 1989 bị giảm, nhưng Nhà nước lại giảm được thâm hụt

Trang 35

ngân sách nhờ cắt được khoản chi phí bù lỗ tràn lan cho các doanh nghiệp, chiếm tới 1/5 tổng chi ngân sách hàng năm Điều đáng mừng là rất nhiều xí nghiệp, sau năm 1989 đã vượt qua được thử thách, đưa sản lượng năm 1990 cao hơn năm 1986 như: luyện kim đen, sản xuất thiết bị máy móc, dệt Thậm chí có

xí nghiệp vượt sản lượng năm 1988 là năm có sản lượng cao nhất trước khi suy thoái, các xí nghiệp thuộc loại này như: điện và điện tử, hoá chất, vật liệu xây dựng Kết quả là toàn ngành công nghiệp giá trị tổng sản lượng năm 1990 vượt 25% so với năm 1986, xấp xỉ bằng mức của năm 1988 Những chuyển biến thuận lợi đã góp phần làm ngành công nghiệp tiếp tục phát triển trong những năm tiếp theo

2.1.1.2 Giai đoạn 1991 - 1995

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 tiếp tục đẩy mạnh đường lối đổi mới Ngành công nghiệp đã đổi mới hoạt động của mình, dần dần thích nghi với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, nên có tiến

bộ rõ nét, đạt được kết quả đáng khích lệ Các ngành công nghiệp nặng từ địa chất, khai khoáng, luyện kim, cơ khí, điện tử, kỹ thuật điện và hoá chất đều có mức tăng trưởng khá Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của giai đoạn

1991 – 1995 của riêng ngành công nghiệp nặng đạt 19,6%

Sản xuất công nghiệp đã dần dần đi vào thế ổn định Năm 1991 tăng 10,0%, năm 1992 tăng 17,1%, năm 1993 tăng 12,7%, năm 1994 tăng 13,7%, năm 1995 tăng 14,0% Tốc độ bình quân hàng năm thời kỳ 1991 – 1995 đạt tốc

độ tăng bình quân (11%/năm) đây là mức tăng trưởng cao nhất của ngành công nghiệp từ trước đến thời điểm đó (1976 – 1980 chỉ tăng 0,6%; năm 1981 – 1985 chỉ tăng 9,5%; 1986 – 1990 tăng 5,9%)

Sở dĩ có sự tăng trưởng của ngành công nghiệp những năm 1991 – 1995 một phần bắt nguồn từ kết quả đầu tư lớn của nhiều năm trước đây cho ngành công nghiệp quan trọng như: dầu khí, xi măng Việc đẩy mạnh khai thác dầu thô, nâng cao hiệu suất sử dụng của các nhà máy lớn, các nhà máy này tuy đã hoàn thành từ những năm trước nhưng gần đây mới hoàn thiện và công suất huy động đầy đủ

Trang 36

Các công ty nước ngoài đầu tư vào nước ta ngày càng nhiều Tính đến hết năm 1993 đã có 836 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký là 7,456 tỷ đôla đến hết 10/1994 số dự án được cấp phép trên 1000 với tổng vốn đăng ký gần 10 tỷ đôla Cao nhất là đầu tư vào ngành công nghiệp, trong đó các ngành công nghiệp nặng như xi măng, cơ khí, điển tử, hoá chất, cán thép, dầu khí chiếm 36%

Sự phát triển công nghiệp giai đoạn này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh làm cho đất nước đi vào thế ổn định, đồng thời tạo những tiền đề cần thiết để nền kinh tế có khả năng phát triển nhanh hơn, vững chắc hơn trong giai đoạn sau

có tác động tiêu cực tới tình hình phát triển công nghiệp (đặc biệt là công nghiệp chế biến) trong 2 năm 1998 và 1999

Trong kế hoạch 5 năm 1996-2000, tổng giá trị sản lượng công nghiệp đạt

767811 tỷ đồng và có tốc độ tăng trưởng bình quân 13,6% (thấp hơn mục tiêu Đại hội VIII đề ra là 14-15%) Trong hai năm đầu triển khai thực hiện kế hoạch gặp nhiều thuận lợi với mức tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 14,2% vào năm 1996 và 13,8% vào năm 1997, sát với mục tiêu thấp của kế hoạch đề

ra Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 1998, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, làm cho thị trường xuất khẩu bị thu hẹp trong khi đó nhu cầu thị trường trong nước tăng chậm nên tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp chỉ đạt 12,5% vào năm 1998 và 11,6% vào năm 1999, thấp hơn so với kế hoạch

đề ra Đến năm 2000, tình hình kinh tế trong nước và khu vực đã có nhiều

Trang 37

chuyển biến tích cực và dần thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng nên phát triển công nghiệp đã bắt đầu phục hồi trở lại và đạt được tốc độ tăng trưởng cao 15,7%, cao hơn so với kế hoạch đề ra

Trong giai đoạn 1996 – 2000, các thành phần kinh tế đều tăng trưởng khá, đặc biệt khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao hơn nhiều so với khu vực công nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp trong giai đoạn này phân theo các thành phần kinh

tế cụ thể như sau:

- Công nghiệp quốc doanh trung ương tăng bình quân 9,6%/năm

- Công nghiệp quốc doanh địa phương tăng bình quân 9,6%/năm

- Công nghiệp ngoài quốc doanh tăng bình quân 11,5%/năm

- Công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng bình quân 21,8%/năm Một số sản phẩm công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao gồm: Chất hoá dẻo DOP, LPG, xút thương phẩm, xe đạp, gạch ốp lát, lốp ôtô máy kéo, sữa bột, khí, xe máy, sứ vệ sinh, phân NPK, condensat, kính xây dựng, ôtô, dầu ăn Các sản phẩm đạt mức tăng trưởng khá gồm: Động cơ diezen, lốp xe máy, thép, các loại axit cơ bản, nhựa các loại, máy biến thế, phân vi sinh, xi măng, dầu thô, sơn các loại, lốp xe đạp, săm xe máy, quần áo may sẵn, chất giặt rửa, điện thương phẩm, lắp ráp radio, đá xây dựng, săm xe đạp Các sản phẩm đạt mức tăng trưởng trung bình gồm: Giấy các loại, pin các loại, động cơ điện, lắp ráp ti vi, bia, dây điện, phân lân chế biến, khí công nghiệp, vải và sợi các loại, bột PVC, giầy dép các loại, than sạch Các sản phẩm có mức tăng trưởng kém như: Sữa hộp, phích nước, thuốc lá, gạch, quặng apatit, thuốc trừ sâu, que hàn các loại, phân đạm urê, quạt điện, các sản phẩm từ gỗ và lâm sản, than cốc

Cơ cấu tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế tiếp tục thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng của khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và giảm dần tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong nước (kể

cả quốc doanh và ngoài quốc doanh) Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp phân theo các thành phần cụ thể như sau:

Trang 38

- Năm 1996 công nghiệp quốc doanh chiếm 49,3%, công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 24% và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 26,7% giá trị sản xuất công nghiệp

- Năm 2000 công nghiệp quốc doanh chiếm 42%, công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 22,4% và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 35,6% giá trị sản xuất công nghiệp

Tỷ trọng GDP công nghiệp đã tăng lên đáng kể từ mức 23,2% năm 1996 lên mức 31,1% năm 2000, góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế Tỷ trọng GDP công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến và sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước so với GDP đều tăng Tuy nhiên, cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp vẫn chưa có sự dịch chuyển theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến Do trong thời kỳ 1996 – 2000 công nghiệp khai thác

mỏ, sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước đều đạt mức tăng trưởng bình quân cao hơn so với công nghiệp chế biến Tỷ trọng công nghiệp chế biến đạt khoảng 80% về mặt giá trị sản xuất công nghiệp nhưng chỉ chiếm khoảng 60%

về mặt giá trị gia tăng công nghiệp

Trong giai đoạn 1996 - 2000, tổng vốn đầu tư cho công nghiệp đạt 145,893 ngàn tỷ đồng (theo giá 1994) chiếm 37,1% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Trong đó nguồn vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đó là nguồn vốn đầu tư của nhà nước cho các doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn ODA, phần còn lại do tư nhân đầu tư Đầu tư trong giai đoạn này luôn bám sát các mục tiêu theo quy hoạch ngành, bám sát các lộ trình hội nhập, đảm bảo cân đối các nhu cầu của nền kinh tế Kết quả là năng lực sản xuất của nhiều ngành được nâng lên

rõ rệt, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp được nâng cao, có thêm nhiều năng lực sản xuất mới

Trong giai đoạn 1996-2000 đã tiến hành chuẩn bị đầu tư và đầu tư cho nhiều công trình trọng điểm như các công trình Thuỷ điện Yaly, Thuỷ điện Sông Hinh, Phú Mỹ 1, Nhiệt điện Phả lại 2, Nhà máy lọc dầu số 1, Đường ống Nam Côn Sơn, đầu tư các công trình xi măng Hải phòng mới, Tam điệp, đầu tư cải

Trang 39

tạo Gang thép Thái nguyên, đạm Hà bắc, Tiếp tục triển khai những chương trình trọng điểm như: Chương trình 3 triệu tấn xi măng lò đứng, Chương trình mía đường, Chương trình Khí - Điện - Đạm, Chương trình Kinh tế - kỹ thuật công nghệ vật liệu và Chương trình tự động hoá

Tổng giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp giai đoạn 1996 – 2000 đạt 34,12

tỷ USD, chiếm 66% tổng kim ngạch xuất khẩu và đạt mức tăng trưởng bình quân 29%/năm Tỷ trọng hàng công nghiệp xuất khẩu có xu hướng tăng dần và đạt 70% vào năm 2000 Một số mặt hàng công nghiệp có khả năng cạnh tranh và đạt được kim ngạch xuất khẩu cao trong thời gian này gồm: dầu thô, than đá, quặng crôm, thiếc, hàng dệt – may, hàng giầy – dép, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng điện điện tử và linh kiện Ngoài ra, còn một số mặt hàng công nghiệp chế biến mới tham gia vào thị trường xuất khẩu và bước đầu đã có những đóng góp tích cực làm đa dạng hoá mặt hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam như sữa, dầu thực vật, xe đạp, sản phẩm cơ khí nhỏ, sản phẩm nhựa, kết cấu thép,

2.1.1.4 Giai đoạn 2001 - 2005

Tốc độ tăng trưởng kinh tế 5 năm 2001 – 2005 tương đối cao và đạt mục tiêu đề ra Tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội bình quân hàng năm đạt 7,51%, cao hơn tốc độ tăng bình quân hàng năm 6,95% của kế hoạch 5 năm 1996 –

2000 Trong ba khu vực kinh tế thì khu vực công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm cao nhất Giá trị sản xuất công nghiệp năm

2005 gấp 2,1 lần so với năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 16,02%, trong đó công nghiệp Nhà nước gấp 1,73 lần, bình quân mỗi năm tăng 11,53%; công nghiệp ngoài Nhà nước gấp 2,69 lần, bình quân mỗi năm tăng 21,91%, công nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gấp 2,17 lần, bình quân mỗi năm tăng 16,8%

Trong 5 năm 2001 – 2005, nền kinh tế nước ta không những tăng trưởng tương đối cao mà cơ cấu kinh tế còn tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Khu vực công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 38,13%

Trang 40

năm 2001; 38,49% năm 2002; 39,47% năm 2003; 40,21% năm 2004; năm 2005 chiếm tới 41,04% Chuyển dịch cơ cấu ngành trong khu vực công nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến Ngành điện, ga và nước được tỷ trọng

ổn định Tỷ trọng ngành công nghiệp khai thác có xu hướng giảm Tuy nhiên, tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng không nhiều do các ngành công nghiệp gia công lắp ráp chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong sản xuất công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp những năm vừa qua tăng trưởng nhanh nhưng chủ yếu là tăng ở các ngành may mặc, giầy da, lắp ráp ô tô, lắp ráp tivi, lắp ráp xe máy

Một số thành tựu của ngành công nghiệp và xây dựng trong 5 năm (2001

- 2005), công suất điện năm tăng 4863MW, trong đó thuỷ điện 720MW, nhiệt điện than tăng 800MW, nhiệt điện khí tăng 3343MW, công suất khai thác than tăng 15,4 triệu tấn, công suất khai thác dầu thô tăng 2,2 triệu tấn; công suất khai thác khí đốt tăng 5,1 tỷ m3; công suất cán thép tăng 2390 nghìn tấn; công suất sản xuất xi măng tăng 10,1 triệu tấn; công suất sản xuất phân bón hoá học tăng

760 nghìn tấn

Tóm lại, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp qua 15 năm liên tục đạt

2 chữ số Năm 2005 so với năm 1990, quy mô giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp gấp trên 7,5 lần, bình quân tăng 14,5%/năm, một tốc độ tăng cao và ổn định trong một thời gian dài điều mà nền kinh tế nước ta chưa đạt được trong quá khứ Tăng trưởng cao của công nghiệp đạt được ở cả ba khu vực (khu vực doanh nghiệp nhà nước, khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) Tăng trưởng cao cũng đạt được trên một số địa bàn quan trọng, với tốc độ cao hơn tốc độ tăng chung, như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ, Hải Dương, Khánh Hoà, Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng Tăng trưởng cao cũng đạt được ở một số sản phẩm chủ yếu như khai thác dầu thô, than, thép can, máy công cụ, vật liệu xây dựng

2.1.2.Các yếu tố đầu vào tác động đến tăng trưởng ngành công nghiệp

2.1.2.1 Vốn

Ngày đăng: 17/09/2020, 23:35

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w