Luận văn nghiên cứu lý luận về hiệu quả tài sản ngắn hạn có vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp; phân tích thực trạng về hiệu quả sử dụng tài
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜ Đ N
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý Tài Sản Ngắn Hạn tại Công ty Cổ phần Lâm Sản Nam Định” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các nội dung của luận văn này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thế Hùng các số liệu và kết quả có được trong luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực
Tác giả
Trần Hoàng Anh
Trang 4Xin trân trọng cảm ơn toàn thể cán bộ, công nhân viên Công ty Cổ phần lâm sản Nam Định đã dành thời gian quý báu để giúp tôi có số liệu để phân tích và đánh giá; sẵn sàng cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác trong quá trình thực hiện luận văn
Em xin kính chúc Quý Thầy Cô nhà trường cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên Công ty Cổ phần lâm sản Nam Định luôn dồi dào sức khỏe và đạt được những thành công trong công việc
Hà Nội, tháng năm 2017
Trần Hoàng Anh
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂ ĐỒ iii
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤ Ơ ĐỒ iv
MỞ Đ U 1
ƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨ V Ơ Ở LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI DOANH NGHIỆP 5
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 ơ sở lý luận về quản lý tài sản ngắn hạn tại các doanh nghiệp 7
1.2.1.Khái niệm về doanh nghiệp trong nền kinh tế 7
1.2.2.Khái niệm, kết cấu và vai trò của tài sản ngắn hạn trong hoạt động của DN 8
1.2.3.Phân loại tài sản ngắn hạn và nguyên tắc hoạt động của tài sản ngắn hạn 13
1.2.4.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả Quản lý tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp 22
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại các doanh nghiệp 29
1.3.1.Các nhân tố chủ quan 29
1.3.2.Các nhân tố khách quan 34
ƯƠNG 2: ƯƠNG Á V T ẾT KẾ NGHIÊN CỨU 37
2.1.Địa điểm và thời gian nghiên cứu 37
2.2.Quy trình nghiên cứu 37
2.3 hương pháp nghiên cứu 37
2.3.1.Phương pháp thu thập số liệu 37
2.3.2.Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 38
2.3.3.Phương pháp thống kê mô tả 40
2.3.4.Phương pháp phân tích tỷ lệ 40
2.3.5.Phương pháp phân tích Dupont 41
Trang 6ƯƠNG 3: T ỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TÀI SẢN NGẮN
HẠN TẠI CÔNG TY CP LÂM SẢN N Đ NH 43
3.1.Giới thiệu về Công ty CP Lâm sản Nam Định 43
3.1.1.Quá trình hình thành và phát triển 43
3.1.2.Cơ cấu tổ chức của Công ty 44
3.1.3.Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty CP Lâm sản Nam Định từ năm 2014-2016 47
3.2.Phân tích thực trạng hoạt động quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty CP lâm sản Nam Định 51
3.2.1.Biến động tài sản ngắn hạn của Công ty 51
3.2.2.Chính sách tài trợ tài sản ngắn hạn 60
3.2.3.Hoạt động quản lý tài sản ngắn hạn 64
3.2.4.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn 69
3.3.Đánh giá chung về thực trang hoạt động quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty CP Lâm sản Nam Định 81
3.3.1.Kết quả đạt được 81
3.3.2.Hạn chế, nguyên nhân 83
ƯƠNG 4: G ẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CP LÂM SẢN N Đ NH 88
4.1.Định hướng về hoạt động quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty CP lâm sản Nam Định 2017-2020 88
4.2.Dự báo tình hình tài chính của Công ty trong thời gian tới 89
4.3.Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty CP lâm sản Nam Định 90
4.3.1.Lập kế hoạch tài sản ngắn hạn 90
4.3.2.Tổ chức tốt công tác bán hàng, thanh toán tiền hàng và thu hồi các khoản phải thu 91
4.3.3.Quản lý hàng tồn kho hiệu quả 95 4.3.4.Xây dựng bộ phận chuyên trách thực hiện công tác phân tích tài chính 96
Trang 74.3.5.Các giải pháp khác 97
4.4.Một số kiến nghị 97
4.4.1.Một số kiến nghị với Hiệp hội gỗ và lâm sản 97
4.4.2.Một số kiến nghị với nhà nước 99
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn
2 Bảng 3.2 Tình hình biến động tài sản ngắn hạn của Công ty giai đoạn 2014-2016 51
3 Bảng 3.3 Cơ cấu tài sản ngắn hạn và biến động trong cơ
cấu của Công ty trong giai đoạn 2014-2016 56
4 Bảng 3.4 Cơ cấu vốn của công ty giai đoạn 2014 - 2016 61
6 Bảng 3.6 Cơ cấu nguồn vốn chờ thanh toán 63
7 Bảng 3.7 Khả năng thanh toán của Công ty CP lâm sản Nam Định 69
8 Bảng 3.8 So sánh khả năng thanh toán của Công ty với
9 Bảng 3.9
Bảng so sánh các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán năm 2016 của công ty CP Lâm sản Nam Định và công ty CP chế biến gỗ Thuận An
71
10 Bảng 3.10 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các khoản phải thu của Công ty 73
11 Bảng 3.11 So sánh vòng quay các khoản phải thu của Công ty với trung bình ngành tại năm 2016 74
12 Bảng 3.12 Vòng quay các khoản phải thu của các doanh
nghiệp trong ngành so với trung bình ngành 75
14 Bảng 3.14 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng hàng
Trang 1014 Bảng 3.15 So sánh vòng quay hàng tồn kho của Công ty với trung bình ngành tại năm 2016 78
15 Bảng 3.16 Chỉ tiêu hệ số sinh lời tài sản ngắn hạn 79
16 Bảng 3.17
Bảng so sánh hệ số sinh lời tài sản ngắn hạn năm 2016 của của công ty CP Lâm sản Nam Định và công ty CP chế biến gỗ Thuận An
1 Biểu đồ 3.1 Quy mô tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận 49
2 Biểu đồ 3.2 Tình hình phân bổ tài sản ngắn hạn của Công ty giai
3 Biểu đồ 3.3 Cơ cấu vốn của Công ty giai đoạn 2014-2016 60
4 Biểu đồ 3.4 Cơ cấu nguồn vốn vay của Công ty giai đoạn
5 Biểu đồ 3.5 Cơ cấu nguồn vốn chờ thanh toán 63
7 Biểu đồ 3.7 Tình hình luân chuyển hàng tồn kho 78
Trang 11DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1 Mô hình dự trữ tiền mặt tối ưu Baumol 15
2 Hình 1.2 Biến động hàng tồn kho trong một chu kỳ, hàng tồn kho
3 Hình 1.3
Đường biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng tổng chi phí theo các mức sản lượng tồn kho
20
DANH MỤC Ơ ĐỒ
1 Sơ đồ 2.1 Khai triển hệ số sinh lời của TSNH 41
2 Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty CP Lâm sản Nam Định 44
Trang 12MỞ Đ U
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kinh doanh trong ngành chế biến sản phẩm lâm nghiệp luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro Rủi ro có thể xảy ra bất kỳ lúc nào ( do thiên tai, nguồn vốn, đầu vào, nhân công ) có thể làm tê liệt, thậm chí có thể đưa Công ty đến chỗ phá sản Vì vậy, Công ty phải xây dựng cho mình một hệ thống quản lý hiệu quả nhằm giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là quản lý tài sản ngắn hạn
Trải qua quá trình hoạt động hơn 25 năm ,Công ty CP Lâm Sản Nam Định
đã có những bước phát triển mạnh mẽ, tiền thân là Xí nghiệp chế biến và kinh doanh lâm sản Hà Nam Ninh, xí nghiệp là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc sở lâm nghiệp Hà Nam Ninh Ngày 25/05/1995 UBND Tỉnh ra quyết định cho phép xí nghiệp đổi tên thành Công ty Lâm Sản Nam Định Thực hiện nghị định 44/CP ngày 29/06/1998, thực hiện nghị định 44/CP của Thủ tướng Chính Phủ về việc chuyển đổi Công ty Nhà nước thành Công ty cổ phần, căn cứ quyết định 458/1999/QĐ-UP ngày 26/04/1999 của UBND Tỉnh Nam Định, Công ty đã tiến hành cổ phần hoá và lấy tên như hiện nay là Công ty Cổ phần Lâm Sản Nam Định Ngày 01/10/1999 Công ty Cổ phần Lâm Sản Nam Định đã chính thức đi vào hoạt động
Công ty cổ phần Lâm Sản Nam Định hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh và chế biến lâm sản, hàng thủ công mỹ nghệ, với các loại đồ mộc, đồ dân dụng, mộc xây dựng cơ bản, mộc công cụ,…tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Các sản phẩm mang tính chất bình dị, gần gũi với thiên nhiên đồng thời cũng rất sáng tạo, tiện dụng và hiện đại Sản phẩm được bán cho những nhà phân phối nước ngoài theo yêu cầu trong đơn đặt hàng về số lượng, mẫu mã, chất lượng….Những sản phẩm được đặt hàng nhiều nhất trong năm qua có đặc trưng là bàn ghế để màu tự nhiên, tức màu của chính vân gỗ Gỗ đã qua xử lý để có thể bền hơn với khí hậu của Châu
Âu, có thiết kế đơn giản nhưng cũng không kém phần sang trọng, phục vụ cho các
hộ gia đình khi bày trí trong vườn, trong phòng ăn, ngoài hiên… Khách hàng chính của Công ty hiện nay là tập đoàn IKEA
Trang 13Hoạt động trong nền kinh tế thị trường với xu thế hội nhập, đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp không chỉ là các doanh nghiệp trong nước mà còn là các doanh nghiệp nước ngoài Chính vì thế việc tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp trở nên khó thực hiện hơn Để có thể nắm bắt được những cơ hội và vượt lên thách thức, đứng vững trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đưa ra được những quyết định đúng đắn về vấn đề tạo lập quản lý vốn nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng sao cho có hiệu quả nhất nhằm đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho doanh nghiệp Vấn đề này không còn là mới nhưng luôn là mối quan tâm của các doanh nghiệp và người quan tâm tới hoạt động kinh doanh Hiện nay, công tác sử dụng tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn chưa cao Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong các doanh nghiệp là vấn đề hết sức cần thiết, quan trọng, nó quyết định đến sự sống còn của mỗi doanh nghiệp
Sự phát triển về công nghệ và khả năng sản xuất tăng cao, các loại hàng hóa ngày càng đa dạng và có số lượng đặt hàng tăng cao là một dấu hiệu đáng mừng Tuy vậy, cùng với đó là rủi ro khi tích trữ hàng hóa do chưa xuất cho khách hàng là
vô cùng lớn Mở rộng sản xuất đồng nghĩa với việc cải tiến kĩ thuật cùng tăng số lượng công nhân nên để đảm bảo được các quyền lợi của người lao động, Công ty cần dự trữ một khoản tiền mặt lưu động lớn trong két dẫn đến việc quản lý cũng gặp nhiều khó khăn
Bên cạnh đó, khi làm việc cùng một tập đoàn lớn như IKEA, doanh nghiệp cũng đứng trước những khó khăn về biến động trong tỷ giá đồng USD cũng như tình hình chính trị thế giới Việc hoàn toàn phụ thuộc vào một đối tượng khách hàng
là một việc rất mạo hiểm, sự khác biệt về văn hóa và phong tục tập quán cũng là một trở ngại đáng kể (Tết Nguyên Đán, Tết Dương, )
Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề quản lý tài sản ngắn hạn, tôi đã
chọn đề tài “Quản lý tài sản ngắn hạn của Công ty cổ phần Lâm Sản Nam Định” làm luận văn thạc sỹ
Trang 142 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa những cơ sở lý luận về quản lý tài sản ngắn hạn tại các Công ty sản xuất;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng của hoạt động quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty CP Lâm Sản Nam Định;
+ Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty CP Lâm Sản Nam Định
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Hoạt động quản lý tài sản ngắn hạn của các Công ty sản xuất
- Phạm vi nghiên cứu: Công ty CP Lâm Sản Nam Định trước và sau khi mở rộng quy mô sản xuất
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2014 đến 2016
4 Những đóng góp của luận văn
Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu về tài sản ngắn hạn, trên cơ sở tổng quan có chọn lọc một số quan điểm cơ bản của các nhà kinh tế học trên thế giới và một số học giả của Việt Nam, kết hợp đúc rút thực tiễn tác giả
đã đề xuất để vận dụng vào điều kiện quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty CP Lâm sản Nam Định
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, thì nội dung chính của luận văn được trình bày theo kết cấu 4 chương:
Trang 15Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý tài sản ngắn hạn tại các doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ Phần Lâm Sản Nam Định
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty
CP Lâm Sản Nam Định
Trang 16ƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨ V Ơ Ở
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI DOANH NGHIỆP 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chủ đề về quản lý tài sản ngắn hạn tại các doanh nghiệp là một vấn đề không mới Trên thực tế, đã có một số nghiên cứu trong nước về vấn đề này Luận văn đề cập đến một nghiên cứu tiêu biểu:
- Đoàn Bích Ngọc (2016), “ Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần dinh dưỡng Việt Nam”, Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu lý luận về hiệu quả tài sản ngắn hạn có vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp; phân tích thực trạng
về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần dinh dưỡng Việt Nam và
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
- Trần Thị Bích Vân (2016), “ Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Tổng Công ty Đầu tư xây dựng và thương mại Việt Nam” Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Tổng Công
ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại Việt Nam Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Tổng Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại Việt Nam
- Đinh Thị Hà (2015), “ Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH MTV Điện lực Ninh Bình”, Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn đã
hệ thống hóa cở sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Phân tích, đánh giá làm rõ bản chất và quy luật của vấn đề nghiên cứu đó là thực trạng hiệu quả
sử dụng tài sản tại Công ty TNHH MTV Điện lực Ninh Bình Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH MTV Điện lực Ninh Bình
- Trần Thị Thủy Tiên (2015), “ Quản trị tài sản ngắn hạn các Công ty cổ phần ngành nhựa trên sàn HOSE – nghiên cứu trường hợp Công ty CP bao bì nhựa Tân Tiến”, Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản
về quản trị tài sản ngắn hạn của các Công ty cổ phần ngành nhựa Qua đó, đánh giá
Trang 17thực trạng trên Công ty CP bao bì nhựa Tân Tiến và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn tại Công ty
- Cù Phương Linh (2015), “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty CP xây dựng Vina Descon Việt Nam”, Đại học Thăng Long Luận văn đề cập đến một số vấn đề về tài sản ngắn hạn và hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn; đánh giá tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn và hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty CP xây dựng Vina Descon Việt Nam; từ đó, đưa ra các giải pháp cụ thể và
có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
- Phan Thị Mai Hương (2015), “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty
Cổ phần Cấp nước Sơn Tây”, Đại học Thăng Long Luận văn đã đưa ra lý luận về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, kết hợp với việc nghiên cứu kinh nghiệm từ doanh nghiệp cùng ngành để có sự so sánh, đối chiếu Từ đó, đánh giá thực trạng của Công ty Cổ phần cấp nước Sơn Tây, áp dụng và sửa đổi bổ sung cho phù hợp nhằm mục đích nâng cao năng lực sử dụng tài sản của Công ty
- Đặng Ngọc Bích (2014), “Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Kinh Đô”, Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn đề cập đến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn; dựa trên các chỉ tiêu đó luận văn đã xây dựng bộ tiêu chí phù hợp với đặc điểm của Công ty, nhằm mạng lại giải pháp cụ thể cho Công ty để đáng giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Những công trình nghiên cứu của các tác giả trên đây đã có những đóng góp nhất định kể cả về mặt lý luận và thực tiễn trong việc quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Các công trình nghiên cứu trên đều mang tính chất đặc thù của từng ngành, từng doanh nghiệp có những loại hình kinh doanh khác nhau, đã chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu và đưa ra những giải pháp rất cụ thể cho các công ty Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu cũng có những tồn tại nhất định khi đã tính toán và phân tích các chỉ tiêu tài chính nhưng vẫn chưa đủ sâu, và chưa thấy đầy đủ được khả năng kiểm soát chi phí của doanh nghiệp
Chính vì thế, đề tài “Quản lý tài sản ngắn hạn của Công ty cổ phần Lâm Sản Nam Định” của em vừa là công trình nghiên cứu đầu tiên về tổ chức hoạt động tài
Trang 18chính và quản lý tài sản ngắn hạn Công ty cổ phần Lâm sản Nam Định vừa rút kinh nghiệm và khắc phục những hạn chế từ các đề tài nghiên cứu trược có liên quan
1.2 ơ sở lý luận về quản lý tài sản ngắn hạn tại các doanh nghiệp
1.2.1.Khái niệm về doanh nghiệp trong nền kinh tế
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu con người ngày càng được nâng cao, do đó nảy sinh các phương thức trao đổi hàng hóa Vì vậy, nó đòi hỏi các loại hình Doanh nghiệp ra đời để đáp ứng nhu cầu đó của con người
Ở Việt Nam, theo điều 4 – Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
Để có thể đánh giá về một Doanh nghiệp, chúng ta cần phải đặt nó trong mối quan hệ với các môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh đó có ảnh hưởng đến quản trị tài chính Doanh nghiệp, cụ thể là ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng
Các doanh nghiệp ở Việt Nam gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân
Trong nền kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh: Kinh doanh cá thể, Kinh doanh góp vốn, Công ty
Kinh doanh cá thể: Là loại hình được thành lập đơn giản nhất, không cần phải
có điều lệ chính thức và ít chịu sự quản lý của Nhà nước Doanh nghiệp này không phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp, tất cả lợi nhuận bị tính thuế thu nhập cá nhân Ngoài ra, chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của doanh nghiệp
Trang 19Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào tuổi thọ của người chủ Tuy nhiên, khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năng của người chủ
Kinh doanh góp vốn: Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí
thành lập thấp Theo hình thức kinh doanh này, các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ Mỗi thành viên có trách nhiệm đối với phần tương ứng với phần vốn góp Nếu như một thành viên không hoàn thành trách nhiệm trả
nợ của mình, phần còn lại sẽ do các thành viên khác hoàn trả Doanh nghiệp tan vỡ khi một trong các thành viên chính thức chết hay rút vốn Ngoài ra, lãi từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cá nhân Khả năng về vốn của doanh nghiệp này hạn chế
Công ty: Là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: lợi
ích của các cổ đông (chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và của các nhà quản lý Theo truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phương hướng, chính sách và hoạt động của Công ty cổ đông bầu nên hội đồng quản trị, sau đó hội đồng quản trị lựa chọn ban quản lý Các nhà quản lý quản lý hoạt động của Công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản
lý mang lại cho Công ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn:
Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới
Sự tồn tại của Công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng cổ đông Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào Công
ty (trách nhiệm hữu hạn)
Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với quy mô và trình độ phát triển nhất định Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với tư cách là các Công ty Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp
1.2.2.Khái niệm, kết cấu và vai trò của tài sản ngắn hạn trong hoạt động của DN
1.2.2.1.Khái niệm
Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được
Trang 20thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trừ tồn kho
Đối với doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của chúng Việc quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành các nhiệm vụ chung của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải biết rõ số lượng, giá trị mỗi loại tài sản ngắn hạn là bao nhiêu cho hợp lý và đạt hiệu quả sử dụng cao
Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản Do đó, tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn là một bộ phận của vốn sản xuất nên nó vận động và luân chuyển không ngừng trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh
Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên cũng vận động rất phức tạp và khó quản lý
Vị trí của tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh Tài sản ngắn hạn gồm:
Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân
hàng và tiền đang chuyển Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền
Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời
hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu kho
Trang 21Bạc, kỳ phiếu ngân hàng, ) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm
Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách
hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm
Tồn kho: Bao gồm vật tư, hàng hoá, sản phẩm, sản phẩm dở dang
Tài sản ngắn hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được
khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác
Xét ở góc độ kế toán, theo chuẩn mực kế toán số 21 “trình bày báo cáo tài chính”, thì tài sản ngắn hạn có những đặc trưng cơ bản sau: Được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp; hoặc được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ; hoặc là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào
Vai trò của tài sản ngắn hạn
Việc quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có vai trò rất lớn trong cơ chế thị trường cạnh tranh như hiện nay Đó là cơ sở để DN có thể tồn tại và phát triển Tài sản ngắn hạn là điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo quá trình kinh doanh được tiến hành bình thường và liên tục
Do đặc điểm của đối tượng lao động là giá trị của nó được dịch chuyển một lần vào giá trị của sản phẩm nên trong chu kỳ sau lại phải thường xuyên mua sắm dự trữ vật
tư hàng hóa để đảm bảo quá trình tái sản xuất được diễn ra thường xuyên và liên tục Giá trị tài sản ngắn hạn có hợp lý đồng bộ thì mới không làm gián đoạn quá trình SXKD
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư cũng là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp Nhu cầu lượng vật tư dự trữ ở kho nhiều hay chậm phản ánh số vật tư tiết kiệm hay lãng phí, thời gian luân chuyển và mức độ
Trang 22luân chuyển có hợp lý và đạt yêu cầu hay không Bởi vậy, thông qua sự vận động của tài sản ngắn hạn có thể đánh giá được tình hình dự trữ, tiêu thụ sản phẩm, tình hình sử dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp tự chủ trong việc sử dụng vốn, vì vậy khi muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp thì cần có thêm một lương vật tư hàng hóa nhất định để dự trữ và đưa vào sản xuất Đặc biệt vốn bằng tiền còn giúp cho doanh nghiệp nắm được các cơ hội kinh doanh tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn còn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp một cách đắc lực thanh toán và duy trì khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, giúp doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và chặn đứng nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Vì vậy, có thể nói tài sản ngắn hạn góp phần vô cùng quan trọng giúp doanh nghiệp hoạt động bình thường và đứng vững Ta có thể khẳng định tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là không thể thay thế được trong bất
cứ loại hình DN nào
1.2.2.2.Kết cấu của tài sản ngắn hạn
Kết cấu của TSNH là quan hệ tỉ lệ giữa các thành phần TSNH chiếm trong tổng số tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu TSNH cũng không giống nhau Việc phân tích kết cấu TSNH của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về TSNH mà mình đang quản lý và sử dụng Từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý TSNH có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Có thể tính
tỷ trọng của từng bộ phận TSNH cấu thành theo công thức tổng quát sau:
Tỷ trọng của từng bộ phận
Giá trị từng bộ phận TSNH
x 100 Tổng TSNH
Việc tính tỷ trọng của từng loại TSNH để nâng cao hiệu quả sử dụng, trong đó doanh nghiệp cần không ngừng cải tiến kết cấu tài sản ngắn hạn theo phương hướng chung là tăng tỷ trọng của vốn sản xuất, giảm tỷ trọng của các khoản mục vốn khác
Trang 23như vốn bằng tiền, vốn phải thu, vốn dự trữ tồn kho một cách hợp lý, tránh ứ đọng vốn gây lãng phí
1.2.2.3.Vai trò của quản lý tài sản ngắn hạn
Trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn luôn nắm giữ một vai trò vô cùng quan trọng Vậy nên để tồn tại và phát triển thì quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn nhằm đạt được hiệu quả tối đa luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp
“ Quản lý tài sản ngắn hạn là việc kết hợp sử dụng nhiều biện pháp khác nhau
để duy trì một khối lượng các tài sản ngắn hạn với cơ cấu hợp lý, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh” Việc quả lý và sử dụng tài sản ngắn hạn có tác dụng rất lớn đến việc tăng hay giảm chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm,
từ đó ảnh hưởng tới lợi nhuận – mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp
Các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của quản lý tài sản ngắn hạn bao gồm một số nội dung như sau:
+ Thứ nhất xác định nhu cầu tài sản ngắn hạn: nhu cầu TSNH trong doanh nghiệp thể hiện ở số vốn tiền tệ cần thiết mà doanh nghiệp phải ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho như: vật tư, sản phẩm dở dang, thành phần hoặc hàng hóa và các khoản phải thu khách hàng Nhu cầu TSNH sẽ thay đổi theo từng thời điểm kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Trong công tác quản trị TSNH, vấn đề quan trọng là xác định được nhu cầu TSNH tương ứng với quy mô và điều kiện kinh doanh của DN
+ Thứ hai xác định quản lý tiền và đầu tư chứng khoán ngắn hạn: tiền và các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn là tài sản đặc biệt, có tính thanh khoản cao nhưng đồng thời cũng chứa nhiều rủi ro trong việc nắm giữ Trong quá trình SXKD, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữ tiền và các khoản tương đương để đáp ứng nhu cầu thanh khoản như mua sắm hàng hóa, vất liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết Do đó, cần dự toán được nhu cầu sử dụng tiền và các khoản đầu tư tương đương
để ứng phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa được dự báo trong tương lai
Trang 24+ Thứ ba quản lý các khoản phải thu ngắn hạn: hầu như doanh nghiệp nào cũng muốn nhận tiền ngay sau khi giao dịch với đối tác, nhưng để thu hút khách hangfm các doanh nghiệp thường phải chấp nhận bán chịu trong một khoảng thời gian Tỷ lệ các khoản phải thu trong mỗi doanh nghiệp là khác nhau nhưng thường chiếm một tỷ trọng không nhỏ trên tổng TSNH của Công ty Do đó nếu khách hàng không thanh toán hoặc chậm thanh toán hơn thời hạn thì doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro trong việc quay vòng vốn Vì thế, quản lý các khoản phải thu ngắn hạn là cần thiết
để đảm bảo tiền được thanh toán đủ và đúng hạn
+ Thứ tư quản lý hàng tồn kho: trong mỗi doanh nghiệp hàng tồn kho có ý nghĩa quan trọng to lớn do đây là một trong những tài sản có giá trị lớn nhất, thông thường chiếm đến 40-50% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp Vì vậy, quản lý hàng tồn kho là quan trọng trong việc quản lý TSNH để xác định mức độ cân bằng giữa đầu tư hàng tồn kho và lợi ích để thỏa mãn nhu cầu sản xuất cũng như tiêu dùng với chi phí tối thiểu
+ Thứ năm huy động nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho TSNH: các doanh nghiệp hiện bay đều có nhu cầu mở rộng kinh doanh Tuy nhiên, nguồn vốn chủ sở hữu chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu kinh doanh Để có đủ vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải chủ động tạo ra cho mình nguồn vốn để kinh doanh Trong đó, huy động nguồn vốn ngắn hạn vừa linh hoạt nhưng cũng vừa rủi ro, bởi vậy cần có các chiến lược quản lý TSNH hợp lý để vừa giảm độ rủi ro mất khả năng thanh toán vừa giúp cho tình hình tài chính được ổn định
1.2.3.Phân loại tài sản ngắn hạn và nguyên tắc hoạt động của tài sản ngắn hạn
Quản lý tài sản ngắn hạn một cách khoa học, chặt chẽ sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Phân loại tài sản ngắn hạn chính là các nguyên tắc hoạt động mà mỗi doanh nghiệp phải tuân theo nhằm giảm thiểu rủi ro và tăng cường lợi ích của mỗi doanh nghiệp
1.2.3.1.Tiền và các khoản tương đương tiền
Là bộ phận tài sản ngắn hạn tồn tại dưới hình thái tiền tệ, bao gồm: tiền tại quỹ, tiền đang chuyển, tiền gửi không kỳ hạn, là các khoản đầu tư tài chính ngắn
Trang 25hạn có khả năng chuyển đổi thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong quá trình chuyển đổi thành tiền Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, nộp thuế, trả nợ
Đây là loại tài sản đặc biệt của doanh nghiệp Nó có tính chất là loại tài sản có tính lỏng cao nhất, được sử dụng tức thời để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi doanh nghiệp có dòng tiền ra Ngoài ra, tiền mặt là loại tài sản có tỉ lệ sinh lời rất thấp Thậm chí tiền giấy tại quỹ và tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp tại ngân hàng có tỷ lệ sinh lời bằng không
Tiền mặt của Công ty bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền trên tài khoản của ngân hàng, được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả các khoản nợ đến hạn
Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất Một trong các mô hình xác định lượng dự trữ tiền mặt tối ưu thường được sử dụng nhất là:
Mô hình quản lý tiền mặt EOQ: Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền tại quỹ và tiền gửi ngân hàng Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn liền với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao Khi dự trữ tiền mặt, doanh nghiệp sẽ mất chi phí cơ hội, tức là lãi suất bị mất
đi, chi phí này tương đương với chi phí tồn trữ hàng hóa trong quản lý hang tồn kho Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán, khi đó áp dụng mô hình EOQ ta có lượng dự trữ tiền mặt tối ưu (M*) như sau:
Trong đó:
M* : Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu
M : Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm
Cb: Chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản
i: Lãi suất
Trang 26Hình 1.1: Mô hình dự trữ tiền mặt tối ƣu Baumol
(Nguồn: tác giả tổng hợp)
Mô hình Baumol cho thấy nếu lãi suất càng cao thì doanh nghiệp sẽ nắm giữ
số dư bình quân tiền mặt thấp hơn và do đó làm cho doanh số bán chứng khoán nhỏ hơn nhưng với tần suất bán nhiều hơn( nghĩa là M* thấp hơn ) Mặt khác, nếu giá phải trả cho mỗi lần bán chứng khoán cao thì doanh nghiệp nên nắm giữ một số tiền mặt lớn hơn
Mô hình Baumol cho thấy số dư tiền mặt không thực tiễn ở chỗ giả định rằng doanh nghiệp chi trả tiền mặt một cách ổn định Điều này lại không luôn đứng trong thực tế Trong hoạt động của các doanh nghiệp rất hiếm khi lượng tiền vào, ra của doanh nghiệp lại đều đặn và dự kiến trước được Mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng, tức là lượng tiền dự trữ sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất Nếu lượng tiền mặt ở mức thấp thì doanh nghiệp phải bán chứng khoán để có lượng tiền dự kiến, ngược lại tại giới hạn trên doanh nghiệp sử dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến
Mô hình Baumol giúp chúng ta hiểu được tại sao các doanh nghiệp vừa và nhỏ lưu giữ một số dư tiền mặt đáng kể Trong khi đối với các Công ty lớn, các chi phí giao dịch mua bán chứng khoán lại trở nên quá nhỏ so với cơ hội phí mất đi do giữ một số lượng tiền mặt nhàn rỗi
Trang 271.2.3.2.Đầu tư tài chính ngắn hạn
Đây là chỉ tiêu phản ánh giá trị của các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Các khoản đầu tư bao gồm: đầu tư chứng khoán ngắn hạn, đầu tư ngắn hạn khác (như liên doanh liên kết ) và dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn Các khoản đầu tư ngắn hạn được phản ánh trong mục này là các khoản đầu tư có thời gian thu hồi vốn dưới một năm hoặc trong vòng một chu kỳ kinh doanh, như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngắn hạn, kỳ phiếu ngân hàng…
1.2.3.3.Các khoản phải thu
Các khoản phải thu của doanh nghiệp thường chịu tác động của các nhân tố như số lượng; giá cả hàng hoá, dịch vụ bán ra; sự thay đổi doanh thu theo mùa vụ; chính sách tín dụng thương mại (chính sách bán chịu) của doanh nghiệp Trong các nhân tố trên thì chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp là quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô các khoản phải thu cua doanh nghiệp Để hiểu
rõ vấn đề này ta phải đi sâu vào nghiên cứu nội dung của chính sách tín dụng thương mại:
Chính sách tín dụng thương mại
Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể sử dụng các chiến lược về sản phẩm, quảng cáo, giá cả, giao hàng và các dịch vụ hậu mãi để cạnh tranh với các đối tác.Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu hàng hoá, dich vụ là việc bình thường, tín dụng thương mại có thể đem đến cho doanh nghiệp nhiều lợi thế nhưng cũng có thể gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh Chính sách tín dụng thương mại có những tác động cơ bản sau:
+ Do thực hiện chính sách bán chịu nên khách hàng mua nhiều hàng hoá hơn, do đó làm tăng doanh thu và giảm chi phí tồn kho
+ Tín dụng thương mại làm tăng lượng hàng hoá sản xuất ra, do đó góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản
+ Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng thêm chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp cho thiếu hụt ngân quỹ
Trang 28+ Nếu thời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng cao và làm cho lợi nhuận bị giảm
Với những tác động trên ,buộc các nhà quản lý doanh nghiệp phải so sánh hiệu quả thu nhập và chi phí tăng thêm để xem có nên áp dụng chính sách thương mại hay không? Nếu có thì các ràng buộc ừong chính sách tín dụng thương mại như thế nào là tốt nhất
Phân tích tín dụng thương mại
- Phân tích khả năng tín dụng của khách hàng: Để thực hiện việc cấp tín dụng thì quan trọng nhất là phải phân tích khả năng tín dụng của khách hàng Khả năng tín dụng của khách hàng có thể được xây dựng thông qua các tiêu chuẩn sau: phẩm chất, tư cách tín dụng, năng lực trả nợ, các tài sản có thể thế chấp, nguồn vốn kinh doanh của khách hàng Nếu khả năng tín dụng của khách hàng phù hợp với tiêu chuẩn đó thì tín dụng thương mại có thể được cấp
- Phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị: Cũng như rất nhiều sự phân tích và sự lựa chọn khác nhau,việc phân tích đánh giá khoản tín dụng thương mại được đề nghị để quyết định xem có nên cấp hay không, thông thường người ta dựa vào việc tính NPV của luồng tiền
NPV = CFt/k – CF0
Trong đó:
CFt : Dòng tiền thu được sau thuế mỗi thời kỳ
k : Tỷ lệ thu nhập yêu cầu
CF0: Khoản đầu tư vào phải thu khách hàng
Trang 29+ Kỳ thu tiền bình quân:Khi kỳ thu tiền bình quân tăng lên mà doanh số bán ra và lợi nhuận không tăng thì cũng có nghĩa là vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng
ở khâu thanh toán Khi đó nhà quản lý phải có biện pháp can thiệp ngay
+ Sắp xếp thời gian cho các khoản phải thu :Theo phương pháp này, nhà quản lý sắp xếp các khoản phải thu theo độ dài thời gian nợ để theo dõi và có biện phap thu nợ khi đến hạn
+ Xác định các khoản phải thu:Theo phương pháp này, các khoản phải thu hoàn toàn không chịu ảnh hưởng bởi yếu tố thay đổi theo mùa vụ của doanh số bán
ra Sử dụng phương pháp này DN hoàn toàn có thể thấy nợ tồn đọng của khách hàng nợ doanh nghiệp Cùng với cách theo dõi khác, người quản lý có thể thấy được ảnh hưởng của các chính sách tài chính nói chưng và chính sách tín dụng thương mại nói riêng
1.2.3.4.Hàng tồn kho
Tại cùng thời điểm khi doanh nghiệp được hưởng những lợi ích từ việc sử dụng hàng tồn kho do đó các chi phí có liên quan cũng phát sinh tương ứng, bao gồm: chi phí đặt hàng, chi phí tồn trữ và chi phí thiệt hại do kho không có hàng
hi phí đặt hàng
Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản lý giao dịch, chi phí vận chuyển và chi phí giao nhận hàng hóa Chi phí đặt hàng được tính bằng đơn vị tiền tệ cho mỗi lần đặt hàng Chi phí cho mỗi lần đặt hàng thường bao gồm các chi phí cố định và chi phí biến đổi, bởi vì một phần tỷ lệ chi phí đặt hàng thường biến động theo số lượng hàng được mua Tuy nhiên, trong mô hình quản lý hàng tồn kho đơn giản EOQ (sẽ được trình bày ở phần dưới đây) giả định rằng chi phí cho mỗi lần đặt hàng là cố định và độc lập với số đơn vị hàng hóa được mua
Chi phí tồn trữ
Chi phí tồn trữ bao gồm tất cả các chi phí lưu giữ hàng tong kho tong một khoảng thòi gian xác định trước Chi phí tồn trữ được tính bằng đơn vị tiền tệ trên mỗi đơn vị hàng lưu kho hoặc xác định bằng tỷ phần trăm trên giá trị hàng lưu kho tong một chu kỳ Các chi phí tồn trữ bao gồm: chi phí lưu giữ, chi phí bảo hiểm, chi
Trang 30phí bảo quản, chi phí về thuế, chi phí đầu tư vào hàng tồn kho, chi phí hư hỏng hàng tồn kho và chi phí thiệt hại do hàng đang có tong kho bị lỗi thời
Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết
Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết xảy ra bất cứ khi nào doanh nghiệp không có khả năng giao hàng bởi vì nhu cầu hàng lớn hơn số lượng hàng sẵn có trong kho Ví dụ, nguyên vật liệu trong kho hết thì chi phí thiệt hại sẽ bao gồm chi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do ngừng sản xuất Khi sản phẩm dở dang tồn kho bị hết thì doanh nghiệp bị thiệt hại do kế hoạch sản xuất kinh doanh bị thay đổi, gây nên thiệt hại do ngưng trệ sản xuất và phát sinh chi phí Khi thành phẩm, hàng hóa tồn kho hết có thể gây ra hậu quả là lợi nhuận bị mất trong ngắn hạn kho khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp khác gây nên những mất mát tiềm năng trong dài hạn
Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả - Mô hình EOQ
Mô hình EOQ là một mô hình quản lý hang tồn kho mang tính định lượng được sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp, dựa trên cơ sở giữa chi phí tồn trữ hàng tồn kho và chi phí đặt hàng có mối quan hệ tương quan tỷ lệ nghịch Cụ thể, nếu số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên thì số lần đặt hàng trong kỳ giảm xuống và dẫn đến chi phí đặt hàng trong kì giảm trong khỉ chỉ phí tồn trữ hảng hóa tăng lên Do đó mục đích của quản lý bảng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí: chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng sao cho tồng chỉ phí tồn kho là thấp nhất
Gọi Q là lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng, khi hết hang doanh nghiệp lại tiếp tục đặt mua Q đơn vị hàng mới, Tại thời điểm đầu kỳ, lượng hàng tồn kho là
Q và ở thời điểm cuối kỳ là 0 nên số lượng tồn kho bình quân trong kỳ là:
Trang 31Hình 1.2:Biến động hàng tồn kho trong một chu kỳ, hàng tồn kho bình quân
(Nguồn: tác giả tổng hợp) Gọi c là chi phí tồn trữ cho mỗi đơn vị hàng tồn kho thì tổng chi phí tồn trữ
hàng tồn kho trong kỳ là: xC
Gọi S là hàng tiêu thụ trong kỳ nên số lần đặt hàng trong kỳ là :
Gọi T là tổng chi phí thi : T= xC+ xO
Hình 1.3: Đường biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí tồn trữ và chi phí đặt
hàng tổng chi phí theo các mức sản lượng tồn kho
(Nguồn: tác giả tổng hợp)
Gọi Q* là lượng hàng tồn trữ tối ưu tức tại Q* là lượng hàng cho chi phí thấp nhất dẫn đến: Q* =
Trang 32Nếu gọi T* là thời gian dự trữ tối ưu được tính bằng cách lấy số lượng hàng tối ưu Q* chia cho nhu cầu sử dụng hàng tồn kho bình quân một ngày, tức S/365 ( giả định một năm có 365 ngày), đơn vị tính ngày
Ta có công thức sau: T* =
Công thức trên cũng có thể được viết lại như sau: T* =
Chiết khấu theo số lượng
Khi một doanh nghiệp đặt hàng với số lượng lớn thì thông thường sẽ được nhà cung cấp bán với giá chiết khấu do đó doanh nghiệp sản xuất sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí ừên mỗi đơn vị sản phẩm được sản xuất ra, tiết kiệm được chi phí trên mỗi đơn vị khi thực hiện đơn hàng và mỗi đơn vị trong quá trình vận chuyển Nhiều doanh nghiệp khuyến khích khách hang của họ đặt một đơn hàng số lượng lớn bằng cách dành cho họ một tỷ lệ chiết khấu và được gọi là chiết khấu theo số lượng Trước hết ta có mô hình EOQ đã trình bày ở trên Kế đó, ta tính toán mức sinh lợi ròng hàng năm khi số lượng đặt hàng được gia tăng từ mức tồn kho EOQ lên mức đặt hàng cần thiết để có thể nhận được khoản chiết khấu Nếu mức sinh lời ròng tăng thêm hàng năm là số dương thì số lượng đặt hàng tối ưu là số lượng đặt hàng cần thiết để có thể được hưởng chiết khấu Nếu không, số lượng đặt hàng tối
ưu sẽ là giá trị EOQ
Mô hình kiểm soát hàng tồn kho theo rủi ro
Trong mô hình EOQ, việc phân tích dựa trên những giả định Tuy nhiên, trong thực tế hầu hết các vấn đề phát sinh trong quản lý hàng tồn kho là những giả định này lúc nào cũng diễn ra đúng như vậy Thường thì nhu cầu hàng tồn kho biến động theo mùa vụ hay biến động có tính chất chu kỳ hoặc biến động bởi những ảnh hưởng ngẫu nhiên và những dự báo không chính xác mức cầu hàng tồn kho trong tương lai Với những tác động như vậy, khả năng thiếu hụt hàng tồn kho là hoàn toàn có thể xảy ra Để khắc phục sự thiệt hại trong những trường hợp như vậy, hầu hết các doanh nghiệp sử dụng cách thức bổ sung một lượng hàng tồn kho an toàn để sẵn sàng đáp ứng trước những biến động bất thường đó
Trang 33Phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0
Hệ thống quản lý hàng tồn kho đứng lúc là một phần của quá trình quản lý sản xuất nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và thời gian sản xuất bằng cách loại bỏ bớt những công đoạn kém hiệu quả gây lãng phí Hệ thống cưng ứng đúng thời điểm được dựa ừên những ý tưởng cho rằng tất cả các mặt hàng cần thiết có thể được cung cấp trực tiếp cho các giai đoạn hoạt động SXKD một cách chính xác cả
về thời điểm giao hàng lẫn số lượng hàng được giao thay vì phải dự trữ thông qua tồn kho
Mô hình tồn kho bằng 0 tỏ ra có hiệu quả nhất đối với những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất mang tính lặp đi lặp lại Một phần quan trọng của phương pháp cung cấp đúng thời điểm là thay thế việc sản xuất từng lô hàng với một số lượng lớn sản phẩm bằng cách sản xuất theo một dòng liên tục các sản phẩm được sản xuất ra với số lượng nhỏ Việc sử dụng phương pháp này đòi hỏi một sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp, bỏi vì bất kỳ một sự gián đoạn nào trong quá trình cung ứng cũng có thể gây tổn thất cho nhà sản xuất vì phải gánh chịu các chi phí phát sinh do ngừng sản xuất hay mất doanh số bán hàng
Tuy nhiên, đây chỉ là một phương pháp quản lý được áp dụng trong một số loại dự trữ nào đó của doanh nghiệp và muốn đạt hiệu quả cao phải kết hợp với các phương pháp quản lý hàng tồn kho khác
1.2.4.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả Quản lý tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm, quản trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thị trường Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi DN phải có nhiều cố gắng và có những chiến lược sách lược hợp lý từ khâu sản xuất cho đến khi sản phẩm được đến tay người tiêu dùng
Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp bao giờ cũng là đạt được những mục tiêu mà họ đề ra Vì vậy quan niệm hiệu quả của mỗi doanh nghiệp là khác nhau Tuy nhiên để đi đến mục đích cuối cùng thì vấn đề chung mà các doanh nghiệp đều
Trang 34phải quan tâm chú trọng đến đó chính là hiệu quả sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi phí
Với mỗi doanh nghiệp có một sự cân đối về tài sản riêng mỗi loại tài sản cũng phải khác nhau, nếu như các doanh nghiệp về lĩnh vực chế biến hay công nghiệp nặng thì (tỷ lệ) tài sản cố định chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị tài sản, ngược lại với các doanh nghiệp lĩnh vực thương mại thì tài sản ngắn hạn lại chiếm
đa số
Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì tài sản ngắn hạn đóng một vai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao sử dụng các loại tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là kết quả đạt được cao nhất với mục tiêu
mà doanh nghiệp đã đặt ra Nghĩa là phải làm sao có được nhiều lợi nhuận từ việc khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hoa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí
Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu dưới đây:
1.2.4.1.Nhóm các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
- Hệ số thanh toán hiện hành
Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, được sử dụng rộng rãi nhất là hệ số thanh toán hiện hành
Hệ số thanh toán hiện hành = Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Trang 35Hệ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này
đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Thông thường, nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, ngược lại nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì khả năng doanh nghiệp thanh toán được các khoản nợ ngắn hạn là rất thấp, báo trước những khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong tương lại như: không đủ khả năng trả nợ khiến cho doanh nghiệp bị mất uy tín tài chính, dẫn tới việc huy động vốn khó khăn, chi phí huy động vốn cao ảnh hưởng tới khả năng sinh lời Ngược lại, nếu hệ số này cao có nghĩa là doanh nghiệp luôn có sẵn sàng chi trả cho các khoản nợ Tuy nhiên, số liệu này chỉ mang tính chất tham khảo bởi vì nó biến động tùy thuộc vào nhiều nhân tố và điều kiện khác nhau của từng ngành, không thể nói đơn giản tình hình tài chính của doanh nghiệp là tốt nếu khả năng thanh toán ngắn hạn lớn Khả năng thanh toán ngắn hạn lớn có thể so: các khoản phải thu vẫn còn lớn, hàng tồn kho lớn ( tức nguyên vật liệu dự trữ quá lớn không dùng hết và hàng hóa, thành phẩm tồn không bán được) TSNH tồn trữ lớn, phản ánh việc sử dụng tài sản không hiệu quảm vì bộ phận này không vận động nên không sinh lời Và khi đó khả năng thanh toán của DN thực tế là không cao hoặc
có thể nói là không có khả năng thanh toán
Tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào có TSNH chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản thì hệ số này cao và ngược lại Cần chú ý rằng 2 doanh nghiệp có thể có cùng hệ số khả năng thanh toán hiện hành nhưng có thể mỗi doanh nghiệp có điều kiện tài chính và tiến độ thanh toán các khoản nợ khác nhau vì nó phụ thuộc vào TSNH dùng để trả nợ của từng doanh nghiệp
Do những hạn chế trên nên khí đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp các nhà phân tích thường kết hợp thêm hệ số khả năng thanh toán nhanh
- Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho
Trang 36Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh được tính toán trên cơ sở những tài sản lưu ngắn hạn
có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chứng còn được gọi là tài sản có tính thanh khoản, tài sản có tính thanh khoản bao gồm tất cả tài sản ngắn hạn trừ hàng tồn kho Do đó, hệ số thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản
nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào hàng tồn kho
Trên lý thuyết, hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ khi tới hạn Thế nhưng trên thực tế công thức này
vô hình chung đã triệt tiêu năng lực thanh toán không dùng tiền của doanh nghiệp trong việc trả các khoản nợ đến hạn Tức là chưa tính đến khả năng doanh nghiệp dùng một lượng hàng hóa mà thị trường có nhu cầu cao có thể bán ngay được Và như vậy sẽ là một sai lầm khi lượng tiền của doanh nghiệp có thể ít, khoản đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp không có nhưng lượng hàng hóa, thành phẩm tồn kho
có thể bán ngay bất cứ lúc nào mà lại đánh giá khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp thấp Nhìn chung, hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất Tuy nhiên giống như hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, độ lớn của hệ số này phụ thuộc vào các ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ trong kỳ
- Hệ số thanh toán bằng tiền
Hệ số thanh toán bằng tiền = Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán bằng tiền cho biết khả năng doanh nghiệp có thể chi trả cho các khoản nợ của mình nhanh đến đâu, vì tiền và các khoản tương đương tiền là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất Trong hệ số này, hai yếu tố hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn bị loại bỏ, bởi không thể chắc chắn rằng hai khoản này có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền để kịp đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn
Có rất ít doanh nghiệp có số tiền mặt và các khoản tương đương tiền đủ để đáp ứng toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn, do dó chỉ số thanh toán tiền mặt rất ít khi lớn
Trang 37hơn hay bằng 1 Tuy nhiên, giống như trường hợp của khả năng thanh toán hiện hành (khả năng thanh toán ngắn hạn) và khả năng thanh toán nhanh, để kết luận giá trị của hệ số thanh toán tức thời là tốt hay xấu ở một doanh nghiệp cụ thể còn cần xem xét đén bản chất kinh doanh và điều kiện kinh doanh của DN đó Một DN giữ tiền mặt và các khoản tương đương tiền ở mức cao để đảm bảo chi trả các khoản nợ ngắn hạn là một việc làm không thực tế vì như vậy cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không biết sử dụng loại tài sản có tính thanh khoản cao này một cách có hiệu quả Nhưng nếu hệ số này quá nhỏ thì nhất định doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc thanh toán nợ
1.2.4.2.Nhóm các chỉ tiêu hoạt động
Là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Để nâng cao hệ
số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi Hệ số hoạt động đôi khi còn gọi là hệ số hiệu quả hoặc hệ số luân chuyển Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
a Vòng quay các khoản phải thu
Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu tiền do thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán các khoản trả trước cho người bán
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần Các khoản phải thu bình quân Vòng quay hàng tồn kho cho biết trong kỳ phân tích, hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng Đây là chỉ tiêu quan trọng cho thấy năng lực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nếu hệ số này cao thì tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp thường được đánh giá tốt, chứng tỏ vốn đầu tư hàng tồn kho vận động không ngừng và ngược lại Mặt khác, xét trên góc độ luân chuyển vốn, doanh nghiệp có hệ số vòng quay cao thường đòi hỏi mức đầu tư thấp cho hàng tồn kho so với doanh nghiệp có cùng mứ doanh thu nhưng hệ số vòng quay thấp Nếu chỉ tiêu này thấp thường phản
Trang 38ánh tình hình doanh nghiệp bị ứ đọng hàng hóa do dự trữ quá mức hoặc hàng hóa tiêu thụ chậm do chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường Cần lưu ý là hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn khi thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu Tuy nhiên, nếu mức tồn kho của doanh nghiệp quá thấp thì cũng có thể gây ảnh hưởng không tốt vì nếu mức tồn kho không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
b Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu * 360
Doanh thu bình quân Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết để thu hồi nợ phải thu trong kì của doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này ngắn cho thấy việc thu hồi công nợ của doanh nghiệp có hiệu quả nhưng cũng có thể do chính sách tín dụng bán hàng trả chậm cho KH của doanh nghiệp quá khắt khe, điều này sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của DN, đặc biệt các DN vừa và nhỏ Tuy nhiên cũng cần xem xét đến loại hình kinh doanh và phương thức bán hàng của DN liệu có phải chi hoặc thường bán hàng trả ngay bằng tiền mặt hay không Nếu thời gian thu hồi công nợ dài thể hiện rằng việc thu hồi công nợ của doanh nghiệp không hiệu quả, để khách hàng chiếm dụng vốn nhiều Thêm vào đó chính sách bán hàng trả chậm của DN là dễ dàng, cần xem xét cụ thể về thị trường hàng hóa mà doanh nghiệp đnag kinh doanh, nếu DN mới gia nhập thị trường thì chính sách bán hàng linh hoạt là hợp lý Tuy nhiên nếu doanh nghiệp đang có thị phần vững chắc, khi thay đổi chính sách bán hàng như vậy thì nên tìm hiểu nguyên nhân do khả năng cạnh tranh, biến động giá cả, chất lượng hàng hóa kinh doanh…
- Chu kỳ thu tiền
Vòng quay các khoản phải thu Chỉ tiêu này cho ta biết tốc độ chuyển đổi nợ phải thu từ khách hàng thành tiền trong quỹ của doanh nghiệp là bao lâu Chỉ tiêu này càng nho thì tình hình kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại
Trang 39c Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn để đánh giá doanh nghiệp sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào
Vòng quay của hàng tồn kho =
Doanh thu thuần Hàng tồn kho bình quân Hàng tồn kho bình quân là bình quân số học của vật tư hàng hoá dự trữ đầu kỳ
và cuối kỳ
Các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất luôn phải tính đến mức dự trữ bởi doanh nghiệp không thể nào đến lúc sản xuất mới mua nguyên vật liệu
Để tránh trường hợp bị ứ đọng thì doanh nghiệp phải có trước một lượng vật
tư hàng hoá vừa phải bởi nếu quá nhiều doanh nghiệp sẽ mất khoản chi phí để bảo quản vật liệu Nếu lượng vật tư quá ít không đủ cho sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn ở các khâu tiếp theo
Như vậy chỉ tiêu này rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó quyết định thời điểm đặt hàng cũng như mức dự trữ an toàn cho doanh nghiệp Vòng quay càng cao thể hiện khả năng sử dụng tài sản lưu động cao
Vòng quay dự trữ, tồn kho cao thể hiện được khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt, có như vậy mới đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra Chỉ tiêu này cao phản ánh được lượng vật tư, hàng hóa được đưa vào sử dụng cũng như được bán ra nhiều, như vậy là doanh thu sẽ tăng và đồng thời lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được cũng tăng lên Vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm của trong ngành nghề kinh doanh, phụ thuộc vào mặt hàng kinh doanh
d Chu kỳ lưu kho
Vòng quay hàng tồn kho Chỉ tiêu này cho ta biết số ngày lượng hàng hàng tồn kho được chuyển đổi thành doanh thu Từ chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết cho việc luân chuyển kho vì hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở
Trang 40khâu dự trữ Hệ số này chứng tỏ công tác quản lý hàng tồn kho càng tốt, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao và ngược lại
1.2.4.3.Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì nó gắn liền với lợi ích kinh tế của nhà đầu tư Chỉ tieu này đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của một kỳ và là căn cứ để nhà đầu tư đưa ra các quyết định trong tương lai
Hệ số này cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Hiệu suất sinh lời
Lợi nhuận sau thuế TSNH bình quân trong kỳ
Hệ số sinh lời của TSNH phản ánh một đồng TSNH sử dụng bình quân trong
kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Bên cạnh đó, chỉ tiêu này còn thể hiện hiệu quả sử dụng TSNH tại doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận trên TSNH càng cao thì trình độ sử dụng tài sản ngắn hạn của DN càng cao và ngược lại Thông thường, ngoại trừ những chiến lược kinh doanh đặc biệt thì hệ số sinh lời trên tài sản ngắn hạn được xem là hợp lý khi ít nhất phải lớn hơn hoặc bằng lãi suất cho vay ngắn hạn trên thị trường trong kỳ hiệu qủa của việc sử dụng TSNH thể hiện ở lợi nhuận đem lại cho doanh nghiệp, đây chính là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được Kết quả này phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng TSNH nói riêng Dựa vào công thức trên có thể thấy nếu TSNH bình quân trong kỳ thấp mà lợi nhuận sau thuế cao thì hiệu quả sử dụng TSNH cao
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại các doanh nghiệp
1.3.1.Các nhân tố chủ quan
1.3.1.1.Trình độ cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân
Có thể nói, con người là nhân tố quan trọng trong bất cứ hoạt động nào Trong hoạt động sản xuất - kinh doanh cũng vậy, con người đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng, đặc biệt là trình
độ cán bộ quản lý và tay nghề người công nhân