1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk : Luận văn ThS. Kinh tế: 60 31 01

98 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết của đề tài: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã xác định giải pháp nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế để phát t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN BÍCH

Hà Nội- 2007

Trang 3

1.1 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế tư nhân 5

1.1.1 Quan niệm chung về kinh tế tư nhân 5 1.1.2 Những đặc trưng của kinh tế tư nhân 6 1.1.3 Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường 7

1.2 Quá trình hình thành và phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam 8 1.2.1 Quá trình nhận thức, đổi mới quan điểm, chính sách của Đảng và

Nhà nước về kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến nay 8 1.2.2 Tình hình phát triển của kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới 14 1.2.3 Những thành tựu và hạn chế của kinh tế tư nhân ở Việt Nam 18

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở ĐĂK LĂK 25 2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk

2.1.4 Chính sách phát triển thành phần kinh tế tư nhân của Nhà nước và

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk 36

2.2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk

2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân theo loại hình 37 2.2.3 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân theo ngành nghề 43

Trang 4

2.2.4 Vai trò của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế – xã hội ở

2.3 Đánh giá chung về phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk trong 20

2.3.1 Mức độ ổn định và phát triển kinh tế dẫn đến phát triển văn hoá, xã

2.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, hình thành kinh tế vùng 55 2.3.3 Hình thành thị trường nông thôn địa phương, từng bước tạo việc

2.3.4 Những vấn đề phát sinh trong kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk 59

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT

TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở ĐĂK LĂK TRONG THỜI

3.1 Quan điểm định hướng phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk 65 3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển KTTN ở Đăk Lăk 68

3.2.1 Tiếp tục nâng cao sự đổi mới nhận thức, coi phát triển kinh tế tư

nhân là tất yếu khách quan, đồng hành cùng với các thành phần kinh

3.2.2 Cải cách cơ chế, chính sách cho phù hợp với tình hình chung của

cả nước đồng thời mang tính đặc thù của địa phương 69 3.2.3 Tạo hành lang pháp lý và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước

3.2.4 Giải pháp về khoa học, kỹ thuật, công nghệ 78

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp và vốn đăng ký kinh doanh của

Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp và vốn đăng ký kinh doanh của

loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn 41

Bảng 2.3: Số lượng doanh nghiệp và vốn đăng ký kinh doanh của

Bảng 2.4: Số lượng doanh nghiệp theo nhóm ngành nghề 43

Bảng 2.5: Giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp theo giá so sánh

Bảng 2.6: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 của

Bảng 2.7: Số cơ sở tư nhân sản xuất công nghiệp theo địa bàn cấp

huyện (tính cả doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể) 49

Bảng 2.8: Giá trị sản xuất xây dựng theo giá so sánh 1994 của tỉnh

Bảng 2.9: Giá trị sản xuất thương mại – dịch vụ theo giá so sánh

Bảng 2.10: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 1994 phân

theo thành phần kinh tế của tỉnh Đăk Lăk 54

Bảng 2.11: Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tại thời

Bảng 2.12: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành phân

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài:

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986) đã xác định giải pháp nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý,

đó là: coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo

Các kỳ Đại hội từ lần thứ VII đến lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước Các thành phần kinh tế là

bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Những thành tựu đạt được qua 20 năm đổi mới, nhất là lĩnh vực kinh tế đã khẳng định đường lối mà Đảng

ta lựa chọn là đúng đắn, hợp quy luật

Đến cuối năm 2006, khu vực kinh tế tư nhân với khoảng hơn 230 ngàn các loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp và gần 3 triệu

hộ kinh doanh cá thể là khu vực kinh tế có sự đóng góp đáng kể vào những thành tựu kinh tế chung của đất nước, là khu vực có tiềm năng phát triển mạnh nhất trong điều kiện hiện nay, góp phần quan trọng đến sự phát triển và

ổn định của nền kinh tế

Đăk Lăk là thủ phủ của Tây Nguyên với diện tích lớn gần nhất nước, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của khu vực Tây Nguyên, khu vực được coi là có tính chiến lược của đất nước

Hoà mình cùng đất nước trong chủ trương phát triển kinh tế chung của Đảng và Nhà nước, Đăk Lăk đã dần dần đi lên với bước khởi đầu là nền kinh

tế tự nhiên đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số; dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chuyển mình thành tỉnh phát triển nhất khu vực Tây Nguyên Trong

Trang 7

đó khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn đã phát triển hết sức mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương

Trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới, với sự gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam, cùng với các thành phần kinh tế khác khu vực kinh tế tư nhân sẽ gặp không ít khó khăn, thách thức trong mọi lĩnh vực và khu vực kinh tế tư nhân ở tỉnh Đăk Lăk cũng không thể tránh khỏi những trở ngại đó

Phát triển kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam, góp phần cùng với các thành phần kinh tế khác thực hiện thành công nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để phát triển khu vực kinh tế tư nhân trên toàn quốc nói chung và trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk nói riêng, chúng ta cần nghiên cứu để phát huy những mặt mạnh, đồng thời khắc phục những mặt yếu kém, đưa ra những giải pháp hợp

lý nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân cả nước nói chung và tại tỉnh Đăk Lăk nói riêng, góp phần xây dựng Đăk Lăk thành một tỉnh vững mạnh cả về chính trị, kinh tế và xã hội

Đề tài: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk” mà tác giả lựa chọn xuất phát từ những ý nghĩa nêu trên

2 Tình hình nghiên cứu:

Nghiên cứu về mảng đề tài kinh tế tư nhân không còn là điều mới mẻ,

đã có nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thường tập trung nghiên cứu về kinh tế tư nhân trên quy mô rộng lớn mang tầm quốc gia, có tính chất vĩ mô; Một số đề tài nghiên cứu trên phạm vi nhỏ, chủ yếu tập trung tại các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Hà Tây… Theo tác giả biết thì chưa có đề tài nào nghiên cứu về kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

Một số đề tài, bài viết liên quan đã được thực hiện:

Trang 8

- “Phát triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh” của TS Nghiêm Xuân Đạt, GS.TS Tô Xuân Dân, TS Vũ Trọng Lâm (chủ biên), Nxb Khoa học và kỹ thuật

- “Kinh tế tư nhân Việt Nam: Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển” của Đặng Danh Lợi, Tạp chí Phát triển kinh tế, tháng 4-2003

- “ Kinh tế tư nhân ở Hà Nội – Thực trạng và giải pháp”, UBND TP Hà Nội, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà Nội, tháng 11-2001

- “Phát triển kinh tế tư nhân định hướng xã hội chủ nghĩa” của Trần Ngọc Bút, Nxb Chính trị quốc gia

- “ Về việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam” của Trần Thị Hạnh – Luận án PTS kinh tế – Hà Nội 1994

- “ Phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nội” của Tiến sỹ Nguyễn Minh Phong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004

- “ Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế” của Nguyễn Huy Oánh, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế; 9-2002

Đề tài nghiên cứu không trùng lặp với các đề tài đã thực hiện, tập trung phân tích tình hình phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk để đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở một tỉnh

có vị trí chiến lược như tỉnh Đăk Lăk

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích:

- Nghiên cứu thực trạng tình hình phát triển kinh tế tư nhân tại Đăk Lăk trong quá trình đổi mới; những thành tựu và hạn chế của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế của Đăk Lăk nói chung

3.2 Nhiệm vụ:

- Xem xét, đánh giá những thuận lợi, khó khăn về cơ chế chính sách của tỉnh Đăk Lăk đối với kinh tế tư nhân trên địa bàn

Trang 9

- Đề xuất những giải pháp nhằm khai thác, phát huy tiềm năng, đồng thời khắc phục những mặt chưa được của kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển ổn định kinh tế – chính trị – xã hội trên toàn tỉnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu về kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu về thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp phân tích, nghiên cứu tài liệu và khảo sát thực tế kinh tế tư nhân ở tỉnh Đăk Lăk

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn:

- Đánh giá thực trạng về tình hình phát triển và những hạn chế của kinh

tế tư nhân ở Đăk Lăk

- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị cũng như quan điểm nhằm phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

7 Bố cục của Luận văn:

Luận văn có cấu trúc như sau:

 Mở đầu

 Chương 1: Một số vấn đề chung về phát triển kinh tế tư nhân

 Chương 2: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk

 Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk trong thời gian tới

 Kết luận

Trang 10

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1.1 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế tư nhân

1.1.1 Quan niệm chung về kinh tế tư nhân

Ở Việt Nam, do đặc thù của nền kinh tế thị trường được chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp nên có các quan niệm khác nhau về kinh tế tư nhân:

- Kinh tế tư nhân là một trong ba khu vực của nền kinh tế (nhà nước, tư nhân, nước ngoài) Kinh tế tư nhân bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã

- Kinh tế tư nhân là kinh tế ngoài quốc doanh Bao gồm doanh nghiệp

tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, công

ty có vốn đầu tư nước ngoài, các liên doanh

- Kinh tế tư nhân bao gồm hai thành phần kinh tế là kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân (là quan niệm dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về

tư liệu sản xuất)

Tuy nhiên, các quan niệm trên cũng chưa hoàn toàn phân loại triệt để kinh tế tư nhân vì tính đặc thù của nền kinh tế nước ta Cụ thể, đối với các công ty cổ phần được thành lập dưới hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần sau khi cổ phần hoá thì nên đưa vào khu vực nào? Nếu quan niệm theo cách thứ nhất và thứ hai ở trên thì toàn bộ phần vốn Nhà nước hiện đang nằm tại công ty cổ phần là của tư nhân; còn nếu hiểu theo cách thứ ba thì công ty cổ phần loại này lại không phải thuộc kinh tế tư nhân Theo tác giả, với những trường hợp như trên thì khu vực nào chiếm cổ phần chi phối (>50%) trong công ty thì công ty được xếp vào khu vực ấy Hoặc có những trường hợp các doanh nghiệp nhà nước cùng góp vốn

để thành lập công ty cổ phần (ví dụ như PJICO có 7 cổ đông là các tổ chức,

Trang 11

doanh nghiệp nhà nước chiếm 80% cổ phần) thì công ty cổ phần loại này không thể xếp vào khu vực kinh tế tư nhân được

Trong phạm vi bài viết này, kinh tế tư nhân được hiểu gần giống với cách thứ nhất Cụ thể như sau: Kinh tế tư nhân bao gồm toàn bộ hoạt động của các loại hình doanh nghiệp đang hoạt động theo luật doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu là của các thể nhân hoặc pháp nhân trong nước, với trường hợp pháp nhân thuộc về Nhà nước thì vốn Nhà nước trong doanh nghiệp phải

<50% vốn cổ phần hoặc là Nhà nước không nắm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt; được tồn tại dưới các hình thức: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu vốn không phải là Nhà nước, công ty TNHH có hai thành viên trở lên là thể nhân hoặc pháp nhân không phải Nhà nước, công ty hợp danh, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ <50% cổ phần hoặc không nắm giữ cổ phần chi phối hoặc

cổ phần đặc biệt

1.1.2 Những đặc trưng của kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế được hình thành và phát triển dựa trên nền tảng chủ yếu là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lợi ích cá nhân, được biểu hiện dưới hai hình thức chủ yếu là kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh

tế tư bản tư nhân Kinh tế tư nhân có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Kinh tế tư nhân gắn liền với lợi ích cá nhân - động lực thúc đẩy xã hội phát triển, ít bị các mục tiêu kinh tế – xã hội khác chi phối

Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người đã cho thấy rằng lợi ích của mỗi cá nhân là động lực trước hết và chủ yếu thúc đẩy xã hội phát triển Nền kinh tế thị trường tồn tại hàng trăm năm vẫn chủ yếu là dựa trên lợi ích

cá nhân, tôn trọng lợi ích cá nhân Do theo đuổi vấn đề tối đa hoá lợi nhuận nên khu vực kinh tế tư nhân ít chú trọng đến vấn đề lợi ích xã hội Để tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì Nhà nước với tư cách là người tổ chức quản lý xã hội phải kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Trang 12

- Với mục đích chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận nên các doanh nghiệp tối thiểu hoá chi phí, sử dụng lao động một cách linh hoạt với chi phí thấp nhất,

sử dụng máy móc thiết bị một cách có hiệu quả nhất nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao

- Chủ sở hữu vốn đồng thời là người đứng đầu các doanh nghiệp nên năng động, nhạy bén và tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh và dễ dàng thích nghi với sự thay đổi thường xuyên của thị trường

- Có khả năng thu hút lao động cao, phong phú và đa dạng

- Không muốn hoặc không tham gia vào thị trường hàng hoá công cộng

do mang lại nhuận ít Chủ yếu đầu tư vào những lĩnh vực phổ biến, ít rủi ro, đầu tư ít…

- Dễ bị khủng hoảng khi có biến động của thị trường do phần lớn hạn hẹp về tài chính

1.1.3 Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường

Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ nền kinh

tế, vai trò của nó được thể hiện trên nhiều khía cạnh của đời sống xã hội Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân thời gian qua đã khơi dậy một bộ phận tiềm năng của đất nước cho phát triển kinh tế - xã hội Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, huy động vốn trong xã hội, tạo được nhiều việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng thu ngân sách cho Nhà nước, sản xuất hàng xuất khẩu, tác động tích cực tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế – xã hội, tạo môi trường cạnh tranh và động lực cho hội nhập kinh tế thế giới Cụ thể như sau:

+ Góp phần vào sự tăng trưởng GDP:

Khu vực kinh tế tư nhân huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, tạo việc làm, thu nhập cho người dân, điều này làm tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP)

+ Tăng khả năng huy động vốn trong xã hội:

Trang 13

Do đặc tính qui mô vừa và nhỏ của các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân nên có thể dễ dàng huy động được những đồng vốn dư thừa trong dân cư

dù là nhỏ nhất để đưa vào các hoạt động kinh tế

+ Tạo việc làm và cải thiện đời sống nhân dân:

Tạo việc làm là nhu cầu của mọi quốc gia Cũng như các doanh nghiệp trong những thành phần kinh tế khác việc tăng nhu cầu thuê, mướn lao động của doanh nghiệp tư nhân luôn đi cùng với quá trình mở rộng qui mô sản xuất Đặc biệt hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp tư nhân nước ta chủ yếu sử dụng lao động ở dạng thủ công, mà loại lao động này ở các nước đang phát triển dư thừa rất nhiều Do vậy sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân sẽ tạo ra nhiều việc làm cho xã hội

Nhờ huy động được nhiều nguồn lực đưa vào sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp tư nhân đã góp phần đáng kể vào việc xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân

+ Tăng thu ngân sách cho Nhà nước:

Nguồn thu từ đóng thuế của doanh nghiệp khối tư nhân cũng là một nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước Ở nhiều quốc gia, doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân luôn đóng góp một khoản thuế tương đối lớn + Tác động tích cực tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Sự phát triển của doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân sẽ tạo điều kiện cho chúng ta thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý hơn, tạo

ra sự phát triển đồng bộ giữa các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như các thành phần kinh tế

+ Tạo môi trường cạnh tranh:

Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại của doanh nghiệp thuộc kinh tế

tư nhân cùng với các loại hình doanh nghiệp khác sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh Bởi muốn tồn tại trên thị trường, các doanh nghiệp đều phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, càng có nhiều

Trang 14

doanh nghiệp tham gia vào cạnh tranh thì việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực càng hiệu quả

1.2 Quá trình hình thành và phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

1.2.1 Quá trình nhận thức, đổi mới quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến nay

Một thời kỳ dài do nhận thức sai lầm, nóng vội đã coi kinh tế tư nhân là đối tượng phải cải tạo, không được khuyến khích phát triển, không được pháp luật bảo vệ, quá trình sản xuất kinh doanh thuộc khu vực này bị trói buộc, kìm hãm, chèn ép; mục đích là muốn biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa

Nhận thức được sự sai lầm đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) với thái độ “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”1 đã rút ra bốn bài học kinh nghiệm lớn, khởi đầu cho sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có bài học: “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan”2

Đại hội VI cũng đã khẳng định: “Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”3

Xác định giải pháp có ý nghĩa chiến lược, góp phần giải phóng và khai thác mọi khả năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là sử dụng nhiều hình thức kinh tế với quy mô và trình độ sản xuất, lưu thông nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh

tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Các thành phần kinh tế được xếp thành hai nhóm:

Trang 15

- Kinh tế xã hội chủ nghĩa: bao gồm kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó

- Các thành phần kinh tế khác, bao gồm:

+ Kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể);

+ Kinh tế tư bản tư nhân;

+ Kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức (công tư hợp doanh); + Kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác

Xác định vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế, trong đó coi nhiệm

vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa đặt ra cho chặng đường đầu tiên là lấy kinh tế xã hội chủ nghĩa với thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo phải giành được vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc dân, cụ thể là chiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông, thể hiện được tính ưu việt và chi phối được các thành phần kinh tế khác thông qua liên kết kinh tế

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (năm 1989) chủ trương phát triển đan xen nhiều loại hình hỗn hợp, đan kết các hình thức

sở hữu với kinh tế quốc doanh có vai trò chủ đạo Hội nghị khẳng định: “cần

có lực lượng đủ sức chi phối thị trường, song không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề Những ngành nghề, hoạt động nào mà kinh tế hợp tác xã, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân có thể làm tốt, có lợi cho nền kinh tế thì nên tạo điều kiện cho các loại hình kinh tế ấy phát triển”4 Tư nhân được kinh doanh không hạn chế về quy mô, địa bàn hoạt động trong những ngành nghề sản xuất, xây dựng, vận tải, dịch vụ mà pháp luật không cấm

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) nêu rõ nền kinh tế nước ta có 5 thành phần:

- Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo;

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI, Nxb Sự thật, 1989, tr.14.

Trang 16

- Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng;

- Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi;

- Kinh tế tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định;

- Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức

Đảng Cộng sản Việt Nam lần đầu tiên khẳng định: “nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”5 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII Đại hội tiếp tục khẳng định chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là có tính chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong đó xác định cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả Lần đầu tiên đề cập đến việc từng bước thành lập các xí nghiệp, các công ty cổ phần

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (năm 1994), lần đầu tiên Đảng ta phân biệt sở hữu nhà nước với hình thức doanh nghiệp nhà nước và chủ trương tập trung xây dựng doanh nghiệp nhà nước ở những ngành, lĩnh vực và những khâu trọng yếu; thực hiện các hình thức cổ phần hoá ở mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, trong

đó sở hữu nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối

Đại hội lần thứ VIII của Đảng (năm 1996) lại xác định nền kinh tế nước

Trang 17

- Kinh tế tư bản nhà nước;

- Kinh tế cá thể, tiểu chủ;

- Kinh tế tư bản tư nhân

Xu hướng phát triển các thành phần kinh tế được xác định:

Khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thay cho vai trò của kinh tế quốc doanh trước đây, coi doanh nghiệp nhà nước chỉ là một bộ phận quan trọng của của kinh tế nhà nước

Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài, có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý của các nhà tư bản

Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng lâu dài

Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) xác định có 6 thành phần kinh tế như sau:

- Kinh tế nhà nước;

- Kinh tế tập thể;

- Kinh tế cá thể, tiểu chủ;

- Kinh tế tư bản tư nhân;

- Kinh tế tư bản nhà nước;

- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Đại hội IX khẳng định thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần; các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong

đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân

Trang 18

Sự khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển được thể hiện khá rõ trong Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ năm khoá IX như sau: “Kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là một vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh

tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”6

Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định “phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo ”7

Trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010, Đại hội X đã chỉ đạo cụ thể về phát triển kinh tế tư nhân “tiếp tục phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân Tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình kinh tế tư nhân đầu tư phát triển theo quy định của pháp luật, không hạn chế về quy mô, ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử; bảo đảm thật sự bình đẳng, tạo thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp nhỏ

và vừa, các hộ kinh doanh được tiếp cận các nguồn vốn tại các tổ chức tín dụng của Nhà nước, kể cả quỹ hỗ trợ phát triển; được đáp ứng thuận lợi nhu cầu sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp lớn của tư nhân, các tập đoàn kinh tế tư nhân có nhiều chủ

sở hữu với hình thức công ty cổ phần”8

Từ những quan điểm trên, các cơ chế chính sách của Nhà nước đối với phát triển kinh tế tư nhân trong những năm qua đã có sự chuyển hướng rõ rệt

Trang 19

Từ Nghị quyết số 27/CP ngày 09/3/1988 của Chính phủ chính thức xác nhận quyền hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, đến Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty được công bố ngày 21/12/1990, Nghị định số 66/HĐBT ngày 02/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng Hiến pháp năm 1992 cũng quy định:

“công dân Việt Nam có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” Tiếp theo đó, liên tục các chính sách, luật pháp được ban hành, thay đổi, phát triển cho phù hợp với tình hình mới như: Luật khuyến khích đầu tư trong nước (1994), Luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi (1998), Luật doanh nghiệp (1999) và Luật doanh nghiệp (2005) (luật chung doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh) và hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành các luật

Với sự ra đời của Luật doanh nghiệp (1999), phương thức quản lý theo lối “năng lực quản lý đến đâu thì mở đến đó” đã từng bước được thay thế bằng “năng lực quản lý phải được xây dựng, tăng cường đủ mức thúc đẩy và quản lý được quá trình phát triển” Phương thức quản lý nhà nước theo hướng kiểm tra, kiểm soát là chủ yếu đang từng bước được thay thế bằng phương thức hợp tác và tạo điều kiện là chủ yếu, hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ngày càng được nâng cao Những thay đổi nói trên thúc đẩy thêm công cuộc cải cách hành chính và nâng cao năng lực bộ máy hành chính nhà nước phù hợp hơn với yêu cầu của thể chế kinh tế thị trường

Tất cả các văn bản luật, nghị định nói trên đã tạo cơ sở hành lang pháp lý quan trọng, tạo ra một sân chơi bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với các loại hình doanh nghiệp, tạo động lực mạnh mẽ cho các thành phần kinh tế phát triển, trong đó có các thành phần thuộc kinh tế tư nhân

Nhìn chung, từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ X của Đảng, nhận thức về nền kinh tế nhiều thành phần đã không ngừng phát triển, cả về

tư duy kinh tế, cơ chế quản lý nền kinh tế dẫn đến khái niệm về mô hình tổng quát nền kinh tế nước ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Trang 20

Qua đó có thể nhận thấy rằng đây là bước ngoặt lịch sử trong tư duy kinh tế của Đảng, từ chỗ chỉ thừa nhận nền kinh tế có hai thành phần là kinh

tế nhà nước và kinh tế tập thể sang thực hiện nhất quán và lâu dài phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, tạo một luồng sinh khí mới cho nền kinh tế nước ta phát triển hoà nhập vào nền kinh tế chung toàn cầu

1.2.2 Tình hình phát triển của kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới

Chủ trương đổi mới của Đại hội VI của Đảng đã thổi một luồng sinh khí mới thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển Sự phát triển của kinh tế tư nhân của nước ta từ năm 1986 đến nay có thể chia thành ba giai đoạn:

a Giai đoạn từ năm 1986 – 1990 (giai đoạn từ khi bắt đầu đổi mới đến trước khi Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty được ban hành):

Đây là giai đoạn khởi đầu công cuộc đổi mới, các quan điểm đổi mới kinh tế do Đại hội Đảng VI đề ra dần dần được cụ thể hoá Nghị quyết 10 ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá VI “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” (hay còn gọi là khoán 10) đã khẳng định các hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài

đã có tác dụng như một cuộc cách mạng trong tư duy phát triển nông nghiệp của Đảng

Về phía Nhà nước, cũng đã bắt đầu soạn thảo và ban hành một số đạo luật cho kinh tế tư nhân phát triển, nhưng vẫn chưa cụ thể hoá các hình thức hoạt động của các thành phần kinh tế; mặt khác trong khi hậu quả của những sai lầm cũ chưa được khắc phục thì chúng ta lại gặp phải những khó khăn mới

do những khuyết điểm mới nảy sinh trong những năm đầu đổi mới như: giá, lương, tiền; vỡ tín dụng, tranh chấp đất đai trong nông nghiệp Trong khi đó, tình hình quốc tế lại có những biến động lớn, tác động trực tiếp đến công cuộc phát triển kinh tế và bảo vệ chủ nghĩa xã hội của nước ta Do vậy, kinh tế tư nhân của nước ta trong giai đoạn này chỉ mới bắt đầu được tái lập, chưa phát triển rõ nét

Trang 21

b Giai đoạn từ năm 1991 – 1999 (giai đoạn thực hiện Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân):

Thời kỳ này đánh dấu sự phát triển mạnh của các thành phần kinh tế trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, trong đó kinh tế tư nhân phát triển khá mạnh nhờ phát huy tác dụng của Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân, Nghị định 221/HĐBT ngày 23/7/1991 và Nghị định số 66/HĐBT ngày 02/3/1992

Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp, năm 1990 cả nước mới có khoảng 800.000 cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ thì đến năm 1992 đã có 1.498.611 hộ cá thể, tiểu chủ đăng ký kinh doanh và đến năm 2000 đã là 2.137.713 hộ đăng ký kinh doanh, tăng 1.337.713 hộ, bình quân mỗi năm tăng 133.771 (tương ứng 6,26% năm)

Sau khi thực hiện Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, các loại hình doanh nghiệp cũng phát triển một cách vượt bậc về số lượng Nếu năm

1991, cả nước mới có 414 doanh nghiệp được thành lập, thì năm 1992 đã tăng lên 5.198 doanh nghiệp (tăng 1.155%), năm 1993: 6.808 doanh nghiệp (tăng 31% so với năm trước), năm 1994: 10.881 doanh nghiệp (60%), năm 1995: 15.276 doanh nghiệp (tăng 40%), năm 1996: 18.994 doanh nghiệp (tăng 24,3%), năm 1997: 25.002 doanh nghiệp (tăng 31,6%), năm 1998: 26.021 doanh nghiệp (tăng 4%) và đến năm 1999: 33.521 doanh nghiệp (tăng 28,8%)9

c Giai đoạn từ năm 2000 đến nay:

Đây là giai đoạn phát triển mạnh hơn nhiều lần so với giai đoạn trước

đó, một mặt do những nội dung đổi mới quan trọng của Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX), một mặt về phía Nhà nước do ban hành Luật doanh nghiệp (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2000) thay thế cho Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân (1990) đã tạo hành lang pháp lý cho việc ra đời nhiều

9 Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 262, tháng 3 – 2000

Trang 22

doanh nghiệp với các hình thức sở hữu vốn đa dạng, đồng thời cũng có nhiều văn bản pháp quy nhằm đẩy mạnh sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội theo hướng đa dạng hoá các hình thức nhằm phát huy tối đa mọi nguồn vốn của xã hội vào quá trình phát triển đất nước

Theo số liệu thống kê của Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ

Kế hoạch và Đầu tư), từ đầu năm 2000 đến hết năm 2005, đã có 160.569 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, gấp 3,3 lần so với tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập giai đoạn 1991 – 1999 Số doanh nghiệp đăng ký trung bình hàng năm hiện nay bằng khoảng gần 6 lần so với số trung bình hàng năm giai đoạn 1991 – 1999; số vốn đăng ký mới đạt khoảng 321,2 nghìn tỷ đồng (khoảng 20 tỷ USD), chưa kể số vốn doanh nghiệp đăng ký bổ sung trong qúa trình hoạt động (khoảng 103,4 nghìn tỷ đồng tương đương 6,4 tỷ USD); con

số này gấp hơn nhiều lần so với vốn đăng ký giai đoạn 1991 – 1999 Ngoài ra còn có hàng chục nghìn chi nhánh, văn phòng đại diện và khoảng hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động10 Riêng năm 2006 đã có 46.663 doanh nghiệp mới đăng ký thành lập, với số vốn đăng ký là 148.065 tỷ đồng (9,2 tỷ USD) và 32.137 lượt doanh nghiệp đăng ký thay đổi vốn với số vốn đăng ký bổ sung là 59.347 tỷ đồng (3,68 tỷ USD); 7 tháng đầu năm 2007, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới khoảng 28.600, với số vốn đăng

ký khoảng 222.035 tỷ đồng (13,76 tỷ USD) và khoảng 21.321 lượt doanh nghiệp đăng ký thay đổi vốn, với số vốn đăng ký thêm là 128.292 tỷ đồng (7,95 tỷ USD), tổng vốn đăng ký mới và bổ sung trong 7 tháng đầu năm 2007 tăng 68,6% so với cả năm 200611

Theo số liệu báo cáo tại Hội nghị phát triển doanh nghiệp dân doanh tổ chức ngày 07/9/2007 thì đến nay cả nước đã có khoảng 230 ngàn doanh nghiệp dân doanh, bên cạnh đó có hơn 3 triệu hộ kinh doanh cá thể Khu vực

10 CIEM, báo cáo 6 năm thi hành Luật doanh nghiệp, Hà Nội 2006.

11 Tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư, báo cáo 1 năm thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư, tháng 9 năm 2007.

Trang 23

này hiện đóng góp khoảng 70-80% GDP, trong đó nếu tính riêng doanh

nghiệp dân doanh cũng đã đóng góp tới một nửa GDP của cả nước

Nhờ đó, tỷ trọng đầu tư của dân cư và doanh nghiệp trong tổng đầu tư

phát triển toàn xã hội đã tăng từ 22,6% năm 2000 lên 26,2% năm 2002;

29,7% năm 2003, 30,9% năm 2004 và 32,1% năm 200512 và năm 2006 là

33,6%13 Tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp thuộc tư nhân trong nước liên

tục tăng và đã vượt lên hơn hẳn tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và

đạt gần bằng tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và tín dụng nhà

nước (Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và vốn tín dụng nhà nước

trong tổng đầu tư phát triển toàn xã hội tương ứng là: 10,6% và 16,8% năm

2001; 8% và 17,6% năm 2002; 9,3% và 16,9% năm 2003; 9,1% và 16,5%

năm 2004; 9,0 và 16,1% năm 200514; 14,7% và 8,9% năm 200615 Vốn đầu tư

của các doanh nghiệp dân doanh đã đóng vai trò quan trọng, thậm chí là

nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với phát triển kinh tế địa phương Ví dụ, đầu tư

của các doanh nghiệp dân doanh năm 2002 ở thành phố Hồ Chí Minh đã

chiếm 38% tổng số vốn đầu tư toàn thành phố, cao hơn tỷ trọng vốn đầu tư

của doanh nghiệp nhà nước và ngân sách nhà nước gộp lại (36,5%)

Thực tế cho thấy, Luật doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong

việc giải phóng và phát triển được sức sản xuất, huy động và phát huy được

nội lực vào xây dựng và phát triển kinh tế xã hội Nguyên nhân do Luật này

ban hành đã tạo điều kiện cho công dân được quyền tự do kinh doanh những

ngành, nghề mà pháp luật không cấm, tư duy sáng tạo về ý tưởng kinh doanh

và phương thức tổ chức kinh doanh được giải phóng; Luật đã tạo ra sự thay

đổi tích cực trong quan niệm xã hội về doanh nghiệp và doanh nhân, nó bước

đầu khơi dậy, tạo không khí phấn chấn đi kinh doanh, khuyến khích và cổ vũ

được tinh thần kinh doanh, ý chí làm giàu cho mình và cho đất nước, củng cố

12 CIEM (2006), Kinh tế Việt Nam năm 2005

13 CIEM (2007), Kinh tế Việt Nam năm 2006

14 CIEM (2006), Kinh tế Việt Nam năm 2005

15 CIEM (2007), Kinh tế Việt Nam năm 2006

Trang 24

và tăng thêm được lòng tin của người đầu tư và kinh doanh vào đường lối đổi mới của Đảng, luật pháp và chính sách của Nhà nước Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã phát biểu tại Hội nghị gặp mặt doanh nghiệp ngày 13-14 tháng 9 năm 2001 tại Hà Nội về đánh giá Luật doanh nghiệp: “ Nếu khoán

10 trước đây đã giải phóng lực lượng sản xuất trong nông thôn, nông nghiệp

và khẳng định vai trò của hộ gia đình gắn với các hình thức hợp tác có tác dụng to lớn biến nước ta từ một nước nhập khẩu lương thực trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới thì Luật doanh nghiệp đã thực

sự là một bước đột phá trong thể chế kinh tế, giải phóng lực lượng sản xuất ở vùng đô thị, phát triển các loại hình doanh nghiệp dân doanh”

1.2.3 Những thành tựu và hạn chế của kinh tế tư nhân ở Việt Nam

a Những thành tựu:

Với sự phát triển vượt bậc trong những năm gần đây của nền kinh tế nước ta nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng, kinh tế tư nhân đã có những tác động tích cực và đóng góp to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong thời kỳ đổi mới Những thành tựu chính mà kinh tế tư nhân đạt được bao gồm:

* Về quy mô: Từ lúc không có doanh nghiệp tư nhân nào, với việc ra đời Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp thuộc kinh

tế tư nhân phát triển ngày càng nhanh về số lượng Nếu năm 1991 cả nước mới có 414 doanh nghiệp các loại hình thuộc khu vực kinh tế tư nhân, thì đến năm 1999 đã tăng lên hơn 33.521 doanh nghiệp, tức là tăng gấp 80 lần trong vòng 8 năm Đặc biệt là sau khi Luật doanh nghiệp được ban hành và có hiệu lực vào ngày 01-01-2000 thì tốc độ doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân tăng một cách chóng mặt; sau hai năm thi hành Luật doanh nghiệp đã có 32.214 doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân được thành lập (các loại hình), bằng cả giai đoạn 1991-1999, và sau 6 năm thi hành Luật doanh nghiệp (cuối năm

Trang 25

2005) đã có 160.569 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh16, gấp 4,7 lần giai đoạn 1991-1999, năm 2006 có 46.663 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh (nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư), đó là chưa kể đến hàng ngàn chi nhánh và văn phòng đại diện được thành lập và khoảng 3 triệu hộ kinh doanh cá thể được đăng ký kinh doanh và đang hoạt động

* Về tốc độ phát triển: Kinh tế tư nhân có tốc độ phát triển nhanh hơn các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của cả nước giai đoạn 1995 – 2000 là 6,9%/năm thì của khu vực kinh tế

tư nhân là 7,2%/năm, năm 2000 kinh tế tư nhân đạt tốc độ tăng trưởng GDP 8,6% (cả nước đạt 6,8%); năm 2001 kinh tế tư nhân đạt tốc độ tăng GDP 6,35% (kinh tế nhà nước là 7,44%); năm 2002 là 7,05% (kinh tế nhà nước là 7,11%); năm 2003 là 6,36% (kinh tế nhà nước là 7,65%); năm 2004 là 6,95% (kinh tế nhà nước là 7,75%); năm 2005 là 8,19% (kinh tế nhà nước là 7,36%); năm 2006 là 8,69% (kinh tế nhà nước là 5,48%)17

* Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động: Kinh tế tư nhân tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, qua đó làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần tích cực vào việc xoá đói, giảm nghèo Lý do kinh tế tư nhân tạo ra nhiều việc làm là do kinh tế tư nhân cần ít vốn hơn trong việc tạo ra việc làm mới; xét ở góc độ giải quyết việc làm thì đây là khu vực có tỷ lệ thu hút lao động trên vốn đầu tư cao nhất trong nền kinh tế Theo số liệu năm 1997, để tạo một chỗ làm việc mới, hộ kinh doanh cá thể cần 6,06 triệu đồng, các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân cần khoảng 80 triệu đồng, doanh nghiệp nhà nước cần 230 triệu đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần 590 triệu đồng

Tính đến năm 2000, khu vực kinh tế tư nhân đã thu hút được hơn 4,6 triệu lao động, chiếm 70% trong tổng lao động xã hội trong khu vực sản xuất

16 CIEM, báo cáo 6 năm thi hành Luật doanh nghiệp, Hà Nội 2006

17 CIEM (2007), Kinh tế Việt Nam năm 2006

Trang 26

phi nông nghiệp; nếu so sánh với khu vực kinh tế nhà nước thì số việc làm trong khu vực kinh tế tư nhân gấp 1,36 lần

Trong những năm gần đây, lao động trong khu vực kinh tế tư nhân tăng rất nhanh, cụ thể trong 5 năm (1996 – 2000), lao động trong khu vực kinh tế

tư nhân tăng 778.681 người (tăng 20,14%), trong đó số lao động làm việc ở các doanh nghiệp tăng thêm tăng 137,6%, ở các hộ cá thể tăng 8,3%; trong 5 năm (2001-2005), khu vực này đã tạo thêm khoảng 2 triệu chỗ làm việc mới Đến năm 2006, tổng số lao động làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân (cả hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp) có khoảng 6 triệu người, chiếm khoảng 17% lực lượng lao động18; riêng số doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể thành lập mới và mở rộng kinh doanh năm 2006 đã tạo thêm được 180.000 chỗ làm mới cho người lao đồng, tăng gấp 2 lần so với năm 200519

Nguyên nhân của việc số lao động tăng nhanh trong khu vực kinh tế tư nhân do quy mô nhỏ, chi phí đào tạo lao động thấp, tốc độ tăng đột biến của các doanh nghiệp thuộc khu vực này, các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, thu nhập cao do doanh nghiệp năng động trong kinh doanh

* Về huy động các nguồn vốn trong dân cư: Kinh tế tư nhân thu hút một khối lượng vốn ngày càng lớn của toàn xã hội, góp phần nâng cao nội lực, đẩy mạnh sự phát triển sức sản xuất và có những đóng góp không nhỏ vào ngân sách Nhà nước Tổng vốn đăng ký kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần từ năm 1991 đến tháng 9 năm 2001 đạt 50.795 tỷ đồng và tăng rất nhanh trong giai đoạn 2000 đến nay (do Luật doanh nghiệp đi vào cuộc sống); trong khoảng thời gian 2000 - 2005, số vốn đăng ký mới đạt khoảng 321,2 nghìn tỷ

18 CIEM, báo cáo 6 năm thi hành Luật doanh nghiệp, Hà Nội 2006

19 Tổ công tác thi hành LDN & LĐT, báo cáo 1 năm thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư,

2007

Trang 27

đồng (khoảng 20 tỷ USD), và vốn doanh nghiệp đăng ký bổ sung trong quá trình hoạt động khoảng 103,4 nghìn tỷ đồng (khoảng 6,3 tỷ USD)20

Tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp thuộc tư nhân liên tục tăng và vượt hơn hẳn tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước Vốn đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh đóng vai trò quan trọng, thậm chí là nguồn vốn đầu

tư chủ yếu đối với phát triển kinh tế một số địa phương (vốn đầu tư doanh nghiệp dân doanh năm 2002 của TP Hồ Chí Minh chiếm 38% tổng vốn đầu

tư toàn thành phố, DNNN + ngân sách = 36,5%)

Đầu tư đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, việc đảm bảo chất lượng đầu tư là một vấn đề quan trọng Và một khi tỷ trọng đầu tư tư nhân cao hơn sẽ góp phần tăng hiệu suất vốn đầu tư do các công ty tư nhân vì lợi nhuận

sẽ xem xét dự án đầu tư chặt chẽ và hiệu quả hơn

Bên cạnh đó, hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân cũng cao hơn các khu vực kinh tế khác Điều này thể hiện là mặc dù quy mô vốn còn nhỏ

bé, nhưng do kinh tế tư nhân năng động, nhạy bén với kinh tế thị trường nên

tỏ ra có khả năng cạnh tranh trên thị trường hơn các thành phần kinh tế khác

Theo nhận định của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), trong giai đoạn 2006 – 2010 tổng đầu tư của nền kinh tế sẽ chiếm khoảng 38,5% GDP trong đó có quá nửa là đầu tư của khu vực tư nhân trong và ngoài nước Tỷ lệ này tăng mạnh so với giai đoạn 2001 – 2001 ở mức 46%

* Đóng góp ngân sách nhà nước: Đóng góp vào ngân sách nhà nước của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng tăng, năm 1996 là 5.242 tỷ đồng (chiếm 5,7% tổng thu NS), năm 2000 tăng lên 5.900 tỷ đồng (7,3% tổng thu NS), năm 2001 là 6.370 tỷ đồng, năm 2006 kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 14,8% tổng thu ngân sách

* Tăng sản lượng hàng hoá xuất, nhập khẩu: Các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân đã tham gia vào lĩnh vực xuất nhập khẩu Năm 1999 cả nước

20 CIEM, báo cáo 6 năm thi hành Luật doanh nghiệp, Hà Nội 2006

Trang 28

mới có 8.200 doanh nghiệp thuộc tư nhân được xuất nhập khẩu trực tiếp, đến năm 2000 đã tăng lên 16.200 doanh nghiệp Kim ngạch xuất khẩu từ chỗ chỉ chiếm 11% năm 1997 đã tăng lên 48,5% năm 2002 (không tính dầu thô) Giá trị nhập khẩu từ chỗ chỉ chiếm 5% năm 1997, đã tăng lên 24% năm 2002

* Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh: Trong nền kinh tế thị trường,

sự tồn tại của doanh nghiệp tư nhân cùng với các loại hình doanh nghiệp khác

sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh Bởi muốn tồn tại trên thị trường, các doanh nghiệp đều phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào cạnh tranh thì việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực càng hiệu quả

b Hạn chế: Bên cạnh những thành tựu đạt được ở trên, kinh tế tư nhân

Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định

* Quy mô sản xuất kinh doanh: Kinh tế tư nhân của nước ta hiện nay phần lớn có quy mô nhỏ; máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu; trình độ quản trị doanh nghiệp yếu kém; sức cạnh tranh trên thị trường còn yếu Có trên 95% các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là các doanh nghiệp vừa

và nhỏ

* Dễ bị biến động trong nền kinh tế thị trường:

Hầu hết các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân được thành lập không dựa trên phương án đầu tư ban đầu, chưa có kế hoạch cụ thể; mà chỉ dựa trên kinh nghiệm, nên trong quá trình sản xuất kinh doanh chưa tính toán được nhu cầu thực tế của thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm nên dễ dàng bị động trước sự biến động của kinh tế thị trường

* Nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế:

Lao động thuộc khu vực kinh tế tư nhân chủ yếu là lao động phổ thông,

ít được đào tạo bài bản; chỉ có khoảng 50% lao động là được đào tạo một cách

có bài bản, còn cơ bản là thông qua học việc là chính Ngay cả trình độ của cán bộ quản lý, thậm chí là giám đốc doanh nghiệp cũng không cao, nhiều

Trang 29

giám đốc doanh nghiệp chưa qua trường lớp đào tạo, chỉ thông qua kinh doanh buôn bán nhỏ lẻ (hộ cá thể), có kinh nghiệm rồi thành lập doanh nghiệp; hoặc đi lên từ những nghệ nhân của các làng nghề truyền thống Phần lớn các doanh nghiệp tiếp nhận lao động do Nhà nước đào tạo, các doanh nghiệp chưa có kế hoạch cụ thể về đào tạo nguồn nhân lực do thiếu vốn và lo

sợ người lao động không gắn bó với doanh nghiệp sau khi được đào tạo xong Qua điều tra cho thấy chỉ có 5,13% lao động có trình độ đại học, trong đó doanh nghiệp tư nhân là 1,9%, công ty TNHH 8,6%, công ty cổ phần 1,3% và trên 48% chủ doanh nghiệp không có bằng cấp chuyên môn

* Huỷ hoại môi trường:

Doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân chủ yếu với quy mô nhỏ và vừa, công nghệ sản xuất lạc hậu và việc đổi mới công nghệ chậm; do vậy các doanh nghiệp sản xuất dễ gây tổn hại cho môi trường tự nhiên Ngoài ra, vì mục đích lợi nhuận của mình nên doanh nghiệp thuộc khu vực này thường không chú ý đến vấn đề đầu tư để xử lý chất thải, đồng thời còn khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, làm mất cân bằng sinh thái gây ô nhiễm môi trường

* Phát triển không đồng đều giữa các ngành, các vùng

Do một số ngành, nghề như thương mại, dịch vụ không yêu cầu vốn lớn, thời gian luân chuyển vốn nhanh và lợi nhuận cao nên các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân quan tâm đầu tư hơn là lĩnh vực sản xuất công nghiệp; dẫn đến mất cân đối nền kinh tế, làm lệch định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Đảng và Chính phủ

Xét về phương diện địa lý, doanh nghiệp thuộc tư nhân thường tập trung ở những địa bàn thuận lợi cho kinh doanh như nơi đông dân cư, thuận lợi về giao thông, nguồn nguyên vật liệu, nguồn lao động, cơ sở hạ tầng, khả năng tiêu thụ sản phẩm.v.v như thành phố Hồ Chí Minh, TP Hà Nội, TP Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, Đà Nẵng v.v mà ít đầu tư vào những

Trang 30

vùng, miền không thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh Điều này gây nên mất cân đối trong vấn đề phát triển kinh tế giữa các vùng, miền; đồng thời tạo ra các luồng di cư từ nông thôn ra thành thị gây xáo trộn về xã hội

* Khó khăn trong việc tiếp cận được với nguồn vốn:

Phần lớn các doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở nguồn vốn ít ỏi của gia đình hoặc vay mượn người thân, việc tiếp cận với ngân hàng để vay vốn rất khó khăn, chỉ khả thi với những doanh nghiệp đã đi vào hoạt động có hiệu quả và có tài sản để thế chấp

* Còn hạn chế trong việc áp dụng khoa học – kỹ thuật – công nghệ: Với quy mô nhỏ, tình trạng thiếu vốn sản xuất, thiếu vốn đầu tư chiều sâu hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh đang là cản trở lớn đối với doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân Do thiếu vốn nên phần lớn các loại máy móc, thiết bị và công nghệ là lạc hậu; mặt khác, trình độ quản lý của các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân còn yếu kém nên phần nào cũng hạn chế trong việc đầu tư máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại

* Khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường còn yếu, kém:

Do các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân chủ yếu là nhỏ và vừa, đi lên từ làm ăn nhỏ, bằng kinh nghiệm là chủ yếu và chưa có chiến lược kinh doanh rõ ràng nên việc tiếp cận và mở rộng thị trường rất khó khăn, nhất là thị trường nước ngoài; mặt khác do máy móc, công nghệ lạc hậu nên năng suất lao động thấp, dẫn đến giá thành sản phẩm cao trong khi mẫu mã sản phẩm không phong phú cũng là yếu tố làm thua thiệt trong thương trường của các doanh nghiệp thuộc tư nhân Các doanh nghiệp tư nhân nói riêng và doanh nghiệp của Việt Nam nói chung chưa chú trọng lắm đến vấn đề xây dựng và quảng bá thương hiệu cũng là một yếu tố làm hạn chế việc mở rộng thị trường

Các doanh nghiệp tư nhân thường tiêu thụ sản phẩm trên thị trường địa phương dựa trên các mối quan hệ cá nhân, chỉ có khoảng 30% sản phẩm khu

Trang 31

vực kinh tế tư nhân được bán cho khu vực nhà nước, việc đưa sản phẩm ra tiêu thụ ở nước ngoài còn khó khăn hơn nhiều do quy mô nhỏ lẻ của doanh nghiệp tư nhân

* Các vấn đề mang tính chất xã hội:

Nhìn chung nhiều doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân chưa thực hiện tốt những quy định của pháp luật về lao động, hợp đồng lao động, chế độ tiền lương, thưởng, bảo hiểm, bảo hộ lao động đối với người lao động Các doanh nghiệp này luôn luôn tìm mọi cách né tránh những trách nhiệm trên do phải bỏ ra thêm nhiều chi phí

Các vấn đề vi phạm pháp luật khác như trốn thuế, kinh doanh trái phép, cạnh tranh không lành mạnh vẫn diễn ra tràn lan

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở ĐĂK LĂK

2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân ở Đăk Lăk

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Đăk Lăk là một tỉnh thuộc Tây Nguyên, có vị trí chiến lược về chính trị, quân sự và kinh tế; là trung tâm Cao nguyên trung phần của nước Việt Nam

Đăk Lăk có diện tích tự nhiên là 13.085km2; phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng và Đăk Nông, phía Tây giáp tỉnh Modulkiri (Cămpuchia) với đường biên giới dài khoảng 70km, độ cao trung bình từ 500 – 800m so với mực nước biển

Tỉnh Đăk Lăk có thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội của tỉnh và cả vùng Tây Nguyên, có quốc lộ 14 nối với các

Trang 32

tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đã Nẵng, Bình Phước, Bình Dương và TP Hồ Chí Minh; có quốc lộ 26 nối liền với tỉnh Khánh Hoà, QL27 nối với tỉnh Lâm Đồng, QL14C nối với Cămpuchia

Địa hình tỉnh Đăk Lăk rất đa dạng và phong phú, nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với đồng bằng thấp ven theo các sông chính

Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng khí hậu, vùng phía Tây Bắc nắng nóng và khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông có khí hậu mát mẻ,

ôn hoà Nhiệt độ trung bình hàng năm là 240c, tháng nóng nhất và lạnh nhất chênh lệch nhau khoảng 50c Nhìn chung đặc điểm khí hậu vừa bị chi phối bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên với nhiệt

độ ôn hoà gần như quanh năm, đã tạo ra các vùng sinh thái thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, bông vải

Hệ thống sông, suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú và phân bố tương đối đồng đều Trên địa bàn tỉnh có hai hệ thống sông chính là sông Sêrepok với sông chính dài khoảng 315km và sông Ba nằm về phía Đông Bắc của tỉnh với hai thuỷ lưu chính là Ea Krông Hil và Ea Krông Năng Bên cạnh đó còn

có các hồ tự nhiên, và nhân tạo lớn là hồ Lăk, hồ Ea Kao và Buôn Triết

Theo Nghị quyết Quốc hội số 22/2002/QH11, ngày 26/11/2003 “về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh” Tỉnh Đăk Lăk có diện tích là 1.308.500ha; diện tích đất nông nghiệp: 422.735ha (chiếm 32,4%); diện tích đất lâm nghiệp có rừng: 608.887ha (chiếm 46,6%); đất chuyên dùng: 34.410ha (2,9%); đất ở: 9.145ha (0,7%); đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá: 229.024ha (17,4%)

Toàn tỉnh có 8 nhóm đất; có 2 nhóm chiếm ưu thế cả về diện tích và ý nghĩa sử dụng, đó là:

Trang 33

- Nhóm đất xám (Acrisols): chiếm 412.510ha bằng 31,6% diện tích tự nhiên

- Nhóm đất đỏ (Ferasols): chiếm 513.760ha bằng 39,1% diện tích tự nhiên

Chất lượng của một số loại đất đều thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, bông vải cho năng suất cao và chất lượng tốt

Với lượng mưa bình quân là 1.900mm, thì Đăk Lăk có 28,6 tỷ m3 nước, trong đó lượng nước mưa chảy vào dòng chảy khoảng 14,5tỷ m3; nguồn nước ngầm trên vùng đất bazan tương đối lớn

Đăk Lăk có hai hệ thống sông chính là sông Sêrepôk và sông Ba với tổng diện tích lưu vực khoảng 13.000km2, có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, ngoài việc tạo nên cảnh quan thiên nhiên kỳ thú phục vụ du lịch, đây còn là tiềm năng thuỷ điện lớn và phong phú của Đăk Lăk Tổng trữ năng thuỷ điện được dự tính trên địa bàn khoảng 820MW, điện lượng trung bình hàng năm khoảng 3.700 triệu Kwh; hiện tại đã có 10 công trình thuỷ điện nhỏ đã được đầu tư xây dựng với tổng công suất lắp máy 14,99MW đang hoạt động Các công trình thuỷ điện lớn là Buôn Kuốp 280MW và Buôn Tua Sáp 86MW đang được khởi công xây dựng, công trình Sêrêpôk III 220MW và Sêrêpôk

IV 28MW đang chuẩn bị khởi công Các điểm tiềm năng thuỷ điện vừa và nhỏ còn lại khoảng 101 điểm, với tổng công suất khoảng 190MW Trong đó

12 điểm đã được điều tra khảo sát và kêu gọi đầu tư đợt đầu với tổng công suất khoảng 31,3MW; 79 điểm tiềm năng thuỷ điện với tổng công suất khoảng 144,47MW còn lại cũng sẽ được nghiên cứu kêu gọi đầu tư trong giai đoạn tiếp theo

Rừng là thế mạnh của Tỉnh, được phân bố đồng đều trên các huyện, đặc biệt là hành lang biên giới giáp Cămpuchia Rừng Đăk Lăk phong phú và đa dạng về chủng loại động, thực vật, thường có kết cấu 3 tầng nên có tác dụng

Trang 34

phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản, vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học cao Tổng diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng hiện nay là 608.920

ha với tỷ lệ độ che phủ là 46,6%, trữ lượng gỗ 52.580.460m3

2.1.2 Nhân tố văn hoá - xã hội

Dân số Đăk Lăk khoảng 1,7 triệu người (tính đến đầu năm 2005), bao gồm 44 dân tộc anh em cùng định cư sinh sống Trong đó:

- Dân tộc kinh chiếm: 70,65%

- Dân tộc Êđê chiếm: 13,69%

Ngành giáo dục đã được quan tâm đầu tư thích đáng và đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần nâng cao trình độ dân trí Năm 2000, Đăk Lăk đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận hoàn thành chương trình quốc gia

Trang 35

xoá mù chữ và phổ cập tiểu học Hiện tại, toàn tỉnh có 580 trường phổ thông, 8.116 phòng học với 545.100 học sinh, trong đó con em dân tộc thiểu số là 132.430 học sinh

Toàn tỉnh có 03 trường đào tạo hệ trung học chuyên nghiệp, 01 trường cao đẳng và 01 đại học Tây Nguyên, 14 trung tâm giáo dục thường xuyên, 01 trung tâm ngoại ngữ - tin học tỉnh và một số cơ sở ngoại ngữ - tin học tư nhân

Lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật của tỉnh hiện nay là 144.000 người, chiếm 18,03%, trong đó số đã qua đào tạo nghề là 95.840 người, chiếm 12% lực lượng lao động Trong đó, công nhân kỹ thuật là 29.000 người; lao động đã qua đào tạo nghề là 66.840 người

2.1.3 Nhân tố kinh tế

Tốc độ phát triển kinh tế những năm gần đây của Đăk Lăk tương đối cao, năm 2004 tốc độ tăng trưởng đạt 10,43% (giá so sánh 1994), tăng gấp 1,37 lần so với năm 2000 Nhịp độ tăng bình quân hàng năm đạt 8,16% (2001 – 2004), trong đó ngành công nghiệp – xây dựng tăng khá cao (17,77%), ngành dịch vụ cũng vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra (15,21%); năm 2005 tốc độ tăng trưởng đạt 8,33% và năm 2006 đạt 9,11%

Cơ cấu kinh tế của Đăk Lăk đang chuyển dịch theo hướng tích cực Thực tế cho thấy Đăk Lăk đang hướng đầu tư sang lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ; đây là xu hướng tất yếu của tỉnh hiện tại và tương lai bởi lợi thế về tài nguyên đất đai đã được khai thác đưa vào sử dụng cho nông nghiệp tương đối ổn định, bảo đảm cân bằng Hiện nay, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sản xuất thâm canh, tăng vụ

Thu ngân sách qua các năm đều có xu hướng tăng, đặc biệt là trong những năm gần đây khi Nhà nước sửa đổi, bổ sung một số sắc thuế như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp Mặt khác,

do phân cấp nguồn thu cho các cấp ngân sách và thực hiện mở rộng uỷ nhiệm

Trang 36

thu cho các cấp huyện, xã nên các cấp đã chủ động tích cực đẩy mạnh thu ngân sách Năm 2004, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.146 tỷ, năm 2005 đạt 1.279 tỷ đồng, năm 2006 đạt 1.649tỷ đồng

Về hệ thống tài chính – ngân hàng: Hiện nay đã có nhiều chi nhánh ngân hàng nhà nước, ngân hàng cổ phần và nhiều tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk Hệ thống thanh toán liên ngân hàng cũng đã được triển khai và tiếp tục mở rộng Có các đầu mối ngân hàng, tín dụng gồm:

- Hệ thống chi nhánh NHNo & PTNT: 50 đầu mối cơ sở

- Chi nhánh Ngân hàng đầu tư & PT: 05 đầu mối cơ sở

- Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương

- Chi nhánh Ngân hàng công thương

- Chi nhánh Ngân hàng cổ phần thương mại Đông Á

- Chi nhánh Ngân hàng cổ phần thương mại Á Châu

- Chi nhánh Ngân hàng phục vụ người nghèo

- Chi nhánh Quỹ tín dụng trung ương

- 13 Quỹ tín dụng nhân dân

- 01 tổ chức tín dụng của Ngân hàng TM Sài Gòn Thương Tín

- Công ty vàng bạc đá quý

Về thương mại: Đối với thị trường trong nước, các doanh nghiệp đã quan tâm tới việc hình thành và mở rộng mạng lưới kinh doanh theo các kênh phân phối và tiêu thụ hàng hoá; mở rộng mạng lưới đại lý mua bán trong tỉnh

và các địa phương trong vùng

Hàng hoá của tỉnh đã được xuất khẩu sang 59 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với các mặt hàng chủ yếu là: cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, mật ong, tinh bột sắn, sản phẩm từ gỗ Trong những năm qua, ngành xuất khẩu đã đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, tác động tích cực vào sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời tạo đà cho nhiều ngành kinh tế trong tỉnh phát triển, góp phần

Trang 37

quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tăng dẫn các ngành chế biến và dịch vụ phục vụ xuất khẩu

Về phát triển nông nghiệp, hiện nay Đăk Lăk đang thực hiện Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế xã hội đối với nông nghiệp Trong đó việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi được đặt lên hàng đầu nhằm tạo ra một cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với môi trường sinh thái và yêu cầu thị trường Trong những năm qua người trồng cà phê ở Đăk Lăk được tỉnh hỗ trợ các chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp, giãn nợ vay ngân hàng, cho vay mới ở vùng chuyên canh có hiệu quả Từ năm 2003 Đăk Lăk đã có nhiều dự án áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác chăn nuôi và phát triển giống; nhìn chung các mô hình trình diễn đều được đánh giá có hiệu quả cả về mặt kinh tế

và xã hội

Về công nghiệp, nhờ phát huy được sức mạnh nội lực cùng với sự nhanh nhạy chớp lấy thời cơ nên trong thời gian vừa qua ngành công nghiệp Đăk Lăk đã có nhiều biến chuyển sâu sắc Đến nay, công nghiệp đã hình thành được một hệ thống khá đồng bộ gồm các ngành sản xuất và phân phối điện, nước, khai thác mỏ và đặc biệt là công nghiệp chế biến; nhiều cơ sở công nghiệp có quy mô vừa và tương đối hiện đại được xây dựng và đưa vào sản xuất như chế biến cà phê, mía đường, tinh chế gỗ, cán bông, sản xuất vật liệu xây dựng

Trong những năm qua do có sự nỗ lực kêu gọi cũng như tạo điều kiện khuyến khích, thu hút đầu tư nên các nhà đầu tư trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh đã đầu tư khá nhiều dự án công nghiệp vào tỉnh Đăk Lăk Trong giai đoạn 2001 – 2005 đã có hơn 100 dự án có quy mỗ khác nhau được đầu tư Riêng năm 2004 đã có thêm 9 dự án được khởi công xây dựng và 11 nhà máy sản xuất công nghiệp đi vào hoạt động (chưa kể các xưởng sản xuất có quy

mô vừa và nhỏ), nhờ đó giá trị sản xuất công nghiệp đã tăng lên đáng kể, nhất

Trang 38

là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh; năm 2005 đầu tư 08 dự án chế biến nông lâm sản với tổng vốn đầu tư hơn 200 tỷ đồng; từ năm 2006 đến nay đã

có 21 dự án được được khởi công xây dựng Đặc biệt, đã có doanh nhân mạnh dạn bỏ vốn ra đầu tư xây dựng nhà máy thuỷ điện tư nhân đầu tiên ở Việt Nam tại Đăk Lăk với công suất 5000kw đã đưa vào hoạt động

Về cơ chế chính sách:

Sau kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, Đăk Lăk đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, quy mô nền kinh tế của tỉnh đã được mở rộng, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tiến bộ, lĩnh vực văn hoá - xã hội được cải thiện, môi trường sinh thái được bảo vệ, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của tỉnh

Nhờ các chính sách vĩ mô, môi trường pháp lý trong kinh doanh và các yếu tố cơ bản của cơ chế thị trường được cải thiện và phù hợp với thực tiễn, qua đó cho phép khai thác tốt hơn các nguồn lực của tỉnh Năng lực sản xuất mới ở các ngành được nâng lên và định hình rõ nét theo hướng sản xuất hàng hoá

Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng đã ban hành các chính sách khuyến khích

ưu đãi đầu tư phát triển du lịch và phát triển công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến; khuyến khích bảo đảm đầu tư trực tiếp nước ngoài cho tỉnh Đây là những chính sách quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển kinh tế chung của tỉnh

Việc nước ta gia nhập OPEC, WTO, thực hiện AFTA, ký kết Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, đang và sẽ tạo điều kiện cho việc hoà nhập, mở rộng thị trường và các chủng loại sản phẩm xuất khẩu, trong đó có mặt hàng nông lâm sản truyền thống của tỉnh

2.1.4 Chính sách phát triển thành phần kinh tế tư nhân của Nhà nước và của tỉnh Đăk Lăk

Trang 39

Đảng và Nhà nước đã không ngừng đổi mới chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trực tiếp tác động thúc đẩy sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân

Luật doanh nghiệp số 13/1999/QH10 do Quốc hội khoá X ban hành

và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2000, là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo ra bước đột phá về cải cách thể chế và thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước ta Do

đó, đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế dân doanh trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk trong thời gian qua phát triển khá mạnh mẽ

Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 do Quốc hội khoá XI ban hành ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2006 đã gộp chung Luật doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp nhà nước làm một Có thể nói, Luật doanh nghiệp 2005 là một cải cách cơ bản trong hệ thống pháp luật về doanh nghiệp ở nước ta, dựa trên sự thành công đã được thừa nhận rộng rãi của Luật doanh nghiệp 1999, đây là bước đột phá quan trọng nhằm xoá bỏ khoảng cách giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong vấn đề phân biệt, đối xử

Luật hợp tác xã cũng đã có những bước cải cách về thủ tục hành chính,

do đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hợp tác xã đã thành lập trước đây đăng ký lại và một số hợp tác xã mới thành lập

Việc triển khai thực hiện Luật khuyến khích đầu tư trong nước, các qui định về vay vốn tín dụng, về cho thuê mặt bằng sản xuất cũng có những tác động tích cực đến việc phát triển các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua

Chính quyền tỉnh Đăk Lăk cũng đã có những nỗ lực trong việc đưa ra những chính sách và chương trình trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân Cụ thể như:

Trang 40

a Hoạt động xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa:

Để tạo điều kiện cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong thời gian qua, tỉnh đã cho phép thành lập một số hội nghề nghiệp của các doanh nghiệp như: Hội doanh nghiệp Đăk Lăk, Hội doanh nghiệp trẻ, Hiệp hội vận tải Tỉnh đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức các đợt tập huấn về Luật doanh nghiệp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật hợp tác xã .và những nội dung liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngoài ra, tỉnh còn tổ chức các hội chợ để cho các doanh nghiệp giới thiệu, quảng bá sản phẩm

b Thực hiện các chính sách và chương trình trợ giúp doanh nghiệp:

* Chính sách khuyến khích thu hút đầu tư của địa phương:

Để thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và du lịch và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, tháng 12/2001 Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã có quyết định ban hành chính sách khuyến khích đầu tư phát triển du lịch và chính sách khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp tại tỉnh Đăk Lăk Theo đó, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu có dự án đầu tư vào các ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp và du lịch trên địa bàn tỉnh, thì ngoài việc được hưởng các chính sách ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật khuyến khích đầu

tư trong nước, còn được hưởng thêm một số chính sách ưu đãi đầu tư của tỉnh như đất đai, thuế (phần thu tỉnh được hưởng)

Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã ban hành Quyết định số 72/2004/QĐ-UB ngày 29/11/2004 về việc ban hành “Quy định về chính sách

hỗ trợ các tổ chức, cá nhân sản xuất gạch chuyển sang sử dụng công nghệ sản xuất gạch đất sét nung - lò gạch liên tục kiểu đứng trên địa bàn tỉnh”

Tỉnh cũng đã thành lập Quỹ đầu tư phát triển của tỉnh để cho các doanh nghiệp thuộc diện được ưu đãi đầu tư vay vốn với lãi suất ưu đãi

Ngày đăng: 17/09/2020, 23:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm