Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách chặt chẽ và có hiệu quả, đảm bảo rủi ro trong giới hạn chấp nhận được, giảm thiểu các thiệt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Giáo viên hướng dn
TS NGUYỄN MẠNH HÙNG
Chủ tịch hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
TS LÊ TRUNG THÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Mạnh Hùng Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn
là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên
Học viên
Nguyễn Thị Thu Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Mạnh Hùng, đã
tận tình hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô khoa Tài chính ngân hàng, khoa sau đại học đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cảm ơn tới anh Nguyễn Tiến Thành – Phòng kế hoạch tổng hợp và các anh chị công tác tại – Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Vĩnh Phúc đã nhiệt tình trao đổi, góp ý và cung cấp thông tin tư liệu để học viên hoàn thiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Thị Thu Phương
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… ……… … i
DANH MỤC BẢNG BIỂU……… … ii
DANH MỤC HÌNH……… iii
I LỜI MỞ ĐẦU……… ……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ 2
4 Câu hỏi nghiên cứu 2
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Những đóng góp mới của luận văn 3
8 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU……… 5
1.1 Tổng quan về NHTM và hoạt động tín dụng của NHTM 5
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại: 5
1.1.2 Hoạt động tín dụng của NHTM 5
1.1.3 Đặc trưng của tín dụng 6
1.1.4 Rủi ro tín dụng 7
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 9
1.1.6 Tác động của rủi ro tín dụng 16
1.2 Quản lý rủi ro tín dụng của NHTM 17
1.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng 17
1.2.2 Vai trò của quản trị lý ro tín dụng đối với Ngân hàng thương mại 18 1.2.3 Các nguyên tắc chung trong quản lý rủi ro tín dụng 19
1.2.4 Nội dung quản lí rủi ro tín dụng 19
1.2.5 Chuẩn mực quản lý rủi ro tín dụng theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng: 23
1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá quản lý rủi ro tín dụng……… 26
Trang 61.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng 31
1.3 Tình hình nghiên cứu 35
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU………… 37
2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 37
2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 37
2.3 Phương pháp thống kê, so sánh 37
2.4 Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu 38
2.5 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế 38
2.5.1 Đề xuất bảng câu hỏi khảo sát 38
2.5.2 Một số hạn chế khi thực hiện việc khảo sát 38
2.5.3 Kết quả khảo sát thực tế 39
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CTVN – CNVP……… 43
3.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP CTVN - CNVP 43
3.1.1 Thông tin chung 43
3.1.2Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP CTVN – CNVP……… 43
3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP CTVN - CNVP 44
3.2 Khái quát chung về tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Công Thương Vĩnh Phúc: 44
3.2.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh 45
3.2.2 Hoạt động huy động vốn: 47
3.3 Hoạt động quản lý rủi ro tại chi nhánh: 53
3.3.1 Mô hình quản lý rủi ro: 53
3.3.2 Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh 55
3.4 Đánh giá hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh 58
3.4.1 Đánh giá chung tình hình hoạt động của chi nhánh (2012-2014) 58
3.4.2 Những tồn tại trong quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh 58
CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH VĨNH PHÚC 65
Trang 74.1 Định hướng phát triển hoạt động Ngân hàng TMCP CTVN – Chi
nhánh Vĩnh Phúc trong thời gian tới 65
4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP CTVN - Chi nhánh Vĩnh Phúc 69
4.2.1 Hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay 70
4.2.2 Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng 74
4.2.3 Nâng cao hiệu quả quản lý dòng tiền 76
4.2.4 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ 77
4.2.5 Tăng cường xử lý nợ quá hạn, nợ tồn đọng một cách triệt để 78
4.2.6 Tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo chất lượng 78
4.2.7 Củng cố và hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng 80
4.2.8 Tăng cường phát triển công nghệ thông tin 81
4.2.9 Thực hiện bảo hiểm tín dụng 81
4.3 Một số kiến nghị 82
4.3.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước……… …… 82
4.3.2 Đối với Chính Phủ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 90
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
4 Bảng 3.4 Phân loại nợ theo QĐ 493/2005/QĐ-NHNN 52
5 Bảng 3.5 Phân loại nợ đủ tiêu chuẩn và nợ quá hạn 52
Trang 10DANH MỤC HÌNH
1 Hình 2.1 10 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng 41
2 Hình 2.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín
8 Hình 3.6 Dƣ nợ cho vay theo loại hình doanh nghiệp 51
Trang 11I LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh chính mang lại nguồn thu và lợi nhuận chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam, thu nhập từ tín dụng chiếm tới 60%-70% thu nhập của ngân hàng Tuy nhiên, cùng với việc mang lại nguồn thu nhập đáng kể thì hoạt động tín dụng cũng là lĩnh vực có rủi
ro lớn nhất Hậu quả mà rủi ro tín dụng gây ra cũng rất nặng nề như: làm tăng chi phí hoạt động của ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất đi cùng với sự thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính và cuối cùng làm tổn hại đến uy tín và
vị thế của ngân hàng và ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế
Rủi ro tín dụng luôn song hành với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể dùng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu những thiệt hại khi có rủi ro Nhất là trong những năm gần đây tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng tăng cao làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng và sự phát triển của nền kinh tế Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách chặt chẽ và có hiệu quả, đảm bảo rủi ro trong giới hạn chấp nhận được, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng từ đó tăng thêm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng và thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Rủi ro tín dụng tuy không phải là đề tài mới nhưng với quy mô nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng ngày càng gia tăng như hiện nay thì việc nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng quản lý rủi ro và đề xuất các giải pháp phù hợp, có tính khả thi cao nhằm nâng cao chất lượng quản lý rủi ro góp phần phát triển kinh doanh bền vững là một yêu cầu vô cùng cấp thiết đối với hệ thống ngân hàng Chính vì
vậy tôi lựa chọn đề tài “Quán lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ
phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Phân tích tình hình hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP CTVN – CNVP; Nguyên nhân dẫn đến rủi ro và các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP CTVN- CNVP; Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP CTVN- CNVP
3 Nhiệm vụ
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản lý rủi
ro tín dụng hoạt động của các Ngân hàng thương mại;
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Vĩnh Phúc;
Đề xuất một số biện pháp cụ thể nâng cao hiệu quản quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Vĩnh Phúc
4 Câu hỏi nghiên cứu
Thế nào là rủi ro tín dụng, nguyên nhân và bản chất của rủi ro tín dụng từ góc độ kinh tế và pháp lý?
Mô hình quản lý rủi ro tín dụng hiện nay đang được áp dụng trong quản lý rủi ro tín dụng?
Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng TMCP CTVN- CNVP?
Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP CTVN- CNVP?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP CTVN- CNVP trong giai đoạn từ 2012-2014
Trang 136 Phương pháp nghiên cứu
Cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng, luận văn được thực hiện dựa trên các cơ sở:
Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP CTVN- CNVP;
Ghi nhận các ý kiến, các nhận định của các cản bộ tín dụng thông qua các mẫu điều tra về nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các giải pháp góp phần hạn chế rủi ro tín dụng;
Trao đổi kinh nghiệm giữa các cán bộ tín dụng tại Ngân hàng TMCP CTVN- CNVP, các cán bộ trong hệ thống Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, và các cán bộ công tác trong ngành tài chính, ngân hàng nói chung;
Trên cơ sở lý luận, các số liệu thực tế tổng hợp được, kết quả các mẫu điều tra, và các ý kiến nhận định của các cán bộ tín dụng, tác giả sử dụng các phương pháp so sánh tương đối, tuyệt đối, phương pháp biểu đồ, phân tích đánh giá tình hình hoạt động tín dụng, xác định những gì đạt được và những mặt tồn tại của Ngân hàng TMCP CTVN- CNVP
7 Những đóng góp mới của luận văn
Phân tích một cách hệ thống, toàn diện và khách quan thực tế tình hình rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP CTVN- CNVP để thấy được thực trạng và những khó khăn đối với công tác quản lý rủi ro tín dụng trong 3 năm từ 2012 đến 2014 của Ngân hàng này
Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng để Ngân hàng TMCP CTVN - CNVP có được sự tăng trưởng một cách ổn định, an toàn, bền vững trong hoạt động tín dụng mình
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Trang 14Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro tín dụng và tổng quan tình hình
nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng TMCP CTVN – CNVP
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng TMCP CTVN- CNVP
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về NHTM và hoạt động tín dụng của NHTM
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, và thực hiện các chính sách kinh tế,các chính sách tiền tệ vì vâỵ là kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm phát triền kinh tế ổn định
Hiện nay có rất nhiều các khái niệm khác nhau nói về NHTM
Theo Peter S.Rose thì: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” (Peter S.Rose, 2001, trang 18)
Theo luật các Tổ chức tín dụng của nước Việt Nam Số 47/2010/QH12 thì
“Hoạt động Ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” [7, trang 4]
1.1.2 Hoạt động tín dụng của NHTM
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỉ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM vào khoảng 70% tổng tài sản, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng Tín dụng có nghĩa là sự tin tưởng và tín nhiệm lẫn nhau
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và bên kia là các tác nhân (doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội ) trong nền kinh tế quốc
dân.[4, trang 138]
Có thể nói tín dụng là chức năng quan trọng nhất của các tổ chức trung gian tài chính nói chung và của ngân hàng nói riêng, là dịch vụ sinh lời chủ yếu của các
tổ chức này
Trang 16Theo luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam thì “Hoạt động tín dụng là
việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng” [7, trang 5]
“Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng
một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác” [7, trang 3]
1.1.3 Đặc trưng của tín dụng
Quan hệ tín dụng có bốn đặc trưng cơ bản: lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ẩn chứa khả năng rủi ro
Lòng tin: thể hiện trong quan hệ tín dụng ở việc người cho vay luôn
tin tưởng vào ý định trả nợ, có khả năng trả nợ của người vay cũng như tin rằng người vay sau khi sử dụng một lượng giá trị mà người cho vay cung cấp sẽ đem về một lượng giá trị lớn hơn
Tính hoàn trả: đây là đặc trưng cơ bản nhất trong quan hệ tín dụng
Sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng với các quan hệ khác Nếu không có sự hoàn trả thì đó là quan hệ tín dụng không tốt đẹp Không có sự hoàn trả thì người cho vay sẽ không thu hồi được vốn và dẫn đến thua lỗ, phá sản, đi ngược lại với lợi ích kinh doanh
Tính thời hạn: xuất phát từ bản chất của tín dụng, đó là sự tín nhiệm,
người cho vay tin tưởng người đi vay hoàn trả vào một ngày trong tương lai đã thoả thuận Người đi vay sẽ chỉ được sử dụng vốn vay trong một khoản thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn như đã thoả thuận thì người đi vay phải hoàn trả lại cho người vay
Tính ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro: do sự bất cân xứng về thông tin,
người cho vay không biết rõ về người đi vay, điều này có thế dẫn đến rủi ro lựa chọn nghịch hoặc rủi ro đạo đức
Một mối quan hệ tín dụng được gọi là tốt đẹp nếu người đi vay hoàn trả lại được cả gốc và lãi đúng thời hạn theo hợp đồng hai bên đã ký kết Tuy nhiên trong
Trang 17thực tế lại không hiếm trường hợp người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình đối với chủ nợ do các nguyên nhân chủ quan hay khách quan gây ra Đó là trường hợp khi đến hạn trả vốn vay, người vay không thể hoàn trả được khoản nợ của mình dẫn đến nợ quá hạn, hình thành các khoản nợ xấu, Nợ quá hạn, nợ xấu
là biểu hiện không lành mạnh của quá trình hoạt động tín dụng, nó báo hiệu sự xuất hiện của rủi ro (rủi ro vốn, rủi ro thanh khoản, )
1.1.4 Rủi ro tín dụng
1.1.4.1.Khái niệm rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động kinh tế gắn liền với sự thăng trầm của nền kinh tế Đó là việc ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn huy động để cung cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng một ngân khoản với nguyên tắc có tính hoàn trả thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ liên quan Vì vậy, khi các cá nhân, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp rủi ro thì tất yếu dẫn đến rủi ro cho các TCTD như ngân hàng, nơi cấp tín dụng cá nhân cho các tổ chức, doanh nghiệp
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ
cả gốc và lãi của khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng
kỳ hạn Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp nhận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ, Và rủi ro tín dụng có thể do bản thân ngân hàng gây ra, cũng có thể thuộc về phía khách hàng, hoặc do các nguyên nhân khách quan khác
Theo khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
(Ban hành theo Quyết định số 493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước) thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
Trang 18dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [9, trang 1]
Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chính, mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng Các quy luật kinh tế đã chứng minh: lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro là mối quan hệ tỷ lệ thuận Để phát triển ổn định thì việc hạn chế rủi ro (nhất là rủi ro tín dụng) là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng
1.1.4.2 Các loại hình rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng, việc sử dụng cách phân loại nhƣ thế nào là tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, mục đích quản lý Đối với ngân hàng, việc phân loại có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thiết kế chính sách, quy mô, thủ tục và cả mô hình tổ chức nhằm đảm bảo nhận biết đầy đủ các yếu tố làm phát sinh rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu Thực
tế cho thấy, sự phân tách trách nhiệm càng rõ ràng thì càng làm cho việc quản lý rủi
ro hiệu quả
Nếu phân loại theo đối tượng sử dụng thì có thể chia làm 3 nhóm chính là:
rủi ro khách hàng cá thể, rủi ro công ty/tổ chức kinh tế, rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý
Nếu phân theo phạm vi thì có thể chia ra làm hai loại: rủi ro giao dịch đơn lẻ
và rủi ro hệ thống Rủi ro giao dịch đơn lẻ có thể hiểu là rủi ro gắn với giao dịch cụ thể nào đó, nhƣ với một khoản vay của một khách hàng Loại rủi ro này gắn liền và xuất phát chủ yếu do đặc điểm cá biệt của một khoản vay/khách hàng Trong khi đó, rủi ro hệ thống là rủi ro gắn với một nhóm khách hàng, chẳng hạn đối với một ngành hoặc thậm chí cả một nền kinh tế Loại rủi ro này mang tính chất vĩ mô và liên quan nhiều đến việc quản lý danh mục tín dụng
Nếu phân loại theo giai đoạn phát sinh rủi ro, thì có thể có các loại rủi ro
nhƣ: rủi ro thẩm định – tức là thẩm định sai khách hàng, rủi ro khi cho vay – chẳng
Trang 19hạn như giải ngân sai mục đích làm cho khoản vay không phát huy hiệu quả, hay rủi
ro trong khi quản lý, xử lý thu nợ
Ngoài ra, phân loại theo sản phẩm thì có rủi ro của các sản phẩm nội bảng
(cho vay, thấu chi, chiết khấu), rủi ro của các sản phẩm ngoại bảng trong tài trợ thương mại như L/C, bảo lãnh Những sản phẩm khác nhau với những đặc thù khác nhau sẽ cấu thành nên các loại hình rủi ro khác nhau, do đó đòi hỏi có sự thay đổi trong quy trình quản trị rủi ro tín dụng một cách tương ứng
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
1.1.5.1 Các nhân tố chủ quan
a Kiểm soát tình hình tài chính và quản lý dòng tiền của khách hàng
Đây là nội dung quan trọng trong quá trình thẩm định một món vay là việc thẩm định nguồn trả nợ của khách hàng Một dự án kinh doanh đạt hiệu quả cao nhưng nếu như nhân viên tín dung khi đầu tư dự án kinh doanh cho khách hàng mà
lơ là hoặc lỏng lẻo trong việc kiểm soát dòng tiền của khách hàng Điều này sẽ dẫn đến khả năng khách hàng thu hồi được nguồn vốn của phương án nhưng lại không đem trả Ngân hàng mà sử dụng vào các mục đích khác và khi đến hạn trả nợ khách hàng sẽ không trả được nợ Vì vậy, việc quản lý dòng tiền của khách hàng ảnh
hưởng rất lớn đến rủi ro tín dụng ngân hàng
b Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các Ngân hàng
Bộ phận kiểm tra nội bộ của ngân hàng là bộ phận sát sao và nắm rõ nhất từng nghiệp vụ phát sinh của ngân hàng Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian ví nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn
đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức Kiểm tra nội
bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng - phanh” của cỗ xe tín dụng Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho
cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con
Trang 20đường đi tới
c Sự tuân thủ các quy trình, quy chế của ngân hàng
Ngoài việc tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước và Luật các TCTD, thì hệ thống quy trình quy chế của NHTM được coi là xương sống và hành lang pháp lý để hoạt động kinh doanh Kinh doanh Ngân hàng, được coi là ngành có lợi nhuận cao song cũng đi liền với rất nhiều rủi ro Một trong những nhân tố rất nguy hiểm dẫn đến rủi ro tín dụng, đó là nhân viên ngân hàng thực hiện sai quy trình quy chế Điều này rất nguy hiểm trong quá trình xét duyệt cho vay, việc không tuân thủ đúng quy trình nghiệp vụ trong quá trình thẩm định và xét duyệt, có thể là một chi tiết nhỏ nhưng đôi khi lại gây nên hậu qua nghiêm trọng
d Đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của CBTD
Rất nhiều vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ Ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền Ngân hàng Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ là một trong các yếu tố quan trọng
để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
e Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay
Thường ngân hàng chỉ có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của Ngân hàng nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên, trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này Điều này do một phần yếu tố tâm lý ngại
Trang 21gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ Ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh của các khách hàng quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu
f Dự báo kinh tế vĩ mô
Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, dự báo kinh tế vĩ mô theo định kỳ
là rất quan trọng Việc dự báo này giúp các NHTM định hình rõ mục tiêu nên đầu tư vào ngành nghề kinh doanh nào để đem lại hiệu quả lợi nhuận nhất trong từng thời
kỳ nhất định Kết quả dự báo kinh tế vĩ mô của Ngân hàng đặc biệt quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược kinh doanh ngân hàng tại từng thời điểm Nếu
hệ thống dự báo, phân tích kinh tế vĩ mô càng sát thực tế thì rủi ro tín dụng về đầu
tư ngành, thị trường mục tiêu càng được giảm thiểu Như vậy, dự báo kinh tế vĩ mô tại mỗi ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng phát triển của ngân hàng, đồng thời là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng
g Sự hợp tác giữa các NHTM hiện tại còn lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thật sự đem lại hiệu quả
Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là một nghề đặc biệt, huy động vốn để cho vay hay nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể trách khỏi, các Ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do yêu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều Ngân hàng Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin dẫn đến việc nhiều Ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất
cả chứ không chừa một Ngân hàng nào
Trong bối cảnh nền kinh tế như hiện nay và tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các Ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin
Trang 22còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời
1.1.5.2 Các nhân tố khách quan
a Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí, ý trí trong việc trả nợ vay
Khi vay vốn ngân hàng, khách hàng đều phải có các phương án kinh doanh
cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên, những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các khách hàng khác
b Khả năng quản lý kinh doanh không hiệu quả
Khi khách hàng vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, phần lớn
là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít khách hàng nào dám mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kết toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra
nó phải thành công trên thực tế
c Tình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch
Vốn ít và quy mô tài sản nhỏ bé là đặc điểm chung của hầu hết các khách hàng vay vốn Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các khách hàng tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà các khách hàng cung cấp cho Ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ Ngân hàng lập các bảng phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các khách hàng cung cấp thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao Ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng
d Sự biến động quá nhanh và không dự báo được thị trường thế giới
Trang 23Việt Nam có nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và
công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu),
dầu thô, may gia công,…vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên
dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu Điển hình như ngành Dệt may trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì bị khống chế hạn ngạch làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các khách hàng của Ngân hàng nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung Ngành Thuỷ sản cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá vừa qua, Đặc biệt giữa năm
2008 và đầu năm 2009 chúng ta chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, làm hầu hết các mặt hàng đều giảm giá kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây Đối với những ngân hàng lớn cấp tín dụng cho khách hàng đảm bảo bằng hàng hóa hoặc tín chấp đã gặp rủi ro giảm giá trị tài sản đảm bảo, doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ dẫn đến nợ quá hạn tại ngân hàng
e Rủi ro của quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế hoàn toàn có thể làm cho
nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các những khách hàng của Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các Ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các Ngân hàng nước ngoài thu hút
f Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư hợp lý dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu
tư trong rất nhiều ngành nghề
Khi tiến tới nền kinh tế thị trường thì tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan Tuy nhiên ở nước ta thời
Trang 24gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với
sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các Hiệp hội và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia
g Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Kém hiệu quả của các cơ quan pháp luật ở địa phương
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều Luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng trong những năm gần đây Tuy nhiên, Luật và các Văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về cưỡng chế thu hồi nợ Những Văn bản này đều có quy định: Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý TSĐB nợ vay để thu hồi nợ Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực Nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao TSĐB cho ngân hàng để
xử lý hoặc việc chuyển TSĐB nợ vay để Toà án xử lý qua con đường tố tụng… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng
Thanh tra, kiểm tra, giám sát của NHNN chưa hiệu quả
Ngoài những kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo
an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng Năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới Thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đổi mới Vai trò kiểm toán chưa được phát huy và
hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu Thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ hoạt động thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo
Trang 25cách xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro và vi phạm Mô hình tổ chức của thanh tra Ngân hàng còn nhiều bất cập Do vậy mà có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số NHTM dẫn đến những rủi ró rất lớn, có nguy cơ đe doạ sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý sớm hơn
Hệ thống thông tin quản lý bất cập:
Ở Việt Nam hiện nay chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và Ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng (CIC) của NHNN hoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin của các Ngân hàng Đó cũng là thách thức cho hệ thống Ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng
Tóm lại: Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân: chủ quan
hoặc khách quan Ngân hàng có thể đưa ra các giải pháp hạn chế rủi ro dựa trên các nguyên nhân trên, nhưng có giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những giải pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng Ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát triển ở Việt Nam Trong tầm tay của các Ngân hàng, rủi ro tín dụng phụ thuộc vào năng lực của cán bộ tín dụng trong việc phát triển và hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay Năng lực cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của CBTD và các nguồn lực của Ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật chất
Trang 261.1.6 Tác động của rủi ro tín dụng
1.1.6.1 Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại Do đó, thực chất quyền sở hữu những khoản cho vay là quyền sở hữu của người
đã gửi tiền vào Ngân hàng Bởi vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra thì không những Ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng
Nếu mà một Ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các Ngân hàng khác cũng hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các Ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng gặp phải khó khăn Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn Hơn nữa, sự hoảng loạn của các Ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất
ổn định
Mặt khác, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay, nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới Kinh nghiệm cho chúng ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ năm 2001-2002 đã làm rung chuyển toàn cầu Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2007
đã làm toàn bộ
nền kinh tế toàn cầu bị suy giảm và khủng hoảng trầm trọng Mặt khác, mối liên hệ
về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan
1.1.6.2 Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Nếu rủi ro tín dụng mà xảy ra, thì ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng Ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này sẽ làm cho Ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng
Trang 27quay vốn tín dụng giảm làm cho Ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của Ngân hàng tăng lên so với dự kiến
Khi một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì Ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đấy, Ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì Ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút,
uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà còn lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của Ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một Ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ
nhất là Ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi Ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến Ngân hàng
bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, Ngân hàng sẽ
bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nến kinh tế nói chung và hệ thống Ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị Ngân hàng phải hết sức thận
trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay
1.2 Quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
1.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Theo Decottignise (1981) “Quản lý rủi ro, đó là dự phòng - với chi phí thấp
nhất - các nguồn lực tài chính, cần và đủ tùy theo từng tình huống cụ thể Đó chính
là kiểm soát và loại trừ nếu có thể bằng cách giảm thiểu hay chuyển giao chúng, tối
ưu hóa cách thức sử dụng các nguồn lực tài chính doanh nghiệp”
Từ những quan điểm và nội dung như đã đề cập ở trên có thể hiểu: Quản lý
rủi ro tín dụng là một quá trình từ việc hoạch định chiến lược đến việc tổ chức thực hiện, điều khiển và kiểm soát việc thực hiện chiến lược, phòng ngừa, hạn chế và xử
lý rủi ro trong hoạt động tín dụng mà NHTM đã đề ra
Trang 281.2.2 Vai trò của quản trị lý ro tín dụng đối với Ngân hàng thương mại
Rủi ro trong kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế thị trường luôn luôn là vấn đề cần được quan tâm, do hoạt động ngân hàng có tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng mạnh đến sự ổn định kinh tế- xã hội Nếu một ngân hàng nào
đó gặp rủi ro, lâm vào tình trạng thiếu khả năng thanh toán, có nguy cơ hoặc thực sự
đi đến phá sản, dễ gây tâm lý hoảng loạn, khiến mọi người đổ xô đi rút tiền gửi của mình thật nhanh để tránh bị tổn thất, gây đổ vỡ hệ thống
Lịch sử hoạt động ngân hàng trên thế giới đã chứng kiến không ít các ngân hàng lớn bị phá sản, mà hậu quả của nó thậm chí không giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà lan ra cả nhiều nước trong khu vực hay toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ tại châu Á năm 1997 đã làm cho nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính của các nước trong khu vực bị phá sản Nhiều ngân hàng nhỏ ở Thái lan, Nhật Bản, Indonesia, Philippin đã phải sáp nhập hoặc bị các ngân hàng lớn mua lại, nhiều công ty tài chính, môi giới chứng khoán đã bị phá sản
Tương tự cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp nhà ở tại Mỹ cuối năm 2008 đã ảnh hưởng đến hàng loạt nền kinh tế khác và gây nên khủng hoảng tài chính toàn cầu, được ví là cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ năm 1933 đến nay Nếu những tổn thất do rủi ro trong hoạt động tín dụng gây ra ở mức kiểm soát được thì việc xử lý tương đối dễ dàng trong giới hạn cho phép của quỹ dự phòng bù đắp rủi ro của TCTD Nhưng khi tổn thất lớn, vượt quá khả năng xử lý của TCTD thì vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng, gây hậu quả khó lường không những cho chính TCTD đó, mà còn cho cả những TCTD và doanh nghiệp khác có liên quan, ảnh hưởng tới quyền lợi người gửi tiền và cuối cùng, ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế, và là nguy cơ tiềm ẩn cho khủng hoảng tài chính
Tóm lại, công tác quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung, trong hoạt động tín dụng nói riêng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại của mỗi ngân hàng Nếu công tác quản trị rủi ro tín dụng được thực hiện tốt, sẽ hạn chế được
Trang 29những rủi ro xảy ra đối với ngân hàng, làm tăng thu nhập của ngân hàng Ngoài ra, công tác quản trị rủi ro nếu được thực hiện tốt còn tạo điều kiện cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung Vì khi rủi ro được hạn chế, tức là ngân hàng đã cung cấp vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế và đó chính là động lực phát triển nền kinh tế.
1.2.3 Các nguyên tắc chung trong quản lý rủi ro tín dụng
- Phân tán rủi ro: Không nên tập trung cấp tín dụng cho một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng có liên quan với nhau hay các ngành nghề kinh tế có liên quan tới nhau Theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ban hành ngày 20 tháng 05 năm 2010 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam có qui định về tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, tổng mức dư nợ cho vay, bảo lãnh là 25% Đối với một nhóm khách hàng liên quan thì tổng dư nợ cho vay đối với một nhóm khách hàng lien quan không được vượt quá 50% vốn tự có, tổng dư nợ và bảo lãnh là 60%
- Quy trình xét duyệt cấp tín dụng phải thông qua nhiều cấp nhiều người hoặc qua tập thể để tránh tình trạng quyền quyết định cho vay chỉ do cán bộ tín dụng xem xét và quyết định
- Kiểm tra, giám sát thường xuyên: Quy trình tín dụng và các khoản cấp tín dụng phải chịu sự giám sát và kiểm soát chặt chẽ của cán bộ và các cấp liên quan tới cấp tín dụng và bộ phận giám sát tín dụng độc lập Đây là các biện pháp kiểm soát hoặc điều chỉnh thích hợp nhằm hạn chế những vi phạm nguyên tắc hoặc tổn thất gây ra do thay đổi so với nhận định ban đầu khi cho vay Kiểm soát phải được thực hiện xuyên suốt trước – trong và sau khi cho vay, kiểm soát tuân thủ đúng các chính sách và quy định tín dụng, theo dõi và đánh giá việc thực hiện phương án/ dự
án vay so với nhận định ban đầu và các ảnh hưởng có thể xảy ra nhằm điều chỉnh phù hợp với các điều kiện quản lý
1.2.4 Nội dung quản lí rủi ro tín dụng
a Nội dung quản lý rủi ro tín dụng
Trang 30-Quản lý các khoản tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn, nợ khó đòi:
Ngân hàng luôn xây dựng chính sách sống chung cùng rủi ro vì rủi ro là tất yếu của quá trình kinh doanh Ngân hàng chỉ có thể hạn chế rủi ro hoặc chất lượng rủi ro Để có thể quản lý rủi ro, ngân hàng cần phân loại nợ quá hạn, nợ khó đòi, hoặc nợ có vấn đề Sau đó cần phân tích nguyên nhân, thực trạng, cách giải quyết vấn đề
Trong trường hợp người vay có khó khăn tài chính tạm thời, xong vấn còn khả năng và ý muốn trả nợ, ngân hàng áp dụng chính sách hỗ trợ như: cho vay thêm, ra hạn nợ, giảm lãi
Trong trường hợp người vay lừa đảo, không có khả năng trả nợ, ngân hàng áp dụng chính sách thanh lí như bán tài sản thế chấp, phong toả tiền gửi trên tài khoản
Xây dựng quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất, dựa trên tỉ lệ rủi ro chấp nhận và danh mục các khoản cho vay rủi ro, ngân hàng sẽ xây dựng các quỹ dự phòng Qũy này không những có tác dụng giảm rủi ro mà còn chống đỡ cho vốn chủ khi tổn thất xảy ra Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của thống đốc ngân hàng nhà nước thì các ngân hàng thương mại sẽ phải chịu các khoản dự phòng chung và dự phòng cụ thể
Dự phòng chung: là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể hoặc trong các trường hợp khó khăn về tài chính của ngân hàng khi chất lượng các khoản vay suy giảm
Dự phòng cụ thể: là khoản tiền được thiết lập dựa trên cơ sở phân loại nợ cụ thể để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra Số tiền dự phòng cụ thể được quy định trong thông tư 02/2013/TT-NHNN tính theo công thức dưới đây:
R= 𝒏𝒊=𝟏𝑹𝒊
Trong đó Ri= (Ai-Ci).r
Trang 31Trong đó R: tổng số tiền dự phòng cụ thể phải trích
Ri: tổng số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng từ 1 đến n Ai: số dư nợ gốc thứ i
Ci: giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo
- Xác định danh mục các khoản tài trợ với các mức rủi ro khác nhau
Các loại khách hàng khác nhau, các đối tượng cho vay khác nhau sẽ có những mức độ rủi ro khác nhau
+ Tín dụng thương mại: Thì rủi ro sẽ liên quan tới khả năng đánh giá tình trạng kinh doanh và tài chính của người vay, ví dụ như khách hàng truyền thống tốt,
có quan hệ lâu năm với ngân hàng sẽ có mức độ rủi ro thấp hơn Đối với cho vay thương mại thì rủi ro chủ yếu sẽ là do những tác động của thị trường đối với người vay như hàng bán giảm sút, giá nguyên liệu tăng, thiên tai, sự cạnh tranh trong thị trường hàng hoá
Trang 32+ Cho vay tiêu dùng: Đây sẽ là những rủi ro liên quan đến thu nhập của người vay và khả năng kiểm soát thông tin về người vay vì trong những trường hợp này thì thông tin thường ít, ngân hàng sẽ khó kiểm soát thông tin của người vay và
sẽ khó thu nợ, công ăn việc làm của người vay thường không ổn định
+ Cho vay đối với các trung gian tài chính như các ngân hàng thương mai, các tổ chức tài chính phi ngân hàng Phần lớn các khoản vay này không có tài sản đảm bảo do vậy nếu các tổ chức này bị phá sản thì ngân hàng cho vay sẽ bị phá sản
+ Cho vay đối với Nhà nước: Cho vay đối với Nhà nước thì độ an toàn sẽ cao hơn tuy nhiên trong trường hợp nền kinh tế bị khủng hoảng thì các khoản cho vay đối với nhà nước sẽ bị ảnh hưởng
b Định hướng trong xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng hiện đại
- Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp
Đây chính là việc tạo điều kiện để khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận vốn vay, thực hiện việc giao dịch một cửa, thủ tục nhanh gọn, tránh gây phiền hà, sách nhiễu khách hàng, đòi hỏi những khoản bồi dưỡng khi cán bộ tín dụng cấp vốn vay cho khách hàng
- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh theo những qui định của ngân hàng Nhà nước, cấp tín dụng cho những đối tượng theo qui định, theo đúng qui trình và quy chế cho vay, cũng như quá trình kiểm tra kiểm soát việc sử dụng vốn vay
- Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp: Đây chính là việc xây dựng một chính sách tín dụng và qui trình tín dụng Hoạt động tín dụng liên quan tới nhiều bộ phận trong ngân hàng và đòi hỏi phải có
sự kết hợp và chỉ đạo chung thông qua chính sách, qui tắc và có sự kiểm soát chung Chính sách tín dụng với mục tiêu chính là mở rộng tín dụng đồng thời sẽ hạn chế rủi ro tín dụng nhằm nâng cao thu nhập cho ngân hàng, những chính sách tín dụng được đặt ra sẽ làm hạn chế rủi ro như chính sách tài sản đảm bảo, chính sách bảo lãnh, chính sách đồng tài trợ
Trang 33Qui trình phân tích tín dụng thể hiện những nội dung mà cán bộ ngân hàng cần phải thực hiện khi cho vay nhằm hạn chế những rủi ro khi phân tích tình hình sản xuất kinh doanh, thẩm định dự án vay, tư cách người vay vốn, mục đích vay vốn, kiểm soát tình hình sử dụng vốn trong khi cho vay và sau khi cho vay
Bên cạnh chính sách và qui trình nhằm hạn chế rủi ro tín dụng, ngân hàng còn cần xây dựng qui chế kiểm tra, phân định trách nhiệm cũng như quyền hạn và chế độ khen thưởng, kỷ luật đối với nhân viên tín dụng
c Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng
- Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phân tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng, và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia
- Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý rủi ro tín dụng
- Xây dựng một hệ thống quản lý và cập nhật thông tin hiệu quả để duy trì và cập nhật thông tin hiệu quả đê duy trì một quá trình đo lường, theo dõi tín dụng thích hợp, đáp ứng yêu cầu thẩm định và quản lý rủi ro tín dụng
1.2.5 Chuẩn mực quản lý rủi ro tín dụng theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng:
Để chuẩn hóa hoạt động của hệ thống các ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế, thông thường các ngân hàng châu Âu thực hiện 2 công cụ: Đạo Luật châu
Âu đơn lẻ và Hiệp ước Basel Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, những vụ khủng hoảng xảy ra trên thị trường tài chính thế giới, đặc biệt là những rủi ro phát sinh trong lĩnh vực Ngân hàng đã khiến Chính phủ các quốc gia trên thế giới đã đặt lại vấn đề: cải tiến Basel (1988) thành một Hiệp ước Basel mới với mục tiêu tăng cường các giải pháp kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng
Hiệp ước Basel mới là những tài liệu hướng dẫn mô tả các đề xuất những quy định nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng, liên quan đến phạm vi yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động, đưa ra các biện pháp cải tiến khác nhau đối với hiệp
Trang 34ước “hiện hữu” và chi tiết hóa “hoạt động thanh tra, giám sát” cũng như đề ra các trụ cột về “tính kỷ luật của thị trường” Ba trụ cột của Hiệp ước Basel mới gồm:
(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0% -150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng
(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel
II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk)
Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn
đó Thứ hai, các giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội
bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ
lệ vốn tối thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu
họ không hài lòng với kết quả của quy trình này Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định Thứ tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu
Trang 35(3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này
Như vậy, quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro Các ngân hàng cần xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (thị trường mục tiêu, đối tượng khách hàng, điều khoản và điều kiện áp dụng ) Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội
bộ đối với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Ngân hàng phải
có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự tham gia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và phải phân trách nhiệm rạch ròi các bộ phận tham gia, đồng thời cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro
có kinh nghiệm, có kiến thức nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý rủi ro tín dụng Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên
cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên, đặc biệt cần có sự cẩn trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp cho các khách hàng có quan hệ
Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10 nguyên tắc): các ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng, bao gồm cập nhật hồ sơ tín dụng, thu thập thông tin tài chính hiện hành, dự thảo các văn bản như hợp đồng vay theo quy mô và mức độ phức tạp của ngân hàng Đồng thời hệ thống này phải có khả năng nắm bắt
và kiểm soát tình hình tài chính, sự tuân thủ các giao kèo của khách hàng để phát hiện kịp thời những khoản vay có vấn đề Ngân hàng cần có hệ thống khắc phục
Trang 36sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề Các chính sách rủi ro tín dụng của ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản lý, trách nhiệm đối với các khoản tín dụng này được giao cho bộ phận nào giải quyết? Ủy ban Basel cũng khuyến khích các ngân hàng phát triển và xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng, giúp phân biệt các mức độ rủi ro tín dụng trong các tài sản có tiềm năng rủi ro của ngân hàng Như vậy trong xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng, nguyên tắc Basel có một số điểm cơ bản sau: Phân tách
bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia; Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý rủi ro tín dụng; Xây dựng hệ thống quản lý
và cập nhật thông tin hiệu quả để duy trì một quá trình đo lường, theo dõi tín dụng thích hợp, đáp ứng yêu cầu thẩm định và quản lý rủi ro tín dụng
1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá quản lý rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là yếu tố mang tính chất khách quan, song ngân hàng phải quản lý rủi ro tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất hạn mức có thể xảy ra Từ những nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng, Ngân hàng cụ thể hóa thành những chỉ tiêu hoặc dấu hiệu phát sinh trong hoạt động tín dụng, ngân hàng phản ánh rủi ro tín dụng qua một số chỉ tiêu như sau:
Các chỉ tiêu đánh giá quản lý rủi ro tín dụng
a) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Tỷ lệ này phản ánh sự tương quan phù hợp giữa vốn tự có với các tài sản Có của ngân hàng Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất trong hệ thống các chỉ tiêu về an toàn mà NHTW và các cơ quan giám sát yêu cầu một ngân hàng phải chấp hành
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (kí hiệu CAR) được xác định theo công thức sau:
Vốn tự có của Ngân hàng
CAR =
Tổng tài sản Có điều chỉnh rủi ro
Trang 37Trong đó: tổng tài sản Có điều chỉnh rủi ro được tính trên cơ sở lấy giá trị ghi
sổ của từng loại tài sản có của ngân hàng (cả tài sản có nội bảng lẫn ngoại bảng) đã điều chỉnh theo hệ số rủi ro tín dụng tương ứng với loại tài sản có đó rồi cộng cả lại
Vốn tự có của ngân hàng được định nghĩa theo nghĩa rộng, bao gồm:
Vốn cấp 1 (vốn cơ sở): gồm vốn cổ đông đã góp, dự trữ công khai (chủ yếu
từ phần lợi nhuận sau thuế giữ lại) Trong tổng số 8% vốn an toàn rủi ro tín dụng, vốn loại 1 phải chiếm ít nhất 50% hay nói cách khác là chiếm ít nhất 4% tổng tài sản rủi ro
Vốn cấp 2 (vốn bổ sung): bao gồm các loại chứng khoán, dự trữ không công
bố, các khoản vốn ngân hàng vay có kỳ hạn lớn hơn 5 năm, cổ phiếu đã đến kỳ hạn chuyển đổi hoặc thanh toán theo yêu cầu của tổ chức phát hành
Một tổ chức tài chính được coi là đủ vốn khi tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt thông lệ quốc tế là từ 8% đến 10%, trong đó đạt tối thiểu 4% đối với vốn cấp 1 và vốn cấp 2 được giới hạn là tối đa là 100% vốn loại 1 Ở Việt Nam tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 9% Nếu ngân hàng vi phạm, sẽ đem lại hậu quả xấu không lường được, có thể lâm và tình trạng phá sản Tỷ lệ vốn
an toàn vốn tối thiểu là tiêu chuẩn đánh giá trình độ hoạt động của một ngân hàng trong một thời kỳ nào đó
Trang 38Quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại không được vượt quá 3%, nghĩa là trong 100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 3 đồng Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và hoặc lãi đã quá hạn Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN (21/01/2013) để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ trong hệ thống NHTM Việt Nam được phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạn thành 5 nhóm sau:
Nhóm 1: Nợ trong hạn và nợ quá hạn dưới 10 ngày- Nợ đủ tiêu chuẩn
Nhóm 2: Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày – Nợ cần chú ý
Nhóm 3: Nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn
Nhóm 4: Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ
Nhóm 5: Nợ quán hạn trên 360 ngày- Nợ có khả năng mất vốn
Nợ quá hạn là các khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5
c Tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày (Nợ quá hạn từ Nhóm 3 trở
lên) mà không đòi được và không được tái cơ cấu Nợ xấu còn bao gồm ca những
khoản nợ chưa đến hạn nhưng đã phát hiện khoản vay không có khả năng trả nợ Nợ xấu được thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu theo công thức sau:
nợ vay, dẫn đến khả năng mất vốn qua đó ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và
Trang 39hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động SXKD đôi lúc không thể tránh khỏi những rủi ro trong kinh doanh, những rủi ro đó có thể mang tính chủ quan hay khách quan từ phía doanh nghiệp nhưng đều gây nên tình trạng không trả được nợ hoặc không trả được nợ đúng hạn cho ngân hàng Do đó, để đánh giá chất lượng tín dụng đồng thời dự phòng xử lý các rủi ro tín dụng phát sinh, các ngân hàng thường chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu nhất định được coi là giới hạn an toàn Mức giới hạn tỷ lệ nợ xấu ở mỗi nước là khác nhau, riêng ở Việt Nam hiện nay chấp nhận tỷ lệ này là 3% Ở Việt Nam, nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ quá hạn không được Chính Phủ xử lý rủi ro
Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể
đòi,…) là những khoản nợ mang các đặc trưng cơ bản sau:
Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã hết hạn
Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi
Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát
mại không đủ trang trãi nợ gốc và lãi
Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày
d Tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn
Nợ có khả năng mất vốn là khoản nợ ngân hàng không có khả năng thu hồi,
Nợ có khả năng mất vốn được thể hiện qua tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn.Tỷ lệ này được xác định theo công thức:
Trang 40Theo đó, dư nợ tín dụng có khả năng mất vốn được xác định là toàn bộ các khoản nợ thuộc nhóm 5 theo cách phân loại nợ được quy định tại Điều 6 trong Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà Nước Việt Nam “V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD” Tỷ lệ nợ
có khả năng mất vốn cho biết khả năng không thu được nợ trong tổng dư nợ tín dụng là được bao nhiêu % Nó cho phép ngân hàng có thể đánh giá chi tiết hơn về
độ an toàn tín dụng Cũng giống như tỷ lệ nợ xấu, các ngân hàng luôn cố gắng giảm
tỷ lệ này tới mức thấp nhất có thể
e Tỷ lệ nợ mất vốn
Nợ mất vốn là nợ hoàn toàn không thu hồi được Nợ mất vốn được thể hiện qua tỷ lệ nợ mất vốn (là tỷ lệ phần trăm giữa dư nợ tín dụng mà TCTD đã sử dụng mọi biện pháp thu hồi nợ nhưng không thu hồi được (dư nợ được xóa nợ) trên tổng
dư nợ tín dụng) Tỷ lệ này được xác định theo công thức sau: