Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu hoạt động tín dụng tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh theo cách tiếp cận của khoa học quản lý kinh tế: Nghiên cứu các công cụ, cơ chế và chính sác
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
oOo
NGUYỄN MẠNH THẮNG
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM –
CHI NHÁNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
oOo
NGUYỄN MẠNH THẮNG
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM –
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn – TS Vũ Thị Dậu
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ, giảng viên Trường đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tĩnh cùng toàn thể các anh chị em đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Thắng
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC HÌNH iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO 7
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 Rủi ro tín dụng 7
1.1.1 Khái niệm và phân loại 7
1.1.2 Đặc điểm của RRTD ngân hàng 12
1.2 Quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM 13
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu 13
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản về quản lý RRTD 14
1.2.3 Nội dung quản lý RRTD 17
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá 31
1.3 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới và bài học cho NHTM Việt Nam 37
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của một số NHTM các nước 37 1.3.2 Bài học kinh nghiệm 42
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK - CHI NHÁNH HÀ TĨNH 45
2.1 Giới thiệu khái quát về Agribank - chi nhánh Hà Tĩnh 45
2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển 45
2.1.2 Các yếu tố nguồn lực 51
2.1.3 Bộ máy tổ chức, quản lý và bộ máy quản lý RRTD 52
2.2 Thực trạng quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh giai đoạn 2010-2013 55
2.2.1 Hoạt động tín dụng tại Chi nhánh 55
Trang 62.2.2 Thực trạng quản lý RRTD tại Chi nhánh Hà Tĩnh 64
2.3 Đánh giá chung về quản lý RRTD tại Chi nhánh Hà Tĩnh 74
2.3.1 Những kết quả đạt được qua các chỉ tiêu 74
2.3.3 Hạn chế và nguyên nhân 75
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK - CHI NHÁNH HÀ TĨNH 83
3.1 Bối cảnh kinh tế mới và định hướng tăng cường quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh 83
3.1.1 Bối cảnh kinh tế mới và dự báo về RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh 83
3.1.2 Định hướng tăng cường quản lý RRTD của Agribank 84
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh 86
3.2.1 Hoàn thiện bộ máy và mô hình quản lý RRTD 86
3.2.2 Hoàn thiện chính sách quản lý RRTD 87
3.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định và tăng cường công tác giám sát khoản vay 90
3.2.4 Nâng cao chất lượng cán bộ quản lý RRTD 95
3.2.5 Xây dựng hệ thống thông tin hoàn thiện về khách hàng 99
3.2.6 Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ quá hạn 100
3.2.7 Tăng cường quản lý danh mục tài sản đảm bảo và thực hiện các biện pháp phân tán rủi ro 102
3.3 Đề xuất với cấp trên 104
3.3.1 Đối với Ngân hàng nhà nước 104
3.3.2 Đối với Agribank 105
3.3.3 Đề xuất với UBND tỉnh Hà Tĩnh 107
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 Phụ lục
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 AGRIBANK Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam
10 NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
14 WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh 46
3 Bảng 2.3 Dƣ nợ tín dụng và cơ cấu dƣ nợ tín dụng 56
5 Bảng 2.5 Phân loại nợ theo nhóm qua các năm 59
6 Bảng 2.6 Phân loại nợ xấu theo kỳ hạn qua các năm 60
7 Bảng 2.7 Phân loại nợ xấu theo thành phần kinh tế qua các năm 61
8 Bảng 2.8 Kết quả và lệ trích lập dự phòng RRTD qua các năm 63
9 Bảng 2.9 Kết quả trích lập và thu hồi nợ đã xử lý rủi ro 71
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1 Hình 2.1 Tình hình nguồn vốn huy động thay đổi qua các
năm
48
3 Hình 2.3 Cơ cấu tổ chức của Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh 54
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Hoạt động tín dụng là một hoạt động quan trọng mang lại thu nhập chủ yếu cho NHTM Tuy nhiên, hoạt động này cũng hàm chứa nhiều rủi ro, do đó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hiện nay chất lượng tín dụng trong hệ thống NHTM Việt Nam đang ở mức thấp, điều này thể hiện ở tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống cao Theo báo cáo giải trình của Thống đốc Nguyễn Văn Bình tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII thì tính đến 30/9/2012 nợ xấu của hệ thống ngân hàng là 8,86% tổng dư nợ tín dụng (tăng hơn so với số liệu 8,6% công bố vào tháng 7 năm 2012) Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao trong đó có nguyên nhân xuất phát từ chất lượng hoạt động quản lý RRTD tại các NHTM Trước yêu cầu bảo đảm an toàn trong kinh doanh của hệ thống NHTM, vấn đề nhận diện được RRTD cũng như tăng cường quản lý RRTD trở nên hết sức cần thiết
Nhận thức được tầm quan trọng của RRTD đối với hoạt động kinh doanh, thời gian qua Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh đã có những biện pháp tích cực trong hoạt động quản lý RRTD Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập tồn tại như tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu vẫn duy trì ở mức cao, theo số liệu báo cáo năm 2012 của Chi nhánh thì tỷ lệ nợ quá hạn là 2,50%, nợ xấu là 2,30% Những bất cập này có nguyên nhân từ vấn đề quản lý RRTD tại ngân hàng, đòi hỏi thời gian tới Agribank nói chung và Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh nói riêng cần phải tăng cường hoạt động quản lý RRTD hơn nữa
Vậy: Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh đã quản lý RRTD như thế nào? Những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động này tại Chi nhánh
là gì? Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh và các cơ quan, ban ngành liên quan cần
Trang 11có những giải pháp nào để tăng cường quản lý RRTD tại Chi nhánh ngân hàng này trong thời gian tới?
Từ những nội dung cấp thiết ấy, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh” làm đề tài luận văn cao học của mình và nhằm giải đáp
câu hỏi trên
RRTD Đặc biệt, “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng” của tác giả
Nguyễn Văn Tiến còn chỉ ra các đặc điểm chung đối với các khoản nợ có vấn
đề (nợ xấu) và đưa ra 8 bước cần thực hiện để xử lý các khoản nợ này
Các công trình nghiên cứu như: “Kiểm soát tăng trưởng tín dụng đối với các NHTM Việt Nam, Tác động và biện pháp” của TS Nguyễn Thị Loan;
“RRTD trong cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các chi nhánh Ngân hàng BIDV khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” của PGS.TS Lê Khương
Ninh Các công trình này cũng đã đề cập đến vấn đề tăng trưởng tín dụng, các nguy cơ dẫn đến RRTD và đưa ra các biện pháp để phòng ngừa RRTD cho các NHTM
Công trình: “Rủi ro trong tín dụng chứng từ tại Agribank và các biện pháp phòng ngừa” của tác giả Bế Quang Minh Ở công trình này, tác giả đã
chỉ ra thực trạng sử dụng các phương thức trong thanh toán quốc tế như
Trang 12chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ…, phân tích các rủi ro phát sinh trong hoạt động này và các giải pháp phòng ngừa rủi ro trong tín dụng chứng
từ của Agribank
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến các vấn đề về RRTD, rủi ro trong tín dụng và đã đưa ra được các giải pháp cụ thể giúp các NHTM trong đó có Agribank tăng cường hoạt động quản lý RRTD
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Kim Thoa (2009): “Phân tích rủi
ro tín dụng và giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Song Phú”,trường Đại học Cần
Thơ Luận văn đã phân tích cụ thể các loại rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng và đưa ra một số giải pháp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh
Luận văn thạc sỹ của tác giả Ngô Thị Thanh Trà (2010): “Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài gòn”, Đại học kinh tế TP.HCM Luận văn đưa ra 4 giải pháp
phòng ngừa và hạn chế RRTD tại chi nhánh Đồng thời đưa ra các đề xuất và kiến nghị đối với Ngân hàng cấp trên, ngân hàng nhà nước và chính phủ để các giải pháp ngày được phát huy hiệu quả tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài gòn
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Vân Anh (2010): “Nâng cao giải pháp quản lý RRTD tại Agribank - chi nhánh Hoàng Mai”, Học viện Ngân
hàng Tác giả nghiên cứu và đưa ra 7 giải pháp nâng cao công tác quản lý RRTD và 02 giải pháp hạn chế tổn thất khi xảy ra RRTD
Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Lê Đình Hải (2010): “Tăng cường phòng ngừa và hạn chế RRTD tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình”, Trường Đại học Đà Nẵng Công trình
đã phân tích, đánh giá thực trạng RRTD tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Trang 13Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường phòng ngừa và hạn chế RRTD tại Ngân hàng này
Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Đinh Bá Quyết (2012): “Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nghệ An – Thực trạng và giải pháp khắc phục”, Trường Đại Huế Luận văn phân tích thực
trạng và các nhân tố ảnh hưởng tới RRTD tại Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nghệ An Luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp nhằm khắc phục RRTD tại Chi nhánh ngân hàng này
Luận văn thạc sỹ Tài chính – Ngân hàng của tác giả Nguyễn Ngọc Lý
(2012): “Rủi ro tín dụng tại VPBANK- Chi nhánh Thái Nguyên”, Trường
Đại học Kinh tế- ĐHQG Hà Nội Luận văn phân tích những nghiệp vụ ngân hàng được VPBANK- Chi nhánh Thái Nguyên thực hiện nhằm kiểm soát tình hình RRTD tại Chi nhánh
Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ phân tích, đánh giá RRTD cho toàn hệ thống Agribank trên phạm vi cả nước, cho các chi nhánh của các NHTM khác, chưa có công trình nào nghiên cứu nghiên cứu độc lập về Quản lý RRTD của Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh, đặc biệt nghiên cứu vấn
đề này theo cách tiếp cận khoa học quản lý kinh tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Vận dụng kiến thức đã học để phân tích thực trạng quản lý RRTD tại Agribank- Chi nhánh Hà Tĩnh; đánh giá những thành công, những hạn chế và nguyên nhân của tình hình, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý RRTD tại Agribank- Chi nhánh Hà Tĩnh
* Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản và kinh nghiệm thực tế về quản lý RRTD tại 1 số NHTM
Trang 14- Phân tích, đánh giá RRTD và quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh
Hà Tĩnh; phát hiện ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong hoạt động quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh
- Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh
Hà Tĩnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động tín dụng tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh theo cách tiếp cận của khoa học quản lý kinh tế: Nghiên cứu các công
cụ, cơ chế và chính sách quản lý RRTD trong kinh doanh Ngân hàng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian: nghiên cứu công tác quản lý RRTD tại
Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh
* Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác quản lý RRTD tại
Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh từ năm 2010 đến 2013, tầm nhìn đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế để hoàn thiện kết cấu luận văn, thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh số liệu; rút ra những mặt được và tồn tại trong quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Hà Tĩnh
Phương pháp logic - lịch sử
Phương pháp logic được sử dụng để xây dựng khung lý thuyết về RRTD và quản lý RRTD Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng tại một số ngân hàng các nước trên thế giới Sử dụng kết hợp phương pháp logic và phương pháp lịch sử được thể hiện tập trung nhất trong cấu trúc toàn bộ luận văn
Phương pháp thống kê
Trang 15Phương pháp thống kê được sử dụng phổ biến trong chương 2 Các bảng
số liệu thống kê về tín dụng, nguồn vốn , chất lượng tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu, trích lập dự phòng RRTD, kết quả kinh doanh của Agribank - chi nhánh qua các năm đã được thống kê nhằm cung cấp tư liệu cho việc phân tích, so sánh trong các nội dung quản lý RRTD tại ngân hàng
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng chủ yếu được trong chương 2 Từ các thông tin được thu thập, tác giả tiến hành phân tích các nội dung quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh, để từ đó tổng hợp lại nhằm đề xuất một số giải pháp nhằm phù hợp với thực tế
Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương 2 để phân tích, so sánh
số liệu từ biểu đồ, bảng số liệu qua các năm của Agribank chi nhánh Hà Tĩnh
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ hơn lý luận chung về RRTD và hoạt động quản lý RRTD trong hoạt động của các NHTM
- Đánh giá những thành công, những bất cập và nguyên nhân hoạt động quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh
- Đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh
7 Bố cục luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý RRTD tại các ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý RRTD tại Agribank
- Chi nhánh Hà Tĩnh
Trang 16sở hữu của ngân hàng so với tổng giá trị của tài sản là rất nhỏ nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ trong danh mục cho vay có vấn đề thì sẽ có thể đẩy một ngân hàng tới nguy cơ phá sản Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh luôn tiền ẩn rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận đƣợc là bản chất ngân hàng
Có nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD:
Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern
Perpective”, A Saunder và H Lange định nghĩa RRTD là: “Khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời hạn” [20]
Theo cuốn Risk Management in Banking của Joel Bessis thì: “RRTD là
Trang 17những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc làm giảm sút chất lượng tín dụng của các khoản vay” [21]
Theo quan điểm của Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng, RRTD được định nghĩa là những rủi ro khi khách hàng vay hay đối tác không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cam kết theo hợp đồng tín dụng
Ở Việt Nam, theo điều 2.1, chương I, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD thì: “RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [9]
RRTD xảy ra khi khách hàng sai hẹn hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết Biểu hiện như: Ngân hàng sẽ không thu được lãi đúng hạn, không thu được vốn đúng hạn, không thu đủ lãi, không thu đủ vốn
Trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ tín dụng thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành Giao dịch tín dụng chỉ được coi là hoàn thành khi ngân hàng thu hồi được khoản tín dụng gồm cả gốc và lãi RRTD luôn tiềm ẩn và có thể xảy ra bất cứ lúc nào Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng chưa thể nói RRTD thấp, nguy
cơ RRTD sẽ cao nếu danh mục đầu tư tập trung vào một nhóm khách hàng hoặc một ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro Vì vậy, ngân hàng không thể loại trừ khả năng rủi ro, luôn chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế tối đa những thiệt hại tổn thất khi rủi ro xảy ra
RRTD có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Khi RRTD xảy ra nó có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với hoạt động kinh tế - xã hội của một quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn
Trang 18cầu Có thể nói, RRTD giống như là “ngòi nổ” tự mình nó phá hoại và kích nổ
sự phá hoại lan truyền [6]
Thứ nhất, RRTD gây ra hậu quả nặng nề đối với các chủ thể tham gia
trực tiếp vào quan hệ tín dụng đó là: NHTM và khách hàng Đối với các khách hàng khi phát sinh RRTD thì phần lớn đều trong tình trạng kinh doanh
sa sút hoặc nằm trên bờ vực phá sản …Còn đối với các NHTM, hậu quả to lớn tác động trên nhiều phương diện:
Chi phí gia tăng do việc phải trích lập dự phòng tổn thất hoặc các chi phí liên quan trong vấn đề xử lý các khoản rủi ro đó Bên cạnh đó, do e ngại rủi ro sẽ làm cho các ngân hàng hạn chế cho vay, doanh thu hạn chế khiến hậu quả kinh doanh giảm, thậm chí bị thua lỗ, uy tín và vị thế trên thị trường giảm sút có thể dẫn đến phá sản
RRTD kéo dài làm thất thoát lượng vốn lớn: Vì ngân hàng có chức năng là đi vay để cho vay, do không thu hồi được nợ trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, mất cân đối trong thu chi làm cho lợi nhuận bị giảm sút và có thể bị rơi vào mất khả năng chi trả thanh toán hoặc có thể trầm trọng hơn thì dẫn đến tình trạng phá sản
Thứ hai, RRTD có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính của cả
quốc gia Vì giữa các ngân hàng luôn có sự ràng buộc và liên quan với nhau
Sự ràng buộc tất yếu và ngày càng chặt chẽ này mà RRTD có thể châm ngòi cho hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền khiến hệ thống trung gian tài chính bị khủng hoảng nghiêm trọng mà một số trường hợp điển hình là khủng hoảng đã xảy
ra ở Albani, một số nước Đông Nam Á hay Argentina trong thời gian vừa qua Nếu một ngân hàng bị phá sản sẽ có những tác động dây chuyền và vô hình chung các ngân hàng khác cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Thứ ba, RRTD có thể gây ra hậu quả tiêu cực tới mọi đối tượng trong
xã hội Vì bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một trung
Trang 19gian tài chính, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế Vì vậy, hoạt động ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế và mang tính xã hội hoá cao nên khi mà RRTD gây nên sự phá sản của một ngân hàng sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế mất ổn định, làm giảm lòng tin của công chúng vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, cũng như hiệu lực các chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ
1.1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
* Căn cứ vào tính chất của rủi ro, RRTD bao gồm:
Rủi ro sai hẹn: Đó là RRTD khi người vay sai hẹn trong việc thực
hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết bao gồm gốc và/hoặc lãi vay
Sự sai hẹn này do trễ hạn
Rủi ro mất vốn: Đó là rủi ro mà người vay không thực hiện được nghĩa vụ trả
nợ theo hợp đồng bao gồm cả gốc và/hoặc lãi vay
* Căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro, RRTD bao gồm:
Rủi ro chủ quan
Đó là những rủi ro do các nguyên nhân thuộc về chủ quan của người cho vay và người vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay Cụ thể:
Những nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng
Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh hay chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá mạo hiểm hoặc tập trung nguồn vốn quá nhiều chủ yếu vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó Quy trình tín dụng, công cụ đánh giá rủi ro… còn hạn chế, lỏng lẻo, bất cập,…
Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ kịp thời dẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý
Do cạnh tranh các ngân hàng mong muốn có chiếm được thị trường cao hơn các ngân hàng khác nên mở rộng cho vay và đầu tư mạo hiểm, chạy theo
Trang 20quy mô số lượng mà bỏ qua các tiêu chuẩn điều kiện trong cho vay, không chú ý đến chất lượng
Do trình độ của cán bộ nhân viên, sự tuân thủ và ý thức và trách nhiệm của cán bộ nhân viên: Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ, nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tế Vi phạm đạo đức nghề nghiệp Ý thức tuân thủ kém hoặc không tuân thủ, không chấp hành các quy trình và chính sách cho vay của ngân hàng
Định giá tài sản không chính xác, không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết; hoặc tài sản nhận đảm bảo không đảm bảo được các yêu cầu cần thiết của tài sản đảm bảo là: dễ tiêu thụ, dễ chuyển nhượng…
Các nguyên nhân thuộc về phía khách hàng
Khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, kém hiệu quả Người sử dụng vốn vay ngân hàng do kinh doanh yếu kém, không hiệu quả, dẫn đến nguồn trả nợ ngân hàng bị ảnh hưởng
Chủ doanh nghiệp thiếu năng lực điều hành quản lý và kinh doanh Mất đoàn kết trong nội bộ doanh nghiệp, Hội đồng quản trị, ban điều hành…
Rủi ro khách quan
Là những loại rủi ro mà nguyên nhân gây ra nó vượt quá tầm kiểm soát của người vay và người cho vay Nhóm nguyên nhân này là do các nhân tố khách quan gây nên như môi trường kinh tế, môi trường tự nhiên, môi trường
xã hội (Ví dụ như do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…); khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thường…; những chính sách thay đổi ở tầm vĩ mô vượt quá tầm kiểm soát của cả ngân hàng và khách hàng
Như vây, có nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD với mức độ tác động của từng nguyên nhân đến RRTD của mỗi ngân hàng là khác nhau Trong điều kiện nền kinh tế có nhiều biến động phức tạp, các NHTM cần nhận biết
Trang 21được các nguyên nhân ảnh hưởng đến RRTD từ đó có các biện pháp cụ thể để phòng ngừa RRTD, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng nói riêng, hoạt động kinh doanh nói chung
1.1.2 Đặc điểm của RRTD ngân hàng
RRTD có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: RRTD mang tính chất gián tiếp Đặc điểm này xuất phát từ
nguyên nhân trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng
Biểu hiện rõ ràng của đặc điểm này là trong thực tế, ngân hàng thường nắm bắt chậm thông tin về sự khó khăn, thất bại của khách hàng trong hoạt động kinh doanh của họ điều đó dễ dàng gây ra RRTD
Xuất phát từ đặc điểm này, ngân hàng muốn việc hạn chế RRTD có hiệu quả cần tập trung nghiên cứu thông tin về khách hàng, thiết lập hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mối quan hệ minh bạch giữa cán bộ tín dụng và khách hàng vay vốn
Thứ hai: RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp Đặc điểm này biểu hiện
ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD Nó là tất yếu của RRTD, do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối quan hệ gián tiếp với RRTD đối với ro tín dụng cần xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả của RRTD để đưa ra biện pháp phù hợp
Thứ ba: RRTD có tính tất yếu luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động
của NHTM Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng Nói cách khác, kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt lợi nhuận tương ứng Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh chủ
Trang 22yếu của ngân hàng Mà bất cứ một khoản cấp tín dụng nào cũng tiềm ẩn nguy
cơ rủi ro đối với NHTM do bất kỳ nguyên nhân nào Chính vì vậy, trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng cần phải đánh giá và xác định khoản vay cho phù hợp, chủ động đối phó với rủi ro
1.2 Quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu
Có thể nói tín dụng mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho các ngân hàng nhưng cũng gây ra những thiệt hại nghiêm trọng mà có thể dẫn đến sự phá sản của một ngân hàng Vì vậy, Rủi ro tín dụng luôn tồn tại như một tất yếu trong hoạt động kinh doanh của các NHTM và các NHTM cũng không thể né tránh được RRTD Nếu hiểu rõ rủi ro thì ta có thể chấp nhận rủi ro một cách có ý thức, có biện pháp để đối phó với rủi ro RRTD có thể đo lường và tính toán trước được nên có thể quản
lý được RRTD
Quản lý RRTD là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp hạn chế nhằm không để thất thoát vốn cho vay, tăng tối đa tiền lãi, trong khi giảm tối đa những mất mát trong phạm vi giới hạn về vốn, đạt được mục tiêu an toàn và hiệu quả, phát triển bền vững.[13]
Quản lý RRTD là quá trình chấp nhận rủi ro có sự tính toán trước Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích phù hợp
và xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận trước Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được trong phạm
vi khả năng nguồn lực tài chính và năng lực của ngân hàng
Quản lý hiệu quả RRTD liên quan đến việc quản lý chặt chẽ mối quan
hệ giữa rủi ro, lợi nhuận,kiểm soát và giảm thiểu RRTD trong nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như chất lượng tín dụng, mức độ tập trung, loại tiền tệ,
Trang 23thời gian đáo hạn, các hình thức bảo đảm và các loại công cụ tín dụng
Mục tiêu của quản lý RRTD là tối đa hoá tỷ lệ thu hồi vốn, duy trì một mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, hạ thấp rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng và mức độ an toàn trong kinh doanh Các ngân hàng cần phải quản lý RRTD phát sinh trong toàn bộ danh mục các khoản tín dụng cũng như trong từng giao dịch cụ thể Đồng thời các ngân hàng cũng phải xem xét tới mối quan hệ giữa RRTD với các loại rủi ro khác vì chúng có mối quan hệ biện
chứng với nhau
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản về quản lý RRTD
Mặc dù các biện pháp quản lý RRTD cụ thể ở từng ngân hàng là khác nhau do khả năng và cách quản lý của từng ngân hàng hay do tính chất và mức độ phức tạp của các hoạt động tín dụng Nhưng một chương trình quản
lý RRTD đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng nói chung có những nguyên tắc cơ bản sau:
1.2.2.1 Tạo môi trường có mức độ RRTD phù hợp
Để quản lý RRTD, trước tiên mỗi ngân hàng phải tạo được môi trường
có mức độ RRTD phù hợp cho riêng mình trong từng thời kỳ nhất định Muốn vậy, các ngân hàng nhìn chung đều phải thực hiện những nội dung sau:
Thứ nhất, Hội đồng quản trị hay Hội đồng thành viên phải có trách
nhiệm phê duyệt và định kỳ xem xét lại chiến lược và các chính sách quan trọng về RRTD của ngân hàng Có nghĩa là ngân hàng phải đo lường được mức độ, hậu quả rủi ro và mức độ chống đỡ rủi ro Dự tính được mức lợi nhuận mà ngân hàng có thể có được khi xảy ra các mức độ RRTD khác nhau
từ mức độ nhỏ đến mức độ lớn nhất
Thứ hai, trên cơ sở chiến lược và các chính sách, Ban giám đốc có trách
nhiệm thực thi chiến lược và chính sách về RRTD đã được Hội đồng quản trị hay Hội đồng thành viên phê duyệt, xây dựng một chương trình để xác định, đo
Trang 24lường và giám sát, kiểm soát RRTD trong mọi hoạt động của ngân hàng
Thứ ba, ngân hàng phải xác định và quản lý RRTD hiện hữu trong tất
cả các sản phẩm và hoạt động Các ngân hàng cũng cần phải đảm bảo rằng rủi ro đối với sản phẩm và hoạt động mới phải được đánh giá đầy đủ trước khi các sản phẩm này được giới thiệu hoặc cam kết và phải được Ban giám đốc hoặc hội đồng quản lý tín dụng phê duyệt trước
1.2.2.2 Quy trình cấp tín dụng chặt chẽ, hợp lý
Quy trình cấp tín dụng được xây dựng theo các nguyên tắc sau:
Ngân hàng phải hoạt động theo những tiêu chuẩn cấp tín dụng lành mạnh được xác định rõ ràng Những tiêu chuẩn này cần bao gồm sự tìm hiểu
kỹ về khách hàng, về mục đích, cơ cấu của các khoản tín dụng cũng như nguồn trả nợ ngân hàng
Thiết lập những giới hạn tín dụng tổng thể ở từng cấp độ, từng khách hàng và nhóm khách hàng liên kết cho các loại rủi ro khác nhau, cả trong hoạt động ngân hàng cũng như trong giao dịch thương mại, đối với tài sản nội bảng cũng như tài sản ngoại bảng
Quy trình cấp tín dụng được xây dựng một cách rõ ràng cho việc phê duyệt đối với các khoản tín dụng mới mở cũng như mở rộng các khoản tín dụng hiện có
Mọi quyết định mở rộng tín dụng phải được thực hiện trên nguyên tắc
là vẫn nằm trong vòng kiểm soát
1.2.2.3 Duy trì quá trình đo lường và quản lý tín dụng
Để hoạt động quản lý tín dụng có hiệu quả các ngân hàng phải xây dựng và duy trì quá trình đo lường RRTD thường xuyên và phù hợp Bên cạnh đó ngân hàng cần có một hệ thống giám sát tình hình từng khoản tín dụng, bao gồm cả việc xác định xem các khoản dự phòng và ký quỹ có đầy
đủ hay không
Trang 25Ngoài ra các ngân hàng phải đưa vào hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ để quản lý RRTD (hệ thống này cần phải phù hợp với tính chất, quy mô và độ phức tạp trong các hoạt động của ngân hàng) và hệ thống thông tin với kỹ thuật phân tích, cho phép cấp quản lý có thể đo lường RRTD hiện hữu trong tất cả các giao dịch nội bảng và ngoại bảng (hệ thống thông tin quản lý cần cung cấp đầy đủ thông tin về cơ cấu danh mục đầu tư tín dụng)
Để hoạt động quản lý RRTD đạt hiệu quả các ngân hàng cũng cần phải
có trong tay một hệ thống giám sát cơ cấu và chất lượng tổng thể của danh mục đầu tư tín dụng cũng như phải xem xét đến những thay đổi về điều kiện
có thể xảy ra trong tương lai khi đánh giá từng khoản tín dụng cũng như toàn
bộ danh mục đầu tư tín dụng và đánh giá những nguy cơ RRTD
1.2.2.4 Bảo đảm kiểm soát RRTD đầy đủ
Để hoạt động quản lý RRTD đạt hiệu quả, các ngân hàng cần phải kiểm soát RRTD một cách đầy đủ, bao gồm:
- Thiết lập một hệ thống độc lập đánh giá lại tín dụng
- Thiết lập và thực thi hoạt động kiểm soát nội bộ cũng như các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo rằng các chính sách, quy trình và giới hạn an toàn được thực hiện đầy đủ và báo cáo kịp thời
- Phải xây dựng cho mình một hệ thống các khoản tín dụng có vấn đề và các tình huống khó khăn khác từ việc nhận biết các dấu hiệu có vấn đề của các khoản tín dụng đến việc theo dõi và xử lý những khoản đó
1.2.2.5 Nâng cao vai trò của cơ quan giám sát
Các cơ quan giám sát phải yêu cầu các ngân hàng có một hệ thống hoạt động hiệu quả để xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát RRTD, như là một phần trong hệ thống quản lý rủi ro tổng thể Các cơ quan giám sát phải tiến hành đánh giá độc lập về các chiến lược, chính sách, biện pháp thực hiện các quy trình liên quan đến việc cấp tín dụng và quản lý danh
Trang 26mục của ngân hàng
1.2.3 Nội dung quản lý RRTD
Quản lý RRTD hướng tới mục tiêu hạ thấp RRTD, nâng cao mức độ an toàn trong kinh doanh bằng các chính sách, các biện pháp quản lý, giám sát các hoạt động tín dụng khoa học và hiệu quả Đó chính là các nội dung của quản lý RRTD, việc thực hiện tốt các nội dung này là tiêu chí để đánh giá công tác quản lý RRTD có hiệu quả hay không? Vì vậy, quản lý RRTD bao hàm các nội dung sau:
1.2.3.1 Xây dựng và tổ chức bộ máy điều hành quản lý RRTD
Để xây dựng và đưa các chiến lược, chính sách đề ra vào thực tế, ngân hàng phải xây dựng một cơ cấu tổ chức hiệu quả trên các nguyên tắc đảm bảo
sự minh bạch, công khai, trong đó phải xác định rõ vai trò và trách nhiệm và phân tách nhiệm vụ trong triển khai hoạt động Cơ cấu tổ chức quản lý RRTD phải có sự tham gia của mọi bộ phận liên quan đến hoạt động tín dụng, từ Ban lãnh đạo cấp cao của ngân hàng, đến bộ phận kinh doanh tín dụng và các bộ phận liên quan Cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro tốt sẽ là một phương thức quản lý rủi ro bài bản
1.2.3.2 Thiết lập chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng bằng văn bản là yếu tố cơ bản, nền tảng của quản
lý RRTD hiệu quả Chính sách tín dụng đặt ra mục tiêu, tham số định hướng cho cán bộ ngân hàng Cung cấp cho cán bộ tín dụng và nhà quản lý một khung chỉ dẫn chi tiết để tuân theo Chính sách tín dụng được xây dựng khoa học, cẩn thận, thông suốt từ trên xuống dưới tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì tiêu chuẩn tín dụng của mình, tránh rủi ro quá mức và đánh giá đúng về cơ hội kinh doanh Các tổ chức giám sát hoạt động ngân hàng trên thế giới đều coi một chính sách tín dụng được xây dựng đúng đắn là điều kiện thiết yếu để quản lý tốt RRTD
Trang 27Chính sách tín dụng nói chung có hai kiểu: Chính sách tín dụng mở rộng (thích hợp và nên áp dụng trong hoàn cảnh tình hình kinh tế tăng trưởng
và công tác quản lý tín dụng của ngân hàng được đảm bảo) và chính sách tín dụng thắt chặt (nên được áp dụng trong hoàn cảnh ngân hàng quản lý tín dụng kém hiệu quả hoặc nền kinh tế có dấu hiệu chững lại mở đầu cho thời kỳ suy thoái) và được thực hiện thông qua các công cụ như: lãi suất, tỷ lệ tham gia vốn của ngân hàng và tiêu chuẩn xét duyệt cấp tín dụng
Một chính sách tín dụng tốt phải là một ứng dụng thông minh của những nguyên tắc tín dụng thích hợp với những thay đổi của các nhân tố và môi trường kinh tế
Nội dung cơ bản của một chính sách tín dụng thông thường bao gồm:
- Xác định thị trường tín dụng mục tiêu cho ngân hàng
- Tuyên bố tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay của ngân hàng
- Xác định quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ tham gia quá trình quyết định cho vay
- Những thủ tục, hoạt động cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với yêu cầu vay vốn của khách hàng
- Bảng tiêu chuẩn thích hợp ứng dụng cho toàn bộ danh mục cho vay
- Giới hạn cho vay tối đa của từng ngành hàng, từng nhóm sản phẩm đối với toàn danh mục, của tổng dư nợ đối với tổng tài sản của ngân hàng
- Phát hiện, phân tích và xử lý các khoản vay có vấn đề
1.2.3.3 Xây dựng quy trình cấp tín dụng
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định cho vay, giải ngân, thanh lý hợp đồng tín dụng
Hầu hết các ngân hàng đều tự thiết kế cho mình một quy trình tín dụng
cụ thể và không ngừng hoàn thiện quy trình tín dụng Vì quy trình tín dụng
Trang 28hợp lý góp phần nâng cao chất lượng và giảm thiểu RRTD
Phân tích và thẩm định tín dụng là hai khâu quan trọng trong toàn bộ quy trình tín dụng Hai khâu này nếu thực hiện tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc quản lý tốt và giảm thiểu RRTD
Mục tiêu của phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay cả gốc và lãi Mục tiêu của phân tích tín dụng nhằm đánh giá khách hàng về điều kiện và khả năng trả nợ của khách hàng, tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, nhận biết khả năng kiểm soát những loại rủi ro đó và dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra để ra quyết định có nên cấp tín dụng hay không Mặt khác, phân tích tín dụng còn quan tâm đến việc kiểm tra tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, từ đó thẩm định về thái độ trả nợ của khách hàng làm cơ sở quyết định cho vay Điều này góp phần làm giảm thiểu RRTD
Mục tiêu của thẩm định tín dụng là đánh giá mức độ tin cậy của phương
án hoặc dự án của khách hàng Theo đó, ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi mà đánh giá được phương án hoặc dự án đầu tư của khách hàng là đáng tin cậy
Mục đích của phân tích tín dụng và thẩm định tín dụng nhằm: Hạn chế thông tin bất cân xứng; Đánh giá đúng thực trạng rủi ro của khách hàng và khả năng kiểm soát của ngân hàng về các loại rủi ro đó, dự kiến các biện pháp phòng ngừa
1.2.3.4 Kiểm tra và giám sát tín dụng
Kỹ thuật kiểm tra và giám sát tín dụng sẽ nhằm hỗ trợ cho việc nhận biết RRTD Trong suốt quá trình cấp trình cấp tín dụng, ngân hàng phải có một quá trình liên tục kiểm tra và giám sát việc thực hiện hợp đồng vay vốn của khách hàng Đây là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tín dụng của ngân hàng
Trang 29Thứ nhất, giám sát từng khoản vay một cách thường xuyên nhằm phát
hiện “dấu hiệu cảnh báo sớm” để có hành động khắc phục kịp thời
Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, khoản tín dụng đó cần được quản lý một cách chủ động để có thể phát hiện sớm nhất những dấu hiệu của RRTD Việc theo dõi các khoản tín dụng là một trong những công việc quan trọng của cán bộ tín dụng
Quá trình giám sát tín dụng nhằm mục đích:
- Đảm bảo cho ngân hàng hiểu rõ hiện trạng tài chính của khách hàng
- Đảm bảo rằng tất cả các khoản tín dụng đều tuân thủ theo đúng hợp đồng tín dụng
- Giám sát việc sử dụng khoản tín dụng đã cấp cho khách hàng
- Đảm bảo rằng khách hàng hoàn trả đúng hạn và có biện pháp thích hợp kịp thời trong trường hợp khách hàng không trả được đầy đủ và đúng hạn
- Kịp thời xác định và phân loại các khoản tín dụng có vấn đề để có biện pháp quản lý riêng
Thứ hai, giám sát tổng thể danh mục tín dụng nhằm phát hiện những
rủi ro tập trung
Bên cạnh việc giám sát riêng rẽ từng khoản tín dụng, từng khách hàng, ngân hàng cũng cần định kỳ giám sát tổng thể thành phần và chất lượng của danh mục tín dụng Trong quá trình giám sát cần đặc biệt chú ý:
- Cần so sánh thành phần của danh mục với mục tiêu cần đạt được
- Xác định và tìm hiểu về các xu hướng trong phạm vi danh mục dựa trên những biến động gần nhất về xếp hạng tín dụng của khách hàng, hiện tượng gia tăng dự phòng nợ khó đòi hoặc xoá nợ
- Xem xét hiện tượng tập trung trong danh mục tín dụng
Tập trung tín dụng có thể có nhiều hình thức và có thể phát sinh khi có một số lớn các khoản tín dụng đều có chung những đặc điểm rủi ro tương tự
Trang 30nhau Mức độ tập trung tín dụng cao sẽ khiến cho ngân hàng phải gánh chịu những biến động bất lợi trong lĩnh vực mà tín dụng được tập trung Tập trung tín dụng xảy ra khi danh mục tín dụng của ngân hàng được tập trung ở mức cao cho một đơn vị hoặc một nhóm các đơn vị liên kết nhau; một ngành kinh
tế nhất định; khu vực địa lý…
Việc phát hiện những tập trung tín dụng tuỳ thuộc vào thông tin cung cấp từ hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng
1.2.3.5 Khắc phục RRTD
Cho dù ngân hàng sử dụng tất cả các biện pháp để phòng ngừa, hạn chế
và kiểm soát chặt chẽ rủi ro đến đâu thì trong quá trình hoạt động cũng không ngăn chặn và tránh khỏi những RRTD có nguyên nhân từ cả chủ quan cũng như khách quan Yêu cầu đặt ra là cần phải có những biện pháp xử lý khắc phục rủi ro đó để ngân hàng vẫn có thể hoạt động bình thường
Lập quỹ dự phòng RRTD
Lập quỹ dự phòng RRTD: Đôi khi tài sản đảm bảo trong các khoản tín dụng không thể giúp ngân hàng thu hồi được khoản gốc và lãi Vì vậy, các ngân hàng đều trích lập quỹ dự phòng RRTD nhằm khắc phục rủi ro nếu có
Dự phòng được trích lập căn cứ vào việc phân loại nợ Trường hợp xảy ra khoản tín dụng không thể thu hồi được, ngân hàng có thể sử dụng quỹ dự phòng này để bù đắp nhằm khắc phục rủi ro Nhờ đó, giúp các NHTM chủ động đối phó được với những RRTD có thể xảy ra, không gây nên những biến động lớn trong hoạt động cũng như tình hình tài chính cho ngân hàng
Căn cứ vào nguyên nhân gây ra RRTD mà các ngân hàng có những biện pháp thích hợp để sau khắc phục như: Yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản đảm bảo; Xác định phương án cơ cấu nợ; Thu hồi nợ
Khi xử lý rủi ro các ngân hàng sử dụng nhiều biện pháp xử lý rủi ro để đảm bảo hiệu quả, nhanh chóng để thu hồi được nợ nhưng phải đúng theo quy
Trang 31định của pháp luật như: Phát mại tài sản đảm bảo khoản vay; Khởi kiện; Bán
nợ, chuyển giao rủi ro; Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý
1.2.3.6 Các biện pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD
a Nâng cao chất lượng cán bộ của ngân hàng
Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng
Nói lên vai trò quan trọng của những người đứng đầu trong một
tổ chức nói chung và trong một NHTM nói riêng Người lãnh đạo ngân hàng giỏi là người biết kết hợp hài hoà và phát huy tối đa sức mạnh của tất cảc các nguồn lực ngân hàng mình có thành sức mạnh tổng thể
Với tư cách là người chịu trách nhiệm đầu tiên về sức cạnh tranh của ngân hàng, ban lãnh đạo vì vậy phải là người thực sự đủ tài trên mọi phương diện tựu chung gồm 3 khả năng chủ yếu: khả năng về chuyên môn, khả năng phân tích phán đoán và khả năng nghệ thuật đối nhân xử thế Nghiên cứu học hỏi không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ công nhân viên mà nó còn là nhiệm vụ của ban lãnh đạo ngân hàng để lãnh đạo và đưa ra những quyết định sáng suốt thì người lãnh đạo phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực, có tầm nhìn rộng trong công việc, hiểu biết về pháp luật
Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụcho các cán bộ tín dụng để có sự tiến bộ thực sự về chất lượng tín dụng
Sự hợp tác của toàn thể cán bộ nhân viên trong ngân hàng là sức mạnh lớn nhất để ngân hàng có thể đứng vững và lớn mạnh trong điều kiện khắc nghiệt hiện nay Các ngân hàng thương mại cần chú trọng trong công tác tuyển dụng con người và đào tạo cán bộ có chất lượng cao Cần phải có định hướng tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng, yếu tố con người luôn là yếu tố chủ đạo của mọi hoạt động vì con người là chủ thể của nền kinh tế
Người cán bộ giỏi là người có tầm nhìn rộng trong tương lai, ví dụ một mặt hàng sản xuất này có thể tại thời điểm hiện tại thị trường chưa cần thiết
Trang 32nhưng trong một hoặc một vài năm tới nó lại là một mặt hàng không thể thiếu đối với thi trường Nếu như là một người cán bộ có tầm nhìn hiểu biết rộng thì
họ sẽ đầu tư vào mặt hàng sản xuất đó, và trong một vài năm tới họ sẽ có một khoản lời đáng kể Mặt khác, nếu như cán bộ tín dụng không nắm bắt được thị trường và xu hướng của nó thì rủi ro mất vốn trong tương lai là rất lớn
Bên cạnh kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, các cán bộ tín dụng còn phải thường xuyên trang bị thêm hiểu biết về pháp luật, thị trường, các lĩnh vực khác về kinh tế - tài chính, tin học và ngoại ngữ Đồng thời chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ tín dụng, làm cho họ thấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm lớn lao của mình trong sự nghiệp kinh doanh của ngành để ngày càng
có sự nỗ lực trong công việc Ngoài ra, cấp trên còn có chế độ khen thưởng những cán bộ làm tốt và có biện pháp xử lý kịp thời những cán bộ vi phạm, thiếu trách nhiệm trong phòng chống rủi ro, thiếu đạo đức trong hoạt động tín dụng
b Nâng cao chất lượng thẩm định hồ sơ khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng ngày càng được khẳng định Doanh nghiệp cần ngân hàng bên cạnh để san bằng sự bất thường về nguồn vốn thiếu hoặc thừa, ngược lại doanh nghiệp được coi là chỗ dựa và là động lực để ngân hàng tồn tại và phát triển ngân hàng lựa chọn doanh nghiệp từ các tiêu chuẩn cần phải có để xác lập quan hệ tín dụng như: tư cách, năng lực hoạt động, sức mạnh tài chính, điều kiện hoạt động và tài sản đảm bảo Trong đó năng lực hoạt động và sức mạnh tài chính thể hiện cho khả năng tài chính của doanh nghiệp, là yếu tố cơ bản quyết định sự kết dính mối quan hệ
Nói cách khác, dưới con mắt ngân hàng năng lực tài chính của doanh nghiệp là sự hiện thân của vốn tín dụng được bảo toàn sinh lợi, do đó nó cần được coi là yếu tố hàng đầu để quyết định quan hệ tín dụng giữa ngân
Trang 33hàng và doanh nghiệp
Trên thực tế có một số ngân hàng chỉ chú trọng phân tích tài chính doanh nghiệp trên cơ sở số liệu hoạt động của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất và kế hoạch kinh doanh trong thời kỳ vay vốn, kết hợp việc phân tích hiệu quả phương án sản suất kinh doanh có sử dụng vốn vay Song, các chỉ số tài chính đúc kết từ báo cáo hàng năm của các doanh nghiệp chỉ là những đại lượng mang tính thời điểm, khó có thể đại diện cho bản chất vốn có của doanh nghiệp, chưa kể đến phần lớn con số đó đã được doanh nghiệp gọt giũa trước khi trình ngân hàng Trong nhiều trường hợp tại thời điểm tưởng như khoản tín dụng được hoàn trả thì biến cố xuất hiện - doanh nghiệp đầu tư lỗ, tài sản nợ tài chính gia tăng , kết quả là phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn có hiệu qủa cao nhưng khoản tín dụng không thu hồi được do dòng tiền cuốn trôi vào các ngõ ngách khác
c Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng
Nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng bằng hình thức thế chấp cầm cố
Đối với việc nhận tài sản thế chấp, cầm cố điều quan trọng là phải xem xét tính pháp lý của hồ sơ thế chấp cầm cố tài sản để đảm bảo cho việc chuyển nhượng tài sản khi bán đấu giá tránh hiện tượng lừa đảo bằng giấy chứng nhận sở hữu giả Bên cạnh đó cần quan tâm tới việc định giá chính xác tài sản đặc biệt đối với tài sản
là nhà đất, dây chuyền máy móc thiết bị nhập ngoại đã qua sử dụng Nếu tài sản cầm cố thế chấp là ngoại tệ cần quan `tâm tới các yếu tố ảnh hưởng trong tương lai như tỷ giá lạm phát nhất là những khoản cho vay lớn và dài hạn
Một thực tế là các tài sản thế chấp cầm cố rất phong phú và đa dạng Cán
bộ tín dụng ngân hàng không thể hểu rõ nguồn gốc đặc điểm những yếu tố tác động cũng như giá trị của chúng Ví dụ: để thực hiện một món vay thế chấp bởi
Trang 34nhà đất đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ có những kiến thức cơ bản về nhà đất như luật đất đai, biểu tính giá nhà đất của chính quyền thành phố mà còn phải hiểu biết rõ về giá cả thực những biến động của nó trên thị trường Cán bộ tín dụng dù giỏi đến đâu cũng không thể hiểu biết được tất cả các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế bởi vậy để có thể định giá chính xác giá trị tài sản thế chấp cán bộ tín dụng nên đưa ra những chỉ tiêu nhất định để đánh giá Với tài sản thế chấp là nhà đất thì cần những chỉ tiêu như: Vị trí ngôi nhà, tình trạng hiện tại, sự biến động giá trên thị trường với những tài sản thế chấp cầm cố bằng máy móc thì ngân hàng nên cùng người vay thuê người giám định như vậy vừa khách quan vừa đảm bảo được tính chính xác
Một điều kiện không thể thiếu với tài sản thế chấp cầm cố là khả năng phát mại tài sản không chỉ là những tài sản có giá trị được nhà nước cho phép
mà nó còn là những tài sản có khả năng bán được trong trường hợp khách hàng không trả được nợ Do vậy, khi nhận tài sản thế chấp, cán bộ tín dụng không nên nhận những tài sản quá lớn, những công trình đang xây dựng dở dang khi phát mại rất khó tìm được người mua mà nếu có cũng thể bù đắp được khoản cho vay Bên cạnh đó, ngân hàng cần kiểm tra kỹ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu không ít trường hợp một tài sản đem thế chấp vay vốn ở nhiều ngân hàng Ngoài ra, ngân hàng nên có quan hệ tốt với địa phương để tránh vướng mắc trong quá trình sử lý tài sản thế chấp Bởi vậy, ngân hàng nên yêu cầu tất cả các thành viên ký vào giấy đề nghị vay vốn
Bảo lãnh
Bảo lãnh có nhiều ưu điểm hơn so với cầm cố và thế chấp Trong suốt thời hạn cầm cố thế chấp phía ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra tình trạng của những tài sản thế chấp này khi đó bên bảo lãnh cam kết dùng tất cả tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng sẽ không phải quá quan tâm đến việc kiểm tra tình trạng của từng tài sản cụ thể tránh được
Trang 35những nhựơc điểm của cầm cố và thế chấp Tuy nhiên, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro mất vốn nếu bên bảo lãnh mất khả năng thanh toán bị tuyên bố phá sản và không thể thực hiện các nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bảo lãnh Chính vì vậy, ngân hàng nên tìm hiểu kỹ về bên bảo lãnh và chỉ chấp thuận sự bảo lãnh của các công ty lớn và có uy tín hoặc yêu cầu bên bảo lãnh phải dùng tài sản để cầm cố thế chấp Khả năng thực hiện việc trả nợ vay không chỉ phụ thuộc vào việc bên bảo lãnh có đủ tài sản mà quan trọng hơn là bên bảo lãnh có những nguồn thu nhập ổn định để bảo đảm có tiền thanh toán theo đúng lịch biểu của hợp đồng vay vốn Ngân hàng cần xem xét thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh nhằm tạo thuận lợi cho cả ngân hàng, người vay lẫn người bảo lãnh
Thực hiện bảo hiểm tín dụng
Có ba hình thức để bảo hiểm tín dụng như sau:
Thứ nhất: Khách hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm
cho ngành nghề mà họ kinh doanh, vì vậy những khoản tín dụng trong trường hợp này coi như cũng được bảo hiểm một cách gián tiếp Phương pháp này không làm phát sinh thêm thao tác nghiệp vụ trong ngân hàng Để
sử dụng tốt hình thức này thì ngân hàng cần có chính sách ưu tiên cho vay
về khối lượng và lãi suất đối với các doanh nghiệp, cá nhân mua bảo hiểm
Thứ hai: Sử dụng biện pháp bảo lưu, nghĩa là ngân hàng tự bảo hiểm
cho chính mình bằng cách lập các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại khi gặp RRTD từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà vẫn đảm bảo được tình hình tài chính của ngân hàng, rủi ro luôn song hành với hoạt động kinh doanh nhưng đối với mỗi thành phần kinh tế thì hệ số RRTD có khác nhau, việc quy định tỷ trọng rủi ro cụ thể cho từng loại tín dụng có hiệu quả hơn Phần sử dụng vốn ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro, ngân hàng phải lấy vốn tự có để bù đắp song vốn của ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong
Trang 36tổng số nguồn vốn hoạt động của ngân hàng Như vậy hình thành quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp RRTD là hợp lý và cần thiết
Hàng năm ngân hàng cần phải trích một tỷ lệ n h ấ t đ ị n h lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của mình để lập quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi
ro Quỹ này được thành lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ của ngân hàng Quỹ dự trữ đặc biệt này sẽ giúp ngân hàng khắc phục được những khoản tổn thất tín dụng do tình trạng nợ khoanh, nợ tồn đọng lâu dài để đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng
Thứ ba: Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo
hiểm chuyên nghiệp Như thế, ngân hàng sẽ tránh được những tổn thất khi rủi ro xảy ra đối với những khoản vốn đầu tư
d Xử lý món vay có vấn đề
Trong xử lý các khoản vay có vấn đề, có hai sự lựa chọn tổng quát: Khai thác hoặc thanh lý Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho vay được trả một phần hay toàn bộ và không dựa vào các công cụ pháp lý để ép buộc Thanh lý là ép người vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất cả các biện pháp để đạt được mục tiêu
Món vay có vấn đề được hiểu là món vay đã quá hạn hoặc món vay tuy chưa đến hạn nhưng khách hàng có nguy cơ không trả được nợ cho ngân hàng do mất khả năng thanh toán, do thua lỗ hoặc doanh nghiệp có biểu hiện vi phạm pháp luật như lừa đảo, trốn thuế Xử lý món vay có vấn đề là áp dụng các biện pháp khác nhau để thu hồi nợ Theo kinh nghiệm của các ngân hàng thì giải pháp khai thác là khôn ngoan hơn, vì sự tồn tại
và phát triển của khách hàng là quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Chính các giải pháp mềm dẻo, linh hoạt này đã cứu không ít khách hàng từ chỗ sắp ''khuynh gia bại sản'' đến chỗ "gượng" lại được, tiếp
Trang 37tục tồn tại, phát triển và ngày càng gắn bó với ngân hàng Các giải pháp khai thác như: thương lượng gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, giãn nợ hoặc tiếp thêm vốn giúp khách hàng hoặc có thể đảo nợ…
e Mở rộng cạnh tranh
Mở rộng quan hệ tín dụng nhằm phân tán rủi ro
Hiện nay, phạm vi hoạt động tín dụng của các ngân hàng V i ệ t
N a m còn hẹp, vốn cho vay lớn nhưng chưa năng động Các NHTM cần phải mở rộng quan hệ tín dụng với tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh
Biện pháp phân tán rủi ro là tránh tập trung quá lớn vào một lĩnh vực đầu tư, vào một mặt hàng không có sức mạnh cạnh tranh để đến khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì ngân hàng sẽ không chịu ảnh hưởng lớn Vì thế, các NHTM phải phân tán rủi ro bằng cách cho vay vào nhiều đối tượng, nhiều khách hàng khác nhau với nhiều lĩnh vực khác nhau
Đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ tín dụng
Các sản phẩm, dịch vụ của NHTM rất đa dạng trong đó các sản phẩm tín dụng của ngân hàng bao gồm: cho vay thấu chi, cho vay trả góp, tài trợ dự
án, tài trợ vốn lưu động, cho vay chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh…ngoài
ra ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ khác như: dịch vụ chuyển đổi tiền
trong nước và quốc tế, các dịch vụ thanh toán, kiểm đếm, giữ hộ…
Đây là biện pháp nhằm phân tán rủi ro đã được các ngân hàng trên thế giới áp dụng một cách có hiệu quả Các NHTM ở Việt Nam có đến 90% tài sản nợ là đầu tư trực tiếp nên khả năng rủi ro rất cao Vì thế muốn hạn chế RRTD thì việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ tín dụng rất cần được coi trọng Có đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ thì ngân hàng mới có thêm lợi nhuận mà các dịch vụ đem lại
Muốn đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thì các NHTM phải tăng
Trang 38cường các trang thiết bị hiện đại như: M áy vi tính, máy Fax cũng như cơ
sở vật chất, thiết bị kho tàng Đồng thời phải đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ, vi tính thu thập thông tin thị trường cho cán bộ ngân hàng
Các ngân hàng nên thiết lập mối quan hệ với các trung tâm môi giới,
tư vấn pháp luật để chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tham gia vào thị trường vốn, thị trường chứng khoán
Phải từng bước chuyển dịch cơ cấu từ vốn bán lẻ sang bán buôn, mở rộng và phát triển dịch vụ đã có như thanh toán Quốc tế, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán L/C Khi hình thành và phát triển những dịch vụ mới, ngân hàng không những thích nghi với nhu cầu của quá trình tái sản xuất mà bằng con đường đa dạng hoá việc cung ứng tín dụng sẽ thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng thêm thu nhập cho mình mà có một nguồn nhất định để bù đắp những RRTD mà ngân hàng gặp phải Tuy nhiên, muốn đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng phải
có một khoản chi phí lớn về tiền của vì nó phụ thuộc vào quá trình hiện đaị hoá công nghệ ngân hàng cả về máy móc thiết bị lẫn trình độ tinh thông nghiệp vụ mới của cán bộ ngân hàng
Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu dài với khách hàng
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, khách hàng vừa là người cung cấp nguồn vốn cho hoạt động tín dụng, đồng thời cũng là người sử dụng nguồn vốn này nên khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu dài với khách hàng giúp các NHTM có điều kiện nắm vững các thông tin có liên quan tới khách hàng, các ngân hàng sẽ có đối sách thích hợp để có thể đứng vững môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt
Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu dài với khách hàng sẽ giúp ngân hàng:
Thứ nhất, Đánh giá đúng chất lượng khách hàng có quan hệ tín dụng
thường xuyên, ngân hàng có thể nắm bắt, tiết kiệm được chi phí thẩm định và
Trang 39kiểm tra giám sát Thông qua việc quan sát từ đó nắm bắt được những thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng Căn cứ vào số tiền dư trên tài khoản của họ, ngân hàng sẽ biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ
sử dụng vốn, tiền mặt cũng như quan hệ với các khách hàng khác trong việc mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm Đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin về khàch hàng và là cơ sở để ngân hàng tiết kiệm được cho việc thẩm định, sàng lọc thông tin, tránh được rủi ro về đạo đức, kế hoạch hoá được nguồn cũng như các chi phí giám sát khách hàng khi đã có sẵn phương thức giám sát khách hàng
Thứ hai, Thu hút vốn để củng cố đầu vào mở rộng đầu ra theo đúng
yêu cầu của khách hàng, thông qua mối quan hệ lâu bền với khách hàng ngân hàng có thể huy động được một khối lượng nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng Sự am hiểu của khách hàng sẽ làm cho ngân hàng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng về loại tín dụng, khối lượng tín dụng, giá cả cho vay để
có kế hoạch bố trí nguồn vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của khách hàng Do tiết kiệm được chi phí trong thẩm định, kiểm tra giám sát khách hàng nên ngân hàng sẽ có đủ điều kiện để hạ lãi suất cho vay, điều đó sẽ cuốn hút được khách hàng, làm cho khách hàng gắn bó hơn với ngân hàng Mối quan hệ không những ngày càng được củng cố đối với khách hàng sẽ càng có cơ hội để nâng cao chất lượng tín dụng
Thứ ba, Đề ra chính sách chiến lược, kế hoạch tác nghiệp trong từng thời
kỳ và xu hướng phát triển hoạt động ngân hàng trong tương lai để không ngừng thích nghi với sự biến động của thị trường, tìm kiếm cơ hội không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả kinh doanh ngân hàng
Có điều kiện giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, nhất là rủi
ro về đạo đức để vươn tới sự hoàn thiện về chất lượng tín dụng, nhằm tạo dựng được hình ảnh, biểu tượng tốt của ngân hàng trên thị trường
Trang 40Để thiết lập mối quan hệ tốt, lâu bền với khách hàng, ngân hàng phải
có kế hoạch củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, đề cao uy tín của ngân hàng trên thị trường, thông qua việc cải thiện và mở rộng thêm nhiều hình thức phục vụ, đổi mới tác phong kinh doanh, thu hút thêm nhiều khách hàng đối với ngân hàng như những người bạn tin cậy
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá
1.2.4.1 Sự tuân thủ nguyên tắc, quy trình quản lý tín dụng
Trong công tác quản lý rủi ro tín dụng, sự tuân thủ theo chính sách và quy trình quản lý tín dụng của ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng và quyết định đến sự thành công hay thất bại hoạt động quản lý kinh doanh Mỗi thành viên, mỗi CBTD mỗi bộ phận chuyên trách trong bộ máy quản lý rủi ro tín dụng phải thực hiện nhiệm vụ và đáp ứng đầy đủ các quy định Sự tuân thủ phải có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất từ cấp trên xuống cấp cơ sở; từ đó mới đạt được hiệu quả cao trong cả quá trình quản lý tín dụng như: Quy trình, quy định và trình tự cấp tín dụng, giám sát rủi ro và quản lý rủi ro; thẩm quyền cấp tín dụng, giám sát và xử lý rủi ro tín dụng
Kết cấu dư nợ, hay tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ phản ánh tình trạng chất lượng tín dụng ngân hàng Ví dụ: khi tỷ trọng dư nợ dài hạn của ngân hàng cao, điều đó phản ánh nguy cơ rủi ro của ngân hàng cao