Công trình này đã làm rõ những nội dung cơ bản về vốn đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý sử dung vốn đầu tư xây dựng từ các nguồn khác nhau của nhà nước, đặc biệt làm rõ cơ chế quản lý ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN HỮU HOÀNG
QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỪ NGUỒN VỐN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC Ở NHÀ MÁY Z119
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN HỮU HOÀNG
QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỪ NGUỒN VỐN NGÂN
Trang 3MỤC LỤC Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 8
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Đặc điểm dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng 9
1.1.3 Phân loại dự án đầu tư 14
1.2 QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 17
1.2.1 Khái niệm quản lý dự án đầu tư 17
1.2.2 Mô hình quản lý thực hiện dự án đầu tư 18
1.2.3 Nội dung quản lý dự án đầu tư 26
1.2.4 Nhân tố tác động đến quản lý dự án……… 39
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở NHÀ MÁY Z119 42
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NHÀ MÁY Z119 42
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển 42
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của nhà máy 42
2.1.3 Một số kết quả hoạt động và triển khai thực hiện các dự án của nhà máy 43
2.2 QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ GIAI ĐOẠN NĂM 2000 - 2013 TẠI NHÀ MÁY Z119 46
2.2.1 Mô hình quản lý dự án đầu tư tại nhà máy 46
Trang 42.2.3 Đánh giá hoạt động quản lý dự án đầu tư tại nhà máy Z119 72
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI NHÀ MÁY Z119 82
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ MÁY Z119 82
3.1.1 Định hướng hoạt động nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa 82
3.1.2 Định hướng đầu tư 84
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI NHÀ MÁY Z119 87
3.2.1 Hoàn thiện quy trình lập, thẩm định, phê duyệt dự án 87
3.2.2 Hoàn thiện việc quản lý đấu thầu, lựa chọn nhà thầu 90
3.2.3 Hoàn thiện hoạt động giám sát và kiểm soát quá trình thực hiện dự án 91
3.2.4 Hoàn thiện bộ máy tổ chức và cán bộ quản lý dự án đầu tư 98
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như quốc phòng an ninh (QPAN) Hàng năm, cả nước có hàng chục ngàn dự án được triển khai với lượng vốn lớn và ngày càng có xu hướng gia tăng Nhiều dự án đầu tư từ NSNN những năm qua đã
và đang tạo nên sự chuyển biến to lớn về hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, tăng năng lực sản xuất, đóng góp quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong lĩnh vực phát triển công nghiệp quốc phòng (CNQP), các Nghị quyết của Bộ chính trị đều xác định rõ mục tiêu tiếp tục xây dựng và phát triển CNQP trở thành một bộ phận quan trọng của tiềm lực quốc phòng, an ninh quốc gia và của công nghiệp quốc gia, có trình độ khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại; có năng lực nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật có tính năng kỹ thuật, chiến thuật cao; góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới Trên cơ sở đó, Bộ Quốc phòng đã xây dựng và báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Kế hoạch xây dựng và phát triển CNQP, trong đó xác định rõ danh mục các dự
án đầu tư với mục tiêu gắn nâng cao năng lực sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật với năng lực sửa chữa, cải tiến các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có trong biên chế của các đơn vị, nhất là khối quân chủng, binh chủng, phục vụ yêu cầu “quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm” của toàn quân
Nhà máy Z119 - Quân chủng PKKQ là một đơn vị đầu ngành của toàn quân về sửa chữa ra-đa và khí tài cao xạ, ra đời trong cuộc chiến tranh chống
Mỹ cứu nước Trong những năm qua, nhà máy đã lập và thực hiện nhiều dự
Trang 8án đầu tư nhằm nâng cấp, hiện đại hóa các dây chuyền công nghệ đáp ứng nhu cầu sửa chữa các loại khí tài cũ có trong biên chế từ lâu cũng như các loại trang bị mới nhập từ nước ngoài gần đây Việc triển khai thực hiện các dự án
đã tuân thủ đầy đủ các quy trình và đạt được nhiều kết quả Tuy nhiên, trong bối cảnh có nhiều thay đổi về cơ chế tự chủ tự hạch toán ở các nhà máy, xí nghiệp trong quân đội, việc tổ chức quản lý các dự án đầu tư ở nhà máy Z119 vẫn còn một số hạn chế từ khâu lập dự án đầu tư đến lựa chọn nhà thầu, lập
kế hoạch thực hiện dự án, tổ chức giám sát, kiểm soát và thanh, quyết toán dự
án Mặt khác, Quân chủng Phòng không Không quân là một trong những đơn
vị được Bộ Quốc phòng xác định cần được đầu tư để tiến thẳng lên hiện đại,
vì thế nhu cầu sửa chữa các loại vũ khí trang bị kỹ thuật phòng không công nghệ mới (đa dạng về chủng loại, có kết cấu và nguyên lý xây dựng hệ thống phức tạp, sử dụng kỹ thuật công nghệ mới kỹ thuật số có mức độ tích hợp, tự động điều khiển cao) là rất lớn Vì vậy, với tính chất là một đơn vị đầu ngành của toàn quân về sửa chữa rađa và khí tài cao xạ, nhà máy Z119 sẽ phải thực hiện nhiều dự án đầu tư để có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ hiện đại hóa trang bị phòng không Từ thực tế đó, việc nghiên cứu hoàn thiện hoạt động quản lý các dự án đầu tư ở nhà máy Z119 là một nhu cầu cấp thiết Đó cũng là lý do chủ yếu tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ở nhà máy Z119” làm luận văn tốt nghiệp
- Tên đề tài hoàn toàn phù hợp với chuyên ngành đào tạo vì quản lý dự
án đầu tư là vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế
- Câu hỏi nghiên cứu của học viên với đề tài nghiên cứu: Những hạn chế trong hoạt động quản lý dự án đầu tư ở nhà máy Z119 là gì? Những giải pháp nào cần thực hiện nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên cũng như nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý dự án đầu tư ở nhà máy
Trang 92 Tình hình nghiên cứu
Quản lý dự án đầu tư là một lĩnh vực đã có nhiều công trình nghiên cứu
và đã được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau như: sách chuyên khảo, luận án thạc sĩ, tiến sĩ, các bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành khác nhau Tổng hợp lại, có hai nhóm nghiên cứu chủ yếu liên quan đến đề tài luận văn, gồm: (i) nhóm các nghiên cứu về quản lý dự án; (ii) nhóm các nghiên cứu về quản lý vốn và quản lý sử dụng NSNN
* Các nghiên cứu về quản lý dự án
Các nghiên cứu trong lĩnh vực này khá phong phú, bao gồm quản lý dự
án nói chung, quản lý dự án trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu :
Quản lý dự án - cơ sở lý thuyết và thực hành, của Nguyễn Văn Phúc
(2008) [19] Công trình được xuất bản dưới dạng sách chuyên khảo, đã làm rõ
những vấn đề cơ bản về dự án và quản lý dự án, phân tích nội dung các khâu của chu trình dự án, từ chuẩn bị và lập kế hoạch dự án đến quản lý quá trình thực hiện dự án, kết thúc dự án Nghiên cứu quản trị dự án là mục tiêu của công trình này
- Luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5” của tác giả Phạm Hữu Vinh (Đại
học Đà Nẵng, 2011) [20] đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
cơ bản về quản lý dự án đầu tư ở doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Trên
cơ sở đó đánh giá thực trạng hoạt động quản lý dự án đầu tư của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5, rút ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân Xây dựng hệ thống những quan điểm cơ bản và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý dự án đầu tư qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư
Trang 10- Luận văn thạc sĩ: “Nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư của VNPT Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng (Học viện Công nghệ Bưu chính
Viễn thông, 2011) [18] nghiên cứu tổng quát cơ sở lý luận về dự án đầu tư và
hiệu quả dự án đầu tư, trên cơ sở đó vận dụng linh hoạt vào thực tế để phân tích, đánh giá; đề xuất phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư của VNPT Hà Nội
- Luận văn thạc sỹ kinh tế: “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc” của tác giả Hoàng Đỗ Quyên
(Đại học Kinh tế quốc dân, 2008) [11], đề tài đề cập đến việc hoàn thiện hoạt
động quản lý dự án đầu tư tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc, đưa ra những lý luận cơ bản về quản lý dự án, phân tích thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện việc tổ chức quản lý dự án tại Ban quản lý
dự án Công trình điện Miền Bắc
- Luận văn thạc sỹ kinh tế: “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư của Đài tiếng nói Việt Nam” của tác giả Trần Thị Hồng Vân (Đại học Kinh tế
quốc dân, 2005) [28], luận văn đã đưa ra các cơ sở lý luận, thực trạng và giải
pháp hoàn thiện về hoạt động quản lý dự án tại Đài tiếng nói Việt Nam
* Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước, quản lý vốn, vốn ngân sách nhà nước cho dự án đầu tư
Các nghiên cứu theo hướng này tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư từ vốn NSNN, quản lý vốn đầu tư nói chung và vốn từ NSNN cho các dự án đầu tư Một số công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này là:
- Luận án tiến sĩ kinh tế: “Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước ở Việt Nam” của tác giả Tạ Văn Khoái (Học viện
Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2009) [25] Công trình này tập
trung hệ thống hóa có bổ sung một số lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối
Trang 11với dự án đầu tư xây dựng từ NSNN, trên cơ sở đó phân tích đánh giá thực trạng thực hiện quản lý nhà nước và đề xuất giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với các dự án này
- Luận án tiến sĩ kinh tế: “Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tài chính dự án đầu tư tại hệ thống Kho bạc Nhà nước ở Việt Nam” của tác giả
Lê Hùng Sơn (Đại học Kinh tế quốc dân, 2003) [12] Công trình chú trọng khía cạnh quản lý tài chính đối với dự án đầu tư tại hệ thống Kho bạc Nhà nước mà nguồn vốn cho các dự án chủ yếu từ NSNN, trong đó chú trọng chất lượng quản lý tài chính đối với các dự án này
- Luận án tiến sĩ kinh tế: “Đổi mới cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước” của tác giả Trần Văn Hồng (Đại học Kinh tế quốc dân, 2002) [29] Công trình này đã làm rõ những nội dung cơ bản về vốn đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý sử dung vốn đầu tư xây dựng từ các nguồn khác nhau của nhà nước, đặc biệt làm rõ cơ chế quản lý nguồn vốn này trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng từ khâu lập kế hoạch đến thẩm định, thực hiện, nghiệm thu và quyết toán vốn
Ngoài ra còn nhiều công trình khác nghiên cứu về quản lý vốn NSNN cho các dự án đầu tư
Tuy có nhiều công trình đã công bố có liên quan đến quản lý dự án đầu tư
từ NSNN nhưng các đề tài về hoạt động quản lý dự án đầu tư thuộc lĩnh vực CNQP nói chung và đề tài thực hiện tại nhà máy Z119 nói riêng đến nay chưa
có Vì vậy, luận văn này tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản chung và có tính đặc thù về dự án và quản lý dự án đầu tư thuộc lĩnh vực CNQP, khảo sát ở nhà máy Z119 để đánh giá thực trạng hoạt động quản lý dự án đầu tư ở nhà máy này từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện Các công trình đã công
bố kể trên có giá trị tham khảo, được kế thừa có chọn lọc trong quá trình nghiên cứu luận văn
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý các dự án đầu tư ở nhà máy Z119
- Quân chủng PKKQ - Bộ Quốc phòng giai đoạn 2000-2013, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân, đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý dự án đầu tư của nhà máy
Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về dự án đầu tư, quản lý dự
án đầu tư nói chung và những dự án đầu tư thuộc lĩnh vực CNQP từ nguồn vốn ngân sách nhà nước
- Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý dự án đầu tư ở nhà máy Z119 trong giai đoạn 2000-2013, chỉ ra những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân trong quản lý dự án
- Đề xuất, kiến nghị giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý dự án đầu tư của nhà máy
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Hoạt động quản lý các dự án đầu tư ở nhà máy Z119
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước ở nhà máy Z119 trong giai đoạn từ 2000 - 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, thống kê, khảo sát thực tế, phương pháp mô hình hóa, sơ đồ hóa Luận văn căn cứ vào các văn bản, quy định, Nghị định của Nhà nước có liên quan đến vấn đề quản lý dự án đầu tư làm cơ
sở để phân tích đánh giá
Trang 13Nguồn số liệu được lấy từ Nhà máy Z119, bảo đảm độ tin cậy và chính xác
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư thuộc lĩnh vực CNQP
- Sử dụng phương pháp thích hợp phân tích đánh giá thực tiễn hoạt động quản lý dự án đầu tư tại nhà máy Z119 Từ đó rút ra những kết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại và chỉ ra nguyên nhân
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại, giải quyết vướng mắc, nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý dự án đầu tư tại nhà máy Z119
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng
Chương 2: Thực trạng quản lý dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước ở nhà máy Z119
Chương 3: Định hướng phát triển và giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước ở nhà máy Z119
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm
Đầu tư là hoạt động sử dụng, kết hợp các nguồn lực (tiền, tài nguyên, sức lao động, trí tuệ ) vào một công việc nhất định ở hiện tại nhằm mục đích thu các kết quả trong tương lai Để đầu tư đảm bảo khoa học, đạt được mục tiêu, đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao thì trước khi bỏ vốn đầu tư phải làm tốt công tác chuẩn bị; phải xem xét, tính toán toàn diện các khía cạnh kinh tế kỹ thuật, tài chính, điều kiện tự nhiên, môi trường, các yếu tố chủ quan, khách quan có liên quan và tác động đến quá trình thực hiện đầu tư, quá trình khai thác, vận hành các kết quả đầu tư Mọi xem xét, tính toán, dự toán chuẩn bị được thể hiện trong việc soạn thảo và trình bày một cách khoa học các văn bản, tài liệu, hồ sơ v.v Đó chính là các dự án đầu tư Vì vậy, khi tiến hành các hoạt động đầu tư thì cần thiết phải tiến hành theo các dự án đầu tư Dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:
- Về mặt hình thức, nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi
tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
- Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là việc quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao
động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài
- Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch
chi tiết để đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ
Trang 15- Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên
quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định
Từ các góc độ trên hình thành khái niệm: Dự án đầu tư là tập hợp các
hoạt động liên quan mật thiết với nhau về sử dụng các nguồn lực để tạo mới,
mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định trên địa bàn cụ thể nhằm
đạt được mục tiêu trong khoảng thời gian xác định [25, tr.19]
Dự án đầu tư trong nền kinh tế thị trường có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau Các nguồn vốn cho dự án có thể là: vốn NSNN, vốn khác của Nhà nước (vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, vốn đầu tư của DNNN và vốn khác của Nhà nước), vốn đầu tư của khu vực tư nhân và dân cư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dự án đầu tư từ NSNN là những dự án sử dụng nguồn vốn cấp phát từ NSNN và được đầu tư vào lĩnh vực cụ thể Từ đó có thể định nghĩa như sau:
Dự án đầu tư từ NSNN là tập hợp các hoạt động sử dụng nguồn vốn từ NSNN
để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định trên địa bàn cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong khoảng thời gian xác định
Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực CNQP là một loại dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn NSNN nhằm đầu tư phát triển, hiện đại hóa các trang thiết bị, vũ
khí phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Vì vậy có thể định nghĩa: Dự án đầu
tư thuộc lĩnh vực CNQP là tập hợp các hoạt động sử dụng nguồn vốn từ NSNN để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo các đối tượng nhất định trong lĩnh vực CNQP trên địa bàn cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong khoảng thời gian xác định
1.1.2 Đặc điểm dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng
Dự án đầu tư trong lĩnh vực CNQP có 3 nhóm đặc điểm cơ bản: nhóm đặc điểm của một dự án đầu tư, nhóm đặc điểm gắn với việc sử dụng vốn
Trang 16NSNN, nhóm đặc điểm gắn với lĩnh vực công nghiệp quốc phòng Các đặc điểm này chi phối tới việc quản lý các dự án đầu tư
* Nhóm đặc điểm của một dự án đầu tư thể hiện ở các điểm sau:
- Một là, dự án có tính chu trình và được thực hiện theo một trình tự chặt
chẽ Bất kỳ một dự án đầu tư nào cũng đều có một chu trình chung gồm: ý tưởng hình thành dự án, chuẩn bị dự án đầu tư, thực hiện dự án đầu tư, kết thúc đầu tư, bàn giao đưa vào sử dụng, vận hành các kết quả đầu tư và đánh giá kết thúc dự án Các dự án đầu tư phải được xây dựng, luận chứng, thẩm định và phê duyệt theo quy trình chặt chẽ Điều này đảm bảo tính khoa học,
sự chắc chắn của quá trình đầu tư
- Hai là, dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng Dự án đầu tư từ NSNN
ngay từ giai đoạn hình thành phải xác định rõ mục tiêu đầu tư Việc thực hiện
dự án nhằm giải quyết được lợi ích gì về kinh tế, xã hội, tài chính; ai được hưởng lợi từ dự án? Như vậy, bất kỳ một dự án đầu tư nào được lập, thẩm định và phê duyệt đều phải bảo đảm tính mục đích Chỉ khi làm rõ được tính mục đích của dự án đầu tư thì việc bỏ vốn để triển khai thực hiện dự án mới
có ý nghĩa và không bị thất thoát, lãng phí vốn đầu tư
- Ba là, dự án luôn có tính kết quả Kết quả của các dự án đầu tư có thể là
các công trình hay các sản phẩm có tính ứng dụng cụ thể Các kết quả của dự
án được tạo ra nhằm thực hiện tính mục đích (mục tiêu) của dự án
- Bốn là, về nguồn lực bảo đảm cho dự án Để dự án đầu tư triển khai đạt
được các mục tiêu đầu tư thì cần phải bố trí nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) cho dự án ngay từ giai đoạn đầu tiên đến giai đoạn cuối cùng của chu trình dự án Sẽ thiếu thực tế nếu dự án được lập ra nhưng không được bảo đảm chắc chắn về nguồn lực Vì vậy, quá trình lập, thẩm định, phê duyệt dự
án, vấn đề xác định nguồn lực và tính khả thi của nó rất quan trọng, quyết định đến chất lượng và tiến độ thực hiện dự án
Trang 17- Năm là, về chủ thể tham gia dự án Bất kỳ một dự án đầu tư nào đều có
sự tham gia của các chủ thể bao gồm: chủ đầu tư, các nhà thầu (xây lắp, tư vấn, cung cấp hàng hóa, dịch vụ), tổ chức tài trợ vốn và các cơ quan quản lý nhà nước
- Sáu là, dự án bao giờ cũng được tồn tại trong một khoảng thời gian xác
định Thời gian dài hay ngắn tùy thuộc vào quy mô, mức độ, tính chất của dự án
* Nhóm đặc điểm gắn với việc quản lý và sử dụng nguồn vốn NSNN
- Một là, quá trình thực hiện dự án từ NSNN phải tuân thủ các nguyên
tắc quản lý và sử dụng NSNN Nguồn vốn cho các dự án đầu tư này là do NSNN cấp phát trực tiếp nên trong quá trình triển khai thực hiện dự án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định vể quản lý và sử dụng NSNN theo luật NSNN, từ việc bố trí kế hoạch vốn hàng năm, lập và điều chỉnh kế hoạch vốn, phân bổ vốn, thẩm tra và giao kế hoạch vốn, thanh quyết toán vốn đầu tư Đây
là một đặc điểm cơ bản để phân biệt các dự án đầu tư từ NSNN với các dự án đầu tư sử dụng các nguồn vốn khác (dân cư, nhà đầu tư nước ngoài)
- Hai là, việc sử dụng vốn của dự án từ NSNN thường là không có tính
hoàn trả trực tiếp, do chủ yếu đầu tư vào kết cấu hạ tầng, đổi mới cơ cấu kinh
tế, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, khả năng thu hồi vốn là rất thấp hoặc không có khả năng thu hồi vốn trưc tiếp Hiệu quả của các dự án này chính là hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội do các dự án này mang lại Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư từ NSNN đòi hỏi phải đánh giá tác động của dự án một cách toàn diện cả về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường
- Ba là, dự án đầu tư từ NSNN thường có quy mô lớn, phục vụ cho các
nhu cầu chung của Nhà nước về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng Các dự án này thường cần một lượng vốn rất lớn nên các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước thường không đủ điều kiện về nguồn vốn để tham gia;
Trang 18hoặc các công trình phục vụ cho các yêu cầu an ninh, quốc phòng thuộc về bí mật quốc gia thì các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước không được tham gia
Vì vậy, Nhà nước phải bố trí vốn NSNN đề thực hiện các dự án đầu tư này
- Bốn là, dự án đầu tư từ NSNN đáp ứng các mục tiêu trung và dài hạn
của Nhà nước, do đó việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư từ NSNN phải trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Đặc điểm này có tác động mạnh mẽ tới quy trình, nội dung, phương thức quản lý dự án ở tất cả các giai đoạn từ việc hình thành ý đồ về dự án đến thẩm định, phê duyệt dự án, thi công xây dựng, vấn đề đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn và tổ chức vận hành, khai thác sử dụng
- Năm là, trong nhiều trường hợp, chủ đầu tư và người được thụ hưởng
kết quả đầu ra dự án đầu tư từ NSNN không phải là một Chủ đầu tư sử dụng nguồn vốn NSNN để đầu tư không phải cho mình mà lại chuyển giao quyền quản lý và sử dụng cho đơn vị khác (người khác) nên khả năng lãng phí, thất thoát, tiêu cực là rất lớn nếu không được kiểm soát chặt chẽ Đặc điểm này đòi hỏi trong công tác quản lý dự án phải có quy trình, phương thức kiểm soát chặt chẽ, sử dụng phương thức quản lý hợp lý
- Sáu là, việc sử dụng nguồn vốn của các dự án đầu tư từ NSNN chủ yếu
bằng cơ chế đại diện, ủy thác: Nhà nước đại diện cho nhân dân quản lý, sử dụng quỹ NSNN (chủ yếu từ nguồn thu thuế của nhân dân); các cơ quan nhà nước ở cấp cao (Chính phủ, Quốc hội) ủy thác việc quản lý, sử dụng vốn NSNN cho các bộ, ngành, các đơn vị, BQLDA trực thuộc các bộ, ngành Các chủ thể này chỉ là đại diện không phải là “Ông chủ đích thực” Do vậy, đây là một trong những nguyên nhân cơ bản, sâu xa dẫn đến dự án đầu tư từ NSNN
dễ bị thất thoát, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng nếu việc quản lý không tốt Đây là đặc điểm rất quan trọng khác biệt trong quản lý các dự án đầu tư từ NSNN so với các dự án sử dụng các nguồn vốn khác
Trang 19* Nhóm đặc điểm gắn với dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp quốc phòng
- Hai là, sản phẩm của dự án thuộc lĩnh vực CNQP có tính chất đơn
chiếc Mỗi dự án đều có quy mô, các hạng mục được thiết kế riêng theo yêu cầu và mục đích sử dụng của các đơn vị thuộc các quân, binh chủng khác nhau Mỗi dự án đều có yêu cầu riêng về mặt kỹ thuật, công nghệ, quy phạm,
độ an toàn, Vì vậy, yêu cầu về quản lý đối với các dự án thuộc lĩnh vực này
là khác nhau đối với các đơn vị khác nhau
- Ba là, sản phẩm của các dự án có tính tổng hợp về khoa học, kỹ thuật,
an ninh, quốc phòng; liên quan mật thiết và có tác động, ảnh hưởng tới nhiều ngành, nhiều vùng Điều này bắt nguồn từ các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp quốc phòng phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đường lối quân sự, chiến lược bảo vệ tổ quốc mà Nhà nước xác định Vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện các dự án đầu tư, ở từng khâu, từng bước vấn đề phối hợp thực hiện giữa các ngành, các cấp là vấn đề cần quan tâm để bảo đảm thực hiện mục tiêu của dự án
Trang 201.1.3 Phân loại dự án đầu tư
Trên thực tế, các dự án đa dạng về cấp độ, loại hình, quy mô, thời gian
và được phân loại theo các tiêu thức khác nhau Chẳng hạn ở nhiều nước trên thế giới, dự án được phân loại theo một số tiêu thức sau:
- Theo người khởi xướng: dự án được phân loại thành dự án cá nhân; dự
án tập thể; dự án quốc gia; dự án quốc tế
- Theo kiểu lĩnh vực dự án: dự án được phân loại thành dự án xã hội, dự
án kinh tế, dự án tổ chức, dự án kỹ thuật, dự án hỗn hợp
- Theo loại hình dự án: dự án được phân loại thành dự án như Giáo dục đào tạo, dự án Nghiên cứu và phát triển, dự án đổi mới, dự án hỗn hợp
- Theo cấp độ: dự án được phân loại thành dự án lớn và dự án nhỏ Đây
là cách phân loại tổng hợp nhất đối với dự án
- Theo cơ cấu tái sản xuất: Dự án đầu tư được phân loại thành dự án đầu
tư theo chiều rộng và dự án đầu tư theo chiều sâu
- Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của dự án đầu tư: Có thể phân chia thành dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học, kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và xã hội
- Theo giai đoạn hoạt động của dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất
xã hội: có thể phân loại các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành
dự án đầu tư thương mại và dự án đầu tư sản xuất
- Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra: có thể phân chia thành dự án đầu tư ngắn hạn (như dự án đầu tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các đự án đầu tư sản xuất, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng ), dự án dài hạn
- Theo quy mô vốn đầu tư và tầm quan trọng của ngành, lĩnh vực đầu tư: theo tiêu chí này dự án đầu tư được phân chia thành bốn loại: dự án quan
Trang 21trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C (ở Việt Nam
được phân chia theo Nghị định số 12/2009 NĐ-CP, từ ngày 30/3/2009 [9])
- Theo nguồn vốn: Dựa vào nguồn vốn, dự án đầu tư có thể được phân chia thành:
+ Dự án đầu tư vốn huy động trong nước (vốn tích lũy của ngân sách, của doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân cư)
+ Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài (vốn đầu tư quốc tế gián tiếp, vốn đầu quốc tế tư trực tiếp)
- Theo vùng lãnh thổ (theo tỉnh, theo vùng kinh tế của đất nước): Cách phân loại này cho thấy tình hình đầu tư của từng tỉnh, từng vùng kinh tế, và ảnh hưởng của đầu tư đối với tình hình phát triển kinh tế-xã hội ở từng địa phương Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, luận văn phân loại theo quy mô vốn đầu tư và tầm quan trọng của ngành, lĩnh vực đầu tư, trong đó tập trung nghiên cứu dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực quốc phòng do
Bộ Quốc phòng thẩm định và phê duyệt
1.1.4 Chu kỳ dự án đầu tư
Chu kỳ của dự án đầu tư là các giai đoạn mà dự án phải trải qua bắt đầu
từ khi dự án mới chỉ là quy hoạch của Chủ đầu tư cho đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động Chu kỳ của dự án đầu tư được xem xét trên
ba khía cạnh: trình tự công việc, kế hoạch vốn và kết quả theo trình tự của công việc
- Trên khía cạnh trình tự công việc, dự án đầu tư phải trải qua các giai đoạn công việc như sau: hình thành ý đồ dự án, chuẩn bị dự án, thực hiện dự
án, kết thúc và bàn giao đưa vào sử dụng, khai thác và sử dụng (vận hành kết quả đầu tư), đánh giá kết thúc dự án (xem hình 1.1)
Trang 22
Hình 1.1 Chu kỳ dự án đầu tư theo trình tự công việc
Nguồn: Tổng hợp từ các tài liệu [20, 25]
- Trên khía cạnh kế hoạch vốn, dự án đầu tư trải qua các giai đoạn bố trí
kế hoạch vốn như sau (xem hình 1.2)
Hình 1.2 Chu kỳ dự án đầu tư theo trình tự bố trí vốn [25, Tr.23]
- Trên khía cạnh kết quả, dự án đầu tư trải qua các kết quả đầu tư theo trình tự sau (xem hình 1.3)
Hình 1.3 Chu kỳ dự án đầu tư theo trình tự kết quả [20, Tr.25]
Các dự án đầu tư đều tuân theo chu kỳ trên Tuy nhiên, ở từng dự án cụ thể thì nội dung của từng bước công việc, kết quả công việc theo trình tự có
Thực hiện
dự án đầu tư
Kết thúc, bàn giao
và đưa vào sử dụng
Khai thác, sử dụng (vận hành các kết quả đầu tư)
Đánh giá kết thúc
dự án đầu tư
dự án đầu tư
Vốn cho việc khai thác, sử dụng, kết quả đầu tư
Báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành;
Quyết định phê duyệt quyết toán
dự án hoàn thành
Báo cáo kết quả việc khai thác, sử dụng các kết quả dự
Trang 23thể khác nhau Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, trình tự
dự án đầu tư được quy định bao gồm ba giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc, đưa vào khai thác sử dụng Trình tự đầu tư không đồng nhất với chu kỳ của dự án đầu tư; trình tự đầu tư chỉ dừng lại ở giai đoạn kết thúc dự án, đưa vào khai thác sử dụng- một giai đoạn trong chu kỳ dự án
1.2 QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.2.1 Khái niệm quản lý dự án đầu tư
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng nhằm đạt được các mục tiêu đã
đề ra
Quản lý đầu tư chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một hệ thống đồng
bộ các biện pháp nhằm đạt được hiện quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tư nói riêng
Quản lý dự án đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng
và áp dụng những hiểu biết, kỹ năng, công cụ, kỹ thuật vào hoạt động dự án nhằm đạt được những yêu cầu và mục tiêu mong muốn từ dự án
Quản lý dự án đầu tư bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu:
- Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định những công việc cần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động theo trình tự lôgic mà có thể biểu diễn được dưới dạng sơ đồ hệ thống
- Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập trình lịch cho từng
Trang 24công việc và toàn bộ dư án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó
bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp
- Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án
Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng động từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án như trình bày trong hình:
Lập kế hoạch
* Thiết lập mục tiêu
* Dự tính nguồn lực
* Xây dựng kế hoạch
Điều phối thục hiện
* Bố trí tiến độ thời gian
* Phân phối nguồn lực
* Phân phối các hoạt động
Có nhiều mô hình tổ chức quản lý dự án Tùy thuộc mục đích nghiên cứu
mà phân loại các mô hình tổ chức dự án cho phù hợp Căn cứ vào điều kiện năng lực của cá nhân, tổ chức và căn cứ vào yêu cầu của dự án, có thể chia hình thức tổ chức quản lý dự án thành 2 nhóm chính là hình thức thuê tư vấn quản lý dự án (gồm mô hình tổ chức theo hình thức chủ nhiệm điều hành dự
án và mô hình chìa khóa trao tay) và hình thức chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quản lý dự án Đối với hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp, căn cứ vào đặc
Trang 25điểm hình thành, vai trò và trách nhiệm của ban quản lý dự án, các mô hình tổ chức quản lý dự án được chia cụ thể hơn thành: mô thình tổ chức quản lý dự
án theo chức năng, tổ chức chuyên trách dự án và tổ chức quản lý dự án dạng
ma trận
1.2.2.1 Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án
Đây là mô hình quản lý dự án mà chủ đầu tư hoặc tự thực hiện dự án (tự sản xuất, tự xây dựng, tự tổ chức giám sát và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật) hoặc chủ đầu tư lập ra ban quản lý dự án để quản lý việc thực hiện các công việc dự án theo sự ủy quyền
Mô hình này thường được áp dụng cho các dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản và gần với chuyên môn của chủ đầu tư, đồng thời chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn kỹ năng và kinh nghiệm quản lý dự án
Hình 1.5 Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án [5, Tr.25]
1.2.2.2 Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án
Là mô hình tổ chức quản lý trong đó chủ đầu tư giao cho ban quản lý dự
án chuyên ngành hoặc thuê một tổ chức tư vấn quản lý có đủ điều kiện, năng lực chuyên môn phù hợp với quy mô, tính chất của dự án làm chủ nhiệm điều hành, quản lý việc thực hiện dự án
Chủ đầu tư chủ dự án
Tổ chức
thực hiện dự án I
Tổ chức thực hiện dự án II
Tổ chức thực hiện dự án III
Chuyên gia quản lý dự án (cố vấn)
Trang 26Hình 1.6 Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án [5, Tr.26]
1.2.2.3 Mô hình chìa khoá trao tay
Mô hình này là hình thức tổ chức trong đó nhà quản lý không chỉ là đại
diện toàn quyền của chủ đầu tƣ - chủ dự án mà còn là "chủ" của dự án Hình thức chìa khoá trao tay đƣợc áp dụng khi chủ đầu tƣ đƣợc phép tổ chức đấu thầu để chọn nhà thầu thực hiện tổng thầu toàn bộ dự án từ khảo sát thiết kế, mua sắm vật tƣ, thiết bị, xây lắp cho đến khi bàn giao công trình đƣa vào khai thác, sử dụng Tổng thầu thực hiện dự án có thể giao thầu lại việc khảo sát, thiết kế hoặc một phần khối lƣợng công tác xây lắp cho các nhà thầu phụ
Chủ đầu tƣ - chủ dự án
Chủ nhiệm điều hành dự án Các chủ thầu
Trang 27Hình 1.7 Mô hình chìa khóa trao tay [5, Tr.27]
1.2.2.4 Mô hình tự thực hiện dự án
Chủ đầu tư có đủ khả năng hoạt động sản xuất xây dựng phù hợp với yêu cầu của dự án thì được áp dụng hình thức tự thực hiện dự án Hình thức tự thực hiện dự án chỉ áp dụng đối với các dự án sử dụng vốn hợp pháp của chính chủ đầu tư (vốn tự có, vốn vay, vốn huy động từ các nguồn khác) Khi thực hiện hình thức tự thực hiện dự án (tự sản xuất, tự xây dựng), chủ đầu tư phải tổ chức giám sát chặt chẽ việc sản xuất, xây dựng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng sản phẩm, chất lượng công trình xây dựng
1.2.2.5 Mô hình quản lý dự án đầu tư theo chức năng
Mô hình quản lý này có đặc điểm:
- Dự án đầu tư được đặt vào một phòng chức năng nào đó trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp (tuỳ thuộc vào tính chất của dự án)
Gói thầu n Gói thầu …
Gói thầu 2 Gói thầu 1
Thầu phụ
Trang 28- Các thành viên quản lý dự án được điều động tạm thời từ các phòng
chức năng khác nhau đến và họ vẫn thuộc quyền quản lý của phòng chức
năng nhưng lại đảm nhận phần việc chuyên môn của mình trong quá trình
quản lý điều hành dự án
Mô hình quản lý này có ưu điểm sau:
- Linh hoạt trong việc sử dụng cán bộ Phòng chức năng có dự án đặt vào
chỉ quản lý hành chính và tạm thời một số mặt đối với các chuyên viên tham
gia quản lý dự án đầu tư Họ sẽ trở về vị trí cũ của mình tại các phòng chuyên
môn khi kết thúc dự án
- Một người có thể tham gia vào nhiều dự án để sử dụng tối đa, hiệu quả
vốn, kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm của các chuyên viên
Mô hình này có nhược điểm:
- Vì dự án được đặt dưới sự quản lý của một phòng chức năng nên phòng
này thường có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến việc hoàn thành nhiệm vụ
chính của nó mà không tập trung nhiều nỗ lực vào việc giải quyết thoả đáng
các vấn đề của dự án Tình trạng tương tự cũng diễn ra đối với các phòng
chức năng khác cùng thực hiện dự án Do đó dự án không nhận được sự ưu
tiên cần thiết, không đủ nguồn lực để hoạt động hoặc bị coi nhẹ
Hình 1.8 Mô hình quản lý dự án theo chức năng [5, Tr 28]
Giám đốc
Phòng kinh
doanh Phòng kỹ thuật
Phòng kế toán tài chính
Các phòng khác
Trang 29
1.2.2.6 Mô hình tổ chức chuyên trách quản lý dự án
Đây là mô hình quản lý mà các thành viên ban quản lý dự án tách hoàn toàn khỏi phòng chức năng chuyên môn, chuyên thực hiện quản lý điều hành
dự án theo yêu cầu được giao
Mô hình quản lý này có ưu điểm:
- Đây là hình thức quản lý dự án phù hợp với yêu cầu của khách hàng nên có thể phản ứng nhanh trước yêu cầu của thị trường
- Nhà quản lý dự án có đầy đủ quyền lực hơn đối với dự án
- Các thành viên trong ban quản lý dự án chịu sự điều hành trực tiếp của chủ nhiệm dự án, chứ không phải những người đứng đầu các bộ phận chức năng điều hành
- Do sự tách khỏi các phòng chức năng nên đường thông tin được rút ngắn, hiệu quả thông tin sẽ cao hơn
Tuy nhiên mô hình này cũng có những nhược điểm sau:
- Khi thực hiện đồng thời nhiều dự án ở những địa bàn khác nhau và phải đảm bảo đủ số lượng cán bộ cần thiết cho từng dự án thì có thể dẫn đến tình trạng lãng phí nhân lực
- Do yêu cầu phải hoàn thành tốt mục tiêu về thời gian, chi phí của dự án nên các ban quản lý dự án có xu hướng tuyển hoặc thuê các chuyên gia giỏi trong từng lĩnh vực vì nhu cầu dự phòng hơn là do nhu cầu thực cho hoạt động quản lý dự án
Trang 30Hình 1.9 Mô hình tổ chức chuyên trách quản lý dự án [5, Tr.29]
1.2.2.7 Mô hình quản lý dự án theo ma trận
Mô hình này kết hợp giữa mô hình quản lý dự án theo chức năng và mô hình quản lý chuyên trách dự án Từ sự kết hợp này hình thành hai loại ma trận: ma trận mạnh và ma trận yếu
Mô hình này có ưu điểm:
- Mô hình này giao quyền cho Chủ nhiệm dự án quản lý, thực hiện dự án đúng tiến độ, trong phạm vi kinh phí được duyệt
- Các tài năng chuyên môn được phân phối hợp lý cho các dự án khác nhau
- Khắc phục được hạn chế của mô hình quản lý theo chức năng Khi kết thúc dự án các thành viên ban quản lý dự án có thể trở về tiếp tục công việc
cũ tại phòng chức năng của mình
- Tạo điều kiện phản ứng nhanh hơn, linh hoạt hơn trước yêu cầu của khách hàng và những thay đổi của thị trường
Nhược điểm của mô hình này là:
Giám đốc
Ban quản lý
dự án
Phòng tổ chức hành chính
Phòng kế toán tài chính
Chuyên viên
quản lý tài
chính
Chuyên viên quản lý sản xuất
Chuyên viên
Phòng khác
Trang 31- Nếu việc phân quyền quyết định trong quản lý dự án không rõ ràng hoặc trái ngược, trùng chéo sẽ ảnh hưởng đến tiến trình thực hiện dự án
- Về lý thuyết các Chủ nhiệm dự án quản lý các quyết định hành chính, những người đứng đầu bộ phận chức năng ra quyết định kỹ thuật Nhưng trên thực tế quyền hạn và trách nhiệm khá phức tạp Do đó, kỹ năng thương lượng
là một yếu tố rất quan trọng để đảm bảo thành công của dự án
Hình 1.10 Mô hình quản lý dự án theo ma trận [5, Tr.30]
- Mô hình này vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý Vì một nhân viên có hai thủ trưởng nên sẽ gặp khó khăn khi phải quyết định thực hiện lệnh nào trong trường hợp hai lệnh từ hai nhà quản lý cấp trên mâu thuẫn nhau
1.2.2.8 Những căn cứ lựa chọn mô hình quản lý dự án đầu tư
Để lựa chọn mô hình quản lý dự án cần dựa vào những nhân tố cơ bản như quy mô dự án, thời gian thực hiện, công nghệ sử dụng, độ bất định và rủi
ro của dự án, địa điểm thực hiện dự án, nguồn lực và chi phí cho dự án, số
Trang 32lượng dự án thực hiện trong cùng thời kỳ và tầm quan trọng của nó Ngoài ra cũng cần phân tích các tham số quan trọng khác là phương thức thống nhất các nỗ lực, cơ cấu quyền lực, mức độ ảnh hưởng và hệ thống thông tin
1.2.3 Nội dung quản lý dự án đầu tư
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận và nhiều quan niệm khác nhau về nội dung quản lý dự án đầu tư; có quan điểm tiếp cận cho rằng quản lý dự án đầu
tư gồm 9 lĩnh vực cần được xem xét nghiên cứu là: lập kế hoạch tổng quan, quản lý phạm vi, quản lý thời gian, quản lý chi phí, quản lý chất lượng, quản
lý nhân lực, quản lý thông tin, quản lý rủi ro, quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán Đây là cách tiếp cận mà nội dung quản lý dự án đầu tư được chia nhỏ theo các đối tượng cần được quản lý trong quá trình thực hiện dự án Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa làm rõ được tiến trình quản lý dự án đầu tư theo trình tự thời gian từ khi dự án bắt đầu hình thành đến khi kết thúc dự án Ngoài ra, có cách tiếp cận nội dung quản lý dự án theo chu kỳ, theo đó quản
lý dự án đầu tư được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn xây dựng ý tưởng, giai đoạn phát triển, giai đoạn thực hiện và giai đoạn kết thúc Cách tiếp cận này
đã chỉ rõ được trình tự thời gian của dự án, tuy nhiên tên gọi các giai đoạn này chưa chỉ rõ được nội dung cần thực hiện trong quản lý dự án
Trên cơ sở kế thừa ưu điểm của các cách tiếp cận kể trên, luận văn tiếp cận nội dung quản lý dự án bao gồm: lập dự án đầu tư; thẩm định dự án đầu
tư và ra quyết định đầu tư; lập kế hoạch thực hiện dự án đầu tư; quản lý đấu thầu; công tác giám sát và kiểm soát thực hiện dự án; kết thúc, nghiệm thu, bàn giao và quyết toán
Trang 33Đây là giai đoạn đầu tiên trong việc hình thành ý tưởng về một dự án đầu
tư, người ta còn gọi đây là giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư Mục đích của giai đoạn này là để trả lời câu hỏi có hay không cơ hội đầu tư Đây là một việc làm quan trọng có ý nghĩa rất lớn đến sự thành công hay thất bại của dự án
Vì thế nghiên cứu cơ hội đầu tư không thể thực hiện một cách tùy tiện mà phải được dựa vào các căn cứ khoa học Các căn cứ đó là:
+ Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, văn hóa của cả nước, của từng vùng lãnh thổ, chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành,
của doanh nghiệp Đây là một căn cứ rất quan trọng để đảm bảo định hướng
cho đầu tư phát triển lâu dài, là căn cứ đảm bảo tính pháp lý của dự án
+ Nhu cầu thực tế của xã hội đối với sản phẩm, dịch vụ cụ thể Đây là
nhân tố quyết định sự hình thành và hoạt động của các dự án đầu tư Không
có nhu cầu thì khó đảm bảo khả năng đạt được lợi ích của dự án trong tương lai mà chỉ dẫn đến sự lãng phí tiền của và công sức của nhà đầu tư, của xã hội
+ Tiềm năng sẵn có và có thể khai thác để thực hiện dự án Bao gồm
những điều kiện về vốn để thực hiện và những thế mạnh của doanh nghiệp về chuyên môn, khả năng quản lý, uy tín…
+ Những kết quả và hiệu quả sẽ đạt được khi thực hiện dự án đầu tư
Đây là kết quả tổng hợp để đánh giá tính khả thi của toàn bộ dự án đầu tư Kết quả và hiệu quả này phải lớn hơn hoặc ít nhất phải bằng nếu đầu tư vào dự án khác thì cơ hội đầu tư mới được chấp nhận
Giai đoạn này nếu được thực hiện đầy đủ sẽ là nền tảng cho giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, là giai đoạn chuẩn bị những tài liệu, những thông tin tham khảo cho giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi
* Giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi
Đây là bước nghiên cứu tiếp theo của các cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đã được lựa chọn có quy mô đầu tư lớn, phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian thu hồi vốn lâu, có nhiều yếu tố bất định tác động Bước này nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh mà khi xem xét cơ hội đầu tư còn thấy phân vân chưa chắc chắn, nhằm tiếp tục lựa chọn, sàng lọc các cơ hội đầu tư (đã được xác
Trang 34định ở cấp độ ngành, vùng hoặc cả nước) hoặc để khẳng định lại cơ hội đầu tư
đã được lựa chọn có đảm bảo tính khả thi hay không
Mục đích nghiên cứu tiền khả thi nhằm loại bỏ các dự án bấp bênh (về thị trường, về kỹ thuật), những dự án mà kinh phí đầu tư quá lớn, mức sinh lợi nhỏ, hoặc không thuộc loại ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội hoặc chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh Nhờ đó các chủ đầu tư có thể hoặc loại bỏ hẳn dự án để khỏi tốn thời gian và kinh phí, hoặc tạm xếp dự án lại chờ cơ hội thuận lợi hơn
Đối với các cơ hội đầu tư quy mô nhỏ, không phức tạp về mặt kỹ thuật
và triển vọng đem lại hiệu quả rõ ràng thì có thể bỏ qua giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi
Nội dung nghiên cứu tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau đây:
+ Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó khăn
+ Dự kiến quy mô đầu tư, hình thức đầu tư
+ Phân tích, lựa chọn sơ bộ về công nghệ, kỹ thuật và các điều kiện cung cấp vật tư thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ, hạ tầng
+ Phân tích, lựa chọn sơ bộ các phương án thực hiện
+ Xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động các nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và trả nợ, thu lãi
+ Tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế xã hội của dự án
+ Xác định tính độc lập khi vận hành, khai thác của các dự án thành phần hoặc tiểu dự án
Đặc điểm nghiên cứu các vấn đề trên ở giai đoạn này là chưa chi tiết, xem xét ở trạng thái tĩnh, ở mức trung bình mọi đầu vào, đầu ra, mọi khía cạnh kỹ thuật, tài chính kinh tế của cơ hội đầu tư và toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư vận hành kết quả đầu tư Do đó độ chính xác chưa cao
Trang 35* Giai đoạn nghiên cứu khả thi
Đây là bước sàng lọc lần cuối cùng để lựa chọn được dự án tối ưu Sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu khả thi là báo cáo nghiên cứu khả thi Nội dung chủ yếu của báo cáo này bao gồm:
- Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư
- Lựa chọn hình thức đầu tư
- Chương trình sản xuất và các yếu tố phải đáp ứng
- Các phương án địa điểm cụ thể phù hợp với quy hoạch xây dựng
- Phương án giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư
- Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ
- Các phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng, thiết kế sơ bộ của các phương án đề nghị lựa chọn, giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường
- Xác định rõ nguồn vốn, khả năng tài chính, tổng mức đầu tư và nhu cầu vốn theo tiến độ Phương án hoàn trả vốn đầu tư
- Phương án quản lý khai thác dự án và sử dụng lao động
- Phân tích hiệu quả đầu tư
- Các mốc thời gian chính thực hiện đầu tư
- Kiến nghị hình thức quản lý thực hiện dự án
- Xác định chủ đầu tư
- Mối quan hệ và trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến dự án
Bản báo cáo nghiên cứu khả thi này sẽ được trình lên cấp quản lý có thẩm quyền để thẩm định và phê duyệt cho phép thực hiện dự án nếu đủ điều kiện
1.2.3.2 Thẩm định dự án đầu tư và ra quyết định đầu tư
Thẩm định gắn chặt với việc xác định tính khả thi của dự án đầu tư và thường bao gồm những nội dung cơ bản sau:
* Thẩm định khía cạnh pháp lý của dự án
Trang 36- Sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng Trường hợp chưa có các quy hoạch trên thì phải có ý kiến thỏa thuận của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó
- Xem xét tư cách pháp nhân và năng lực chủ đầu tư
- Thẩm định sự phù hợp của dự án đầu tư với các văn bản pháp quy của nhà nước, các quy định, chế độ khuyến khích ưu đãi
- Thẩm định nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên, khả năng giải phóng mặt bằng
đô thị, nông thôn
Trang 37Thẩm định quy mô của dự án: thẩm định mức độ phù hợp giữa quy mô
dự án, công suất sử dụng với khả năng chấp nhận sản phẩm của thị trường, với khả năng đáp ứng vốn, máy móc thiết bị cũng như khả năng quản lý dự án
của các nhà quản lý
- Thẩm định công nghệ và trang thiết bị: Đánh giá mức độ phù hợp của
công nghệ, thiết bị mà dự án lựa chọn, xác định rõ căn cứ lựa chọn công nghệ, máy móc thiết bị, mức đội đảm về bảo chuyển giao công nghệ, lắp đặt, bảo hành chạy thử, phụ tùng thay thế; đặc biệt lưu ý kiểm soát giá trang thiết bị, chương trình đào tạo và quản lý con người phù hợp với công nghệ, thiết bị lựa chọn
- Thẩm định phương án địa điểm xây dựng: kiểm tra mức độ thuận tiện
về nguồn nguyên liệu, hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng, diện tích đất sử dụng; mức độ đảm bảo vệ sinh môi trường sinh thái, phương án xử lý chất thải, phòng chống cháy nổ, an toàn lao động, mức độ đền bù giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư
- Thẩm định phương án kiến trúc: mức độ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật,
độ bền vững, việc áp dụng quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng
* Thẩm định khía cạnh kinh tế xã hội của dự án
Thẩm định kinh tế xã hội là một nội dung quan trọng của thẩm định dự
án nhằm đánh giá lại hiệu quả của dự án trên giác độ toàn bộ nền kinh tế Nội dung này thường được đặc biệt chú trọng đối với các dự án được tài trợ bằng vốn của Nhà nước Mặc dù vậy, thẩm định lợi ích và chi phí hay thẩm định tài chính của dự án vẫn cần được đề cập
Thẩm định kinh tế xã hội nhằm rà soát lại mục tiêu của dự án, tác động của dự án tới môi trường và tới các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội, tính hợp lý và tối ưu của dự án, mức độ ảnh hưởng ngân sách của dự án
Trang 38Trong thẩm định kinh tế xã hội của dự án, cần thẩm định việc xác định giá kinh tế của hàng hóa và dịch vụ mà dự án đem lại thông qua điều chỉnh giá thị trường, tức là giá phản ánh được giá trị thực sự của các hàng hóa và dịch vụ (Chi phí và lợi ích của chúng đối với nền kinh tế); trên cơ sở đó, đánh giá những đóng góp của dự án đối với nền kinh tế quốc dân
* Thẩm định khía cạnh tài chính dự án
Thẩm định tài chính dự án là rà soát, đánh giá một cách khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư: doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác, các cá nhân
Thẩm định tài chính bao gồm nhiều nội dung liên quan chặt chẽ với nhau Những nội dung chủ yếu được các nhà thẩm định chú trọng:
- Xác định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ cũng như các phương thức tài trợ dự án
- Xác định chi phí và lợi ích của dự án từ đó, xác định dòng tiền của dự
án Những chi phí trực tiếp liên quan đến dự án thường bao gồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí thuê máy móc, chi phí, chi phí lao động Lợi ích của dự án, tùy theo từng trường hợp cụ thể, có thể là mức gia tăng doanh thu, cải tiến chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, giảm mức thua lỗ
- Dự tính lãi suất chiết khấu: Tùy theo các quan điểm khác nhau, cách tính dự tính lãi suất này có thể khác nhau Song, thực chất, đó là dự tính lãi suất mong đợi của nhà đầu tư
- Xác định các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính dự án: như Gía trị hiện tại ròng (NPV), tỷ lệ nội hoàn (IRR), tỷ lệ nội hoàn có điều chỉnh (MIRR), chỉ số doanh lợi (PI), thời gian hoàn vốn ( PP)
- Đánh giá rủi ro trong dự án: đánh giá khả năng xẩy ra của một biến cố không chắc chắn trong các giai đoạn của dự án Rủi ro tiềm ẩn trong mọi giai
Trang 39đoạn của dự án Do vậy, thẩm định đúng rủi ro sẽ tạo điều kiện thực hiện dự
án đúng như đã định
* Thẩm định về phương diện tổ chức, quản lý thực hiện dự án
- Xem xét hình thức tổ chức quản lý dự án
- Xem xét cơ cấu, trình độ tổ chức vận hành của dự án
- Đánh giá nguồn nhân lực của dự án:
* Thiết kế chi tiết
Sau khi thẩm định dự án ở giai đọan nghiên cứu khả thi và dẫn đến quyết định phê duyệt dự án, thì công việc tiếp theo là thực hiện thiết kế chi tiết Giai đoạn này bao gồm các công việc chủ yếu sau:
+ Xác định các hoạt động cơ bản, phân chia nhiệm vụ, xác định nguồn lực dùng cho dự án để thực hiện các công việc đó
+ Xác định rõ các yêu cầu về kỹ thuật: nhu cầu lao động kỹ thuật, hoàn tất hồ sơ, bản vẽ thiết kế chi tiết và qui cách kỹ thuật cho việc xây dựng nhà xưởng, trang thiết bị
+ Lên kế hoạch và thời gian biểu thực hiện dự án và kế hoạch đề phòng bất trắc…tổng hợp thành kế hoạch chính thức
Giai đoạn thiết kế chi tiết của việc thẩm định dự án nhằm để tăng cường độ chính xác của mọi dữ kiện đã được sử dụng trong các phần phân tích trước đó để sao cho kế hoach thực hiện dự án chính thức có thể được xây dựng Trong giai đoạn này, không những hoàn tất về mặt thiết kế vật chất mà
Trang 40còn lên kế hoạch quản lý hành chính, vận hành sản xuất và tiếp thị cho dự án… Nếu đáp ứng đƣợc thì chuyển sang giai đoạn thực hiện dự án
* Thực hiện dự án
Thực hiện dự án bao gồm:
+ Điều phối và phân bổ nguồn lực để thực hiện dự án
+ Thành lập nhóm thực hiện dự án bao gồm các nhà chuyên môn và kỹ thuật gia để tiến hành điều phối các chuyên gia tƣ vấn, các nhà thầu, các nhà cung cấp thiết bị, vật tƣ…
+ Bổ nhiệm quản trị gia dự án gắn với việc giao trách nhiệm và quyền hạn quản lý dự án một cách rõ ràng
+ Lập thời gian biểu thực hiện dự án cũng nhƣ xây dựng qui chế kiểm tra
và báo cáo để nắm thông tin cung cấp cho các cấp quản lý để ra quyết định liên quan đến quá trình thực hiện dự án
+ Ký kết hợp đồng kinh tế
+ Xây dựng - lắp đặt; tuyển mộ lao động
+ Nghiệm thu và bàn giao công trình
1.2.3.4 Quản lý đấu thầu
Đấu thấu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế Việc quản lý đầu thầu phải tuân thủ các yêu cầu sau:
- Bên mời thầu và tổ chuyên gia đấu thầu phải có đầy đủ các điều kiện theo quy định của luật đấu thầu về: chứng chỉ, trình độ, kinh nghiệm liên quan đến vấn đề đấu thầu
- Bảo đảm yêu cầu về tính cạnh tranh theo quy định của luật đấu thầu
- Không vi phạm các hành vi bị cấm theo quy định của luật đấu thầu Trong quá trình triển khai thực hiện dự án, căn cứ vào đặc điểm các hạng mục của dự án theo hồ sơ dự án đã đƣợc thẩm định, chủ đầu tƣ tiến hành hoạt động đấu thầu Hình thức đầu thầu tùy thuộc vào tính chất của hạng mục, có