Để phát huy vai trò của NSNN trong quá trình phân phối, huy động các nguồn tài chính của xã hội cho nhà nước cần thiết phải xác định một số yếu tố như: Mức động viên các nguồn tài chính
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin camđoan: Luận văn với đề tài“Quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam” là công trình nghiên cứu riêng của tôi
Các số liệu trong luận văn đƣợc sử dụng trung thực Kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này chƣa từng đƣợc công bố tại bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội , ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đến quý thầy cô trong Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thu Hoài đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, tôi cũng xin cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người !
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4
1.1 Tổng quan chung tài liệu nghiên cứu 4
1.1.1 Các công trình, bài viết đã công bố có liên quan đến đề tài luận văn 4
1.1.2 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và những khoảng trống đặt ra cho đề tài luận văn 6
1.2 Cơ sở lý luận về ngân sách và quản lý ngân sách nhà nước 7
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của ngân sách và quản lý NSNN 7
1.2.2 Chức năng của ngân sách nhà nước 9
1.2.3 Vai trò của ngân sách nhà nước và sự cần thiết phải quản lý NSNN 11
1.2.4 Cơ cấu ngân sách, nguyên tắc và nội dung quản lý NSNN 14
1.2.5 Các tiêu chí cơ bản đánh giá hiệu quả quản lý NSNN 24
1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ngân sách nhà nước 24
1.3 Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước của tỉnh Vĩnh Phúc và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Hà Nam 26
1.3.1 Kinh nghiệm về phân cấp quản lý và điều hành ngân sách 26
1.3.2 Kinh nghiệm lập dự toán ngân sách 30
1.3.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý ngân sách cho tỉnh Hà Nam 30
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Nguồn dữ liệu 32
2.2 Cơ sở phương pháp luận và cách tiếp cận 32
2.2.1 Cơ sở phương pháp luận 32
2.2.2 Cách tiếp cận 32
2.3 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 33
2.3.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 33
Trang 62.3.2 Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh 33
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015 34
3.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam 34
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 34
3.2 Phân tích thực trạng quản lý ngân sách của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011 - 2015 36
3.2.1 Công tác phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách 36
3.2.2 Công tác lập dự toán ngân sách 42
3.2.3 Chấp hành ngân sách 49
3.2.4 Công tác quyết toán ngân sách 62
3.2.5 Kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và xử lý vi phạm trong quản lý ngân sách 64
3.3 Đánh giá chung về quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011-2015 66
3.3.1 Kết quả đạt được 66
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 68
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2016-2020 75
4.1 Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016 - 2020 75
4.1.1 Mục tiêu về kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam 75
4.1.2 Mục tiêu về thu chi ngân sách 77
4.2 Quan điểm cơ bản của tác giả trong quản lý ngân sách tỉnh Hà Nam 78
4.3 Giải pháp tăng cường quản lý thu - chi ngân sách giai đoạn 2016-2020 79
4.3.1 Giải pháp đối với công tác phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách 79
4.3.2 Giải pháp đối với công tác lập và giao dự toán 81
4.3.3 Giải pháp chấp hành dự toán ngân sách 83
Trang 74.3.4 Giải pháp cho công tác quyết toán ngân sách 90
4.3.5 Giải pháp cho công tác thanh tra, kiểm toán ngân sách 91
4.3.6 Công tác bố trí cán bộ quản lý ngân sách 92
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nguyên nghĩa
1 CTMT Chương trình mục tiêu
3 DTTW Dự toán trung ương
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Số hiệu Nội dung Trang
1 Bảng 1.1 Phân cấp nguồn thu của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011
2 Bảng 3.1 Chỉ tiêu tăng trưởng ngân sách quy định trong lập dự
toán thu ngân sách giai đoạn 2011-2015 44
3 Bảng 3.2 Số kiểm tra, số giao dự toán thu ngân sách 45
4 Bảng 3.3 Số kiểm tra, số giao dự toán chi đầu tư phát triển sự nghiệp 46
5 Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu thu cơ bản giai đoạn 2011-2015 50
6 Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu chi chủ yếu giai đoạn 2011-2015 56
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, kể từ khi đất nước thực hiện đường lối đổi mới và
mở cửa hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường nước ta đã dần hình thành và phát triển, thúc đẩy mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội đưa nước ta lên vị thế mới trên trường quốc tế Đạt được những thành tựu đó không thể không nói đến vai trò của Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước với tư cách là công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước đã thực sự góp phần vào việc điều chỉnh có hiệu quả nền kinh tế, thể hiện qua việc huy động và phân bổ nguồn lực hợp lí, đảm bảo cân đối thu chi, lành mạnh tình hình tài chính, đảm bảo thực hiện công bằng xã hội và thúc đẩy kinh tế phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, Ngân sách nhà nước hiện tại cũng còn bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định đặc biệt là vấn đề quản lí ngân sách trên địa bàn tỉnh Tình hình quản lí ngân sách thời gian qua vẫn còn thất thoát, lãng phí, tham nhũng ngân sách và kém hiệu quả, gây bất bình trong dư luận xã hội và quần chúng nhân dân Thực tiễn quản lí Ngân sách nhà nước ở địa bàn tỉnh hiện nay đang đặt ra những yêu cầu, thách thức mới đòi hỏi công tác quản lí ngân sách nhà nước cần phải được tiếp tục đổi mới, ngày càng hoàn thiện, đi vào quản lí chiều sâu nhằm đạt hiệu quả cao hơn nữa Vì vậy, việc tăng cường công tác quản lí ngân sách nhà nước và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực thông qua công cụ ngân sách nhà nước trở thành vấn
đề cấp thiết của cả nước và của các cấp chính quyền địa phương
Hà Nam là một tỉnh mới được tái lập từ năm 1997, dù những năm qua có phần phát triển nhờ các khu công nghiệp Đồng Văn I, II, III; khu Công nghiệp Châu Sơn; một số Cụm công nghiệp – TTCN và thu hút du lịch nhờ chuỗi khu du lịch Tam Chúc Ba Sao – Bái Đính – Tràng An Nhưng, nhìn chung Hà Nam vẫn còn là tỉnh nông nghiệp, quy mô kinh tế nhỏ, giá trị sản xuất chưa cao nên khả năng huy động nguồn thu ngân sách nhà nước thấp, trong khi đó nhu cầu chi cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn, nhất là khoản chi cho giáo dục, y tế và hỗ trợ nông thôn mới Việc nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam là hết sức quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 11Thực tế trong thời gian qua, công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam dù có những bước tiến tích cực, thu ngân sách cơ bản đáp ứng được 60% nhu cầu chi ngân sách và góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần phải khắc phục, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện Ví
dụ như vẫn còn thình trạng thất thu ngân sách, nguồn thu ngân sách còn hạn chế, quan hệ giữa cấp ngân sách, việc lập và chấp hành dự toán ngân sách, sử dụng hợp
lý nguồn lực ngân sách, còn bất cập Quản lý ngân sách nhà nước có hiệu quả chính là một trong những yếu tố có tính quyết định thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nhằm vừa đạt mục tiêu quản lý ngân sách vừa phải đảm bảo nguyên tắc tài chính quốc gia vừa phải phát huy tính năng động, sáng tạo, tính tự chủ, tính minh bạch Trong thời gian tới, vấn đề quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh được đặt ra với tầm quan trọng đặc biệt và có tính cấp thiết cả về lý
luận và thực tiễn Vì vậy, đề tài “Quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh
Hà Nam” được chọn để làm luận văn thạc sĩ
2 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam đang được thực hiện như thế nào và Hà Nam cần có những giải pháp gì để hoàn thiện công tác quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tỉnh Hà Nam giai đoan 2011-2015, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về ngân sách và quản lý ngân sách nhà nước;
- Phân tích, đánh giá thực trạng của công tác quản lý ngân sách của tỉnh Hà Nam, chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế trong quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh Hà Nam;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cho giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý ngân sách nhà nước trên điạ bàn tỉnh Hà Nam
5 Những đóng góp của luận văn
- Phân tích, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế trong quản lý ngân sách của các cấp chính quyền địa phương tỉnh Hà Nam;
- Đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh Hà Nam
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 4 chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về
quản lý ngân sách nhà nước
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam
giai đoạn 2011-2015
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh
Hà Nam giai đoạn từ 2016-2020
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan chung tài liệu nghiên cứu
1.1.1 Các công trình, bài viết đã công bố có liên quan đến đề tài luận văn
Quản lý NSNN có vai trò rất quan trọng trong ổn định, tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội và nó càng quan trọng hơn khi nguồn lực ngân sách bị thiếu hụt nên đòi hỏi công tác quản lý NSNN phải hiệu quả Các nhà nghiên cứu lĩnh vực quản lý NSNN cũng chứng minh rằng nếu quản lý NSNN không hiệu quả,
sử dụng NSNN để đầu tư dàn trải, chi tiêu quá mức kiểm soát sẽ dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách và làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn Vì vậy, vấn đề quản lý NSNN trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều đề tài nghiên cứu cấp
bộ, sở, ban, ngành, sách chuyên khảo, luận văn, luận án… của các học giả trong và ngoài nước Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu điển hình về quản lý NSNN đã được công bố như:
- ADB, 2000 To Serve and To Preserve: Improving Public Administration in
a Competitive World Báo cáo này nêu rõ: “Chừng nào chúng ta không đảm bảo
rằng các khoản chi cho những mục đích của chính quyền địa phương phù hợp với nhu cầu và mong muốn của nhân dân địa phương, trao cho họ quyền hạn thoả đáng
và phân bổ cho họ nguồn tài chính thích hợp thì chúng ta sẽ không bao giờ có thể khơi dậy sự quan tâm và phát huy được sáng kiến của người dân địa phương”
- Oates, Wallace, 1972 Fiscal Federalism NewYork: Harcourt Brace
Jovanovich Trong nghiên cứu này, Oates cho rằng: “Cần có sự quản lý về NSNN vì hàng hóa công nên do cấp chính quyền đại diện tốt nhất cho vùng/địa phương hưởng lợi cung cấp”
- Rao, Govinda.M; Richard Bird and Jennnie I Livack, 1998 "Fiscal Decentralization and Poverty Alleviation in Transitional Economy: The Case of
Vietnam." Asian Economic Journal, 12(No4), pp 353-78 Nghiên cứu cho rằng:
Phân cấp quản lý ngân sách không những tạo ra nguồn lực tài chính mang tính độc
Trang 14lập tương đối để mỗi cấp chính quyền chủ động thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình, mà còn là động lực khuyến khích mỗi cấp chính quyền và dân cư ở địa phương tích cực khai thác các tiềm năng của mình để phát triển địa phương
- Shah, Anwar ed Local Governance in Developing Countries Washington
D.C: The World Bank, 2006
- Stigler, George, 1957 The tenable range of functions of local government,
trong Joint Economic Committee, US Congress (ed.), Federal Expenditure Policy for Economic Growth and Stability (US Government Printing Office, Washington D.C): Nghiên cứu tập trung về vai trò của phân cấp tới sự phát triển của địa phương Stigler (1957) nhận xét: “một chính phủ hoạt động tốt nhất khi nó ở gần dân”
Những nghiên cứu đánh giá về thực trạng quản lý NSNN và phân cấp quản
lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam không nhiều gồm:
- Vũ Sỹ Cường, 2008 La politique fiscale et le dévelopement du Vietnam au cours de la transition Luận án Tiến sỹ ĐHTH Paris Pantheon Sorbonne
- Vũ Thành Tự Anh, Lê V Thái, Võ T Thắng, 2007 Provincial Extralegal Investment Incentives in the Context of Decentralisation in Viet Nam: Mutually Beneficial or a Race to the Bottom? UNDP Policy Dialogue Paper
- Lê Thị Thu Thủy, 2010 Một số vấn đề về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 26 (2010) 34-10 Nghiên cứu đã làm
rõ cớ sở lý luận về quản lý NSNN, phân tích và đánh giá thực trạng công tác phân cấp quản lý NSNN ở nước ta và kết luận yêu cầu cấp thiết phải quản lý NSNN
- Ngân hàng thế giới, 1996 Vietnam Fiscal Decentralization and Delivery of Rural Services, In, 220 p.Washington D.C Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (1996, 2005) cho thấy phân cấp ngân sách có ảnh hưởng tích cực tới quá trình xóa đói giảm nghèo
- Ngân hàng thế giới, 2001 The Vietnam Public Expenditure Review 2000 In.Hanoi
- Ngân hàng thế giới và - CHXH CN Việt nam, 2005 Vietnam Management
Public Expenditure for Poverty Reduction and Growth Public Expenditure Review and Integrated Fiduciary Assessment Hanoi: Edition Politique Nationale
Trang 15- Nguyễn Phi Lân, Phạm Hồng Chương, 2008 Phân cấp quản lý tài khóa và tăng trưởng kinh tế Việt nam – Tạp chí Kinh tế Phát triển số 12/2008 Tác giả cho
rằng trong công tác quản lý thu, chi ngân sách, xử lý bội chi NSNN, quản lý nợ công là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành, tuy nhiên, tác giả cũng chỉ khái quát những giải pháp khắc phục chung chung
- Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Quang Dong, 2008 "Phân tích tính công bằng
và hiệu quả của chi ngân sách theo tỉnh" Tạp Chí Tài chính 12/2009 Tác giả đặt ra
câu hỏi việc hoàn thiên công tác quản lý NSNN và tài chính công là một nhiệm vụ cần thiết trong bối cảnh hiện nay nhưng chưa nêu ra các giải pháp tiến hành cụ thể
Trong các nghiên cứu trên, Ngân hàng thế giới, 1996, 2000, 2005 Martinez – Vazquez và Mc Lure, 1998, 2004.; Rao G và cộng sự, 1998; Vũ Sỹ Cường, 2008; Nguyễn P Lân, 2008; Nguyễn T Minh và cộng sự, 2009, Vũ T.T Anh và cộng sự,
2007, và một số bài viết khác được trình bày trong các hội thảo chuyên ngành đều chứng minh rằng quản lý NSNN và chính sách phân cấp nguồn thu NSNN có tác dụng khuyến khích các tỉnh đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội địa phương Tuy nhiên tác động của chính sách này tới kinh tế địa phương là rất nhỏ so với các yếu
tố khác
1.1.2 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và những khoảng trống đặt ra cho
đề tài luận văn
Qua việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy hầu hết các nghiên cứu đều đã tập trung làm rõ
+ Những vấn đề lý luận chung về quản lý NSNN; vai trò của quản lý NSNN
và phân cấp quản lý NSNN
+ Những vấn đề về bội chi NSNN và nợ công
+ Kinh nghiệm một số tỉnh về quản lý NSNN và những vấn đề liên quan khác Các nghiên cứu đều có chung nhận định là cần tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý ngân sách, song việc hoàn thiện công tác quản lý NSNN như thế nào để đảm bảo có một nền tài chính lành mạnh và bền vững, có khả năng chống đỡ với những biến động của nền kinh tế toàn cầu là vấn đề không dễ dàng
Trang 16Hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế đã đi sâu vào các vấn đề chủ yếu của công tác quản lý NSNN là thu, chi và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ khái quát một số vấn đề nổi cộm và giải pháp khắc phục chung nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSNN
Trong những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã có một số nghiên cứu về công tác quản lý thu, chi ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện Hầu hết các đề tài nghiên cứu ở trình độ cử nhân, cao đẳng; các giải pháp của các đề tài còn chung chung, chưa được vận dụng nhiều trong thực tiễn Riêng đối với quản lý NSNN của Tỉnh cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn đề này
Vì vậy, để đánh giá một cách khách quan thực trạng công tác quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh Hà Nam, đưa ra giải pháp hiệu quả và vận dụng trong thực tiễn, góp phần tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà, đáp ứng yêu cầu bối cảnh hội nhập kinh
tế hiện nay là hết sức cần thiết
1.2 Cơ sở lý luận về ngân sách và quản lý ngân sách nhà nước
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của ngân sách và quản lý NSNN
1.2.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách Chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính Thuật ngữ "ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về NSNN tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển: Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ, được thiết lập hàng năm [3]
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN, chẳng hạn: Các nhà kinh tế phương Tây cho rằng: Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước; Các nhà kinh tế Trung Quốc cho rằng, NSNN là kế hoạch thu, chi tài chính hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp luật quy định; Các nhà kinh tế Nga
Trang 17cũng cho rằng, NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước [3]
Như vậy, từ việc tìm hiểu các khái niệm nêu trên về NSNN, ta có thể thấy rằng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm NSNN Theo Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ hai thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002,
có hiệu lực thi hành từ năm 2004, thì: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng
và nhiệm vụ của nhà nước [1,tr.5]
1.2.1.2 Khái niệm về quản lý ngân sách nhà nước
Quản lý ngân sách nhà nước là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực tổ chức thu NSNN, tổ chức và kiểm soát chi NSNN nhằm đảm bảo khả năng thanh toán chi trả và sử dụng tiết kiệm hiệu quả quỹ NSNN
Chủ thể quản lý NSNN là Nhà nước hoặc cơ quan Nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ NSNN Chủ thể trực tiếp quản lý NSNN là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan Nhà nước
Thực chất của quản lý NSNN là quản lý các hoạt động thu, chi bằng tiền của NSNN và cân đối hệ thống NSNN
+ Quản lý thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung
một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước
+ Quản lý chi NSNN là việc Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN
nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc đã được xác lập
1.2.1.3 Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Đặc điểm của NSNN được thể hiện qua các đặc điểm sau:
Thứ nhất, quy mô quỹ NSNN và các hình thức thu, chi NSNN đều bị quyết định
bởi quy mô, tốc độ, chất lượng phát triển của mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi địa phương Hay nói cách khác, sự phát triển kinh tế sẽ là cơ sở cho sự hình thành nguồn thu của
Trang 18NSNN; sự phát triển của xã hội về cơ bản sẽ đặt ra những đòi hỏi về nhu cầu chi của NSNN, song các nhu cầu này chỉ có khả năng đáp ứng khi kinh tế có sự phát triển
Thứ hai, các quan hệ phân phối của NSNN chủ yếu dựa trên nguyên tắc
không hoàn trả một cách trực tiếp Cần nhận thúc rõ đặc điểm này để lựa chọn và áp dụng các biện pháp trong quản lý thu, chi và phân cấp NSNN cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội trong từng thời gian cụ thể
Thứ ba, sự vận động và phát triển của NSNN luôn phải có kế họach hóa một
cách cao độ Nền tảng cho việc kế hoạch hóa NSNN là các mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội mà nhà nước đề ra cho các khoảng thời gian khác nhau từ ngắn hạn đến dài hạn
Thứ tư, công khai, minh bạch luôn là yêu cầu đòi hỏi phải đáp ứng trong quá
trình quản lý NSNN Ở đâu làm tốt được công khai, minh bạch ngân sách thì ở đó công tác xã hội hóa huy động nguồn thu ngân sách sẽ đạt tốt và chi tiêu ngân sách
sẽ ít bị thất thoát, lãng phí
1.2.2 Chức năng của ngân sách nhà nước
- Chức năng phân phối
Phân phối NSNN không chỉ dừng ở khâu phân phối thu nhập mà bao gồm cả phân phối các yếu tố đầu vào, cụ thể là phân bổ các nguồn lực tài chính cho các đối tượng sử dụng
Đối tượng phân phối của NSNN là các nguồn lực tài chính do thu nhập quốc dân mới sáng tạo thuộc các thành phần kinh tế cùng với các khoản vay, mượn của Chính phủ, gắn với việc hình thành, sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng phân phối
Phạm vi phân phối của NSNN được giới hạn ở các nghiệp vụ có liên quan đến quyền chủ sở hữu và quyềnlực chính trị của Nhà nước, cụ thể như sau: Phân phối nguồn lực tài chính và tài trợ vốn cho các doanh nghiệp, thường là các doanh nghiệp Nhà nước chủ sở hữu toàn bộ hay một bộ phận dưới hình thức liên doanh liên kết hoặc chi cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội bằng nguồn vốn tập trung từ NSNN; Phân phối thu nhập cho nhu cầu của các cơ quan và tổ chức kinh tế nằm trong cơ cấu bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương
Trang 19Về mục đích, phân phối của NSNN hướng vào việc giải quyết một cách thỏa đáng mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng xã hội, thực hiện tái sản xuất mở rộng, xác lập cơ cấu kin tế- xã hội hợp lý, làm nền tảng cho quá trình phát triển phù hợp với các quy luật khách quan
- Chức năng giám đốc
Chức năng giám đốc là một thuộc tính khách quan vốn có của NSNN Giám đốc ở đây được hiểu là giám sat, đôn đốc, kiểm tra bằng đồng tiền, tiến hành một cách thường xuyên Liên tục cùng với quá trình vận động của các quá trình phân phối NSNN
Về mục đích, giám đốc NSNN là hướng vào việc đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm trong việc huy động cũng như sử dụng đồng vốn của NSNN và giữ kỉ luật tài chính Thực hiện tốt chức năng giám đốc NSNN mang lại những ý nghĩa vô cùng quan trọng, cụ thể: Đảm bảo tính hợp lý trong mối quan hệ giữa tích tụ và tập trung vốn, cũng như tích lũy và tiêu dùng xã hội; Cho phép khai thác mọi khả năng tiềm tàng sẵn có trong nền kinh tế quốc dân; Bảo đảm các quan hệ cân đối trong quá trình phát triển kinh tế, từ đó xác lập cơ cấu kinh tế hợp lý; Duy trì kỷ cương, pháp luật tài chính, chống tham nhũng và các hiện tượng gây lãng phí của cải xã hội; Phat hiện kịp thời những sai sót trong quá trình phân phối, từ đó thực hiện việc điều chỉnh nó để đảm bảo sự lành mạnh của các quan hệ kinh tế
Giữa chức năng phân phối và chức năng giám đốc của NSNN có mối quan
hệ hữu cơ với nhau trong quá trình hình thành và vận động của NSNN Trong đó, phân phối là chức năng trọng yếu của NSNN Chức năng phân phối vừa là tiền đề, vừa là cơ sở cho sự hình thành và vận động của chức năng giám đốc Thông qua phân phối mà thực hiện giám sát, kiểm tra; ngược lại nhờ có kiểm tra, giám sát mà quá trình phân phối NSNN được thực hiện đúng pháp luật và có hiệu quả Chức năng phân phối mới chỉ cho thấy sự vận động của quỹ tiền tệ tập trung cho từng lĩnh vực phát triển của đất nước, còn về tính đúng đắn, tính hợp lý, phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan muốn được đảm bảo đòi hỏi phải có chức năng giám đốc Chức năng giám đốc có thể đi trước hoặc trong hoặc sau quá trình thực
Trang 20hiện phân phối, nhưng xét cho cùng giám đốc về NSNN chỉ có thể bắt nguồn từ quan hệ phân phối
1.2.3 Vai trò của ngân sách nhà nước và sự cần thiết phải quản lý NSNN
1.2.3.1 Vai trò của ngân sách nhà nước
Vai trò của NSNN gắn liền với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đang thực hiện cơ chế kinh tế thị trường, nước ta cũng đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Vì vậy, trong nội dung này tác giả tập trung phân tích vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xem xét trên một số mặt sau đây:
* Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước
Sự hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định Các nhu cầu chi tiêu của nhà nước được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế
và thu ngoài thuế Đây là vai trò lịch sử của NSNN, được xuất phát từ tính nội tại của phạm trù tài chính mà trong bất kỳ chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào, NSNN đều phải thực hiện và phát huy
Để phát huy vai trò của NSNN trong quá trình phân phối, huy động các nguồn tài chính của xã hội cho nhà nước cần thiết phải xác định một số yếu tố như: Mức động viên các nguồn tài chính từ đơn vị cơ sở để hình thành nguồn thu của nhà nước; Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho nhà nước và thực hiện
các khoản chi của nhà nước; Tỷ lệ động viên (tỷ suất thu) của nhà nước trên GDP
* Ngân sách nhà nước là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững
Thông qua thu ngân sách mà chủ yếu là thuế cũng góp phần định hướng phát triển sản xuất Việc đặt ra các loại thuế với thuế suất ưu đãi, các quy định miễn, giảm thuế có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp
Thông qua các khoản chi kinh tế và chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, phát triển những ngành mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên
Trang 21thị trường; đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng thuộc thế mạnh xuất khẩu , Chính phủ
có thể tạo điều kiện và hướng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào những lĩnh vực, những vùng cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế mới cũng như tạo ra môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh
* Ngân sách nhà nước là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cung cầu chi phối đến giá cả thị trường rất mạnh mẽ Mọi sự biến động của giá cả trên thị trường đều có nguyên nhân từ sự mất cân đối giữa cung và cầu Để ổn định giá cả, Chính phủ có thể thông qua công
cụ NSNN để tác động vào cung hoặc cầu hàng hoá trên thị trường Sự tác động này
có thể được thực hiện thông qua việc điều chỉnh chính sách thu NSNN và chi tiêu của Nhà nước như: Điều chỉnh cơ cấu hệ thống thuế, thuế suất, chính sách miễn giảm thuế hợp lý, …; Chính phủ cũng có thể tác động vào tổng cung hoặc tổng cầu
để góp phần ổn định giá cả trên thị trường; Thông qua chính sách chi tiêu của Nhà nước: Thông qua các quỹ dự trữ của Nhà nước, Chính phủ thực hiện điều tiết thị trường bình ổn giá cả theo cơ chế như: Khi giá cả của một loại hàng hoá nào đó lên cao; Trong trường hợp xảy ra lạm phát, Chính phủ cũng có thể sử dụng biện pháp thắt chặt chi tiêu của NSNN, nhất là các khoản chi cho tiêu dùng; Tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế thu nhập để khống chế và đẩy lùi lạm phát
* Ngân sách là công cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều chỉnh trong lĩnh vực thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những ưu điểm còn bộc lộ một số hạn chế, trong đó có sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa người giàu và người nghèo Vấn
đề đặt ra là phải có một chính sách phân phối lại một cách hợp lý thu nhập của toàn
xã hội Chính sách đó phải vừa khuyến khích sự tăng trưởng, lại vừa đảm bảo tính công bằng xã hội một cách hợp lý Bằng việc sử dụng công cụ NSNN, cụ thể là chính sách thuế và chính sách chi tiêu ngân sách, Chính phủ đã làm giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa người giàu và người nghèo nhằm ổn định đời sống của các tầng lớp dân cư trong phạm vi cả nước Hay nói cách khác, vai trò
Trang 22quan trọng của NSNN trong điều chỉnh phân phối thu nhập được thể hiện trên phạm
vi rộng lớn ở cả hai mặt hoạt động thu và chi NSNN
1.2.3.2 Sự cần thiết phải quản lý ngân sách nhà nước
Thứ nhất, về lý thuyết, quản lý và điều hành ngân sách có thể tập trung cao
độ mọi quyền lực vào chính quyền trung ương Lợi thế của cách quản lý này cho phép tập trung toàn bộ nguồn thu vào tay nhà nước để bố trí chi tiêu cho hợp lý, công bằng, đồng đều giữa các vùng, miền, ngành nghề chống biểu hiện cục bộ địa phương Tuy nhiên, phương án này tạo ra tư tưởng ỷ lại, thụ động trông chờ vào trung ương và đặc biệt là nguồn lực có hạn của xã hội có thể sử dụng một cách lãng phí, không đáp ứng đúng đắn và kịp thời nhu cầu của người dân Do đó trên thực tế, nhà nước thực hiện phân cấp quản lý ngân sách ở một mức độ nhất định cho chính quyền địa phương Phân cấp quản lý ngân sách được xem như một phương thức để tăng tính dân chủ, linh hoạt, hiệu quả và trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cộng
Thứ hai, quản lý ngân sách Nhà nước là để duy trì và phát triển bộ máy Nhà
nước, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chăm sóc y tế ngày càng tốt hơn, nâng cao trình độ học vấn, đào tạo nghề để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Góp phần giảm bớt khoảng cách giàu nghèo do kinh tế thị trường sinh ra bằng những chương trình phúc lợi xã hội, đầu tư cho vùng cao, vùng sâu để giúp những nơi này có điều kiện phát triển
Thứ ba, quản lý ngân sách Nhà nước nhằm tạo ra sự đồng bộ thống nhất trong
hệ thống thể chế, văn bản quy phạm pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở Đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất về nguồn lực để đảm bảo khả năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý NSNN, thúc đẩy phát triển kinh tế ở từng địa phương
Thứ tư, quản lý ngân sách Nhà nước nhằm làm rõ quyền hạn và trách nhiệm,
nguồn lực và nhiệm vụ của các cấp chính quyền trong quản lý sử dụng NSNN, giải quyết tốt mối quan hệ tài chính giữa các ngành và địa bàn lãnh thổ, khắc phục những chống chéo hoặc thiếu sót trong từng nội dung quản lý Tạo ra mối liên kết
Trang 23đồng thuận giữa các cơ quan Tài chính, cơ quan Kế hoạch đầu tư và các ban ngành chức năng liên quan với các cấp trong quản lý NSNN
1.2.4 Cơ cấu ngân sách, nguyên tắc và nội dung quản lý NSNN
1.2.4.1 Thu ngân sách nhà nước
- Khái niệm thu NSNN: Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của
mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước
- Đặc điểm thu ngân sách nhà nước: Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh
tế nảy sinh trong quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội Việc xác định các khoản thu phải trên cơ sở giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước với lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong xã hội
Thu NSNN chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề và là yếu tố khách quan hình thành nên các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN
Về mặt nội dung, thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước
- Phân loại thu NSNN
Việc phân loại các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích, đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN Có 3 cách phân loại phổ biến:
+ Căn cứ vào phạm vi phát sinh, các khoản thu NSNN được chia làm hai
nhóm là thu trong nước và thu ngoài nước Cách phân loại này phản ánh cơ cấu của nền kinh tế, thông qua đó có thể đánh giá tính hiệu quả, tính hợp lư của nền kinh tế
+ Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế, các khoản thu được
chia làm hai loại: Thu thường xuyên và thu không thường xuyên Cách phân loại này để thấy rõ sự phát triển của nền kinh tế, tính hiệu quả của nền kinh tế và mức độ
ổn định vững chắc của nguồn thu ngân sách
+ Phân loại theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN: Có thể chia các khoản
thu NSNN thành thu trong cân đối và thu bù đắp thiếu hụt NSNN Cách phân loại
Trang 24này cho phép đánh giá sự lành mạnh của NSNN và có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức điều hành NSNN
- Thu trong cân đối NSNN: Bao gồm các khoản thu như thu thuế, phí, lệ phí;
Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; Thu từ hoạt động sự nghiệp; Thu tiền bán
hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước; Các khoản thu khác theo luật định Trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu của NSNN
- Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: Khi số thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm vay trong nước từ các tầng lớp dân
cư, các tổ chức kinh tế - xã hội, vay từ nước ngoài…
- Nội dung chủ yếu của thu NSNN
Nội dung chủ yếu của thu NSNN được thể hiện qua các khoản thu sau đây:
+ Thu thuế:
+ Thu từ phí và lệ phí
+ Thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước:
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp: Gồm các khoản thu có lãi và chênh lệch từ
các hoạt động của các cơ sở sự nghiệp có thu của nhà nước
+ Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước: + Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản và các khoản thu khác theo quy định
của pháp luật
1.2.4.2 Chi ngân sách nhà nước
- Khái niệm chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước
Trang 25- Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước
+ Thứ nhất, Chi NSNN gắn chặt với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh
tế, chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trước mỗi quốc gia Nhà nước với bộ máy càng lớn đảm đương nhiều nhiệm vụ thì mức độ, phạm vi chi của NSNN càng lớn + Thứ hai, Cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước là chủ thể duy nhất
quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi của NSNN vì cơ quan đó quyết định các nhiệm vụ kinh tế chính trị xã hội của quốc gia; cơ quan đó thể hiện ý chí nguyện vọng của một dân tộc
+ Thứ ba, Thông thường, các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả
trên tầm vĩ mô Điều đó có nghĩa là hiệu quả của các khoản chi ngân sách phải được xem xét toàn diện dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội mà các khoản chi ngân sách đảm nhiệm
+ Thứ tư, Các khoản chi của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp
thể hiện ở chỗ là không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các khoản chi của NSNN Từ tính chất này mà các khoản chi NSNN được phân biệt rõ ràng với các khoản tín dụng Nhà nước
+ Thứ năm, các khoản chi của NSNN gắn chặt với sự vận động của các
phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái
- Nội dung của chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước bao gồm nội dung gì còn tùy thuộc vào cách tiếp cận Có thể tiếp cận theo chức năng, nhiệm vụ và tính chất của chi ngân sách Trong luận văn này, tác giả phân tích nội dung của chi NSNN theo tính chất kinh tế
Theo tính chất kinh tế, chi NSNN được chia thành chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển và chi khác ngân sách
+ Chi thường xuyên: Là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn, thường
dưới một năm Nhìn chung đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ cho chức năng quản lý nhà nước và điều hành xã hội một cách thường xuyên của Nhà nước như: Quốc phòng, an ninh, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam, hoạt động của các cơ quan Nhà nước
Trang 26+ Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi có thời hạn tác động dài,
thường trên một năm, hình thành nên những tài sản vật chất có khả năng tạo được nguồn thu, trực tiếp làm tăng cơ sở vật chất của đất nước Chi đầu tư phát triển gồm: Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước; chi hỗ trợ tài chính; chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; chi bổ sung dự trữ nhà nước; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
+ Các khoản chi khác: Bao gồm những khoản chi còn lại không được xếp
vào hai nhóm kể trên, bao gồm như: Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay; chi viện trợ; chi cho vay; chi bổ sung qũy dự trữ tài chính; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới; chi chuyển nguồn từ NS năm trước sang NS năm sau
1.2.4.3 Nguyên tắc cơ bản của quản lý ngân sách nhà nước
* Các nguyên tắc chung
- Thống nhất trong quản lý NSNN: Nguyên tắc này chỉ ra sự thống nhất về
chính sách, chế độ, phương thức quản lý, thống nhất về trình tự thủ tục thu, chi NS
- Phân cấp trong quản lý NSNN: Nguyên tắc này yêu cầu cần phải xác định
cụ thể chức năng nhiệm vụ của các đơn vị trong việc quản lý quỹ NSNN
- Hiệu quả trong việc quản lý NSNN: Nguyên tắc này yêu cầu quản lý ngân
sách nhà nước phải mang lại hiệu quả, tiết kiệm
- Nguyên tắc bù đắp tổng thể: Theo nguyên tắc này tất cả các khoản thu là
nguồn để tài trợ chung cho các khoản chi không phân biệt đó là khoản chi nào
- Nguyên tắc niên độ: Nguyên tắc này yêu cầu dự toán ngân sách phải được
cơ quan có thẩm quyền quyết định cho từng năm và việc sử dụng kinh phí đã được duyệt cũng giới hạn trong năm theo dự toán đã được duyệt
- Nguyên tắc chuyên dụng: Nguyên tắc này yêu cầu các khoản chi chỉ được
sử dụng cho đối tượng và mục đích đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định
- Nguyên tắc đảm bảo cân đối NSNN: Cân đối NSNN ngoài sự cân bằng về
thu, chi còn là sự hài hòa, hợp lý trong cơ cấu thu, chi giữa các khoản thu, chi; các lĩnh vực, các ngành; các cấp chính quyền
Trang 27- Nguyên tắc công khai, minh bạch: Nguyên tắc này yêu cầu sự rõ ràng về
vai trò và trách nhiệm trong việc thực hiện và báo cáo ngân sách công khai
* Các nguyên tắc cụ thể
- Đối với công tác quản lý thu NSNN: Trong quá trình quản lý thu NSNN
phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Các khoản thu NSNN phải nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước;
+ Các khoản thu NSNN phải được nộp đầy đủ đúng hạn vào quỹ NSNN; + Các khoản thu NSNN phải được hạch toán kế tóan và quyết toán đầy đủ kịp thời đúng chế độ
- Đối với công tác quản lý chi NSNN: Trong quá trình thanh toán và kiểm
soát chi NSNN phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Kho bạc Nhà nước chỉ thực hiện cấp phát ngân sách cho những khoản chi trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
+ Tất cả các khoản chi NSNN đều phải được kiểm tra kiểm soát chặt chẽ + Chi kịp thời trực tiếp cho đối tượng sử dụng ngân sách
+ Nguyên tắc hạch toán mọi khoản chi bằng đồng Việt Nam
1.2.4.4 Nội dung quản lý ngân sách nhà nước
Một trong những điểm khác biệt của quản lý NSNN so với các khu vực khác như doanh nghiệp hay hộ gia đình là quản lý theo năm ngân sách (còn gọi là năm tài chính hay năm tài khóa) Năm ngân sách là giai đoạn mà trong đó dự toán thu, chi ngân sách được Quốc hội quyết định có hiệu lực thi hành Năm ngân sách của Việt Nam bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 đến 31 tháng 12 năm dương lịch Nội dung quản
lý ngân sách bao gồm:
* Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý ngân sách là quá trình phân định chức năng, nhiệm vụ quản lý NSNN giữa chính quyền nhà nước Trung ương với chính quyền nhà nước địa phương
Khi nói tới phân cấp quản lý ngân sách người ta thường hiểu theo nghĩa trực diện, dễ cảm nhận Đó là việc phân giao nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp chính quyền Nó giải quyết các mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước trung ương và các cấp chính quyền nhà nước địa phương trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến
Trang 28họat động của NSNN bao gồm 3 nội dung sau: Quan hệ về mặt chính sách, chế độ; quan hệ vật chất về nguồn thu và nhiệm vụ chi; quan hệ về quản lý theo chu trình
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước bao gồm cả ngân sách địa phương và
nó thể hiện ở các mối quan hệ sau đây:
- Thứ nhất, quan hệ giữa các cấp chính quyền về chính sách, chế độ
Về cơ bản Nhà nước trung ương vẫn giữ vai trò quyết định các loại thu thuế, phí, lệ phí, vay nợ và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước
Bên cạnh đó, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định chế độ chi ngân sách, phù hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương Riêng những chế độ có tính chất tiền lương, tiền công, phụ cấp, trước khi quyết định phải có ý kiến của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định một số chế độ thu gắn với quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, gắn với chức năng quản lý hành chính Nhà nước của chính quyền địa phương và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật
- Thứ hai, quan hệ giữa các cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi
Luật NSNN 2002 quy định cụ thể về nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được ổn định từ 3-5 năm Bao gồm các khoản thu mà từng cấp được hưởng 100% Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) cũng như nhiệm vụ chi của từng cấp trên cơ sở quán triệt nguyên tắc phân cấp
Ngân sách trung ương hưởng các khoản thu tập trung quan trọng, không gắn trực tiếp với công tác quản lý của địa phương, như: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thu từ dầu thô… hoặc không đủ căn cứ chính xác để phân chia như: thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành Ngân sách trung ương chi cho hoạt động có tính chất bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia, như: Chi đầu tư cơ sở hạ tầng KTXH, chi quốc phòng an ninh, chi giáo dục, y tế, chi đảm bảo xã hội do Trung ương quản lý và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được thu chi ngân sách
Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu để đảm bảo chủ động thực hiện những nhiệm vụ được giao, gắn trực tiếp với công tác quản lý tại địa phương, như: Thuế nhà, đất, thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
Trang 29Chi ngân sách địa phương chủ yếu gắn liền với nhiệm vụ quản lý kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh do địa phương trực tiếp quản lý
Đảm bảo nguồn lực cho chính quyền cơ sở được Nhà nước hết sức quan tâm Luật NSNN quy định các nguồn thu về nhà đất phải phân cấp không dưới 70% cho ngân sách xã, đối với lệ phí trước bạ thì phải phân cấp không dưới 50% cho ngân sách các thị xã, thành phố thuộc tỉnh
- Thứ ba, quan hệ giữa các cấp về quản lý chu trình ngân sách nhà nước
Hội đồng nhân dân quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương, Quyết định tỷ lệ phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương đối với phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương và các khoản thu có phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương
Ngoài ra việc tổ chức lập ngân sách ở các địa phương được phân cấp cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể cho từng cấp địa phương Thảo luận về dự toán với cơ quan tài chính chỉ thực hiện vào năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, các năm tiếp theo chỉ tiến hành khi địa phương đề nghị
Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo các nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia và hỗ trợ cho các địa phương chưa cân đối được thu chi ngân sách Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu, bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao, tăng cường năng lực cho ngân sách cấp
cơ sở Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó đảm bảo Nếu cơ quan cấp trên ủy quyền cho cơ quan cấp dưới thực hiện nhiệm vụ của mình thì phải chuyển kinh phí từ cấp trên xuống cho cấp dưới
Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để đảm bảo thực hiện công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, địa phương Tỷ lệ được ổn định từ 3-5 năm Thời gian này được gọi là thời kỳ ổn định ngân sách
* Lập dự toán ngân sách
Lập dự toán ngân sách là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn
bộ các khâu của chu trình quản lý ngân sách Lập dự toán ngân sách thực chất là lập
Trang 30kế hoạch (dự toán) các khoản thu chi của ngân sách trong một năm ngân sách (hoặc trong giai đoạn ngân sách dự kiến) Kết quả của khâu này là dự toán ngân sách được các cấp có thẩm quyền quyết định
- Mục tiêu của lập dự toán NSNN: Quá trình lập dự toán ngân sách nhằm
mục tiêu như: Trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước là có hạn, cần bảo đảm rằng, ngân sách nhà nước đáp ứng được việc thực hiện các chính sách kinh tế xã hội; Phân bổ nguồn lực phù hợp với chính sách ưu tiên của Nhà nước trong từng thời kỳ; Tạo điều kiện cho việc quản lý thu, chi trong khâu thực hiện cũng như việc đánh giá, quyết toán ngân sách nhà nước
- Phương pháp lập dự toán: Khuôn khổ kinh tế vĩ mô là điểm khởi đầu của
việc lập dự toán ngân sách Việc lập dự toán ngân sách trong khuôn khổ kinh tế vĩ
mô, dựa trên các giả định thực tế, không tính quá cao các chỉ tiêu về thu ngân sách, ngược lại không tính quá thấp các khoản chi tiêu bắt buộc là hết sức quan trọng để đảm bảo tính khả thi của kế hoạch ngân sách
Lập ngân sách hàng năm thường được tổ chức thực hiện như sau:
+ Cách tiếp cận từ trên xuống, bao gồm: Xác định tổng các nguồn lực có sẵn cho chi tiêu công cộng trong khuôn khổ kinh tế vĩ mô; Chuẩn bị thông tư hướng dẫn lập ngân sách; Hình thành số kiểm tra về thu, chi cho các Bộ, các địa phương, đơn
vị phù hợp với chính sách ưu tiên của Nhà nước ; Thông báo số kiểm tra cho các
Bộ, các địa phương, đơn vị
+ Cách tiếp cận từ dưới lên, bao gồm: Các Bộ, các địa phương, đơn vị đề xuất ngân sách của mình trên cơ sở các hướng dẫn ở trên
+ Trao đổi, đàm phán, thương lượng: Đàm phán ngân sách giữa các Bộ, đơn
vị với cơ quan tài chính là quá trình rất quan trọng để xác định dự toán ngân sách cuối cùng trình lên cơ quan lập pháp, trên cơ sở đạt được sự nhất quán giữa mục tiêu và nguồn lực sẵn có
- Căn cứ lập dự toán NSNN: Lập dự toán NSNN phải căn cứ vào các nhân tố
chủ yếu sau:
+ Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng nói chung và nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan, đơn vị, địa phương;
Trang 31+ Căn cứ vào phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN;
+ Chính sách chế độ thu ngân sách; tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu
và mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới (cho năm tiếp theo của thời kỳ ổn định); chế độ tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách;
+ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển KTXH và dự toán ngân sách Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toán ngân sách, thông tư hướng dẫn của Bộ kế hoạch - Đầu tư về xây dựng kế hoạch phát triển KTXH, kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước và văn bản hướng dẫn của UBND cấp tỉnh;
+ Số kiểm tra về dự toán thu chi NSNN;
+ Tình hình thực hiện NSNN của năm trước, đặc biệt là năm báo cáo;
* Chấp hành dự toán ngân sách
Chấp hành ngân sách nhà nước là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong kế hoạch NSNN năm trở thành hiện thực
- Mục tiêu của việc chấp hành NSNN: Đó là việc biến các chỉ tiêu thu, chi
ghi trong kế hoạch ngân sách năm từ khả năng, dự kiến thành hiện thực Từ đó, góp phần thực hiện các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; Kiểm tra việc thực hiện các chính sách chế độ, tiêu chuẩn về kinh tế và tài chính Trong quản lý NSNN, chấp hành ngân sách là khâu trọng tâm có ý nghĩa quyết định
- Nội dung tổ chức chấp hành ngân sách: Tổ chức chấp hành ngân sách nhà
nước bao gồm tổ chức chấp hành thu ngân sách nhà nước và tổ chức chấp hành chi ngân sách nhà nước
+ Tổ chức chấp hành thu NSNN: Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao
và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán ngân sách quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu, gửi cơ quan tài chính cuối quý trước Cơ quan thu bao gồm: Cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính và các cơ quan khác được Nhà nước giao nhiệm vụ ngân sách
Trang 32Về nguyên tắc, toàn bộ các khoản thu của NSNN phải nộp trực tiếp vào KBNN, trừ một số khoản cơ quan thu có thể thu trực tiếp song phải định kỳ nộp vào KBNN theo quy định, hạn chế thấp nhất việc nộp qua người trung gian
+ Tổ chức chấp hành chi NSNN: Giai đoạn này gồm các khâu:
Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách: Các đơn vị dự toán cấp I sau khi nhận được dự toán của cấp trên giao, tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc Dự toán chi ngân sách bao gồm
dự toán chi thường xuyên và dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản
Luật NSNN quy định việc chi chỉ thực hiện khi có đủ các điều kiện: Phải có trong dự toán; đúng chế độ tiêu chuẩn; được thủ trưởng đơn vị quyết định chi
* Quyết toán ngân sách
Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách Quyết toán ngân sách là việc tổng kết, đánh giá việc thực hiện ngân sách và chính sách tài chính ngân sách của quốc gia để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước trong một thời gian nhất định, được cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn
Mục đích của quyết toán ngân sách là nhằm đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của thu, chi NSNN, từ đó rút ra ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm thiết thực bổ sung cho công tác lập ngân sách cũng như chấp hành ngân sách những chu trình tiếp theo và cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý điều hành thu, chi cho những đối tượng quan tâm như: Quốc hội, HĐND các cấp, Chính phủ, các nhà tài trợ
Lập quyết toán NSNN thường được thực hiện theo phương pháp lập từ cơ sở, tổng hợp từ dưới lên Trong báo cáo quyết toán phải thể hiện được các vấn đề sau:
- Phản ánh đầy đủ số liệu thu, chi ngân sách
- Giải trình được sự tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý thu, chi ngân sách
- Phải hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định
- Phải được cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn
* Kiểm tra, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước
Ðây là trách nhiệm của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, Việc kiểm toán phải thực hiện trước khi Quốc hội; Hội đồng nhân dân phê chuẩn quyết toán Trong
Trang 33phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị dự toán ngân sách có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các chế độ thu, chi và quản lý ngân sách, quản lý tài sản của Nhà nước Thanh tra Tài chính phải chịu trách nhiệm
về kết luận thanh tra Chính phủ quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thanh tra Tài chính trong việc thanh tra quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản của Nhà nước
Khi nhận được kiến nghị của cơ quan Kiểm toán nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét xử lý đúng theo quy định của pháp luật trước khi Quốc hội phê chuẩn quyết toán NSNN, HĐND phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương và thông báo cho cơ quan Kiểm toán Nhà nước
1.2.5 Các tiêu chí cơ bản đảm bảo hiệu quả quản lý NSNN
- Một là, các quy định pháp luật về quản lý NSNN Bằng các quy định về thể
chế, trách nhiệm, quyền hạn của các đối tượng liên quan đến quản lý NSNN Như vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý NSNN thì đòi hỏi quan trọng nhất là phải ban hành đủ các văn bản pháp luật trong quản lý NSNN
- Hai là, tổ chức bộ máy quản lý NSNN: Cơ quan Tài chính, Thuế, Kho bạc
Nhà nước, Hải quan, và đội ngũ cán bộ có năng lực đủ mạnh và năng động, tinh thần trách nhiệm cao và phối hợp thực thi trong quản lý NSNN
- Ba là, phân định trách nhiệm giữa các cấp NS trong thực hiện quản lý
NSNN Cụ thể là quyền lực của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương, trong các tổ chức hoạt động
1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ngân sách nhà nước
Công tác quản lý ngân sách nhà nước chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan Sau đây, xin đề cập một số nhân tố chủ yếu:
* Nhân tố chủ quan: Cơ cấu, trình độ, năng lực quản lý, công tác kiểm tra,
giám sát của Bộ máy quản lý tài chính – ngân sách Trong các nhân tố chủ quan thì nhân tố về bộ máy và cán bộ của bộ máy quản lý thu, chi ngân sách người ta thường đề cập đến quy mô nhân sự của nó và trong sự thiết lập ấy chính là cơ cấu
tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý thu,chi ngân sách và các mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện chức năng này Hay
Trang 34nói cách khác, điều quan trọng hơn cả là phải thiết lập cụ thể rõ ràng, thông suốt các “mối quan hệ ngang” và các “mối quan hệ dọc” Sự thiết lập ấy được biểu hiện thông qua qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp, các bộ phận trong tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý thu chi ngân sách Quy định chức năng nhiệm vụ của bộ máy và cán bộ quản lý thu, chi theo chức năng trách nhiệm quyền hạn giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa cấp trên với cấp dưới trong quá trình phân công phân cấp quản lý đó Nếu việc quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp thành phố không rõ ràng, cụ thể thì dễ xảy ra tình trạng hoặc thiếu trách nhiệm, hoặc lạm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thu,chi ngân sách Nếu bộ máy và cán bộ năng lực trình độ thấp thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thu, chi ngân sách Do đó tổ chức bộ máy và cán bộ là nhân tố rất quan trọng trong quá trình tổ chức quản lý thu,chi ngân sách
* Nhân tố khách quan:
- Điều kiện tự nhiên: Địa hình bằng phẳng, thiên tai, dịch họa, các đơn vị
hành chính tập trung, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và ngược lại
- Văn hóa địa phương: Phong tục, tập quán, nếp nghĩ của địa phương ảnh
hưởng nhiều đến tư tưởng của chủ thể và đối tượng quản lý
- Thể chế: Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, các Nghị định, Thông tư, Quyết định, của các cấp có thẩm quyền
- Điều kiện kinh tế - xã hội:
+ Về kinh tế: Như đã biết, kinh tế quyết định các nguồn lực tài chính và
ngược lại các nguồn lực tài chính cũng tác động mạnh mẽ đối với quá trình đầu tư phát triển và hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình hiện đại hóa nền kinh
tế Kinh tế ổn định, tăng trưởng và phát triển bền vững là cơ sở đảm bảo vững chắc của nền tài chính, mà trong đó NSNN là khâu trung tâm, giữ vai trò trọng yếu trong phân phối các nguồn lực tài chính Kinh tế càng phát triển nền tài chính càng ổn định và phát triển, thì vai trò của NSNN càng ngày càng được nâng cao, thông qua các chính sách tài khóa, thực hiện việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển kinh tế
và ổn định xã hội Hai yếu tố này luôn vận động trong mối quan hệ hữu cơ
Trang 35+ Về mặt xã hội: Xã hội ổn định bởi chế độ chính trị ổn định Sự ổn định về
chính trị - xã hội là cơ sở để động viên mọi nguồn lực và nguồn tài nguyên quốc gia cho sự phát triển Mặt khác, chính trị - xã hội cũng hình thành nên môi trường và điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế; thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như tăng cường các nguồn lực tài chính Sự ổn định chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay đang là nhân tố tác động tích cực để kinh tế Việt Nam vượt qua khủng hoảng kinh tế những năm 2008 - 2011 và mở ra những cơ hội
và điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu
- Trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập: Việc quản lý thu, chi ngân
sách luôn chịu ảnh hưởng của nhân tố về trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập của người dân trên địa bàn Khi trình độ kinh tế phát triển và mức thu nhập bình quân của người dân tăng lên, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn ngân sách và sử dụng có hiệu quả, mà nó còn đòi hỏi các chính sách, chế độ, định mức kinh tế - tài chính, mức chi tiêu ngân sách phải thay đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế và mức thu nhập, mức sống của người dân Do đó, ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, người ta luôn quan tâm chú trọng đến nhân tố này, trong qúa trình quản lý hoạch định của chính sách thu chi NSNN
Thực tế cho thấy, khi trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập bình quân trên địa bàn còn thấp cũng như ý thức về sử dụng các khoản chi chưa được đúng mức còn có tư tưởng ỷ lại Nhà nước thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi NSNN Khi chúng ta thực hiện tốt những vấn đề thu ngân sách trong đó có nhiều nhân tố tác động nhưng trình độ mức sống của người dân ngày càng nâng cao thì việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước có thể rất dễ dàng Trường hợp nếu trình
độ và mức sống còn thấp thì việc thu thuế cũng rất khó khăn
1.3 Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước của tỉnh Vĩnh Phúc và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Hà Nam
1.3.1 Kinh nghiệm về phân cấp quản lý và điều hành ngân sách
Căn cứ vào các điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội của từng địa phương trên địa bàn để Uỷ ban nhân dân tỉnh có quy định phân cấp quản lý và điều hành ngân sách, trên cơ sở phân định các nguồn thu phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ
Trang 36phát triển kinh tế - xã hội ở từng huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn trong tỉnh, cụ thể như sau:
* Các khoản thu ngân sách cấp tỉnh được hưởng 100% bao gồm:
- Thuế tài nguyên; không kể thuế tài nguyên thu từ hoạt động dầu khí;
- Tiền cho thuê mặt đất, mặt nước;
- Tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước;
- Tiền đền bù thiêt hại khi nhà nước thu hồi đất do cấp tỉnh quản lý;
- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Thu nhập từ vốn góp của ngân sách địa phương, tiền thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các cơ sở kinh tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh theo quy định tại điều 58 Nghị định 60/2003/NĐ- CP
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
- Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác thuộc ngân sách cấp tỉnh quản lý;
- Thu bổ sung từ ngân sách trung ương;
- Thu chuyển nguồn ngân sách cấp tỉnh năm trước sang năm sau;
* Các khoản thu ngân sách cấp huyện được hưởng 100% bao gồm:
- Các khoản phí, lệ phí theo quy định ngân sách huyện được hưởng (phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật);
- Tiền đền bù thiêt hại khi nhà nước thu hồi đất do cấp huyện quản lý;
- Thu từ quỹ đất công ích, hoa lợi công sản do cấp huyện quản lý;
- Thu từ hoạt động sự nghiệp (phần nộp ngân sách) do cấp huyện quản lý;
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp huyện;
Trang 37- Thu kết dư ngân sách cấp huyện;
- Đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước trực tiếp cho ngân sách cấp huyện;
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
- Thu chuyển nguồn ngân sách cấp huyện năm trước sang năm sau;
* Các khoản thu ngân sách cấp xã được hưởng 100% bao gồm:
- Thu từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản khác theo quy định của pháp luật do xã quản lý;
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước trực tiếp cho ngân sách xã, thị trấn, phường theo quy định của pháp luật;
- Thu kết dư ngân sách xã năm trước;
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;
- Các khoản thu khác của ngân sách xã theo quy định của pháp luật;
- Thu chuyển nguồn ngân sách cấp xã năm trước chuyển sang năm sau; Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã được quy định như sau:
Bảng 1.1 Phân cấp nguồn thu của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2015
hưởng %
NS huyện hưởng %
NS xã hưởng %
1 Thuế SD đất NN, thuế tài
2
Thuế chuyển quyền sử dụng đất
(Riêng thu địa bàn thành phố
Trang 38TT Nội dung NS tỉnh
hưởng %
NS huyện hưởng %
NS xã hưởng % (Riêng thu địa bàn thành phố
Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng
thu ngân sách hàng năm (phần ngân sách địa phương được hưởng) để chi cho các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiên giảm dần
số bổ sung từ ngân sách cấp trên (đối với huyện, thị nhận bổ sung từ ngân sách cấp trên) hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên
Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản
lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
Không được dùng Ngân sách của cấp này để chi nhiệm vụ của cấp khác
Trang 39Thực hiện phân cấp ngân sách theo các quy định trên đây đã góp phần giải quyết hài hoà mối quan hệ vật chất trong việc giao nhiệm vụ chi, nguồn thu và cân đối ngân sách giữa các cấp Cơ chế phân cấp quản lý ngân sách của các cấp chính quyền địa phương theo Luật ngân sách nhà nước đã tạo cho chính quyền địa phương các cấp chủ động trong việc xây dựng và phân bổ ngân sách của cấp mình, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, khai thác tiềm năng nội lực trong địa bàn
1.3.2 Kinh nghiệm lập dự toán ngân sách
Công tác lập dự toán ngân sách nhà nước của tỉnh đã bám sát kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo đúng tinh thần mà Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra, đáp ứng được các yêu cầu hợp tác liên tỉnh và khuôn khổ chung của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của toàn quốc Kế hoạch ngân sách tỉnh đảm bảo thực hiện đầy
đủ và đúng đắn các quan điểm của chính sách tài chính Quốc gia trong từng thời kỳ
và quy định của Luật ngân sách nhà nước, đảm bảo chức năng nhiệm vụ quyền hạn của địa phương, đơn vị trong quá trình xây dựng dự toán ngân sách nhà nước, đảm bảo về thời gian, nguyên tắc, nội dung…theo quy định của Luật ngân sách nhà nước
và các văn bản hướng dẫn Luật Việc lập dự toán ngân sách nhà nước đã dựa trên nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh, các khoản thu dựa trên sự tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu liên quan, nhiệm vụ chi căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong năm kế hoạch, tình hình thực hiện ngân sách của các năm trước, đặc biệt là của năm báo cáo, dựa trên các chính sách chế
độ, tiêu chuẩn, định mức cụ thể về thu chi tài chính của Nhà nước Chất lượng dự toán ngân sách đã được nâng lên một bước quan trọng, huy động tốt hơn nguồn lực tài chính, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đảm bảo giữ gìn trật tự an ninh, quốc phòng, đảm bảo tính phát triển ổn định bền vững nền tài chính ngân sách địa phương
1.3.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý ngân sách cho tỉnh Hà Nam
- Việc lập dự toán ngân sách tỉnh hàng năm phải thực sự xuất phát từ cơ sở Nguyên tắc là dự toán ngân sách tỉnh phải được xây dựng từ dự toán của các đơn vị trực thuộc tỉnh gửi lên Nhưng trên thực tế việc xây dựng dự toán ngân sách tỉnh chủ yếu là ấn định dựa theo tính toán của cấp trên là chủ yếu Vì các đơn vị sử dụng
Trang 40ngân sách thường xây dựng dự toán chi cao để đề nghị bổ sung cân đối, mặt khác nguồn thu lại có hạn, tỉnh lại đã khống chế khoản trợ cấp cân đối Điều này làm cho
dự toán ngân sách được giao chưa sát với đặc điểm tình hình của đơn vị, làm cho một số đơn vị gặp khó khăn, thiếu hụt trong chi tiêu Một số xã, phường, thị trấn xây dựng nguồn thu không sát với thực tế nên có nơi vượt thu nhiều thì thừa cân đối
ngân sách, nơi thu không đạt thì rơi vào lúng túng, bị động
- Thu ngân sách phải gắn với nhiệm vụ và khả năng quản lý của từng cấp Phù hợp với tổ chức bộ máy quản lý thu, thúc đẩy sự quan tâm của chính quyền các cấp để phát triển kinh tế, tạo lập nguồn thu ổn định, bền vững, lâu dài và khuyến khích các cấp tăng cường quản lý thu, chống thất thu ngân sách
- Về phân cấp quản lý:
+ Phân cấp phải đảm bảo để ngân sách tỉnh giữ vai trò chủ đạo, đủ tiềm lực
để thực hiện các chủ chương lớn của tỉnh đồng thời có khả năng điều hoà vĩ mô nguồn lực tài chính trên địa bàn tỉnh, hỗ trợ ngân sách các địa phương chưa cân đối được ngân sách Cấp tỉnh chỉ chịu trách nhiệm các chương trình kinh tế xã hội lớn,
có tính cốt lõi, chi phối rộng, tác động lớn, thúc đẩy nhanh tiến trình phát triển
+ Phân cấp rành mạch, rõ ràng, đảm bảo cân bằng giữa các vùng miền trong tỉnh, hạn chế các khoản phân chia theo tỷ lệ % cho nhiều cấp, đặc biệt là các khoản thu
có quy mô nhỏ và gắn chặt với nhiệm vụ quản lý của từng cấp Tỷ lệ điều tiết các khoản thu cho từng cấp phải đơn giản, xác định tối đa cho cấp dưới nhưng phải đảm bảo đủ nguồn cho ngân sách cấp trên điều hoà chung và theo đúng quy định của Luật ngân sách nhà nước khi xác định tỷ lệ điều tiết một số khoản thu tại địa bàn
+ Phân cấp chi ngân sách phải đáp ứng yêu cầu của công tác cải cách nâng cao hiệu quả bộ máy hành chính Tăng cường quyền hạn, trách nhiệm của các địa phương và đơn vị trong việc sử dụng ngân sách hiệu quả và chủ động thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn trong phạm vi quản lý
+ Phân cấp rành mạch, rõ ràng từng nhiệm vụ chi cho các cấp, khắc phục tình trạng chồng chéo nhiệm vụ chi giữa các cấp Phân cấp theo hướng đồng bộ nhiệm vụ chi với sự quản lý điều hành trực tiếp của từng cấp, hạn chế tình trạng nhiều cấp cùng chi cho một nhiệm vụ cụ thể, nhất là đối với các khoản chi thường xuyên