1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý tài sản công tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia : Luận văn ThS. Quản trị - Quản lý: 603404

103 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để quản lý tài sản công một cách hiệu quả, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm quản lý và khai thác tài sản công như: Luật đất đai, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Luật q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PGS.TS NGUYỄN HỒNG SƠN GS.TS PHAN HUY ĐƯỜNG

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn “Quản lý tài sản công tại Ủy ban giám sát

tài chính Quốc gia” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn

của PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho phép tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn đến Quý Thầy Cô - những người

đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian 3 năm học cao học vừa qua tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn, người hướng dẫn khoa học đã chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo các cơ quan, các đồng nghiệp đã quan tâm, hỗ trợ, cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết, tạo điều kiện cho tôi có

cơ sở thực tiễn để nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình tôi, những người thân và bạn bè đã luôn hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn./

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU ii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, mỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG 5

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về công tác quản lý tài sản công 5

1.1.2 Đánh giá các công trình nghiên cứu và khoảng trống khoa học của đề tài luận văn 7

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính 8

1.2.1 Một số khái niệm 8

1.2.2 Đặc điểm, vai trò của tài sản công 12

1.2.3 Phân loại tài sản công 13

1.2.4 Mục tiêu, nguyên tắc, mô hình của quản lý tài sản công 15

1.2.5 Nội dung quản lý tài sản công trong khu vực hành chính 17

1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính nhà nước 19

1.3 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước trong quản lý tài sản công 21

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý tài sản công tại một số quốc gia trên thế giới 21

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý tài sản công tại một số cơ quan của Việt Nam 25

Trang 6

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho việc quản lý tài sản công tại ủy ban giám sát

tài chính Quốc gia 27

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Cơ sở phương pháp luận 29

2.2 Các phương pháp cụ thể được sử dụng để thực hiện luận văn 30

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 30

2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 30

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI ỦY BAN GIÁM SÁT TÀI CHÍNH QUỐC GIA GIAI ĐOẠN 2011- 2016 32

3.1 Khái quát về tổ chức bộ máy và hoạt động của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia 32

3.1.1 Khái quát về tổ chức bộ máy của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia 32 3.1.2 Khái quát về hoạt động của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia 36

3.2 Quản lý tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính quốc gia 37

3.2.1 Quản lý quá trình hình thành tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia 37

3.2.2 Quản lý quá trình khai thác và sử dụng tài sản công tại ủy ban giám sát tài chính quốc gia 51

3.2.3 Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia 55

3.3 Đánh giá thực trạng quản lý tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính quốc gia 59

3.3.1 Những kết quả đạt được 59

3.3.2 Những hạn chế 60

3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 60

Trang 7

CHƯƠNG 4: MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI ỦY BAN GIÁM SÁT TÀI CHÍNH QUỐC GIA TRONG THỜI GIAN TỚI 62

4.1 Mục tiêu, định hướng về nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại ủy

ban giám sát tài chính quốc gia 62 4.1.1 Mục tiêu của ủy ban giám sát tài chính quốc gia 62

4.1.2 Định hướng về nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại ủy ban giám

sát tài chính quốc gia 63

4.2 Các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài sản công tại Ủy ban giám tài chính quốc gia 62 4.2.1 Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách và ban hành các Quy chế, quy trình quản lý tài sản công tại Ủy ban 63 4.2.2 Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia trong quản lý tài sản công 86 4.2.3 Nhóm giải pháp về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính quốc gia 87

KẾT LUẬN 90

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tài sản công là nguồn lực nội sinh của đất nước, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và quản lý xã hội, là nguồn lực tài chính tiềm năng cho đầu

tư phát triển, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Vì vậy, tài sản công là vốn liếng nhằm phát triển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho kinh

tế Nhà nước giữ vai trò trọng yếu, góp phần nâng cao đời sống nhân dân để hiện thực hoá những mục tiêu đặt ra

Nhà nước là chủ sở hữu của mọi tài sản công, song Nhà nước không phải là người trực tiếp sử dụng toàn bộ tài sản công mà tài sản công được Nhà nước giao cho các cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy Nhà nước trực tiếp quản lý,

sử dụng Để thực hiện vai trò chủ sở hữu tài sản công của mình, Nhà nước phải thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tài sản công nhằm sử dụng, bảo tồn, phát triển nguồn tài sản công tiết kiệm, hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân

Để quản lý tài sản công một cách hiệu quả, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm quản lý và khai thác tài sản công như: Luật đất đai, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Luật quản lý tài sản nhà nước, Quyết định số 32/2008/QĐ-BTC ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước…,

Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia được thành lập từ năm 2008 theo

mô hình cơ quan hành chính nhà nước Ủy ban là cơ quan thực hiện chức

Trang 11

năng tham mưu, tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ trong việc điều phối hoạt động giám sát TTTC quốc gia (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm); giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện giám sát chung TTTC quốc gia Trong những năm qua, Ủy ban đã có nhiều đóng góp quan trọng cho mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước như: Tham mưu, tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ về chính sách kinh tế vĩ mô, đưa ra nhận định về sự phát triển của kinh tế Việt Nam và dự báo sớm về mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam; Ủy ban đã phân tích, đánh giá các chỉ tiêu lành mạnh tài chính và những biến động về cấu trúc, sự phát triển của TTTC (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm), nhận dạng đánh giá những rủi ro tiềm ẩn trên TTTC…Từ

đó, đưa ra các biện pháp điều chỉnh thích hợp và có những khuyến nghị chính sách quan trọng như: việc phân loại nợ tiệm cận thông lệ quốc tế theo Thông

tư 02/2013/TT-NHNN của NHNN cần có lộ trình thích hợp; kiến nghị điều chỉnh khuôn khổ luật pháp (bao gồm một số Nghị định và Luật) liên quan đến bảo đảm tài sản nợ vay nhằm giúp Công ty Quản lý tài sản (VAMC) và các TCTD có điều kiện đẩy nhanh tiến trình phát mại tài sản xử lý nợ xấu và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật để xử lý nợ xấu ngân hàng Ngoài ra, Ủy ban còn ban hành Hệ thống chỉ tiêu giám sát cẩn trọng vĩ mô – MPIs với 46 chỉ tiêu phục vụ xây dựng báo cáo tháng; 107 chỉ tiêu phục vụ xây dựng báo cáo quý; 103 chỉ tiêu phục vụ xây dựng báo cáo năm và 59 chỉ tiêu MPIs lõi Đây chính là điều kiện quan trọng để xây dựng hệ thống thông tin cảnh báo sớm rủi ro và đề xuất giải pháp hướng tới mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô Ủy ban

đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu giám sát lĩnh vực bảo hiểm gồm 57 chỉ tiêu Theo đó các mặt hoạt động chính của một định chế bảo hiểm cũng như thị trường bảo hiểm nói chung được giám sát, theo dõi và đánh giá toàn diện hơn…

Trang 12

Trong những năm qua việc quản lý, khai thác xử dụng tài sản công tại

Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia đã triển khai thực hiện theo đúng quy định của nhà nước, việc sử dụng đã góp phần vào việc hoàn thành các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đã giao cho Ủy ban Song hệ thống quản lý tài sản công trong

cơ quan còn nhiều bất cập, hạn chế chưa thực sự thích ứng với thực tế Điều

đó đã dẫn đến tình trạng sử dụng tài sản công trong các ban, phòng, đơn vị chưa đúng mục đích, tình trạng lãng phí, thất thoát vẫn: mua sắm tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức, sử dụng tài sản vào mục đích cá nhân Do vậy, việc tiếp tục tăng cường quản lý tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính quốc gia

là một yêu cầu cấp bách tạo nền móng vững chắc giải quyết những vấn đề bức

xúc cơ bản hiện nay Vì vậy, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Quản lý

tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia”

Luận văn nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu: Ủy ban giám sát tài chính

Quốc gia cần phải làm gì để nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại đơn

2.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý tài sản công

- Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tài sản công ở một số nước và rút ra bài học

Trang 13

- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia, đánh giá được những kết quả đồng thời chỉ ra được hạn chế và nguyên nhân cần khắc phục

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Quản lý tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Quản lý tài sản công bao gồm: Mua sắm tài sản; sử dụng

tài sản; kiểm tra, thanh lý tài sản

Phạm vi không gian: Quản lý tài sản công tại Ủy ban Giám sát tài chính

Quốc gia

Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác quản lý tài sản công

tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia giai đoạn 2011- 2016

4 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý tài sản công

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước quản lý tài sản công tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia giai đoạn 2011 đến 2016

Chương 4: Mục tiêu, định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài sản công tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia trong thời gian tới

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, MỘT SỐ VẤN ĐỀ

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về công tác quản lý tài sản công

Luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản công

khu vực hành chính sự nghiệp tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Bùi Thị Thu

Hường, Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, năm

2012 đã khái quát được lý luận về quản lý, quản lý tài sản công tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp, luận văn cũng đánh giá được thực trạng quản lý tại các đơn vị hành chính sự nghiệp trên đại bàn tỉnh Quảng Ninh

Luận văn thạc sĩ “Quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị

sự nghiệp công lập ở Việt Nam” của tác giả Trần Việt Phương, Học viện Tài

chính, năm 2017 tác giả đã khái quát được lý luận về quản lý, quản lý tài sản công tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp công lập, đồng thời tác giả luận văn cũng đánh giá được thực trạng quản lý tài sản công, những ưu điểm, hạn chế của công tác này tại các đơn vị hành chính sự nghiệp, đồng thời đua ra những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý này tại các đơn vị hành chính,

sự nghiệp công lập

Luận văn thạc sĩ “Giải pháp tăng cường công tác quản lý tài sản công

khu vực sự nghiệp tại tỉnh Tuyên Quang” của tác giả Vũ Thái Thịnh, Đại học

Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, năm 2014 đã khái quát được lý luận về quản lý, quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời tác giả luận văn cũng đánh giá được thực trạng quản lý tài sản công, những ưu điểm, hạn chế của công tác này tại các đơn vị sự nghiệp trên đại bàn tỉnh Tuyên Quang, đồng thời đưa ra những giải pháp để hoàn

Trang 15

thiện công tác quản lý này tại các đơn vị sự nghiệp công lập trên đại bàn tỉnh Tuyên Quang

Trần Văn Giao, 2011, “Quản lý tài chính công và công sản“, tài liệu

môn học, Học viện Hành chính Tác giả biên soạn có kết cấu nội dung gồm 5 chương, trong đó chương 1 giới thiệu tổng quan về tài chính công và quản lý tài chính công, chương 2 trình bày về quản lý ngân sách nhà nước, chương 3 cung cấp kiến thức về quản lý thu ngân sách nhà nước, Và một số nội dung chương khác, mời các bạn cùng tham khảo tài liệu để nắm bắt nội dung chi tiết

Luận văn thạc sĩ “Tăng cường quản lý tài sản công tại Bệnh viện đa

khoa tỉnh Bắc Giang” của tác giả Nguyễn Văn Điều, Học viện Nông nghiệp

Việt Nam, năm 2015 đã khái quát được lý luận về quản lý, quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời tác giả luận văn cũng đánh giá được thực trạng quản lý tài sản công tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, những ưu điểm, hạn chế của của đơn vị sự nghiệp đặc thù, đồng thời đưa ra những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý này tại Bệnh viện đơn

vị sự nghiệp đặc thù

Luận văn thạc sĩ “Quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND

huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân, Học

viện Nông nghiệp Việt Nam, năm 2015 đã khái quát được lý luận về quản lý, quản lý tài sản Khái quát được đặc thù của các cơ quan trực thuộc UBND huyện Yên Dũng , Luận văn đánh giá được thực trạng quản lý tài sản công tại các đơn vị này, đánh giá được kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế cần khắc phục từ đó đua gia những nhóm giải pháp phù hợp với tình hình thự tế tại địa phương

Đề tài “Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý TSC giai đoạn 2001-2010”,

năm 2000, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của PGS.TS Nguyễn Văn Xa đã

Trang 16

đánh giá thực trạng tình hình quản lý, sử dụng toàn bộ TSC (trong đó có TSC trong khu vực HCSN ở Việt Nam) từ năm 1995 đến năm 2000, từ đó đề ra những giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN đến năm 2010 Tuy vậy, do yếu tố thời gian, hệ thống số liệu của đề tài đã trở nên lạc hậu, mặt khác trong đề tài này, việc nghiên cứu cơ chế quản lý TSC giữa CQHC và ĐVSN chưa được tách bạch

Đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự

nghiệp, 2002” đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của TS Phạm Đức Phong đã

tập trung chủ yếu nghiên cứu về cơ chế quản lý TSC đối với các tài sản phục

vụ trực tiếp cho hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hoá thể thao, là khâu đột phá của công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Song trong công trình này, tác giả cũng chưa quan tâm đánh giá hiệu quả, hiệu lực của cơ chế quản lý TSC tại các ĐVSN

Đề tài “Đổi mới cơ chế quản lý TSNN tại ĐVSNCL, 2012”, đề tài

nghiên cứu cấp khoa học cấp bộ của Bộ Tài chính đề tài đã tập trung chủ yếu nghiên cứu về cơ chế quản lý, cũng chưa tập trung sâu đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng TSNN tại ĐVSNCL

1.1.2 Đánh giá các công trình nghiên cứu và khoảng trống khoa học của

đề tài luận văn

Các công trình nghiên cứu phần nào đã chỉ ra tầm quan trọng to lớn của công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài sản công tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nói riêng Quản lý tài sản công là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá các mặt mạnh, các mặt yếu của một của các cơ quan hành chính, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan từ đó giúp cho nhà quản lý lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với thực trạng hoạt động của cơ quan đơn vị

Trang 17

Tóm lại, có khá nhiều công trình nghiên cứu đã tiếp cận và đi vào nghiên cứu sâu về từng vấn đề như: phân tích về thực trạng quản lý tài sản công của một đơn vị cụ thể; của nhiều đơn vị trên một địa bàn, của từng đơn

vị hành chính hay từng đơn vị sự nghiệp phụ vụ công

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt và

hệ thống về đề tài quản lý tài sản công tại Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia Chính vì thế tác giả nghiên cứu đề tài này là cần thiết và có tính mới Các công trình nghiên cứu ở trên có giá trị tham khảo quý báu đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính

1.2.1 Một số khái niệm

1.2.1.1 Cơ quan hành chính

Cơ quan hành chính nhà nước là: “Một loại cơ quan Nhà nước thực hiện quyền hành pháp bao gồm chức năng lập quy và chức năng hành chính”

Hệ thống các cơ quan hành chính bao gồm:

- Cơ quan lập pháp: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại; nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh; những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ

xã hội và hoạt động của công dân Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Các cơ quan của Quốc hội gồm: Ủy ban thường vụ quốc hội; Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Hội đồng nhân dân được quy định là cơ quan quyền lực địa phương không có quyền lập pháp

- Cơ quan tư pháp: Là các cơ quan có quyền phán xét tính hợp hiến, hợp pháp của các quyết định pháp luật và sự phán quyết về hành vi phạm tội,

Trang 18

tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Hệ thống cơ quan tư pháp gồm các cơ quan thuộc Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân

- Cơ quan hành pháp: Đó là các cơ quan thực hiện quyền hành pháp của nhà nước, quản lý chung hay từng mặt công tác, có nhiệm vụ chấp hành pháp luật và chỉ đạo thực hiện chủ trương, kế hoạch của Nhà nước Hệ thống các cơ quan hành pháp bao gồm các cơ quan thực hiện quyền hành pháp ở trung ương như Chính phủ, Bộ, ngành ; cơ quan thực hiện quyền hành pháp

ở địa phương là UBND các cấp và các cơ quan hành chính giúp việc có chức năng quản lý nhà nước ở địa phương nhằm bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở (như cơ quan tài chính, giáo dục, y tế, tài nguyên - môi trường, xây dựng ) Các cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo và quản lý của UBND đồng cấp, đồng thời chịu

sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên

1.2.1.2 Tài sản công

Bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào một trong các nguồn nội lực của mình là tài sản quốc gia Đó là tất cả những tài sản do các thế hệ trước để lại hoặc do con người đương thời sáng tạo ra và các tài sản do thiên nhiên ban tặng cho con người Trong phạm vi một đất nước, tài sản quốc gia có thể thuộc sở hữu riêng của từng thành viên hoặc nhóm thành viên trong cộng đồng quốc gia hoặc thuộc sở hữu nhà nước gọi là tài sản công

Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu công cộng hay còn gọi là tài sản thuộc sở hữu toàn dân ở các nước xã hội chủ nghĩa Tại các nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đại diện quyền lợi cho toàn dân nên là người đại diện sở hữu đối với toàn bộ những tài sản thuộc sở hữu toàn dân Do đó khái niệm tài sản công và tài sản nhà nước là đồng nhất Trong khuôn khổ giới hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu tài sản công dưới dạng vật chất

Trang 19

Ở Việt Nam theo Luật quản lý, sử dụng tài sản công có hiệu lực từ ngày

01 tháng 01 năm 2018 thì Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác.

Theo giáo trình tổ chức và nhân sự hành chính nhà nước thì: “Công sản gồm tất cả các tài sản (động sản và bất động sản) thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý để sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của toàn dân”

Từ những cách hiểu nêu trên, có thể cho rằng: Tài sản công là những

tài sản được đầu tư, mua sắm từ nguồn NSNN hoặc có nguồn gốc từ NSNN; tài sản được các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ, đóng góp, hiến, tặng, cho Nhà nước; tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật; tài sản của các chương trình, dự án kết thúc chuyển giao cho Nhà nước; đất đai, tài nguyên trong lòng đất, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ NSNN, núi, sông hồ, nguồn nước, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia mà pháp luật quy định là của Nhà nước; phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp hoặc đầu tư ra nước ngoài được Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử dụng theo chế độ quản lý chung của Nhà nước và chịu sự kiểm tra giám sát của Nhà nước trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản

1.2.1.3 Tài sản công trong khu vực hành chính

Trang 20

Tài sản công trong khu vực hành chính là một bộ phận tài sản công mà Nhà nước đã giao cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức quản lý, sử dụng phục vụ cho hoạt động của từng cơ quan, đơn vị theo chức năng nhiệm vụ được giao Do có vị trí đặc biệt quan trọng, nên tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp không ngừng được Nhà nước duy trì, củng cố, đầu tư phát triển cả về số lượng, chủng loại và mức độ hiện đại Với những nội dung đã trình bày trên đây, có thể khẳng định: Tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp là những tài sản được đầu tư, mua sắm từ nguồn NSNN hoặc có nguồn gốc NSNN; tài sản được các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ, đóng góp, hiến, tặng, cho Nhà nước; tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật; tài sản của các chương trình, dự án kết thúc chuyển giao cho Nhà nước mà Nhà nước giao cho từng cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng để phục vụ hoạt động của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức theo chức năng, nhiệm vụ đã được Nhà nước giao

Như vậy, tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp là một loại hàng hoá do các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức quản lý; tạo ra dịch vụ công phục vụ nhân dân, đáp ứng cho các nhiệm vụ công; quản

lý theo cơ chế công (quy định bởi Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật)

Tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp gồm máy móc, thiết

bị và các tài sản khác trụ sở làm việc phương tiện đi lại và theo quan điểm đạo đức công (phi lợi nhuận, bình đẳng, ổn định, hiệu quả) Tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp rất phong phú, đa dạng, có loại xác định được giá trị, có loại vô giá, đa số là tài sản hữu hình; cũng có loại là tài sản vô hình

1.2.1.4 Quản lý tài sản công

Trang 21

Theo Olga Kaganova and James Mckellar thì: “Quản lý nhà nước đối với TSC có thể được định nghĩa là quá trình đưa ra quyết định và thực hiện liên quan đến việc mua, sử dụng và thanh lý tài sản”

Xuất phát từ vai trò, chức năng của Nhà nước và đặc điểm của tài sản công, theo tôi thì: quản lý nhà nước đối với tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước đối với tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp nhằm đảm bảo tài sản công được đầu tư xây dựng mới, mua sắm, quản lý, sử dụng, xử lý một cách hiệu quả, tiết kiệm

1.2.2 Đặc điểm, vai trò của tài sản công

1.2.2.1 Đặc điểm của tài sản công

Thứ nhất, TSC phong phú về chủng loại, mỗi loại tài sản có tính năng,

công dụng khác nhau và được sử dụng vào các mục đích khác nhau, được đánh giá hiệu quả theo những tiêu thức khác nhau TSC nhiều về số lượng, lớn về giá trị và mỗi loại tài sản lại có giá trị sử dụng khác nhau, thời hạn sử dụng khác nhau

Thứ hai, Tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, sử

dụng TSC không phải là người có quyền sở hữu tài sản đó; do đó, nếu không quản lý chặt chẽ sẽ dẫn đến việc sử dụng tài sản lãng phí, thất thoát, kém hiệu quả

Thứ ba, TSC được phân bố ở khắp mọi miền đất nước, được giao cho

các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng; có loại tài sản được đa số các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng và được Nhà nước giao trực tiếp để quản lý, sử dụng (như trụ sở làm việc, xe ô tô phục vụ công tác, phương tiện làm việc )

Thứ tư, TSC bao gồm hai loại: Tài sản dùng vào kinh doanh (có mục

đích sinh lời), như tài sản giao cho các DN; Tài sản không dùng vào kinh

Trang 22

doanh (không có mục đích sinh lời), như tài sản giao cho các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng Do

đó, cơ chế quản lý và bộ máy tổ chức quản lý của Nhà nước phải phù hợp với từng loại tài sản và bảo đảm thống nhất trong toàn hệ thống

1.2.2.2 Vai trò của tài sản công

TSC trong khu vực HCSN là một bộ phận của tài sản quốc gia, là tiềm lực phát triển đất nước như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã khẳng định: “Tài sản công là nền tảng, là vốn liếng để khôi phục và xây dựng kinh tế chung, để làm cho dân giàu, nước mạnh, để nâng cao đời sống nhân dân”

- Tài sản công trong khu vực hành chính là một bộ phận nền tảng vật chất quan trọng ñảm bảo sự tồn tại và phát triển của nhà nước

- Tài sản công trong khu vực hành chính là yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất xã hội

1.2.3 Phân loại tài sản công

Để nhận biết và có các biện pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả đối với từng loại TSC thì TSC có thể được phân chia theo các tiêu thức chủ yếu sau:

1.2.3.1 Phân loại tài sản công theo thời hạn sử dụng

Theo cách phân loại này, TSC bao gồm các loại tài sản có thể sử dụng vĩnh viễn, không mất đi, như tài nguyên đất, tài nguyên nước, không khí và các tài sản có thời gian sử dụng nhất định như tài nguyên khoáng sản và các tài sản nhân tạo khác Tuy nhiên, việc phân loại ra tài sản sử dụng vĩnh viễn

và tài sản sử dụng có hạn chỉ là tương đối, vì ngay tài nguyên đất nếu không

có biện pháp quản lý, sử dụng và bảo vệ có hiệu quả thì đất cũng có thể bị xói mòn, cằn cỗi, không khí có thể bị ô nhiễm

1.2.3.2 Phân loại tài sản công theo nguồn gốc hình thành

Theo cách phân loại này, TSC gồm tài nguyên thiên nhiên và tài sản nhân tạo:

Trang 23

- Tài nguyên thiên nhiên là các loại tài sản do thiên nhiên tạo ra ban tặng cho con người và thuộc chủ quyền của quốc gia như: Đất, rừng, vùng trời, vùng biển, mặt nước, khoáng sản trong lòng đất, những danh lam thắng cảnh, không khí, môi trường

- Tài sản nhân tạo là tất cả các tài sản do con người tạo ra và được duy trì qua các thế hệ như: Hệ thống cơ sở hạ tầng, các công trình văn hoá, các cổ vật, nhà ở, nhà làm việc, xe cộ, phương tiện và điều kiện làm việc, thiết bị máy móc sản xuất Tài sản nhân tạo, chủ yếu được hình thành từ kinh phí của NSNN và một phần là những tài sản mà Nhà nước thu nạp được như các tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước, tài sản hiến tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

1.2.3.3 Phân loại tài sản công theo đối tượng quản lý và sử dụng tài sản

- Phân loại này TSC thuộc cơ quan HCNN là những tài sản của Nhà nước giao cho các cơ quan Nhà nước quản lý và sử dụng gồm: Đất và vật kiến trúc trên đất thuộc trụ sở làm việc, nhà công vụ, kho tàng, trường học, bệnh viện, trạm xá, trại nghiên cứu thí nghiệm ; Các phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc, phương tiện thông tin, cứu hoả, hệ thống cấp, thoát nước và các tài sản khác;

- Tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia bao gồm: Hệ thống giao thông, như đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không, bến cảng, bến phà, bến xe, cầu, sân bay, nhà ga ; Hệ thống các công trình thuỷ lợi, như đê điều, hệ thống kênh mương, trạm bơm, hồ chứa nước, đập thuỷ lợi ; Hệ thống chiếu sáng, cấp, thoát nước, công viên ; Hệ thống các công trình văn hoá, di tích lịch sử đã được xếp hạng ; Tài sản do các tổ chức biếu tặng, đóng góp hoặc giao lại Nhà nước và tài sản viện trợ của Chính phủ và tổ chức phi Chính phủ; Tài sản khác

Trang 24

1.2.4 Mục tiêu, nguyên tắc, mô hình của quản lý tài sản công

1.2.4.1 Mục tiêu của quản lý tài sản công

Một là, quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm TSC phục vụ

cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định

và nâng cao đời sống cán bộ, công chức và toàn thể nhân dân; góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng

Hai là, bảo đảm sự công bằng, minh bạch về quyền và trách nhiệm của

nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các đối tượng được giao trực tiếp sử dụng TSC

Ba là, Quy định rõ việc phân cấp quản lý TSC, trách nhiệm của cơ

quan tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng TSC

Bốn là, đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Vận hành đúng

các nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Xử lý hài hoà các lợi ích giữa Nhà nước, tổ chức kinh tế và dân cư

Năm là, hiện đại hoá công tác quản lý TSC với nhiệm vụ trọng tâm là

quản lý TSC bằng hệ thống tin học để có thể quản lý thống nhất kịp thời mọi biến động về TSC

1.2.4.2 Nguyên tắc quản lý tài sản công

Thứ nhất, Thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý; đồng thời

phải có cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù riêng, đối với ngành, địa phương, tổ chức sử dụng tài sản phục vụ cho các hoạt động có tính đặc thù riêng Nội dung của thống nhất quản lý là Chính phủ thống nhất QLTSC; Quốc hội, Chính phủ quy định cơ chế, chính sách, chế độ QLTSC áp dụng chung cho mọi tài sản và quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý cụ thể đối với từng tài sản có giá trị lớn mà hầu hết các

cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp sử dụng (những tài sản chủ yếu và được sử dụng phổ biến)

Trang 25

Thứ hai, Thực hiện quản lý và sử dụng TSC theo tiêu chuẩn, định mức

Quản lý và sử dụng TSC theo tiêu chuẩn, định mức đối với từng đối tượng sử dụng, tránh hiện tượng tuỳ tiện, theo ý muốn chủ quan của từng tổ chức, cá nhân; tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC còn là thước đo đánh giá mức độ sử dụng tiết kiệm và hiệu quả TSC của từng đơn vị Mặt khác, tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC là cơ sở để thực hiện công tác quản lý, thực hiện kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước

Thứ ba, Thực hiện phân cấp QLTSC để đảm bảo việc QLTSC phù hợp

với đặc điểm của tài sản, đồng thời xuất phát từ phân cấp trách nhiệm, quyền hạn quản lý kinh tế - xã hội giữa Quốc hội, Chính phủ với các cấp chính quyền địa phương, giữa Chính phủ với các Bộ, ngành về xây dựng cơ chế, chính sách, chế độ QLTSC; về xây dựng và ban hành định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản; về QLTSC

Thứ tư, QLTSC phải gắn với quản lý NSNN Xuất phát từ “TSC là những tài sản được hình thành từ nguồn NSNN ” và mọi chi phí trong quá

trình sử dụng TSC đều do NSNN đảm bảo (trừ một số trường hợp cá biệt); do

đó, việc QLTSC phải gắn với quản lý NSNN Hay nói cách khác, QLTSC là quản lý NSNN đã chuyển hoá thành hiện vật - tài sản hoặc tài sản tiềm năng dưới dạng hiện vật - sẽ khai thác thành ngân sách

1.2.4.3 Các mô hình quản lý tài sản công

Mỗi quốc gia có lịch sử hình thành và phát triển khác nhau, chịu sự đấu tranh sinh tồn giữa thiên nhiên và con người, nên chế độ kinh tế và chính trị tồn tại khác nhau Điều này quyết định cho sự lựa chọn đường lối phát triển

và mô hình kinh tế mỗi nước Thực tế đúc kết lại cho thấy có 3 mô hình QLTSC Các mô hình này đều hướng tới hiệu quả và mục tiêu chung trong QLTSC nêu trên Vì điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội mỗi nước khác nhau nên các mô hình lựa chọn khác nhau

Trang 26

- Thứ nhất mô hình quản lý tập trung: Nhà nước sở hữu và quản lý tập

trung TSC Dựa trên quy định phân cấp quản lý, Nhà nước giao cho các cơ quan HCNN các cấp sử dụng gắn với các ràng buộc ở mỗi cấp

- Thứ hai là mô hình quản lý kiểu DN: Một DN nhà nước đặc biệt quản

lý những nhóm TSC lớn (Ví dụ: Tổng công ty BĐS, Tổng công ty mua bán

nợ, Tổng công ty mua bán BĐS và thiết bị) Các cơ quan HCNN sử dụng TSC theo nguyên tắc có thể thuê, có thể mua hoặc thuê – mua với ràng buộc là khối lượng công việc hành chính và kinh phí ngân sách cấp hoạt động (khoán kinh phí) Mô hình này vận hành theo cơ chế thị trường đặt nguyên tắc lợi ích – chi phí gắn với hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính và TSC

- Thứ ba: Mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân (Public Private Partner – 3P): Nhà nước nắm giữ một phần tài sản quan trọng tại một số cơ quan nhà

nước, bên cạnh đó là mô hình quản lý kiểu DN DN này có thể của nhà nước nhưng cũng có thể là cổ phần nhà nước là chủ yếu hay cổ đông là DN nhà nước đảm bảo TSC thuộc quản lý sở hữu của DN nhưng bản chất vẫn là nhà nước Định nghĩa mô hình 3P liên quan đến bất động sản công như sau: 3P là một mối quan hệ hợp đồng chia sẻ rủi ro và quyền lợi giữa khu vực công và khu vực tư nhằm sử dụng những thế mạnh của khu vực tư nhân để cung cấp một kết quả chung liên quan đến bất động sản cho nhà nước và nền kinh tế

Sự vận hành của mô hình này đặt ra tầm nhìn dài hạn và lựa chọn tối ưu trong

sử dụng TSC, nếu cơ quan nhà nước không có đủ năng lực mọi mặt và sự lựa chọn tối ưu Ví dụ một bất động sản công đắc địa nếu giao cơ quan nhà nước xây dựng, quyết định sẽ phụ thuộc vào ngân sách cấp và do nhiều đơn vị cùng tham gia, kết quả lựa chọn thường không tối ưu

1.2.5 Nội dung quản lý tài sản công trong khu vực hành chính

Nội dung quản lý tài sản công trong khu vực hành chính là thực hiện quản lý quá trình hình thành; khai thác, sử dụng và quá trình kết thúc tài sản

1.2.5.2 Quản lý quá trình hình thành tài sản công trong khu vực hành chính

Trang 27

Khi cơ quan được thành lập, cùng với quy định về chức năng, nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ công chức; cơ quan được cấp một số tài sản gồm: Tài sản làm việc, phương tiện đi lại và các tài sản khác Bên cạnh tài sản được cấp, cơ quan được đầu tư xây dựng mới, mua sắm tài sản từ nguồn NSNN hoặc các nguồn khác được phép sử dụng theo quy định của pháp luật Quá trình này gồm hai giai đoạn: quyết định chủ trương và thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản công

Sau khi có chủ trương việc đầu tư, mua sắm tài sản được thực hiện theo quy định về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và quy định về mua sắm tài sản công do Thủ tướng Chính phủ quy định Toàn bộ tài sản này được quản lý theo quy chế do cơ quan xây dựng trên cơ sở chế độ của Nhà nước quy định và đặc thù hoạt động của cơ quan

Bổ sung tài sản: Hàng năm căn cứ vào nhiệm vụ được giao đơn vị lập

kế hoạch bổ sung tài sản; việc bổ sung tài sản hàng năm được thực hiện như sau: Mua sắm từ nguồn NSNN hoặc các nguồn khác được phép sử dụng theo quy định của pháp luật; tiếp nhận tài sản từ cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân khác hoặc thu hồi từ các dự án đã kết thúc

1.2.5.2 Quản lý quá trình khai thác và sử dụng tài sản công

Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy hết vai trò của tài sản công Quản lý khâu này là thực hiện quản lý tài sản công theo mục đích, chế độ, tiêu chuẩn, định mức gồm những nội dung sau:

- Quản lý quá trình thu hồi, điều chuyển, bán tài sản từ đơn vị này sang đơn vị khác;

- Quản lý việc bảo dưỡng, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản nhằm duy trì hoạt động của tài sản công, đảm bảo cho việc sử dụng tài sản công có hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng được nhu cầu công tác của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp;

Trang 28

- Giao tài sản cho các đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp quản

lý, sử dụng;

- Xây dựng và ban hành nội quy, quy chế quản lý tài sản công;

- Mở sổ sách kế toán theo dõi tình hình biến động của tài sản công;

- Thực hiện chế độ kê khai, đăng ký, báo cáo, kiểm kê đột xuất và định

kỳ tài sản công theo quy định của pháp luật;

- Kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình quản lý, sử dụng tài sản công;

- Bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công theo yêu cầu kỹ thuật và đặc điểm

sử dụng;

- Điều chuyển, bán, chuyển đổi sở hữu tài sản công

1.2.5.3 Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp

Tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp đưa vào sử dụng sau một thời gian nhất định đều có quá trình kết thúc để thay thế bằng tài sản khác (trừ đất đai và một số công trình có tính chất tài sản lâu bền khác)

Khi tài sản công hết thời gian sử dụng, đã hao mòn hết hoặc hư hỏng không còn sử dụng được thì phải được tiến hành thanh lý để thu hồi phần giá trị có thể thu hồi được cho NSNN và đồng thời đó cũng là căn cứ để chuẩn bị đầu tư, mua sắm tài sản mới

1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính nhà nước

Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả, hiệu lực của cơ chế quản lý TSC là vấn đề cần thiết để lựa chọn những phương thức, cách thức và xác định các nguyên tắc, điều kiện vận hành phù hợp với các quy luật khách quan Xuất phát từ thực tế quản lý TSC theo quan điểm của NCS, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả và hiệu lực của cơ chế quản lý TSC bao gồm:

1.2.6.1 Nhóm các nhân tố từ hệ thống cơ chế quản lý tài sản công

Trang 29

- Sự phù hợp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế

độ, quản lý TSC trong cơ quan HCNN với thực tế:

Trong hệ thống cơ chế QLTSC thì các yếu tố pháp luật (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ, QLTSC) phản ánh hiệu lực, hiệu quả quản lý thường rõ nét nhất Trong điều kiện cơ chế quản lý TSC từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang quản lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, nếu có một hệ thống chính sách, chế độ, quản lý TSC hợp lý, sát với thực tiễn sẽ là tiền đề thuận lợi để quản lý TSC trong khu vực cơ quan HCNN hiệu quả, tiết kiệm, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí, thất thoát TSC đang xảy ra phổ biến trong xã hội Mặt khác, quá trình quản lý TSC trong các cơ quan HCNN thu được hiệu quả nhiều hay ít cũng phần lớn phụ thuộc vào tính hợp lý, thông thoáng của chính sách Ngược lại, tính không đồng bộ, thiếu nhất quán sẽ gây cản trở rất lớn đến hiệu lực và hiệu quả

cơ chế QLTSC trong các cơ quan hành chính nhà nước

- Năng lực cán bộ công chức làm công tác QLTSC trong các cơ quan hành chính nhà nước: cơ chế quản lý TSC do đội ngũ cán bộ công chức làm công tác QLTSC hoạch định và thực thi Do đó, hiệu lực, hiệu quả cơ chế QLTSC phụ thuộc vào năng lực của cán bộ, công chức làm công tác QLTSC trong việc thực hiện đúng vài trò, chức năng trong xây dựng, vận hành và chấp hành đúng cơ chế quản lý Cán bộ, công chức làm công tác QLTSC có nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của TSC trong các cơ quan HCNN, có trình độ chuyên môn chắc, có phẩm chất đạo đức tốt (có tâm và có tầm) sẽ giúp cho quá trình QLTSC thu được hiệu quả cao

1.2.6.2 Nhóm các nhân tố từ đối tượng quản lý

Đối tượng của hệ thống quản lý TSC trong các cơ quan HCNN là các cán bộ, công chức trực tiếp quản lý, sử dụng TSC Đây là một hệ thống cực

kỳ phức tạp với trình độ, năng lực, phẩm chất, nhu cầu và cách ứng xử khác

Trang 30

nhau và do đó các phản ứng với các quyết định quản lý TSC trong các cơ quan HCNN cũng rất khác nhau Trình độ dân trí, trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật của các cán bộ công chức trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản cũng quyết định tới hành vi ứng xử đối với các quyết định quản lý Nếu ý thức tuân thủ pháp luật và chính sách của cán bộ công chức trực tiếp quản lý, sử dụng TSC được nâng cao thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực cơ chế quản lý TSC trong các cơ quan hành chính nhà nước

1.2.6.3 Nhóm nhân tố khách quan khác

Đó là những nhân tố bất thường như thiên tai, định họa, chiến tranh,

… Trong thực tế, nền kinh tế luôn luôn biến động và chịu tác động của rất nhiều các nhân tố khách quan nằm ngoài ý muốn của chủ thế quản lý Trong điều kiện thiên tai thì việc chống đỡ với thiên nhiên là trên hết, còn việc tuân thủ pháp luật, chấp hành cơ chế chính sách của nhà nước có thể không được quan tâm đúng mức và như vậy hiệu lực của cơ chế quản lý có nguy cơ bị suy giảm Trường hợp có chiến tranh hoặc bất ổn về chính trị đều ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu lực và hiệu quả của cơ chế quản lý

1.3 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước trong quản lý tài sản công

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý tài sản công tại một số quốc gia trên thế giới

1.3.1.1 Trường hợp của Vương Quốc Anh

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, khủng hoảng nợ công và vấn đề nợ công đã trở thành yếu tố đe dọa đến sự ổn định tình hình chính trị và khả năng phục hồi, phát triển kinh tế của nhiều quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu Nhằm giải quyết vấn đề nợ công, hầu hết các quốc gia thuộc EU đều thi hành chính sách thắt lưng buộc bụng ở các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước trong Liên minh Theo đó, Chính phủ Anh đã thành lập Cơ quan dịch vụ mua sắm công để thực hiện rà soát toàn bộ việc chi tiêu của các Bộ, ngành Trung ương (17 Bộ, ngành với

Trang 31

mức chi tiêu cho việc mua sắm công khoảng 45 tỷ Bảng Anh) và cơ quan của Chính phủ trong việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ Việc rà soát này một mặt hướng tới mục tiêu cụ thể trước mắt là cắt giảm chi và tiết kiệm chi NSNN nhưng về lâu dài là hướng tới việc quản lý, sử dụng có hiệu quả hàng hóa, dịch vụ phục vụ các cơ quan công quyền và thay đổi nhận thức của cơ quan, đơn

vị mua sắm cũng như tổ chức cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho Chính phủ

Trong quá trình rà soát, Cơ quan này đã phát hiện ra rằng có một số loại hàng hóa, dịch vụ mà các Bộ, ngành, cơ quan Chính phủ sử dụng có đặc điểm tương đồng về yêu cầu chất lượng, yếu tố kỹ thuật… nhưng giá mua sắm lại rất khác nhau (có những loại hàng hóa chênh lệch hàng trăm lần) và

do nhiều nhà thầu khác nhau cung cấp, thời gian thực hiện hợp đồng bị kéo dài ở các mức độ khác nhau Qua rà soát cũng phát hiện ra rằng, nhiều cơ quan, đơn vị mua sắm hàng hóa, tài sản tràn lan, vượt quá định mức và nhu cầu cần thiết (sau này khi thực hiện mua sắm tập trung đã giảm được khoảng 10% về số lượng mua sắm)

Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi và mục tiêu quản lý nêu trên, Chính phủ Anh đã thành lập cơ quan thực hiện chương trình mua sắm tập trung trực thuộc Chính phủ Cơ quan dịch vụ mua sắm công là một cơ quan thuộc Văn phòng Nội các Vương quốc Anh (mô hình tương tự đơn vị sự nghiệp công lập

ở Việt Nam) có chức năng nghiên cứu, đề xuất giải pháp và tổ thực hiện biện pháp nhằm quản lý, nâng cao hiệu quả mua sắm và tiết kiệm chi mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho các cơ quan của Chính phủ bằng nguồn ngân sách nhà nước Cơ quan mua sắm tập trung hoạt động với mục đích: đảm bảo các mục tiêu của Chính phủ đưa ra phải thực hiện được (cắt giảm chi tiêu công nhưng vẫn phải đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan thuộc Chính phủ và thực hiện các mục tiêu khác) và không vì lợi nhuận

Trang 32

Cơ quan dịch vụ mua sắm Chính phủ của Vương quốc Anh hiện có khoảng 400 nhân viên, trong đó khoảng 80% là chuyên gia mua sắm Ngoài trụ sở chính đặt tại thành phố Liverpool, cơ quan này còn có 04 chi nhánh trải rộng khắp nước Anh Danh mục mua sắm tập trung bao gồm những hàng hóa, dịch vụ mà các Bộ, ngành, cơ quan Chính phủ có yêu cầu sử dụng cơ bản giống nhau được phân theo lĩnh vực, nhóm hàng hóa, dịch vụ chủ yếu mà các

cơ quan thuộc Chính phủ có nhu cầu mua sắm, sử dụng thường xuyên: (i) Năng lượng, (ii) văn phòng phẩm, (iii) phương tiện đi lại; (iv) dịch vụ quản lý công sở và nhà công vụ…

1.3.1.2 Trường hợp của Nhật bản

Trước đây, việc mua sắm công thực hiện phân tán, do các đơn vị sử dụng thực hiện mua sắm Tuy nhiên, việc mua sắm công phân tán dẫn đến một số hạn chế: (i) Có nhiều công ty đấu thầu “đi đêm” với nhau để khống chế giá và nâng cao giá hàng hóa, dịch vụ Mặc dù thời điểm đó đã có một cơ quan chuyên trách thực hiện kiểm tra các hợp đồng mua sắm nhưng vẫn không hạn chế được tình trạng này; (ii) Do việc mua sắm thực hiện phân tán tại các đơn vị sử dụng, tính chuyên nghiệp của cán bộ mua sắm không cao nên dẫn đến nhiều sai phạm trong mua sắm, đầu tư xây dựng cơ bản; (iii) Người mua sắm, người sử dụng và người cung cấp có quan hệ trực tiếp với nhau nên cũng dễ xảy ra thông đồng

Để khắc phục những tồn tại trong việc mua sắm công nêu trên, năm

2000 Chính Phủ Nhật Bản đã có cải cách rất cơ bản trong việc mua sắm công

và Cục Mua sắm công được ra đời để thực hiện các nhiệm vụ này Cục Mua sắm công có nhiệm vụ quản lý về mua sắm công mà chủ yếu là đấu thầu mua sắm công đối với tất cả các tài sản, dịch vụ, hàng hóa liên quan đến chi tiêu công Việc mua sắm công tập trung không chỉ dừng lại ở các tài sản, dịch vụ, hàng hóa phục vụ bộ máy của nhà nước mà bao gồm cả lựa chọn nhà thầu đầu

Trang 33

tư, xây dựng Khi xây dựng công trình hạ tầng có mua sắm cũng phải thực hiện tập trung thông qua các hợp đồng ủy thác với Cục mua sắm công

Cục Mua sắm công sẽ phân loại hàng hóa, dịch vụ, gồm có hàng hóa và hàng hóa thông thường Tất cả hàng hóa, dịch vụ đều được tổ chức đấu thầu tập trung

Tổng giá trị mua sắm do Cục Mua sắm công thực hiện trung bình hàng năm khoảng 130 tỷ Yên (tương đương 1,3 tỷ USD), với khoảng 3.500 hợp đồng, trong đó ủy thác (khoảng 500 hợp đồng), phân phối (200 hợp đồng), thi công, thiết kế (khoảng 2.000 hợp đồng), còn lại là hợp đồng mua sắm

1.3.1.3 Trường hợp của Mexico

Từ năm 2007, Mexico bắt đầu tiến hành nghiên cứu và đã phát hiện những thiếu sót, bất cập trong mua sắm công của đất nước này, đó là: Thiếu chuyên nghiệp, chưa có tiêu chuẩn nghề nghiệp của những người tham gia mua sắm công; chưa có đấu thầu điện tử; khung pháp lý chưa chặt chẽ; không chú trọng đầu tư vào mục đích chính Dẫn đến: (i) tham nhũng, (ii) thiếu hiệu quả trong sử dụng ngân sách, (iii) thiếu quy trình kiểm soát trong việc thực hiện mua sắm công Cuộc cải cách về mua sắm công ở Mexico được tiến hành toàn diện từ năm 2009, và phương thức mua sắm tập trung được đưa vào áp dụng đồng thời với nhiều phương thức mua sắm phù hợp khác

Việc thực hiện mua sắm tập trung tại Mexico được giao cho Bộ Hành

chính công Bộ Hành chính công của Mexico sẽ gom một số mặt hàng nhiều

cơ quan Chính phủ cùng sử dụng, mặt hàng chiến lược, thiết yếu hoặc mặt hàng mà các đơn vị mua sắm với giá cả chênh lệch nhau nhiều để thực hiện mua sắm tập trung Từ danh mục tài sản mua sắm của các cơ quan Chính phủ,

Bộ Hành chính công sẽ nghiên cứu thị trường xác định Danh mục những mặt hàng mua sắm tập trung cụ thể, trên cơ sở (i) gom các tài sản, hàng hóa dịch

vụ giống nhau mà nhiều cơ quan Chính phủ cùng sử dụng; (ii) sản phẩm,

Trang 34

hàng hóa, dịch vụ mang tính chiến lược ảnh hưởng đến an sinh xã hội như thuốc chữa bệnh, (iii) sản phẩm mà giá cả mua sắm của các đơn vị khác nhau

có sự chênh lệch nhau quá nhiều vào từng nhóm mua sắm để thực hiện một quy trình mua sắm nhằm tiết kiệm thời gian với giá cả phù hợp nhất Hiện tại, Danh mục mua sắm tập trung có khoảng 40-45 mặt hàng Danh mục này được

Bộ Hành chính công rà soát, bổ sung hàng năm tùy vào nhu cầu mua sắm và

điều kiện của thị trường Hơn 200/300 đơn vị của liên bang tham gia mua

sắm tập trung 100 đơn vị còn lại thuộc đối tượng không bắt buộc tham gia

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý tài sản công tại một số cơ quan của Việt Nam

1.3.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương

Theo báo cáo tình hình quản lý, sử dụng TSCĐ của tỉnh Hải Dương, đến nay tỉnh Hải Dương đã định danh được 961 mã đơn vị vào chương trình quản

lý đăng ký tài sản Nhà nước, phần mềm của cục quản lý tài sản công – BTC Đối với PTĐT: Có sự quản lý linh hoạt trong việc đầu tư mua mới, việc điều chuyển nội bộ giữa các cơ quan, đơn vị trong tỉnh và cả điều chuyenr từ cấp trên về tỉnh Cụ thể đầu năm 2013, tỉnh đã tổ chức mua mới 10 chiếc xe ô

tô phục vụ công tác Các xe trên đều được ký hợp đồng và tổ chức mua xe trước ngày 20/3/2013 (Ngày chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP) Tháng 5/2013 tỉnh Hải Dương được tiếp nhận 1 chiếc xe ô tô điều chuyển từ văn phòng Chính phủ Điều chuyển nội bộ giữa các đơn vị trong tỉnh là 07 xe

ô tô từ nơi thừa so với tiêu chuẩn, định mức sang nơi thiếu so với tiêu chuẩn, định mức

Đối với trụ sở làm việc có sự sắp xếp, thay đổi hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị làm việc và giao dịch của người dân Năm 2014 tỉnh Hải Dương thực hiện thanh lý 816m2

gồm 2 trụ sở cũ không sử dụng được và để giải phóng mặt bằng xây dựng các khu làm việc mới

Trang 35

Năm 2014, UBND Hải Dương Yên cũng đã ban hành Quyết định số 06/2014/QĐ-UBND ngày 9/3/2014 quy định về phân cấp quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, đồng thời có Công văn số 1874/UBND-TH ngày 02/11/2014 chỉ đạo về việc mua sắm tài sản thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP; Sở Tài chính đã có vă bản yêu cầu các đơn vị trực thuộc thực hiện việc kê khai báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước tại đơn vị và tình hình tăng giảm tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương

1.3.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Phú Thọ

Theo báo cáo, năm 2012 Sở Tài chính của tỉnh Phú Thọ đã phối hợp với các cấp, các ngành tổ chức lớp tập huấn hướng dẫn nghiệp vụ cho đối tượng

là chủ tài khoản, các bộ kế toán tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn tỉnh về công tác quản lý tài chính kế toán, ngân sách và quản

lý tài sản nhà nước Thông qua lớp tập huấn nghiệp vụ, việc quản lý TSC của các đơn vị đã có nhiều chuyển biến tích cực; việc theo dõi, hạch toán mọi biến động về số lượng và giá trị tài sản nhà nước được thực hiện đúng quy định Các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp được giao quản lý, sử dụng TSC hầu hết đều chấp hạnh đúng quy định về lập hồ sơ quản lý tài sản, thực hiện các trình tự thủ tục về đầu tư, mua sắm, thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý TSC đúng thẩm quyền, theo trách nhiệm đã được phân cấp

Đặc biệt, về mua sắm, quản lý và sử dụng TSC tại các đơn vị HCSN đã được trú trọng, từng bước được hoàn thiện và tăng cường công tác quản lý dựa trên những chính sách, chế độ đã quy định Năm 2012, thông quan việc đấu thầu mua sắm tập trung, ngành Giáo dục mua sắm 12,31 tỷ đồng trang thiết bị dạy học, tiết kiệm được 872,55 triệu đồng, ngành Y tế mua sắm 173,69 tỷ đồng tiền thuốc, vật tư, hóa chất phục vụ cho các bệnh viện, tiết kiệm được 21,15 tỷ đồng

Công tác kê khai, đăng ký TSC vào cơ sở dữ liệu quốc gia được UBND tỉnh quan tâm, chỉ đạo, đến nay đã hoàn thành 100% tiến độ Tính đến ngày

Trang 36

31/12/2012, tỉnh Phú Thọ có 6.227 tài sản với tổng giá trị hơn 5.965 tỷ đồng, bao gồm các tài sản là đất, nhà, xe ô tô và các tài sản khác có nguyên giá theo

sổ kế toán từ 500 triệu đồng trở lên

Để nâng cao công tác quản lý, sử dụng TSC, Sở tài chính cũng kiến nghị

Bộ tài chính ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng các tài sản là máy móc, thiết bị văn phòng, phương tiện làm việc, dụng cụ chuyên môn,… đối với đơn

vị sự nghiệp công lập để việc quản lý tài sản nhà nước tiết kiệm và hiệu quả hơn

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho việc quản lý tài sản công tại ủy ban giám sát tài chính Quốc gia

Từ việc nghiên cứu QLTSC của một số nước và một số địa phương có thể rút ra một số bài học để nghiên cứu thực trạng QLTSC ở Ủy ban, cụ thể là:

Một là, thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý đồng thời phải

có cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù, đối với một số ban ngành, địa phương, nâng cao hiệu quả việc quản

lý TSC trong khu vực HC là vấn đề rất cần thiết Nhà nước có hệ thống pháp luật đã tạo ra cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý TSC giám sát, kiểm tra các cơ quan, đơn vị sử dụng TSC, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị sử dụng TSC, thực hiện việc quản lý và sử dụng theo tiêu chuẩn định mức để công tác quản lý thống nhất, đồng thời áp dụng tiêu chuẩn định mức

sử dụng từng loại tài sản cho từng đối tượng sử dụng

Hai là, về nguyên tắc hiệu quả, công khai, minh bạch trong quản lý và sử

dụng TSC trong khu vực HC Theo nguyên tắc này mọi quyết định đầu tư xây dựng mua sắm, sử dụng, khai thác và thanh lý TSC trong khu vực HS phải đảm bảo tính hiệu quả với ý thức tiết kiệm, công tâm, đồng thời phải thực hiện theo cơ chế đấu thầu, đấu giá, phải công khai trên phương tiện thông tin đại chúng Đây là cơ chế quản lý hiệu quả để xác định kết quả công việc và cơ

Trang 37

chế này sẽ khiến những người được giao trách nhiệm quản lý tài sản phải đưa

ra các quyết định đúng đắn trong việc quản lý, sử dụng và xử lý tài sản

Ba là, về phân cấp trong quản lý TSC trong khu vực HC: Nhìn chung, tại

các tỉnh đều giao quyền quản lý TSC trong khu vực HC cho các cấp phòng, ban, đơn vị Ở Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cũng vậy phân cấp quản lý TSC để đảm bảo việc quản lý tài sản công phù hợp với đặc điểm của TSC đồng thời cũng được xuất phát từ phân cấp trách nhiệm, quyền hạn quản lý kinh tế: quyền quyết định đầu tư xây dựng mới, mua sắm, xử lý TSC được phân cấp cho các chính quyền, các cơ quan, đơn vị, bởi vì họ là người biết rõ nhất họ cần tài sản gì, có nên tiếp tục sử dụng tài sản đó hay không, có nên sửa chữa hay thanh lý tài sản, tránh hiện tượng mạnh ai người đó trang bị tùy theo ý muốn của mình, tùy thuộc vào khả năng kinh phí của đơn vị; tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản còn là thước đo đánh giá mức độ sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản công của từng đơn vị

Bốn là, quản lý tài sản công phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước

Xuất phát từ “Tài sản công là tài sản được hình thành từ ngân sách nhà nước…” và mọi chi phí trong quá trình sử dụng tài sản đều do ngân sách nhà nước đảm bảo (trừ một số trường hợp cá biệt) Do đó, việc quản lý tài sản công phải gắn với quản lý ngân sách Nhà nước, hay nói một cách khác là quản lý tái sản công là quản lý ngân sách nhà nước đã được chuyển hóa thành hiện vật – tài sản Vì vậy, chính sách, chế độ quản lý, định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản công phải phu hợp với quy định về quản lý ngân sách nhà nước, việc trang bị tài sản công cho các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp phải phù hợp với khả năng của ngân sách và được lập dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách đã được thông qua

Trang 38

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận để nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đòi hỏi việc nghiên cứu quản lý tài sản công của UB trước hết phải kế thừa được những kết quả nghiên cứu của những người đi trước Vì vậy, tác giả luận văn đã rất cố gắng trong việc tìm hiểu những tài liệu khoa học viết về quản lý tài sản công Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, luận văn xây dựng, hoàn thiện khung lý luận về quản lý TSC trong quá trình phát triển Tác giả cũng rất chú ý nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, không chỉ để phân tích các vấn đề ở các chương sau, mà còn để kiểm nghiệm khung khổ lý thuyết đã được xây dựng Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả luận văn đã xuất phát từ việc nghiên cứu phạm trù cơ bản của đề tài là quản lý TSC tại UBGSTCQG Trên cơ sở đó, luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ bản chất, nội dung, nhân

tố ảnh hưởng đến quản lý TSC ở Cơ quan hành chính Phương pháp luận vừa đòi hỏi phải xây dựng khung khổ lý thuyết để nghiên cứu nhưng khung khổ đó cần được kiểm nghiệm bằng thực tiễn Do đó, luận văn đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước để kiểm nghiệm khung khổ lý thuyết đã được xây dựng Đồng thời, việc nghiên cứu quản lý TSC trong các mối quan hệ qua lại với các cơ quan hành chính Các quan hệ đó luôn được xem xét trong sự vận động, biến đổi… Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đòi hỏi việc nghiên cứu quản lý TSC không được xuất phát từ tình cảm, nguyện vọng của tác giả, mà phải xuất từ những điều kiện khách quan và chủ quan,

do các quy luật khách quan chi phối Tác giả cố gắng nghiên cứu một cách

Trang 39

toàn diện nhưng trong đó hết sức quan tâm đến nhân tố bên trong vì nhân tố này giữ vai trò quyết định

2.2 Các phương pháp cụ thể được sử dụng để thực hiện luận văn

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Mục đích của phương pháp này là nhằm thu thập những số liệu cụ thể

và chính xác từ các bộ phận chức năng của UB và các cơ quan hành chính qua

đó có được những số liệu cụ thể để xem xét đánh giá được thực trạng vấn đề cần nghiên cứu lại luận văn

Tài liệu thứ cấp được sử dụng trong luận văn là các tài liệu có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp đã được phân tích, giải thích và diễn giải, bao gồm: giáo trình, bài báo, tập san chuyên đề, tạp chí, biên bản hội nghị, báo cáo khoa học, sách tham khảo, luận văn, luận án, thông tin thống kê, cụ thể:

Các số liệu về báo cáo của UBGSTCQG trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016;

Luật Ngân sách Nhà nước, các Nghị định của Chính phủ, các Nghị quyết, các Quy chế và Quyết định …

Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế, Giáo trình Tài chính công,

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Thông tin sơ cấp: Bên cạnh những nhận xét căn cứ vào số liệu thực tế

và qua tìm hiểu trên góc độ chủ quan của người nghiên cứu luận văn còn có những đánh giá khách quan căn cứ vào số liệu thu thập khác

2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin

Phương pháp phân tích dữ liệu là việc tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá bằng cách đánh giá các kết quả thu thập được và đưa ra các nhận xét từ kết quả thu thập được Từ đó rút ra các kết luận về khó khăn tồn tại để đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý TSC Phương pháp phân tích dữ liệu

Trang 40

thức cấp là phương pháp theo đó các dữ liệu được xử lý sẽ tiếp tục được đánh giá Sử dụng các phương pháp sau để phân tích dữ liệu:

Phương pháp thống kê so sánh

Là phương pháp dựa trên những tài liệu, số liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập được, tiến hành tổng hợp lại thành các bảng số liệu thống kê và bảng phân tích các số liệu đó là sản phẩm thu được của hoạt động thống kê đã được người điều tra tiến hành trong một không gian cụ thể Phương pháp này cung cấp các thông tin một cách có hệ thống, theo chuẩn mực đảm bảo tính trung thực, khách quan và chính xác các vấn đề mà đề tài nghiên cứu

Phương pháp phân tích tổng hợp

Mục đích của việc phân tích tổng hợp là có những nhận xét nhiều chiều

về một vấn đề nghiên cứu Qua đó có cách nhìn nhận khách quan để tạo thuận lợi cho việc thu thập thông tin tổng hợp phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài

Phương pháp phân tích tổng hợp là phương pháp đánh giá phân tích dựa vào việc thu thập thông tin từ việc đọc các báo cáo Từ đó có cái nhìn sâu hơn,

cụ thể chính xác hơn về từng vấn đề nghiên cứu

Đối tượng của việc nghiên cứu phân tích tổng hợp là tất cả những kết quả thu thập được từ phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và thu thập số liệu

sơ cấp cùng những ý kiến chuyên gia để đánh giá được những tồn tại, những cái đã đạt được để từ đó có những giải pháp đề xuất một cách khách quan về đổi mới cơ chế quản lý TSC

Ngày đăng: 17/09/2020, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm