Thông qua việc tìm hiểu học phần Công nghệ số trong hoạt động Ngân hàng, các học viên sẽ tìm hiểu rõ hơn về Ngân hàng số trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0. Nội dung Chương 3 tập trung vào việc trình bày chi tiết các nội dung liên quan đến lịch sử ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Ngân hàng, khái niệm về ngân hàng số, các cơ hội và thách thức liên quan đến việc triển khai Ngân hàng số, các lợi ích của Ngân hàng số mang lại, các sản phẩmdịch vụ của Ngân hàng số trên Thế giới và thực tế tại Việt Nam.
Trang 1CHƯƠNG 3: NGÂN HÀNG SỐ TRONG THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Thông qua việc tìm hiểu học phần Công nghệ số trong hoạt động Ngân hàng, các học viên sẽ tìm hiểu rõ hơn về Ngân hàng số trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.
Nội dung Chương 3 tập trung vào việc trình bày chi tiết các nội dung liên quan đến lịch sử ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Ngân hàng, khái niệm về ngân hàng số, các cơ hội và thách thức liên quan đến việc triển khai Ngân hàng số, các lợi ích của Ngân hàng số mang lại, các sản phẩm/dịch vụ của Ngân hàng số trên Thế giới và thực tế tại Việt Nam.
3.1 Lịch sử ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành ngân hàng
Có thể nói, chưa bao giờ sự thay đổi trong xu hướng mua sắm, tiêu dùng, thanhtoán, du lịch, đi lại… diễn ra nhanh và mạnh mẽ như thời gian 3 năm trở lại đây.Nền kinh tế chia sẻ đã thực sự lan tỏa, ảnh hưởng và thay đổi thói quen, cách sốngcủa hầu hết mọi người Các ứng dụng công nghệ đã len lõi vào trong từng ngócngách của cuộc sống, trong hầu hết các ngành nghề và lĩnh vực mà bất kỳ một sựchậm chân nào trong thời gian ngắn có thể sẽ dẫn đến một sự tụt hậu rất xa Ngànhngân hàng ở Việt Nam và thế giới, vẫn thường được mặc định phải là một trongnhững ngành đi đầu trong ứng dụng công nghệ nhằm đáp ứng xu hướng thay đổi đó.Tuy nhiên, sự đầu tư tốn kém này không phải mặc nhiên xảy ra mà luôn tồn tạinhững khó khăn không dễ vượt qua về hạ tầng hiện hữu, tài chính, con người.Những phân tích trong bài viết này sẽ giúp nhìn rõ hơn những khó khăn đó và xuhướng ứng dụng công nghệ của ngành Ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới
Xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành ngân hàng thế giới
Có thể nói, nghiên cứu của Capgemini (2016) đã chỉ ra một cách đầy đủ cáchướng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) của hệ thống ngân hàng toàn cầutrong hiện tại và tương lai gần Đó cũng chính là những chuyển biến đang diễn ratrong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam
Trang 2Hình 3.1: Xu hướng ứng dụng Công nghệ thông tin trong ngành Ngân hàng
Nguồn: Capgemini (2016)
Các xu hướng chi tiết mà Capgemini (2016) chỉ ra về sự chuyển động của CNTTtrong hệ thống ngân hàng thế giới có thể tóm lược như sau:
Đầu tiên, đó là sự gia nhập của các công ty fintech, trở thành đối thủ, đồng thời
cũng là đối tác của các NHTM trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng áp dụngcông nghệ cao cho khách hàng Bằng lợi thế về công nghệ, cộng với sự đầu tư mạnh
Sự gia nhập của Công ty Fintech
Gia tăng sử dụng dịch vụ đám mây đối với các hoạt động cốt lõi
Đầu tư vào các giải pháp Core để chuyển đổi hệ thống cũ
Tiếp tục thúc đẩy các công nghệ số để gia tăng các trải nghiệm của KH Đầu tư vào Blockchain để phục vụ cho đa chiều phân tích, quản trị
Thực hiện các phân tích chuyên sâu (Big Data, ) Đẩy mạnh các chương trình tiếp cận tài chính
Thống nhất công tác Quản trị rủi ro
Đầu tư vào hệ thống bảo mật
Nâng cao vị thế cạnh tranh thông qua đầu tư vào công nghệ
Trang 3mẽ (theo KPMG, trong quý 1/2018, đầu tư toàn cầu vào các công ty fintech đã lênđến 57,9 tỷ đô la Mỹ với 875 thương vụ), các công ty fintech đang dần trở nên quenthuộc với khách hàng chủ yếu thông qua dịch vụ cho vay P2P (kết nối trực tuyếnngười đi vay với người cho vay) và dịch vụ thanh toán Fintech đang trở thành một
từ khóa “hot” trên phạm vi Việt Nam và cả trên toàn cầu
Thứ hai là việc gia tăng sử dụng công nghệ đám mây đối với các dịch vụ cốt lõi
để thay thế cho công nghệ lưu trữ truyền thống Xu hướng này đã trở nên rõ ràngtrong ngành ngân hàng thế giới những năm gần đây, giúp các NHTM tiết kiệm đượcnhiều chi phí, mặt bằng, cũng như tăng cường tính bảo mật trong việc lưu trữ vàquản lý dữ liệu
Thứ ba là đầu tư và nâng cấp hệ thống Core banking (phần mềm ngân hàng lõi),
công nghệ bảo mật, hệ thống quản lý rủi ro cũng là yêu cầu bắt buộc trong điều kiệncác dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, hiện đại trong một môi trường ngày càngbất trắc Khác với nhiều doanh nghiệp, Core banking là ứng dụng bắt buộc với mỗingân hàng, tuy nhiên việc đầu tư này không diễn ra một lần mà phải liên tục đượcnâng cấp Hiện thời gian giữa các lần nâng cấp Core banking đang bị rút ngắn bởi
sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ tài chính mà ngân hàng cung cấp, sự giatăng về khối lượng giao dịch cũng như yêu cầu về ghi nhận dữ liệu phục vụ choviệc tính toán các tỷ lệ an toàn, hay cho việc ra các quyết định quản trị, điều hànhcủa ban lãnh đạo
Thứ tư, công nghệ sổ cái (General Ledger - GL) và data mining cùng các phân
tích chuyên sâu trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển dàihạn là một xu hướng rất mới của hệ thống ngân hàng trên thế giới Đầu tư theohướng này sẽ giúp các NHTM ghi nhận một cách chi tiết, đầy đủ các dữ liệu màNHTM muốn có về giao dịch, thói quen, hành vi khách hàng…để qua đó biến các
dữ liệu này trở thành nguồn thông tin hữu ích cho ngân hàng trong việc đánh giá,phân tích hành vi của khách hàng nhằm đưa ra các kế hoạch, chiến lược kinh doanhmột cách thích hợp, hiệu quả
Trang 4Thứ năm, sự đầu tư vào hệ thống CNTT của ngân hàng không thể không kể đến
mục tiêu gia tăng các tiện ích để nâng cao sức cạnh tranh, thúc đẩy các công nghệ
số để gia tăng các trải nghiệm của khách hàng cũng như thúc đẩy các chương trìnhtiếp cận khách hàng một cách sâu rộng Nhờ đó, các NHTM ngày càng đa dạng hóacác dịch vụ theo hướng mang lại cho khách hàng sự trải nghiệm ngày càng mới mẻ,tiện ích và hiện đại
Những khó khăn trong việc ứng dụng CNTT vào hệ thống ngân hàng
Nhiều ngân hàng không sẵn sàng đầu tư vào hệ thống CNTT Có một thực tế làvai trò của CNTT đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng rất mờ nhạt, thậm chínhiều nghiên cứu cho thấy việc đầu tư mạnh vào CNTT không mang lại hiệu quảtrong hoạt động kinh doanh cho ngân hàng, nói cách khác CNTT không giúp ngân
hàng hoạt động hiệu quả hơn nhưng chi phí tăng cao thì được thấy rất rõ Nghiên
cứu của Hội đồng tư vấn kinh tế của Tổng thống Mỹ năm 2001, nghiên cứu củaCông ty MacKinsey toàn cầu năm 2001 cho thấy CNTT có mối quan hệ rất yếu,thậm chí không tồn tại với kết quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng Mỹ Cácnghiên cứu của Solow (1987) và Jorgenson & Stiroh (1995) cũng đi đến kết luận
“ngày nay, bạn có thể thấy thời đại của máy tính ở bất cứ đâu, trừ trong các thống
kê về năng suất” Bên cạnh đó, nghiên cứu của Beccalli (2007) đối với 737 ngânhàng ở châu Âu cũng cho thấy không có mối quan hệ giữa đầu tư cho CNTT vàhiệu quả hoạt động của ngân hàng, hơn nữa nghiên cứu còn chỉ ra các khoản đầu tưcho phần mềm và phần cứng sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động, nhưng đầu tư cho cácnhà cung cấp bên ngoài (tư vấn, đào tạo, dịch vụ hỗ trợ…) thì có thể có hiệu quảcao
Vì vậy, rất khó để thuyết phục giám đốc tài chính và tổng giám đốc một ngânhàng thực hiện các thương vụ đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng và ứng dụng CNTT khi
mà việc đầu tư này không thể đánh giá bằng hiệu quả Hơn nữa, những khoản đầu
tư cho hệ thống CNTT thường là những khoản đầu tư lớn
Bên cạnh đó, các nguồn lực về con người và hạ tầng chưa đáp ứng được cho
việc cải tiến Đầu tư cho hệ thống CNTT cần có lộ trình dựa trên cơ sở hạ tầng, con
Trang 5người và các nguồn lực hiện hữu Tuy nhiên, nhiều ngân hàng hiện có hạ tầngCNTT còn khá lạc hậu (hầu hết tất cả các số liệu cần thiết cho việc báo cáo, quảntrị, điều hành hàng ngày hiện vẫn phải tập hợp, tính toán thủ công), trở thành tháchthức khi muốn tận dụng ngay những tiến bộ, những thành tựu mới nhất của côngnghệ thế giới Do đó, đã có NHTM tại Việt Nam thất bại trong việc triển khai côngnghệ sổ cái và phần mềm quản lý nguồn lực (ERP).
Một nguyên nhân khác là thiếu hụt khung pháp lý cho việc ứng dụng CNTT
trong hệ thống ngân hàng Ứng dụng điện toán đám mây trong lưu trữ và quản lý dữliệu đã trở thành một xu hướng từ lâu thì ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước(NHNN) hiện vẫn chưa có một hướng dẫn riêng, cụ thể nào về việc cho phép cácngân hàng sử dụng công nghệ này Đến tháng 8/2018 thì NHNN mới ban hànhThông tư 18/2018/TT-NHNN quy định về an toàn hệ thống thông tin trong hoạtđộng ngân hàng, trong đó chỉ một phần nhỏ đề cập về điện toán đám mây Kết quả
là cho đến nay, toàn hệ thống ngân hàng chỉ có VietAbank, một ngân hàng nhỏ,triển khai dịch vụ điện toán đám mây do họ tự xây dựng (private cloud)
Những chuyển biến trong áp dụng CNTT của hệ thống NHTM Việt Nam thời gian gần đây
Những thống kê về mức độ sẵn sàng ứng dụng CNTT trong hệ thống ngân hàngViệt Nam cho thấy kết quả không mấy khả quan Ngoài chỉ tiêu 100% các NHTM
đã triển khai hệ thống Core banking thì các chỉ tiêu khác phản ánh khả năng ứngdụng CNTT như quản lý rủi ro chỉ đạt 59,4%, hay chỉ 43,8% ngân hàng đạt chứngchỉ về an toàn thông tin, triển khai hệ thống CRM (Customer RelationshipManagement) chỉ đạt 53,1%, còn ERP chỉ 50%
Những dịch vụ cơ bản của internet banking như gửi tiền tiết kiệm online, thanhtoán hóa đơn, hay SMS banking thì nhiều NHTM Việt Nam vẫn chưa thực hiệnđược Điều đó cho thấy mức độ ứng dụng CNTT trong hệ thống Ngân hàng ViệtNam hiện còn nhiều hạn chế
Trang 6Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của
các NHTM Việt Nam
1 Tỷ lệ Ngân hàng đạt chứng chỉ về an toàn thông tin 27,6 43,8
2 Tỷ lệ Ngân hàng đã triển khai Core banking 100,0 100,0
3 Mức độ tự động hóa khi xử lý các giao dịch của hệ thống
4 Triển khai hệ thống quản lý quan hệ khách hàng (CRM) 48,3 53,1
9 Chi trả lương nhân viên Online cho khách hàng doanh
Nguồn: Báo cáo Vietnam ICT Index (2017)
Đầu tư nâng cấp hệ thống Core banking là nhu cầu đặt ra đối với nhiều NHTMViệt Nam hiện nay nhằm gia tăng tỷ lệ tự động hóa, rút ngắn thời gian thực hiện cácgiao dịch, mở rộng dịch vụ, mạng lưới, cũng như ghi nhận ngày càng chi tiết cácthông tin liên quan đến giao dịch của khách hàng cho mục đích quản trị, điều hành.Trong vòng mấy năm gần đây, nhiều NHTM đã phải nâng cấp hệ thống Corebanking của mình nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển như ACB, TCB (2014), MSB(2016), LVPB, Vietinbank (2017), SCB, Sacombank, ABBank, EIB (2018)…
Đầu tư vào hệ thống bảo mật cũng là một xu hướng bắt buộc của hệ thống ngânhàng Việt Nam hiện nay, phù hợp với xu hướng mà Capgemini (2016) đã chỉ ra, đặcbiệt là với hoạt động thẻ, thanh toán trực tuyến Ngày 31/3/2017, NHNN đã cóQuyết định số 630/QĐ-NHNN về việc áp dụng các giải pháp về an toàn bảo mậttrong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng, trong đó từ 01/01/2019 các
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán trên mạng Internet phảitriển khai áp dụng các giải pháp xác thực bảo đảm an toàn tùy theo hạn mức giaodịch, trong đó những giao dịch lớn hơn 100 triệu đồng đã phải dùng các biện pháp
có bảo mật cao như Soft OTP (là phần mềm được cài đặt trên các thiết bị như điện
Trang 7thoại di động, máy tính bảng, máy vi tính, để cung cấp mật khẩu sử dụng một lầnkhi sử dụng các ứng dụng trực tuyến), xác thực bằng dấu hiệu nhận dạng sinh trắchọc…
Đầu tư vào công nghệ sổ cái (General Ledger - GL) cũng được một số NHTMViệt Nam triển khai như LVPB, Vietinbank, SCB, ACB…nhằm ghi nhận một cáchchi tiết các giao dịch (các chiều đơn vị, tài khoản, khách hàng, sản phẩm, phòngban…) phục vụ cho mục tiêu phân tích đa chiều hiệu quả, thu nhập, chi phí, lợinhuận… theo yêu cầu quản trị, điều hành Đầu tư vào hệ thống này, dữ liệu của hệthống ngân hàng sẽ được ghi nhận một cách chi tiết theo các chiều mà ngân hàngmong muốn, từ đó xây dựng hệ thống báo cáo quản trị đa chiều, chi tiết đến từngsản phẩm, là cơ sở quan trọng để ban lãnh đạo có thể đưa ra những quyết định mangtính chính xác cao
3.2 Ngân hàng số là gì?
3.2.1 Khái niệm về Ngân hàng số
Ngân hàng số (Digital Banking) đang được coi là xu thế phát triển của các ngânhàng thương mại hiện nay Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng côngnghệ 4.0, các ngân hàng có nhiều cơ hội tiếp cận và mở rộng cung ứng các sảnphẩm, dịch vụ ngân hàng phù hợp đến người dân
Bên cạnh đó, để thực hiện Quyết định 2545/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủphê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn
2016 – 2020 thì việc phát triển ngân hàng số là điều rất cần thiết
“Mục tiêu tổng quát của Quyết định 2545/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn
2016 – 2020:
Tạo sự chuyển biến rõ rệt về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh
tế, làm thay đổi dần tập quán sử dụng các phương tiện thanh toán trong xã hội, giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt, giảm tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông tính trên GDP, tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán.
Trang 8 Đảm bảo an ninh, an toàn và hiệu quả hoạt động của các hệ thống thanh quyết toán, các dịch vụ, phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt; tạo lập cơ chế hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.
Thúc đẩy việc sử dụng thanh toán điện tử, giảm sử dụng tiền mặt trong các giao dịch thanh toán giữa cá nhân, doanh nghiệp và Chính phủ.
Nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, minh bạch hóa các hoạt động thanh toán trong nền kinh tế và thu nhập cá nhân trong xã hội, góp phần vào công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và tội phạm kinh tế”
Tuy nhiên, việc phát triển ngân hàng số sẽ gặp không ít các khó khăn và thửthách đối với ngành ngân hàng nói riêng và lĩnh vực tài chính nói chung Do đó,việc tìm hiểu và nắm bắt thuật ngữ Ngân hàng số hiện nay là điều rất cần thiết
Digital Banking hay ngân hàng số là ngân hàng có thể thực hiện hầu hết các
giao dịch ngân hàng bằng hình thức trực tuyến thông qua internet Sự thay đổi từngân hàng truyền thống sang ngân hàng số đã dần dần và vẫn đang tiếp diễn, vàđược cấu thành bởi các mức độ khác nhau của số hóa dịch vụ ngân hàng Ngân hàng
số liên quan đến mức độ cao của việc tự động hóa quy trình và dịch vụ dựa trênweb Nó cung cấp khả năng cho người dùng truy cập dữ liệu tài chính thông qua cáccông cụ như máy tính để bàn, di động và máy ATM (Sharma & Gaurav, 2017).Ngân hàng số đại diện cho một quy trình ảo bao gồm ngân hàng trực tuyến vàhơn thế nữa Nó là một nền tảng đầu cuối, ngân hàng số phải bao gồm mặt trước,nơi mà người tiêu dùng nhìn thấy, mặt sau, nơi mà nhân viên ngân hàng nhìn thấythông qua máy chủ và bảng điều khiển, các nhà quản trị viên và các phần mềmtrung gian kết nối các nút này Cuối cùng, một ngân hàng số sẽ có tất cả các chứcnăng của một ngân hàng thông thường Nói cách khác, nó nên có tất cả các chứcnăng giống như một trụ sở chính, văn phòng, chi nhánh, dịch vụ trực tuyến, thẻngân hàng, ATM và các điểm bán hàng (Sharma & Gaurav, 2017)
Ngân hàng số là một thuật ngữ chung để phân phối các dịch vụ và sản phẩm ngânhàng/tài chính thông qua các kênh điện tử, chẳng hạn như Máy rút tiền tự động
Trang 9(ATM), điện thoại, internet, phương tiện truyền thông xã hội (Facebook, Twitter,Insg, Zalo,…), điện thoại di động, v.v đang dần mở rộng Tự do hóa nền kinh tế đãtạo ra một nền văn hóa cạnh tranh đã đưa ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành ngânhàng vào cơn bão Ngành ngân hàng đã là xương sống của mọi nền kinh tế mới nổi.
Nó có kế hoạch và thực hiện các nhiệm vụ để cải cách nền kinh tế Bất kỳ thay đổinào trong lĩnh vực ngân hàng thông qua việc áp dụng công nghệ sẽ có tác động sâurộng đến tăng trưởng của nền kinh tế Sự tiến bộ của công nghệ thu thập, lưu trữ, xử
lý và truyền tải thông tin đã tác động đến tất cả các khía cạnh của hoạt động ngânhàng (Sony, 2012)
Ngân hàng số có nghĩa là bất kỳ người dùng nào có máy tính cá nhân và trìnhduyệt có thể được kết nối với trang web hoặc ứng dụng di động của ngân hàng củamình để thực hiện bất kỳ chức năng ngân hàng ảo nào Ngân hàng số là thuật ngữbiểu thị và bao gồm toàn bộ lĩnh vực sáng kiến công nghệ đã diễn ra trong ngànhngân hàng Ngân hàng số là một thuật ngữ chung sử dụng các kênh điện tử thôngqua điện thoại, điện thoại di động, internet, v.v… để cung cấp các dịch vụ và sảnphẩm ngân hàng Khái niệm và phạm vi của ngân hàng số vẫn đang trong giai đoạnchuyển tiếp Ngân hàng số đã phá vỡ các rào cản của ngân hàng truyền thống (Lal
& Saluja, 2012)
Thuật ngữ Ngân hàng số hay ngân hàng kỹ thuật số trực tuyến bao gồm máy tính
và ngân hàng điện thoại di động/điện thoại Hệ thống của ngân hàng được cập nhậtngay lập tức sau mỗi giao dịch tự động Ngân hàng số được định nghĩa thêm là việccung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cho khách hàng thông qua các kênhđiện tử Nó không liên quan đến bất kỳ trao đổi vật chất nào về tiền vì tất cả cácgiao dịch được thực hiện bằng điện tử từ tài khoản này sang tài khoản khác thôngqua internet Ngân hàng số bao gồm các hệ thống cho phép khách hàng, cá nhânhoặc doanh nghiệp của tổ chức tài chính truy cập vào tài khoản bất cứ lúc nào và từbất kỳ nơi nào trên thế giới và làm như vậy khi bạn có thời gian chứ không phải khingân hàng mở (Nirala & Pandey, 2015) Ngân hàng số còn được gọi là Ngân hàngtại nhà hoặc Ngân hàng ảo, nó bao gồm nhiều hoạt động ngân hàng khác nhau có
Trang 10thể được thực hiện từ bất cứ đâu (Dheenadhayalan, 2010) Một khái niệm về ngânhàng số đó là một cấu trúc cao hơn bao gồm một loạt các dịch vụ ngân hàng đượccung cấp qua phương tiện điện tử, có thể qua điện thoại, PC, TV hoặc internet Do
đó, thuật ngữ E-bank bao gồm Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, ATM, ngân hàng Internet
Giống nhau: Đều có thể giao dịch và quản lý tài khoản trực tuyến một cách
nhanh chóng và tiện lợi
Khác nhau:
Hiên nay nhiều khách hàng còn chưa phân biệt rõ ràng và chính xác giữa DigitalBanking và Online Banking/E-Banking, hầu hết các ngân hàng hiện nay đều pháttriển theo hướng các dịch vụ thiêng về E-Banking gồm Internet Banking, MobileBanking…
Bảng 3.2: Sự khác biệt giữa ngân hàng số
và ngân hàng điện tử/ngân hàng trực tuyến
(Digital Banking)
Ngân hàng điện tử (Internet Banking)
- Internet Banking là mộttrong những loại hình ngânhàng trực tuyến, ngân hàngđiện tử của các ngân hàng.Phương
tiện hoạt
động
- Các giao dịch có thể được thựchiện thông qua các website và thiết
bị di động
- Cần có sự kết nối internetthông qua các thiết bị nhưđiện thoại, laptop, máy tínhChức năng - Rút tiền, chuyển tiền trong và ngoài
hệ thống của ngân hàng
- Chuyển tiền trong và ngoài
hệ thống của ngân hàng
Trang 11- Gửi tiết kiệm.
- Quản lý tài khoản
- Thanh toán hóa đơn
- Vay vốn
- Sử dụng dịch vụ tiện ích khác
- Gửi tiền tiết kiệm
- Truy vấn tài khoản
- Thanh toán các hóa đơn
Nguồn: Sharma và Gaurav (2017)
Không chỉ đơn giản là ngân hàng di động hay là ngân hàng trực tuyến bởi vìngân hàng số dựa vào các phần mềm trung gian trong việc hỗ trợ các giao dịch củakhách hàng được thực thi Các phần mềm trung gian đó là phần mềm giúp việc kếtnối các hệ điều hành hoặc cơ sở dữ liệu với các ứng dụng khác để các giao dịch củakhách hàng với ngân hàng diễn ra tốt nhật Song sóng với đó, các bộ phận hoạtđộng trong ngân hàng như quản lý rủi ro, phát triển sản phẩm và tiếp thị cũng phảiđược đưa vào giữa và cuối để hỗ trợ cho sự hoạt động của ngân hàng số đảm bảohoàn chỉnh nhất Tuy nhiên, một điều cần lưu ý rằng, các tổ chức tài chính phát triểnngân hàng số phải đảm bảo được tính an ninh và tuân thủ các quy định của chínhphủ như hoạt động của một ngân hàng thông thường (Sharma & Gaurav, 2017)
3.2.3 Cơ hội và thách thức liên quan đến triển khai Ngân hàng số
Cơ hội liên quan đến triển khai Ngân hàng số
- Cơ sở người dùng internet dự kiến sẽ đạt tới 120 tỷ vào năm 2020 với 70%người tiêu dùng thành thị đã sử dụng dịch vụ ngân hàng số (Boston ConsultancyGroup & Facebook, 2017)
- Đổi mới kỹ thuật số cũng sẽ cho phép tạo cơ sở hạ tầng cho các công nghệgần đây như Bitcoin và Công nghệ chuỗi khối phát triển mạnh mẽ hơn (BostonConsultancy Group & Facebook, 2017)
- Các nền tảng trực tuyến như Facebook, Amazon, Twitter và nhiều nền tảngkhác, dự kiến sẽ tham gia vào ngành thanh toán bán lẻ kỹ thuật số Họ dự kiến sẽtận dụng cơ sở thuê bao của mình để cung cấp dịch vụ thanh toán kỹ thuật số (CutsInternational, 2017)
Thách thức liên quan đến triển khai Ngân hàng số
Trang 12- Kết nối Internet và một thiết bị thông minh như điện thoại di động, máy tínhbảng hoặc máy tính cá nhân là điều kiện tiên quyết để sử dụng các dịch vụ này(Boston Consultancy Group & Facebook, 2017).
- Bảo mật thông tin của người dùng là một vấn đề đáng quan tâm kể từ khi bắtđầu giao dịch điện tử và điều này có thể cản trở việc áp dụng của khách hàng(Boston Consultancy Group & Facebook, 2017)
- Các khách hàng thích các hệ thống ngân hàng truyền thống và những ngườikhông am hiểu về công nghệ sẽ dễ gặp khó khăn khi sử dụng ngân hàng số Theomột báo cáo về Encashing on Digital: Financial Services thì vào năm 2020, 33%dân số sẽ không sử dụng ngân hàng số vì họ thấy phức tạp để hiểu và vận hành(Boston Consultancy Group & Facebook, 2017)
- Có đến 23% dân số cảm thấy rằng các dịch vụ ngân hàng số thiếu sự minhbạch vì chứa đựng nhiều chi phí giao dịch ẩn (Boston Consultancy Group &Facebook, 2017)
3.2.4 Các lợi ích của ngân hàng số
Các lợi ích của ngân hàng số đối với hoạt động ngân hàng:
Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2015 cho thấy 47% nhân viên ngânhàng nhìn thấy tiềm năng cải thiện mối quan hệ khách hàng thông qua ngân hàng
số, 44% coi đó là phương tiện để tạo ra lợi thế cạnh tranh, 32% là kênh để thu hútkhách hàng mới và chỉ có 16% nhấn mạnh tiềm năng tiết kiệm chi phí (Ginovsky &John, 2017)
Theo Sharma và Gaurav (2017); Dias và cộng sự (2017), lợi ích chính của ngânhàng số là:
- Hiệu quả kinh doanh: Không chỉ các nền tảng kỹ thuật số giúp cải thiện sựtương tác với khách hàng và cung cấp nhu cầu của khách hàng nhanh hơn, ngânhàng số còn cung cấp các phương pháp để giúp hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn
- Tiết kiệm chi phí: Một trong những chìa khóa để các ngân hàng cắt giảm chiphí là các ứng dụng tự động thay thế lao động thủ công dư thừa Theo Sharma vàGaurav (2017); Dias và cộng sự (2017) cho biết, xử lý ngân hàng truyền thống rấttốn kém, chậm và dễ bị lỗi của con người Dựa vào người và giấy cũng chiếmkhông gian văn phòng, làm tăng chi phí năng lượng và lưu trữ Các nền tảng kỹ
Trang 13thuật số trong tương lai có thể giảm chi phí thông qua sự phối hợp của dữ liệu địnhtính hơn và phản ứng nhanh hơn với những thay đổi của thị trường.
- Tăng độ chính xác: Các ngân hàng truyền thống chủ yếu dựa vào xử lý giấy
có thể có tỷ lệ lỗi lên tới 40%, đòi hỏi phải làm lại Cùng với việc thiếu tích hợpcông nghệ thông tin giữa nhân viên chi nhánh và văn phòng, vấn đề này làm giảmhiệu quả kinh doanh Bằng cách đơn giản hóa quy trình xác minh, việc triển khaicác giải pháp công nghệ thông tin với phần mềm kinh doanh sẽ dễ dàng hơn, dẫnđến kế toán chính xác hơn Độ chính xác tài chính là rất quan trọng để các ngânhàng tuân thủ các quy định của chính phủ
- Cải thiện khả năng cạnh tranh: Các giải pháp kỹ thuật số giúp việc tiếp thị tốthơn, cho phép các ngân hàng tiếp cận thị trường rộng lớn hơn và xây dựng mốiquan hệ gần gũi hơn với người tiêu dùng am hiểu công nghệ Ngân hàng số có thểtheo dõi lịch sử khách hàng và cung cấp quyền truy cập nhanh vào email và cáchình thức giao tiếp trực tuyến khác
- Nhanh nhẹn hơn: Việc sử dụng tự động hóa có thể tăng tốc cả quy trình bênngoài và bên trong, cả hai đều có thể cải thiện sự hài lòng của khách hàng Sau sựsụp đổ của thị trường tài chính năm 2008, một sự nhấn mạnh gia tăng được đặt vàoquản lý rủi ro Thay vì các ngân hàng tuyển dụng và đào tạo các chuyên gia quản lýrủi ro, phần mềm quản lý rủi ro có thể phát hiện và ứng phó với các thay đổi thịtrường nhanh hơn so với các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm
- Tăng cường bảo mật: Tất cả các doanh nghiệp lớn hay nhỏ đều phải đối mặtvới một số mối đe dọa mạng ngày càng tăng có thể gây tổn hại đến danh tiếng Vớiứng dụng kỹ thuật trong ngân hàng số, các ngân hàng có thể được hưởng lợi từ cáchình thức bảo mật để bảo vệ dữ liệu
Các lợi ích của ngân hàng số đối với khách hàng:
Theo Sharma và Gaurav (2017), đối với khách hàng, lợi ích của dịch vụ ngânhàng số là rõ ràng hơn Người tiêu dùng ngày nay đã quen với việc tiêu thụ sảnphẩm và dịch vụ trực tuyến và họ sẽ chỉ rất vui nếu nhiều công việc của họ liênquan đến ngân hàng có thể được số hóa và tự động hóa Các lợi ích ngân số mnaglại như:
Trang 14- Nhiều lựa chọn hơn: Khi các ngân hàng áp dụng kỹ thuật số, khách hàng sẽ
có được lợi thế là có sự lựa chọn để dễ dàng chuyển đổi các dịch vụ cũng như nhàcung cấp dịch vụ mà họ muốn Điều này không có nghĩa là ngân hàng sẽ trở thànhhàng hóa, vì vẫn còn đủ các yếu tố khác biệt để phân tách một nhà cung cấp dịch vụnày với một nhà cung cấp dịch vụ khác
- Dễ sử dụng: Các sản phẩm kỹ thuật số rõ ràng cũng dễ sử dụng hơn, khôngcần phải đến thăm một chi nhánh và gửi tài liệu hoặc đặt chữ ký của bạn trên cácmẫu đơn và gửi hồ sơ đến ngân hàng Tất cả mọi thứ có thể được thực hiện trựctuyến, giống như đặt vé máy bay
- Lợi thế về chi phí: Vì việc chuyển đổi kỹ thuật số sẽ tiết kiệm cho các ngânhàng một khoản tiền đáng kể, nên các khách hàng cũng sẽ được giảm thiểu các chiphí liên quan đến các giao dịch của họ
Tại Việt Nam, việc phát triển ngân hàng số đã và sẽ đem lại những tích cực như:
Với sự hình thành và phát triển của ngân hàng số đã giúp cho ngành ngân hàng
có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng mọi lúc, mọi nơi Bên cạnh đó, ngân hàng
số còn giúp ích ngân hàng trong việc giảm thiểu số lượng hồ sơ, thủ tục không cầnthiết, tiết giảm chi phí trong việc lưu trữ, rút ngắn thời gian trong việc giải quyết cácyêu cầu của khách hàng, đảm bảo tính minh bạch, chuyên nghiệp và hiệu quả hơn
so với ngân hàng truyền thống
Hơn bao giờ hết, việc phát triển các dịch vụ của ngân hàng số giúp cho việc đápứng các nhu cầu của khách hàng ở các vùng xâu, vùng xa ngày càng được nâng cao,nhanh chóng và tiện lợi hơn, điều này đi đúng hướng của Thủ tướng Chính phủtrong việc thực hiện Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Namgiai đoạn 2016 – 2020 theo Quyết định 2545/QĐ-TTg
3.3 Các sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng số
3.3.1 Các sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng số
Máy rút tiền tự động (ATM)
Máy rút tiền tự động (ATM) là một thiết bị điện tử cho phép khách hàng củangân hàng/tổ chức tài chính thực hiện các giao dịch tài chính, đặc biệt là rút tiền
Trang 15mặt, mà không cần cho một nhân viên thu ngân, nhân viên tín dụng hoặc giao dịchviên ngân hàng nào Các chức năng khác được thực hiện bởi ATM là ký gửi séc, inbiên lai, truy vấn số dư, tạo mã PIN, in Sổ tiết kiệm, chuyển tiền,… (Sharma &Piplani, 2017).
Dịch vụ thanh toán bù trừ điện tử (ECS)
Dịch vụ thanh toán bù trừ điện tử (ECS) là một chế độ điện tử để tạo thuận lợicho hoạt động liên ngân hàng, thanh toán khối lượng lớn và các giao dịch biên nhận
có tính chất lặp đi lặp lại và định kỳ Các dịch vụ này được các tổ chức sử dụng đểthanh toán hàng loạt các khoản tiền lãi, tiền lương, tiền lương hưu, phân chia cổ tức,v.v hoặc để thu số lượng lớn tiền điện thoại, tiền điện, tiền nước, thu thuế, trả gópvay, đầu tư định kỳ vào các quỹ, phí bảo hiểm,… Về cơ bản, ECS tạo điều kiệnchuyển tiền số lượng lớn từ một tài khoản ngân hàng sang nhiều tài khoản ngânhàng hoặc ngược lại Chủ yếu, có hai biến thể của ECS là ECS Credit và ECS Debit(Sharma & Piplani, 2017)
- ECS Credit được sử dụng bởi một tổ chức để cung cấp tín dụng cho một sốlượng lớn người thụ hưởng (ví dụ: nhân viên, nhà đầu tư, v.v.) có tài khoản với cácchi nhánh ngân hàng tại nhiều địa điểm khác nhau ECS Credit cho phép thanh toán
số tiền theo phân phối cổ tức, tiền lãi, tiền lương, lương hưu, v.v…, của tổ chứcngười dùng Các giao dịch ECS Credit bao gồm cả giao dịch quỹ điện tử quốc gia(Sharma & Piplani, 2017)
- ECS Debit được sử dụng bởi một tổ chức để tăng các khoản nợ cho một sốlượng lớn tài khoản (ví dụ: người tiêu dùng dịch vụ tiện ích, người vay, nhà đầu tưvào quỹ tương hỗ, v.v…) được duy trì với các chi nhánh ngân hàng tại nhiều địađiểm ECS Debit rất hữu ích cho việc thanh toán hóa đơn điện thoại/điện/nước, thunợ/thu thuế, trả nợ vay, đầu tư định kỳ vào quỹ tương hỗ, bảo hiểm, v.v., có tínhchất định kỳ hoặc lặp đi lặp lại và phải trả cho tổ chức người dùng theo số lượng lớncủa khách hàng, v.v… (Sharma & Piplani, 2017)
Ứng dụng hỗ trợ dịch vụ thanh toán bù trừ (NACH)
Ứng dụng hỗ trợ dịch vụ thanh toán bù trừ NACH là một hệ thống tập trung,được ra mắt với mục đích củng cố nhiều hệ thống NACH chạy trên cả nước và cung
Trang 16cấp một khuôn khổ cho việc hài hòa các tiêu chuẩn và thực hành và loại bỏ các ràocản không cần thiết Hệ thống NACH sẽ cung cấp một quy trình và dự kiến sẽ baogồm toàn bộ ngân hàng cốt lõi cho phép các chi nhánh ngân hàng của cả đất nướcbất kể vị trí của chi nhánh ngân hàng Hệ thống NACH có thể được sử dụng để thựchiện các giao dịch hàng loạt theo hướng phân phối trợ cấp, cổ tức, tiền lãi, tiềnlương, tiền lương hưu,… và cho phép thực hiện các giao dịch hàng loạt đối với việcthu các khoản thanh toán liên quan đến điện thoại, điện, nước, cho vay, đầu tư vàoquỹ tương hỗ, bảo hiểm, v.v (Sharma & Piplani, 2017).
Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ
Các sản phẩm/dịch vụ này thúc đẩy mua hàng không dùng tiền mặt, tức là chophép khách hàng mua hàng hóa mà không cần giữ tiền mặt Thẻ tín dụng cho phépkhách hàng vay tiền trong giới hạn đã được tổ chức tín dụng/ngân hàng thông qua
và chịu một số tiền lãi nhất định cho số tiền đang được sử dụng để mua của kháchhàng Tuy nhiên, thẻ ghi nợ được liên kết trực tiếp với tài khoản khách hàng và tiềnđược ghi nợ tự động từ tài khoản khách hàng trong mỗi lần mua (Sharma & Piplani,2017)
Dịch vụ thanh toán tức thời (IMPS)
Dịch vụ thanh toán tức thời (IMPS) là một hệ thống chuyển tiền điện tử liên ngânhàng thời gian thực tức thời IMPS cung cấp dịch vụ chuyển tiền điện tử liên ngânhàng qua điện thoại di động Không giống như các sản phẩm/dịch vụ chuyển tiềnkhác, dịch vụ này hoạt động 24/7 trong suốt cả năm kể cả ngày lễ ngân hàng Nóđược quản lý bởi Ngân hàng trung ương và được xây dựng dựa trên mạng lướichuyển đổi tài chính quốc gia hiện có Nó được ra mắt với các mục đích sau:
- Để cho phép khách hàng của ngân hàng sử dụng các công cụ di động nhưmột kênh để truy cập vào tài khoản ngân hàng của họ và chuyển tiền
- Thực hiện thanh toán đơn giản hơn chỉ với số điện thoại di động của ngườithụ hưởng
- Để xây dựng nền tảng cho một loạt các dịch vụ Ngân hàng dựa trên thiết bị
di động (Sharma & Piplani, 2017)
Trang 17Chuyển tiền điện tử quốc gia (NEFT)
Chuyển tiền điện tử quốc gia (NEFT) là một hệ thống thanh toán toàn quốc tạođiều kiện chuyển tiền một-một Theo đó, các cá nhân có thể chuyển tiền điện tử từbất kỳ chi nhánh ngân hàng nào cho bất kỳ cá nhân nào có tài khoản với bất kỳ chinhánh ngân hàng nào khác Các cá nhân, công ty hoặc doanh nghiệp duy trì tàikhoản với chi nhánh ngân hàng có thể chuyển tiền bằng NEFT Ngay cả những cánhân không có tài khoản ngân hàng cũng có thể gửi tiền mặt tại các chi nhánh có sự
hỗ trợ của NEFT với hướng dẫn chuyển tiền bằng NEFT Tuy nhiên, các khoảnchuyển tiền mặt như vậy sẽ bị giới hạn ở mức tối đa cho mỗi giao dịch Nhữngkhách hàng như vậy phải cung cấp đầy đủ thông tin chi tiết bao gồm địa chỉ đầy đủ,
số điện thoại, v.v… (Sharma & Piplani, 2017)
Công cụ thanh toán trả trước (PPI) - Ví di động và thẻ PPI
PPI là các công cụ thanh toán tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua hàng hóa vàdịch vụ, bao gồm các dịch vụ tài chính, chuyển tiền,…so với giá trị được lưu trữtrên các công cụ đó (Sharma & Piplani, 2017) PPI có thể được phát hành trongnước được phân loại theo ba loại:
(i) Hệ thống khép kín: Bao gồm các cá nhân, tổ chức nhằm tạo điều kiện thuậnlợi cho việc mua hàng hóa và dịch vụ từ một tổ chức nào đó mà chỉ áp dụng PPI.(ii) Hệ thống bán kín: Bao gồm các dịch vụ tài chính tại một nhóm các địađiểm/cơ sở thương mại được xác định rõ ràng có hợp đồng cụ thể với tổ chức pháthành để chấp nhận các công cụ thanh toán
(iii) Hệ thống mở: Bao gồm các dịch vụ tài chính như chuyển tiền tại bất kỳ địađiểm chấp nhận thẻ nào (điểm bán hàng) và cũng cho phép rút tiền mặt ngoài việc
áp dụng PPI và các công cụ thanh toán khác không chỉ có riêng PPI (Sharma &Piplani, 2017)
Ngân hàng di động
Đây là dịch vụ ngân hàng mà khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngânhàng và thu thập thông tin liên quan bằng điện thoại di động hoặc máy tính bảng,mọi lúc và mọi nơi mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào từ phía nhân viên ngân
Trang 18hàng Trong những năm đầu tiên thành lập, ngân hàng di động đã bị giới hạn sửdụng chỉ có dịch vụ tin nhắn (SMS) cho các dịch vụ ngân hàng Do đó, ban đầungân hàng di động cũng được gọi là SMS Banking (Bitner & cộng sự, 2000) Tuynhiên, với sự ra đời của những đổi mới công nghệ trong thiết bị di động, tức là điệnthoại thông minh cho phép các ngân hàng cung cấp nhiều dịch vụ ngân hàng diđộng hơn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Tất cả những gì khách hàng cần làm
là tải xuống và cài đặt ứng dụng di động của ngân hàng từ cửa hàng ứng dụng điệnthoại thông minh hoặc máy tính bảng của họ Sau đó, khách hàng có thể sử dụngcác ứng dụng này với ID khách hàng/tên người dùng và PIN/Mật khẩu duy nhất của
họ Ngân hàng di động cho phép khách hàng giống như mang một ngân hàng ảotrên thiết bị di động của họ Khách hàng sử dụng ứng dụng di động của ngân hàng
có thể tải xuống các báo cáo nhỏ, nhận thông báo về hoạt động tài khoản hoặc nhiềuchức năng khác như theo dõi tiền gửi có kỳ hạn, báo cáo cho vay, sao kê thẻ và theodõi tài sản bảo đảm, quản lý chính sách bảo hiểm, chuyển tiền giữa các khách hàng.Điều đáng chú ý là các tài khoản được liên kết với nhau và có thể thực hiện việcthanh toán hóa đơn, kiểm tra báo giá, nhận thông báo và thông báo tùy chỉnh về bảomật, kiểm tra tình trạng tín dụng, bao gồm phê duyệt thế chấp, bảo hiểm, các yêucầu việc sử dụng thẻ và nhận email từ phía ngân hàng gửi đến, gửi khiếu nại và theodõi tình trạng khiếu nại (Cuts International, 2017)
Giao diện thanh toán hợp nhất (UPI)
Đây là hình thức giao diện tài chính thuận tiện nhất được ra mắt vào ngày 23tháng 8 năm 2016 tại Ấn Độ mà nay nhiều nước đã áp dụng UPI cho phép chuyểntiền tức thì qua thiết bị di động mọi lúc mọi nơi Nó tạo điều kiện truy cập các tàikhoản ngân hàng khác nhau thông qua một ứng dụng di động hợp nhất một số tínhnăng ngân hàng và xác thực hai yếu tố nhấp chuột (tiêu chuẩn bảo mật được quyđịnh theo mỗi quốc gia) Mỗi ngân hàng đều có UPI riêng cho các hệ điều hànhkhác nhau như Android, iOS, Windows… (Shama, 2016)
Giao diện kiểm soát giao dịch (BHIM)
Trang 19Đây là một ứng dụng di động cung cấp việc kiểm soát các giao dịch thanh toánđơn giản, an toàn, nhanh chóng và đáng tin cậy bằng giao diện thanh toán hợp nhất.Vấn đề thanh toán thông qua ứng dụng cũng được thực hiện ngay lập tức và điềuchỉnh các nội dung thanh toán theo yêu cầu của mỗi khách hàng chỉ bằng số di động
và địa chỉ email (Sharma & Piplani, 2017)
Hệ thống thanh toán kích hoạt (AEPS)
Phương thức thanh toán này cho phép giao dịch tại mọi Điểm bán hàng có kếtnối Internet với mọi ngân hàng, bất kể ngân hàng của khách hàng hay không vẫnthực hiện được bằng cách sử dụng mã xác thực bởi AEPS Nó cho phép truy vấn số
dư, gửi/rút tiền mặt và chuyển khoản liên ngân hàng thông qua AEPS được liên kếtvới tài khoản ngân hàng Quá trình này giúp cho khách hàng không cần phải đemtheo tiền mặt khi đi mua sắm tại bất cứ địa điểm bán hàng nào (Sharma & Piplani,2017)
Hệ thống thanh toán hóa đơn (BBPS)
BBPS là một hệ thống thanh toán hóa đơn tích hợp và thống nhất Hệ thống nàycung cấp dịch vụ thanh toán hóa đơn tương thích cho khách hàng trực tuyến cũngnhư thông qua mạng lưới các đại lý ngoại tuyến Sẽ có nhiều chế độ thanh toánđược tạo điều kiện theo BBPS như Thẻ (Tín dụng, Ghi nợ và Trả trước), Chuyểnkhoản, Internet Banking, Ví điện tử thậm chí cả Tiền mặt Đối với mỗi giao dịch,xác nhận thanh toán ngay lập tức được thực hiện khi khách hàng hoàn thành giaodịch (Sharma & Piplani, 2017)
Giải pháp mã phản hồi nhanh (thông qua mã QR)
Đây là một giải pháp tương thích cho mã QR, được phát triển bởi các công ty thẻlớn như Master Card, Visa và American Express Người bán có thể hiển thị các mã
QR này tại cơ sở của họ và khách hàng có thể thanh toán qua tài khoản được liênkết bằng cách quét các mã QR này thông qua ứng dụng hỗ trợ mà tủy mỗi ngânhàng đã cài đặt Điều này giải phóng khách hàng khỏi sự căng thẳng của họ về thẻkhi không được chấp nhận tại một cửa hàng thương mại cụ thể (Sharma & Piplani,2017)
Trang 20Ngân hàng truyền thông xã hội
Một từ thông dụng mới trong lĩnh vực ngân hàng là Ngân hàng truyền thông xãhội Tất cả các ngân hàng lớn đều có trang Facebook và Twitter và đang sử dụng cácnền tảng truyền thông xã hội này để kết nối với khách hàng của họ Một nghiên cứucho thấy rằng các khách hàng yêu cầu sự hiện diện của ngân hàng của họ trên cácnền tảng truyền thông xã hội và các ngân hàng sẽ mất mát rất nhiều nếu họ chỉ biếtđến các giao dịch ngân hàng truyền thống Xu hướng ngân hàng truyền thông xã hộibắt đầu với các ngân hàng như Commonwealth Bank của Úc và Deniz Bank củaThổ Nhĩ Kỳ cung cấp cho khách hàng phương tiện để kiểm tra số dư tài khoản quaFacebook và thực hiện chuyển tiền cho bạn bè trên Facebook của họ Ấn Độ sau đócũng theo xu hướng này, với Ngân hàng Kotak Mahindra đã giới thiệu Hashtag
“#Banking”, điều này giúp khách hàng có thể chủ động liên kết với ngân hàngthông qua Twitter (Vig & cộng sự, 2017)
Sau đây, Bài giảng tiến hành đưa ra một vài ví dụ minh họa về một số sản phẩmngân hàng ứng dụng công nghệ số trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại ViệtNam hiện nay
Ví dụ minh họa tại Việt Nam
Minh họa một số sản phẩm ngân hàng ứng dụng công nghệ số
trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam hiện nay
Đến nay, rất nhiều ngân hàng ứng dụng công nghệ số từ cuộc cách mạng công nghiệp4.0 Dưới đây là một số ngân hàng thời kỳ đầu đưa ra những sản phẩm từ những ứngdụng của công nghệ số
(1) Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong (TPBank):
TPBank đã triển khai thành công gói e-Bank với những sản phẩm như InternetBanking, SMS Banking và Mobile Banking; tích hợp tính năng cơ bản là chuyển tiền,tra cứu tài khoản Ngoài ra
e-Bank còn có thể hoạt động như một ví điện tử với khả năng thanh toán hóa đơn,nạp tiền điện thoại, thanh toán dư nợ thẻ tín dụng, mua hàng trực tuyến, đặt lịch hẹn với