1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các yếu tố tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại việt nam

91 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, theo phương pháp định lượng, các biến đại diện cho lợi nhuận là ROA tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản, ROE tỷ lệ thu nhập trên tổng vốn chủ sở hữu; còn các biến độc lập bao gồm:

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

_

ĐOÀN THỊ THU HÀ

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

_

ĐOÀN THỊ THU HÀ

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐOÀN THANH HÀ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan rằng luận văn “Phân tích các yếu tố tác động đến lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại Việt Nam” này là bài nghiên cứu của chính tôi

Các thông tin, dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

Học viên

ĐOÀN THỊ THU HÀ

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2

1.1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng nghiên cứu 4

1.5 Phạm vi nghiên cứu 4

1.6 Phương pháp nghiên cứu 5

1.7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6

1.8 Bố cục của nghiên cứu 7

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9

2.1 Những lý luận liên quan đến đề tài 9

2.1.1 Lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 9

2.1.1.1 Khái niệm lợi nhuận 9

2.1.1.2 Ý nghĩa của việc đánh giá lợi nhuận 9

2.1.1.3 Cách xác định lợi nhuận của ngân hàng thương mại 11

Trang 5

a Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 11

b Tỷ số lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE) 12

2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại 13

a Quy mô ngân hàng (SIZE) 13

b Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) 14

c Tỷ lệ chi phí hoạt động (CIR) 15

d Tỷ lệ thanh khoản (LDR) 15

e Mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng (CONC) 16

f Tỷ lệ lạm phát (INF)) 16

g Mức độ phát triển của ngân hàng (ASSGDP) 16

2.2 Lược khảo các nghiên cứu về lợi nhuận của ngân hàng 17

Kết luận chương 2 19

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 20

3.1 Mẫu nghiên cứu 20

3.2 Các giả thiết của đề tài 21

3.2.1 Quy mô ngân hàng (SIZE) 21

3.2.2 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) 22

3.2.3 Tỷ lệ chi phí hoạt động (CIR) 22

3.2.4 Tỷ lệ thanh khoản (LDR) 23

3.2.5 Về mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng (CONC) 23

3.2.6 Tỷ lệ lạm phát (INF) 24

3.2.7 Về mức độ phát triển của ngân hàng (ASSGDP) 24

3.3 Phương pháp nghiên cứu 27

Trang 6

3.4 Dữ liệu nghiên cứu 30

Kết luận chương 3 31

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 32

4.1 Kết quả nghiên cứu 32

4.1.1 Thống kê mô tả dữ liệu 32

4.1.2 Kiểm định tự tương quan và đa cộng tuyến 40

4.1.3 Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình hồi quy của ROA 42

4.1.4 Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình hồi quy của ROE 45

4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 49

4.2.1 Yếu tố nội tại ngân hàng 49

4.2.2 Yếu tố vĩ mô 52

Kết luận chương 4 52

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH NHẰM NÂNG CAO LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Khuyến nghị và hàm ý chính sách 54

5.3 Hạn chế của đề tài 59

Kết luận chương 5 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

ASSGDP : Mức độ phát triển của ngân hàng

CIR : Tỷ lệ chi phí hoạt động

CONC : Mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng DPRR : Dự phòng rủi ro

FEM : Mô hình những ảnh hưởng cố định

GDP : Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm nội địa IMF : Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế

INF : Tỷ lệ lạm phát

LDR : Tỷ lệ thanh khoản

LLR : Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng

NHNN : Ngân hàng nhà nước

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

NIM : Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

Pooled OLS : Phương pháp bình phương nhỏ nhất

REM : Mô hình những ảnh hưởng ngẫu nhiên

ROA : Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản

ROE : Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu

Trang 8

SIZE : Quy mô ngân hàng

TCTD : Tổ chức tín dụng

TMCP : Thương mại cổ phần

VCSH : Vốn chủ sở hữu

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

VAMC : Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của

các Tổ chức tín dụng Việt Nam

Trang 9

Đồ thị 4.5 : Tỷ lệ chi phí hoạt động và tỷ lệ thanh khoản bình quân của các

NHTM Việt Nam giai đoạn 2010 – 2017

Đồ thị 4.6 :

Mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2010 – 2017

Đồ thị 4.7 : Tổng tài sản của các ngân hàng TMCP năm 2017

Đồ thị 4.8 : Tình hình lạm phát trong nước giai đoạn 2010-2017

Bảng 4.2 : Kiểm định mối tương quan

Bảng 4.3 : Kiểm định đa cộng tuyến

Bảng 4.4 : Kết quả mô hình Poll OLS của ROA

Bảng 4.5 : Kết quả mô hình tác động cố định của ROA

Bảng 4.6 : Kết quả mô hình tác động ngẫu nhiên của ROA

Bảng 4.7 : Kiểm định Hausman của ROA

Bảng 4.8 : Kiểm định Poll OLS của ROE

Bảng 4.9 : Kết quả mô hình tác động cố định của ROE

Bảng 4.10 : Kết quả mô hình tác động ngẫu nhiên của ROE

Bảng 4.11 : Kiểm định Hausman của ROE

Bảng 4.12 : Tổng hợp kết quả hồi quy

Trang 11

TÓM TẮT

Nội dung luận văn nghiên cứu các yếu tố tác động đến lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, với mẫu nghiên cứu là 22 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam giai đoạn từ 2010 đến 2017

Luận văn được thực hiện dựa trên việc kết hợp cả bằng phương pháp định tính và phương pháp định lượng Trong đó, theo phương pháp định lượng, các biến đại diện cho lợi nhuận là ROA (tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản), ROE (tỷ lệ thu nhập trên tổng vốn chủ sở hữu); còn các biến độc lập bao gồm: quy mô ngân hàng (Logarit tổng tài sản), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (Dự phòng rủi ro tín dụng/Dư nợ tín dụng), tỷ lệ chi phí hoạt động (Chi phí hoạt động/Thu nhập hoạt động), tỷ lệ thanh khoản (Tổng vốn chủ sở hữu/Tổng vốn huy động), mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng (Tổng tài sản của 05 ngân hàng lớn nhất/Tổng tài sản của tất cả các ngân hàng), tỷ lệ lạm phát, mức độ phát triển của ngân hàng ((Tiền gửi khách hàng/Tổng tài sản ngân hàng)/Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế)

Kết quả phân tích cho thấy quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều với ROE nhưng lại không có tác động đến ROA; tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động và tỷ lệ thanh khoản có tác động ngược chiều đến ROA, ROE; trong khi tỷ lệ lạm phát lại tác động cùng chiều đến ROA và ROE, mức độ phát triển của ngân hàng

và mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng có tác động ngược chiều đến ROA nhưng không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa mức độ phát triển của ngân hàng và mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng đến ROE

Trang 12

và các ngân hàng nước ngoài đã đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm về chất lượng trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM Việt Nam

Vì vậy các ngân hàng phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng dịch vụ của mình để đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh Để đánh giá hiệu quả hoạt động của 1 ngân hàng cần có rất nhiều tiêu chí, trong đó lợi nhuận là thước đo quan trọng nhất Việc xem xét, đánh giá các yếu tố tác động đến lợi nhuận sẽ không chỉ giúp các nhà quản trị, ban điều hành ngân hàng tìm ra những giải pháp kịp thời và hợp lý để hoàn thiện, củng cố và tăng cường lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam mà nó còn phục vụ cho việc ra quyết định của các nhà đầu tư hiện hữu, nhà đầu tư tiềm năng, khách hàng, … cũng như đối với NHNN lẫn các cơ quan chức năng khác

Trong thời gian vừa qua có rất nhiều ngân hàng công bố lợi nhuận ngàn tỷ đồng, bên cạnh đó cũng có một số ngân hàng có mức lợi nhuận thấp hơn khoảng vài trăm tỷ thậm chí có ngân hàng hoạt động không có lời Vậy yếu tố nào đã tạo nên khoảng cách khá lớn giữa các ngân hàng? Đã có rất nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài về các yếu tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng và có nhiều yếu tố tác động, tuy nhiên các yếu tố trong các nghiên cứu trước đây có thực sự tác động tới lợi nhuận của các ngân

Trang 13

hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay hay không và mức độ tác động như thế nào

Có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về các yếu tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng, tuy nhiên các nghiên cứu trước đây chưa phù hợp với tình hình thực trạng của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đề tài không mới, tuy nhiên ngoài các biến đã được nghiên cứu trước đây đưa vào mô hình, tác giả còn đưa thêm một số biến bổ sung như mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng, mức độ phát triển của ngân hàng Đây là các yếu tố đã được nghiên cứu tại một số nước trên thế giới nhưng chưa

có nghiên cứu nào trong nước nghiên cứu về các yếu tố này

Chính vì lẽ đó, để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, luận văn hướng đến nghiên

cứu đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài nghiên cứu là đánh giá tác động của các yếu tố đến lợi nhuận của các Ngân hàng TMCP Việt Nam Trên cơ sở đó, đề tài hướng đến những mục tiêu cụ thể như sau:

- Khái quát thực trạng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP Việt Nam

- Xác định các yếu tố và mức độ tác động của các yếu tố đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh của các NHTMCP thông qua mô hình kinh tế lượng

- Lập luận và đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao lợi nhuận của các ngân hàng TMCP Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Hệ thống ngân hàng đang ngày càng khẳng định vai trò cần thiết của mình trong nền kinh tế Muốn có một nền kinh tế phát triển thì hệ thống ngân hàng cũng phải vững

Trang 14

mạnh Vì vậy, các ngân hàng cần gia tăng khả năng cạnh tranh, khả năng sinh lợi trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trên luận điểm này, luận văn muốn làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Thực trạng về hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay như thế nào? Lợi nhuận của ngân hàng ra sao?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam? Theo chiều hướng nào? Mức độ ra sao?

- Những hàm ý nào nhằm nâng cao lợi nhuận của các NHTM Việt Nam?

1.4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận, các yếu tố tác động đến lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn sẽ hướng đến xây dựng mô hình kinh

tế lượng, nhằm đánh giá tác động của các yếu tố đến lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của NHTM Tuy nhiên, do lợi nhuận là một khái niệm khá rộng và bao gồm nhiều chỉ tiêu đánh giá, đề tài nghiên cứu chỉ đi sâu vào phân tích chỉ tiêu phổ biến nhất và thể hiện rõ nhất lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của NHTM, đó là ROA, ROE

1.5 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của 22 NHTMCP, bao gồm Hội sở chính, các Sở Giao Dịch, Chi Nhánh, Phòng Giao Dịch và các đơn vị trực thuộc: Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam, ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Kiên Long, ngân hàng TMCP Liên Việt, ngân hàng TMCP Á Châu, ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, ngân hàng TMCP Quân Đội, ngân hàng NH TMCP Sài GònThương Tín, ngân hàng TMCP Kỹ Thương, ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, ngân hàng TMCP Nam Á, ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng, ngân hàng TMCP Phát Triển

Trang 15

Nhà TPHCM, ngân hàng TMCP Phương Đông, ngân hàng TMCP Quốc Dân, ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam, ngân hàng TMCP Việt Á, Ngân hàng TMCP Xăng

Dầu Petrolimex, ngân hàng TMCP An Bình.

Nghiên cứu số liệu của 22 ngân hàng TMCP tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2017 Luận văn chọn giai đoạn này vì đây có thể được xem là thời kỳ có nhiều biến động trong hệ thống tài chính trên thế giới cũng như trong nước sau khủng hoảng tài chính tại Mỹ năm 2007

Hoạt động của các NHTM cũng trải qua nhiều thay đổi cùng cuộc khủng hoảng với những diễn biến theo chiều hướng tiêu cực khi phải đối mặt với những vấn đề như: rủi

ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, nợ xấu tăng cao, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và tiến trình tái cơ cấu ngân hàng

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp cả bằng phương pháp định tính và phương pháp định lượng

- Phương pháp nghiên cứu định tính: Luận văn căn cứ vào các số liệu có sẵn thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, tiến hành lập bảng so sánh, vẽ biểu đồ từ đó đưa

ra các nhận định, đánh giá nội dụng nghiên cứu Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp suy diễn để lập luận và giải thích đặc điểm của từng chi tiết trong quá trình phân tích số liệu nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu sử dụng phương pháp chính là phương pháp phân tích định lượng Cụ thể là phân tích hồi quy dữ liệu bảng (Panel regression) để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam, tác giả kết hợp các phương pháp phân tích bao gồm: phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (Pooled OLS), mô hình những ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM), mô hình những ảnh hưởng cố định (FEM) Trong đó, dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính của các NHTM Việt Nam và các dữ liệu thứ cấp cần thiết khác từ NHNN, Ngân hàng Thế giới

Trang 16

- Thu thập dữ liệu:

+ Đối với các số liệu vi mô: Dữ liệu được lấy từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên được công bố chính thức trên website của các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2017

+ Đối với các số liệu vĩ mô: Dữ liệu được lấy từ nguồn báo cáo của Ngân hàng Nhà Nước, Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF),… được công

bố trong giai đoạn 2010 - 2017

+ Phân tích mô tả nhằm xác định xu hướng biến động và mối quan hệ giữa một số chỉ tiêu tài chính của ngân hàng

+ Sau đó sử dụng mô hình hồi quy đa biến với các quan hệ tuyến tính để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến ROA, ROE, giúp các nhà quản trị ngân hàng, nhà đầu tư hiểu

rõ hơn về các yếu tố tác động đến chỉ tiêu ROA, ROE của các NHTMCP Kết quả hồi quy thu được qua sử dụng phần mềm Stata 13.0 sẽ kiểm định các giả thuyết đặt ra

1.7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại ý nghĩa tích cực không những cho nhà quản trị của các NHTM mà còn có ý nghĩa cho các nhà đầu tư

- Đối với các NHTM: Nghiên cứu là cơ sở khoa học để các nhà quản trị và ban điều hành ngân hàng xác định được các yếu tố và mức độ tác động của từng yếu tố đến lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, phát hiện những điểm bất cập trong hoạt động kinh doanh cũng như chính sách sử dụng các nguồn lực hiện có của các NHTMCP Từ đó có thể đưa ra những quyết định hợp lý mang tính hiệu quả giúp các NHTMCP nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường năng lực cạnh tranh và mở rộng thương hiệu

- Đối với các nhà đầu tư: kết quả nghiên cứu giúp các nhà đầu tư có một cái nhìn khái quát về hoạt động của ngân hàng Trên cơ sở đó có thể đánh giá và dự báo hiệu

Trang 17

quả hoạt động, điều này giúp các nhà đầu tư có những quyết định sáng suốt trong những quyết định đầu tư của họ

1.8 Bố cục của nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu được chia thành 05 chương với kết cấu như sau:

 Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu

Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại

Chương này giới thiệu tổng quan về NHTM; lợi nhuận; các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của NHTM và các yếu tố tác động đến lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của NHTMCP, lược khảo các nghiên cứu có liên quan

 Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Chương này đưa ra các giả thiết ban đầu về tác động của các yếu tố đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại, đồng thời giới thiệu nguồn dữ liệu nghiên cứu của đề tài, lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp và lập mô hình hồi quy

 Chương 4: Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương này cho thấy một cái nhìn khái quát về thực trạng nền kinh tế và hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam, cùng với các dữ liệu thu thập được

để chạy mô hình kinh tế lượng đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTMCP, đưa ra kết quả nghiên cứu

 Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách nhằm nâng cao lợi nhuận của các Ngân hàng TMCP Việt Nam

Trang 18

Chương này đưa ra một số giải pháp giải quyết các vấn đề bất cập trong hoạt động kinh doanh của hệ thống các NHTMCP hiện nay từ thực trạng phân tích

ở chương 4 nhằm làm tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của hệ thống các NHTMCP trong thời gian tới

Trang 19

CHƯƠNG 2:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN

CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Những lý luận liên quan đến đề tài

2.1.1 Lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 2.1.1.1 Khái niệm lợi nhuận

Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 16/07/2009 về

tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, thì: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”

Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một

số nghiệp vụ là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Trong nghiệp vụ nhận tiền gửi, ngân hàng trả lãi tiền gửi cho người gửi tiền, còn trong nghiệp vụ cấp tín dụng, ngân hàng thu tiền lãi cho vay hoặc thu phí dịch vụ, đối với dịch vụ thanh toán qua tài khoản, ngân hàng sẽ thu phí Do đó lợi nhuận của NHTM cũng xuất phát từ các hoạt động kinh doanh này Lợi nhuận của NHTM là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu trừ đi tổng các khoản chi phí hợp

lý, hợp lệ trong năm tài chính Tuy nhiên, người ta thường ít sử dụng giá trị tuyệt đối

để đánh giá về lợi nhuận, thay vào đó các chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và các chỉ tiêu khác theo quan điểm của từng nhà phân tích

2.1.1.2 Ý nghĩa của việc đánh giá lợi nhuận

- Đối với ngân hàng: Đánh giá lợi nhuận cũng như xác định các yếu tố tác động đến lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTM giúp những người quản lý, điều hành ngân hàng thấy được hiệu quả hoạt động, các lợi thế tài chính của chính ngân hàng mình, cũng như những điểm đã đạt được và chưa đạt được, những điểm bất cập…

Trang 20

để từ đó đưa ra những điều chỉnh kịp thời, phù hợp, nhằm hướng vào các mục tiêu tài chính như tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận và tăng trưởng thu nhập một cách bền vững Như vậy, công tác đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn luôn được chú trọng và quan tâm hàng đầu nhằm nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh của các NHTM trên thị trường tài chính

Việc đánh giá lợi nhuận trong một giai đoạn nhất định có thể giúp các nhà quản lý thấy được xu hướng hoạt động và dự đoán được kết quả hoạt động nói chung và mức sinh lợi nói riêng của ngân hàng trong các giai đoạn tiếp theo

Bên cạnh đó, với lợi nhuận khả quan, các chỉ số tài chính lành mạnh có thể sẽ làm gia tăng sự tin tưởng, khả năng cống hiến của người lao động vào ngân hàng và tránh tình trạng chảy máu nhân lực trong ngành ngân hàng

- Đối với nhà đầu tư: Qua việc đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, các nhà đầu tư sẽ thấy được lợi nhuận và triển vọng phát triển, đây là cơ sở cho các nhà đầu tư ra quyết định nhằm tối đa hóa giá trị của cổ đông

Mặt khác, đánh giá lợi nhuận còn cho các nhà đầu tư thấy được mức chi trả cổ tức, xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu để họ đánh giá được hiệu quả của việc đầu tư nhằm đưa ra ngưỡng chịu đựng rủi ro cũng như làm giảm thấp nhất chi phí cơ hội của việc đầu tư

-Đối với các cơ quan Nhà nước: Việc đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTM giúp các Cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát nhằm đảm bảo việc các NHTM tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định trong hoạt động ngân hàng

Mặt khác, việc đánh giá lợi nhuận của các NHTM sẽ là nguồn thông tin giúp cho các

cơ quan chức năng và NHNN xếp hạng tín nhiệm các ngân hàng, có những chấn chỉnh kịp thời để tránh tình trạng ngân hàng hoạt động không hiệu quả dẫn đến thua lỗ, phá sản ảnh hưởng dây truyền gây trì trệ, khủng hoảng đến toàn bộ nền kinh tế

Trang 21

Chính vì vậy, việc phân tích và đánh giá lợi nhuận là việc làm tất yếu đối với từng ngân hàng và là khâu quan trọng trong công tác quản trị ngân hàng để tăng cường tính cạnh tranh, tạo tiền đề cho sự phát triển chung của cả hệ thống ngân hàng và tiến tới hòa nhập với hệ thống ngân hàng khu vực và quốc tế

Các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Sự tồn tại và phát triển của NHTM cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM chủ yếu dựa vào lợi nhuận của ngân hàng Hiện nay, các nhà phân tích trong và ngoài nước đã sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của NHTM

2.1.1.3 Cách xác định lợi nhuận của NHTM

Theo Peter S.Rose (2004), lợi nhuận của ngân hàng có thể được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau Trong đó, hai chỉ tiêu quan trọng nhất và có liên hệ rất chặt chẽ với nhau đó là tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE)

Trong giới hạn của bài nghiên cứu, tác giả sử dụng một số chỉ tiêu tài chính sau đây:

a Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

ROA =

Chỉ tiêu này cho nhà phân tích thấy được hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng hay là thước đo hiệu quả của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tổng tài sản bình quân Nói cách khác, ROA là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của một đồng tài sản có tại ngân hàng và khả năng quản lý các chi phí tiền gửi một cách hợp lý để đầu tư các tài sản nhằm mang lại lợi nhuận

ROA còn được gọi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi kinh tế - để có thể so sánh giữa các ngân hàng với nhau (trong cùng một lĩnh vực, một ngành) Một mức

Thu nhập ròng

Tổng tài sản

Trang 22

ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức Ngược lại, mức ROA cao khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế Tuy nhiên, nếu mức sinh lợi quá lớn cũng có thể ngân hàng phải đối đầu với những rủi ro lớn do thực hiện các hoạt động đầu tư quá mạo hiểm hoặc giảm dự trữ xuống quá mức cần thiết

Đây là một trong những chỉ tiêu tài chính được các nhà phân tích đánh giá lợi nhuận các NHTM sử dụng vì:

+ Phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận của tài sản

+ Tạo ra sự kết nối các kết quả hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư của ngân hàng bất kể ngân hàng đã dùng nguồn vốn nào để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh và là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng

Do đó, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản có thể được xem là chỉ tiêu tài chính toàn diện để đánh giá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng

b Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE)

ROE =

Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn chủ sở hữu bình quân của ngân hàng sẽ mang

về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm) Nói cách khác, ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông (chủ sở hữu ngân hàng) có được từ nguồn vốn bỏ ra Khi mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao ngụ ý rằng ngân hàng đã tạo được những thành quả trong việc quản lý, do đó ROE cao là mục tiêu tìm kiếm của bất cứ nhà đầu tư ngân hàng nào

Thu nhập ròng

Tổng Vốn chủ sở hữu

Trang 23

Tuy nhiên, nếu ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, ngân hàng đã huy động vốn nhiều để cho vay Từ đó cho thấy, thu nhập của một ngân hàng rất nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản (sử dụng nhiều nợ hay vốn chủ sở hữu) Như vậy, đòi hỏi các nhà quản lý phải có sự cân nhắc trong việc sử dụng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng mình nhằm điều chỉnh giữa vốn tự có so với vốn huy động, một mặt đảm bảo được tính an toàn cho hoạt động ngân hàng, mặt khác gia tăng lợi nhuận cho chính ngân hàng mình Như vậy, ROE có xem xét đến chi phí huy động vốn và là sự kết hợp giữa hoạt động kinh doanh, đầu tư và các quyết định huy động vốn của nhà đầu tư ROE còn được gọi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi tài chính (suất sinh lời tài chính), ROE được dùng để so sánh lợi nhuận giữa các ngành khác nhau

Tóm lại, ROE là chỉ tiêu quan trọng nhất về chỉ tiêu lợi nhuận và tiềm năng phát tiển của ngân hàng

2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại

a Quy mô ngân hàng (SIZE):

Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng có tác động tới lợi nhuận của ngân hàng như: Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013) nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại tại Malaysia trong giai đoạn 2003-2009, Ayman Mansour Alkhazaleh & Mahmoud Almsafir (2014) khi nghiên cứu

dữ liệu của 14 ngân hàng tại Jordan trong giai đoạn 1999-2013, Kosmidou và cộng sự (2006) khi nghiên cứu các yếu tố xuất phát từ nội tại NH, điều kiện kinh tế vĩ mô và cơ cấu thị trường tài chính tác động đến lợi nhuận của các NHTM của Anh

Thật vậy, quy mô tài sản và chất lượng tài sản là yếu tố quan trọng, quyết định đến quá trình vận hành và phát triển của NHTM Có thể thấy, với quy mô lớn, các ngân hàng có tiềm lực mạnh hơn cả về tài chính và về nhân lực nên có khả năng đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, đa dạng trong việc cung cấp các sản phẩm tín dụng và phi tín

Trang 24

dụng Các ngân hàng này có dòng tiền ổn định, và đặc biệt, khả năng phá sản là nhỏ hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ Theo Ong Tze San và Teh Boon Heng (2013), tổng tài sản của các ngân hàng trong hệ thống NHTM có sự sai khác rất lớn giữa nhóm ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ nên để giảm bớt sự khác biệt quá lớn này ảnh hưởng đến kết quả hồi quy mô hình tác giả chọn cách tính quy mô ngân hàng bằng cách lấy Logarit tự nhiên của tổng tài sản Công thức tính quy mô ngân hàng như sau:

Quy mô ngân hàng = Logarit (tổng tài sản)

b Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR)

Rủi ro tín dụng thường được sử dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng hoặc trên thị trường tài chính Đó là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn phải thanh toán Bất kỳ một hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng Do đó, ngân hàng cần trích lập dự phòng cho các khoản rủi ro, việc này gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng

Theo Ong Tze San và Teh Boon Heng (2013), Sufian và Chong (2008) tỷ lệ dự phòng rủi ro được tính như sau:

LLR =

Tỷ lệ dự phòng rủi ro được tính bằng cách lấy tổng dự phòng rủi ro mà ngân hàng phải trích lập chia cho tổng dư nợ, để giảm tỷ lệ dự phòng rủi ro, ngân hàng cần giảm các khoản vay có mức rủi ro cao, hạn chế phát sinh nợ quá hạn hoặc nợ xấu hoặc bằng cách tăng trưởng dư nợ

Dự phòng rủi ro tín dụng

Dư nợ tín dụng

Trang 25

c Tỷ lệ chi phí hoạt động (CIR)

Việc tính tỷ lệ chi phí hoạt động bằng cách lấy chi phí hoạt động chia cho thu nhập hoạt động cho nhà quản trị có thể biết được hiệu quả hoạt động, một đồng chi phí

bỏ ra có thể thu lại được bao nhiêu đồng thu nhập, từ đó họ đưa ra quyết định đầu tư đúng mức, sao cho tối đa hóa lợi nhuận Sufian và Chong (2008), Ben Naceur (2003), Athanasoglou và cộng sự (2008), Kosmidou (2008) thấy rằng tỷ lệ chi phí trên doanh thu có mối quan hệ tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng

CIR =

d Tỷ lệ thanh khoản (LDR)

Có rất nhiều cách tính tỷ lệ thanh khoản: theo Lanine và Vennet (2006) thì LDR= tài sản thanh khoản/tổng tài sản; theo Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013) sử dụng công thức: LDR= Vốn chủ sở hữu/tổng vốn huy động; còn Ongore và Kusa (2012), Isik và Hassan (2003): LDR= Tổng cấp tín dụng/Tổng vốn huy động Trong luận văn tác giả chọn tỷ lệ thanh khoản được tính theo Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013)

LDR =

Ngân hàng là tổ chức sử dụng nguồn tiền huy động được từ khách hàng để tiến hành các hoạt động khác như cho vay Tỷ lệ thanh khoản tính theo công thức này càng cao chứng tỏ ngân hàng càng sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu để kinh doanh và ngược lại

Tổng vốn chủ sở hữu

Tổng vốn huy động Chi phí hoạt động Thu nhập hoạt động

Trang 26

e Mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng (CONC)

Mức độ tập trung thị trường ngành ngân hàng được đo bằng chỉ số Hirschman xác định bằng tổng bình phương thị phần của mỗi ngân hàng trong toàn hệ thống (Trujilo–Ponce, 2010) hoặc cũng có thể được đo bằng cách chia tài sản của 5 ngân hàng lớn nhất cho tổng sài sản của tất cả các ngân hàng hoạt động trong một quốc gia (Kosmidou, 2008)

Herfindahl-CONC =

Ngành phân tán là ngành có rất nhiều ngân hàng cạnh tranh với nhau nhưng không có ngân hàng nào có đủ khả năng chi phối các ngân hàng còn lại, ngược lại nếu ngành tập trung: Ngành chỉ có một hoặc một vài ngân hàng nắm giữ vai trò chi phối

f Tỷ lệ lạm phát (INF)

Theo Jiang và cộng sự (2003) nếu lạm phát được dự đoán chính xác và lãi suất được điều chỉnh phù hợp thì lạm phát sẽ có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân

hàng Tỷ lệ lạm phát là tốc độ tăng mặt bằng giá của nền kinh tế Nó cho thấy mức độ

lạm phát của nền kinh tế Tỷ lệ lạm phát là thước đo tỷ lệ giảm xuống sức mua của đồng tiền Nó là một biến số được sử dụng để tính toán lãi suất thực do đó tỷ lệ lạm phát cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng

INFt = 100 x

CPI t - CPI (t-1) CPI (t-1)

g Mức độ phát triển của ngân hàng (ASSGDP)

Biến mức độ phát triển của ngân hàng đã được Bashir (2000) đưa vào nghiên

cứu nhưng chưa tìm thấy tác động có ý nghĩa thống kê

Tổng tài sản 05 ngân hàng lớn nhất

Tổng tài sản của các ngân hàng

Trang 27

Biến mức độ phát triển của ngân hàng phản ánh mức độ phát triển (về mảng huy động tiền gửi) của ngân hàng khi có điều chỉnh bởi yếu tố kinh tế vĩ mô, từ đó cho thấy phản ứng của người gửi tiền khi các yếu tố kinh tế vĩ mô thay đổi, giúp ngân hàng tìm

ra cách xử lý kịp thời để đảm bảo hoạt động không bị gián đoạn hoặc làm giảm lợi nhuận của ngân hàng

Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi mức độ phát triển của ngân hàng

2.2 Lược khảo các nghiên cứu về lợi nhuận của ngân hàng

Đã có rất nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước nghiên cứu về các yếu tố tác động lên lợi nhuận của ngân hàng với nhiều quan điểm và nhiều cách tiếp cận khác nhau đưa đến những kết luận khác nhau Nhiều biến giải thích đã được đề xuất cho cả hai nhóm: yếu tố nội tại ngân hàng và yếu tố vĩ mô tùy thuộc vào mục đích và bản chất của mỗi nghiên cứu

Ong Tze San và Teh Boon Heng (2013) đã tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại Malaysia nên tác giả chọn mẫu là 20 NHTM trong đó bao gồm 9 ngân hàng trong nước và 14 ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Maylaysia giai đoạn từ 2003-2009 Biến phụ thuộc là lợi nhuận được đo lường bằng ROA, ROE và NIM Các biến độc lập gồm: tỷ lệ an toàn vốn, chất lượng tài sản, hiệu quả quản lý chi phí, chất lượng thanh khoản, quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát Kết quả như sau: ROA: chịu tác động cùng chiều của tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tác động ngược chiều của tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động, tỷ lệ thanh khoản tác động cùng chiều với ROA Trong khi đó, ROE lại bị tác động ngược chiều bởi tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng

và tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động, quy mô ngân hàng tác động

Trang 28

cùng chiều Theo kết quả bài nghiên cứu, tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát không

có tác động đến lợi nhuận của các NHTM Malaysia Qua đó cho thấy rằng lợi nhuận của các NHTM Malaysia chịu ảnh hưởng chủ yếu từ các yếu tố nội tại ngân hàng trong khi các yếu tố vĩ mô thì không có tác động đáng kể

Ayman Mansour Alkhazaleh & Mahmoud Almsafir (2014) nghiên cứu dữ liệu của 14 ngân hàng tại Jordan trong giai đoạn 1999-2013 kết quả cho thấy rằng lợi nhuận của ngân hàng bị tác động tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và quy mô ngân hàng Các yếu tố này tác động tiêu cực tới lợi nhuận của ngân hàng, tuy nhiên tỷ lệ thanh khoản có tác động không đáng kể

Sufian và Chong (2008) nghiên cứu chọn mẫu là các ngân hàng đang hoạt động tại Philipine giai đoạn từ 1990-2005 Kết quả cho thấy, Trong thời gian nghiên cứu, kết quả cho thấy quy mô ngân hàng, tỷ lệ rủi ro tín dụng, chi phí hoạt động phát sinh và tỷ

lệ lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng Mặt khác, tăng trưởng kinh tế không ảnh hưởng đáng kể giải thích các biến thể về lợi nhuận của các ngân hàng Philippines

Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) sử dụng mô hình hồi quy Tobit dựa trên số liệu của 39 NHTM Việt Nam giai đoạn 2005-2012 để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt nam thông qua chỉ tiêu ROA

và ROE Nghiên cứu cho thấy, tổng chi phí hoạt động trên doanh thu có tương quan nghịch với cả ROA và ROE; tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản càng cao thì lợi nhuận trên tổng tài sản càng cao, nhưng lại làm lợi nhuân trên VCSH giảm; tỷ lệ cho vay so với tổng tài sản càng cao thì lợi nhuận của NHTM càng cao; tỷ lệ nợ xấu càng cao thì hiệu quả hoạt động của các NHTM càng giảm; NHTM Nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn so với NHTM khác Nghiên cứu cho thấy để tăng hiệu quả tài chính của một ngân hàng cần chú ý tăng quy mô vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tăng tỷ lệ cho vay so với tổng tài sản và giảm tỷ lệ nợ xấu Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy NHTM Nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn so với NHTM khác và vì vậy vấn đề tái cấu trúc

Trang 29

ngân hàng cần phải chú trọng đến loại hình sở hữu của ngân hàng mới có thể tăng tính hiệu quả của từng ngân hàng cũng như toàn hệ thống.

Kết luận chương 2

Chương 2 đã làm rõ cơ sở lý thuyết liên quan đến lợi nhuận cũng như lợi nhuận của NHTM, cho người đọc một cái nhìn tổng quát về các yếu tố sẽ được tác giả đưa vào luận văn để phân tích về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam được trình bày trong chương kế tiếp

Ngoài ra, Chương 2 còn lượt khảo một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây cùng đề tài nghiên cứu để tham khảo Những lý luận cơ bản được đề cập trong Chương 2 đã hình thành khung lý thuyết định hướng cho quá trình nghiên cứu thực hiện mục tiêu của đề tài

Trang 30

CHƯƠNG 3:

PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Chương 3 của luận văn sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đánh giá tác động của các yếu tố đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam

3.1 Mẫu nghiên cứu

Việc lựa chọn kích thước mẫu nghiên cứu rất quan trọng Kích thước mẫu phải đảm bảo tính đại diện cho tổng thể, để phân tích có ý nghĩa và kết quả nghiên cứu đạt được dộ tin cậy Kích thước của mẫu áp dụng trong nghiên cứu được dựa theo yêu cầu của phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) và hồi quy đa biến:

- Dựa theo nghiên cứu của Hair, Anderson, Tatham và Black (1998) cho tham khảo về kích thước mẫu dự kiến Theo đó kích thước mẫu tối thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát Đây là cỡ mẫu phù hợp cho nghiên cứu có sử dụng phân tích nhân tố (Comrey, 1973; Roger, 2006) n=5*m , lưu ý m là số lượng câu hỏi trong bài

- Đối với phân tích hồi quy đa biến: cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là n=50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996)

Mô hình có 7 biến độc lập nên kích thước mẫu tối thiểu là 106 số quan sát Như vậy, với 176 quan sát cho 22 NHTM trong 8 năm từ 2010 – 2017 thỏa mãn mức quan sát tối thiểu là 106 số quan sát, đảm bảo kích thước mẫu tương đối lớn, đại diện tốt cho mẫu tổng thể Để đảm bảo nguồn dữ liệu đáng tin cậy, tác giả chỉ thu thập số liệu của các ngân hàng đã được kiểm toán và có dữ liệu liên tục trong giai đoạn từ năm 2010-

2017

Trên cơ sở xác định kích thước mẫu nghiên cứu như trên, nguồn số liệu cho mẫu nghiên cứu được thu thập từ Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên đã được công bố trên website của các ngân hàng, tốc độ tăng trưởng được lấy từ website của Tổng cục Thống kê Các số liệu thu thập được nhập vào phần mềm Excel và phần mềm STATA

để tổng hợp và sử dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường tác động của các yếu tố

Trang 31

đến lợi nhuận của ngân hàng Đồng thời, dữ liệu cho mẫu nghiên cứu sẽ được thể hiện theo dữ liệu bảng

3.2 Các giả thiết nghiên cứu:

3.2.1 Quy mô ngân hàng (SIZE)

Quy mô ngân hàng được tính bằng cách lấy Logarit tự nhiên của Tổng tài sản Các ngân hàng có quy mô lớn sẽ có khả năng đa dạng hóa danh mục tài sản, đặc biệt là danh mục cho vay, tập trung vào các mảng thu được lợi nhuận cao với mức rủi ro thấp Tuy nhiên, một ngân hàng có quy mô cực lớn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng do tốn kém trong các chi phí quản lý, chi phí văn phòng, chi phí nhân công

…, sự phát triển về trình độ quản lý và nguồn nhân lực không theo kịp sự phát triển của quy mô khiến cho rủi ro của ngân hàng tăng cao và lợi nhuận cũng vì thế mà giảm đi

Do đó, khó có thể đưa ra kết luận về mối tương quan giữa quy mô tài sản và lợi nhuận của các ngân hàng.Trong các nghiên cứu trước đây, một số tác giả đã thảo luận về mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận của ngân hàng Các kết quả từ những nghiên cứu trước đó là hỗn hợp

- Kosmidou, Parisouras và Tsaklanganos (2006) cho rằng việc mở rộng quy mô

sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng và Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013) nghiên cứu các yếu tố tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại Malaysia trong giai đoạn 2003-2009 thấy rằng lợi nhuận bị tác động bởi quy mô ngân hàng (tác động cùng chiều)

- Ayman Mansour Alkhazaleh & Mahmoud Almsafir (2014) khi nghiên cứu dữ liệu của 14 ngân hàng tại Jordan trong giai đoạn 1999-2013 đã cho rằng lợi nhuận của ngân hàng bị tác động ngược chiều bởi quy mô ngân hàng

Trong thực tế hiện nay cho thấy, những ngân hàng lớn ở nước ta đang chiếm ưu thế cao trong việc tạo ra lợi nhuận Vì vậy, trong luận văn này kỳ vọng rằng sẽ có tương quan thuận chiều giữa quy mô tài sản và lợi nhuận của các ngân hàng

Trang 32

Với hai hướng giải thích khác nhau và đều có sức thuyết phục nên tác giả đưa ra giả thuyết như sau:

Giả thuyết H1: Quy mô ngân hàng có thể có tương quan dương hoặc tương quan

âm đối với lợi nhuận của các NHTM

3.2.2 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR)

Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩn nhiều ruỉ ro, điển hình trong hoạt động tín dụng Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản tín dụng của ngân hàng việc này gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013), Sufian và Chong (2008), Athanasoglou và cộng sự (2008), Kosmidou (2008), Alper và Anbar (2011), Võ Xuân Vinh (2013) cho thấy tỷ lệ

dự phòng rủi ro tín dụng trên dư nợ tín dụng của ngân hàng càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng càng thấp Vì vậy, mối quan hệ giữa Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên dư nợ tín dụng và lợi nhuận được dự đoán như sau:

Giả thuyết H2: Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có tương quan âm đối với lợi nhuận của các NHTM

3.2.3 Tỷ lệ chi phí hoạt động (CIR)

Thông thường một doanh nghiệp muốn gia tăng lợi nhuận cần có biện pháp quản

lý, tiết kiệm chi phí và ngân hàng cũng không ngoại lệ Tuy nhiên một số trường hợp tăng chi phí hoạt động không là ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận, đó là khi việc tăng chi phí kéo theo việc mở rộng kinh doanh, gia tăng doanh thu, tốc độ tăng doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí

Sufian và Chong (2008), Ben Naceur (2003), Athanasoglou và cộng sự (2008), Kosmidou (2008) thấy rằng tỷ lệ chi phí trên doanh thu có mối quan hệ tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng Điều này là do các chi phí phát sinh nhiều hơn sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Vì vậy, mối quan hệ giữa tỷ lệ chi phí hoạt động và lợi nhuận được dự đoán như sau:

Trang 33

Giả thuyết H3: Tỷ lệ chi phí hoạt động có mối quan hệ nghịch với lợi nhuận của các NHTM

3.2.4 Tỷ lệ thanh khoản (LDR)

Ngân hàng là một tổ chức trung gian, hoạt động chủ yếu là huy động vốn từ cá nhân, tổ chức và cho vay lại vì vậy, đối với một ngân hàng tỷ lệ thanh khoản đóng vai trò quyết định đến toàn bộ hoạt động kinh doanh, đây là khả năng của các ngân hàng có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, đặc biệt là đối với người gửi tiền Có rất nhiều cách tính tỷ lệ thanh khoản: theo Lanine và Vennet (2006) thì LDR= tài sản thanh khoản/tổng tài sản; theo Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013) sử dụng công thức: LDR= Vốn chủ sở hữu/tổng vốn huy động; còn Ongore và Kusa (2012), Isik và Hassan (2003): LDR= Tổng cấp tín dụng/Tổng vốn huy động Ngân hàng có tỷ lệ thanh khoản càng cao cho thấy khả năng ngân hàng thực hiện các nghĩa vụ đối với khách hàng ngày càng cao, tạo uy tín đối với khách hàng giúp ngân hàng có khả năng phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ đưa lại lợi nhuận cho ngân hàng Theo công thức tính thanh khoản bằng Tổng vốn chủ sở hữu/tổng vốn huy động lại cho thấy nếu sử dụng quá nhiều vốn chủ sở hữu để hoạt động tuy mang tính an toàn cao nhưng chi phí vốn lại cao hơn so với việc sử dụng vốn vay điều này sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng

Giả thuyết H4: Tỷ lệ Tổng vốn chủ sở hữu/Tổng vốn huy động có tương quan âm đối với lợi nhuận của các NHTM

3.2.5 Về mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng (CONC)

Một số quan điểm cho rằng thị trường càng tập trung thì càng dễ huy động các khoản tiền gửi với giá thấp và tính lãi suất cho vay cao hơn Mức độ tập trung thị trường ngành ngân hàng được đo bằng chỉ số Herfindahl-Hirschman xác định bằng tổng bình phương thị phần của mỗi ngân hàng trong toàn hệ thống (Trujilo–Ponce, 2010) hoặc cũng có thể được đo bằng cách chia tài sản của 5 ngân hàng lớn nhất cho tổng sài sản của tất cả các ngân hàng hoạt động trong một quốc gia (Kosmidou, 2008) Nghiên cứu của Võ Xuân Vinh (2013) cho thấy một tương quan dương giữa sự

Trang 34

tập trung và lợi nhuận ngân hàng Tuy nhiên, nghiên cứu của Ben Naceur (2003) và Kosmidou (2008) cho thấy một tương quan âm giữa sự tập trung và lợi nhuận ngân hàng

Trong khi đó, nghiên cứu của Pasiouras và Kosmidou (2007) cho thấy ảnh hưởng của sự tập trung đến lợi nhuận có tương quan khác nhau giữa các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng nội địa Theo tình hình thực tế của Việt Nam, các ngân hàng lớn thường có khả năng huy động được nguồn vốn rẻ hơn do đó, giả thuyết thứ năm được xây dựng như sau:

Giả thuyết H5: mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng có thể có tương quan dương đối với lợi nhuận của các NHTM

3.2.6 Tỷ lệ lạm phát (INF)

Trong các nghiên cứu trước đây, những phát hiện về mối quan hệ giữa lạm phát

và lợi nhuận ngân hàng có sự trái ngược nhau Theo Jiang và cộng sự (2003) nếu lạm phát được dự đoán chính xác và lãi suất được điều chỉnh phù hợp thì lạm phát sẽ có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng tuy nhiên, sự gia tăng không mong đợi của lạm phát có thể khiến cho khách hàng gặp khó khăn trong dự toán dòng tiền dẫn đến mất khả năng thanh toán và các ngân hàng chậm trong việc điều chỉnh lãi suất của họ có thể dẫn đến chi phí ngân hàng cao hơn doanh thu ngân hàng và gây ra những tổn thất về tín dụng (Hoggarth và cộng sự, 1998; Abreu và Mendes, 2000) Như vậy, lạm phát sẽ có tác động tích cực nếu thu nhập của ngân hàng tăng nhanh hơn so với chi phí của nó, ngược lại nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng Do đó, giả thuyết được xây dựng như sau:

Giả thuyết H6: tỷ lệ lạm phát có tương quan dương đối với lợi nhuận của các NHTM

3.2.7 Về mức độ phát triển của ngân hàng (ASSGDP)

Biến mức độ phát triển của ngân hàng được tính toán dựa trên sự tăng trưởng mảng huy động tiền gửi khi có điều chỉnh bởi yếu tố kinh tế vĩ mô cụ thể là tỷ lệ tăng

Trang 35

trưởng kinh tế GDP đã được Bashir (2000) đưa vào nghiên cứu nhưng chưa tìm thấy tác động của nó lên lợi nhuận của ngân hàng Do đó, trong luận văn này tác giả đưa ra giả thuyết như sau:

Giả thuyết H7: mức độ phát triển của ngân hàng có thể có tương quan dương hoặc tương quan âm đối với lợi nhuận của các NHTM

Bảng 3.1: Bảng mô tả các biến và các giả thuyết của mô hình nghiên cứu

STT Biến Mô tả Cách đo lường Kỳ

vọng Nghiên cứu trước Biến phụ thuộc

1 ROA

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản

2 ROE

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu

Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu

Biến độc lập

1 SIZE Quy mô

ngân hàng

Logarit tự nhiên của tổng tài sản +

Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013), Parisouras và Kosmidou

(2007), Ayman

Mansour Alkhazaleh & Mahmoud Almsafir

(2014)

Trang 36

STT Biến Mô tả Cách đo lường Kỳ

vọng Nghiên cứu trước

2 LLR

Tỷ lệ dự phòng rủi

ro tín dụng

Dự phòng rủi ro tín dụng/Dư nợ tín dụng

-

Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013) , Sufian và Chong (2008), Athanasoglou

và cộng sự (2008), Kosmidou (2008), Alper và Anbar (2011),

Võ Xuân Vinh (2013)

3 CIR

Tỷ lệ chi phí hoạt động

Chi phí hoạt động/Thu nhập hoạt động

-

Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013), Sufian và Chong (2008), Ben Naceur (2003), Athanasoglou

và cộng sự (2008),

Kosmidou (2008)

4 LDR

Tỷ lệ thanh khoản

Tổng vốn chủ sở hữu/Tổng vốn huy động

Tổng tài sản của

5 NH có quy mô tài sản lớn nhất trong 22

NH nghiên cứu/Tổng tài sản

+

Pasiouras và Kosmidou (2007), Võ Xuân Vinh

(2013)

Trang 37

STT Biến Mô tả Cách đo lường Kỳ

vọng Nghiên cứu trước

của 22 NH nghiên cứu

6 INF Tỷ lệ lạm

Jiang và cộng sự (2003), Hoggarth và cộng sự (1998); Abreu

và Mendes (2000)

7 ASS

GDP

Mức độ phát triển của ngân hàng

(Tiền gửi KH/tổng tài sản ngân

hàng)/tỷ lệ tăng trưởng kinh tế

+/- Bashir (2000)

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu xác định các yếu tố có tác động đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam Sau khi đã nghiên cứu các lý thuyết liên quan xây dựng giả thuyết ,

sử dụng phương pháp phân tích và thực hiện hồi quy mô hình để kiểm định các giả thuyết đã đặt ra

Phương pháp nghiên cứu là phương pháp định lượng, sử dụng kỹ thuật hồi quy bảng để phân tích tác động của 07 biến độc lập đến lợi nhuận (đo lường bằng ROA và ROE) của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017, bao gồm: các biến đại diện cho lợi nhuận là ROA (tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản), ROE (tỷ lệ thu nhập trên tổng vốn chủ sở hữu); còn các biến độc lập bao gồm các biến là quy mô ngân hàng (Logarit tổng tài sản), Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (Dự phòng rủi ro tín dụng/Dư nợ tín dụng), Tỷ lệ chi phí hoạt động (Chi phí hoạt động/Thu nhập hoạt động), Tỷ lệ thanh khoản (Tổng vốn chủ sở hữu/Tổng vốn huy động), Mức độ tập trung thị trường của ngân hàng (Tổng tài sản của 5 NH có quy mô tài sản lớn nhất trong 22 NH nghiên

Trang 38

cứu/Tổng tài sản của 22 NH nghiên cứu), Tỷ lệ lạm phát, Mức độ phát triển của ngân hàng ((Tiền gửi khách hàng/Tổng tài sản ngân hàng)/Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế)

Đồng thời, luận văn sử dụng kiểm định Poll OLS để kiểm định phương sai thay đổi sau đó chạy mô hình hồi quy với hai hiệu ứng: hiệu ứng tác động cố định - FEM (Fixed Effect Model) và hiệu ứng tác động ngẫu nhiên - REM (Random Effect Model) Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng kiểm định Hausman –test để kiểm tra xem mô hình với hiệu ứng FEM hay REM là phù hợp trong nghiên cứu này

Mô hình hồi quy Poll OLS như sau:

Yit = β0+ βXit + ei (1) Trong đó: Yit là biến phụ thuộc (ROA, ROE) và Xit là các biến độc lập trong mô hình

Mô hình hồi quy OLS chỉ đơn giản là phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất Tuy nhiên, phương pháp OLS này sẽ thích hợp nếu không có sự tồn tại các yếu tố riêng biệt (từng ngân hàng) và yếu tố thời gian Theo Gujarati (2004), việc sử dụng phương pháp OLS bỏ qua yếu tố không gian và thời gian của dữ liệu kết hợp, kết quả ước lượng có thể sẽ bị thiên lệch Vì thế phương pháp ước lượng hiệu ứng tác động FEM và REM sẽ phù hợp hơn vì không bỏ qua yếu tố thời gian và yếu tố riêng biệt

Mô hình FEM cho rằng mỗi ngân hàng đều có những đặc điểm riêng biệt, có thể ảnh hưởng đến các biến giải thích, có sự tương quan giữa phần dư với các biến giải thích FEM có thể kiểm soát và tách ảnh hưởng của các đặc điểm riêng biệt (không đổi theo thời gian) này ra khỏi các biến giải thích để có thể ước lượng những ảnh hưởng thực (net effects) của biến giải thích lên biến phụ thuộc Các đặc điểm riêng biệt (không đổi theo thời gian) này là đơn nhất đối với 1 thực thể và không tương quan với đặc điểm của các thực thể khác

Mô hình FEM có dạng:

Trang 39

Yit = αi + βXit + ei (2) Trong đó: αi cho thấy rằng các tung độ gốc của các ngân hàng có thể khác nhau Sự khác biệt có thể là do các đặc điểm riêng của từng ngân hàng như phong cách quản lý hay triết lý kinh doanh

Không giống như mô hình FEM, mô hình REM xem đặc điểm riêng giữa các thực thể được giả sử là ngẫu nhiên và không tương quan đến các biến giải thích REM xem các phần dư của mỗi thực thể là một biến giải thích mới

Mô hình REM có dạng:

Yit = (α + ui) + βXit + ei (3)

αi = (α + ui) (4) Trong đó: ui là sai số ngâu nhiên phản ảnh sự khác nhau của các thực thể có giá trị trung bình bằng 0 và phương sai là 𝜎𝜀2

Từ đây mô hình hồi quy xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM được xây dựng như sau:

- Mô hình nghiên cứu có phương trình như sau:

ROAit = β0 + β1 SIZEit + β2 LLRit + β3 CIRit + β4 LDRit + β5 CONCt + β6 INFt + β7 ASSGDPt + εit (1)

ROEit = β0 + β1 SIZEit + β2 LLRit + β3 CIRit + β4 LDRit + β5 CONCt + β6 INFt + β7 ASSGDPt + εit (2)

Trang 40

+ LLRit: tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng (i) tại thời điểm (t),

+ CIRit: tỷ lệ chi phí hoạt động của ngân hàng (i) tại thời điểm (t),

+ LDRit: tỷ lệ thanh khoản của ngân hàng (i) tại thời điểm (t),

+ CONCt: mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng tại thời điểm (t) + INFt: tỷ lệ lạm phát tại thời điểm (t)

+ ASSGDPt: mức độ phát triển của ngân hàng tại thời điểm (t)

3.4 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017, giai đoạn này được thu thập do đây

là giai đoạn mà báo cáo thường niên của các ngân hàng được công bố tương đối đầy

đủ Đồng thời các báo cáo này được thu thập từ website của các ngân hàng, bao gồm:

- 22 NHTM cổ phần: Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam, ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Kiên Long, ngân hàng TMCP Liên Việt, ngân hàng TMCP Á Châu, ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, ngân hàng TMCP Quân Đội, ngân hàng NH TMCP Sài Gòn Thương Tín, ngân hàng TMCP Kỹ Thương, ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, ngân hàng TMCP Nam Á, ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng, ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà TPHCM, ngân hàng TMCP Phương Đông, ngân hàng TMCP Quốc Dân, ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam, ngân hàng TMCP Việt Á, Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex, ngân hàng TMCP An Bình

Ngoài ra, các thông tin về yếu tố kinh tế vĩ mô là tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ

lệ lạm phát được thu thập từ trang web của Tổng cục thống kê

Với mẫu quan sát 22 NHTM trong giai đoạn 2010-2017 đã tạo nên bảng dữ liệu

Dữ liệu bảng cung cấp nhiều thông tin hơn, cho phép chúng ta xác định và đo lường tác

Ngày đăng: 17/09/2020, 20:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w