Xuất phát từ tình hình trên đối với sự cần thiết trong công tác tổ chức kế toán, tác giả nhận thấy được ý nghĩa thiết thực cho việc thực hiện nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRÁC HỒNG SƯƠNG
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG LẬP
TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HCM, năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRÁC HỒNG SƯƠNG
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG LẬP
TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã ngành: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM XUÂN THÀNH
TP.HCM, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Những nhân tố tác động đến hoàn thiện công
tác tổ chức kế toán tại các trường cao đẳng công lập trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi và được hoàn thành dưới sự hướng
dẫn của thầy Phạm Xuân Thành Nội dung và số liệu nêu trong đề tài là hoàn toàn
do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Những kiến nghị khoa học của đề tài chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
Trác Hồng Sương
Trang 4M ỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa và hạn chế của đề tài 3
6 Kết cấu luận văn 4
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 5
1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 7
1.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu trước 10
1.4 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của tác giả 11
1.4.1 Khoảng trống nghiên cứu 11
1.4.2 Định hướng nghiên cứu của tác giả 12
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13
2.1 Lý luận chung về công tác tổ chức kế toán ở đơn vị giáo dục đào tạo 13
2.1.1 Khái niệm về công tác tổ chức kế toán 13
2.1.2 Mô hình công tác tổ chức kế toán 14
2.1.3 Yêu cầu và nguyên tắc của công tác tổ chức kế toán 15
2.1.4 Nhiệm vụ của công tác tổ chức kế toán 16
2.2 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo 17
2.2.1 Khái niệm 17
2.2.2 Đặc điểm và vai trò của đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập 18
Trang 52.3 Nội dung tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo 18
2.3.1 Tổ chức vận dụng chế độ kế toán 19
2.3.1.1 Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán 19
2.3.1.2 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán 19
2.3.1.3 Tổ chức vận dụng sổ sách kế toán và hình thức kế toán 20
2.3.1.4 Tổ chức lập và nộp báo cáo kế toán 20
2.3.2 Tổ chức bộ máy kế toán 21
2.3.3 Tổ chức kiểm tra kế toán 22
2.3.4 Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán 22
2.4 Đặc điểm về thông tin kế toán tài chính của trường CĐCL 23
2.5 Lý thuyết nền 24
2.5.1 Lý thuyết đại diện 24
2.5.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 25
2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện công tác tổ chức kế toán 25
2.6.1 Hệ thống văn bản pháp lý 26
2.6.2 Trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán 27
2.6.3 Sự quan tâm công tác kế toán của lãnh đạo nhà trường 27
2.6.4 Hệ thống kiểm soát nội bộ 28
2.6.5 Hệ thống công nghệ thông tin 30
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Phương pháp nghiên cứu 32
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 32
3.1.2 Nghiên cứu sơ bộ định tính 32
3.1.3 Nghiên cứu chính thức định lượng 33
3.2 Thiết kế nghiên cứu 33
3.2.1 Kết quả nghiên cứu định tính và hiệu chỉnh thang đo 34
3.2.2 Mô hình nghiên cứu 37
3.2.3 Các giả thuyết nghiên cứu 38
3.2.4 Mẫu nghiên cứu 40
3.3 Phân tích dữ liệu 41
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 45
Trang 64.1 Thống kê, mô tả mẫu 45
4.2 Sơ lược về thực trạng tổ chức công tác kế toán hiện nay tại các trường CĐCL trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 46
4.3 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) 49
4.4 Kết quả đánh giá độ giá trị thang đo EFA 51
4.4.1 Thang đo các nhân tố tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường CĐCL trên địa bàn Tp.HCM 51
4.4.2 Thang đo hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tại các trường cao đẳng công lập trên địa bàn Tp.HCM 54
4.5 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 54
4.5.1 Phân tích tương quan 54
4.5.2 Phân tích hồi quy 55
4.5.3 Dò tìm sự vi phạm các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính 59
4.5.3.1 Giả định liên hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập cũng như hiện tượng phương sai thay đổi 59
4.5.3.2 Giả định về phân phối chuẩn của phần dư 60
4.5.3.3 Giả định không có mối tương quan giữa các biến độc lập (đo lường đa cộng tuyến) 61
4.6 Bàn luận từ kết quả nghiên cứu 62
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Kiến nghị 66
5.2.1 Đối với nhân tố sự quan tâm công tác kế toán của lãnh đạo nhà trường 66
5.2.2 Đối với nhân tố công nghệ thông tin 66
5.2.3 Đối với nhân tố trình độ của kế toán viên 67
5.2.4 Đối với nhân tố hệ thống kiểm soát nội bộ 68
5.2.5 Đối với nhân tố hệ thống pháp lý và các văn bản hướng dẫn 69
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Mã hóa thang đo và biến quan sát……….35
Bảng 4.1 Thống kê mẫu khảo sát theo giới tính, thâm niên công tác, chức vụ, và trình độ chuyên môn 45
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha 47
Bảng 4.3 Kết quả Cronbach Alpha của biến HTPL sau loại biến quan sát HTPL8 48
Bảng 4.4 Ma trận xoay nhân tố lần 2 50
Bảng 4.5 Kết quả phân tích thang đo tổ chức công tác kế toán 52
Bảng 4.6 Ma trận tương quan giữa các biến 53
Bảng 4.7 Thống kê mô tả các biến phân tích hồi quy 54
Bảng 4.8 Bảng đánh giá độ phù hợp của mô hình 55
Bảng 4.9 Phân tích phương sai (hồi quy) 56
Bảng 4.10 Kết quả trọng số hồi quy 56
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 4.1 Biểu đồ phân tán của phần dư 58 Hình 4.2 Đồ thị Histogram 59
Trang 10PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Trong thời điểm hiện nay, mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh phát triển với nhiều hình thức sở hữu và loại hình đào tạo khác nhau Tính đến năm 2017, theo thống kê của “Tổng cục giáo dục nghề nghiệp
trực thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội” có tổng số 514 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó gồm: 47 trường cao đẳng, 65 trường trung cấp, 65 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, 278 doanh nghiệp có đào tạo nghề và 59 cơ sở khác có dạy nghề Trong tổng số 47 trường cao đẳng có 26 trường công lập
Cùng với sự đổi mới và ngày càng phát triển của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, mỗi đơn vị đều xây dựng cho mình một tổ chức bộ máy kế toán riêng để dễ dàng theo dõi tình hình nguồn tài chính cũng như kịp thời cung cấp số liệu cho cơ quan cấp trên khi cần thiết Theo đó, bộ máy tổ chức công tác kế toán tại mỗi đơn vị
sự nghiệp công lập phải thực sự được quan tâm, chú trọng để bắt kịp xu hướng thay đổi chính sách của cơ quan quản lý nhà nước
Trong khi đó vào năm 2016 có quy định về cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường cao đẳng công lập trong xu hướng chuyển sang cơ chế giáo dục nghề nghiêp như: tại khoản 1, điều 3 chương 2 của Nghị định 143/2016/NĐ-CP ngày 14/10/2016 Quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp có nội dung sau: “Đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập khi thành lập phải cam kết hoạt động theo cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập do Chính
phủ quy định” Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm tăng cường tính tự chủ tự chịu trách nhiệm trong tổ chức, sắp xếp bộ máy, sử dụng nguồn lực lao động, tài chính, nâng cao chất lượng, tăng nguồn thu, thu nhập cho người lao động, giảm dần sự bao cấp đối với ngân sách nhà nước
Có thể nói, tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp nói chung và các trường cao đẳng công lập nói riêng là xu thế tất yếu của xã hội hiện nay, đây được xem là cơ hội để các trường cao đẳng công lập tự khẳng định vị thế của mình nhưng cũng phải chịu nhiều thách thức với sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị
Trang 11trường Cũng chính vì thế vào năm 2017, Sở LĐTBXH Tổ chức Hội thảo “Thực trạng và giải pháp hướng tới tự chủ tài chính” của khối giáo dục nghề nghiệp Thông qua hội thảo để đề xuất với Ủy ban nhân dân Thành phố, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội các giải pháp trong lộ trình tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp triển khai áp dụng thí điểm cho một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập trên địa bàn thành phố
Việc hiểu rõ và tổ chức tốt bộ máy kế toán trong đơn vị sẽ giúp các nhà quản
lý thiết lập được một bộ phận kế toán khoa học, tiết kiệm và cung cấp được thông tin hữu ích cho người dùng Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều mặt khó khăn, trở ngại đối với các trường cao đẳng công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong
việc vận dụng tổ chức công tác kế toán hiện nay vào thực tiễn Từ những vấn đề trên, tác giả nhận thấy rằng công tác tổ chức kế toán nói chung và công tác tổ chức
kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng là một hoạt động đóng vai trò quan trọng mang tính quyết định liên quan đến tài chính của một đơn vị
Xuất phát từ tình hình trên đối với sự cần thiết trong công tác tổ chức kế toán, tác giả nhận thấy được ý nghĩa thiết thực cho việc thực hiện nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập, nhất
là khi triển khai áp dụng cơ chế tự chủ tài chính trong giai đoạn sắp tới Do đó, tác
giả lựa chọn đề tài “Những nhân tố tác động đến hoàn thiện công tác tổ chức kế
toán t ại các trường cao đẳng công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
2 M ục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Trang 12Câu h ỏi:
Có các nhân tố nào tác động đến việc hoàn thiện công tác TCKT tại các
trường CĐCL trên địa bàn Tp.HCM?
Mức độ ảnh hưởng như thế nào của các nhân tố đến việc hoàn thiện công tác TCKT tại các trường CĐCL trên địa bàn Tp.HCM?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài viết tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động đến hoàn thiện công tác TCKT tại các trường CĐCL trên địa bàn Tp.HCM
Phạm vi nghiên cứu của bài viết là các trường CĐCL trên địa bàn Tp.HCM
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn bao gồm hai bước (1) nghiên cứu sơ
bộ định tính và (2) nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng
Phương pháp nghiên cứu sơ bộ định tính là tác giả thảo luận và phỏng vấn các chuyên gia nhằm thống nhất lựa chọn các nhân tố tác động đến hoàn thiện công tác TCKT tại các trường CĐCL trên địa bàn Tp.HCM Từ đó điều chỉnh thang đo đưa ra các câu hỏi khảo sát để phỏng vấn nhà quản lý, lãnh đạo, trưởng phòng ban,
tập thể nhân viên có chuyên môn về công tác TCKT ở các trường CĐCL
Phương pháp nghiên cứu chính thức định lượng là thu thập dữ liệu bằng con
số thống kê thông qua bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế dựa trên thang đo Likert
5 mức độ Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 phân tích số liệu để đánh giá độ tin cậy
bằng việc ứng dụng hệ số Cronbach Alpha và phân tích độ giá trị thang đo EFA, kế đến là phân tích mô hình hồi quy tuyến tính để đánh giá và kiểm định sự ảnh hưởng cũng như mức độ đóng góp của các nhân tố tác động đến hoàn thiện công tác TCKT
của các trường CĐCL trên địa bàn Tp.HCM
5 Ý nghĩa và hạn chế của đề tài
Giúp nhà Trường thấy được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hoàn thiện công tác TCKT tại các trường CĐCL trở nên khoa học hợp lý nhằm cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu của các đối tượng quan tâm và trở thành công cụ quản lý
Trang 13hữu ích cho lãnh đạo nhà trường Hiện nay có ít trường tự chủ hoàn toàn về tài chính, đề tài bổ sung cơ sở lý luận về mặt thực tiễn, góp phần thực hiện định hướng cho các trường cao đẳng công lập hướng tới cơ chế tự chủ trong thời gian tới Góp
phần làm thành công Nghị định 143/2016/ NĐ-CP ngày 14/10/2016 Quy định điều
kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp của Chính phủ
Do hạn chế về thời gian, chi phí, trình độ nên đề tài chỉ nêu ra được 5 nhân tố ảnh hưởng và chưa tìm ra thêm các nhân tố khác có thể ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán Hạn chế thứ hai là chưa thể khảo sát ở phạm vi rộng hơn
6 K ết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và các danh mục, nội dung luận văn được chia thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về dự toán ngân sách nhà nước
Chương 3: Phương pháp luận nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên c ứu ở nước ngoài
Qua một thời gian tìm hiểu và tham khảo nhiều tài liệu có liên quan đến đề tài
mà tác giả đang nghiên cứu, tác giả đã tìm được một số đề tài nghiên cứu về công tác tổ chức kế toán tại các đơn vị thuộc khu vực công trên thế giới Tiêu biểu có các nghiên cứu sau:
Đối với các nghiên cứu thời gian trước đây, đa số các tác giả nghiên cứu về các nguyên tắc chung trong tổ chức công tác kế toán, điển hình như ba tác giả Earl R.Wilson, Leo E.Hay, Susan C.Kattelus đã cùng viết một cuốn sách nổi tiếng với tên là “Kế toán Nhà nước và các tổ chức Phi lợi nhuận” Cuốn sách đã cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng thể về các nguyên tắc kế toán chung, hướng dẫn cách hạch toán và lập báo cáo tài chính Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã đi sâu phân tích được tổ chức công tác kế toán tại đơn vị sự nghiệp đặc thù như các trường học,
bệnh viện vv
Trong thời gian gần đây, các tác giả bắt đầu nghiên cứu về chủ đề tổ chức công tác kế toán trong điều kiện áp dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế (ISPAS), khi mà việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay vẫn còn gặp các rào cản nhất định tại nhiều quốc gia trên thế giới Các nghiên cứu của các tác giả như Bello (2013), Mike Mbaya (2014) đều nêu ra được các nhân tố tác động tới việc vận dụng ISPAS, từ đó đề xuất các nhân tố nhằm tăng cường việc vận dụng ISPAS tại các đơn vị khu vực công bao gồm: phát triển hệ thống công nghệ thông tin và áp dụng ERP, tăng cường trình độ nguồn nhân lực làm công tác kế toán, sự hỗ trợ của Chính
phủ và các nhà quản lý cấp cao; trên cơ sở đó các tác giả cũng làm rõ các nội dung trong công tác kế toán từ việc tổ chức hệ thống chứng từ đến việc lập BCTC trên cơ
sở kế toán dồn tích hay kế toán tiền mặt (Chan JL, 2005)
Một nghiên cứu khác của 3 tác giả Aranya, Pollock and Amernic (1981) “An Examination Of Professional Commitment In Public Accounting” Nghiên cứu phân tích sự cam kết minh bạch trong báo cáo tài chính của một kế toán viên chuyên nghiệp người Canada ở khu vực công Báo cáo này được kiểm tra với các đơn vị có
Trang 15liên quan trong tổ chức Sự minh bạch trong báo cáo tài chính thông qua công tác tổ chức kế toán được thể hiện là sự cam kết chuyên nghiệp của người làm kế toán Tác
giả đã nghiên cứu tập trung vào sự cam kết của người làm kế toán chuyên nghiệp đó là: việc mạnh dạn xác nhận có mối quan hệ với bất cứ ai và sự tham gia chuyên nghiệp về nghề của họ Sự cam kết còn được thể hiện qua 3 tính chất: thứ nhất là
niềm tin, sự chấp nhận, mục tiêu và giá trị của nghề nghiệp; thứ hai là việc sẵn sàng
nổ lực hết sức để đảm bảo và thay mặt cho nghề nghiệp; thứ ba là có một mong
muốn nhất định để được duy trì là thành viên trong nghề
Cũng có một nghiên cứu khác của tác giả Pratt and Beaulieu (1992)
“Organization culture in public accounting: size, technology, rank, and functional area” Nghiên cứu này xem xét bản chất văn hóa về tổ chức trong kế toán ở khu vực công và chứng minh rằng có những văn hóa khác nhau tồn tại trong các đơn vị kế toán công Văn hóa tổ chức được định nghĩa theo sự chia sẻ đánh giá của các thành viên trong một tổ chức và nó được thể hiện qua kinh nghiệm làm việc của họ trong
tổ chức đó Người có đủ kinh nghiệm làm việc là rất quan trọng trong việc phát triển và duy trì văn hóa làm việc trong một tổ chức kế toán
Nghiên cứu của tác giả Sour (2012) “International Public Sector Accounting Standards (IPSAS) and Government Accounting Reform in Developing Countries” Bài viết nói về để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đầy tham vọng ở các nước đang phát triển đòi hỏi phải cải cách trong công tác tổ chức kế toán của chính phủ Việc cải cách đó nhằm mục tiêu phát triển và giảm nghèo Với lý do này đã dẫn tới
các đơn vị cho vay và các nhà tài trợ quốc tế xác nhận các tiêu chuẩn về kế toán công quốc tế (IPSAS) cho các nước đang phát triển áp dụng Nhấn mạnh vào việc đảm bảo tính toàn vẹn tài chính và thay đổi trong công tác kế toán để có thể làm cho các tiêu chuẩn về kế toán công quốc tế (IPSAS) trở nên hữu ích hơn trong công
cuộc cải cách công tác tổ chức kế toán của chính phủ ở các nước đang phát triển Nghiên cứu của Choy Chong và cộng sự (2011) “KM implementation in a public sector accounting organization: an empirical investigation” Nghiên cứu được thực hiện tại tổng cục kế toán thuộc bộ tài chính ở Malaysia nhằm mục đích điều tra các nhân viên kế toán làm việc trong một tổ chức kế toán khu vực công
Trang 16tương đối lớn nhận thức như thế nào về vấn đề triển khai KM trong tổ chức của họ
KM là mô hình chu kỳ của các quy trình như là sáng tạo kiến thức, nắm bắt kiến
thức, tổ chức, lưu trữ kiến thức, phổ biến nó và thực hiện Bài viết này cung cấp khuôn khổ và rút ra kế hoạch cho việc phát triển một công cụ đánh giá những người làm công tác kế toán tại tổng cục kế toán cụ thể là ở Malaysia Với tư cách là một người làm kế toán tại khu vực công am hiểu sâu rộng về kiến thức và thực hành,
tổng cục kế toán phải đặt họ là trọng tâm trong việc xây dựng chiến lược thực hiện
KM để quản lý hiệu quả, tận dụng tài sản trí tuệ của các chuyên gia Việc này sẽ cho phép đơn vị gặt hái hiệu suất tốt hơn
Những nghiên cứu mà tác giả tổng hợp ở trên đã chỉ ra các nền tảng cơ bản
của công tác kế toán ở các đơn vị thuộc khu vực công trên thế giới Qua đó cũng nói lên được các đề tài về kế toán ở khu vực công vẫn luôn được nhiều đối tượng hướng đến nghiên cứu, tuy nhiên cụ thể về công tác tổ chức kế toán ở khu vực công thì vẫn còn hạn chế Các đề tài trên chủ yếu tập trung vào cơ sở kế toán và công việc của người làm kế toán Có thể thấy được rằng các công trình nghiên cứu trên thế giới chưa đi sâu vào công tác tổ chức kế toán Và đây được xem là vấn đề cần được nghiên cứu trong luận này
1.2 Nghiên c ứu tại Việt Nam
- Lâm Thị Thảo Trang (2013) “Hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán
tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục Đại học thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.” Luận văn thạc sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Bài viết mô
tả thực trạng về công tác tổ chức kế toán để quản lý nguồn tài chính tại các đơn vị thành viên trực thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã đề cập
về việc áp dụng chế độ kế toán cho các ĐVSNCL cần phải được đổi mới theo hướng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Trong bài viết tác giả cũng đưa
ra một số giải pháp hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục đại học thuộc đại học quốc gia Tp.HCM sao cho phù hợp với cơ
chế tự chủ tài chính tại các ĐVSNCL nói chung và các đơn vị giáo dục đại học nói riêng ứng với 5 yếu tố nguyên nhân là về cơ chế quản lý tài chính; về vận dụng chế
Trang 17độ kế toán và các quy định pháp lý có liên quan; về bộ máy kế toán; về công nghệ thông tin; về kiểm tra kế toán, kiểm soát nội bộ
- Trần Hoàng Tâm (2013) “Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho các đơn
vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam” Luận văn thạc sĩ Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Bài viết cho thấy rằng mặc dù Bộ Tài Chính đã tạo điều kiện ban hành nhiều văn bản về hệ thống kế toán áp dụng trong việc tổ chức và quản lý của các đơn vị hành chính sự nghiệp Tuy nhiên bên cạnh đó đã có một số khó khăn, bất cập
và hạn chế trong việc tổ chức hệ thống kế toán tại đơn vị nghiệp có thu như là việc ghi nhận, hạch toán, báo cáo tài chính,… Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp một cách rất chi tiết và đồng bộ cho việc hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng ở các đơn vị sự nghiệp có thu cụ thể là các giải pháp nền liên quan đến văn bản pháp lý,
luật ngân sách nhà nước, luật kế toán, chuẩn mực kế toán công, liên quan đến cơ chế quản lý và chi tiêu nội bộ để từ đó góp phần trong việc tổ chức hệ thống kế toán
tại các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam trở nên tốt hơn
- Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) “Hoàn thiện báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam” Luận án tiến sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh” Mục tiêu
của bài viết là làm sáng tỏ hai loại báo cáo tài chính cho đơn vị công đó là BCTC cho mục đích chung và BCTC cho mục đích đặc biệt Từ nghiên cứu của Cristina Silvia Nistora và cộng sự (2013), Chan (2015), Judy Olive (2011) và Luder (1992), tác giả bài viết đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải cách kế toán ở khu vực công Việt Nam đó là môi trường chính trị; môi trường pháp lý; môi trường kinh
tế; môi trường giáo dục, nghề nghiệp, sự chuyên nghiệp; môi trường quốc tế; môi trường văn hóa để từ đó đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện báo cáo tài chính phục vụ cho mục đích chung Tác giả đã khảo sát lấy ý kiến của các chuyên gia để nhận định và tổng hợp các biến đo lường có tác động ảnh hưởng đến việc cải cách kế toán ở khu vực công theo cơ sở dồn tích, kết quả cho thấy các biến ảnh hưởng đó là: thể chế chính trị, sự ủng hộ và quyết tâm thực hiện đổi mới, đối tượng
sử dụng thông tin kế toán, trình độ chuyên môn của chuyên gia và nhân viên kế toán, sự hỗ trợ chuyên môn của các tổ chức kế toán quốc tế, các văn bản pháp lý
Trang 18- Ngô Phi Mỹ Anh (2017) “Các nhân tố tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” Luận văn
thạc sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Mục tiêu của bài viết là hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế để cung cấp thông tin tài chính
hữu ích, hợp lý, minh bạch và quá trình tổ chức kế toán hiệu quả, tiết kiệm phục vụ cho nhà quản lý và những cơ quan cần thông tin Tác giả đã xác định có 7 nhân tố tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đó là: Trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán; Hệ
thống công nghệ thông tin phục vụ cho công tác kế toán; Hệ thống các văn bản pháp
lý về kế toán; Cơ sở kế toán áp dụng; Văn hóa nơi làm việc; Cơ chế quản lý tài chính; Công tác thanh tra, kiểm tra Bài viết đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và đánh giá ưu nhược điểm về tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn TpHCM để đưa ra các giải pháp thiết thực và phù hợp với đặc điểm tình hình
của đơn vị hiện nay
- Phạm Thị Mỹ Phước (2017) “Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” Luận văn
thạc sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp phân tích khác nhau cho bài nghiên cứu của mình để tăng tính khách quan Từ
đó tác giả xác định được mức độ ảnh hưởng của những nhân tố đến công tác tổ chức
kế toán tại các bệnh viện công lập trên địa bàn Tp.HCM và đưa ra những kiến nghị nhằm khắc phục và hoàn thiện, cùng theo đó là việc kiểm soát chặt chẽ công tác kế toán, làm tăng tính tin cậy trên báo cáo tài chính, hỗ trợ việc quản lý và ra quyết định của cơ quan lãnh đạo hướng tới cơ chế tự chủ về tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng Tác giả cũng đã
kế thừa và đưa ra 6 nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán Sau khi phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha dựa theo phần mềm SPSS, tác giả đã loại 1 nhân tố được cho là không có ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán Do đó, mô hình còn lại 5 nhân tố, tác giả tiếp tục đưa vào phân tích độ giá trị của thang đo EFA
và phân tích hồi quy tuyến tính Kết quả cho thấy 5 nhân tố đều có ảnh hưởng đến
tổ chức công tác kế toán và tác động mạnh nhất là nhân tố hệ thống pháp lý và các
Trang 19văn bản hướng dẫn (với hệ số ß=0.529), tác động kế tiếp là quan tâm đến công tác
kế toán của Ban lãnh đạo, kế đó là hệ thống công nghệ thông tin, tiếp đến là trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán và cuối cùng là hệ thống kiểm soát nội bộ (với
hệ số ß=0.045)
- Nguyễn Thị Thu Hiền (2017) “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện hệ
thống kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp theo định hướng chuẩn mực kế toán công quốc tế - nghiên cứu cho các đơn vị hành chính sự nghiệp trên địa bàn Tp.HCM” Luận văn thạc sĩ Đại học Kinh tế Tp.HCM Mục tiêu của bài viết là
nhận diện và đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán của các đơn vị HCSN theo hướng chuẩn mực kế toán công
quốc tế Tác giả đã tổng kết có các nhân tố tác động đó là hệ thống chính trị; hệ
thống pháp lý; môi trường quốc tế; môi trường kinh tế; môi trường nghề nghiệp; điều kiện tổ chức, thực hiện Tất cả các nhân tố đều có tác động cùng chiều đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán đơn vị HCSN theo định hướng chuẩn mực kế toán công
quốc tế Sau khi phân tích dựa theo phần mềm SPSS, kết quả cho thấy có 4 nhân tố tác động: mạnh nhất là hệ thống pháp lý, điều này phù hợp với các nghiên cứu của Klaus Luder (1992), Zang (2015) và Cao Thị Cẩm Vân (2016), tiếp theo là môi trường quốc tế, kế đến là hệ thống chính trị và cuối cùng là nhân tố điều kiện tổ
chức Từ những kết quả trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra một số
kiến nghị nhằm hướng tới việc hoàn thiện hệ thống kế toán đơn vị HCSN theo định hướng chuẩn mực kế toán công quốc tế
1.3 Nh ận xét tổng quan các nghiên cứu trước
Qua việc tổng hợp xem xét đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài của luận văn, có thể thấy được có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau liên quan đến kế toán nói chung và công tác tổ chức kế toán ở khu vực công nói riêng Việc đánh giá công tác kế toán được tiếp cận với nhiều góc
độ khác nhau cụ thể là có công trình nghiên cứu ở nước ngoài của tác giả Sour (2012) đã trình bày công tác cải cách tổ chức kế toán trong đơn vị, nhằm phát triển
và quản lý được hiệu quả hơn Một công trình nghiên cứu khác của tác giả Choy
Trang 20Chong và cộng sự (2011) đã đưa ra nhiều nhân tố tác động nhằm giúp đơn vị gặt hái được hiệu suất công việc tổ chức kế toán tại khu vực công tốt hơn Ngoài ra cũng có các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về hoàn thiện tổ chức công tác kế toán ở các
phạm vi và đối tượng khác nhau Các bài viết đa số tập trung nghiên cứu phân tích
thực trạng và đưa ra nhiều giải pháp khác nhau hướng đến mục tiêu hoàn thiện công tác tổ chức kế toán
1.4 Kho ảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của tác giả
1.4.1 Kho ảng trống nghiên cứu
Từ việc nhận xét các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài của luận văn, tác giả nhận thấy có rất ít đề tài nghiên cứu đến hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tại các Trường Cao đẳng công lập Trong khu vực công, có các đơn vị hành chính, sự nghiệp đa dạng thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, và
có những đặc điểm riêng biệt cần phải được nghiên cứu một cách chi tiết hơn Các công trình nghiên cứu trước liên quan đến công tác tổ chức kế toán là chủ yếu tập trung đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tại một đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc là một doanh nghệp cụ thể, mà chưa chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hoàn thiện công tác tổ chức kế toán, chưa đi sâu vào phân tích tổ chức bộ máy kế toán Chỉ có ít các nghiên cứu tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức kế toán, tiêu biểu là có nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Mỹ Phước với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” (2017) và của tác giả Ngô Phi
Mỹ Anh đề tài “Các nhân tố tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” (2017) Các luận văn này đã khái quát những vấn đề lý thuyết về công tác tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập, nêu ra được những nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức kế toán và đề xuất các giải pháp hướng đến hoàn thiện công tác tổ chức kế toán của các đơn vị, điều này có ý nghĩa tham khảo quan trọng và đóng góp to lớn cho đề tài nghiên cứu của tác giả trong quá trình thực hiện
Trang 211.4.2 Định hướng nghiên cứu của tác giả
Các luận văn đều nghiên cứu về tổ chức công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập hoặc nghiên cứu về công tác tổ chức kế toán tại các đơn vị thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo, mà chưa có nghiên cứu nào đề cập đến những nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tại các đơn vị có mô hình giáo dục đặc
biệt với các khóa đào tạo ngắn ngày như ở các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Dựa vào yếu tố trên, tác giả sẽ tiếp tục kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu đã được công bố ở trong và ngoài nước để thực hiện nghiên cứu đề tài
về “Những nhân tố tác động đến hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tại các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” để tìm ra những nhân tố tác động làm ảnh hưởng đến hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tại đơn vị, nhằm giúp các trường chủ động tiến tới công tác quản lý và tự chủ về tài chính trong giai đoạn sắp tới
Trang 22Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý lu ận chung về công tác tổ chức kế toán ở đơn vị giáo dục đào tạo
2.1.1 Khái ni ệm về công tác tổ chức kế toán
Theo giáo trình Nguyên lý kế toán, Học viện Tài chính (2009): “Công tác tổ
chức kế toán phải đáp ứng được việc thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc chuẩn mực trong kế toán nhằm đạt được mục tiêu tuân thủ pháp luật và
thực hiện đúng các cách tính toán trong kế toán theo yêu cầu của đơn vị Bên cạnh
đó, cũng phải tổ chức một bộ máy làm kế toán sao cho hợp lý tạo được sự liên kết
và phối hợp trong công việc một cách chặt chẽ giữa những người làm công tác kế toán nhằm thực hiện tối ưu nhiệm vụ Ngăn ngừa những hành vi làm ảnh hưởng đến tài sản của đơn vị”
Theo giáo trình Tổ chức công tác kế toán, trường Đại học kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh (2012): “Tổ chức công tác kế toán là việc xác định những công việc,
những nội dung mà kế toán phải thực hiện hay phải tham mưu cho các bộ phận phòng ban khác thực hiện, nhằm hình thành một hệ thống kế toán đáp ứng được các yêu cầu của đơn vị”
Công tác tổ chức kế toán là việc trao đổi qua lại giữa các đối tượng kế toán với nhau bằng sự hiểu biết về nội dung kế toán và được phân công nhiệm vụ một cách rõ ràng trong việc thực hiện các công việc chuyên môn về kế toán Tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý sẽ giúp cho công tác thu nhận, xử lý, hệ thống hóa toàn bộ thông tin tài chính một cách đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy, phục vụ cho nhà quản lý
Do đó, kế toán có vai trò rất quan trọng trong hệ thống công tác quản lý của đơn vị Bởi suy cho cùng thì chất lượng của công tác kế toán phụ thuộc trực tiếp vào trình độ, đạo đức nghề nghiệp và sự phân công công việc hợp lý giữa các nhân viên trong bộ máy kế toán Vì vậy, vai trò quan trọng của kế toán chỉ thật sự được phát huy khi đơn vị có tổ chức công tác kế toán một cách khoa học và hiệu quả, bên
cạnh đó phải luôn đổi mới hoàn thiện với chính sách và chế độ của đơn vị
Trang 232.1.2 Mô hình công tác t ổ chức kế toán
Tùy vào quy mô và đặc điểm của từng đơn vị mà có mô hình tổ chức công tác kế toán theo các hình thức khác nhau như là tổ chức công tác theo hình thức tập trung, phân tán hay là hỗn hợp (vừa tập trung, vừa phân tán) Việc lựa chọn hình
thức tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý sẽ làm giảm bớt khối lượng công
việc kế toán, tiết kiệm được chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung (hay còn được gọi là mô hình
một cấp): là hình thức tổ chức mà toàn bộ đơn vị chỉ thành lập một phòng kế toán duy nhất để thực hiện hết tất cả công việc kế toán từ việc thu nhận, xử lý, ghi sổ kế toán, tổng hợp lập báo cáo của một đơn vị Không thực hiện tổ chức bộ máy kế toán riêng ở các bộ phận trực thuộc khác, chỉ phân công nhân viên kế toán làm nhiệm vụ thu thập và hướng dẫn hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, sau đó chuyển hết chứng từ về phòng kế toán để tổng hợp và báo cáo
Hình thức tổ chức kế toán phân tán (hay còn được gọi là mô hình hai cấp): là hình thức tổ chức mà công tác kế toán được chia thành hai cấp là phòng kế toán trung tâm và phòng kế toán của các đơn vị trực thuộc Kế toán ở cả hai cấp đều thực
hiện công tác kế toán thu thập, xử lý và hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tương ứng ở đơn vị mình Phòng kế toán trung tâm sẽ thực hiện tổng hợp số liệu từ báo cáo ở các bộ phận gửi về, thống kê tập hợp cho toàn đơn vị, lập báo cáo theo quy định của Nhà nước, đồng thời thực hiện việc hướng dẫn kiểm tra công tác kế toán của toàn bộ phận trong đơn vị
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán (hay còn được
gọi là mô hình hỗn hợp): là hình thức tổ chức bộ máy kết hợp đặc trưng của hai hình thức tổ chức kế toán tập trung và tổ chức kế toán phân tán Bộ máy tổ chức theo mô hình này thành lập phòng kế toán trung tâm ở đơn vị chính, và tùy vào quy
mô của các đơn vị trực thuộc mà thành lập phòng kế toán riêng cho mỗi đơn vị, nếu đơn vị trực thuộc lớn và đủ trình độ quản lý hoặc là cử nhân viên kế toán ở phòng trung tâm hướng dẫn cách hạch toán ban đầu sau đó gửi số liệu về phòng kế toán trung tâm để được xử lý và lên báo cáo tài chính cho toàn đơn vị
Trang 242.1.3 Yêu c ầu và nguyên tắc của công tác tổ chức kế toán
- Công tác tổ chức kế toán ở các đơn vị SNCL phải thực hiện đúng một số yêu cầu theo Điều 5 của Luật kế toán số 88/2015/QH13 như sau:
Một là, tổ chức kế toán phải kịp thời phản ánh đầy đủ, chính xác, nguồn tài chính, kinh phí, tài sản và tất cả mọi hoạt động phát sinh kinh tế tài chính ở đơn vị
Hai là, phải thống nhất nội dung và phương pháp tính toán giữa các chỉ tiêu tài chính với dự toán
Ba là, đảm bảo số liệu thể hiện trên báo các tài chính phải chính xác và đáng tin cậy, để cung cấp cho các nhà quản lý có được những thông tin cần thiết, hữu ích
về tình hình tài chính tại đơn vị
- Tuân thủ theo Điều 6 của Luật kế toán số 88/2015/QH13 đơn vị khi tổ chức công tác kế toán tại đơn vị phải tuân thủ đảm bảo các nguyên tắc như sau:
+ Dù đối với bất kỳ cơ quan, tổ chức nào, không phân biệt loại hình cơ quan nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hay tập đoàn nước ngoài thì công tác tổ chức kế toán tài chính tại đơn vị phải tuân theo đúng những quy định và chuẩn mực của kế toán Kế toán không những là công cụ điều hành nền kinh tế quốc dân trong các cơ quan nhà nước mà nó phải là kim chỉ nam của tất cả doanh nghiệp về mặt quản lý tài chính Do vậy, việc tổ chức kế toán tại đơn vị phải tuân theo hai đề cập ở trên, được nhấn mạnh là phải làm đúng theo quy định pháp luật và chuẩn mực về kế toán
+ Nguyên tắt thứ hai trong tổ chức công tác kế toán tại đơn vị cũng không nằm ngoài mục đích thống nhất trong công tác quản lý nguồn tài chính, các cơ quan, đơn vị phải dựa trên các văn bản chính sách, chế độ, thể chế và những quy định mà nhà nước đã ban hành để đạt được mục tiêu quản lý với hiệu quả cao nhất góp phần làm tăng cường quản lý nền kinh tế của nhà nước Bên cạnh đó, trong mỗi bước
thực thi phải đảm bảo tuân thủ phù hợp theo các nguyên tắc, các chính sách, chế độ,
thể lệ và các qui định của pháp luật hiện hành
+ Kế toán luôn hướng con người đến những chuẩn mực và quy định cũng như nguyên tắt chung Tuy nhiên tổ chức kế toán tài chính tại đơn vị phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp với đặc thù của các đơn vị sự nghiệp công lập Tùy theo đặc
Trang 25sao cho phù hợp và đảm bảo hiệu quả tối đa, nhưng phải tuân thủ theo đúng luật kế toán
+ Việc xây dựng và tổ chức kế toán tại đơn vị luôn được xem xét về quy mô, văn hóa, trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ Để tổ chức tốt công tác kế toán đòi
hỏi người làm quản lý và người làm kế toán phải có trình độ chuyên môn phù hợp
nhằm phát huy tối đa vai trò của kế toán đối với công tác quản lý của toàn bộ đơn
vị Ở đây muốn nhấn mạnh rằng nếu thiết lập bộ máy tổ chức công tác kế toán thì cán bộ được giao nhiệm vụ phải là người có chuyên môn cao, kinh nghiệm và tính cách phù hợp thể hiện qua thâm niên, bằng cấp và tính hiệu quả trong công tác kế toán
+ Một tổ chức cồng kềnh sẽ là tổ chức không phát huy được tối đa tiềm năng, năng lực và hiệu quả Do đó, muốn tổ chức công tác kế toán tốt trước tiên phải đúng, đủ, gọn gàng, dễ hiễu và tiết kiệm tối đa cho cơ quan, đơn vị Theo xu hướng đơn vị có một tổ chức kế toán khoa học sẽ giúp cho nhà quản trị dễ dàng
nhận ra những mặt tốt để phát huy và những mặt hạn chế để khắc phục và cải thiện kịp thời Chung quy lại, một bộ máy tổ chức kế toán phải là thống nhất, tiết kiệm, khoa học và không ngừng hoàn thiện theo xu thế ngày càng phát triển của xã hội
2.1.4 Nhi ệm vụ của công tác tổ chức kế toán
Thực hiện đúng nhiệm vụ của công tác tổ chức kế toán là rất quan trọng, thế nên tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị HCSN nói chung, và các ĐVSNCL nói riêng phải dựa theo Điều 4 của Luật kế toán số 88/2015/QH13 thực hiện tốt các nhiệm vụ sau để thể hiện được vai trò của tổ chức kế toán trong công tác quản lý và điều hành:
Thứ nhất, thu thập, phản ánh, xử lý tất cả những thông tin có liên quan về nguồn kinh phí được cấp từ cơ quan cấp trên, nguồn kinh phí được tài trợ và tình hình chi tiết cụ thể sử dụng các khoản kinh phí đó như thế nào
Thứ hai, kiểm tra chấp hành thực hiện chỉ tiêu kinh tế tài chính và các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước, kiểm tra tình hình chấp hành kỷ luật thu nộp ngân sách và các chế độ, chính sách của Nhà nước một cách thường xuyên
Trang 26Thứ ba là theo dõi chặt chẽ tình hình cấp phát kinh phí cho các đơn vị cấp dưới, tình hình chấp hành dự toán thu chi và quyết toán của các đơn vị cấp dưới
Thứ tư là nộp các báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính theo qui định Cung cấp thông tin số liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng dự toán, xây dựng các định mức chi tiêu Phân tích và đánh giá hiệu quả
sử dụng các nguồn kinh phí, vốn quỹ ở đơn vị
2.2 T ổng quan về đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo
2.2.1 Khái ni ệm
Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và
xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định
Theo chế độ kế toán HCSN (2016) “Đơn vị hành chính sự nghiệp là đơn vị
do nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý nhà nước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho từng giai đoạn”
Theo Điều 2 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ban hành vào ngày 14/02/2015
“Quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị sự nghiệp công
lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật,
có tư cách pháp nhân cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý của nhà nước”
Có nhiều khái niệm tương đồng được đưa ra, tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả xin được khái niệm đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập là đơn vị thuộc sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thành lập gắn liền với chức năng cung ứng dịch vụ giáo dục đào tạo cho xã hội và được nhà nước cấp phát kinh phí hoạt động nhằm đảm bảo sự nghiệp giáo dục
Trang 272.2.2 Đặc điểm và vai trò của đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục đào tạo có những đặc trưng và vai trò cơ bản thể hiện sự khác biệt trong chức năng và nhiệm vụ hoạt động
cụ thể theo Luật giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13:
Thứ nhất, hoạt động của đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập mang tính định hướng của nhà nước trong từng thời kỳ, đặc biệt là đối với hoạt động đào
tạo
Thứ hai, đơn vị sự nghiệp giáo dục đại học và cao đẳng công lập cung ứng các dịch vụ công đặc biệt, vì sản phẩm của nó là tri thức
Thứ ba, đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập sử dụng chính con người
để giáo dục đào tạo con người
Thứ tư, hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập mang tính kết nối cao giữa gia đình, nhà trường và xã hội
Thứ năm, năm học không trùng với năm ngân sách
2.2 3 Đặc điểm vai trò của loại hình Cao đẳng công lập
Dựa theo Thông tư số 46/2016/TT-BLĐTBXH về quy định điều lệ trường cao đẳng có những đặc điểm và vai trò cơ bản như sau:
- Quyền sở hữu đất đai, tài sản thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho các trường quản lý và sử dụng nhằm mục đích đảm bảo hoạt động giáo dục của đơn
vị
- Nguồn tài chính của các trường được thực hiện theo quy định Chính phủ về
cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp
- Tổ chức đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các lớp đào tạo thường xuyên cung cấp nguồn nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh
2.3 N ội dung tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo
Theo giáo trình Nguyên lý kế toán, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2015): “Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ công cụ
quản lý tài chánh; có vai trò quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính trong đơn vị (tổ chức kinh doanh – doanh nghiệp, cơ quan hành chính, đơn
Trang 28vị sự nghiệp…) Tổ chức tốt công tác kế toán có ý nghĩa vô cùng to lớn trong công tác cung cấp thông tin để thực hiện mục tiêu quản trị đơn vị nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.”
Theo giáo trình Nguyên lý kế toán, NXB Tài chính Hà Nội (2008): “Tổ chức
kế toán là việc tạo ra mối liên hệ theo trình tự nhất định giữa các yếu tố của hệ
thống kế toán Các yếu tố của hệ thống kế toán gồm: các nhân viên kế toán với năng
lực chuyên môn; hệ thống chứng từ tài khoản; sổ sách và báo cáo kế toán; các phương pháp kế toán; các trang thiết bị sử dụng cho kế toán Tổ chức kế toán là việc
tạo ra mối liên hệ giữa các yếu tố trên nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của
bộ máy kế toán.”
Việc lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán phải xem xét đến việc thiết
kế bộ máy tổ chức kế toán ở cơ quan đơn vị đó là như thế nào Tùy thuộc vào tính chất, quy mô hoạt động, đặc điểm của từng cơ quan đơn vị cụ thể, trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán hiện có mà người quản lý, kế toán trưởng sẽ thiết lập một hình
thức tổ chức kế toán sao hiệu quả, phù hợp với tình hình hiện tại và đáp ứng được nhu cầu của cơ quan đơn vị
2.3.1 T ổ chức vận dụng chế độ kế toán
2.3.1.1 T ổ chức vận dụng chứng từ kế toán
Hạch toán là công việc khởi đầu của công tác kế toán, nó có ý nghĩa quyết định trong số liệu kế toán Chính vì phải cung cấp những số liệu mang tính chính xác, hữu hiệu và kịp thời, phòng kế toán cần chú trọng trong công tác hướng dẫn,
kiểm tra việc hạch toán ban đầu ở tất cả các bộ phận phòng ban trong đơn vị Tất cả các mẫu hệ thống chứng từ để ghi chép hạch toán phải phù hợp với mẫu chứng từ theo qui định của Bộ tài chính và Tổng cục Thống kê
2.3.1.2 T ổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán phải dựa vào QĐ 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính, mới đây là có Thông tư số 107/2017/TT-BTC về việc hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp Việc vận dụng hệ
Trang 29thống tài khoản kế toán phải đảm bảo toàn bộ số liệu kế toán tại cơ quan đơn vị phản ánh thống kê đầy đủ hoạt động, quản lý chặt chẽ, và đảm bảo được tính rõ ràng, minh bạch về tài chính của cơ quan đơn vị
Theo giáo trình Nguyên lý kế toán (NXB Tài chính, 2008): “Tài khoản kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán, được sử dụng để
phản ánh một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống số hiện có và sự vận động
của đối tượng kế toán cụ thể” Như vậy, hệ thống tài khoản được thống nhất về tên
gọi, số hiệu, số lượng, nội dung và công dụng của tài khoản Mỗi cơ quan, đơn vị sẽ
có cho mình 1 tài khoản chính và tài khoản phụ (gọi là tài khoản cấp 2) để việc quản
lý được thuận tiện và dễ dàng
2.3.1.3 T ổ chức vận dụng sổ sách kế toán và hình thức kế toán
Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh
tế đã phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian có liên quan đến đơn
vị Mỗi đơn vị chỉ có một hệ thống sổ kế toán cho một kỳ kế toán tuân thủ theo
Thông tư số 107/2017/TT-BTC về việc hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp áp dụng cho cơ quan nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập
Mỗi đơn vị kế toán được phép lựa chọn một trong bốn hình thức sổ kế toán sau đây sao cho phù hợp với tình hình hiện tại của đơn vị và nhất thiết phải thuân
thủ theo mọi nguyên tắc cơ bản quy định cho hình thức sổ kế toán đã lựa chọn về:
loại sổ, số lượng, kết cấu của các loại sổ, mối quan hệ giữa các loại sổ
- Hình thức kế toán Nhật ký chung;
- Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ Cái;
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ;
- Hình thức kế toán trên máy vi tính
2.3.1.4 T ổ chức lập và nộp báo cáo kế toán
“Báo cáo tài chính được lập theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán, dùng
để tổng hợp và thuyết minh về tình hình kinh tế - tài chính của đơn vị, nhằm cung
cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị”, theo giáo trình Nguyên lý kế toán, trường Đại học Kinh tế Tp.HCM (2015)
Trang 30Báo cáo kế toán là báo cáo tài chính cuối cùng của một quá trình làm công tác kế toán, do đó số liệu thông tin được trình bày trên báo cáo kế toán mang tính
tổng hợp về tình hình hoạt động tài chính trong kỳ của cơ quan đơn vị đó, nhằm cung cấp thông tin tài chính phục vụ cho công tác kiểm tra, đánh giá và quản lý cho
cấp lãnh đạo quản lý cả nội bộ lẫn bên ngoài có quan hệ lợi ích với đơn vị
2.3.2 T ổ chức bộ máy kế toán
Theo giáo trình Nguyên lý kế toán, NXB Tài chính Hà Nội (2008): “Bộ máy
kế toán là tập hợp đồng bộ các nhân viên kế toán với sự hỗ trợ của các phương tiện
kỹ thuật để thực hiện các chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động của đơn vị hạch toán”
Một khái niệm khác theo giáo trình Nguyên lý kế toán, trường Đại học Kinh
tế Tp.HCM (2015): “Tổ chức bộ máy kế toán là việc phân công công việc cho những người làm kế toán trong đơn vị, nhằm thực hiện tốt công tác kế toán và đảm
bảo các yêu cầu sau: phù hợp với quy mô hoạt động và đặc điểm tổ chức quản lý
của đơn vị; bộ máy kế toán phải tinh gọn, chuyên môn hóa, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ.”
Dựa theo cơ sở trên, tác giả cho rằng “Bộ máy kế toán là tổ chức những người làm công tác kế toán tại đơn vị sao cho bộ máy kế toán phù hợp với qui mô
hoạt động và yêu cầu quản lý của cơ quan đơn vị cùng với việc ghi chép, tính toán
xử lý toàn bộ thông tin liên quan đến công tác kế toán từ việc thu nhận, kiểm tra đến việc tổng hợp, đảm bảo cung cấp những thông tin tài chính, về tình hình hoạt động
và đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ kế toán của cơ quan đơn vị”
Tóm lại, việc tổ chức bộ máy kế toán hợp lý với sự phân công rõ ràng từ các cán bộ quản lý và tạo được mối quan hệ giữa những cán bộ làm kế toán với nhau là
một trong những việc làm tất yếu, có yếu tố quyết định đến chất lượng kế toán của
một đơn vị
Trang 312.3.3 T ổ chức kiểm tra kế toán
Theo điều 3 Luật kế toán số: 88/2015/QH13 có định nghĩa: “Kiểm tra kế toán là việc xem xét, đánh giá tuân thủ pháp luật về kế toán, sự trung thực, chính xác của thông tin, số liệu kế toán”
Công tác kiểm tra kế toán là một hoạt động quan trọng trong tổ chức kế toán
nhằm đảm bảo cho công tác kế toán được thực hiện đúng qui định, chế độ, chính sách ban hành
Tổ chức kiểm tra phải được diễn ra thường xuyên, liên tục và có hệ thống
nhằm kịp thời ngăn chặn, phát hiện những sai sót, tăng cường tính đúng đắn, hợp lý, trung thực, khách quan trong việc áp dụng và thực hiện các chính sách, chế độ kế toán, tài chính của đơn vị
2.3.4 T ổ chức ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán
Theo giáo trình Nguyên lý kế toán, trường Đại học Kinh tế Tp.HCM (2015):
“Ứng dụng tin học trong công tác kế toán không chỉ đảm bảo cung cấp thông tin
một cách kịp thời, chính xác mà còn làm giảm nhẹ công việc xử lý số liệu, góp phần làm tăng hiệu suất công tác kế toán tại đơn vị.” Công nghệ thông tin đã góp phần làm thay đổi nhiều lĩnh vực quản trị hiện nay, đặc biệt là trong kế toán, được thể hiện chủ yếu ở việc xử lý dữ liệu và cung cấp thông tin kế toán có những bước tiến
lớn so với quy trình xử lý theo hướng thủ công trước đây
Theo Luật công nghệ thông tin (2006): “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý và trao đổi thông tin số” Trong thời kỳ nền kinh tế ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng, công tác kế toán luôn là công cụ nồng cốt trong quá trình hoạt động của đơn vị Sự phát triển nhanh chóng và ngày càng đa dạng hơn
của hoạt động kế toán đã làm cho dữ liệu về công tác này trở nên đa dạng và phong phú Vấn đề được xem xét là đơn vị phải ghi nhận, xử lý, lưu trữ các thông tin dữ liệu như thế nào để có thể đưa ra những thông tin tài chính chất lượng cho nhà quản
trị
Trang 32Từ vấn đề trên, việc tổ chức định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập sẽ làm thay đổi cơ bản công việc
của nhân viên kế toán như: khối lượng công việc ghi chép, tìm kiếm, xử lý sẽ được
giảm đi đáng kể, và có thể tìm kiếm thông tin dữ liệu một cách dễ dàng hơn, tiết
kiệm được thời gian, chi phí cho đơn vị Bên cạnh đó, người làm công tác kế toán không còn phải mất nhiều thời gian cho việc ghi sổ, nhập liệu mà chuyển sang việc
kiểm tra, kiểm soát, phân tích dữ liệu và cung cấp thông tin kế toán
2.4 Đặc điểm về thông tin kế toán tài chính của trường CĐCL
Nội dung công tác tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo được tổng hợp từ các nghiên cứu trước và được trình bày ở phần trên Tổ chức công tác kế toán tại trường CĐCL cũng thực hiện tương tự theo các nội dung: vận dụng
chế độ kế toán, chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản, sổ sách và hình thức kế toán, lập và nộp báo cáo kế toán tuân thủ theo thông tư số 107/2017/TT-BTC của Bộ tài chính về việc hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp
Thông tin kế toán tài chính của trường CĐCL được cung cấp một cách liên tục, thường xuyên và có hệ thống tình hình tài chính, tình hình hoạt động, luồng tiền
của cụ thể Thông tin kế toán phản ánh một cách tổng quát về tình hình tài chính, là
dữ liệu rất quan trọng đóng góp vào quy trình ra quyết định của trường và của cơ quan chủ quản, từ đó thúc đẩy sự nghiệp phát triển công tác giáo dục của nhà trường Do đó thông tin kế toán luôn phải đảm bảo được tính phù hợp, tin cậy và có thể so sánh được:
+ Tính phù hợp: nghĩa là thông tin kế toán phải được thể hiện một cách dễ
hiểu, giúp người đọc và sử dụng báo cáo hiểu được các con số, các chỉ tiêu và mối quan hệ trong báo cáo này
+ Tính tin cậy: nghĩa là thông tin kế toán phải được trình bày và công bố đúng theo yêu cầu đã đề ra, mang tính trung thực, khách quan và đầy đủ, không bóp méo dữ liệu, không sai lệch so với tình hình thực tế
Trang 33+ Có thể so sánh được: nghĩa là các trường sử dụng thống nhất các nguyên tắc và phương pháp kế toán trong suốt kỳ kế toán Trường hợp có thay đổi, phải giải trình rõ nhằm giúp người đọc báo cáo kế toán có thể so sánh được giữa kỳ kế toán này với kỳ kế toán trước hoặc sau đó
Các đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính của trường CĐCL là Ban giám hiệu, cơ quan chủ quản cấp trên là những người có trách nhiệm điều hành và
thực hiện mục tiêu chung của nhà trường Ngoài ra, báo cáo kế toán còn được cung
cấp cho các đơn vị đầu tư, các cơ quan chức năng, thanh tra hoặc kiểm toán nhà nước khi có lệnh kiểm tra của cơ quan cấp trên Tùy vào mỗi trường trực thuộc cơ quan bộ ngành quản lý khác nhau nhưng chung quy đều thực hiện chế độ tài chính
và sử dụng nguồn ngân sách theo quy định của pháp luật, theo Điều 31 của Luật giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13
2.5 Lý thuy ết nền
2.5.1 Lý thuy ết đại diện
Lý thuyết đại diện nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được
ủy quyền theo Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976 Bên ủy quyền là
chủ sở hữu của các nguồn lực, còn bên được ủy quyền là người đại diện quản lý các nguồn lực đó Chủ sở hữu sẽ trao cho người đại diện một số quyền nhất định để
quản lý và điều hành nhằm phục vụ lợi ích cho chủ thể Lý thuyết đại diện cho rằng,
nếu chủ thể và người đại diện quản lý công ty đều mong muốn có lợi ích cho mình, thì chắc chắn rằng người quản lý công ty sẽ không cố gắng thực hiện những việc mang lại lợi ích tốt nhất cho chủ sở hữu của họ Xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ sở hữu và đại diện trong công ty vì cả hai bên có lợi ích khác nhau Người đại diện quản lý công ty sẽ có ưu thế hơn về thông tin, nên dễ dàng thực hiện cho lợi ích riêng của mình Lý thuyết này nói lên
việc làm thế nào để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa chủ sở hữu và người đại diện khi mà người đại diện có lợi thế hơn về thông tin
Vì vậy, người đại diện quản lý đơn vị công nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng cần phải đưa ra những thông tin khách quan, trung thực về tình
Trang 34hình hoạt động tài chính, cụ thể là việc thực hiện công tác tổ chức kế toán tại đơn vị nhằm giảm thiểu việc xung đột lợi ích giữa cấp trên và cấp dưới
2.5.2 Lý thuy ết thông tin bất cân xứng
Lý thuyết này được ra đời vào những năm 1970 bởi ba nhà nghiên cứu George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế vào năm 2001 Lý thuyết thông tin bất cân xứng là việc các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, không công bố minh bạch về thông tin đang
nắm giữ Việc này làm cho bên có ít thông tin sẽ có những quyết định không chính xác khi giao dịch, song song đó bên nắm giữ nhiều thông tin hơn sẽ có hành vi cố ý gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện giao dịch Ví dụ như là người mua hàng sẽ có
ít thông tin hơn người bán, do đó họ sẽ không có thông tin thực đúng về giá cả kịp
thời dẫn đến việc họ sẽ trả giá thấp hơn giá vốn của người bán, làm cho người bán không có động lực sản xuất sản phẩm có chất lượng, điều này làm bất lợi cho cả hai bên, thất bại thị trường xảy ra
Việc thực hiện thông tin trên báo cáo tài chính do kế toán cung cấp đòi hỏi phải minh bạch, trung thực thì việc ra quyết định về kinh tế tài chính của nhà quản
trị mới có độ chính xác cao, giúp cho hoạt động của đơn vị phát triển Tác giả vận dụng lý thuyết này vào luận văn nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán thật tốt
phục vụ cho việc cung cấp thông tin đáng tin cậy cho cấp trên
2.6 Các nhân t ố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện công tác tổ chức kế toán
Dựa vào cơ sở lý luận, lý thuyết nền và những nghiên cứu trước đây của các tác giả Choy Chong và cộng sự (2011), Trần Hoàng Tâm (2013), Nguyễn Thị Thu
Hiền (2015), Phạm Thị Mỹ Phước (2017) đã đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức kế toán như là: cơ chế quản lý; vận dụng chế độ kế toán và hệ
thống văn bản pháp lý; luật ngân sách nhà nước; trình độ chuyên môn của chuyên gia và kế toán viên; công nghệ thông tin; hệ thống kiểm tra kế toán, kiểm soát nội bộ; sự quan tâm công tác kế toán của lãnh đạo đơn vị,… Tác giả đã đúc kết, lựa
chọn và xác định ra 5 nhân tố tác động đến hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tại
Trang 35các trường cao đẳng công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh để làm nghiên cứu cho bài luận văn của mình, cụ thể như sau:
2.6.1 H ệ thống văn bản pháp lý
Hệ thống pháp lý và các văn bản hướng dẫn cho việc thực hiện công tác tổ
chức kế toán là nhân tố ảnh hưởng khá quan trọng Những văn bản này bao gồm:
Luật kế toán, luật ngân sách, chuẩn mực kế toán công, nghị định, thông tư hướng
dẫn, quy định về quản lý, quy định về chế độ kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp,…là cơ sở để bộ máy kế toán điều chỉnh hoạt động
Nhìn chung, hệ thống văn bản pháp lý ở Việt Nam là khá đầy đủ về quy định, hướng dẫn quản lý tài chính ở khu vực công nói chung và cho các đơn vị hành chính sự nghiệp nói riêng Qua nhiều lần đổi mới và chỉnh sửa đã giúp cho các đơn
vị hành chính sự nghiệp từng bước quản lý chặt chẽ hơn nguồn tài chính của đơn vị góp phần tạo nên thành công chung trong quá trình điều hành ngân sách của Nhà nước Điển hình gần đây là có Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ
của đơn vị sự nghiệp công lập, điều chỉnh cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với ĐVSNCL theo hướng tăng cường trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, khuyến khích các đơn vị có điều kiện vươn lên tự chủ ở mức cao; Thông tư số 107/2017/TT-BTC về việc hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp áp dụng cho cơ quan nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập; trừ các đơn vị sự nghiệp công lập
tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp hoặc tổ chức, đơn vị không sử dụng ngân sách nhà nước Tuy nhiên,
để dễ dàng trong công tác quản lý nội bộ, các đơn vị sự nghiệp công lập tự thiết kế, xây dựng thêm một số sổ kế toán theo dõi phù hợp cho đơn vị mình nhưng vẫn đảm bảo tuân theo các quy định của pháp luật trong chế độ kế toán của nhà nước
Hệ thống pháp lý và văn bản hướng dẫn càng được thống nhất chặt chẽ rõ ràng thì công việc tổ chức thực hiện càng được thuận lợi Theo nghiên cứu của tác giả Muller (1968), Seidler (1976) đã chứng minh “hệ thống văn bản, pháp luật của
một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác kế toán và là nguồn gốc chính hình thành các quy tắc kế toán của quốc gia đó”
Trang 362.6.2 Trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán
Để thực hiện tốt công tác kế toán đòi hỏi người làm trong lĩnh vực này phải
có trình độ kiến thức am hiểu vững chắc về nghiệp vụ kế toán, luôn luôn học hỏi và
kịp thời cập nhật những đổi mới phục vụ cho công tác tổ chức kế toán phù hợp với
chế độ kế toán hiện hành Như vậy, trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên kế toán trong mỗi đơn vị là rất cần thiết và quan trọng Trong trường hợp các thông tin
kế toán bị sai lệch sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định của nhà quản lý
Theo Chan (2005), Choy Chong và cộng sự (2011) những người làm kế toán trong một đơn vị là nguồn nhân lực vô cùng quan trọng vì họ là những người trực tiếp tham gia vào công tác tổ chức kế toán quyết định đến nguồn tài chính của đơn
vị Tác giả Phạm Quang Huy (2014) cũng đề cập rằng “Nguồn nhân lực kế toán công hiện nay vẫn chưa đáp ứng được sự đổi mới nhanh chóng về chuyên môn và công nghệ, rất cần thiết có những chương trình đào tạo hay cập nhật kiến thức chuyên môn thường xuyên đối với các kế toán viên” Bên cạnh đó, bài nghiên cứu
của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) đã chú trọng đến nhân tố trình độ chuyên môn của kế toán viên và đưa nhân tố này tác động đến việc cải cách kế toán khu
vực công sang cơ sở dồn tích vào mô hình nghiên cứu của mình
Từ đó, có thể thấy rằng nếu có một bộ máy tổ chức công tác kế toán làm việc chuyên nghiệp với trình độ chuyên môn tốt sẽ mang lại hiệu quả rất nhiều cho bộ
phận kế toán tại đơn vị Cũng theo đó, những kế toán nắm vững về kiến thức chuyên môn, làm việc rất mau lẹ và sẽ biết cách tiết kiệm được chi phí tối đa cho đơn vị
2.6.3 S ự quan tâm công tác kế toán của lãnh đạo nhà trường
Với mỗi đơn vị, nhà quản lý, lãnh đạo là người giữ linh hồn, truyền cảm
hứng và dẫn dắt tổ chức đi lên Theo tác giả Sandeep Nabar (2007), Anu Agrawal (2004) và Choy chong và cộng sự (2011) có nhận định rằng chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính là tốt và đáng tin cậy nếu như nhà quản lý của doanh nghiệp
có am hiểu càng nhiều về lĩnh vực kế toán tài chính Sự hỗ trợ của ban quản lý cấp
Trang 37cao là một nhân tố xác định sự thành công hay bất bại khi thực hiện và phát triển công tác kế toán (Sandesh, 2010)
Theo quy định của Luật kế toán người đứng đầu đơn vị có trách nhiệm trong
việc tổ chức và chỉ đạo trong việc thực hiện công tác kế toán trong đơn vị Do đó, đội ngũ lãnh đạo tại đơn vị phải hiểu, quan tâm sâu sắc về công tác kế toán Lãnh đạo là người sử dụng số liệu báo cáo tài chính của kế toán trong việc thực hiện ra quyết định, không nên chủ quan chỉ dùng kinh nghiệm quản lý và xem xét lợi ích trong ngắn hạn thì chất lượng trên báo cáo tài chính sẽ không được quan tâm Nếu
có sự quan tâm tốt từ nhà quản lý thì bộ phận tổ chức kế toán sẽ chủ động làm việc theo hướng tích cực hơn, hạn chế được những gian lận, sai sót không đáng có, mang đến một báo cáo tài chính có sự tin cậy cao, hữu ích cho người sử dụng Bởi suy cho cùng, nhà quản lý, người lãnh đạo là những người chịu trách nhiệm cao đối với cấp trên và đưa ra quyết định sự thành bại của một tổ chức Điều đó đòi hỏi họ cũng
phải am hiểu về kế toán quản trị của đơn vị để có những cái nhìn, nhận xét từ đó đưa ra quyết định đúng đắn giúp cho đơn vị phát triển góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
2.6.4 H ệ thống kiểm soát nội bộ
Theo COSO năm 2013 về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính đã định nghĩa như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quy trình đưa ra bởi Ban quản trị của doanh nghiệp, nhà quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đưa ra sự đảm bảo cho việc đạt được mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ”
Kiểm soát nội bộ là một khái niệm đã được thảo luận rất nhiều trong các tài
liệu nghiên cứu hiện nay Nó không phải là một thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một thời điểm nhất định mà nó là một quy trình hoạt động được vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong đơn vị nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để
giảm thiểu các rủi ro và đạt được mục tiêu chung của tổ chức, quá trình này sẽ thay đổi liên tục để thích ứng với mọi thay đổi mà tổ chức sẽ phải đối mặt
Điều 39, Luật kế toán 2015 cho rằng, “Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và
tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy
Trang 38định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”
Cũng có khái niệm khác nêu rằng: “Kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát
nội bộ cùng có chung mục đích, đều do con người xây dựng, thiết lập nhưng chúng
có những điểm khác nhau Kiểm soát nội bộ thường đi vào kiểm soát với những chính sách, thủ tục, nguyên tắc, quy định có tính hệ thống được thừa nhận rộng rãi,
phổ biến Còn khi nói hệ thống kiểm soát nội bộ là nói đến các chính sách, thủ tục, các bước kiểm soát do lãnh đạo đơn vị xây dựng có tính chất bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong đơn vị Vậy, hệ thống KSNB bao gồm cả KSNB và bản thân con người cùng với những phương tiện có tính chất kỹ thuật, cấu trúc hướng vào kiểm soát mang tính bền vững, ổn định, đảm bảo và lâu dài” theo Tạp chí Tài chính kỳ I,
số tháng 11/2016
Có rất nhiều những quan điểm khác nhau về hệ thống kiểm soát nội bộ Trong đó, quan điểm được thừa nhận rộng rãi nhất hiện nay là “Hệ thống KSNB là toàn bộ các chính sách, những quy định, các thủ tục kiểm soát, các bước công việc
do lãnh đạo đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị đạt kết quả Hệ thống KSNB nhằm vào 3 vấn đề lớn, đó là: Tuân thủ luật pháp và quy định; Đảm bảo mục tiêu của hoạt động (hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý); Đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính”
Theo các nghiên cứu trước về kiểm soát nội bộ tại các trường cao đẳng đại học của các tác giả Phạm Thị Hoàng (2013), Nguyễn Thị Hoàng Anh (2014), Nguyễn Thị Thu Hậu (2014) cũng đã chỉ ra rằng hệ thống KSNB giúp các trường
chủ động trong việc phòng ngừa, ngăn chặn những sai phạm, kiểm soát những rủi ro nhằm hoàn thiện hơn công tác kiểm soát thu chi nội bộ, minh bạch trong BCTC giúp cho bộ phận kế toán cung cấp ban lãnh đạo những thông tin kế toán hữu ích và đáng tin cậy, từ đó giúp nhà trường hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác kế toán tại đơn vị
Trang 392.6.5 H ệ thống công nghệ thông tin
Hệ thống công nghệ thông tin là một tập hợp có cấu trúc các trang thiết bị
phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu và hệ thống mạng để sản xuất, truyền nhận, thu
thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số phục vụ cho một hoặc nhiều hoạt động
kỹ thuật, nghiệp vụ của kế toán trong đơn vị
Quyết định số 181/QĐ-BTC ngày 25/01/2011 của Bộ tài chính “về việc ban hành quy định chế độ báo cáo số liệu tài sản cố định và tình hình biến động tài sản
cố định hàng năm thông qua chương trình phần mềm quản lý tài sản trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, dự án trực thuộc Bộ tài chính” nhằm mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tài sản công ở các cơ quan nhà nước được tốt hơn
Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán bằng việc sử dụng phần mềm kế toán “Khái niệm về phần mềm kế toán là chương trình máy tính được thiết
lập nhằm hỗ trợ cho công tác kế toán trong quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ, lập và cung cấp các báo cáo kế toán cho đối tượng sử dụng” Thực tế đã chứng minh, công nghệ thông tin đã thay đổi sổ sách kế toán truyền thống chuyển sang lưu trữ,
xử lý dữ liệu bằng máy tính Các phần mềm kế toán được thiết kế với hàng loạt tính năng chuyên ngành, hoặc có thể được tùy chỉnh để đáp ứng sao cho phù hợp với quy mô, tình hình hoạt động kinh doanh của từng đơn vị
Nghiên cứu của tác giả Zuriati và cộng sự (2017), Choy Chong và cộng sự (2011) cho rằng một hệ thống hiệu quả sẽ hỗ trợ người dùng thực hiện nhiệm vụ của
họ một cách hiệu quả Hệ thống công nghệ thông tin phát triển để tạo điều kiện cho công tác tổ chức, thu thập, lưu trữ và phổ biến dữ liệu được thuận lợi hơn Bên cạnh
đó một hệ thống hiệu quả sẽ giúp cho đơn vị dễ dàng phân tích, kiểm soát và ra quyết định Trong nghiên cứu của tác giả Ouda (2004) cũng có một nhân tố tác động đáng kể đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán là hệ thống máy tính, phần mềm, tốc độ kế nối dữ liệu
Trang 40Tóm t ắt chương 2
Ở chương này, tác giả đã trình bày tổng quan các khái niệm về ĐVSNCL và công tác tố chức kế toán tại ĐVSNCL Bên cạnh đó tác giả cũng trình bày một số lý thuyết nền có liên quan như là lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết đại diện Đồng thời tác giả cũng đưa ra các biến tác động ảnh hưởng đến hoàn thiện công tác
tổ chức kế toán tại các trường CĐCL trên địa bàn Tp.HCM