1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới ở Huyện Nghi Lộc, Tỉnh Nghệ An : Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 34 04 10

103 71 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau: - Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của chính quyền địa phương trong công tác triển khai

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -o0o -

TRƯƠNG THỊ THANH HUYỀN

VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN

NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -o0o -

TRƯƠNG THỊ THANH HUYỀN

VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết với tất cả sự biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin cảm ơn TS Đào Thị Bích Thủy, giáo viên đã hướng dẫn và giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin gửi tới các Thầy giáo, Cô giáo trường Đại học Kinh tế- Đại học Quốc gia Hà Nội và các Thầy giáo, Cô giáo khoa Kinh tế chính trị đã tham gia quá trình giảng dạy trong khóa học vừa qua lời cảm ơn chân thành nhất

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tác giả của các tài liệu đã sử dụng trong quá trình giảng dạy của nhà trường, sách báo, tài liệu, các trang Web, Internet mà tôi đã sử dụng trong quá trình học vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp Thạc sỹ Quản lý kinh tế khoá 2012- lớp QH-2012 E.CH (QLKT), đã đồng hành cùng tôi suốt trong quá trình học lớp Thạc sỹ vừa qua

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU i

MỞ ĐẦU 1

Chương 1.5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 5

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 9

1.2.1 Lý luận về nông thôn 9

1.2.2 Xây dựng nông thôn mới 10

1.2.3 Vai trò của chính quyền trong xây dựng nông thôn mới 17

1.3 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN 28

1.3.1 Kinh nghiệm vài trò của chính quyền trong xây dựng nông thôn mới trên thế giới 28

1.3.2 Kinh nghiệm vai trò của chính quyền xây dựng nông thôn mới trong nước 35

1.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra 41

Chương 2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 CÁCH TIẾP CẬN 43

2.1.1 Tiếp cận hệ thống 43

2.1.2 Tiếp cận dựa vào cộng đồng 43

2.1.3 Tiếp cận trực quan 43

2.2 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 43

2.2.1 Tài liệu thứ cấp 43

2.2.2 Tài liệu sơ cấp 44

2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 44

2.3.1 Phân tổ thống kê 44

2.3.2 Bảng thống kê 45

Trang 5

2.3.3 Phương pháp phân chia và tổng hợp 45

2.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH 46

2.4.1 Phương pháp duy vật biện chứng 46

2.4.2 Phương pháp so sánh 47

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu nông thôn có sự tham gia 47

2.5 KỸ THUẬT VÀ CÔNG CỤ PHÂN TÍCH 48

Chương 3.THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN 49

3.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN NGHI LỘC 49

3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 49

3.1.2 Dân cư 50

3.1.3 Kinh tế - xã hội 51

3.2 MỤC TIÊU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN NGHI LỘC 55

3.2.1 Mục tiêu tổng quát 55

3.2.2 Mục tiêu cụ thể 55

3.3 VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN NGHI LỘC TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 56

3.3.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện 57

3.3.2 Tổ chức thực hiện 57

3.3.3 Kiểm tra, thanh tra, giám sát 68

3.5 ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN NGHI LỘC TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 69

3.5.1 Ưu điểm 69

3.5.2 Tồn tại 72

3.5.3 Nguyên nhân 76

Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MớI Ở HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN 78

Trang 6

4.1 QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MớI CỦA

HUYỆN NGHI LỘC 78

4.1.1 Quan điểm 78

4.1.2 Mục tiêu 78

4.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 79

4.2.1 Nâng cao công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục để nâng cao nhận thức của cán bộ và người dân 79

4.2.2 Tạo lập đồng bộ cơ chế, chính sách 80

4.2.3 Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ 81

4.2.4 Tăng cường và linh hoạt huy động nguồn lực, phân bổ nguồn lực phù hợp 82

4.2.5 Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn 83

4.2.6 Đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát 83

4.2.7 Giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân liên quan đến quá trình xây dựng nông thôn mới 84

4.3 KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 84

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Cơ cấu dân số và lao động Nghi Lộc tính đến 31/12/2013 50

Bảng 3.2 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế trên địa bàn Nghi Lộc (Tính theo giá so sánh năm 2010) 52

Bảng 3.3 Kết quả công tác tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới ………57

Bảng 3.4 Nhận thức của người dân về chương trình nông thôn mới ở huyện Nghi Lộc 59

Bảng 3.5 Thu chi ngân sách năm 2011-2013……… 64

Bảng 3.6 Mức độ sẵn lòng và lý do từ chối đóng góp cho Chương trình nông thôn mới trên địa bàn 66

Bảng 3.7 Hoạt động của Doanh nghiệp 2011-2013 68

Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả thực hiện các tiêu chí trên toàn huyện 70

Biểu 3.9 Phân loại đội ngũ cán bộ cấp huyện và xã năm 2013 73

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta là một nước có nền nông nghiệp lâu đời, do đặc điểm địa hình, lịch sử quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước nên phần lớn dân cư nước

ta sống quần tụ theo từng dòng họ, hình thành nên các làng, xã, phân bố chủ yếu ven lưu vực các dòng sông Cùng với văn minh lúa nước, làng (bản, thôn, xóm…) đã trở thành nét văn hóa riêng của người Việt Nam từ muôn đời nay Đến nay, tuy quá trình đô thị hóa đã diễn ra khá mạnh mẽ nhưng vẫn còn khoảng 70% dân số sinh sống và hơn 54% lao động làm việc ở nông thôn và Việt Nam luôn coi trọng những vấn đề liên quan đến nông dân, nông nghiệp

và nông thôn

Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp để hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập thông qua việc triển khai thực hiện các chương trình lớn ở nông thôn như đầu tư cho các

xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135), đầu tư cho các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP Ở cơ sở, các địa phương cũng đã có nhiều chương trình, kế hoạch, đề án để xây dựng và phát triển nông thôn Tuy nhiên nông thôn nước ta có phạm vi phân bố rộng lớn, phức tạp, cơ sở nền tảng cho phát triển kinh tế yếu kém nên tình trạng kinh tế, văn hoá xã hội kém phát triển ở nông thôn vẫn là phổ biến

Để rút ngắn khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X ra Nghị quyết 26 về

“Nông nghiệp, nông dân và nông thôn” Trên tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành “Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới” (Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009) và “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới” (Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 06/4/2010)

Trang 9

Trên tinh thần Nghị quyết 26 và các quyết định có liên quan, các địa phương căn cứ vào đặc điểm, nguồn lực của địa phương mình mà tiến hành các hoạt động xây dựng nông thôn mới theo các tiêu chí đã đặt ra

Hiện nay cũng như cả nước, tỉnh Nghệ An đang phấn đấu khẩn trương hoàn thành quá trình xây dựng nông thôn mới để làm thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nông dân Chính vì thế, đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới, đưa ra những giải pháp có tính khả thi cao, phù hợp với yêu cầu, sát với thực tiễn, là những yêu cầu cấp bách

Nghi Lộc là huyện đồng bằng lớn thứ 3 của tỉnh Nghệ An, là một trong những địa phương có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An So với nhiều huyện thị khác trong tỉnh , huyện Nghi Lộc có dân số khá đông với số dân hơn 194.858 người, nhưng dân cư chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (chiếm 96,5%) Huyện được xem là một địa phương có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội và thường được lựa chọn là nơi để triển khai các mô hình thí điểm Nhưng hiện nay việc triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới tại địa bàn huyện còn nhiều lúng túng và bất cập Nghiên cứu đưa ra các giải pháp để nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới sẽ thúc đẩy từng bước thành công xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nghi Lộc Đó sẽ được coi là sự khởi đầu cho hàng loạt những thành công tiếp theo tại các địa phương khác trong công cuộc xây dựng nông thôn mới nói riêng và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung

Chính vì vậy , Luâ ̣n văn tâ ̣p trung vào viê ̣c nghiên cứu , đánh giá một cách tổng thể hiện trạng thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Nghi Lộc hiện nay, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế của chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới để từ đó giúp cấp uỷ, chính quyền địa

Trang 10

phương tìm ra những giải pháp hữu hiệu góp phần xây dựng thành công nông thôn mới trên địa bàn huyện Nghi Lộc Xuất phát từ những suy nghĩ đó, tác

giả đã lựa chọn Đề tài nghiên cứu: “Vai trò của chính quyền địa phương

trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”

* Câu hỏi nghiên cứu chính của đề tài là: Chính quyền địa phương

có vai trò như thế nào trong triển khai xây dựng nông thôn mới ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới?

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu: Đánh giá thực trạng vai trò của chính quyền địa phương

trong xây dựng nông thôn mới và qua đó đề xuất các giải pháp phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong xây dựng thành công nông thôn mới ở

huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của chính quyền địa phương trong công tác triển khai xây dựng nông thôn mới

- Đánh giá thực trạng vai trò của chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Nghi Lộc, Nghệ An

- Đề xuất các giải pháp phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Nghi Lộc, Nghệ An

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là vai trò của chính quyền huyện Nghi Lộc trong xây dựng nông thôn mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

3.2.1 Phạm vi không gian: Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

3.2.2 Phạm vi về thời gian: Từ năm 2010-6/2014

3.2.3 Phạm vi nội dung: Chính quyền địa phương trong xây dựng nông

thôn mới trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, tiếp cận theo chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới

4 Cấu trúc Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn

về vai trò của chính quyền trong xây dựng nông thôn mới

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng của chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An

Chương 4: Giải pháp đẩy mạnh vai trò của chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Nghi Lộc

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN TRONG XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Vấn đề xây dựng nông thôn mới được một số nhà nghiên cứu khoa học

xã hội và các nhà hoạt động chính trị quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau Nhiều công trình đã góp phần giải đáp những đòi hỏi bức thiết của thực tế đối với nông nghiệp, nông thôn nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng

Có hàng loạt công trình nghiên cứu, giới thiệu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn của nước ngoài: Tác phẩn Benedict J.tria kerrkvliet,

Jamesscott Nguyễn Ngọc, Đỗ Đức Định, năm 2000 Một số vấn đề về nông

nghiệp, nông dân nông thôn ở các nước và Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản

Hà Nội Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam Những điểm đáng chú ý của công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề của chính sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay như, tương lai của các trang trại nhỏ; nông dân với khoa học; hệ tư tưởng của nông dân ở thế giới thứ ba; các hình thức sở hữu đất đai; những mô hình tiến hoá nông thôn ở các nước nông nghiệp trồng lúa Đặc biệt lưu ý là những kết quả nghiên cứu của công trình về làng truyền thống ở Việt Nam; quan hệ làng xóm - Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế

Tác phẩm: Nguyễn Thế Nhã và Hoàng Văn Hoan, 1995 Vai trò của

Nhà nước trong phát triển nông nghiệp của Thái Lan Hà Nội: Nhà xuất bản

Nông nghiệp Trong công trình này các tác giả đã đi sâu phân tích quá trình

Trang 13

hoạch định và chỉ đạo thực hiện chính sách nông nghiệp của Thái Lan từng thời kỳ Trong đó một số nội dung được các tác giả đề cập có giá trị tham khảo rất tốt cho Việt Nam như chính sách phát triển các hợp tác xã nông nghiệp, chính sách xuất khẩu nông sản, chính sách tín dụng và đặc biệt là những chính sách liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế của ngành nông nghiệp.Những công trình liên quan đến chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở nước ta có khối lượng rất đồ sộ, cách thức tiếp cận cũng rất đa dạng

Công trình: Phạm Xuân Nam, 1997 Phát triển nông thôn Hà Nội: Nhà

xuất bản Khoa học xã hội là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nông thôn Trong công trình này, tác giả đã phân tích khá sâu sắc một số nội dung về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta như dân số, lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; vấn đề sử dụng và quản lý nguồn lực tài nguyên thiên nhiên; vấn đề phân tầng xã hội và xoá đói giảm nghèo Trong lúc phân tích những thành tựu, yếu kém và thách thức đặt ra trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta, các tác giả đã chỉ ra yêu cầu hoàn thiện

hệ thống chính sách và cách thức chỉ đạo của Nhà nước trong quá trình vận động của nông thôn

Về mô hình nông nghiệp, nông thôn trong lịch sử dân tộc là vấn đề rất được nhiều nhà khoa học quan tâm Đây cũng là vấn đề không thể thiếu vắng khi xác định mô hình nông thôn mới hiện nay

Công trình nghiên cứu Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang, 1996

Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã luận giải nhiều

nội dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu như khái niệm về chính sách, các nội dung của chính sách kinh tế và quá trình thay đổi chính sách nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm đổi mới và những tác động của chúng

Trang 14

Điểm chung nhất của các nghiên cứu này là sau khi phân tích thực tiễn giải quyết vấn đề quản lý Nhà nước nói chung và việc xây dựng chỉ đạo chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ngoài, các tác giả đều cố gắng gợi mở, nêu lên những kinh nghiệm để có thể vận dụng cho giải quyết những vấn đề thực tiễn của Việt Nam

Những công trình trên đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những

dữ liệu rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nước ta Tuy nhiên, các công trình ấy không đi sâu nghiên cứu vai trò của chính quyền trong xây dựng nông nghiệp, nông thôn

Ngoài ra, một số công trình đã đề cập khá sâu các quan điểm, giải pháp

về xây dựng nông thôn mới tại một số địa phương như: Phan Đình Hà, 2011

Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học nông

nghiệp Hà Nội Luận văn đã tổng quan được những vấn đề lý luận về nông thôn mới; hệ thống hóa được những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng nông thôn mới; đúc kết được khái niệm và những tiêu chí đánh giá, những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện xây dựng nông thôn mới ở huyện Thanh Chương và đề xuất được một số giải pháp khá cụ thể để nâng cao giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, đề tài luận văn của tác giả Phan Đình Hà mới chỉ nêu được những vấn đề chung và đưa ra các giải pháp chung chung trong xây dựng nông thôn mới, chưa đề cập sâu phân tích và nhấn mạnh vai trò của

hệ thống chính trị, trong đó tập trung nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới

Cùng quan tâm nghiên cứu về đề tài về xây dựng nông thôn mới, Trần

Lê, 2011 Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới ở huyện Vũ Quang,

Trang 15

Hà Tĩnh Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học lâm nghiệp Việt Nam đã làm sáng

tỏ thêm nhiều vấn đề lý luận về xây dựng nông thôn mới; phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, nhân tố ảnh hưởng để đưa ra các giải pháp để thúc đẩy việc xây dựng nông thôn mới tại huyện Vũ Quang Tuy nhiên đề tài cũng chỉ đưa

ra các giải pháp chung chung, không đi sâu vào nghiên cứu vao trò của Chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới

Đi sâu nghiên cứu và đưa ra những quan điểm, giải pháp để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, nhất là trong điều kiện kinh tế thị

trường cũng đã có nhiều công trình như tác giả Phạm Khắc Dũng, 2012 Giải

pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh; Vũ

Thị Hoàng Anh, 2011 Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa

bàn huyện Nông Cống Luận văn tiến sỹ, Đại học Thái Nguyên Các công

trình nói chung đã tổng quan được những vấn đề lý luận về nông thôn mới; hệ thống hóa được những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng nông thôn mới; đúc kết được khái niệm và những tiêu chí đánh giá, những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện xây dựng nông thôn mới ở các địa phương; phân tích đánh giá sâu đặc điểm tình hình của các xã miền núi, điều kiện kinh tế khó khăn Đặc biệt

là công trình đã đi sâu nghiên cứu khá kỹ vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới và đề xuất được một số giải pháp khá cụ thể để nâng cao giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới Công trình đề cập khá sâu đến vai trò của nông dân nhưng cũng chưa đề cập đến vai trò của chính quyền địa phương trong thực hiện xây dựng nông thôn mới

Chung quy lại, nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đề cập và có nhiều công trình, đề tài công bố có giá trị

cả về lý luận và ứng dụng trong thực tiễn Tuy nhiên, trong các tác phẩm, đề

Trang 16

tài, mỗi tác giả thường chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó trong việc xây dựng xây dựng nông thôn mới và thường đề cập ở dạng chung nhất hoặc trong một địa phương cụ thể; chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về vai trò của chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới Đây là một khiếm khuyết mà bản thân nhận thấy cần phải có sự nghiên cứu cụ thể hơn để góp phần khắc phục được những khó khăn tồn tại trong quản lý nhà nước đối với chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới

Trong đề tài, một số nội dung có liên quan đến nghiên cứu đã được công bố sẽ được tham khảo có tính kế thừa và chọn lọc, nhất là những vấn đề

về lý luận đối với xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đề cập sâu hơn đến một số vấn đề về vai trò của chính quyền địa phương; phân tích thực trạng triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao được vai trò của chính quyền địa phương trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.2.1 Lý luận về nông thôn

1.2.1.1 Khái niệm

Khác với vấn đề đô thị, nông thôn là một hiện tượng xuất hiện đồng thời với sự ra đời của đất nước Các chặng đường lịch sử đã chứng kiến những biến đổi cũng như các cuộc cách mạng lịch sử liên quan, xuất phát từ nông thôn Tại Việt Nam, nông thôn dường như mang những nét rất đặc thù

so với các nước khác trên thế giới, thể hiện ở văn hóa làng xã và các đặc điểm

xã hội tiềm ẩn trong mỗi chặng đường phát triển Nếu như khái niệm đô thị được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì khái niệm nông thôn dường như được quan tâm

Trang 17

một cách khiêm tốn hơn Các nghiên cứu từ trước đến nay đã cho thấy một điều rằng, các nhìn nhận về nông thôn luôn đi theo hướng xác định những nội dung của nông thôn chứ ít khi đưa ra một định nghĩa chung cho khái niệm nông thôn

Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã

1.2.1.2 Đặc trưng cơ bản của nông thôn

Hệ thống xã hội nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau:

- Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội: Ở nông thôn, đặc trưng chủ

yếu ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, v.v

- Về lĩnh vực sản xuất: Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất

nông nghiệp; ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

- Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: Nông thôn thường rất

đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã Đặc trưng này bao gồm rất nhiều khía cạnh như từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi, đến khía cạnh dân

số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế, (Bùi Quang Dũng, 2007)

Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện nông thôn Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho

hệ thống xã hội nông thôn

1.2.2 Xây dựng nông thôn mới

Trang 18

1.2.2.1 Khái niệm

Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới

là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại;

cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản Thứ nhất

là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất

bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ

Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí

1.2.2.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới

a Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Quy hoạch nông thôn mới là chỉ tiêu đầu tiên trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu: Các địa phương căn cứ vào tình hình tài nguyên đất và nhu cầu hạ tầng địa phương mà xây dựng quy hoạch chi tiết việc sử dụng đất và xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu của địa phương, gồm: điện, đường, trường, chợ, nhà văn hoá và trung tâm

y tế

b Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội

- Về giao thông:

Trang 19

+ Hoàn thiện đường xã, liên xã, đường xã xuống thôn bằng nhựa hóa hoặc

bê tông hóa theo tiêu chuẩn đường ô tô cấp VI được quy định trong TCVN 4054-2005;

+ Hoàn thiện đường trục thôn, xóm được cứng hóa theo tiêu chuẩn 22TCVN 210:1992;

+ Xây dựng đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa, trong

đó phần lớn được cứng hóa theo tiêu chuẩn 22TCVN 210:1992 (hoặc tiêu chuẩn thiết kế áo đường cứng 22 TCN 223-95);

+ Xây dựng đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện theo tiêu chuẩn kỹ thuật TCVN 4454/1987 của Bộ xây dựng

- Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn đáp ứng Quy trình kỹ thuật điện nông thôn năm

2006 (QĐKT - ĐNT-2006)

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn:

+ Xây dựng, hoàn thiện trung tâm văn hóa, thể thao xã (gồm nhà văn hóa

đa năng và sân thể thao phổ thông) đảm bảo theo Quy chuẩn trung tâm văn hóa, thể thao xã của Bộ văn hóa, thể thao và Du lịch (ban hành kèm theo Quyết định 2448/QĐ-BVHTTDL, ngày 07/7/2009);

+ Xây dựng, hoàn thiện nhà văn hóa và khu thể thao thôn

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn theo Quyết định 370/2002/QĐ-BYT, ngày 07/2/2002 của Bộ Y tế

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn: Hoàn thiện trường mầm non, nhà trẻ, tiểu học, trung học cơ sở có

cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCVN 3978-1984 và đảm bảo quy định theo Quyết định số 32/2005/QĐ-BGD&ĐT, ngày 24/10/2005 của Bộ Giáo dục về ban hành Quy chế chuẩn công nhận

Trang 20

trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

- Về bưu điện:

+ Xây dựng điểm phục vụ bưu chính viễn thông (đại lý bưu điện hoặc ki

ốt, bưu cục hoặc điểm bưu điện – văn hóa, thùng thư công cộng, điểm truy nhập dịch vụ bưu chính, viễn thông ) với diện tích tối thiểu 150m2;

+ Xây dựng điểm cung cấp dịch vụ truy nhập Internet ở thôn (đối với Internet băng rộng (ADSL) theo tiêu chuẩn TCN 68-227:2006 ban hành tại Quyết định định số 55/2006/QĐ-BBCVT ngày 25/12/2006 của Bộ Bưu chính viễn thông)

- Cải tạo, xây mới xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn:

+ Xây dựng đê hoặc bờ bao chống lũ theo tiêu chuẩn hoàn chỉnh mặt cắt thiết kế, cứng hóa mặt đê và đường hành lang chân đê, trồng cỏ mái đê, trồng cây chân đê phía sông, phía biển; cống dưới đê vững chắc, đồng bộ với mặt cắt đê; xử lý sạt lở đảm bảo ổn định; đảm bảo môi trường xanh sạch đẹp; có ban chỉ huy phòng chống lụt bão xã, có đội quản lý đê nhân dân, đội tuần tra, canh gác đê trong mùa mưa lũ theo quy định, hoạt động có hiệu quả;

+ Hoàn thiện các công trình tưới tiêu, cấp nước công nghiệp, cấp nước sinh hoạt đảm bảo theo tiêu chuẩn thiết kế Việt Nam đối với từng loại, phát huy trên 75% năng lực thiết kế, 100% công trình có chủ quản lý đích thực; + Kiên cố hóa kênh mương (kể cả mương nội đồng);

- Hoàn chỉnh trụ sở xã: Trụ sở xã xây dựng ở nơi trung tâm, thuận tiện đối nội, đối ngoại, diện tích khuôn viên tối thiểu 1000m2, diện tích sử dụng của trụ sở đối với khu vực đồng bằng, trung du tối thiểu 500m2, khu vực miền núi hải đảo tối thiểu 400m2; mật độ xây dựng dưới 50%, mật độ cây xanh trên 30%

- Nhà ở nông thôn: Chỉnh trang các khu dân cư hiện có; xóa nhà tạm, dột nát, xây dựng, hoàn thành nhà ở nông thôn đạt tiêu chuẩn của Bộ xây dựng,

Trang 21

phù hợp với Quy hoạch theo Thông tư số 31/2009/TT-BXD, ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng

Yêu cầu: đạt các tiêu chí 2,3,4,5,6,7,8,9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

c Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao

- Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông – lâm – nghiệp

- Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông - lâm – ngư nghiệp

- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển làng nghề theo thế mạnh của địa phương

- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn

d Giảm nghèo và an sinh xã hội

- Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính Phủ

- Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo

e Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn

- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã

- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn

g Phát triển giáo dục đào tạo

Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo: + Đạt và duy trì chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học, chống mù chữ Đảm

Trang 22

bảo huy động trẻ 6 tuổi học lớp 1 đạt 90% (xã đặc biệt khó khăn đạt 80%) trở lên Ít nhất 80% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70 %) số trẻ nhóm tuổi 11-14 tốt nghiệp tiểu học, số còn lại đang học tiểu học;

+ Phổ cập giáo dục trung học Đảm bảo tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm từ 90% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70%) trở lên Tỷ lệ thanh thiếu niên 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở từ 80% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70%) trở lên;

+ Nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học phổ thông;

+ Đẩy mạnh đào tạo nghề

h Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế (theo Quyết định 108/2007/QĐ-Tg, ngày 17/7/2007 của Thủ Tướng Chính Phủ)

- Nâng cao tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế

i Xây dựng đời sống văn hóa, thôn tin và truyền thông

Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa Phấn đấu

xã có trên 70% số thôn, bản đạt tiêu chuẩn “Làng văn hóa” theo Quyết định 62/2006/QĐ-BVHTT ngày 23/6/2006 (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch)

Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn Xã có Đài truyền thanh xã hoạt động có hiệu quả

k Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn:

+ Đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoat sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng;

+ Chỉ đạo nhân dân xây dựng hố xí đảm bảo vệ sinh

Trang 23

- Thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường trên địa bàn xã: + Xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn xóm Các thôn đều có tổ vệ sinh, phát quang, khơi thông cống rãnh

+ Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải đạt yêu cầu chung theo TCVN 6696-2000 Bãi chôn lấp chất thải rắn xây dựng mới theo tiêu chuẩn thiết kế TCXDXN 261-2001;

+ Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang Nghĩa trang có khu hung táng, cát táng, nơi trồng cây xanh, lối đi thuận lợi, có quy chế quản lý nghĩa trang, mộ đặt theo hàng và xây đúng diện tích, chiều cao theo quy định đảm bảo theo tiêu chuẩn TCVN 7956:2008;

+ Cải tạo, xây dựng các hồ sinh thái trong khu dân cư;

+ Trồng cây xanh ở các công trình công cộng

l Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị -

xã hội trên địa bàn

- Thành lập, duy trì đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị; đảm bảo không có trình trạng “trắng” các tổ chức này ở các thôn bản;

- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ;

- Thu hút cán bộ trẻ về công tác tại xã;

- Xây dựng ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới

- Nâng cao chất lượng của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phấn đấu hàng năm, tổ chức Đảng, Chính quyền đạt “trong sạch vững mạnh”, các tổ chức khác đạt danh hiệu tiên tiến trở lên theo quy định của từng tổ chức

m Giữ vững an ninh, trật tự xã hội ở nông thôn

- Ban hành, thực hiện nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;

Trang 24

- Hàng năm Đảng ủy có nghị quyết, UBND có kế hoạch về công tác an ninh, xã đạt đơn vị khá trở lên trong “Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, Công an xã đạt danh hiện “Đơn vị tiên tiến” trở lên;

- Đảm bảo cho lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới;

- Không để xẩy ra các hoạt động chống đối; không để xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân, các loại tội phạm, tai nạn giao thông giảm

1.2.3 Vai trò của chính quyền trong xây dựng nông thôn mới

Chính quyền địa phương là một trong những chủ thể quan trọng trong xây dựng nông thôn mới Đó chính là việc tạo ra các chính sách phù hợp, tạo ra các động lực của chính quyền để thực hiện thành công 19 tiêu chí theo quy định của Chính phủ

1.2.3.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện

Để triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới được hiệu quả, việc đầu tiên của mỗi chính quyền địa phương phải thực hiện là xây dựng kế hoạch thực hiện của từng giai đoạn và từng năm Trong đó, chính quyền phải đặt ra mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương

1.2.3.2 Tổ chức thực hiện

a, Tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cán bộ và người dân

Xây dựng nông thôn mới, về nguyên tắc trước tiên đó là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm và quyền lợi thiết thực của mỗi người dân nông thôn, trong đó Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần kinh phí Đây là chương trình phục vụ chính người dân nên người dân phải là chủ thể xây dựng; UBND cấp xã làm chủ đầu tư Trong quá trình thực hiện, từ cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể và mọi người dân cần phải nhận thức đúng đắn yêu cầu đặt ra để chung tay xây dựng Do vậy công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về Chương trình mục

Trang 25

tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới cho cán bộ và nhân dân đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong thành công của các địa phương thực hiện Chương trình

Xác định rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền trong việc thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (chương trình xây dựng nông thôn mới), chính quyền địa phương cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ và các tầng lớp nhân dân Thông qua công tác tuyên truyền, giúp cho cán bộ hiểu đúng, nhận thức được tầm quan trọng của Chương trình đông thôn mới để tập trung triển khai thực hiện; giúp cho người dân nhận thức đầy đủ về nông thôn mới, tạo ra

phong trào thi đua sâu rộng trong toàn xã hội; xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước trong xây dựng nông thôn mới

Trong công tác tuyên truyền, các địa phương cần tập trung tuyên truyền

về tầm quan trọng của Chương trình nông thôn mới, vai trò chính quyền địa phương, của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới với những nhiệm

vụ mà người dân cần phải thực hiện như: Chủ động cải tạo, nâng cấp nhà ở, xóa nhà tạm, chỉnh trang lại khuôn viên, cổng ngõ, các công trình vệ sinh; xác định hướng đi trong phát triển kinh tế, lựa chọn nghề phù hợp; bàn và thống nhất đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng của thôn, xã như đường thôn, đường nội đồng, kênh mương, nhà văn hóa, trường lớp học, xử lý rác thải bảo vệ môi trường, điện chiếu sáng công cộng…; tham gia xây dựng quy ước, hương ước của thôn, bản; tham gia đóng góp ý kiến vào đồ án quy hoạch

và đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã, tham gia lập kế hoạch thực hiện xây dựng nông thôn mới tại thôn, xã; tham gia và lựa chọn những công việc cần làm trước, thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với điều kiện địa phương; cử đại diện để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã, thôn…

Trang 26

b, Quy hoạch và lựa chọn thí điểm

và không có chất lượng thì xây dựng nông thôn mới sẽ gặp khó khăn và không đi đến đích, từ đó vấn đề quy hoạch nông thôn mới là khâu quan trọng,

có ý nghĩa quyết định trong vấn đề xây dựng nông thôn mới trên các địa bàn của cả nước Do vậy quy hoạch là một trong những vai trò hết sức quan trọng của mỗi chính quyền địa phương

Công tác quy hoạch với ba nhiệm vụ: quy hoạch sản xuất, quy hoạch cơ

sở hạ tầng, quy hoạch đất đai (quy hoạch ba trong một) có vai trò quan trọng, tác động lớn đến sự phát triển bền vững ở khu vực nông thôn

Quy hoạch xây dựng nông thôn mới là bố trí, sắp xếp các khu chức năng, sản xuất, dịch vụ; hạ tầng kinh tế, xã hội, môi trường trên địa bàn, theo tiêu chuẩn nông thôn mới, gắn với đặc thù, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương; được mọi người dân của xã trong mỗi thôn bản, mỗi gia đình ý thức đầy đủ, sâu sắc và quyết tâm thực hiện

Chính quyền các cấp cần nhận thức rõ vai trò quyết định của quy hoạch trong xây dựng nông thôn mới, để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân chung tay, đồng sức, đồng lòng thi đua thực hiện

- Lựa chọn thí điểm

Trên cơ sở quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được xây dựng, các địa phương căn cứ vào nguồn lực, đặc điểm của từng vùng miền, chính quyền địa

Trang 27

phương lựa chọn thí điểm, xác định rõ nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế, chính sách xây dựng nông thôn mới để nhân rộng sau này

Các chính quyền thành lập Ban Chỉ đạo và ở các xã được chọn làm điểm, thành lập Ban Quản lý chương trình Quán triệt tư tưởng chỉ đạo theo 5 quan điểm trong thực hiện Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới là: (1) Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và thực hiện Chương trình, các nội dung cụ thể của Chương trình trên địa bàn phải được nhân dân địa phương dân chủ bàn bạc, quyết định; (2) Dựa vào nội lực của cộng đồng là chính với sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền các cấp; (3) Phối hợp, kế thừa, phát huy kết quả của các chương trình, dự án đã và đang thực hiện trên địa bàn, những cơ sở hạ tầng đã được xây dựng; (4) Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, cả hệ thống chính trị phải chung tay xây dựng nông thôn mới và (5) Trong triển khai xây dựng thí điểm

mô hình nông thôn mới được phép thực hiện một số cơ chế, chính sách đặc thù do các cơ quan có thẩm quyền ban hành

Căn cứ các văn bản hướng dẫn các xã điểm đánh giá tình hình, xây dựng

Ðề án xây dựng nông thôn mới ở xã, tổ chức để Ðảng bộ, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể và nhân dân xã thảo luận, góp ý, sau đó nghe báo cáo, góp ý với các xã thí điểm để các xã hoàn thiện, báo cáo các Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố phê duyệt làm căn cứ triển khai thực hiện

Chính quyền, Ban Chỉ đạo chỉ đạo các ngành có liên quan, ban hành các văn bản hướng dẫn trong phạm vi thẩm quyền của mình để thực hiện các nội dung của của Ðề án Các văn bản sẽ giúp các xã điểm tháo gỡ khó khăn và có căn cứ pháp lý để chủ động triển khai thực hiện Chương trình

Trong quá trình thực hiện Chương trình, các thành viên Ban Chỉ đạo được phân công cần phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo cấp dưới để kiểm tra, đôn đốc các xã điểm; Thường trực Ban Chỉ đạo mỗi tháng một lần, Ban Chỉ đạo

Trang 28

ba tháng một lần họp, đánh giá tiến độ và kết quả triển khai Ðề án, phát hiện

để chỉ đạo tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc cho xã, nhất là trong những năm đầu triển khai thực hiện Ðề án

c, Cơ chế chính sách của chính quyền địa phương

Các cơ quan nhà nước ở Trung ương dù có cố gắng đến mấy cũng không thể ban hành được một hệ thống cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu của mọi địa phương trong toàn quốc Vì mỗi địa phương có những đặc điểm riêng không nơi nào giống nơi nào Chính vì vậy, để phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương, trên cơ sở các cơ chế chính sách của các cơ quan nhà nước ở trung ương, các chính quyền địa phương ban hành các văn bản quy định cơ chế chính sách cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của địa phương

Hiện nay, trên cơ sở chủ trương Đảng và Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho nông dân với thời hạn dài, thậm chí quyền sử dụng đất

có thể được thừa kế, thế chấp Trên cơ sở chính sách của Trung ương về đất đai, chính quyền địa phương các cấp có các chính sách tạo điều kiện thuận lợi

để nông dân thực hiện đầy đủ các quyền về sử dụng đất đai; khuyến khích nông dân thực hiện “đồn điền, đổi thửa” trên cơ sở tự nguyện; nông dân được

sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn cổ phần tham gia phát triển sản

Trang 29

xuất kinh doanh, liên doanh, liên kết… Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy hoạch và chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật

- Chính sách đầu tư

Đầu tư là một trong những chính sách quan trọng của mỗi địa phương trong cả nước Vì vậy mỗi chính quyền phải có các chính sách đầu tư phù hợp với địa phương, địa bàn của mình để triển khai được hiệu quả các chính sách đầu tư

Chính quyền cần phải có các chính sách đầu tư có trọng tâm Ví dụ ưu tiên chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn xây dựng các công trình công cộng: hệ thống thủy lợi, giao thông, hệ thống cung ứng điện, giống Đồng thời, Chính quyền phải có các chính sách huy động các nguồn lực tại chỗ nhằm xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nông nghiệp, nông thôn

Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn rất cần có chiến lược tổng thể Chiến lược đó phải xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từ đặc điểm riêng về tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, địa phương, từ nhu cầu của thị rường trong nước và thế giới

- Chính sách khoa học – công nghệ

Chính sách khoa học – công nghệ phải tính tới những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, khả năng kinh tế và nhận thức, phong tục tập quán, lề thói canh tác của dân cư của từng vùng… Đồng thời, chính sách khoa học- công nghệ phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới, chiến lược sản phẩm xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới… các doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp như: công ty giống, vật nuôi, cây trồng; công ty xuất khẩu nông sản… có vai trò hết sức to lớn trong việc tuyên truyền, phổ biến khoa học công nghệ cho nông dân Do vậy khi cụ thể hóa các

Trang 30

chính sách khoa học công nghệ, các chính quyền địa phương phải nhìn nhận toàn diện trên mọi khía cạnh

- Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng phải đáp ứng được các yêu cầu chủ yếu sau đây: Thứ nhất, tạo điều kiện cho nông dân có thể vay được tiền để sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi

Thứ hai, giúp đỡ nông dân sử dụng hiệu quả đồng vốn, vừa hạn chế rủi

ro khi cho vay, vừa giúp nông dân nâng cao mức sống, thu nhập

- Chính sách xã hội

Sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn sẽ tạo ra những tiền đề thuận lợi cho phát triển văn hóa – xã hội ở nông thôn Tuy nhiên, trong điều kiện cơ chế thị trường, sự phát triển đó không tránh khỏi làm nảy sinh các vấn

đề xã hội: dư thừa lao động, phân hóa giàu nghèo, các tệ nạn xã hội… Do đó, chính quyền phải có chính sách nhằm giải quyết và hạn chế các vấn đề xã hội như: chính sách xóa đói, giảm nghèo; chính sách phát triển văn hóa, y tế, giáo dục; thực thi luật pháp và thực hiện công bằng dân chủ ở nông thôn

d, Huy động và phân bổ nguồn lực

Xây dựng nông thôn mới vừa là mục tiêu, yêu cầu của phát triển bền vững, vừa là nhiệm vụ cấp bách, là chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Do đó để đảm bảo nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới, chính quyền cần huy động và phân bổ nguồn lực một cách hợp lý

Để xây dựng thành công nông thôn mới, đòi hỏi phải có nguồn lực lớn Bên cạnh nguồn lực đầu tư của Nhà nước cần đặc biệt quan tâm xã hội hóa, huy động các nguồn lực đầu tư khác vào nông thôn, đặc biệt là đầu tư cho cơ

sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, y tế, giáo dục, viễn thông, Trong điều kiện nguồn ngân sách của Nhà nước hạn chế thì chính quyền cần coi trọng

Trang 31

việc huy động nguồn lực của toàn xã hội từ nguồn vốn vay tín dụng, nguồn hỗ trợ từ các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân

Bên cạnh việc cân đối đảm bảo nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới thì việc quản lý, sử dụng nguồn lực để đầu tư xây dựng chương trình này phải đạt hiệu quả thiết thực Vì vậy cần được các cấp, các ngành phối hợp và tổ chức thực hiện một cách thống nhất và hiệu quả

Tính công khai trong huy động nguồn lực cần được đảm bảo Việc công khai huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới vừa đảm bảo sự rõ ràng, minh bạch cho người dân, vừa tạo ra cơ hội cho họ quyền tiếp cận với các quyết định sử dụng nguồn lực hiệu quả Cần có sự gắn kết giữa nguồn lực huy động và việc sử dụng nguồn lực

Theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 thì vốn và nguồn vốn thực hiện chương trình gồm: nguồn vốn ngân sách (bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) chiếm khoảng 40% tổng nguồn vốn thực hiện Chương trình; Vốn tín dụng (bao gồm tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại) khoảng 30%; Vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác khoảng 20%; Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư khoảng 10%

Về cơ chế huy động được thực hiện theo hướng đa dạng hoá các nguồn

vốn thông qua: Lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc

gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động tối đa nguồn lực của địa phương, trong đó Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tăng

tỷ lệ vốn thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã để lại cho ngân sách xã, ít nhất 70% thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới; huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp;

Trang 32

các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân; các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư; các nguồn vốn tín dụng; các nguồn vốn hợp pháp khác

Trong đó, cơ chế hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước được quy định cụ thể tại Quyết định 695/QĐ-TTg ngày 8/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi nguyên tắc, cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020:

Đối với tất cả các xã nghèo, hỗ trợ 100% từ ngân sách nhà nước cho: Công tác quy hoạch; xây dựng trụ sở xã; kinh phí cho công tác đào tạo

kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ thôn bản, cán bộ hợp tác xã Đối với các xã thuộc các huyện nghèo thuộc Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ, hỗ trợ tối đa 100% từ ngân sách nhà nước cho: Xây dựng đường giao thông đến trung tâm xã, đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã, thôn, bản; công trình thể thao thôn, bản; xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; phát triển sản xuất và dịch vụ; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản

Đối với các xã còn lại, hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước cho: Xây

dựng đường giao thông đến trung tâm xã, đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã, thôn, bản; công trình thể thao thôn, bản; xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; phát triển sản xuất và dịch vụ; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ từ

Trang 33

ngân sách nhà nước cho từng nội dung, công việc cụ thể, bảo đảm phù hợp với thực tế và yêu cầu hỗ trợ của từng địa phương

Mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho các địa phương căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội để bố trí phù hợp với quy định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ

7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Ưu tiên hỗ trợ cho các địa phương khó khăn chưa tự cân đối ngân sách, địa bàn đặc biệt khó khăn và những địa phương làm tốt Quy định này nhằm đảm bảo tính thực tế, phù hợp với khả năng của ngân sách trung ương nhưng lại có nhược điểm là địa phương không chủ động trong xác định mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương cụ thể hàng năm cho thực hiện xây dựng nông thôn mới ở địa phương Chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) không quy định bắt buộc nhân dân đóng góp, chỉ vận động bằng các hình thức thích hợp để nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương Nhân dân trong xã bàn bạc mức tự nguyện đóng góp cụ thể cho từng dự án, đề nghị Hội đồng nhân dân xã thông qua

Hộ nghèo tham gia trực tiếp lao động để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế -

xã hội của địa phương được chính quyền địa phương xem xét, trả thù lao theo mức phù hợp với mức tiền lương chung của thị trường lao động tại địa phương và khả năng cân đối ngân sách địa phương Ủy ban nhân dân địa phương xem xét, quyết định mức thù lao cụ thể sau khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các sở, ban, ngành, huyện, xã triển khai thực hiện Như vậy có thể thấy cơ chế hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước khá rõ ràng, vừa tạo thuận lợi cho các địa phương nắm bắt và triển khai thực hiện, vừa tạo sự minh bạch trong chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho xây dựng nông thôn mới

Trang 34

Trên cơ sở chính sách của Chính phủ, Các chính quyền địa phương chủ động sử dụng nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách trung ương kết hợp với nguồn lực ngân sách địa phương để phân bổ nguồn lực có được theo các ưu tiên, phù hợp với nhu cầu và đặc thù của địa phương, đảm bảo thực hiện các mục tiêu xây dựng nông thôn mới

e, Tạo động lực thúc đẩy

Chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 được Chính phủ phê duyệt vào tháng 06/2010 là chương trình phát triển nông thôn toàn diện, tổng hợp, được lồng ghép với sự tham gia của các bộ ngành Việt Nam Trong đó, cộng đồng cư dân nông thôn là chủ thể xây dựng nông thôn mới Chính quyền chỉ định hướng bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn, chính sách hỗ trợ và hướng dẫn tư vấn cho ngườidân

Để tạo động lực xây dựng và phát triển nông thôn mới thì chính quyền cần quan tâm đến việc bổ sung, hoàn thiện các chính sách, quy định, cơ chế

hỗ trợ, như: thủ tục hành chính, vấn đề mặt bằng, vốn, lao động tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia xây dựng, phát triển hạ tầng nông thôn; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn như đầu

tư làm công nghiệp, làm dịch vụ, qua đó góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, chuyển dịch lao động trực tiếp làm nông nghiệp sang làm dịch vụ, làm công nghiệp, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho lao động nông thôn Tạo sự liên kết chặt chẽ, hình thành chuỗi giá trị sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm

1.2.3.3 Kiểm tra, thanh tra, giám sát

Công tác kiểm tra, giám sát có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo, tổ chức, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Nội dung kiểm tra, thanh tra, giám sát cần được chính quyền thực hiện

Trang 35

toàn diện, trong quy hoạch, đầu tư, áp dụng chính sách hỗ trợ, tiến độ thực hiện,

Qua công tác kiểm tra, giám sát có thể phát hiện được những điển hình

để phát huy; sớm phát hiện những hành vi vi phạm trong quá trình triển khai thực hiện để chấn chỉnh, xử lý; phát hiện những sơ hở yếu kém để xác định nguyên nhân khắc phục kịp thời

Đặc biệt qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chính quyền có thể trực tiếp lắng nghe nhiều ý kiến, góp ý, phản ánh của nhân dân về những khó khăn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương, cả những sáng kiến, cách làm hay của nhân dân Qua đó nhân rộng những nhân tố mới, cách làm hay, đồng thời phát hiện kịp thời những vướng mắc để báo cáo lên cấp trên điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn

1.3 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

1.3.1 Kinh nghiệm vài trò của chính quyền trong xây dựng nông thôn mới trên thế giới

1.3.1.1 Hàn Quốc: Hàn Quốc vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX là một

nước nghèo sau chiến tranh, GDP bình quân đầu người chỉ có 85 USD, không

đủ lương thực và phần lớn người dân không đủ ăn Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng hạn hán và lũ lụt thường xuyên xảy ra khắp đất nước Đến năm 1970 vẫn còn 70% dân số sống ở nông thôn, trong số đó 80% sống trong điều kiện khó khăn

Sau trận lụt lớn năm 1969, trong khi đi thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hy nhận ra rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứu lấy mình Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mẫu chốt để phát triển nông thôn Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong

trào “Saemaulundong” (Phong trào đổi mới nông thôn) được đích thân Tổng

Trang 36

thống Park phát động vào ngày 22/4/1970 Phong trào đổi mới nông thôn đã

đề cao “Tinh thần Saemaul” gồm 3 thành tố: “Chăm chỉ - Tự lực - Hợp tác”

Cơ sở để hình thành tinh thần này là: “Chăm chỉ” là động cơ tự nguyện của người dân, không ngừng vượt qua khó khăn để tiến tới thành công, “Tự

lực” là ý chí bản thân, tinh thần làm chủ, chịu trách nhiệm về cuộc sống và

vận mệnh của bản thân và “Hợp tác” là nhận thức về mong muốn phát triển

cộng đồng phải nhờ vào nỗ lực của tập thể

Sự ra đời kịp thời của “Saemaulundong” vào đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo đã tạo ra sự bứt phá mạnh mẽ và nhanh chóng đạt được những kết quả khả quan Tới năm 1974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaulundong”, sản lượng lúa tăng đến mức có thể tự túc lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn won tương đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương

537 USD)

Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa… “Saemaulundong” từ một phong trào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc

Từ sự thành công trong xây dựng nông thôn mới của Hàn Quốc, tác giả rút ra những kinh nghiệm sau đây:

(1) Tuyên truyền để nhân dân hiểu phong trào nhằm khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường trong nhân dân để xây dựng nông thôn mới:

Phong trào Saemaul Udong không đơn thuần là một kế hoạch hành động mà còn là cả một cuộc cải tổ về ý thức dựa trên tinh thần Ngay từ đầu, Chính quyền đã truyền cho người dân ý thức “nhất định phải làm”, “đã làm là được”, “tất cả đều có thể làm được”

Trang 37

Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền của chính địa phương nên người dân nhận thức được rằng phong trào Saemaul Udong là một cuộc cải tổ vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho cả cộng đồng chứ không chỉ đối với từng cá nhân đơn lẻ Sự thịnh vượng ở đây không chỉ bó hẹp ở ý nghĩa vật chất, nó còn bao hàm cả ý nghĩa tinh thần, không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả con cháu mai sau Mục tiêu của phong trào SaemaulUdong là xây dựng nền tảng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi gia đình, làng xã góp phần vào sự tiến

bộ chung của cả quốc gia

Để đoàn kết, tập hợp nhân dân trong sự nghiệp chung, Phong trào Saemaul Udong đề cao ba phẩm chất chính, đó là “ Sự cần cù, tự lực và hợp tác” Cần cù mang lại tính chân thật, không cho phép sự giả tạo và thói kiêu căng ngạo mạn Tính tự lực giúp cho con người tự quyết định vận mệnh của chính mình, không phải nhờ cậy đến bất kỳ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài Hợp tác dựa trên mong muốn phát triển chung cả cộng đồng để nỗ lực vì mục tiêu chung

Chính vì vậy ba nguyên tắc chủ yếu của phong trào Saemaul cũng chính

là hạt nhân của công cuộc xây dựng một xã hội tiên tiến và một quốc gia thịnh vượng

(2) Đưa ra những chính sách nhằm kích thích sự tham gia bằng những lợi ích thiết thực:

Giai đoạn đầu của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, Chính phủ Hàn Quốc không có nhiều kinh phí, do đó, Chính phủ đã khéo léo sử dụng chính sách kích cầu đầu tư, huy động sức mạnh của nhân dân

Năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc đưa ra thử nghiệm 10 dự án lớn trong phát triển nông thôn, bao gồm mở rộng và nắn thẳng đường sá, làm lại mái nhà bếp và hàng rào, xây dựng giếng nước công cộng và khu giặt giũ công cộng… vv Kinh phí để thực hiện các dự án này phần lớn dựa vào quỹ của xã

Trang 38

và lực lượng lao động sẵn có, Chính phủ chỉ cấp miễn phí cho mỗi xã trung bình 355 bao xi măng Kế hoạch triển khai trên quy mô toàn quốc và hơn 33.000 xã được nhận hỗ trợ Kết quả là mười sáu nghìn xã tức là phân nửa số

xã ở nông thôn đã được cải thiện rõ rệt Toàn bộ kế hoạch đều do chính ủy ban xã đó quản lý

Tới năm thứ hai, Chính phủ quyết định tiếp tục giúp đỡ những xã đã tự biết đứng lên bằng cách cấp thêm cho mỗi xã 500 bao xi măng và một tấn thép Nhờ đó, nhà tranh vách đất được dần thay thế bằng nhà mái ngói và tường xây Khắp nơi trên các làng xã, đường sá được mở rộng, đê điều được

tu bổ và cầu cống được xây dựng Làng xã phát triển chóng mặt, người dân nông thôn lấy lại được sự tự tin vốn có, những người trước đây sống rất thờ ơ giờ cũng bắt tay xây dựng lại ngôi làng của chính mình

Năm thứ 3, Chính phủ Hàn Quốc đã đề ra chủ trương những làng tích cực thì được hỗ trợ nhiều Chính phủ đã chia tổng số 33.267 xã của cả nước thành 3 nhóm, trong đó, nhóm làng tích cực chiếm 6,7%, nhóm làng trung bình chiếm 40,2%, nhóm làng cơ bản chiếm 53,1% Chính phủ quy định, những làng thăng hạng sẽ được thưởng 2000 USD Do đó, chỉ sau 3 năm (năm 1976), tỷ lệ nhóm làng cơ bản chỉ còn có 0,9% nữa Những làng làm tốt cảm thấy họ được Chính phủ đền ơn Nhờ đó mà nông thôn nước Hàn đã thay đổi mạnh mẽ

Nhờ khơi dậy nội lực của nông dân mà nông thôn Hàn Quốc đã có những biến đổi to lớn Cuối những năm 80, Nông thôn Hàn Quốc đã biểu hiện có những dấu hiệu của sự phát triển và đô thị hóa

(3) Tăng cường năng lực của lãnh đạo địa phương:

Sau một năm thực hiện kế hoạch, Chính phủ đã nhận ra tầm quan trọng của người lãnh đạo Những nơi có người lãnh đạo đã triển khai dự án rất tốt, theo đúng đường lối của Nhà nước còn những nơi không có người lãnh đạo thường tiêu phí tài nguyên vô ích Chính vì vậy, phải có người lãnh đạo tận tâm

Trang 39

Nhận ra được tầm quan trọng của người cầm đầu dự án, năm 1972, Chính phủ đã thành lập Học viện Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo Saemaul Mỗi xã được phép cử một cán bộ (nam hoặc nữ) đi học Khoá học bồi dưỡng lãnh đạo nhấn mạnh vào sự cống hiến quên mình và nêu gương cho quần chúng Họ học trong một lán trại chung, do đó hiểu được cách làm việc theo nhóm trên tinh thần hợp tác Trong mỗi buổi thảo luận nhóm, các thành viên chia sẻ kinh nghiệm làm việc và do đó có thể học tập lẫn nhau bên cạnh sự hướng dẫn và trợ giúp của giáo viên Chính những học viên này sẽ là những người lãnh đạo

và hướng dẫn cho dân làng Tại thời điểm bấy giờ, khi vai trò của phụ nữ còn chưa được coi trọng thì sự tham gia của một bộ phận nữ giới trong khoá học

đã tạo ra sự khác biệt căn bản Phụ nữ đứng ra gây quỹ cho địa phương, họ tiết kiệm thực phẩm và tham gia vào phong trào giữ sạch đẹp làng xã Ngoài

ra, họ còn góp phần tích cực trong việc ngăn ngừa nạn rượu chè, cờ bạc

1.3.1.2 Trung Quốc: Từ năm 1978, Trung Quốc đã thực hiện nhiều

chính sách cải cách ở nông thôn Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn, lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT, tăng 8,5% so với năm trước Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã

hội nông thôn Việc chỉ đạo của Chính phủ trước kia cũng kiểu mệnh lệnh

hành chính, nên việc thực hiện khá miễn cưỡng Sau đó, việc thực hiện xây dựng nông thôn mới linh hoạt hơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa phương) Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm

tự nhiên, xã hội, để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi…, một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại là tiền của ngân sách”

Trang 40

Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh

là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực

Trung Quốc thực hiện chính sách hạn chế lấy đất nông nghiệp Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp của nước này được quy định rất ngặt nghèo Nếu chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng

đó và phải nằm trong chỉ giới đỏ, đảm bảo cả nước luôn duy trì 1,8 tỷ mẫu đất nông nghiệp trở lên

Tài chính hỗ trợ Tam nông tại Trung Quốc tập trung 3 mục tiêu là nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông thôn phát triển, và nông dân tăng thu nhập Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ

về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ Ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân, Trung Quốc còn có chủ trương, đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản Đồng thời, thúc đẩy việc mua

đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm (do nhà nước định hướng) Thành công của chính sách Tam nông của Trung Quốc cho phép chúng ta

Ngày đăng: 17/09/2020, 19:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w