Lý do chọn đề tài Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa luôn giữ vai trò quan trọng giúp đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.Việt Nam l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -
VÕ QUỲNH VINH
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN HÀNG HẢI MACS TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -
VÕ QUỲNH VINH
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN HÀNG HẢI MACS
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Việt Khôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng, được trích dẫn và phát triển từ các tài liệu, các công trình nghiên cứu đã được công bố, tham khảo các giáo trình, tạp chí chuyên ngành và các trang thông tin điện tử
Những quan điểm được trình bày trong luận văn là quan điểm cá nhân Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin được chân thành cảm ơn thầy giáo: PGS.TS Nguyễn Việt Khôi giáo viên hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ em từng bước hoàn thành luận văn này Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại Học Kinh tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội, những người đã cung cấp cho em những kiến thức nền tảng quý báu trong suốt hai năm học qua
Bên cạnh đó, tác giả luận văn xin trân trọng gửi lời cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình trong quá trình thu thập số liệu, thu thập bảng câu hỏi khảo sát của các cán bộ nhân viên Công ty cổ phần hàng hải MACS
Cuối cùng, tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới tới gia đình, đặc biệt là
mẹ tôi đã luôn ở bên ủng hộ tôi về mọi mặt, từ tinh thần đến tài chính… làm cho tôi
có thêm động lực để cố gắng hoàn thiện luận văn một cách tốt nhất
Do khuôn khổ thời gian nghiên cứu có hạn cũng như do trình độ người viết còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong các thầy, cô giáo thông cảm và góp ý chân thành để luận văn được hoàn thiện hơn Xin trân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Các nghiên cứu quốc tế về hoạt động xuất nhập khẩu 4
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về hoạt động xuất nhập khẩu 5
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu 8
1.2 Cơ sở khoa học của hoạt động xuất nhập khẩu 8
1.2.1 Khái niệm hoạt động xuất nhập khẩu và vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế 8
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp 15
1.2.3 Sự cần thiết của đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc tế 25
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THU NHẬP SỐ LIỆU 31
2.1 Phương pháp nghiên cứu 31
2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.1.2 Các phương pháp phân tích 31
2.2 Khung phân tích 32
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN HÀNG HẢI MACS 34
3.1 Sơ lược về công ty cổ phần hàng hải MACS 34
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty 34
3.1.2 Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty Cổ phần Hàng hải MACS 35
3.1.3 Bộ máy tổ chức của công ty 35
Trang 63.2 Đánh giá về tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần hàng hải
MACS 37
3.3 Cơ cấu các mặt hàng và thị trường xuất nhập khẩu của công ty 39
3.3.2 Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu 43
3.3.3 Thị trường nhập khẩu của công ty 46
3.4 Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu của Công ty Cổ phần hàng hải MACS trong bối cảnh hội nhập quốc tế 46
3.4.1 Đánh giá chung 46
3.4.2 Phân tích hoạt động xuất nhập khẩu của công ty trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO 47
3.4.3 Phân tích hoạt động xuất nhập của công ty theo chiều hàng trong thời kỳ hội nhập 59
3.4.4 Thực trạng ký kết và thực hiện hợp đồng XNK năm 2018 61
3.5 Tổng kết những kết quả đạt được và một số tồn tại 63
3.5.1 Những kết quả đạt được 63
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN HÀNG HẢI MACS 69
4.1 Triển vọng và hướng phát triển của công ty trong thời gian tới 69
4.1.1 Triển vọng 69
4.1.2 Định hướng phát triển 70
4.2 Giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện nghiệp vụ nhập khẩu của MACS 73
4.2.1 Về phía doanh nghiệp 73
4.2.2 Về phía nhà nước 78
4.3 Kiến nghị 86
4.3.1 Kiến nghị với doanh nghiệp 86
4.3.2 Kiến nghị đối với Nhà nước và cơ quan ban ngành 89
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 CIF Giá đã bao gồm tiền hàng + bảo hiểm + cước phí tàu
HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
3 FOB Điều kiện giao hàng miễn trách nhiệm của người bán khi hàng
đã lên boong tàu
4 FTAs Hiệp định thương mại tự do
5 KNXK Kim ngạch xuất khẩu
9 XNK Xuất nhập khẩu
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 KÕ ho¹ch vµ t×nh h×nh thùc hiÖn kÕ ho¹ch XNK cña
2 Bảng 3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 38
3 Bảng 3.3 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty 41
5 Bảng 3.5 Tỷ trọng theo thị trường nhập khẩu công ty từ
6 Bảng 3.6 Hoạt động kinh doanh XNK của công ty trước khi
7 Bảng 3.7 Số liệu thực hiện các chỉ tiêu năm 2006 48
8 Bảng 3.8 Báo cáo hoạt động nhập khẩu T12/2006 49
9 Bảng 3.9 Mặt hàng xuất khẩu trước khi Việt Nam gia nhập WTO 51
10 Bảng 3.10 Báo cáo hoạt động nhập khẩu T12/2018 53
11 Bảng 3.11 Báo cáo hoạt động nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2019 55
12 Bảng 3.12 Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu năm
16 Bảng 4.1 Chỉ tiêu vốn vay của MACS từ năm 2020 đến 2022 71
17 Bảng 4.2 Chỉ tiêu xuất nhập khẩu định hướng năm 2020 –
18 Bảng 4.3 Ngân sách dành cho hoạt động marketing 75
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
2 Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức Công ty Cổ phần Hàng hải MACS 36
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa luôn giữ vai trò quan trọng giúp đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.Việt Nam là một đất nước đang trong thời kỳ mở cửa, đặc biệt là sau khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của chúng ta gặp nhiều thuận lợi, chính sách ngoại thương theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới từ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, điều này góp phần giúp nền kinh
tế của đất nước tăng trưởng kéo theo sự phát triển của tất cả các lĩnh vực, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân, trang thiết bị công nghệ phục vụ nền kinh tế luôn được cập nhật đổi mới, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Trong 10 năm qua, Đảng và Nhà nước đẩy mạnh thực hiện chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ thương mại quốc tế, nhờ đó kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta ngày một tăng Trước sự phát triển mạnh của hoạt động xuất nhập khẩu trong nước, các doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực xuất nhập khẩu cần nhận thức được vai trò quan trọng của mình vì họ là các cá thể tạo thành nên hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam Trong bối cảnh hiện nay, công ty cổ phần hàng hải MACS cũng đã và đang tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, góp một phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nhận thấy xuất nhập khẩu hàng hóa là một vấn đề rất quan trọng trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã tìm hiểu về hoạt động XNK trong cơ chế thị trường tại công ty cổ phần hàng hải MACS, từ đó rút ra những vấn đề nan giải, những vướng mắc cần được đưa lên giải quyết hàng đầu chính là việc làm sao nắm bắt được một cách đầy đủ, thuần thục mọi khía cạnh của nghiệp vụ XNK của doanh nghiệp, từ đó quản lý và áp dụng hoạt động nghiệp vụ XNK một cách linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả nhất trên cơ sở Pháp luật Nhà nước Chính vì lẽ đó tác giả đã quyết định chon đề tài “Phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của công ty cổ phần hàng hải MACS trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 112 Mục đích nghiên cứu đề tài
Dựa vào các cơ sở nghiên cứu những lý luận cơ bản của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa để làm rõ những khái niệm XNK, những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Đánh giá hoạt động XNK của công ty Cổ phần hàng hải MACS trong bối cảnh hội nhập KTQT, chỉ ra những điểm thuận lợi, hạn chế còn tồn tại của công ty
Từ đó, đề xuất những giải pháp, kiến nghị cơ bản để phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của công ty Cổ phần Hàng hải MACS trong điều kiện hội nhập kinh tế
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu của Công ty Cổ phần Hàng hải MACS
- Nghiên cứu, đề xuất những giải pháp, kiến nghị chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động xuất nhập khẩu của Công ty Cổ phần Hàng hải MACS trong bối cảnh hội nhập kinh tế
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động xuất nhập khẩu của công ty cổ phần hàng hải MACS trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Phạm vi nghiên cứu: Thời gian khảo sát được tiến hành trong giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2003, 2004) và giai đoạn 2008 -2018 Phạm vi nghiên cứu luận án tập trung phân tích một số mặt hàng xuất nhập khẩu chủ lực của công ty như: Nông sản, dệt may, điện tử
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học của hoạt động xuất nhập khẩu
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu và thu nhập số liệu
Trang 12Chương 3 Đánh giá hoạt động xuất nhập khẩu của công ty cổ phần hàng hải
MACS trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 4 Một số giải pháp nâng cao hoạt động xuất nhập khẩu của Công ty
Cổ phần Hàng hải MACS trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA
HỌC CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thực chất hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh và các hoạt động khác liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật và đều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thanh viên
Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu trong và ngoài nước Tác giả có sử dụng tham khảo một số đề tài nghiên cứu sau:
1.1.1 Các nghiên cứu quốc tế về hoạt động xuất nhập khẩu
Rahman (2009) sử dụng ba phương trình (kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu) để nghiên cứu dòng thương mại giữa Bangladesh và các đối tác thương mại quan trọng Nghiên cứu đã cho thấy hoạt động thương mại của Bangladesh chịu sự tác động của quy mô nền kinh tế, tổng thu nhập quốc dân, khoảng cách và độ mở của nền kinh tế Song một nghiên cứu khác của Thai Tri Do (2006) xem xét thương mại song phương giữa Việt Nam và 23 nước châu Âu dựa trên mô hình trọng lực với bộ số liệu hỗn hợp trong giai đoạn 1993-2017 Nghiên cứu chỉ ra bên cạnh các nhân tố như quy mô nền kinh tế, quy
mô thị trường và tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng tương đối lớn thì 2 biến là khoảng cách địa lý và lịch sử gần như không có sự ảnh hưởng đến thương mại song phương giữa Việt Nam và 23 nước châu Âu Ngoài các nhân tố trên, Erdem và Nazlioglu (2008) khi thực hiện nghiên cứu các nhân tố tác động của xuất khẩu nông sản Thổ Nhĩ Kỳ vào Liên minh Châu Âu bằng mô hình trọng lực trong giai đoạn 1996-2017
đã cho thấy số lượng nông sản xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ có quan hệ tỷ lệ nghịch với quy mô diện tích và khoảng cách địa lý của nước nhập khẩu
Feenstra (2002) và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu bằng việc sử dụng
mô hình hiệu ứng cố định thông qua biến khoảng cách địa lý Phương pháp này
Trang 14cũng được Egger và Pfaffermayr (2003) sử dụng để phân tích hoạt động xuất khẩu của 11 quốc gia trong khu vực APEC; được Martínez-Zarzoso và NowakLehmann (2003) [75] dùng để đánh giá hoạt động trao đổi thương mại giữa Liên minh châu Âu-Mercosur, Kết quả của các nghiên cứu đã xác định được một số nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến thương mại song phương nhưng chưa đề cập đến các nhân tố đặc thù gắn liền với sản xuất nông nghiệp như diện tích đất nông nghiệp, lao động nông nghiệp,
Folawewo và Olakojo (2010) sử dụng số liệu trong giai đoạn từ 1970 đến
2007 để nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản ở Nigeria”
Điểm nổi bật của nghiên cứu này là đánh giá được ảnh hưởng của nhân tố giá cả nông sản trên thế giới và sản lượng nông sản thời kỳ trước ảnh hưởng lớn tới xuất khẩu nông sản của Nigeria
Một nghiên cứu khác tại Ai Cập trong giai đoạn 1994-2008 của Hatab và các
cộng sự (2010) lại chỉ ra “Tác động ngược chiều của GDP trên đầu người của Ai
Cập đến xuất khẩu nông sản của Ai Cập” Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Idsardi
(2010) với nguồn số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2002-2009 về các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu nông sản tại Nam Phi lại cho thấy vai trò đáng kể của chi phí giao dịch, quy mô thị trường, tình trạng phát triển kinh tế, biến động tỷ giá hối đoái và tác động của hiệp định thương mại đối với kim ngạch xuất khẩu của những sản phẩm được chọn Với mặt hàng nông sản (cụ thể là rau quả), các nhân tố GDP và IMP (tổng nhập khẩu các sản phẩm có liên quan) có ảnh hưởng tích cực còn các nhân tố như khoảng cách và một số biến giả có ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu nông sản Như vậy, nếu trong các nghiên cứu trước đa phần các biến giả đều
có tác động cùng chiều đến hoạt động xuất khẩu thì với nghiên cứu này các biến giả lại có tác động ngược chiều
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về hoạt động xuất nhập khẩu
Hiện nay, các nghiên cứu trong nước được tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
Phạm Hồng Tú (1998) đã chỉ ra “Triển vọng xuất khẩu các mặt hàng nông
sản của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” Bằng phương pháp
Trang 15thống kê mô tả và phương pháp so sánh tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chính trên thế giới cũng như của Việt Nam giai đoạn 1991-1997 Trên cơ sở đó, tác giả cũng đã chỉ ra khả năng xuất khẩu mặt hàng này trong giai đoạn 1999-2010 của Việt Nam
Một nghiên cứu khác của Ngô Thị Tuyết Mai (2007) đã tập trung làm rõ “Sự
cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” Với nguồn số liệu sử dụng để nghiên cứu trong giai
đoạn 1996 đến 2006, tác giả đã cho thấy mặt hàng nông sản có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra khả năng cạnh tranh của mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam còn thấp do chất lượng sản phẩm chưa cao, chủng loại đơn điệu, mẫu mã chưa phong phú,… Có thể nói đây là một nghiên cứu
có tính thực tiễn cao khi mà Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu và rộng Tuy nhiên, phương pháp thực hiện trong nghiên cứu này còn
đơn giản chưa đi sâu để làm rõ khả năng cạnh tranh của nông sản
Khác với các nghiên cứu trước, Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008)
đã sử dụng mô hình trọng lực với số liệu thống kê thương mại của Tổng cục Hải
quan từ năm 1998-2018 nhằm thực hiện đề tài “đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với các nước ASEAN+3” Kết quả của
nghiên cứu đã chỉ ra rằng: (i) Ảnh hưởng đến mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với ASEAN+3 chủ yếu là do sự tăng trưởng kinh tế (bao gồm cả sự tăng trưởng về GDP và GDP bình quân đầu người) của chính Việt Nam và các đối tác (ii) Nhân tố khoảng cách dường như chỉ ảnh hưởng đến xuất khẩu mà không ảnh hưởng đến mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với ASEAN+3 (iii) Sự gia nhập và thực hiện các cam kết với ASEAN+3 của Việt Nam chưa hiệu quả nên không có tác động lớn đến tăng trưởng thương mại của Việt Nam với các nước ASEAN+3 Có thể nói, nghiên cứu này đã khá thành công trong ứng dụng mô hình
trọng lực nhằm lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tập trung thương mại MUTRAP III (2010) thực hiện nghiên cứu “Đánh giá tác động của các hiệp
định thương mại tự do (FTAs) tới nền kinh tế Việt Nam” Nghiên cứu đánh giá các
Trang 16tác động sau khi hình thành FTAs thông qua việc sử dụng mô hình trọng lực; đánh giá tác động tiềm năng của các FTAs này trong tương lai, sử dụng mô hình cân bằng tổng thể; và tác động sâu và tiềm năng tới một số ngành cụ thể trong nền kinh
tế (trong đó có ngành nông nghiệp), sử dụng mô hình cân bằng bộ phận Các mô hình trọng lực được áp dụng phân tích cho xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với các nước đối tác, có sử dụng biến giả về FTA đối với AFTA Kết quả ước ượng cho thấy các biến như quy mô của nền kinh tế, khoảng cách địa lý, biến động của tỷ giá hối đoái và mức độ dễ dàng khi thực hiện các hoạt động kinh doanh đều có ý
nghĩa trong nghiên cứu Biến giả FTA có dấu dương ở trong cả mô hình xuất khẩu
và nhập khẩu cho thấy, việc thành lập AFTA dẫn đến tăng trưởng thương mại không chỉ trong khối ASEAN mà còn có cả thương mại của ASEAN với các nước ở
ngoài khối
Nguyễn Tiến Dũng (2011) đã phân tích “tác động của khu vực thương mại
tự do ASEAN và Hàn Quốc đến thương mại của Việt Nam với nguồn số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2001-2009” Trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng mô hình trọng
lực để phân tích tác động của các nhân tố như GDP, GDP bình quân đầu người, chênh lệch về thu nhập, khoảng cách, tỷ giá hối đoái và FTA (biến giả) đến KNXK
và KNNK của Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các biến về GDP có tác động cùng chiều đến cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam, biến khoảng cách có tác động âm, biến tỷ giá hối đoái có tác động cùng chiều với xuất khẩu và ngược chiều với nhập khẩu, các biến giả nhận hệ số dương trong cả mô hình xuất khẩu và nhập khẩu,… Về cơ bản, kết quả của nghiên cứu này khá phù hợp cả trên phương diện lý
thuyết lẫn thực tế
Như vậy, với nhiều cách tiếp cận khác nhau và đề cập đến các khía cạnh khác nhau của hoạt động xuất nhập khẩu như thực trạng xuất nhập khẩu, triển vọng xuất khẩu, các nhân tố tác động lên thị trường xuất khẩu hoặc mức độ thương mại, thực trạng về giá trị gia tăng của mặt hàng xuất khẩu… Cho thấy các nghiên cứu trong nước về cơ bản còn nặng về thực trạng và mang tính khái quát Trên thực tế còn thiếu những nghiên cứu chuyên sâu về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động
xuất khẩu một mặt hàng nông sản cụ thể hay nhóm nông sản nói chung
Trang 171.1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Từ các nghiên cứu đã có trên thế giới và trong nước có thể rút ra một số kết luận sau:
Thứ nhất, chính sách xuất nhập khẩu (thể hiện qua độ mở của của nền kinh tế) và chính sách tiền tệ (thể hiện qua tỷ giá hối đoái) của quốc gia xuất khẩu có tác động khá lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu tại quốc gia đó (Kinh nghiệm từ nghiên cứu của Hatab, Romstad và Huo (2010)
Thứ hai, hoạt động xuất khẩu chịu sự ảnh hưởng từ dân số của quốc gia xuất khẩu và quốc gia nhập khẩu (thể hiện cho người lao động tham gia sản xuất), GDP bình quân/người (thể hiện cho lượng hàng hóa tiêu dùng), tỷ lệlạm phát của quốc gia xuất khẩu (Kinh nghiệm từ các nghiên cứu củaSevela (2002),Hatab và các cộng
sự (2010), Wei và các cộng sự (2012),…)
Thứ ba, hoạt động xuất khẩu của quốc gia chịu sự tác động bởi trình độ của người tiêu dùng tại các quốc gia nhập khẩu Khi xã hội ngày càng phát triển, trình độ của người tiêu dùng (Kinh nghiệm từ nghiên cứu của Wei, Huang and Yang (2012)
1.2 Cơ sở khoa học của hoạt động xuất nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm hoạt động xuất nhập khẩu và vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1.1 Khái niệm xuất nhập khẩu
Nếu như thương mại nội địa được xem là hoạt động mua bán hàng hoá, dịch
vụ trong phạm vi lãnh thổ một nước theo nguyên tắc ngang giá trên cơ sở sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì hoạt động XNK được coi là sự trao đổi hàng hoá, dịch
vụ giữa các nước với nhau trên phạm vi toàn thế giới Sự trao đổi đó là một hình
Trang 18thức của mối quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau
Nói cách khác, kinh doanh XNK là quá trình buôn bán giữa các nước với nhau, là lĩnh vực phân phối, lưu thông hàng hoá với nước ngoài Hoạt động XNK là lĩnh vực mà qua đó một nước tham gia vào phân công lao động quốc tế
Có thể nói, XNK ra đời là do kết quả của sản xuất phát triển Bởi lẽ, khi sản xuất đã phát triển, người ta sẽ chuyên môn hoá trong sản xuất và tất yếu sẽ dẫn đến sự phân công lao động quốc tế Cùng với thời gian, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã làm cho các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau hơn nữa, khiến một nước không thể phát triển mà không tham gia vào hợp tác và phân công lao động quốc tế Chính vì vậy, XNK cũng ngày càng phát triển XNK cho phép một nước mở rộng khả năng tiêu dùng của mình ở tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể nếu giả định nước đó đóng cửa thực hiện chế độ tự cung tự cấp
Hoạt động XNK xuất hiện từ sự đa dạng và khác nhau về điều kiện tự nhiên của sản xuất giữa các khu vực và các quốc gia Các nước nên chuyên môn hoá sản xuất một số mặt hàng có lợi thế và nhập khẩu các mặt hàng khác từ nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi thế thì chắc chắn hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia
sẽ tốt hơn Điều này đã được nhà kinh tế học người Anh David Ricardo phát biểu
như sau: Một quốc gia hay một cá nhân có thể nâng cao mức sống và thu nhập thực
tế bằng cách chuyên môn hoá các mặt hàng mà nước này hay cá nhân này có thể sản xuất với lợi thế so sánh cao nhất, xuất khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các quốc gia khác Lúc này xuất nhập khẩu sẽ có lợi cho cả hai bên
Tóm lại:
- Hoạt động XNK được coi là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước với nhau Sự trao đổi đó là kết quả và biểu hiện của phân công lao động quốc tế
- Hoạt động XNK là xu hướng phát triển có tính khách quan xuất phát từ sự
đa dạng và khác nhau về điều kiện tự nhiên của sản xuất và trao đổi giữa các khu vực và các quốc gia
- Hoạt động XNK có qui mô, hình thức, luật lệ mang tính lịch sử
Trang 19Xuất phát từ những lý do đó mà XNK ra đời và ngày càng đóng góp vai trò tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của từng nước nói riêng Điều này thể hiện rõ nét thông qua vai trò của hoạt động XNK đối với nền kinh tế
1.2.1.2 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu đối với doanh nghiệp
* Vai trò của hoạt động xuất khẩu
- Đối với nền kinh tế
Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước Việt Nam đang đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo đói, lạc hậu và chậm phát triển Máy móc; thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại, chúng là động lực của quá trình này Để có thể nhập khẩu (NK) máy móc, thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại, chúng ta cần một số vốn rất lớn Số vốn này có thể được hình thành từ các nguồn như đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ ngoại tệ, xuất khẩu lao động, Nhưng vốn có được từ đầu tư nước ngoài hay từ vay
nợ sớm muộn đều phải trả bằng cách này hay cách khác Nguồn thu từ du lịch, dịch
vụ chỉ đáp ứng được một phần nhỏ Xuất khẩu lao động chủ yếu là để tạo công ăn việc làm, không thể là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu Do đó, nguồn ngoại tệ quan trọng nhất để NK, để công nghiệp hoá đất nước hình thành từ xuất khẩu (XK) XK quyết định quy mô và tốc độ tăng của NK
Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh
mẽ Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại Có hai quan điểm về tác động của XK đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Theo quan điểm thứ nhất, XK chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta hiện nay, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng nếu chỉ chờ vào sự thừa ra của sản xuất thì XK vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp
Trang 20Quan điểm thứ hai, là quan điểm được nhiều nhà kinh tế hiện đại ủng hộ, coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất Điều này có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Sự tác động của XK đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện ở chỗ:
Một là, XK tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi
Chẳng hạn, khi phát triển XK gạo, cơ hội cho ngành chế biến, chăn nuôi, ngành sản xuất bao gì, ngành hoá chất là rất lớn
Hai là, XK tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần làm cho sản
xuất phát triển ổn định Bởi vì, khi khả năng sản xuất đã được mở rộng mà thị trường trong nước nhỏ hẹp thì thị trường ngoài nước là nơi tiêu thụ lớn, đem lại ngoại tệ đồng thời hướng sản xuất theo yêu cầu thoả mãn nhu cầu của thị trường đó
Ba là, XK tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,
nâng cao năng lực sản xuất trong nước
Bốn là, XK tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao
năng lực sản xuất trong nước Bởi vì xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo ra vốn
và kỹ thuật thu hút công nghệ từ bên ngoài vào Việt Nam
Năm là, thông qua XK, hàng hoá nội địa sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh
trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi trong nước phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất có tính thích nghi và đáp ứng được nhu cầu của thị trường thế giới
Sáu là, XK còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản lý kinh doanh Thực tế cho thấy, dù vốn của doanh nghiệp có lớn đến đâu mà người chủ không quản lý tốt thì doanh nghiệp cũng không phát triển mạnh được
XK có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân
Hàng XK của Việt Nam hiện nay chủ yếu là hàng thô và nguyên liệu hoặc mới chỉ qua sơ chế Tuy vậy, cũng đã có hàng triệu lao động được thu hút để sản xuất những mặt hàng này Tới đây, khi chúng ta tăng hàm lượng chế biến hàng xuất
Trang 21khẩu, cho dù có sự hỗ trợ của máy móc, thì một lượng không nhỏ người lao động nữa sẽ có thêm thu nhập
Đẩy mạnh XK, tham gia vào thị trường thế giới, tức là chúng ta đã đi sâu hơn vào phân công lao động quốc tế, con đường tốt nhất để tạo công ăn việc làm và thu nhập cao cho người lao động
Đời sống của người lao động được cải thiện dần theo thu nhập ngày càng tăng lên, dựa vào đà tăng của kim ngạch XNK cả nước Cần lưu ý rằng không chỉ những người lao động tham gia một cách trực tiếp vào XK mới có thu nhập tăng lên Những người lao động khác, dù ở những ngành có hay không liên quan đến
XK, nếu không được hưởng những quyền lợi vật chất, chẳng hạn như lương cao, thì cũng được hưởng những phúc lợi xã hội do sự đóng góp của các doanh nghiệp XK bằng cách này hay cách khác vào ngân sách nhà nước Nếu chỉ dựa vào những thành tựu trong nước, thì đến nay chúng ta đã không được hưởng những phát minh khoa học như máy giặt, tủ lạnh, máy ảnh hay ti vi, XK còn tạo ra nguồn vốn để
NK vật phẩm tiêu dùng thiết yếu, hiện đại phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú của nhân dân
XK góp phần mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
XK là một hoạt động kinh tế đối ngoại Nó ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển
XK tăng sẽ tạo đà cho các quan hệ kinh tế phát triển Bạn bè thế giới sẽ biết đến nước ta Ngoài những người có nhu cầu tham quan du lịch, tìm hiểu văn hoá, phong tục, còn có những người tiến hành tìm kiếm thăm dò thị trường thông qua du lịch và hoạt động này đã khiến ngành du lịch tăng trưởng và phát triển nhanh chóng Khi XK nhiều lên, nhu cầu về vận tải, bảo hiểm tăng, quan hệ tín dụng cũng phát triển theo, đầu tư cũng gia tăng bởi bạn hàng nước ngoài thấy được khả năng phát triển của Việt Nam thông qua hoạt động XK được đẩy mạnh
Ngược lại, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại vừa kể trên cũng tạo tiền đề cho mở rộng XK trong khi ngành vận tải của Việt Nam chưa lớn mạnh, ngành bảo hiểm còn non trẻ, những kinh nghiệm trong thanh toán quốc tế còn chưa nhiều
- Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với doanh nghiệp
Trang 22- Cùng với xu hướng hội nhập của đất nước thì xu hướng vươn ra thị trường thế giới của doanh nghiệp cũng là một tất yếu khách quan Bán hàng hoá và dịch vụ
ra nước ngoài mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích sau:
- XK mở ra những thị trường rộng lớn hơn, giúp doanh nghiệp có cơ hội tiêu thụ nhiều hàng hoá hơn, điều này đặc biệt quan trọng khi dung lượng thị trường nội địa còn hạn chế như ở nước ta
- XK buộc doanh nghiệp phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh đến từ khắp nơi trên thế giới Vì vậy doanh nghiệp luôn phải nâng cao năng lực mọi mặt của mình để tăng năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của mình Đây là điều kiện tốt để doanh nghiệp phát triển một cách hiệu quả
- XK giúp doanh nghiệp mở rộng quan hệ, kịp thời nhận được những thông tin mới để điều chỉnh chiến lược của mình cho phù hợp
* Vai trò của hoạt động nhập khẩu
NK là một hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế NK tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống NK là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại cho sản xuất và các hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu
Trong điều kiện nước ta hiện nay, vai trò của NK thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, NK sẽ thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thứ hai, NK sẽ bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm
bảo một sự phát triển cân đối và ổn định, khai thác đến mức tối đa tiềm năng và khả năng của nền kinh tế vào vòng quay kinh tế
Thứ ba, NK đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người
lao động, góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân
Thứ tư, NK có vai trò tích cực thúc đẩy XK, góp phần nâng cao chất lượng
sản xuất hàng XK, tạo môi trường thuận lợi cho XK hàng Việt Nam ra nước ngoài, đặc biệt là nước ta NK của họ
Trang 23Thứ năm, đối với doanh nghiệp, NK đóng vai trò rất quan trọng trong việc
nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, là hoạt động kinh doanh có khả năng đem lại nhiều lợi nhuận và nhiều lợi ích kinh tế khác của doanh nghiệp
Từ những điều phân tích nêu trên, có thể khái quát về vai trò của hoạt động XNK như sau:
Thứ nhất, XNK là một hình thức trao đổi tích cực, nó vừa thể hiện mối quan
hệ xã hội, vừa phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của từng quốc gia Một quốc gia cũng như một cá nhân không thể sống riêng rẽ mà có thể thoả mãn đầy đủ nhu cầu của mình cho dù đó là những nhu cầu có khả năng thanh toán Việc buôn bán quốc tế cho phép một nước mở rộng khả năng sản xuất và khả năng tiêu dùng, tận dụng được những trang thiết bị, máy móc của nước khác mà điều kiện sản xuất của nước đó chưa cho phép Chính vì vậy XNK trở thành vấn đề sống còn đối với tất cả các quốc gia trong giai đoạn hiện nay
Thứ hai, kinh doanh XNK chiếm một vị trí quan trọng trong tái sản xuất xã
hội Nói cách khác, XNK mở rộng quá trình tái sản xuất của một quốc vượt ra khỏi đường biên giới Khi sản xuất các hàng hoá để XK, các quốc gia bỏ ra những chi phí nhất định Các hàng hoá XK không tham gia vào quá trình lưu thông trong nước, chúng được tiêu thụ ở nước ngoài Khi XK, nước XK thu được một số ngoại
tệ nhất định Khi XNK, các tỷ lệ trao đổi được hình thành trên cơ sở giá cả quốc tế Mức giá và tương quan của nó khác với giá nội bộ của nước XK Sau khi NK, sản phẩm NK tham gia vào lưu thông hàng hoá trong nước và tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội thực tế các sản phẩm sử dụng đầu vào sản xuất là hàng NK
Mặt khác, kinh doanh XNK thông qua hoạt động XK, NK đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân nói chung bằng cách làm đa dạng hàng hoá hoặc làm tăng mức giá trị sử dụng cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời làm tăng thu nhập quốc dân nhờ tranh thủ được lợi thế so sánh trong trao đổi với nước ngoài, tạo thêm tích luỹ cho quá trình tái sản xuất trong nước, góp phần cải thiện đời sống nhân dân trong nước Hơn nữa, XNK còn phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của mọi người, mọi tổ chức, mọi ngành nghề, mọi địa phương trong xã hội, đáp ứng được nhu cầu
Trang 24ngày càng tăng của nhân dân Đến lượt mình, sự đa dạng của sản xuất và tiêu dùng
sẽ khuyến khích nền kinh tế tăng trưởng
Ngoài ra, hoạt động XNK còn tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng hoá trong nước
và hàng nhập ngoại Sự cạnh tranh này làm cho chất lượng sản phẩm và doanh nghiệp trong nước được nâng cao, xoá bỏ nhanh chóng sản phẩm lạc hậu, sản phẩm
mà thị trường thế giới không chấp nhận
Như vậy, kinh doanh XNK có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi nước, phát huy được thế mạnh của mỗi nước và thế mạnh của cả nền kinh
tế thế giới, là chiếc cầu nối liền nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh XNK phụ thuộc vào trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp, cũng như sự tận dụng các nguồn lực đó Đồng thời hoạt XNK của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào môi trường trong đó doanh nghiệp hoạt động
1.2.2.1 Nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu
Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp như lao động, khoa học kỹ thuật, thông tin,
* Lực lượng lao động
Lao động là một yếu tố quan trọng của quá trình hoạt động kinh doanh Việc
sử dụng lao động hợp lý sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên các mặt giảm chi phí, tăng khả năng cải tiến, thay đổi mặt hàng, linh hoạt trong ứng xử với đối tác Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động là biện pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh XNK nói riêng Lực lượng lao động của doanh nghiệp sẽ tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK ở những điểm sau:
Thứ nhất, Lao động là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của hoạt động
kinh doanh XNK: Đội ngũ người lao động bằng lao động sáng tạo của mình tạo ra
Trang 25công nghệ mới, thiết bị máy móc mới, nguyên liệu mới có hiệu quả hơn trước hoặc cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất, hiệu quả so với trước Khả năng sáng tạo, đổi mới, tính năng động của người lao động quyết định khả năng thích nghi và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và thế giới
Thứ hai, trình độ kỹ năng của người lao động: người lao động trực tiếp điều
khiển thiết bị máy móc tạo ra kết quả của doanh nghiệp Hiệu quả của quá trình này thể hiện ở việc tận dụng công suất của thiết bị máy móc, tận dụng nguyên vật liệu, chi phí trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh làm tăng năng suất, tăng hiệu quả từng nơi làm việc
Thứ ba, cách thức tổ chức khoa học lao động: lao động có kỹ thuật, chấp
hành đúng mọi quy định về thời gian, về quy trình hoạt động, quy trình bảo dưỡng thiết bị máy móc dẫn đến kết quả không phải chỉ tăng hiệu quả mà còn tăng độ bền, giảm chi phí sửa chữa góp phần làm giảm chi phí kinh doanh
Ngoài ra chất lượng kinh doanh còn phụ thuộc rất lớn vào ý thức trách nhiệm, tinh thần hiệp tác phối hợp, khả năng thích ứng với những thay đổi, nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp Lực lượng lao động có trình độ,
có trách nhiệm là động cơ tốt phát huy hiệu quả kinh doanh XNK
Để có được đội ngũ lao động có trình độ, tinh thần, ý thức trách nhiệm cao thì doanh nghiệp phải chăm lo đến việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động
* Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật
Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với sự phát triển của tư liệu lao động Sự phát triển của tư liệu lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc tăng chất lượng sản xuất,
áp dụng tiến bộ mới là điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất Nếu xét trong mối quan hệ với lao động thì cơ sở vật chất kỹ thuật vừa là công cụ, vừa là môi trường tốt để nâng cao năng lực của đội ngũ lao động Đội ngũ lao động có năng
Trang 26lực, có trình độ kết hợp với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại thì hiệu quả kinh doanh
sẽ rất cao
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã thực sự nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm ở tất cả các hãng kinh doanh trên thế giới Để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trên thị trường quốc tế, các doaFnh nghiệp kinh doanh XNK
ở Việt Nam đã và đang tìm mọi biện pháp để nâng cao khả năng đầu tư, ngày càng cải tiến và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, cải thiện và nâng cao trình độ trang thiết bị cho doanh nghiệp mình Nếu doanh nghiệp chỉ có cơ sở vật chất trang thiết bị yếu kém, máy móc lạc hậu, không đồng bộ thì việc bán sản phẩm trên thị trường thế giới sẽ thực sự khó khăn Đối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK thì điều này càng trở nên quan trọng hơn, bởi lẽ sản phẩm của doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh với các hãng sản xuất trong nước mà còn phải cạnh tranh với rất nhiều hãng khác trên thị trường thế giới Các doanh nghiệp kinh doanh XNK phải biết tận dụng những gì do công nghệ mới mang lại, do cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại tạo ra để sản xuất ra những hàng hoá có chất lượng cao mới đem lại lợi nhuận cao trong kinh doanh XNK và mới có thể thâm nhập, mở rộng thị trường tiêu thụ ở tất cả các quốc gia
Thực tế trong những năm chuyển đổi kinh tế vừa qua cho thấy doanh nghiệp nào tạo dựng được công nghệ sản xuất và hệ thống thiết bị hiện đại, làm chủ được các yếu tố kỹ thuật và phát triển sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp đó đạt được hiệu quả kinh tế cao, có khả năng đứng vững trên thị trường và đem lại những cơ hội cho phát triển doanh nghiệp
* Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
Trên thế giới hiện nay khoa học kỹ thuật tiến bộ đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực, đặc biệt tin học và điện tử ngày càng đóng vai trò quan trọng Thông tin được coi là đối tượng lao động của các nhà kinh doanh và nền kinh tế thị trường hiện nay được coi là nền kinh tế thông tin hoá Để kinh doanh trên thị trường thành công, các doanh nghiệp cần rất nhiều thông tin chính xác về thị trường, thông tin về các đối thủ cạnh tranh, thông tin về người mua, người bán, thông tin về hàng hoá, dịch vụ, giá cả, tỷ giá, Không những thế các doanh nghiệp kinh doanh XNK còn phải biết
Trang 27được kinh nghiệm thành công hoặc thất bại của các doanh nghiệp trong nước và trên thế giới, các thông tin về chính sách vĩ mô của Nhà nước và các nước có liên quan đến thị trường XNK của doanh nghiệp
Đặc biệt đối với doanh nghiệp kinh doanh XNK, yêu cầu về thông tin càng trở nên có ý nghĩa hơn Thông tin trong nước cũng như quốc tế phải nhanh nhạy, thông tin về tỷ giá, chính sách XNK, quota, phải được xem xét thường xuyên và cập nhật
Hệ thống thông tin có tác động lớn đối với hiệu quả kinh doanh XNK của doanh nghiệp, cụ thể là:
- Những thông tin kịp thời, chính xác sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng XNK, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định các chương trình khuyến mãi ngắn hạn, để đưa ra các quyết định đúng đắn khi ký hợp đồng Nếu thông tin thu thập được mà không kịp thời, chính xác thì kinh doanh sẽ không đạt hiệu quả, do bỏ lỡ cơ hội mà thị trường đã đem lại cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các thông tin về thị trường, giá cả và đối thủ cạnh tranh
- Thông tin giúp doanh nghiệp nắm bắt và nghiên cứu đầy đủ hơn về môi trường kinh doanh ở quy mô khu vực và thế giới, đặc biệt là những biến động bất thường trên thị trường Có thông tin tin cậy, doanh nghiệp có thể nắm bắt và tận dụng những cơ hội kinh doanh tốt và tránh được rủi ro
Tóm lại, việc tổ chức khoa học hệ thống thông tin nội bộ vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin kinh doanh XNK, giúp cho doanh nghiệp quản lý điều hành hoạt động kinh doanh XNK có hiệu quả, vừa giảm đáng kể chi phí kinh doanh XNK
* Yếu tố quản trị doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh XNK nói riêng, yếu tố quản trị ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Yếu tố này tác động tới hiệu quả kinh doanh XNK thông qua một loạt các kênh nội tại của doanh nghiệp như cơ cấu lao động, cơ sở vật chất, kỹ thuật, Công tác quản trị doanh nghiệp được tiến hành tốt sẽ giúp doanh nghiệp tạo
Trang 28dựng một hướng đi đúng trong xác lập thị trường, mặt hàng và đối tác chiến lược, trong xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả, trong xác định hợp lý các mục tiêu kinh doanh ngắn và dài hạn
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp hợp lý không những giúp cho điều hành hoạt động kinh doanh XNK tốt mà còn giảm các chi phí quản lý và xây dựng một cơ cấu điều phối lao động tối ưu, góp phần xây dựng và lựa chọn hợp lý các phương án huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu vào phục vụ cho mục tiêu kinh doanh XNK của doanh nghiệp
- Kinh doanh XNK là hoạt động thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và ngày càng tối ưu các yếu tố đầu vào, đầu ra bằng các kiến thức khoa học và nghệ thuật Nhà quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là các cán bộ lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp, bằng phẩm chất và tài năng của mình, có vai trò quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành đạt của doanh nghiệp Để có thể tạo dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp tốt, đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp phải có kiến thức khoa học
và nghệ thuật kinh doanh, đáp ứng được hai nhiệm vụ chủ yếu là:
- Xây dựng tập thể lao động thành một khối đoàn kết, năng động với chất lượng cao
- Dìu dắt tập thể dưới quyền, hoàn thành mục đích và mục tiêu một cách vững chắc và ổn định Ở bất kỳ một doanh nghiệp nào, hiệu quả kinh tế đều phụ thuộc lớn vào tổ chức cơ cấu bộ máy quản trị, nhận thức hiểu biết về chất lượng và trình độ của đội ngũ các nhà quản trị, khả năng xác định chính xác mục tiêu, phương hướng kinh doanh có lợi nhất cho doanh nghiệp
1.2.2.2 Nhóm các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu
Hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, kinh doanh XNK nói riêng, không những chịu tác động của các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp mà còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhân tố tác động từ bên ngoài Đó là các nhân tố về môi trường chính trị, luật pháp, văn hoá xã hội, môi trường quốc tế, tỷ giá hối đoái,
* Môi trường pháp lý
Trang 29Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật, thông lệ, quy tắc liên quan đến hoạt động XNK Môi trường pháp lý tác động trực tiếp đến hiệu quả
và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh XNK trên các mặt: Hệ thống luật lệ tạo ra hành lang cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà nếu doanh nghiệp không tuân thủ thì hậu quả sẽ rất tai hại; Một môi trường pháp lý lành mạnh, thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh XNK của mình đồng thời cũng điều chỉnh các hoạt động kinh doanh XNK theo hướng có lợi không phải chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho nền kinh tế; Đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh XNK, môi trường pháp lý còn được xem xét dưới dạng chi phí Nếu môi trường pháp lý đơn giản, minh bạch thì doanh nghiệp vừa dễ nắm vững luật pháp, vừa phải chi phí về pháp lý thấp Ngược lại, môi trường pháp lý không rõ ràng, thay đổi tuỳ tiện thì hoạt động kinh doanh XNK của doanh nghiệp gặp rủi ro rất lớn
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các định chế kinh tế thương mại khu vực và quốc tế còn có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh XNK Các doanh nghiệp phải nắm vững các chính sách quản lý XNK của các đối tác thương mại trong khuôn khổ song phương, khu vực và đa phương để tận dụng tối đa các cam kết giảm thuế, mở cửa thị trường của họ nhằm tối đa hoá lợi ích kinh doanh XNK, cũng như phải nắm vững các chế tài nhằm có chiến thuật hợp lý, giảm tổn thất do quy định pháp lý gây ra
* Môi trường văn hoá xã hội
Môi trường văn hoá xã hội ở nước sở tại cũng như môi trường văn hoá xã hội
ở nước ngoài đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh XNK của doanh nghiệp Đối với nước sở tại thì môi trường văn hoá xã hội sẽ tác động đến những yếu tố: tình trạng việc làm, điều kiện xã hội, trình độ giáo dục, phong cách lối sống, những đặc điểm truyền thống, tâm lý xã hội Do đó hiệu quả kinh doanh XNK cũng bị tác động theo cả hai hướng tích cực hoặc không tích cực Với
xã hội có trình độ văn hoá cao sẽ tạo thuận lợi lớn trong việc đào tạo đội ngũ lao động có chuyên môn cao, tiếp thu nhanh kiến thức cần thiết và tác phong lao động
Trang 30công nghiệp sẽ tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại Môi trường văn hoá xã hội ở nước ngoài nơi mà các doanh nghiệp kinh doanh XNK hàng hoá sang thị trường các nước đó lại có vai trò quan trọng hơn đối với hiệu quả kinh doanh XNK của các doanh nghiệp Bởi lẽ, mỗi nước sẽ có một nền văn hoá, phong tục tập quán riêng và do đó họ sẽ có yêu cầu và
sở thích khác nhau đối với những loại hàng hoá mà họ tiêu thụ Các doanh nghiệp kinh doanh XNK phải nắm bắt được vấn đề này mới có thể bán được hàng, mới tạo dựng được uy tín và thị phần, từ đó mới có thể thu được lợi nhuận cao nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yếu tố văn hoá trong kinh doanh ngày càng trở nên vô cùng quan trọng Các doanh nghiệp thành công là các doanh nghiệp biết lồng ghép, gắn yếu tố văn hoá vào các sản phẩm của mình trong việc đưa ra các mẫu mã hàng hoá phù hợp, có tính văn hoá cao, phù hợp với con người, xã hội của thị trường XK Ngược lại, nếu các sản phẩm gây phản cảm hay thậm chí đi ngược lại yếu tố văn hoá truyền thống của thị trường
sở tại thì sẽ bị tẩy chay
Trong tình hình hiện nay, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến yếu tố tôn giáo Đây là vấn đề vô cùng nhạy cảm Nếu vô tình vi phạm, xúc phạm những điều kiêng kỵ của một giáo phái có thể sẽ dấy lên phong trào phản đối, tẩy chay sản phẩm không những chỉ ở một nước mà còn lan ra toàn thế giới Đó là bài học đắt giá mà một số doanh nghiệp châu Âu mắc phải trong thời gian gần đây khi vô tình xúc phạm vào điều cấm của đạo Hồi
* Môi trường chính trị
Cũng tương tự như môi trường văn hoá xã hội, môi trường chính trị trong nước và các nước có liên quan đến việc XNK của các doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh XNK của các doanh nghiệp Môi trường chính trị trong nước ổn định sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh XNK yên tâm với hoạt động kinh doanh của mình Khi đó Chính phủ sẽ có những biện pháp tích cực nhằm mở rộng và kích thích, tạo đà cho các doanh nghiệp
Trang 31kinh doanh XNK phát huy được hết thế mạnh của mình và trên cơ sở đó đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất Môi trường chính trị nước ngoài ổn định cũng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh XNK của các doanh nghiệp Bởi lẽ khi đó hoạt động kinh doanh của họ không bị gián đoạn do nội chiến, đình công, xung đột, Ở thị trường những nước này Đồng thời Chính phủ các nước này cũng sẽ có những
ưu đãi nhất định đối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK trên cơ sở hai bên cùng
có lợi
Ngoài ra, quan hệ chính trị giữa hai nước và nhiều nước cũng có ảnh hưởng
to lớn đến hoạt động XNK Các chính sách cấm vận hoặc ưu đãi của quốc gia này đối với quốc gia khác có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh XNK thu lợi nhuận lớn, song cũng có thể làm cho doanh nghiệp XNK hứng chịu các khoản thua lỗ do hành vi chính trị của chính phủ nước quan hệ gây ra
* Môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng
Tình trạng môi trường, xử lý phế thải, ô nhiễm và các ràng buộc xã hội về môi trường đều tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung
và các doanh nghiệp kinh doanh XNK nói riêng Nếu như môi trường trong sạch và hợp vệ sinh, hệ thống xử lý nước thải và các chất phế thải được trang bị cẩn thận và hợp lý sẽ góp phần làm giảm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một trong những thuận lợi để doanh nghiệp có điều kiện cải thiện tốt hơn nữa các nhân
tố thuộc về bản thân doanh nghiệp Trên cơ sở đó sẽ đem lại cho doanh nghiệp những hiệu quả kinh tế cao hơn
Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế đóng vai trò rất quan trọng đối với việc trực tiếp giảm chi phí lao động để xây dựng trang thiết bị, kỹ thuật cho doanh nghiệp Điều quan trọng hơn là cơ sở hạ tầng tác động trực tiếp đến chi phí kinh doanh cũng như thời gian vận chuyển hàng hoá của doanh nghiệp và do đó tác động đến hiệu quả kinh tế Hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ làm tăng chi phí đầu tư, cản trở hoạt động cung ứng hàng hoá, do đó sẽ tác động xấu đến sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
Trang 32Đối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK thì cơ sở hạ tầng của nền kinh tế lại càng quan trọng hơn Nếu cơ sở hạ tầng yếu kém thì có nghĩa là vận tải quốc tế
sẽ không phát triển mà hàng hoá cần thiết phải được đưa từ quốc gia này sang quốc gia khác trong thời gian ngắn nhất với chi phí thấp nhất Có một điều mà các doanh nghiệp kinh doanh XNK luôn quan tâm, đó chính là hệ thống kho ngoại quan Nếu kho ngoại quan được thành lập theo đúng quy định và có nhiều ưu điểm sẽ giúp cho chủ hàng kinh doanh XNK yên tâm gửi hàng trong thời gian chờ đợi để XK hoặc
NK Nếu hàng hoá XNK gửi ở kho ngoại quan được đảm bảo an toàn về mặt số lượng và chất lượng, đồng thời các thủ tục xuất nhập kho được giải quyết nhanh chóng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh XNK bởi họ không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh
* Môi trường thị trường quốc tế
Môi trường quốc tế cũng là một trong những nhân tố có vai trò quyết định đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK của các doanh nghiệp Với một nền kinh tế mở cửa phù hợp với xu thế hội nhập cùng phát triển, thì ảnh hưởng của môi trường quốc tế đối với doanh nghiệp XNK nói chung là thuận lợi Ngược lại, xu thế xung đột leo thang, hàng rào bảo hộ dựng lên phổ biến thì hoạt động XNK sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Ngoài ra, những biến động của tỷ giá hối đoái, các cuộc khủng hoảng khu vực và thế giới gây tác động rất lớn đến môi trường kinh doanh của các quốc gia
có liên quan Nó có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây cản trở cho hoạt động buôn bán thương mại quốc tế giữa các nước và do đó ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Nếu đồng nội tệ lên giá thì XK sẽ bị hạn chế đồng thời kích thích NK và ngược lại Các doanh nghiệp kinh doanh XNK phải thường xuyên đối phó với vấn đề tỷ giá, phải cập nhật sự thay đổi của tỷ giá hối đoái để có quyết định đúng đắn trong quá trình kinh doanh XNK
* Môi trường khoa học công nghệ trong nước và quốc tế
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, các hoạt động nghiên cứu và triển khai ngày càng tạo ra nhiều công nghệ mới, kỹ thuật mới
Trang 33Khoa học công nghệ trong các lĩnh vực của nền kinh tế rất được coi trọng bởi các lợi ích mà nó đem lại là rất lớn Yếu tố công nghệ có tác động làm tăng hiệu quả trong công tác XNK Nhờ sự phát triển của hệ thống bưu chính viễn thông, các doanh nghiệp ngoại thương có thể đàm phán trực tiếp với khách hàng, bạn hàng qua telex, Internet, giảm bớt những chi phí đi lại, khả năng nắm bắt thông tin nhanh hơn Hơn nữa, các doanh nghiệp có thể nắm bắt được các thông tin về thị trường ngoài nước bằng các phương tiện truyền thông hiện đại Bên cạnh đó, yếu tố công nghệ còn tác động tới các lĩnh vực vận tải hàng hoá, các nghiệp vụ thanh toán trong ngành ngân hàng, đó cũng là yếu tố tác động tới công tác XNK theo chiều hướng tích cực
Ngoài ra, thách thức đối với các doanh nghiệp là việc cần đầu tư triển khai khoa học công nghệ mới để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo thế cạnh tranh trên thị trường thế giới Để thành công, các doanh nghiệp phải là người đi đầu trong ứng dụng thành quả khoa học vào công việc và sản phẩm kinh doanh của mình
* Môi trường kinh tế trong nước
Môi trường kinh tế trong nước bao gồm các yếu tố như tăng trưởng kinh tế quốc dân, các chính sách kinh tế của Chính phủ, lạm phát, biến động tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh luôn luôn tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp XNK Trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhìn chung hoạt động ngoại thương sẽ sôi nổi, do đó cơ hội kinh doanh thành công khá lớn Ngược lại, kinh tế trì trệ, thị trường trong nước thu hẹp, cạnh tranh để XK và
NK sẽ gay gắt hơn rất nhiều
Các chính sách kinh tế của Chính phủ như chính sách tài chính, tiền tệ, biểu thuế, vừa tác động điều tiết vĩ mô, vừa tạo ra cơ hội, thách thức với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp XNK Nếu chính sách lãi suất, tín dụng quy định mức lãi suất quá cao sẽ gây cản trở cho việc vay vốn của các doanh nghiệp và làm tăng chi phí về vốn Chính sách tỷ giá không hợp lý cũng kiềm chế ngoại thương Sự tồn tại một số doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh vượt trội thì cơ hội cho doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ hiếm hoi Do vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh
Trang 34XNK, các doanh nghiệp phải luôn nhạy cảm với môi trường kinh tế để có thể ra các quyết định kinh doanh phù hợp, nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình
1.2.2.3 Các yếu tố khác
- Giá cả: Vấn đề giá cả hàng hoá trong cơ chế thị trường rất phức tạp vì mỗi thị trường có một giá cả khác nhau Hiện nay, giá cả thị trường bấp bênh, không ổn định Do vậy, các doanh nghiệp cần phải phán đoán để lựa chọn mặt hàng XNK sao cho phù hợp với thị trường về giá cả và sở thích của dân cư
- Ảnh hưởng của nền sản xuất cũng như các doanh nghiệp kinh doanh thương mại trong nước Sự phát triển của nền sản xuất cũng như các doanh nghiệp phát triển sản xuất trong nước tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm NK, tạo
ra sản phẩm thay thế sản phẩm NK, làm giảm nhu cầu hàng NK đồng thời các sản phẩm XK sẽ được nâng cao chất lượng, nguồn hàng hoá XK tăng lên tạo khả năng thúc đẩy XK Ngược lại, sự phát triển của nền sản xuất ở nước ngoài làm tăng khả năng cung cấp các sản phẩm NK và thúc đẩy hoạt động này đồng thời tạo ra sự cạnh tranh gay gắt khốc liệt đối với hàng hoá trong nước
Cũng như sản xuất, sự phát triển của hoạt động thương mại trong và ngoài nước của các doanh nghiệp thương mại quyết định sự chu chuyển lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế Bởi vậy nó tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh hoạt động XNK Như vậy, các yếu tố bên ngoài tạo ra cả những cơ hội, lẫn nguy cơ đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh XNK, nó gắn bó chặt chẽ với môi trường bên trong doanh nghiệp, tạo nên môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp tồn tại một cách khách quan, có thể gây khó khăn, cũng có thể hỗ trợ hiệu quả sản xuất kinh doanh XNK của doanh nghiệp
1.2.3 Sự cần thiết của đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3.1 Các lý thuyết về lợi ích thương mại quốc tế
- Lý thuyết về lợi thế so sánh
Lý thuyết lợi thế so sánh do Adam Smit và Đa vit Ricardo đưa ra Theo các ông này, các quốc gia dựa vào sự khác nhau về các yếu tố sản xuất như lao động,
Trang 35vốn, tài nguyên cũng như sự khác biệt về công nghệ giữa các ngành có thể thu lợi khi tiến hành trao đổi hàng hoá với nhau Các nhà kinh tế sau này cụ thể thêm khi nhấn mạnh một quốc gia sẽ có lợi thế so sánh trong những ngành sử dụng nhiều yếu
tố sản xuất mà quốc gia đó dồi dào Chẳng hạn như Việt Nam dồi dào tương đối về nguồn lực tự nhiên và lao động bán kỹ năng nên có lợi thế so sánh về các ngành thâm dụng nguồn lực tự nhiên như gạo, cà phê hoặc thâm dụng lao động bán kỹ năng như dệt, da, may mặc
Lý thuyết lợi thế so sánh chỉ ra rằng một quốc gia chỉ cần có lợi thế so sánh thì có thể thu được lợi ích từ ngoại thương cho dù năng suất của quốc gia đó thấp trên tất cả các ngành Về mặt trực quan, lý thuyết này khá lý thú, nó giúp cho những nhà làm chính sách xác định những ngành hoặc những sản phẩm mà quốc gia họ có lợi thế để phân bổ một cách có hiệu quả nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế và
lý thuyết này cũng cho thấy rằng mậu dịch quốc tế mang lại lợi ích cho các nước tham gia cho dù năng suất trong các ngành của quốc gia đó thấp hơn so với các quốc gia khác
Tuy nhiên những giả thiết làm cơ sở cho lý thuyết này không thực tiễn trong hầu hết các ngành như giả thiết về công nghệ đồng nhất giữa các quốc gia, không có lợi thế kinh tế theo quy mô, các yếu tố sản xuất không dịch chuyển giữa các quốc gia Với lý thuyết về lợi thế so sánh, mậu dịch và sự chuyên môn hoá dựa vào nguồn lực (lao động, vốn, tài nguyên) giúp cho một quốc gia đạt được sự thịnh vượng Trong một thế giới mà thị trường phân khúc, có sự khác biệt sản phẩm, khác biệt về công nghệ và các ngành có lợi thế kinh tế theo quy mô, dường như lý thuyết lợi thế so sánh không đủ để giải thích tại sao các công ty lại thành công trên thị trường thế giới và đạt được mức tăng trưởng cao
- Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
Lý thuyết lợi thế cạnh tranh đề cập đến một cách tiếp cận mới nhằm trả lời những câu hỏi sau: Tại sao một số doanh nghiệp cạnh tranh thành công trong khi một số doanh nghiệp khác thì thất bại trong một ngành? Chính phủ cần phải làm gì
để cho doanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế? Với lý thuyết
Trang 36lợi thế cạnh tranh quốc gia, M.Porter (1990) đã tập trung vào việc giải thích những vấn đề trên M.Porter cho rằng sự gia tăng mức sống và sự thịnh vượng của quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào khả năng đổi mới, khả năng tiếp cận nguồn vốn và hiệu ứng lan truyền công nghệ của nền kinh tế Nói tổng quát hơn, sức cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào sức cạnh tranh của các ngành trong nền kinh tế Sức cạnh tranh của một ngành lại xuất phát từ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành: khả năng đổi mới công nghệ, sản phẩm, cung cách quản lý của ngành
và môi trường kinh doanh Các đầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế không phải chỉ thuần là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên mà còn là những đầu vào do chính doanh nghiệp hoặc chính phủ tạo ra Với cách nhìn nhận như vậy, M.Porter (1990) cho rằng bốn yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của một quốc gia là:
1 Chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và sự cạnh tranh: Những ngành có
chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách của quốc gia, hoạt động trong môi trường có cạnh tranh trong nước căng thẳng hơn sẽ có tính cạnh tranh quốc tế mạnh hơn Chẳng hạn như ngành sản xuất xe hơi của Nhật có một số công ty cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới một phần là do các công ty này đã cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong nước, luôn suy nghĩ và hành động mang tính chiến lược
2 Các điều kiện về phía cầu: Những ngành phải cạnh tranh mạnh ở trong
nước thì mới có khả năng cạnh tranh quốc tế tốt hơn Thị trường trong nước với số cầu lớn, có những khách hàng đòi hỏi cao và môi trường cạnh tranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn Chẳng hạn như ngành chế biến thức ăn nhanh của Hoa Kỳ có khả năng cạnh tranh được trên thị trường quốc tế bởi lẽ người tiêu dùng Hoa Kỳ là những người đòi hỏi tốc độ và sự thuận tiện nhất thế giới
3 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Tính cạnh tranh của một
ngành phụ thuộc vào sức mạnh của các nhà cung cấp các nhập lượng và các dịch vụ
hỗ trợ Các nhà cung cấp nhập lượng có khả năng cạnh tranh trên toàn cầu có thể mang lại cho doanh nghiệp - khách hàng của họ lợi thế về chi phí và chất lượng
Trang 37Các ngành có quan hệ ngang cũng mang lại lợi thế cạnh tranh thông qua sự lan truyền công nghệ Sự hiện diện cụm công nghiệp tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế kinh tế theo quy mô Ví dụ như ngành sản xuất máy tính của Hoa Kỳ là ngành đầu đàn vì các công ty có nhiều sáng kiến trong ngành công nghiệp bán dẫn, vi xử lý, hệ thống điều hành và dịch vụ vi tính
4 Các điều kiện về các yếu tố sản xuất: bao gồm chất lượng lao động, vốn và
lao động rẻ, cơ sở hạ tầng mạnh và công nghệ cao sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của ngành và của các quốc gia ở đây chúng ta nhấn mạnh đến chất lượng của các yếu tố đầu vào được tạo ra chứ không phải là nguồn lực trời cho ban đầu Chẳng hạn như ngành sản xuất thép ở Nhật bản có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới dù họ không có tài nguyên về sắt hoặc than, mà bởi vì họ có công nghệ sản xuất tốt
Một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong những ngành mà người ta tìm thấy bốn yếu tố cơ bản trên khá mạnh Đây là những khu vực mà chính phủ nên tập trung
nỗ lực của họ nhằm để thúc đẩy lợi thế cạnh tranh của quốc gia
1.2.3.2 Sự cần thiết đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa trong quá trình hội nhập KTQT
Hoạt động thương mại quốc tế, là quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế Đây là sự thử thách với bất cứ quốc gia nào tham gia vào quá trình này, đặc biệt đối với những nước kém phát triển, đang phát triển Hội nhập kinh tế quốc tế vừa mở ra khả năng để phát triển kinh tế đất nước, nhưng đồng thời cũng buộc các quốc gia phải đối mặt với những thách thức không nhỏ Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực thương mại quốc tế là quá trình thực hiện tự do hóa thương mại thông qua việc cắt giảm các rào cản, là thực hiện các cam kết song phương và đa phương trong các cam kết giữa các quốc gia Trong hoạt động thương mại quốc tế, quốc gia nào tạo được nhiều hàng hóa, hàng hóa có chất lượng cao được thị trường thế giới chấp thuận, thì nước đó sẽ mở rộng được hoạt động xuất khẩu Điều đó cũng có nghĩa là quốc gia đó đã tận dụng, khai thác được lợi thế so sánh và thông qua thương mại quốc tế để thu được lợi ích cho quốc
Trang 38gia mình Những lợi ích do hoạt động xuất khẩu mang lại cho mỗi quốc gia là hết sức rõ ràng, điều đó có thể nhận thấy:
- Khi xuất khẩu được nhiều hàng hóa, dịch vụ sẽ tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Điều này là yếu tố quyết định cho việc nâng cao đời sống vất chất và tinh thần của dân cư trong điều kiện hội nhập;
- Đẩy mạnh được xuất khẩu hàng hóa chính là con đường để các doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường thế giới, cọ xát với doanh nghiệp quốc tế Đây chính là môi trường để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp trong nước, tạo dựng được vị thế của doanh nghiệp trong nước trên thị trường thế giới và quan trọng hơn dần dần tạo ra những thương hiệu ở tầm quốc tế;
- Đẩy mạnh xuất khẩu và nhất là xuất khẩu những mặt hàng có tính đặc thù của quốc gia còn tạo ra cơ hội sử dụng một cách hiệu quả nguồn lực của quốc gia và qua đó dần dần xây dựng được vị thế của quốc gia trên trường quốc tế;
- Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa phụ thuộc rất nhiều vào cách thức tổ chức, tính hợp lý của chính sách thương mại quốc tế và thu hút đầu tư của từng quốc gia
Vì vậy, kết quả của xuất khẩu hàng hóa chính là thước đo tính hợp lý của chính sách
và hiệu lực của hệ thống quản lý nhà nước về thương mại nói chung và quản lý xuất nhập khẩu nói riêng Thông qua quá trình xuất khẩu, cơ quan quản lý nhà nước sẽ dần dần điều chỉnh chính sách, sử dụng công cụ kinh tế và phi kinh tế, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước;
- Đẩy mạnh được xuất khẩu hàng hóa cũng chính là cơ sở cần thiết đề cân bằng cầu thương mại, cầu thanh toán, và do đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô cho đất nước;
- Thông qua xuất khẩu hàng hóa chúng ta còn xuất khẩu cả văn hóa, truyền thống, làm cho bạn bè quốc tế hiểu biết chúng ta hơn và do đó tạo dựng được hình ảnh tốt đẹp trong lòng bạn bè thế giới
Cùng với chiến lược hội nhập và phát triển, thương mại quốc tế là một bộ phận quan trọng, gắn liền với tiến trình hội nhập và có vai trò quyết định đến lợi thế của một quốc gia trên thị trường khu vực và thế giới Việc đẩy mạnh giao lưu
Trang 39thương mại quốc tế nói chung và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nói riêng là mục tiêu phát triển kinh tế hàng đầu của các quốc gia Vì vậy, có thể nói thúc đẩy xuất
khẩu là một động lực của sự phát triển kinh tế
Trang 40CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THU NHẬP SỐ LIỆU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thu thập dưới dạng thứ cấp do công ty cung cấp, từ các báo cáo tài chính, kế hoạch xuất khẩu của công ty qua những năm trước khi Việt Nam gia nhập WTO ( 2003 ,2004) đến giai đoạn 2016 -2018 Ngoài ra, em cũng được trực tiếp tiếp cận các tổ thu mua hàng hóa, tham khảo, so sánh quá trình thu mua của đơn vị thực tập với các đơn vị khác Quan sát các qui trìnhXNK, thu thập các số liệu có liên quan đến giá cả, chi phí để từ đó phân tích, so sánh kết quả đạt được và đưa ra biện pháp thiết thực
Đồng thời thu thập số liệu sơ cấp trên báo, tạp chí, trên mạng internet
2.1.2 Các phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở Đây là phương pháp đơn giản và được sử dụng nhiều nhất trong phân tích hoạt động kinh doanh cũng như trong phân tích và dự báo các chỉ tiêu kinh tế - xã hội thuộc lĩnh vực kinh tế vĩ mô
- Tiêu chuẩn so sánh
- Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh
- Tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua
- Chỉ tiêu của các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành
- Chỉ tiêu bình quân của nội ngành
- Phương pháp so sánh