Thực tế, trong những năm qua và hiện nay, mặc dù thị trường lao động nước ta đã có những chuyển biến theo hướng tích cực: cung, cầu lao động tăng dần, chất lượng lao động ngày càng cao,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài … 1
2 Tình hình nghiên cứu …… 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu …… 3
4 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu …… 4
5 Phương pháp nghiên cứu …… 4
6 Những đóng góp mới của luận văn …… 4
7 Kết cấu của luận văn …… 4
CHƯƠNG 1 Thị trường lao động và một số kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường lao động …….5
1.1 Thị trường lao động …….5
1.1.1 Khái niệm thị trường lao động …….5
1.1.2 Các yếu tố cấu thành thị trường lao động …….6
1.1.3 Tổ chức của thị trường lao động ……14
1.2 Một số kinh nghiệp quốc tế về phát triển thị trường lao động ……16
1.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc ……16
1.2.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản về quản lý thị trường lao động ……21
1.2.3 Kinh nghiệm quản lý thị trường lao động ở Thuỵ Điển ……22
CHƯƠNG 2 Thực trạng phát triển thị trường lao động ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra hiện nay ……24
2.1 Thực trạng phát triển thị trường lao động ở Việt Nam … 24
2.1.1 Cung lao động ……24
Trang 32.1.2 Cầu lao động ……31
2.1.3 Tiền lương, tiền công trên thị trường lao động ……37
2.1.4 Hình thức tổ chức hệ thống công cụ của thị trường lao động ……40
2.2 Đánh giá chung ……55
2.2.1 Những thành tựu ……55
2.2.2 Một số vấn đề đặt ra trong phát triển thị trường lao động Việt Nam ……58
CHƯƠNG 3 Quan điểm và giải pháp phát triển thị trường lao động ở Việt Nam trong những năm tới ……65
3.1 Quan điểm phát triển thị trường lao động ở Việt Nam ……65
3.1.1 Dự báo cung, cầu lao động đến năm 2015 ……65
3.1.2 Quan điểm phát triển thị trường lao động ……67
3.2 Các giải pháp phát triển thị trường lao động ở Việt Nam trong những năm tới ……74
3.2.1 Tăng tổng cầu về lao động, nâng cao chất lượng cung lao động ……74
3.2.2 Cải cách hệ thống tiền lương, tiền công theo hướng thị trường ……78
3.2.3 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hệ thống nhà nước ……81
3.2.4 Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống dịch vụ môi giới thị trường lao động ……83
3.2.5 Các giải pháp khác ……84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….87
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Biểu 2.1: Cung thực tế về lao động trên thị trường lao động Việt
2 Biểu 2.2: Cung thực tế trên thị trường lao động Việt Nam, chia theo khu vực nông thôn, thành thị giai đoạn 2003- 2008 25
3 Biểu 2.3: Cung thực tế về lao động chia theo nhóm tuổi 25
4 Biểu 2.4: Tỉ lệ nữ trong lực lượng lao động Việt Nam 2001 - 2008 26
5 Biểu 2.5: Cung tiềm năng về lao động ở Việt Nam 2003- 2008 27
6 Biểu 2.6 Trình độ học vấn phổ thông của lao động Việt Nam 28
7 Biểu 2.7 Lao động qua đào tạo ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008 28
8 Biểu 2.8: Cơ cấu lao động có chuyên môn kỹ thuật theo trình độ 29
9 Biểu 2.9: Tỉ lệ lao động qua đào tạo của Việt Nam theo vùng lãnh thổ 30
10 Biểu 2.10: Tổng số việc làm trong nền kinh tế quốc dân và số việc làm mới được tạo ra hàng năm thời kỳ:2000 - 2008 32
11 Biểu 2.11: Cơ cấu việc làm trong tổng số việc làm mới giai đoạn
14 Biểu 2.14: Số lượng và cấu trúc việc làm trong nền kinh tế Việt
15 Biểu 2.14: Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế giữa nhóm có thu nhập cao nhất và nhóm có thu
Trang 516 Biểu 2.16: Thu nhập bình quân/ tháng của lao động khu vực Nhà nước do địa phương quản lý theo giá thực tế phân theo địa phương 39
17 Biểu 2.17: Thu nhập bình quân/tháng của lao động khu vực nhà nước theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế 40
18 Biểu 2.18 Số lượng đoàn viên Công đoàn Việt Nam 2000 – 2008 46
19 Biểu 2.19 Lao động xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 - 2008 51
20 Biểu 2.20: Quy mô đào tạo nghề giai đoạn 2000- 2008 52
21 Biểu 3.1: Dự báo dân số trong độ tuổi lao động 65
22 Biểu 3.2: Dự báo cầu lao động theo các chơng trình phát triển
23 Biểu 3.3 Cơ cấu việc làm dự báo đến năm 2015 66
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nền kinh tế là mục tiêu tất yếu của mọi quốc gia nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Để phát triển kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cần phải phát triển các loại thị trường, vì thị trường được ví như môi trường sống của kinh tế hàng hoá
Thị trường lao động được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường Nó có mối quan hệ hữu cơ với các loại thị trường khác: thị trường vốn, thị trường khoa học kỹ thuật, thị trường thông tin, thị trường tiền tệ, trong xã hội
Thị trường lao động biểu hiện quan hệ lao động diễn ra giữa một bên là người lao động, một bên sử dụng lao động trên nguyên tắc thoả thuận thông qua hoạt động lao động
Hiện nay ở nước ta, phát triển kinh tế thị trường đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc phát triển thị trường nói chung và thị trường lao động nói riêng (vì thị trường lao động là thị trường có tính chất quyết định)
Thực tế, trong những năm qua và hiện nay, mặc dù thị trường lao động nước ta đã có những chuyển biến theo hướng tích cực: cung, cầu lao động tăng dần, chất lượng lao động ngày càng cao, cơ cấu lao động – việc làm chuyển biến tốt, tỷ lệ thất nghiệp giảm dần, xuất khẩu lao động tăng Tuy nhiên với yêu cầu ngày càng cao của phát triển kinh tế đang đặt ra thì thị trường lao động nước đang còn nhiều bất cập, hạn chế: Thị tường lao động nước ta mới chỉ phát triển ở giai đoạn đầu, việc làm cho lao động xã hội vẫn
là vấn đề bức xúc, cung vẫn lớn hơn cầu lao động, chất lượng lao động chưa cao, lực lượng lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn, tỷ lệ thất nghiệp còn cao, thị trường phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền; sự dịch chuyển lao động chưa tạo ra phân bố hợp lý nguồn lao động, giao dịch chính thống trên thị trường lao động còn hạn chế
Muốn phát triển thị trường lao động cần có cơ chế và chính sách để cung và cầu lao động gặp nhau và giảm đến mức tối đa sự cách biệt giữa cung
Trang 7và cầu lao động Đó là giảm đến mức thấp nhất tỷ lệ thất nghiệp Nghị quyết Đại hội Đảng IX nêu rõ: “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân lực, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh hoá xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”
Như vậy, việc phát triển thị trường lao động phải được ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Phát triển thị trường lao động ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới phải đặt trên cơ sở phân tích những thế mạnh và những điểm yếu của nó, để từ đó có chính sách khuyến khích, phát huy thế mạnh, đồng thời có những giải pháp tích cực, hạn chế những mặt yếu kém trong phát triển thị trường lao động: lành mạnh, đủ sức cạnh tranh, chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, phát triển đất nước
Để góp phần giải quyết những hạn chế nêu trên, phát triển thị trường lao động ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng kinh tế, xây dựng đất nước, tác giả đã chọn
đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình là: “Phát triển thị trường lao động ở Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, vấn đề phát triển thị trường lao động đã thu hút không ít sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà nghiên cứu, các viện khoa học, trường Đại học Đã có nhiều công trình khoa học được công bố trên các sách báo, tạp chí, nghiên cứu về phương hướng, giải pháp phát triển thị trường lao động có hiệu quả phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội
TS Nguyễn Quang Hiển “ Thị trường lao động Việt Nam, thị trường và các giải pháp phát triển” Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 2003
TS Nguyễn Hữu Dũng (chủ biên) “Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên” Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2005
Tác giả Nguyễn Thị Quy (Chủ biên) “Thị trường lao động trong kinh tế thị trường”.NXB Khoa học - Xã hội, Hà Nội, 1999
“Thông tin thị trường lao động qua đào tạo nghề”, Mạc Văn Tiến (Chủ
Trang 8Ngoài ra còn có các bài báo, tạp chí như bài của TS Lê Duy Đồng:
“Những giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường lao động nước ta đến năm 2010” Tạp chí Lao động và Xã hội số 284/ 2006
Bài của GS.TS Trần Văn Chử: “Các giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước đối với thị trường lao động ở nước ta” Tạp chí Lao động và Xã hội số 283/
2006
Bài của TS Nguyễn Hữu Dũng: “Bàn về chất lượng lao động Việt Nam” Tạp chí Lao động và Xã hội số 279 + 280/ 2006
Bài của TS Phạm Ngọc Linh: “Khắc phục hiện tượng dư thừa lao động
ở Việt Nam” Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 5/ 2006
Bài của TS Phạm Đức Chính: "Việc làm và chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện nay" Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 363, tháng 8/2008
Bài của TS Đặng Quang Điều: " Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động" Tạp chí Lao động và Công đoàn số
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài: Phân tích thực trạng phát triển thị trường lao động
ở Việt Nam, chỉ ra những thành công, hạn chế trong lĩnh vực này, từ đó đưa
ra những quan điểm, những giải pháp nhằm phát triển thị trường lao động ở Việt Nam trong những năm tới
Trang 9Để hoàn thành mục đích đặt ra, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm
Ba là, đưa ra những quan điểm và một số giải pháp nhằm phát triển thị trường lao động ở Việt Nam trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự phát triển thị trường lao động Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thị trường trong những năm gần đây ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung cơ bản đặt ra của luận văn, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp: phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp trong quá trình nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận văn
Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam và đúc rút những kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc phát triển thị trường lao động
Hai là, đánh giá thực trạng phát triển thị trường lao động ở Việt Nam trong những năm qua, đưa ra những nhận xét, đánh giá về ưu điểm và tồn tại trong việc phát triển thị trường lao động
Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường lao động ở Việt Nam trong những năm tới
7 Kết cấu của luận văn
Trang 10Ngoài phần mở đầu, kết lụân, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thị trường lao động và một số kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường lao động
Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường lao động ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra hện nay
Chương 3: Quan điểm và các giải pháp nhằm phát triển thị trường lao động ở Việt Nam trong những năm tới
Trang 11CHƯƠNG 1
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 1.1 Thị trường lao động
1.1.1 Khái niệm thị trường lao động
Hiện nay đang tồn tại khá nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường lao động Mỗi định nghĩa nhấn mạnh vào một phương diện nào đó của thị trường lao động
Theo Adam Smith: Thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao động (hàng hoá sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (chủ sử dụng lao động) và người bán sức lao động (người lao động)
Như vậy, Adam Smith nhấn mạnh vào đối tượng trao đổi trên thị trường là dịch vụ lao động
Theo tổ chức lao động lao động quốc tế (ILO): Thị trường lao động là thị trường trong đó các dịch vụ lao động được mua, bán thông qua quá trình xác định mức độ có việc làm của lao động cũng như mức độ tiền công
Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làm được trả công
Theo từ điển kinh tế MIT: Thị trường lao động là nơi cung, cầu lao động tác động qua lại nhau Định nghĩa này nhấn mạnh tới cung, cầu của thị trường lao động như các loại thị trường khác
Theo văn kiện Đại hội Đảng IX: Thị trường lao động là nơi mua, bán các dịch vụ của người lao động, thực chất là mua bán sức lao động trong một phạm vi nhất định
Mặc dù có những đặc điểm khác nhau, song có thể thấy sự thống nhất
cơ bản của các định nghĩa về thị trường lao động trên về nội dung, điều kiện hình thành thị trường lao động: Người mua, người bán sức lao động, giá cả
Trang 12dịch vụ lao động, không gian mua bán, sự ràng buộc của các bên Từ đó, có thể hiểu: “Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở các mối quan hệ lao động như tiền công, tiền lương, điều kiện làm việc, bảo hiểm
xã hội thông qua một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng”
1.1.2 Các yếu tố cấu thành thị trường lao động
1.1.2.1 Cung lao động
Cung lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và một bộ phận tuy chưa có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc
Khi phân tích cung lao động, người ta chú ý tới cơ cấu tuổi của dân số Dân
số có cơ cấu trẻ sẽ cung cấp nguồn lao động lớn và tiềm năng trong tương lai
Trên góc độ quản lý và thống kê, cung lao động không đề cập đến lao động dưới 15 tuổi, mà chỉ đề cập đến lao động từ 15 tuổi trở lên Khi nói tới cung lao động, cần phải xem xét tới các nhân tố là:
Số lượng, chất lượng, cơ cấu, sự dịch chuyển cung lao động trên thị trường lao động
Số lượng cung lao động có thể xem xét ở hai khía cạnh sau:
Cung thực tế về lao động: Bao gồm tất cả những người từ đủ 15 tuổi trở lên, đang làm việc và những người thất nghiệp Cung thực tế về lao động chính là lực lượng lao động xã hội hay dân số hoạt động kinh tế
Cung tiềm năng về lao động: bao gồm tất cả những người đủ từ 15 tuổi trở lên đang làm việc và những người thất nghiệp, những người trong độ tuổi
Chất lượng cung lao động được xem xét ở các tiêu chí: Sức khoẻ, trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thái độ tác phong của người lao động Cơ cấu cung lao động: Thể hiện ở cơ cấu của người cung sức lao động
Trang 13trên thị trường, được xét theo độ tuổi, giới, trình độ nghề nghiệp, thành phần kinh tế, vùng lãnh thổ,
Cung lao động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, có thể đề cập tới những nhân tố cơ bản sau:
Quy mô và tốc độ tăng dân số: Yếu tố này tỷ lệ thuận với lượng cung lao động trên thị trường lao động
Khi quy mô dân số lớn thị trường cung lao động cũng lớn Nếu tốc độ tăng dân số cao thì cung lao động trong tương lai sẽ được bổ sung nhiều, ngược lại
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia vào lực lượng lao động tăng thì cung lao động sẽ tăng và ngược lại
Tiền lương, tiền công thực tế tăng sẽ dẫn đến cung lao động có xu hướng tăng và ngược lại
Điều kiện sống có ảnh hưởng đến cung lao động Nếu điều kiện sống thấp, người lao động có xu hướng tăng thời gian lao động để tăng thu nhập, dẫn tới cung lao động tăng và ngược lại
Các chính sách của Nhà nước có thể làm tăng hoặc giảm cung lao động, chẳng hạn như chính sách nhập cư, quản lý hộ khẩu, hộ tịch, di cư lao động,
Giáo dục - đào tạo là nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng của cung lao động Nếu chất lượng giáo dục - đào tạo tốt thì chất lượng và cơ cấu cung lao động sẽ cao và ngược lại
Ngoài ra còn có các nhân tố khác ảnh hưởng tới cung lao động như: Cải cách hành chính, cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước,
Lực lượng lao động tham gia thị trường lao động chủ yếu và trực tiếp là những người lao động làm thuê (làm công ăn lương hay có quan hệ lao động) Ngoài ra còn có số người thất nghiệp, người ngoài độ tuổi lao động nhưng có nhu cầu tìm việc, đi làm, những người trong độ tuổi lao động nhưng chưa sẵn
Trang 14đó số người naỳ có thể tham gia vào thị trường lao động do điều kiện sống, mức lương, tâm lý, công việc
Cung lao động là một trong các yếu tố của thị trường lao động, cung lao động phải luôn đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi của thị trường lao động, cụ thể là của người sử dụng lao động, về các mặt số lượng lao động, chất lượng lao động, cơ cấu lao động Ở những thị trường lao động mà dư thừa lao động (như Việt Nam) thì hay có xu hướng là cung lao động bị yếu thế, vai trò của người lao động khá bị động Còn ở những thị trường lao động không có sự dư thừa lao động, vai trò của người lao động lại rất quan trọng và tác động rất tích cực đến sự phát triển của thị trường lao động cụ thể như làm cân bằng quan hệ cung – cầu lao động, chất lượng của lao động cao, cơ cấu lao động phân bố ở các ngành, lĩnh vực, khu vực, hợp lý, người lao động thích ứng nhanh với sự thay đổi và yêu cầu mới của thị trường lao động, từ đó kích thích tăng cầu lao động, góp phần thúc đẩy thị trường lao động phát triển
Ngoài ra, vai trò của cung lao động còn được thể hiện thông qua tổ chức đại diện của mình là Công đoàn trong việc đảm bảo quyền, lợi ích của người lao động, tham gia xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, luật pháp liên quan đến thị trường lao động; giải quyết các tranh chấp trong quan hệ lao động, thoả ước lao động tập thể, góp phần làm lành mạnh thị trường lao động và phát triển thị trường lao động
1.1.2.2 Cầu lao động
Cầu lao động là toàn bộ nhu cầu về sức lao động của nền kinh tế (của một đơn vị kinh tế của một ngành) ở một thời kỳ nhất định, và bao gồm cả mặt số lượng và chất lượng, thường được xác định thông qua chỉ tiêu việc làm
Việc làm là trạng thái trong đó diễn ra các hoạt động lao động (kết hợp các yếu tố sản xuất nhằm mục đích cụ thể) mang lại thu nhập và không bị pháp luật cấm
Trang 15Bên cạnh khái niệm việc làm là khái niệm thất nghiệp và thiếu việc làm Thất nghiệp là trạng thái trong đó người lao động trong độ tuổi lao động có khả năng và nhu cầu lao động mà không có việc làm Người thất nghiệp là người hiện không có việc làm hoặc đang tìm việc Theo Tổ chức Lao động quốc tế: thiếu việc làm tồn tại khi làm việc không đủ với tiêu chuẩn và đặc trưng hoặc so với việc làm liên tục có tính đến kỹ năng nghề nghiệp
Cầu lao động có thể được tính ở một quốc gia, một địa phương, một ngành, một doanh nghiệp ở một thời kỳ nhất định Hoặc cầu lao động trong nước, cầu lao động nước ngoài, cầu lao động giản đơn, cầu lao động có chuyên môn kỹ thuật
Cũng như xem xét cung lao động khi xem xét cầu lao động, cần lưu ý các mặt: số lượng, chất lượng và cơ cấu của cầu lao động
Cầu thực tế về lao động: Là nhu cầu thực tế cần sử dụng lao động tại một thời điểm xác định
Cầu thực tế về
lao động
=
Chỗ việc làm cũ được duy trì
Cầu tiềm năng về lao động: Là số lao động tương ứng với tổng số chỗ việc làm có được, sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm trong tương lai như vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ, chính trị, xã hội
Cầu tiềm năng về
lao động
=
Cầu thực tế về lao động
+
Số chỗ việc làm sẽ được tạo ra trong tương lai
Cầu lao động trên thị trường lao động phụ thuộc vào nhiều nhân tố, các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến cầu lao động trên thị trường lao động là:
Trang 16Tiền công, tiền lương: Khi mức tiền công, tiền lương cao thì cầu lao động có xu hướng giảm và ngược lại
Vốn đầu tư toàn xã hội: Khi vốn đầu tư toàn xã hội tăng, thì việc làm được tạo ra nhiều hơn và cầu lao động tăng, ngược lại khi vốn đầu tư toàn xã hội giảm thì cầu lao động xã hội giảm
Các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước như: Chính sách việc làm, chính sách đầu tư, chính sách thuế, lãi suất
Khi Chính phủ quan tâm đến mục tiêu tạo việc làm thì Chính phủ sẽ có các chương trình phát triển kinh tế – xã hội để thực hiện, nhờ đó mà cầu lao động sẽ tăng lên
Nếu Chính phủ lựa chọn hình thức tăng trưởng kinh tế dựa vào lao động
là chủ yếu thì Chính phủ sẽ tăng đầu tư cho ngành sử dụng công nghệ nhiều lao động, dẫn tới cầu lao động sẽ tăng Ngược lại khi Chính phủ lựa chọn phương thức tăng trưởng dựa chủ yếu vào các yếu tố khác, đầu tư không nhiều vào công nghệ sử dụng nhiều lao động thì sẽ dẫn tới cầu lao động giảm xuống
Một nhân tố nữa ảnh hưởng tới cầu lao động là phân phối thu nhập và khuynh hướng tiêu dùng của dân cư
Nếu phân phối thu nhập càng bình đẳng, thì phần thu nhập của nhóm người nghèo cũng tăng, dẫn tới tiêu dùng của họ tăng, dẫn tới cầu lao động tăng
Khi dân cư có khuynh hướng tiêu dùng hàng hoá sử dụng công nghệ nhiều lao động tăng thì cầu lao động tăng và ngược lại
Quy mô dân số ảnh hưởng tới cầu lao động, quy mô dân số càng lớn sẽ càng nhiều nhu cầu được đặt ra, nghĩa là nhiều việc làm mới được tạo ra để phục vụ nhu cầu của dân cư
Trang 17Cầu lao động trong thị trường lao động có vai ảnh hưởng tích cực nhất trong việc tạo việc làm và phát triển việc làm Vì thế phải không ngừng mở rộng cầu lao động Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, tồn tại nhiều hình thức sở hữu với nhiều thành phần kinh tế Vì vậy cầu lao động cũng rất đa dạng, đan xen tạo nên tổng cầu lao động trong thị trường lao động Chính các chủ thể sử dụng lao động trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh với nhau và cạnh tranh với người lao động sẽ góp phần thúc đẩy thị trường lao động phát triển Vì vậy việc huy động tổng thể các nguồn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa rất lớn vào tăng tổng cầu lao động, kích thích thị trường lao động phát triển
Vai trò của cầu lao động còn được thể hiện thông qua đại diện của người sử dụng lao động trong việc tham gia xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách, luật pháp về thị trường lao động, bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động, mở rộng thị trường góp phần tích cực trong phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo nhiều việc làm mới cho xã hội
Thị trường lao động càng phát triển thì vai trò của hệ thống cung cấp dịch vụ việc làm, lao động ngày càng quan trọng Hệ thống cung ứng lao động việc làm là cầu nối giữa cung và cầu lao động, bảo đảm trạng thái cân bằng của cung, cầu lao động trên thị trường lao động
Hệ thống cung ứng lao động việc làm ngày càng phát triển và khẳng định vai trò quan trọng của mình trong thị trường lao động Hệ thống này bao gồm: Các cơ sở dịch vụ việc làm công được thành lập theo quy định của Bộ luật Lao động, các cơ sở dịch vụ việc làm được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Hoạt động của các cơ sở dịch vụ việc làm
dù mục tiêu là vì lợi nhuận hay không vì lợi nhuận được hưởng vào các nội dung là: Tư vấn hướng nghiệp, đưa ra các thông tin về thị trường lao động, giới thiệu và cung cấp lao động, việc làm (cả trong nước và ngoài nước), đương nhiên hoạt động của các cơ sở này chịu sự giám sát chặt chẽ của nhà nước
Trang 18Hoạt động của các cơ sở cung cấp dịch vụ việc làm góp phần làm cân bằng quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường lao động, là cầu nối góp phần tổ chức cho người lao động và người sử dụng lao động “gặp nhau”, xác lập quan hệ lao động
Hệ thống doanh nghiệp xuất khẩu lao động có vai trò là cầu nối cung lao động trong nước với cầu lao động ở nước ngoài Muốn thực hiện tốt chức năng này, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động phải luôn tìm kiếm thông tin, thị trường, tổ chức đào tạo cho người lao động về các phương diện như: ngôn ngữ, kỹ năng nghề nghiệp,… ngoài ra việc chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ sẽ góp phần quan trọng vào hiệu quả và chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động
Hệ thống dạy nghề là một công cụ của thị trường lao động Thông qua hệ thống dạy nghề, người lao động có thể nâng cao được chất lượng lao động của mình, từ đó họ có thể được người sử dụng lao động tuyển dụng Như thế cung và cầu lao động trong thị trường lao động đã thích ứng được với nhau thông qua hệ thống dạy nghề
Cho tới thời điểm hiện nay, hầu hết tất cả các Chính phủ đều rất quan tâm tới công tác đào tạo nghề cho người lao động, đó là một chỉ số phát triển của thị trường lao động
Hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động có vai trò rất quan trọng giúp các tác nhân của thị trường lao động đưa ra hoạt động có hiệu quả nhằm thúc đẩy thị trường lao động phát triển Chẳng hạn, Chính phủ có thể đưa ra các mục tiêu về sức lao động, việc làm, tiền lương, giảm thất nghiệp, hay căn cứ vào hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động, các nhà hoạch định chính sách có thể xây dựng và đánh giá các dự án về đào tạo nhân lực, các chính sách liên quan đến lao động, việc làm Căn cứ vào đó, người lao động và người sử dụng lao động cũng có thể tìm kiếm cơ hội thuận lợi cho mình
Trang 19Hệ thống bảo hiểm xã hội được thiết lập trong thị trường lao động nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đối với người lao động, đóng vai trò bảo trợ người lao động khi gặp rủi ro, thai sản, già yếu, chẳng hạn trong quá trình lao động, người lao động gặp tai nạn làm tổn hại sức khoẻ, làm suy giảm khả năng lao động thì người lao động sẽ được Bảo hiểm xã hội trợ giúp Hệ thống bảo hiểm xã hội còn hướng tới những lao động thuộc nhóm yếu thế trên thị trường như: phụ nữ, người tàn tật, người lao động dưới 18 tuổi,
Như vậy, vai trò hệ thống công cụ trong thị trường lao động là rất cần thiết giúp các chủ thể của thị trường lao động hoạt động có hiệu quả, từ đó thúc đẩy thị trường lao động phát triển
1.1.2.3 Giá cả dịch vụ lao động (tiền lương, tiền công)
Trên thị trường sức lao động, giá cả dịch vụ lao động được thể hiện dưới dạng tiền công, tiền lương
Cũng như các loại hàng hoá khác, giá cả của địch vụ lao động được quy định bởi quan hệ cung-cầu về lao động Khi cung lao động vượt quá cầu lao động thì giá cả dịch vụ lao động sẽ thấp hơn giá trị của nó và ngược lại Mối quan hệ cung – cầu trên thị trường lao động dẫn đến việc xác định giá cả dịch
vụ lao động được biểu hiện qua đồ thị sau:
Trang 20Nhìn vào đồ thị ta thấy, nếu tiền công ở mức quá cao (PA), sẽ có hiện tượng cung lớn hơn cầu, nghĩa là số người muốn đi làm sẽ nhiều hơn số người xin được việc làm và đoạn AH biểu hiện lượng người thất nghiệp trên thị trường lao động Ngược lại nếu tiền công quá thấp (PB) thì khả năng thu hút lao động cao và cầu sẽ tăng ở C, nhưng cung chỉ ở B Do tiền công rẻ mạt nên khi đó có một số lượng người không đi làm, thất nghiệp tự nguyện xảy ra, đoạn BC thể hiện sự chênh lệch giữa cung và cầu sức lao động trên thị trường lao động, biểu hiện sự “thiếu hụt” nhân công Theo quy luật giá cả sức lao động luôn có xu hướng trở về P* (trạng thái cân bằng cung – cầu)
Tiền lương, tiền công trên thị trường lao động còn phụ thuộc vào hàng loạt những nhân tố như: điều kiện kinh tế – xã hội, những quy định của Bộ luật Lao động, giá cả sinh hoạt, khả năng tài chính, công việc cụ thể, năng lực của người lao động
1.1.3 Tổ chức của thị trường lao động
Có nhiều lực lượng (chủ thể) tham gia thị trường lao động với các vai trò khác nhau: Nhà nước, Công đoàn, người sử dụng lao động, người lao động, nhà cung cấp dịch vụ việc làm, các đối tác xã hội khác Các lực lượng tham gia thị trường lao động tuy có vai trò khác nhau song giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hình thành những cơ chế trong xử lý các quan hệ lao động, đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của các bên vì mục tiêu phát triển nói chung
1.1.3.1 Vai trò của Nhà nước trong tổ chức và phát triển thị trường lao động
Người mở ra giai đoạn mới về sự phát triển của nền kinh tế thị trường
có sự tham gia của Nhà nước với học thuyết “bàn tay hữu hình” là Keynes Ông đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của Nhà nước trong kích thích đầu tư, tiêu dùng của dân cư Sau đó SamuelSon cũng đề cập tới vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế Ông cho rằng để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường như khủng hoảng, thất nghiệp thì Nhà nước phải tạo
Trang 21ra đủ việc làm cho xã hội đồng thời phải giữ trong khuôn khổ của cạnh tranh
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều quốc gia đã và đang đi theo
mô hình phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước Với mô hình này Chính phủ có các chức năng cơ bản là ổn định kinh tế vĩ
mô, tạo lập khung khổ pháp luật đảm bảo sự bình đẳng, công bằng giữa các chủ thể kinh tế, khắc phục các khuyết tật của thị trường thông qua hệ thống
an sinh xã hội, cụ thể như sau:
Nhà nước thiết lập hệ thống quản lý lao động thông qua việc xây dựng
hệ thống Bộ luật, Luật về lao động và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến lao động, việc làm, từ đó theo dõi, giám sát mọi hoạt động về lao động
Nhà nước điều tiết cung, cầu về lao động thông qua các chính sách, chương trình hoạt động như: Chính sách dân số, phân bổ dân cư, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, chính sách chăm sóc sức khoẻ; chương trình quốc gia về việc làm, chương trình xoá đói, giảm nghèo
Nhà nước quy định mức lương tối thiểu, xây dựng hệ thống thang, bảng lương, định mức lao động phù hợp với đặc điểm, đặc thù của các ngành, từ đó Nhà nước kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện chính sách tiền lương nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia hoạt động lao động
Nhà nước giải quyết vấn đề thất nghiệp thông qua rất nhiều chính sách như: bảo hiểm thất nghiệp, phát triển hệ thống dịch vụ việc làm, hệ thống thông tin về thị trường lao động, tiến hành đào tạo và đào tạo lại nghề nghiệp cho người lao động
Nhà nước phát triển mạng lưới an sinh xã hội thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, trợ cấp, ưu đãi, cứu trợ xã hội Thông qua việc phát triển mạng lưới an sinh xã hội, Nhà nước thể hiện vai trò của mình trong đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi gặp khó khăn, rủi ro, hoặc không còn
Trang 221.1.3.2 Tổ chức Công Đoàn trong tổ chức và hoạt động của thị trường lao động
Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của công nhân, viên chức, lao động (gọi chung là người lao động) Công đoàn có vai trò và chức năng quan trọng trong tổ chức và hoạt động của thị trường lao động
Công đoàn là tổ chức đại diện, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động như: tiền công, an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo hiểm y tế, BHXH khi các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
bị xâm phạm hoặc không được bảo đảm thì Công đoàn sẽ có những hoạt động để bênh vực quyền lợi cho người lao động
Công đoàn có vai trò tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các
tổ chức kinh tế trong đó có hoạt động lao động, quan hệ lao động
Ngoài các chức năng nêu trên, Công đoàn còn có chức năng giáo dục đoàn viên là các công nhân, viên chức, lao động từ đó phát huy quyền làm chủ đất nước, thực hiện quyền làm chủ đất nước, thực hiện nhiệm vụ của người lao động, tích cực tham gia lao động sản xuất kinh doanh
Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO thì vai trò của Công đoàn lại càng phải được đề cao vì khi gia nhập WTO có rất nhiều vấn đề liên quan tới lao động và thị trường lao động phải được giải quyết tốt, cụ thể:
Lực lượng lao động ra tăng mạnh, đặc biệt trong các doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Do đó, cần tăng cường hoạt động của Công đoàn và đổi mới các phương thức hoạt động của Công đoàn
Nhiều vấn đề bức xúc hiện nay đòi hỏi tổ chức Công đoàn phải có những hoạt động cụ thể, thiết thực như: vấn đề tai nạn lao động, lao động thay
Trang 23đổi việc làm, vấn đề nơi ở cho lao động, các tranh chấp lao động, vấn đề đình công, bãi công
Trong các chức năng của mình thì Công đoàn còn góp phần nâng cao năng lực, tay nghề cho người lao động Thông qua việc phát động các phong trào thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo trong công nhân, viên chức, lao động, Công đoàn đã và đang góp phần nâng cao tay nghề cho người lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh làm lợi cho cả người lao động và người
sử dụng lao động, thúc đẩy sự phát triển nói chung của thị trường lao động
1.2 Một số kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường lao động
1.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.2.1.1 Một vài đặc điểm của thị trường lao động ở Trung Quốc
Cũng như Việt Nam, ở Trung Quốc dưới thời kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thị trường lao động không được thừa nhận Đa số người lao động làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, sử dụng lao động theo biên chế, tiền công phần lớn được trả bằng hiện vật, Chính phủ kiểm soát bằng biện pháp hành chính thuần tuý
Khi nền kinh tế thị trường được xác lập (từ 1980), thị trường lao động ở Trung Quốc có sự hình thành và phát triển nhanh Để phát triển kinh tế, Trung Quốc kết hợp phát triển đồng bộ các loại thị trường (hàng hoá, vốn) trong đó tập trung ban hành các chính sách tạo môi trường cho sự phát triển mạnh trên thị trường lao động nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực rất lớn với hơn
750 triệu lao động Hệ thống thể chế thị trường lao động được nhanh chóng xác lập, hoàn thiện, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong thị trường lao động được thừa nhận, sự di chuyển lao động từ khu vực nhà nước sang khu vực ngoài nhà nước tăng cao Khái niệm “thất nghiệp” được thừa nhận chính thức
ở Trung Quốc
Thị trường ở Trung Quốc có một số đặc điểm chủ yếu sau:
Trang 24Sự mất cân đối về cung – cầu lao động: Ở Trung Quốc mỗi năm có khoảng 11 triệu người gia nhập thị trường lao động, có khoảng 6 – 9 triệu lao động dôi dư từ các doanh nghiệp nhà nước có nhu cầu giải quyết việc làm Ở
nông thôn Trung Quốc hiện nay có khoảng 150 triệu người thiếu việc làm Mặc dù Trung Quốc có mức tăng trưởng cao trong nhiều năm gần đây nhưng mức tăng trưởng này vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu lao động
Các rào cản về thể chế Các chính sách về kinh tế xã hội của Trung Quốc hiện nay còn tồn tại nhiều rào cản làm hạn chế sự vận hành có hiệu quả của thị trường lao động Trung Quốc, dẫn tới sự phân mảng trong thị trường lao động Trung Quốc giữa khu vực thành thị với khu vực nông thôn, giữa các khu vực lãnh thổ với nhau Đây là một vấn đề rất nan giải ở Trung Quốc vì Trung Quốc là một đất nước rộng và đông dân
Thị trường lao động bị chia cắt bởi nhiều cơ quan quản lý ngành khác nhau: Thị trường lao động ở Trung Quốc chịu sự quản lý của nhiều bộ, ngành nên tính năng động, linh hoạt của nó đã bị hạn chế rất nhiều Thí dụ Bộ Lao động – Xã hội phụ trách mảng thị trường lao động kỹ năng, Bộ Dân chính chuyên về lao động có khuyết tật, Bộ Giáo dục nhận nhiệm vụ phụ trách mảng thị trường lao động sinh viên mới ra trường, Chính sự quản lý chia cắt này nên các cơ quan chức năng đưa ra nhiều quyết định chồng chéo, trùng lặp dẫn tới chi phí giao dịch tăng, thông tin bị cản trở, làm hạn chế khả năng cạnh tranh lành mạnh trên thị trường lao động
Các hình thức dịch vụ thị trường lao động còn lạc hậu, áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động còn hạn chế trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ còn thấp làm cho các dịch vụ của thị trường lao động chưa đáp ứng được yêu cầu, cung và cầu lao động khó gặp được nhau
Sự gia nhập WTO của Trung Quốc làm cho tính cạnh tranh trên thị trường lao động Trung Quốc cao hơn, quyết liệt hơn Thị trường lao động Trung Quốc phải đối mặt với nhiều vấn đề mới, như cạnh tranh về lao động chuyên môn, kỹ thuật cao, cạnh tranh về giá cả sức lao động, các ngành nghề truyền thống bị thu
Trang 25hẹp dần đồng thời xuất hiện các ngành nghề mới, dẫn đến nạn thất nghiệp, dư thừa lao động
1.2.1.2 Các giải pháp phát triển thị trường lao động ở Trung Quốc
Chính phủ Trung Quốc nhận thức rõ về những hạn chế, tồn tại của thị trường lao động Trung Quốc Do vậy trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10, Chính phủ Trung Quốc đã đặt mục tiêu phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm cho người lao động, là việc làm cấp bách Các giải pháp cụ thể được Chính phủ Trung Quốc xác định là:
Một là, thúc đẩy phát triển nền kinh tế
Chính phủ Trung Quốc đưa ra mục tiêu tăng trưởng rất cao, liên tục trong nhiều năm, từ đó có cơ sở giải quyết việc làm cho người lao động Cải cách cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nhanh khu vực dịch vụ, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển khu vực kinh tế ngoài nhà nước, thực hiện các chính sách tài chính tích cực nhằm tăng độ co giãn của cầu về lao động
Ngoài ra Chính phủ Trung Quốc còn chú trọng phát triển các kênh việc làm mới cho người lao động, đề ra các giải pháp nhằm tạo điều kiện công ăn việc làm cho người lao động Các giải pháp như: điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển ngành dịch vụ, phát triển kinh tế tư nhân, cá thể,
Hai là, hoàn thiện các yếu tố thị trường lao động
Chính phủ Trung Quốc xác định mục tiêu cụ thể thúc đẩy phát triển nhanh hơn nữa thị trường lao động là thị trường phải được phát triển một cách thống nhất, theo hướng mở cửa, cạnh tranh và quy phạm hoá Các biện pháp cụ thể là:
Hoàn thiện thể chế thị trường lao động để người lao động được tự
do tìm việc, loại bỏ các quy định làm cản trở các giao dịch của thị trường lao động, khơi thông các rào cản làm phân mảng thị trường lao động nông thôn, thành thị, giữa các vùng miền, tạo điều kiện thuận lợi
Trang 26cho sự di chuyển lao động giữa các vùng lãnh thổ và giữa các ngành của nền kinh tế, cải cách chế độ hộ tịch, hộ khẩu,
Hoàn thiện chức năng của thị trường lao động bằng cách giảm bớt
sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường lao động, tôn trọng sự tự điều chỉnh của thị trường lao động
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho thị trường lao động Trước tiên
là xây dựng các trung tâm, cơ sở giao dịch lao động, cung cấp trang thiết
bị, điều kiện làm việc cho các cơ sở này
Tăng cường đào tạo, đào tạo lại người lao động nhằm khắc phục sự thiếu hụt lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, lao động có tay nghề thấp Cụ thể, Trung Quốc cho phép thành lập một số lượng lớn các trường đại học, dạy nghề có thu học phí, tăng cường đào tạo lao động cho các tỉnh kém phát triển
Ba là, cải cách chính sách tiền lương, tiền công
Các biện pháp cải cách chính sách tiền lương, tiền công của Trung Quốc đặt yếu tố hiệu quả của thị trường lên hàng đầu đồng thời coi trọng các chính sách hỗ trợ việc làm, tạo thu nhập cho các đối tượng yếu thế
Cụ thể, Chính phủ Trung Quốc tạo quyền chủ động trong trả công cho các doanh nghiệp; thống nhất hoá chính sách tiền lương, không phân biệt chính sách tiền lương theo khu vực kinh tế, ngành kinh tế; hoàn thiện hệ thống thuế thu nhập
Bốn là, khuyến khích tự tạo việc làm
Để khuyến khích các doanh nghiệp tự tạo việc làm, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi (thuế, tín dụng, ưu đãi) Các doanh nghiệp mới khởi sự các doanh nghiệp tiếp nhận nhiều lao động dôi dư đều được vay vốn với lãi suất ưu đãi và nhiều chế độ đãi ngộ khác
Năm là, phát triển các trung tâm giới thiệu việc làm
Trang 27Ngay từ năm 1992, ở Trung Quốc các trung tâm dịch vụ việc làm của cả Nhà nước và ngoài nước đã được thành lập Các trung tâm dịch vụ việc làm ngoài nhà nước hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường, điều này làm cho người lao động làm quen với hành vi thị trường khi tìm kiếm việc làm
Các trung tâm việc làm của các tổ chức xã hội (Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ ) có vai trò môi giới việc làm cho người lao động
Đây là hình thức nhằm huy động sự tham gia của nhiều bên có liên quan tham gia giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động
Sáu là, phát triển hệ thống an sinh xã hội
Hệ thống an sinh xã hội của Trung Quốc tập trung vào 3 bộ phận: Bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, chính sách các gia đình quân nhân
Hệ thống bảo hiểm xã hội chỉ được bao quát 3 lĩnh vực chính là: Bảo hiểm y tế, hưu trí, sinh đẻ
Lĩnh vực an sinh xã hội ở Trung Quốc được cải cách theo các hướng sau:
Mở rộng phạm vi những người được tham gia bảo hiểm: Hiện nay, tất cả người lao động ở mọi khu vực kinh tế đều có thể tham gia bảo hiểm hưu trí (trước đây chỉ thực hiện đối với khu vực kinh tế nhà nước)
Các nguồn tài chính cho các hoạt động an sinh xã hội được mở rộng Trước đây, nhà nước và doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đóng góp, nay người lao động cũng phải đóng góp Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc còn huy động vốn qua các hình thức như: Công trái nhà nước, thị trường chứng khoán, nhằm hình thành hệ thống bảo hiểm xã hội nhiều tầng
1.2.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển thị trường lao động
Trang 28Nền kinh tế Nhật Bản là nền kinh tế lớn, quan hệ cung – cầu trên thị trường lao động có tính ổn định, toàn dụng lao động cao Trong quản lý thị trường lao động ở Nhật Bản nổi lên các bài học sau:
Trong điều chỉnh hoạt động của thị trường lao động, vai trò của Chính phủ và các doanh nghiệp Nhật Bản là rất cao
Trong đó các chính sách như thu hút lao động mới gia nhập vào thị trường lao động, chính sách gắn trách nhiệm của các khu vực kinh tế, các doanh nghiệp, cơ quan tham gia đào tạo nhân lực Chẳng hạn để hình thành nguồn nhân lực Chính phủ đã thúc đẩy đào tạo công cộng và tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo và giới thiệu một hệ thống yêu cầu các hãng phải có nhiệm vụ đào tạo một số lượng nhất định lao động Những công
ty nào không chấp hành quy định này sẽ bị phạt
Chế độ tuyển dụng lao động lâu dài, ổn định và chế độ trả công theo thâm niên công tác
Trong nhiều thập kỷ qua, đa số các công ty của Nhật Bản đều cam kết không sa thải người lao động Điều này khiến người lao động yên tâm làm ăn, công tác, duy trì lòng trung thành tuyệt đối của mình đối với công ty mình làm việc Hơn nữa, công nhân Nhật Bản ngoài việc đảm bảo yêu cầu về số lượng, chất lượng sản phẩm, họ còn có tính kỷ luật cao trong lao động sản xuất hoàn thành mọi công việc được giao Từ đó hình thành mối quan hệ rất
ổn định giữa người lao động và người sử dụng lao động, mối quan hệ này kéo dài từ khi người lao động được nhận vào làm việc cho đến khi họ nghỉ hưu
Đề bạt người lao động căn cứ chủ yếu vào thời gian người lao động phục vụ tại công ty Những người làm việc lâu năm trong công ty có cơ hội rất lớn để được đề bạt vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý từ bậc trung trở lên
Cơ cấu tiền lương dựa phần lớn vào số năm công tác liên tục của người lao động tại công ty mặc dù thị trường lao động Nhật Bản rất năng động Điều này đảm bảo cho các công ty có được sự ổn định về nhân lực
Trang 29Vai trò của các tổ chức Công đoàn được phát huy trong việc phối hợp với Chính phủ để giải quyết các vấn đề này sinh trên thị trường lao động
Tổ chức Công đoàn ở Nhật Bản thường được thành lập trong phạm vi một doanh nghiệp (không có Công đoàn ngành, Công đoàn quốc gia) Khi giải quyết các vấn đề liên quan tới quyền lợi người lao động, Công đoàn và giới chủ thường có thái độ hợp tác chứ không đối đầu với nhau Vì vậy, dưới
sự lãnh đạo của Công đoàn, người lao động luôn có thái độ hợp tác với giới chủ Đổi lại, người sử dụng lao động ở Nhật Bản cũng rất chú trọng tới quyền lợi của người lao động, đảm bảo công ăn việc làm, tăng lương, đảm bảo các phúc lợi khác cho người lao động
Ngoài ra các Công đoàn ở Nhật Bản còn có đóng góp trong việc giới thiệu, hướng dẫn áp dụng công nghệ, thiết bị mới, tiên tiến từ nước ngoài vào sản xuất, kinh doanh, quản lý Hơn nữa khi người lao động có nhu cầu được đào tạo lại, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề thì Công đoàn sẽ
có yêu cầu, đòi hỏi giới chủ tìm cách luân chuyển hoặc đào tạo lại Bằng cách này, Công đoàn góp phần thúc đẩy giới chủ áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, tạo điều kiện cho người lao động nâng cao trình
độ, tay nghề, tạo ra hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh và quản lý
1.2.3 Kinh nghiệm phát triển thị trường lao động ở Thuỵ Điển
Các chính sách hướng vào phát triển thị trường lao động được Chính phủ Thuỵ Điển rất chú trọng, coi đó là con đường chính để đảm bảo ổn định nền kinh tế và trật tự xã hội Đặc điểm cơ bản của thị trường lao động
ở Thuỵ Điển là Chính phủ bảo trợ rất lớn cho thị trường lao động Điều này được thể hiện qua hệ thống chính sách và các định chế quản lý thị trường lao động hiện hành
Hệ thống bộ máy quản lý thị trường được thiết lập từ trung ương xuống địa phương Thông qua hệ thống chính sách thị trường, Chính phủ
Trang 30can thiệp mạnh mẽ vào việc phân bổ lao động giữa các khi vực, kinh tế, các địa phương và các ngành kinh tế
Sự hoạt động của các cơ quan quản lý thị trường lao động được Chính phủ đảm bảo về mặt tài chính nhằm giúp cho thị trường lao động hoạt động
có hiệu quả Hằng năm, Chính phủ Thuỵ Điển chi 10% ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các chính sách thị trường lao động Các chương trình được xây dựng và triển khai như: Hệ thống dịch vụ việc làm, đào tạo nghề cho người thất nghiệp, chương trình việc làm mới, bảo hiểm thất nghiệp
Chính sách thị trường lao động ở Thuỵ Điển rất được coi trọng, có nhiều loại hình chính sách thị trường lao động đã và đang được áp dụng có hiệu quả như: Chính sách đào tạo và đào tạo lại kỹ năng cho người lao động, chính sách hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp, chính sách hỗ trợ các chủ doanh nghiệp nhằm duy trì việc làm cho người lao động bị thất nghiệp,
Trang 31CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY
2.1 Thực trạng phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
2.1.1 Về cung lao động
Như đã trình bày ở chương 1, cung về lao động được xem xét dưới nhiều giác độ: số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động… Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét thực trạng cung lao động ở những giác độ này
2.1.1.1 Về số lượng và cơ cấu của cung lao động
Cung lao động xét về số lượng được xem xét ở hai chỉ số là cung thực
tế về lao động và cung tiềm năng về lao động
Cung thực tế về lao động:
Theo số liệu điều tra về lao động, việc làm của Bộ Lao động Thương binh
Xã hội, cho đến thời điểm hiện nay, cung thực tế về lao động ở nước ta luôn tăng với tốc độ cao Bình quân giai đoạn 1996–2000, cung thực tế lao động nước ta tăng 2,72%/ năm, giai đoạn 2001–2008 là 2,59%/ năm (xem biểu 2.1)
Biểu 2.1: Cung thực tế về lao động trên thị trường lao động Việt Nam, giai đoạn 2000 - 2008
Đơn vị: nghìn người
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Cung thực tế về
Qui mô năm
sau so với năm
trước (%)
102,27 102,18 103,05 103,52 102,91 102,57 102,57 102,30 101,96
(Nguồn: Số liệu thống kê lao động việc làm ở việt nam 2000 - 2008)
Số liệu trên cho thấy nguồn lao động ở nước ra là khá lớn, tỉ lệ tăng nguồn cung lao động cao so với các quốc gia trong khu vực (mức tăng trung
Trang 32bình nguồn cung lao động cùng thời gian ở Thái Lan là 2,1%; Trung Quốc 1,5%; Inđônêxia 2,2%;Các nước Châu Âu: 0,8%)
Nếu chia theo khu vực nông thôn và khu vực thành thị, cung lao động thực tế ở hai khu vực này có sự gia tăng khác nhau (xem biểu 2.2)
Biểu 2.2: Cung thực tế trên thị trường lao động Việt Nam, chia theo khu vực nông thôn, thành thị giai đoạn 2003- 2008
Tỉ lệ
%
Số người
Tỉ lệ
%
Số người
Tỉ lệ
%
Số người
Tỉ lệ
%
Số người
Tỉ lệ
% Thành
thị 10186900 24,18 10561277 24,4 11044395 24,9 11305600 24,97 11765534 25,4 12091648 25,6 Nông
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu của Bộ LĐ - TB-XH)
Như vậy, căn cứ Biểu 2.2 có thể thấy: tốc độ tăng cung lao động thực tế
ở khu vực thành thị nhanh hơn ở khu vực nông thôn Năm 2008 so với năm
2003, cung thực tế về lao động ở khu vực thành thị tăng 18,7% còn ở khu vực nông thôn chỉ tăng 10,01%
Cung lao động thực tế, nếu xét theo cơ cấu tuổi có xu hướng là: Nhóm tuổi
từ 15 - 35 có xu hướng tăng dần do hệ quả của sự gia tăng dân số cao dẫn tới lực lượng lao động trẻ tăng mạnh Tuy nhiên, nước ta cũng phải đang đối mặt với lực lượng lao động già tăng dần, nhóm tuổi từ 55 trở lên (xem biểu 2.3)
Biểu 2.3: Cung thực tế về lao động chia theo nhóm tuổi
Trang 33( Nguồn: Bộ LĐ - TB - XH)
Do dân số có đặc điểm là dân số trẻ nên Việt Nam có lực lượng lao động có tuổi trung bình rất thấp, khoảng 75% lực lượng lao động có độ tuổi dưới 45, con số này ở các quốc gia phát triển là rất thấp
Xét cung lao động thực tế trên thị trường lao động Việt Nam, theo giới tính thì tỉ lệ nữ có xu hướng giảm đi, tuy nhiên số đó là rất ít (xem Biểu 2.4)
Biểu 2.4: Tỉ lệ nữ trong lực lƣợng lao động Việt Nam 2001 - 2008
Cung tiềm năng về lao động
So sánh với cung thực tế về lao động thì cung tiềm năng về lao động ở nước ta luôn cao hơn Mỗi năm, cung tiềm năng về lao động ở nước ta cao hơn cung thực tế về lao động từ 7 đến 10 triệu người Tốc độ tăng của cung tiềm năng về lao động cũng luôn tăng cao hơn so với tốc độ tăng của cung thực tế về lao động Điều này có thể lý giải như sau:
Do tốc độ tăng dân số của nước ta trước đây và hiện nay ở mức cao so với thế giới nên hằng năm số người đến tuổi lao động là rất lớn (khoảng 1,6 đến 1,8 triệu người) Thêm vào đó, số người không tìm được việc làm hoặc tự nguyện thất nghiệp,… Số người này sẵn sàng đi làm nếu tìm được việc với
Trang 34mức lương thích hợp, khi đó họ sẵn sàng tham gia cung ứng cho thị trường lao động (xem Biểu 2.5)
Biểu 2.5: Cung tiềm năng về lao động ở Việt Nam 2003- 2008
6581,8 2340,2 1230,5
6714,0 2310,0 1342,0
6825,0 2167,0 1422,0
7015,1 2152,3 1503,1
7128,1 2019,3 1424,5 3.Cung tiềm năng về lao
4.Qui mô năm sau so
(Nguồn:Tổng hợp từ điều tra lao động- việc làm ở Việt Nam từ 2003- 2008)
Như vậy, con số chênh lệch giữa cung tiềm năng và cung thực tế về lao
động giai đoạn 2003 - 2008 mỗi năm là trên 10 triệu lao động Điều đó cho
thấy cung lao động ở Việt Nam là rất lớn, số người lao động trong độ tuổi lao động nhưng chưa tham gia vào thị trường lao động, tìm kiếm việc làm là rất nhiều, qui mô của cung tiềm năng lao động năm sau so với năm trước luôn tăng Vì vậy, Chính phủ cần có những giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả số lao động này khi họ tham gia vào thị trường lao động
2.1.1.2 Về chất lượng cung lao động
Từ những năm đổi mới hiện đến nay, nền kinh tế nước ta luôn duy trì tăng trưởng ở mức cao và ổn định, giai đoạn 2001 - 2008 là 7,52%/năm, trong
đó yếu tố lao động đóng góp cho sự tăng trưởng nêu trên là quan trọng Theo đánh giá của tổ chức Lao động quốc tế: yếu tố lao động Việt Nam tham gia vào tăng trưởng khoảng 20%, yếu tố vốn 57,5%; các nhân tố khác 22,5% Tuy vậy, trong yếu tố lao động thì yếu tố chất lượng lao động là quan trọng nhất
Trang 35Xét về trình độ học vấn, lao động Việt Nam được thế giới đánh giá vào loại khá Về cơ bản, Việt Nam đã phổ cập tiểu học, đang tiến hành phổ cập trong trung học cơ sở, tính đến năm 2008, đã có 34,10% lực lượng lao động
đã tốt nghiệp THCS, 23,40% đã tốt nghiệp THPT Tuy nhiên tỉ lệ lao động chưa tốt nghiệp tiểu học trở xuống của Việt Nam là rất cao (năm 2008 là trên 12%,), đây là một khó khăn lớn khi chúng ta triển khai, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, quản lý (xem Biểu 2.6)
Biểu 2.6: Trình độ học vấn phổ thông của lao động Việt Nam giai đoạn 2001 - 2008
(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra lao động - việc làm Việt Nam 2001- 2008)
Nếu chia trình độ học vấn lao động Việt Nam theo địa bàn thàng thị và nông thôn thì ở thành thị cao hơn ở nông thôn Số liệu cụ thể như sau: ở thành thị (năm 2007): Số lao động chưa biết chữ chiếm 1,03% lực lượng lao động ở thành thị, số lao động chưa tốt nghiệp tiểu học chiếm 6,09%, số lao động tốt nghiệp tiểu học chiếm 21,54%, số lao động tốt nghiệp THCS chiếm 26,45%,
số lao động tốt nghiệp THPT chiếm 43,80% Trong khi đó ở nông thôn, các
số liệu tương ứng là: 4,95%, 15,15%, 31,59%, 34,61% và 13,71% (nguồn: Tổng cục Thống kê)
Về tỷ lệ lao động được đào tạo tăng nhưng số lượng tuyệt đối không lớn (xem Biểu 2.7)
Biểu 2.7: Lao động qua đào tạo ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008
Trang 361,33 3,61 3,67
3,33 3,85 4,16
- 4,10 4,40
- 4,40 4,80
- - 5,30
3,90 5,10 5,60
4,2 4,6 5,6
4,6 4,8 5,9 2.Lực lượng lao
(Nguồn: Tổng hợp từ điều tra lao động- việc làm ở Việt Nam 2000 - 2008)
Trong 5 năm (2001- 2005) số học sinh tuyển mới vào các trường Cao đẳng, Đại học, Sau Đại học, công nhân kỹ thuật tăng từ 1,321 triệu người (năm 2001) lên 1,867 triệu người (năm 2005); bình quân mỗi năm tăng 10,34% Đặc biệt, dạy nghề đã có bước phát triển quan trọng, đáp ứng nhu cầu của công cuộc công nghiệp hoá hội nhập kinh tế thế giới và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Quy mô tuyển sinh đào tạo nghề tăng từ 88,3 ngàn người (năm 2001) lên 1,76 triệu người (năm 2008) Trong giai đoạn (2001- 2008) tuyển mới đào tạo nghề khoảng 9,8 triệu người, bình quân mỗi năm tăng gần 10%
Theo ước tính tỉ lệ lao động qua đào tạo là 32,1% (năm 2008) Tỉ lệ này ở khu vực thành thị cao hơn nông thôn; tương ứng là 58,1% và 23,2%, chủ yếu tăng số công nhân kỹ thuật Tính riêng lực lượng lao động qua đào tạo nghề là 16,8% (năm 2008) Trong đó tỉ lệ lao động qua đào tạo ngắn hạn
là 85%, đào tạo dài hạn là 15%
Tỉ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật ở nước ta chưa cao nếu so sánh với các nước khác Trong khi ở các nước công nghiệp mới (NICs, NIEs) có tỷ lệ rất cao (60- 70%) thì ở nước ta chỉ là 32,1% năm 2008 (ước tính của Bộ LĐ - TB - XH)
Bên cạnh đó cơ cấu lao động chuyên môn kỹ thuật ở Việt Nam cũng chưa hợp lý, tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” Đào tạo lao động có chuyên môn kỹ thuật chưa được hợp lý (xem biểu 2.8)
Biểu 2.8: Cơ cấu lao động có chuyên môn kỹ thuật theo trình độ
Đơn vị: lần
Cao đẳng, Đại học trở lên
Trung học chuyên nghiệp
Công nhân kỹ thuật
Cơ cấu đào tạo
Cơ cấu của
Trang 37(Nguồn: Tổng hợp từ điều tra Lao động- việc làm 2001- 2008)
Sự phân bố lao động có chuyên môn kỹ thuật giữa các ngành, vùng miền chưa hợp lý Lao động có trình độ cao chủ yếu tập trung ở khu vực Nhà nước, tại các thành phố lớn Theo điều tra của Tổng cục Thống kê: 61,12% lao động có trình độ Tiến sĩ làm việc trong khu vực nhà nước, khu vực sản xuất kinh doanh chỉ 19,07% tương ứng: Thạc sĩ là 60,20%; 22,7% Cử nhân,
Trang 38(Nguồn: Thống kê lao động- việc làm 2001- 2007, Bộ LĐTBXH
Tạp chí Lao động và Xã hội 2007 - 2008)
Theo đó, Tây Bắc là vùng có tỷ lệ qua đào tạo thấp nhất: 14,7%, Đồng Bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là các vùng có tỷ lệ cao nhất lần lượt là 36,83% và 39,81% (Số liệu năm 2006 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
Thể lực và tình trạng sức khoẻ của lao động Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hiện đại, nhất là lao động ở khu vực nông thôn, chiều cao trung bình chỉ 155 cm, lao động nữ được đánh giá là có sức khoẻ yếu chiếm tới 30%, số người mắc bệnh nghề nghiệp khá cao (46%) Trong khi đó yêu cầu lao động hoạt động phải sử dụng máy móc, thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp
cơ bản chưa được hình thành Do vậy, khả năng cạnh tranh yếu, nhất là thị trường yêu cầu lao động có trình độ cao như các khu công nghiệp chế xuất, thị trường lao động nước ngoài
Từ thực tế chất lượng cung lao động nêu trên cho thấy khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam là tương đối thấp Theo tiêu chí đánh giá của tổ chức lao động nêu trên cho thấy khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam là tương đối thấp
Theo tiêu chí đánh giá của tổ chức diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) năm 2007, chất lượng lao động Việt Nam chỉ đạt 3,79/ 10 điểm, trong khi chỉ số này của lao động Trung Quốc là 5,73; Hàn Quốc: 6,91; Thái Lan: 4,04; Malaixia: 5,59 Các tiêu chí khác như độ thành thạo tiếng Anh của lao động Việt Nam là 2,62 điểm; độ thành thạo công nghệ: 2,5 điểm WB xếp hạng lao động Việt Nam năm 2008 đạt 32/100 điểm, đứng thứ 11/12 quốc gia xếp hạng ở Châu Á.
2.1.2 Về cầu lao động
2.1.2.1 Về số lượng và cơ cấu của cầu lao động
Trang 39Cầu thực tế về lao động là nhu cầu thực tế cần tuyển dụng lao động tại một thời điểm nhất định Cầu thực tế về lao động bao gồm: chỗ việc làm
cũ được duy trì, chỗ việc làm ăn còn trống chưa tuyển dụng được và chỗ việc làm mới Hiện nay, các số liệu thống kê trên thị trường lao động Việt Nam về các số liệu này chưa đầy đủ, thậm chí có địa phương còn chưa tiến hành thống kê Vì vậy, việc xem xét các thông tin cầu thực tế về lao động ở Việt Nam mới chỉ được xác định ở tổng số việc làm (hay số người làm việc trong nền kinh tế và số việc làm mới được tạo ra hàng năm)
Theo số liệu điều tra lao động- việc làm của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, trong những năm gần đây, cầu thực tế về lao động ở nước
ta như sau (xem Biểu 2.10)
Biểu 2.10: Tổng số việc làm trong nền kinh tế quốc dân và số việc làm mới đƣợc tạo ra hàng năm thời kỳ:2000 - 2008
Biểu 2.11: Cơ cấu việc làm trong tổng số việc làm mới giai đoạn
2001 - 2008
Đơn vị tính: nghìn người
Trang 40( Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Bộ LĐ-TB-XH)
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam liên tục rất cao, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội, tỉ lệ thất nghiệo ở khu vực thành thị giảm dần, nạn thiếu việc làm ở nông thôn được cải thiện
Tuy vậy, nếu so sánh cung, cầu lao động thì thị trường lao động nước ta vẫn dư thừa lao động, tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn vẫn chưa tuyệt đối (xem Biểu 2.12)
Biểu 2.12: Tốc độ tăng GDP, tỉ lệ thất nghiệp thành thị và thời gian lao động đƣợc sử dụng ở nông thôn (2000 - 2008)
Đơn vị: %
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Tốc độ tăng GDP 6,7 6,8 7,04 7,24 7,79 8,43 8,17 8,44 6,23
(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam 2007, 2008)
Mặc dù có tốc độ tăng GDP khá cao nhưng tỉ lệ thất nghiệp thành thị của Việt Nam lại cao so với một số quốc gia trong khu vực: Năm
2004 tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam ở khu vực thành thị là 5,60%, trong khi đó con số tương ứng của Trung Quốc là 4,2%; Hàn Quốc