ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN ĐỨC HỮU QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ SỰ T
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN ĐỨC HỮU
QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH THEO TIẾP CẬN
QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN ĐỨC HỮU
QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH THEO TIẾP CẬN
QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI
Ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Vũ Bích Hiền
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi thực hiện cùng với sự dẫn dắt nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Vũ Bích Hiền trong thời gian từ tháng 7/2019 đến tháng 6/2020
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau, các nguồn thông tin được tổng hợp, khái quát đưa vào luận văn một cách hợp lý và đúng quy định
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn là khách quan, trung thực và chưa từng được công bố, sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung của luận văn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Đức Hữu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Vũ Bích Hiền đã tận tình giúp đỡ, định hướng khoa học và luôn động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, tập thể các thầy, cô giáo Khoa Tâm lý - Giáo dục; Phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
đã trực tiếp giảng dạy, chỉ đạo trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu các trường THPT trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ, chia sẻ, cung cấp cho tôi nhiều tư liệu, thông tin cũng như đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, tâm huyết và trách nhiệm, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp chỉ dẫn, góp ý
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Đức Hữu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
7 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của Luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Trên thế giới 8
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản 15
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 15
1.2.2 Thiết bị dạy học, quản lý thiết bị dạy học 19
1.2.3 Quản lý sự thay đổi, quản lý sử dụng thiết bị dạy học theo tiếp cận quản lý sự thay đổi 20
Trang 61.3 Lý luận về sử dụng thiết bị dạy học 23
1.3.1 Vị trí, ý nghĩa, vai trò của thiết bị dạy học trong trường trung học phổ thông 23
1.3.2 Đặc trưng, yêu cầu, của thiết bị dạy học 27
1.3.3 Phân loại thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông 28
1.3.4 Các nguyên tắc sử dụng thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông 30
1.4 Nội dung quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông theo tiếp cận quản lý sự thay đổi 31
1.4.1 Lý luận về quản lý sự thay đổi 31
1.4.2 Xác định tầm nhìn, mục tiêu sử dụng thiết bị hiện đại để đổi mới dạy học 38
1.4.3 Phát triển năng lực sử dụng thiết bị dạy học hiện đại cho giáo viên của nhà trường 40
1.4.4 Xây dựng môi trường hỗ trợ, động viên, khuyến khích giáo viên sử dụng thiết bị dạy học hiện đại 41
1.4.5 Củng cố những thay đổi trong sử dụng thiết bị dạy học và xây dựng văn hóa nhà trường 43
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lí sử dụng thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông 44
1.5.1 Các yếu tố bên trong 44
1.5.2 Các yếu tố bên ngoài 45
Kết luận chương 1 46
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH 47
2.1 Tổng quan về huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 47
2.1.1 Vị trí địa lý 47
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 48
2.1.3 Tình hình giáo dục, đào tạo 49
2.2 Thực trạng việc sử dụng thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 51
Trang 72.1.1 Thực trạng thiết bị dạy học 51
2.1.2 Thực trạng sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trong nhà trường 55
2.3 Thực trạng quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 59
2.3.1 Thực trạng việc xác định tầm nhìn, mục tiêu sử dụng thiết bị dạy học hiện đại để thực hiện đổi mới dạy học 59
2.3.2 Thực trạng phát triển năng lực sử dụng thiết bị dạy học hiện đại cho giáo viên của nhà trường 62
2.3.3 Thực trạng xây dựng môi trường hỗ trợ, động viên, khuyến khích giáo viên sử dụng thiết bị dạy học hiện đại 68
2.3.4 Thực trạng củng cố những thay đổi trong sử dụng thiết bị dạy học và xây dựng văn hóa nhà trường 71
2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng 74
2.5 Đánh giá thực trạng 76
2.5.1 Những thành tựu 76
2.5.2 Những hạn chế 77
2.5.3 Nguyên nhân của thực trạng 78
Kết luận chương 2 82
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI 83
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 83
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 83
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 83
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 84
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 85
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 85
3.2 Các biện pháp quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh theo tiếp cận quản lý sự thay đổi 86
Trang 83.2.1 Giáo dục nâng cao nhận thức cho giáo viên về vai trò của thiết bị dạy
học hiện đại 86
3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ, kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học hiện đại cho giáo viên 89
3.2.3 Xây dựng nhóm công tác hỗ trợ giáo viên sử dụng thiết bị dạy học hiện đại 92
3.2.4 Đổi mới công tác thi đua khen thưởng 95
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá việc sử dụng thiết bị dạy học, hình thành văn hóa trong nhà trường 97
3.3 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 100
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 100
3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm 100
3.3.3 Nội dung khảo nghiệm 100
3.3.4 Phương pháp khảo nghiệm 100
Kết luận chương 3 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV : Giáo viên
HS : Học sinh MTDH : Mục tiêu dạy học
NDDH : Nội dung dạy học
NVTB : Nhân viên thiết bị PPDH : Phương pháp dạy học
QLGD : Quản lí giáo dục
TBDH : Thiết bị dạy học
THPT : Trung học phổ thông
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Danh mục TBDH tối thiểu cấp THPT 27
Bảng 2.1 Thống kê số lượng TBDH hiện có 52
Bảng 2.2 Thực trạng về số lượng TBDH 53
Bảng 2.3 Thực trạng về chất lượng TBDH 54
Bảng 2.4 Thực trạng về tính hiện đại của TBDH 54
Bảng 2.5 Thực trạng nhận thức về việc sử dụng TBDH 55
Bảng 2.6 Thực trạng về tần suất sử dụng TBDH 56
Bảng 2.7 Thực trạng về hiệu quả sử dụng TBDH 58
Bảng 2.8 Thực trạng xác định tầm nhìn, mục tiêu sử dụng TBDH hiện đạiđối với CBQL 60
Bảng 2.9 Đánh giá của GV về việc xác định tầm nhìn, mục tiêu sử dụng TBDH hiện đại 61
Bảng 2.10 Thực trạng về kĩ năng sử dụng TBDH hiện đại của giáo viên 62
Bảng 2.11 Thực trạng phát triển năng lực sử dụng thiết bị dạy học hiện đại cho giáo viên 64
Bảng 2.12 Thực trạng xây dựng môi trường hỗ trợ, động viên, khuyến khích GV sử dụng TBDH hiện đại 68
Bảng 2.13 Thực trạng củng cố những thay đổi trong sử dụng TBDH và xây dựng văn hóa nhà trường đối với CBQL 71
Bảng 2.14 Thực trạng củng cố những thay đổi trong sử dụng TBDH và xây dựng văn hóa nhà trường đối với GV 73
Bảng 2.15 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý TBDH ở các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 75
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát mức độ cần thiết của các biện pháp 100
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát mức độ khả thi của các biện pháp 102
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố của quá trình dạy học (Theo tài liệu ôn tập
nghiệp vụ chuyên ngành thiết bị) 24
Sơ đồ 1.2 Cấu trúc hệ thống TBDH (Theo tài liệu ôn tập nghiệp vụ
chuyên ngành thiết bị) 28 Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh 47
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kĩ thuật, xu thế chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức, xu thế hội nhập quốc tế… đã đưa đến những thay đổi lớn lao, đặt ra những yêu cầu mới về cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực ở nhiều quốc gia Nhân tố quan trọng và là điều kiện để phát triển nguồn nhân lực chính
là giáo dục và đào tạo Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX
đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan
trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện
để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội một cách bền vững …” Từ đó phải“…đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học”
Để hoàn thành nhiệm vụ trên, ngoài nội dung chương trình, phương pháp dạy học thì hệ thống thiết bị dạy học trong nhà trường đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học Sử dụng hiệu quả các thiết
bị dạy học góp phần nâng cao hiệu suất lao động của thầy và trò, có ý nghĩa và vai trò rất to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh Giúp người giáo viên phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên tích cực hơn, hiệu quả hơn Thiết bị dạy học góp phần vào việc thực hiện đa dạng hoá các hìnhthức dạy học, nó chứa đựng tiềm năng tri thức và phương pháp nhằm tạo điều kiện và kích thích các hoạt động trong quá trình học tập Nếu thiết bị dạy học đủ và đa dạng sẽ cho phép tổ chức nhiều hình thức hoạt động dạy học phong phú và có hiệu quả Hệ thống thiết bị dạy học hiện đại có khả năng xây dựng, hình thành, củng cố, hệ thống hoá, vận dụng
Trang 13kiến thức vào thực tiễn Thiết bị dạy học chẳng những tạo điều kiện đi sâu vào các sự vật và hiện tượng, mà còn cho phép trình bày các vấn đề trừu tượng một cách sinh động, có khả năng sư phạm to lớn hỗ trợ cho người dạy và người học như: tăng tốc độ truyền tải thông tin mà không làm giảm chất lượng thông tin; thực hiện các PPDH tích cực nhằm tạo ra khả năng thực hành, củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng làm việc, học tập, bồi dưỡng khả năng tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, tạo ra sự hứng thú, lôi cuốn khi học, tiết kiệm thời gian trên lớp, cải tiến các hình thức lao động sư phạm, tạo khả năng tổ chức và điều khiển hoạt động dạy học Như vậy, thiết bị dạy học là một nhân tố quan trọng đảm bảo chất lượng dạy học, là một thành tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học, là yếu tố quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học Việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu để nâng cao trình độ, khả năng quản lý và sử dụng thiết bị dạy học, đặc biệt thiết bị dạy học hiện đại cho đội ngũ cán bộ, nhân viên quản lý là yêu cầu bức thiết và mang ý nghĩa chiến lược của ngành giáo dục để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung
Quản lý sự thay đổi là một lý thuyết quản lý coi thay đổi như là một điều kiện để phát triển và quản lý sự thay đổi là một nhiệm vụ của người quản lý Nhiệm vụ này đòi hỏi người quản lý phải nhận diện được những yêu cầu cần thay đổi, phân tích tình hình của tổ chức và tìm ra những con đường, cách thức thực hiện đổi mới thành công Bất kỳ sự đổi mới nào của nhà trường, trong đó có những thay đổi để tăng tính hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học ở trường THPT thì
lý thuyết quản lý sự thay đổi đều hữu ích để có thể nghiên cứu đưa vào áp dụng trong thực tiễn
Là một huyện nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, thuộc tỉnh Bắc Ninh, tiếp giáp với Hà Nội, Hưng Yên và Hải Dương Nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm phía nam tỉnh Bắc Ninh nên Thuận Thành có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển toàn diện kinh tế xã hội, văn hóa, giáo dục Hệ thống các trường THPT trên địa bàn huyện gồm ba trường công lập và một trường ngoài công lập
Trang 14về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân trong huyện Các trường THPT công lập trong huyện Thuận Thành đã được UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đầy đủ với quy mô khá hiện đại, hệ thống thiết bị dạy học cơ bản, đảm bảo, theo các danh mục thiết bị dạy học cần thiết trong nhà trường phổ thông Đặc biệt trong năm học 2018-2019 vừa qua, các trường THPT công lập trên địa bàn huyện được trang bị đầy đủ hệ thống các thiết bị phòng học thông minh tại tất cả các phòng học, từ đó đã tạo được động lực nhất định cho đội ngũ giáo viên nâng cao được chất lượng dạy và học Tuy nhiên, thực trạng quản lý sử dụng thiết bị
huyện Thuận Thành vẫn còn nhiều bất cập Cụ thể, thiết bị dạy học tuy được tăng cường hàng năm nhiều nhưng không đồng bộ, các nhà quản lý chưa đưa ra được các biện pháp quản lý sử dụng thiết bị dạy học một cách hiệu quả Giáo viên do trình độ công nghệ thông tin còn hạn chế và tâm lý ngại thay đổi nên ít sử dụng các thiết bị dạy học đặc biệt là các thiết bị dạy học hiện đại trong hoạt động dạy học Điều này dẫn đến tình trạng “dạy chay”, “học chay” vẫn xảy ra khá phổ biến gây lãng phí nguồn thiết bị, không phát huy được hết vai trò và tầm quan trọng của thiết bị dạy học trong các hoạt động giáo dục
Xuất phát từ yêu cầu và thực trạng trên tôi chọn vấn đề: “Quản lý sử
dụng thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh theo tiếp cận quản lý sự thay đổi” làm đề tài nghiên
cứu Với mong muốn đề xuất một số biện pháp quản lý hiệu quả đối với việc sử dụng thiết bị dạy học trong trường THPT, góp phần thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý sử dụng thiết bị dạy học, quản lý
sự thay đổi và khảo sát thực trạng quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, đề xuất một số biện pháp quản lý sử
Trang 15dụng thiết bị dạy học theo tiếp cận quản lý sự thay đổi nhằm góp phần thực hiện tốt các yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học của các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh nói riêng và chất lượng giáo dục cả nước nói chung
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý sử dụng các thiết bị dạy học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học theo tiếp cận quản lý sự thay đổi ở
các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thiết bị dạy học và quản lý sử dụng thiết bị dạy học trong trường THPT theo tiếp cận quản lý sự thay đổi
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý sử dụng thiết bị dạy học của cán bộ quản lý ở các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất một số biện pháp quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh theo tiếp cận quản lý sự thay đổi
5 Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp đề xuất trong luận văn được thực hiện sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng thiết bị dạy theo tiếp cận quản lý sự thay đổi, từ đó nâng cao chất lượng quản lý và chất lượng giáo dục tại các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1 Về địa bàn và thời gian nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu trong thời gian năm học 2019-2020 tại các 3 trường THPT công lập trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh gồm trường THPT Thuận Thành số 1, trường THPT Thuận Thành số 2, trường THPT Thuận Thành
số 3
Trang 166.2 Giới hạn về khách thể điều tra
Đề tài tiến hành khảo sát trên các đối tượng: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng,
Tổ trưởng chuyên môn, một số giáo viên, một số học sinh ở 3 trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
7 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận
- Quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc:
Quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ chặt chẽ giữa quản lý sử dụng thiết bị dạy học với quản lý các hoạt động
sư phạm khác ở trường THPT, mối quan hệ giữa sử dụng thiết bị dạy học có hiệu quả với đổi mới phương pháp dạy học Từ đó giúp chúng ta tìm hiểu chính xác thực trạng về công tác quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở các trường THPT hiện nay
- Quan điểm tiếp cận lịch sử:
Quan điểm tiếp cận lịch sử giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian, điều kiện hoàn cảnh cụ thể để thu thập số liệu chính xác phục vụ đúng mục đích nghiên cứu của đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trật tự logic, khoa học
- Quan điểm tiếp cận thực tiễn:
Quan điểm tiếp cận thực tiễn giúp phát hiện những ưu điểm, mâu thuẫn, tồn tại trong công tác quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất được các biện pháp quản lý sử dụng thiết bị dạy học theo tiếp cận quản lý sự thay đổi phù hợp với thực tiễn các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
7.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng và Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 17+ Nghiên cứu các tài liệu về về giáo dục học, về quản lý giáo dục, về đổi mới giáo dục có liên quan đến đề tài
+ Nghiên cứu về quản lý sử dụng các thiết bị dạy học trong trường THPT + Nghiên cứu về tiếp cận quản lý sự thay đổi
Trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa những vấn đề
lý luận từ sách báo, tài liệu, văn kiện, văn bản có liên quan nhằm xây dựng cơ sở
lý luận cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát sư phạm:
Thu thập thông tin qua việc quan sát các hoạt động giáo dục, hoạt động quản lý sử dụng các thiết bị dạy học ở các trường THPT trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
+ Phương pháp điều tra giáo dục:
Thu thập thông tin, số liệu, tư liệu về thực trạng công tác quản lý sử dụng thiết bị dạy học và biện pháp quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh nhằm minh chứng cho giả thuyết khoa học nêu trên từ đó thấy được những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân Đồng thời, khảo sát tính cần thiết và khả thi của hệ thống các biện pháp đề xuất
Tiến hành phát phiếu điều tra cán bộ quản lý và giáo viên của 3 trường THPT công lập trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:
Tiến hành lấy ý kiến một số nhà quản lý có kinh nghiệm, lãnh đạo và chuyên viên trong lĩnh vực quản lý sử dụng các thiết bị dạy học ở trường THPT,
từ đó đề xuất các biện pháp mang tính đột phá, cấp bách trong việc nâng cao chất lượng quản lý sử dụng các thiết bị dạy học ở các trường THPT theo tiếp cận quản
lý sự thay đổi
- Phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng toán thống kê để phân tích, xử lý các số liệu điều tra đảm bảo tính chính xác, khoa học
Trang 188 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông theo tiếp cận quản lý sự thay đổi
Chương 2: Thực trạng quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Biện pháp quản lý sử dụng thiết bị dạy học theo tiếp cận quản lý
sự thay đổi ở các trường trung học phổ thông huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
Trang 19Quản lý sử dụng thiết bị dạy học (TBDH) theo tiếp cận quản lý sự thay
đổi là một thành tố không thể thiếu trong quá trình quản lý hoạt động dạy học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Do đó, có nhiều công trình nghiên cứu
ở trong và ngoài nước đã đề cập đến vấn đề này
1.1.1 Trên thế giới
Nghiên cứu về thiết bị dạy học:
Trong tác phẩm “Phép dạy học vĩ đại” của nhà giáo dục học J.A Komensky (1592-1670) có viết: “… không có gì trong trí não nếu như trước đó
không có gì trong cảm giác Vì thế, tất nhiên bắt đầu dạy học không thể từ sự giải thích bằng lời về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng Lời nói không bao giờ đi trước sự vật…”[20, tr.19] Ông cho rằng dạy học phải được bắt
đầu từ việc quan sát sự vật, hiện tượng, quá trình “cái gì có thể tri giác được hãy
để cho nhìn, cái nghe được hãy để cho nghe… đó là nguyên tắc vàng đối với trẻ
em, đối với dạy học….”[20, tr.19] Quan niệm của J.A Komensky trái hẳn với
lối dạy học nhồi nhét, bắt học sinh phải học thuộc lòng thay vào đó là phương pháp dạy học khuyến khích người học tiếp thu tri thức bằng chính những giác quan của mình Ông coi việc sử dụng TBDH chính là cái tạo nên linh hồn của bài học trong quá trình dạy học của người giáo viên Do đó, ông được coi là người đặt nền móng cho dạy học trực quan
Nhà giáo dục học J.H Pestalossi (1746-1827) người Thụy Sĩ đã chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển của tư duy Đó là, thông qua các sự vật hoặc hình ảnh của chúng và được người học chứng thực trên cơ
sở cảm nhận của các giác quan [34, tr.142]
Trang 20K.Đ Uninski (1824-1870) - Nhà giáo dục người Nga cũng khẳng định trực quan là cái ban đầu, là nguồn gốc của tri thức và theo ông, chính cảm giác cung
cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ Uninski đã viết: “không có cái gì có thể giúp
anh san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc anh đưa cho học sinh xem một bức tranh và giải thích nó, đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, màu sắc, âm thanh và bằng cảm giác nói chung” [28, tr.6]
Nhà tâm lý học người Nga A.N.Leontiev (1903-1979) cũng đưa ra quan điểm về cơ sở tâm lý học của nguyên tắc dạy học trực quan trong hệ thống tư tưởng của mình về hoạt động và hoạt động trí óc [11]
Lênin khi phân tích bản chất của quá trình nhận thức cũng khẳng định quy
luật nhận thức của con người là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng
và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thức khách quan”[38]
Năm 1984, tại hội nghị quốc tế về giáo dục lần thứ 39 họp tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) và nhiều hội nghị về TBDH khác ở các nước xã hội chủ nghĩa đã đều
thống nhất “Ngành giáo dục cần được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu
trúc, nội dung, TBDH và phương pháp để tạo cho tất cả học sinh có cơ hội học tập” [36, tr.7] Cần tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện cụ thể của từng
quốc gia để xây dựng nội dung đổi mới phù hợp Tuy nhiên, cần quan tâm đến việc hoàn thiện cơ sở vật chất, tập trung nghiên cứu, thiết kế, sản xuất TBDH với nhiều tính năng, chất lượng hiện đại để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Đồng thời, việc quản lý TBDH cần được thực hiện đúng nguyên tắc, nội dung, quy trình quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục của từng quốc gia
Như vậy, trong lịch sử giáo dục thế giới, vai trò của TBDH đã được phát hiện và phát triển từ rất sớm Các nhà giáo dục học thế giới đã chứng minh được rằng việc khuyến khích học sinh nhận thức thế giới thông qua chính những giác quan của mình là phương pháp dạy học phù hợp và cũng là phương pháp hữu hiệu nhất giúp học sinh phát triển tư duy, nhận biết hiện tượng từ đó tiến tới nắm được bản chất của sự vật hiện tượng
Trang 21Nghiên cứu về “quản lý sự thay đổi”:
Thay đổi là quá trình tự nhiên Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao nền giáo dục đã và đang có nhiều thay đổi Trong bối cảnh đó, các nhà trường phổ thông cần không ngừng đổi mới trong tư duy và thực tiễn điều hành Công tác chỉ đạo đổi mới hoạt động dạy học đặc biệt là việc quản lý sử dụng TBDH đã được thực hiện theo các quan điểm của các lý thuyết quản lý khác nhau, trong đó lý thuyết nhận được nhiều sự quan tâm và nghiên cứu nhất là lý thuyết “quản lý sự thay đổi”
Lý thuyết lãnh đạo, quản lý sự thay đổi xuất hiện vào đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX do John P Kotter - chuyên gia nổi tiếng thế giới về lãnh đạo tại trường Đại học Harvard (Hoa Kì) và một số cộng sự của ông đã đưa ra một số quan điểm như: Lý thuyết lãnh đạo, quản lý sự thay đổi là sự kết hợp chặt chẽ của ba trường phái lý thuyết đó là, trường phái phân tích, trường phái học tập, trường phái quyền lực; cần vận dụng tổng hợp tất cả các trường phái lý thuyết trên để người lãnh đạo quản lý có tư duy, có cách tiếp cận linh hoạt, rõ ràng; môi trường lãnh đạo, quản lý sự thay đổi cũng đòi hỏi người lãnh đạo phải có tầm nhìn, khả năng thích ứng, năng lực lãnh đạo, nắm bắt và quản lý sự thay đổi [21]
Một số các tác giả như R Heller trong cuốn “Quản lý sự thay đổi”[32], Bernt Davies, Linda Ellion trong cuốn “Quản lý các trường học trong thế kỉ
XXI”[6], Michel Dvelay với tác phẩm “Một số vấn đề về đào tạo giáo viên”[26]
đã nghiên cứu về quản lý sự thay đổi trong giáo dục nói riêng và quản lý sự thay đổi nói chung Các tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra tính cấp thiết của sự thay đổi trường học, các bước tổ chức thực hiện sự thay đổi, mô hình của trường học thành công,…
1.1.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về thiết bị dạy học và quản lý thiết bị dạy học
Thiết bị dạy học là phương tiện vật chất để phục vụ dạy học, giúp GV và
HS đạt được mục đích đề ra Thiết bị dạy học sẽ giúp HS tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo hơn từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn
Trang 22diện Ngày nay, đất nước ngày càng phát triển thì TBDH trong giáo dục ngày càng phong phú, đa dạng, hiện đại Do vậy, việc đổi mới quản lý cơ sở vật chất nói chung và quản lý TBDH nói riêng đang là một yêu cầu cấp thiết
Nghị quyết Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ
phương pháp GD&ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện lớp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu….” [5, tr.60]
Trong nghị quyết “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được Hội nghị Trung ương
8 khóa XI đã khẳng định vai trò của TBDH trong quá trình phát triển của giáo
dục, nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng
hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức và kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc”
Trong cuốn “Sư phạm nghề nghiệp” của Trần Khánh Đức cũng đã khẳng định vai trò của TBDH “…lao động sư phạm của người giáo viên cần có những
dụng cụ, TBDH phù hợp với tính chất và nội dung, môi trường lao động của từng cấp học, loại hình trường và ngành nghề đào tạo Phương tiện dạy học không chỉ là công cụ hỗ trợ hoạt động sư phạm của người giáo viên mà còn có vai trò thay thế cho các sự vật hiện tượng và một số quá trình xảy ra trong đời sống, lao động nghề nghiệp mà phương tiện dạy học tạo điều kiện để phát huy hết các chức năng tư duy của não người”[9]
Tác giả Trần Quốc Đắc cùng một số cộng sự trong nghiên cứu “Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy - học ở trường phổ thông Việt Nam” cho rằng, trong toàn bộ công tác thiết
bị trường học thì việc sử dụng hiệu quả TBDH là mục tiêu cơ bản nhất, đây là
Trang 23một nhiệm vụ khó khăn và nặng nề của GV, đòi hỏi GV cần phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, không chỉ hiểu biết về TBDH, về kĩ thuật sử dụng chúng mà còn am hiểu sâu sắc về phương pháp dạy học [8]
Về quản lý thiết bị dạy học, ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như các nhà tâm lý giáo dục Phạm Minh Hạc, Hồ Ngọc Đại; các nhà giáo dục học Tô Xuân Giáp, Trần Khánh Đức….[12]; [13]; [15].Các nhà khoa học đã đều chỉ ra các vấn đề liên quan đến quản lý TBDH trong trường học như nội dung, mục tiêu quản lý TBDH, ảnh hưởng của TBDH trong dạy học, những yêu cầu cần có khi sử dụng TBDH, đồng thời chỉ ra thực trạng việc sử dụng và quản lý TBDH trong các trường học
Tác giả Bùi Minh Hiền trong cuốn “Quản lý giáo dục” đã cho thấy vai trò
không thể thiếu của TBDH trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời
cụ thể hóa các nguyên tắc, biện pháp quản lý TBHD ở các trường học trong giai đoạn hiện nay [18]
Tác giả Ngô Quang Sơn trong đề tài cấp Bộ về: “Một số biện pháp quản
lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TB giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông tại các trung tâm GDTX và trung tâm học tập cộng đồng” cũng
khẳng định vai trò quan trọng của TBDH, coi đó là một bộ phận, một thành tố không thể thiếu của quá trình dạy học tích cực, coi đó là một trong những điều kiện để GV và HS thực hiện tốt phương trâm dạy học tích cực… Đồng thời, tác giả cũng đã đưa ra 8 giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của việc trang bị,
sử dụng và bảo quản TBDH [34]
Các tác giả Nguyễn Đức Tín với đề tài: “Quản lý thiết bị dạy học đáp ứng
chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THPT thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng” [36]; tác giả Đỗ Thị Liễu trong đề tài “Quản lý thiết bị dạy học
ở các trường THPT Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu của trường chuẩn Quốc gia” [25]; tác giả Đặng Quốc Vinh với đề tài: “Quản lý thiết
Trang 24bị dạy học ở trường THPT kĩ thuật Việt Trì, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới” [39] Các tác giả đều
khẳng định vai trò của TBDH, quản lý TBDH trong quá trình giáo dục, trên cơ
sở phân tích thực trạng về việc sử dụng và quản lý sử dụng TBDH, các tác giả
có đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý TBDH ở trường phổ thông
Nghiên cứu về quản lý sự thay đổi
Ở Việt Nam, quản lý nhà trường trong đó có quản lý thiết bị dạy học theo quan điểm “quản lý sự thay đổi” mặc dù vẫn còn khá mới mẻ nhưng cũng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Tiêu biểu là các công trình như:
Trong bài viết “Vận dụng lí thuyết quản lý sự thay đổi để chỉ đạo đổi mới
phương pháp dạy học ở nhà trường trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đặng
Xuân Hải[16] đã khẳng định quản lý sự thay đổi thực chất là kế hoạch hóa, điều hành và chỉ đạo triển khai sự thay đổi để đạt được mục tiêu đề ra cho sự thay đổi
đó Đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra 11 bước thông thường trong quy trình quản
lý sự thay đổi, đó là: nhận diện sự thay đổi; chuẩn bị cho thay đổi; thu thập số liệu, dữ liệu; tìm các yếu tố khích lệ, hỗ trợ “sự thay đổi”; xác định mục tiêu cụ thể cho các bước chỉ đạo sự thay đổi; xác định trọng tâm của các mục tiêu; xem xét các giải pháp; lựa chọn giải pháp; lập kế hoạch chỉ đạo việc thực hiện; đánh giá thay đổi và đảm bảo sự tiếp tục đổi mới
Sau này trong cuốn “Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường trong bối cảnh
thay đổi” nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam năm 2012, tác giả Đặng Xuân Hải và
Nguyễn Sỹ Thư đã đưa ra 6 câu hỏi mà theo ông nhà quản lý sự thay đổi phải cần phải có câu trả lời trước khi bắt tay vào “quản lý sự thay đổi”[17] Đó là:
1 Cái gì cần thay đổi, kết quả mong đợi là cái gì, cái đích muốn đến khi thực hiện sự thay đổi?
Trang 252 Dự báo trạng thái hiện hành của tổ chức và khả năng tiến hành thay đổi thành công
3 Khoảng cách hiện hữu giữa hai trạng thái nêu trên (đặc biệt liên quan đến “vấn đề thay đổi”) định triển khai như thế nào?
4 Có “động lực cho sự thay đổi” hay “rào cản phản ứng” khi tiến hành sự thay đổi không, ở mức độ nào?
5 Điều người quản lý mong muốn và khả năng hiện thực hóa sự thay đổi
là gì?
6 Tính phù hợp và khả năng tận dụng bối cảnh như thế nào?
Bài viết “Quản lý sự thay đổi trong nhà trường” đăng trên Tạp chí Giáo
dục, số 433 (Kì 1- 7/2018) của tác giả Nguyễn Thị Thúy Dung - Trường Đại học Sài Gòn đã trình bày những thay đổi diễn ra trong mọi lĩnh vực của nhà trường hiện nay, từ đó phân tích các nội dung quản lý sự thay đổi mà hiệu trưởng nhà trường cần thực hiện, phân tích vai trò của hiệu trưởng là chủ thể quản lý sự thay đổi, các chức năng quản lý, các phẩm chất và năng lực cần thiết đối với hiệu trưởng để quản lý sự thay đổi thành công[7]
Trong các luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng đã có một
số công trình nghiên cứu về công tác quản lý trong nhà trường theo tiếp cận quản
lý sự thay đổi như đề tài “Biện pháp quản lý sự thay đổi ở các trường THPT tỉnh
Ninh Bình” [14] của tác giả Nguyễn Mạnh Hà, hay đề tài “Quản lý hoạt động dạy học theo quan điểm “Quản lý sự thay đổi” ở trường THPT Tân Trào - tỉnh Tuyên Quang” của tác giả Phạm Hồng Quân[29] Các tác giả đều chỉ ra ý nghĩa
quan trọng của quản lý sự thay đổi từ đó đề xuất các biện pháp để thực hiện hiệu quả quản lý sự thay đổi
Như vậy, có nhiều tác giả ở cả trong và ngoài nước nghiên cứu về TBDH, quản lý TBDH, quản lý sự thay đổi nhưng chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về việc quản lý TBDH theo tiếp cận quản lý sự thay đổi Điều đó cho thấy tính mới mẻ của công trình nghiên cứu Đó cũng là mong muốn đóng góp của tác giả khi thực hiện đề tài nghiên cứu này
Trang 261.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1 Quản lý
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa
ra những định nghĩa khác nhau về quản lý Cụ thể:
Quan điểm của một số nhà khoa học trên thế giới:
Theo quan điểm kinh tế học, Frederik Uinslon Taylor (1856-1915), người được coi là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”, mở ra “Kỉ nguyên vàng” quản
lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là “Mỗi loại công việc dù
nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và đều phải quản lý chặt chẽ” Taylor cho
rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó
thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [10, tr.12]
Theo Karol Koon: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học”[22, tr.33]
Đề cập đến hoạt động quản lý không thể không nhắc đến ý tưởng sâu sắc
của C Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều kiển lấy mình, còn dàn nhạc thì phải cần nhạc trưởng” [36, tr.2] Mác coi việc xuất hiện của quản lý như một
dạng hoạt động đặc thù của con người được gắn liền với sự phân công và hợp tác lao động quản lý, là kết quả tất yếu của sự chuyển hóa những quá trình lao động
cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao động xã hội được tổ chức lại
Trang 27Theo từ điển tiếng Việt thông dụng (nhà xuất bản Giáo dục, 1992) quản lý là: tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan
Quan niệm về quản lý của một số nhà khoa học Việt Nam:
Trong giáo trình “Khoa học tổ chức và quản lý - một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” các tác giả chỉ ra rằng: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức,
hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể” [3, tr.94]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cắt nghĩa: “Quản có nghĩa là giữ; lý là chỉnh sửa Vậy quản lý là làm cho ổn định và phát triển, sao cho trong quản có lý trong lý
có quản Trong ổn định tạo mầm mống cho sự phát triển, trong phát triển giữ được hạt nhân cho ổn đinh” [1, tr.3]
Tác giả Nguyễn Chí Quốc và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, chỉ đạo và kiểm tra” [31]
Như vậy, các quan niệm quản lý nói trên tuy có cách tiếp cận, diễn đạt khác nhau nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản sau:
- Chủ thể quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người)
- Đối tượng bị quản lý (có thể một người hoặc nhiều người, sự vật, sự việc…)
- Mục tiêu quản lý nhằm thay đổi hoạt động của tổ chức, trạng thái hoạt động và nâng cao hiệu quả hoạt động
- Chủ thể tiến hành các tác động quản lý bằng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý
- Quản lý có mối liên hệ được thể hiện giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý
và đối tượng bị quản lý Chủ thể quản lý tác động liên tục có tổ chức, có định hướng thông qua một hệ thống luật lệ, nguyên tắc và biện pháp cụ thể làm cho một tổ chức vận hành đúng mục tiêu và có hiệu quả
- Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp, công cụ quản lý
Trang 28Như vậy, có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra
Hay nói cách khác: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch hoạt động, tổ chức hoạt động, chỉ đạo hoạt động và kiểm tra, đánh giá hoạt động
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Mỗi phương thức xã hội lại có một cách quản lý khác nhau nên cũng có
nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục:
Ở các nước tư bản chủ nghĩa có sự vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trường học) nên quản lý giáo dục được coi như một loại
“xí nghiệp đặc biệt”
Trái ngược với quan niệm trên, ở các nước xã hội chủ nghĩa do có sự vận dụng quản lý xã hội vào quản lý giáo dục nên quản lý giáo dục được xếp trong lĩnh vực quản lý văn hóa tư tưởng, được coi là một bộ phận nằm trong lĩnh vực quản lý văn hóa tinh thần
Ở Việt Nam cũng có nhiều quan niệm khác nhau
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang viết: “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ thống giáo dục hoạt động theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ
là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [30, tr.75]
Tác giả Đỗ Hồng Toàn đưa ra quan niệm: “Quản lý giáo dục là tập hợp
những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo cụ, kế hoạch tài chính… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo
sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [37, tr.29]
Trang 29Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác
định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể quản lý ở các cấp độ khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến các trường, các cơ sở giáo dục khác) nhằm mục đích đảm bảo giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội, cũng như quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ thiếu niên và thanh niên”[23, tr.10]
Các quan niệm về quản lí giáo dục trên có chung một quan điểm là:
- Quản lý giáo dục là những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục
- Quản lý giáo dục là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển hệ thống giáo dục và các thành tố của nó, định hướng và phối hợp lao động của những người tham gia công tác giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục dựa trên thể chế giáo dục
và các nguồn lực giáo dục Theo đó bản chất của quản lý trường học là quá trình tác động gây ảnh hưởng, định hướng và phát triển tổ chức nhà trường theo mục tiêu và giá trị đã định, dựa trên việc xác định tầm nhìn, sứ mạng, nhiệm vụ chiến lược, huy động và sử dụng các nguồn lực tạo dựng tên tuổi, uy tín và quản lý văn hóa trong nhà trường
- Quản lý giáo dục như một khoa học, không những phải xem xét chủ thể quản lý phải làm những gì mà còn phải xem xét những tác động từ các chủ thể quản lý hướng vào đâu Nói cách khác cần phải xem xét tới các thành tố của một
hệ thống chịu sự tác động của chủ thể quản lý
Như vậy: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà
quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra”
Trang 30Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia quản lý giáo dục thành 2 loại:
- Quản lý hệ thống giáo dục: Quản lý giáo dục được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố)
- Quản lý nhà trường: Quản lý giáo dục ở tầm vi mô trong một đơn vị, một
cơ sở giáo dục
1.2.2 Thiết bị dạy học, quản lý thiết bị dạy học
Cơ sở vật chất sư phạm là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào quá trình giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích giáo dục Cốt lõi của cơ sở vật chất trường học chính là các thiết bị dạy học
Theo Lotx.Klinbơ (Đức): “Thiết bị dạy học (hay còn gọi là đồ dùng dạy
học, thiết bị dạy học, dụng cụ ) là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết giúp cho giáo viên và học sinh tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dưỡng và giáo dục ở các môn học, cấp học” [8, tr.32]
Theo các chuyên gia thiết bị giáo dục của Việt Nam như Nguyễn Ngọc Bảo [2], Vũ Trọng Rỹ [33], Thái Văn Thành [35]… thì coi: Thiết bị dạy học là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức, là phương tiện giúp học sinh lĩnh hội khái niệm, định luật, thuyết khoa học nhằm hình thành ở họ các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc giáo dục, phục vụ mục đích dạy học và giáo dục
Hiện nay có nhiều tên gọi khác nhau về TBDH như: Thiết bị giáo dục; thiết bị trường học; đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học; dụng cụ dạy học; phương tiện dạy học; học cụ; học liệu; “bộ đồ nghề của giáo viên”…
Tóm lại ta có thể hiểu: Thiết bị dạy học là một bộ phận của cơ sở vật chất trường học, TBDH bao gồm tất cả những đối tượng vật chất cần thiết được giáo viên và học sinh sử dụng trong hoạt động dạy và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc khám phá, lĩnh hội kiến thức của học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra
Trang 31Quản lý TBDH chính là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu đề ra Quản lý TBDH
là một nhiệm vụ nằm trong nội hàm của quản lý nhất thiết phải đảm bảo các nguyên tắc và tuân thủ quy trình quản lý chung Quản lý tốt TBDH góp phần phát huy tốt hiệu quả của TBDH từ đó nâng cao chất lượng giáo dục nói chung
1.2.3 Quản lý sự thay đổi, quản lý sử dụng thiết bị dạy học theo tiếp cận quản
lý sự thay đổi
1.2.3.1 Quản lý sự thay đổi
Sự thay đổi:
- Theo Từ điển tiếng Việt: “Thay đổi là thay cái này bằng cái khác” hay
“đổi khác đi, trở nên khác trước”
Theo một số tiếp cận khác:
- Thay đổi là sự chuyển biến về ý thức hay vật chất tại thời điểm này so với thời điểm khác
- Thay đổi (Change) là quá trình vận động do ảnh hưởng, tác động qua lại
của sự vật, hiện tượng, của các yếu tố bên trong và bên ngoài; thay đổi là thuộc tính chung của bất kỳ sự vật, hiện tượng nào
- Theo R Heller, “Sự thay đổi là sự chuyển dịch từ trạng thái cũ sang
trạng thái mới, là sự loại bỏ cái cũ trong quá khứ và nhận lấy cái mới cho tương lai”[40]
- Thay đổi là chuyển hóa, điều chỉnh theo cách này hoặc cách khác
- Thay đổi là bước chuyển từ một trạng thái tương đối ổn định sang một trạng thái khác, là một cách để thích nghi với những thay đổi của môi trường…
Xét về bản chất, thay đổi bao gồm cả sự biến đổi về số lượng, chất lượng
và cơ cấu của các sự vật, hiện tượng, Trong cuốn “Quản lý phổ thông” các tác
giả đã nêu rõ: thay đổi được biểu hiện ở các mức độ khác nhau: cải tiến (Improvement), đổi mới (Innovation), cải cách (Reform), cách mạng (Revolution)
Trang 32Thay đổi là yếu tố quan trọng cho sự thành công trong môi trường biến động nhanh chóng và cạnh tranh mạnh mẽ
Trong nhà trường sự thay đổi có thể do các nguyên nhân bên ngoài và nguyên nhân bên trong, có thể là sự thay đổi tự nhiên, diễn ra thường xuyên hoặc
sự thay đổi được hoạch định Trong giáo dục chúng ta có thể thấy rõ sự thay đổi
về chương trình, sách giáo khoa, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất trường học…
Quản lý sự thay đổi:
Quản lý sự thay đổi thực chất là xác định trạng thái phải thay đổi và trạng thái mong muốn sau thay đổi, xác định khoảng cách giữa chúng và tìm lộ trình
đi đến trạng thái mong đợi Tuy nhiên trong quản lý sự thay đổi, nguyên tắc phù hợp thích ứng và kế thừa phát triển rất được coi trọng
Có nhiều cách tiếp cận trong việc quản lý một tổ chức song có thể kể đến một số cách tiếp cận cơ bản sau:
- Tiếp cận “Quản lý sự thay đổi”
Bản chất của cách tiếp cận này là quản lý thông qua các lộ trình và luôn quan tâm đến “cân bằng động” giữa phát triển của tổ chức với sự thay đổi của môi trường, luôn phân tích tác động của bối cảnh đối với công tác quản lý
Nội dung cơ bản của quản lý sự thay đổi là nhận diện những bất cập của trạng thái hiện hành và xác định trạng thái mong muốn, tìm lộ trình khoa học cho việc đạt được trạng thái mong muốn
Trang 33Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi Đôi khi là sự thay đổi do chủ trương chính sách thay đổi Cũng có khi thay đổi do áp lực của bối cảnh Nhiều khi, thay đổi là do sứ mệnh của tổ chức thay đổi hay chức năng nhiệm vụ có sự
điều chỉnh Nhưng có khi đơn giản là mọi người đều thấy tổ chức mình “có vấn
đề” nếu không thay đổi thì không phát triển được Sự thay đổi nhiều khi xuất
phát từ nguyên nhân của sự trì trệ hay do nguyên nhân của các vấn đề nảy sinh khi bối cảnh thay đổi, thúc đẩy tổ chức thay đổi để tăng tính thích ứng
Một cách đơn giản có thể hiểu thay đổi là “làm cho khác đi hay trở nên
khác đi” và mọi sự thay đổi đều có lý do của nó nhưng chúng ta chỉ đề cập đến
những thay đổi cần sự hoạch định hay cần sự điều khiển, quản lý khoa học, chất lượng hiệu quả
Có ba công đoạn làm cho khác đi là “Rã đông”- “thay đổi/ tái tạo”- “tái
đông/ định hình cái mới” Tương ứng với ba công đoạn này là bốn mức độ ứng
xử của một người khi phải đối mặt với sự thay đổi: Sự khước từ - Sự phản kháng
- Sự thích nghi và nếu vượt qua được ba giai đoạn trên sẽ đến giai đoạn tham gia
tự nguyện vào sự thay đổi
Chức năng của người quản lý thay đổi là làm sao để thay đổi đó diễn ra một cách hiệu quả nhất và ít bị xáo trộn nhất Vậy người quản lý sự thay đổi cần thực hiện được các vai trò sau:
- Người cổ vũ, xúc tác kích thích sự thay đổi
- Người hỗ trợ suốt quá trình sự thay đổi
- Người tạo ra các tình huống cho sự thay đổi
- Người liên kết các nguồn lực cho sự thay đổi
- Người duy trì ổn định trong sự thay đổi
Nhìn chung, có thể hiểu quản lý sự thay đổi thực chất là kế hoạch hoá và chỉ đạo triển khai sự thay đổi để đạt được mục tiêu đề ra cho sự thay đổi đó mà không xáo trộn nếu không thực sự cần thiết Quản lý thay đổi trong giáo dục lấy
tư duy “cân bằng động” làm điểm tựa và tính lộ trình là một điểm quan trọng của
Trang 34quản lý sự thay đổi Quản lý sự thay đổi là một vấn đề cần thiết, có ý nghĩa mà
cao hơn là nghệ thuật đối với các nhà quản lý Sứ mệnh của nhà quản lý là phải nắm bắt sự thay đổi và điều chỉnh nó theo hướng có lợi cho tổ chức Như Peter Drucker - chuyên gia hàng đầu về tư vấn quản trị đã nói “người thành công phải
là người đón đầu sự thay đổi”.[4, tr.32]
1.2.3.1 Quản lý sử dụng thiết bị dạy học theo tiếp cận quản lý sự thay đổi
Quản lý sử dụng TBDH theo tiếp cận “quản lý sự thay đổi” thực chất là
kế hoạch hóa và chỉ đạo triển khai sự thay đổi trong việc sử dụng TBDH ở trường phổ thông để đạt được mục tiêu đề ra là nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục của nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung Quản lý
sử dụng TBDH theo tiếp cận “quản lý sự thay đổi” là một bộ phận trong quản lý
sự thay đổi ở trường phổ thông là một hoạt động khó khăn phức tạp nhưng nếu làm tốt sẽ tạo nên sự đồng bộ trong chất lượng khai thác sử dụng TBDH, mặt khác góp phần định hướng sự phát triển của nhà trường trên cơ sở xác định mục tiêu và hướng mọi sự nỗ lực của cán bộ giáo viên trong trường vào mục tiêu chung đó Cần tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân
và nhà trường, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả
Quản lý TBDH theo quan điểm “quản lý sự thay đổi” cần chú ý:
- Xác định rõ và làm mọi thành viên hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của sự thay đổi
- Xây dựng được lòng tin ở mọi người để mọi người làm chủ sự thay đổi Hiệu trưởng và những nhà lãnh đạo phải thay đổi bản thân trước khi yêu cầu người khác thay đổi
1.3 Lý luận về sử dụng thiết bị dạy học
1.3.1 Vị trí, ý nghĩa, vai trò của thiết bị dạy học trong trường trung học phổ thông
Yếu tố cốt lõi nhất trong quá trình dạy học diễn ra trên lớp là mục tiêu dạy học (MTDH), nội dung dạy học (NDDH), phương pháp dạy học (PPDH), GV và
HS, TBDH Các yếu tố này có sự tác động, liên kết, hỗ trợ qua lại cho nhau Ở
đó TBDH được xem là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của quá trình dạy
Trang 35học, là vật chất thể hiện mục tiêu và phương pháp dạy học Thiết bị dạy học là chiếc cầu nối mà GV và HS sẽ tương tác qua lại để chiếm lĩnh tri thức và đạt được mục tiêu đề ra Thiết bị dạy học có vai trò to lớn trong việc thực hiện nguyên
lý “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố của quá trình dạy học (Theo tài liệu ôn tập nghiệp vụ
chuyên ngành thiết bị)
Trong quá trình dạy học, TBDH chịu sự chi phối của nội dung và PPDH Ngược lại, TBDH có vai trò hỗ trợ cho nội dung và PPDH Nội dung dạy học sẽ quy định những đặc điểm cơ bản của TBDH bởi khi sử dụng TBDH nhất thiết phải tính đến một cách toàn diện các đặc điểm về nội dung, chương trình Mỗi TBDH khi được sử dụng cần được cân nhắc, lựa chọn để phù hợp với nội dung, đáp ứng được các yêu cầu về khoa học, thẩm mỹ, an toàn cho GV và HS nhằm đạt được MTDH đã đề ra Thiết bị dạy học sẽ giúp GV tổ chức tốt quá trình học tập, HS dưới sự hướng dẫn của GV có thể tự khai thác nội dung chương trình, TBDH nếu có đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chủng loại, đảm bảo về chất lượng và phù hợp với nội dung chương trình sẽ có tác dụng lớn đến việc thực hiện có hiệu quả PPDH Vì vậy, TBDH là một bộ phận không thể thiếu của PPDH Hầu hết các TBDH hiện nay đều là các sản phẩm khoa học kĩ thuật có
Trang 36tính năng động và mục đích sư phạm rõ rệt, chứa đựng hàm lượng tri thức phong phú, đồng thời đóng vai trò là đối tượng nhận thức
Thiết bị dạy học đóng vai trò là “người minh chứng khách quan” những vấn đề lý luận, liên kết giữa lý luận và thực tiễn Mặt khác, TBDH là phương tiện thực nghiệm, trực quan Bất kì một hoạt động nào của con người cũng luôn đi liền với tư duy và tư duy luôn gắn kết với hoạt động Vì vậy, TBDH sẽ tạo ra sự trọn vẹn của hoạt động nhận thức
Thiết bị dạy học có vai trò quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học
và nâng cao chất lượng giáo dục
Thiết bị dạy học được xem là một nhân tố quan trọng để đổi mới PPDH Ngoài mối quan hệ với mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học TBDH còn có mối quan hệ chặt chẽ, tác động mạnh đến các thành tố khác như GV (người dạy, người tổ chức, điều khiển) và HS (người học, chủ thể tự điều khiển) của quá trình dạy học nhằm tạo nên sự cộng tác tối ưu giữa lực lượng tham gia quá trình dạy học với các thành tố khác của quá trình dạy học
Sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học còn giúp làm giảm lối dạy học truyền thống, truyền thụ một chiều, “thầy đọc, trò chép”, tăng cường lối dạy học “lấy người học làm trung tâm”, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự giác trong hoạt động học tập, nghiên cứu, trong cả cách tiếp cận tri thức, lĩnh hội tri thức và trình bày những tri thức đã lĩnh hội được TBDH được xem là phương tiện và điều kiện quan trọng để tiến hành quá trình dạy học tích cực TBDH nếu
đủ và đa dạng sẽ cho phép tổ chức nhiều hình thức hoạt động dạy học phong phú góp phần vào việc thực hiện đa dạng hóa các hình thức dạy học
Thiết bị dạy học được xem là nhân tố đảm bảo chất lượng dạy học Do đặc trưng của tư duy hình ảnh, tư duy cụ thể nên trong quá trình dạy học, việc sử dụng phương tiện trực quan đóng vai trò quan trọng đối với việc tiếp thu kiến thức của HS Khoa học đã chứng minh rằng trong các kênh thu nhận thông tin thì kênh hình có hiệu quả cao hơn Với các hình ảnh trực quan mà TBDH mang lại sẽ giúp tạo ấn tượng, biểu tượng về kiến thức cho HS, từ đó giúp các em ghi nhớ nhanh hơn, lâu bền hơn kiến thức Đồng thời TBDH còn góp phần đảm bảo
Trang 37chất lượng các kiến thức trong dạy học như tính chính xác, khoa học, tổng quát,
hệ thống, chuyển hóa, vận dụng được và bền vững…
Thiết bị dạy học góp phần nâng cao hiệu quả sư phạm Thiết bị dạy học đặc biệt là các TBDH hiện đại có ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông là công cụ lao động của người GV, giúp GV tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh dễ dàng hơn Sử dụng hiệu quả và hợp
lý TBDH trong dạy học sẽ giúp giảm lý thuyết, tiết kiệm thời gian để mô tả, thể hiện được những yếu tố trong thực tế không thể quan sát, tiếp cận được Các TBDH hiện đại góp phần xây dựng hệ thống kiến thức, củng cố và vận dụng nó vào thực tiễn Thiết bị dạy học không những tạo điều kiện nghiên cứu kĩ hơn các
sự vật hiện tượng mà còn cho phép tìm hiểu các vấn đề trìu tượng một cách cụ thể và tường minh hơn Nhờ các TBDH, một lượng thông tin lớn của bài học có thể được hình ảnh hóa, mô hình hóa, trực quan hóa, phóng to, thu nhỏ, làm nhanh hay chậm… mang lại cho người học một “không gian học tập” rộng, gần với thực tế hơn Thiết bị dạy học có khả năng hỗ trợ rất lớn cho người dạy và người học như đẩy nhanh tốc độ truyền tải thông tin mà vẫn đảm bảo được chất lượng Việc thực hiện các PPDH tích cực có sự hỗ trợ của TBDH sẽ tạo ra và mở rộng vùng cộng tác giữa GV và HS, rèn luyện kĩ năng thực hành nhằm củng cố kiến thức đồng thời làm tăng khả năng tự học, tự nghiên cứu, kích thích tính chủ động, tích cực, sáng tạo, tăng cường độ lao động của cả GV và HS trong suốt quá trình dạy học, tăng cường kĩ năng, kĩ xảo cho HS, học đi đôi với hành, bài học được gắn với đời sống thực tế, nhờ vậy, không khí học tập trở nên sôi nổi từ đó nâng cao hiệu quả học tập
Thiết bị dạy học phản ánh các đối tượng nghiên cứu, phản ánh quá trình dạy học Thiết bị dạy học chứa đứng trong nó di sản vật chất và phi vật chất của các thế hệ trước để lại Đó là các thông tin về các đối tượng vật chất Ngoài ra, TBDH còn là biểu trưng văn hóa của nền giáo dục Nó là phương tiện để tái hiện kiến thức và phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học, giúp rút ngắn quá trình nhận thức và tạo niềm tin khoa học cho người học
Trang 381.3.2 Đặc trưng, yêu cầu, của thiết bị dạy học
1.3.2.1 Đặc trưng của thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông
- Thiết bị dạy học ở trường phổ thông rất phong phú và đa dạng
- Thiết bị dạy học ở trường phổ thông là sự kết hợp các tính chất khoa học,
sư phạm và kinh tế: Tính khoa học là mức độ chuẩn xác trong việc phản ánh hiện thực; Tính sư phạm là sự phù hợp với các yêu cầu về mặt sư phạm như độ rõ, kích thước, màu sắc, dễ sử dụng phù hợp với tâm sinh lý học sinh; Tính kinh tế
là giá thành tương xứng với hiệu quả giáo dục - đào tạo
Bảng 1.1 Danh mục TBDH tối thiểu cấp THPT
(Thông tư số 01/2010/TT-BGDĐT, ngày 18/01/2010 của Bộ GD & ĐT)
cho lớp
Ghi chú
1 Công nghệ Tranh ảnh, mẫu vật, dụng cụ 10,11,12
2 Địa lý Bản đồ, tranh ảnh, băng đĩa… 10,11,12
4 Hóa học Tranh ảnh, mô hình, dụng cụ, hóa chất 10,11,12
5 Hoạt động NGLL Tranh ảnh, băng đĩa 10,11,12
7 Lịch sử Tranh ảnh, lược đồ, băng đĩa 10,11,12
9 Sinh học Tranh ảnh, mô hình, dụng cụ, hóa chất 10,11,12
16 Vật lý Dụng cụ, phần mềm, thiết bị 10,11,12
17 Thể dục, GDQP Tranh ảnh, dụng cụ, mô hình, băng đĩa 10,11,12
18 TB dùng chung Đầu đĩa, Tivi, máy tính, máy quay phim,
đầu kĩ thuật số, máy Photocoppy
10,11,12
Trang 391.3.2.2 Yêu cầu đối với thiết bị dạy học
Thiết bị dạy học cần phải đáp ứng được một số yêu cầu sau:
- Phải phù hợp với nội dung chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học
- Dễ sử dụng, tốn ít thời gian trên lớp
- Kích thước, màu sắc phù hợp
- Đảm bảo an toàn trong vận chuyển, bảo quản, sử dụng
- Có tài liệu hướng dẫn sử dụng cụ thể
1.3.3 Phân loại thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông
1.3.3.1 Phân loại thiết bị dạy học
Thiết bị dạy và học là tập hợp các đối tượng vật chất mà người GV sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS, còn đối với HS đó là các nguồn tri thức, là phương tiện giúp HS lĩnh hội nội dung bài học, hình thành kĩ năng
Sơ đồ 1.2 Cấu trúc hệ thống TBDH (Theo tài liệu ôn tập nghiệp vụ chuyên
ngành thiết bị)
Trang 40Có nhiều cách phân loại thiết bị dạy học
a Phân loại theo cách sử dụng
Người ta thường phân thành hai loại:
- Thiết bị dạy và học truyền thống, là những phương tiện được dùng từ xưa tới nay trong dạy học như bảng viết, tranh vẽ, mô hình…
- Thiết bị dạy và học hiện đại, là những thiết bị dạy và học mới được đưa
và nhà trường như các sản phẩm công nghệ điện tử viễn thông: camera số, máy chiếu đa phương tiện…
b Phân loại theo điều kiện sử dụng
Theo cách phân loại này, khi sử dụng các TBDH bị phụ thuộc vào những điều kiện bên ngoài
- Nhóm TBDH không dùng năng lượng điện: Tranh ảnh, biểu đồ giáo khoa, bản đồ, lược đồ giáo khoa, bảng biểu, mô hình, mẫu vật…
- Nhóm TBDH dùng năng lượng điện: Phim, đèn chiếu, băng đĩa ghi âm, ghi hình, phần mền dạy học, …
c Phân loại theo tính năng công nghệ và quá trình chế tạo sử dụng
Theo quan điểm này TBDH cùng được chia làm hai nhóm:
Nhóm 1: Các thiết bị thông thường bao gồm:
- Loại tự nhiên, nguyên mẫu: Các vật tự nhiên, vật thật như cây, hoa quả,
động vật, hóa chất; sử dụng lời nói và các cách biểu đạt ngôn ngữ như cử chỉ, hành động…
- Dụng cụ giảng dạy và học tập: Các dụng cụ dùng chung: Bảng, phấn,
bàn ghế…; dụng cụ cá nhân như vở, thước, máy tính, bút viết…
- Tài liệu giáo khoa: SGK, sách GV, sách tham khảo, bản đồ, tranh ảnh…
Nhóm 2: Nhóm các thiết bị kĩ thuật bao gồm:
Các thiết bị nghe nhìn: Đài, băng đĩa ghi âm, ghi hình, máy ảnh, kính lúp,
kích hiển vi, máy chiếu projector,…
Các máy móc kĩ thuật thực hành, thực nghiệm, thí nghiệm theo môn học Các phương tiện tương tác mạnh: Máy vi tính và các phần mền dạy học,
sử dụng thông tin trên mạng Internet…