1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty may sài gòn 3 cho sản phẩm jean trên thị trường nội địa , luận văn thạc sĩ

125 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn một cách tổng quát, trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là sự ganh đua giữa những người theo đuổi cùng mục đích nhắm đánh bại đối thủ và giành cho mình lợi thế nhiều nhất .Theo ý ng

Trang 1

-

ĐẶNG MINH DIỆU HUYỀN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY MAY SÀI GÒN 3 CHO SẢN PHẨM

JEAN TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HCM - Năm 2012

Trang 2

-

ĐẶNG MINH DIỆU HUYỀN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY MAY SÀI GÒN 3 CHO SẢN PHẨM

JEAN TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS NGUYỄN QUANG THU

TP.HCM - Năm 2012

Trang 4

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

2.Mục tiêu nghiên cứu

3.Đối tượng nghiên cứu

4.Phương pháp thực hiện đề tài

5 Nội dung thực hiện

Trang

CHƯƠNG 1: CƠ S Ở LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRAN H CỦA SẢN

PHẨM

1.1Tổng quan về năng lực cạnh tranh sản ph ẩm……… 1

1.1.1 Cạnh tranh và các hình thức cạnh tranh………

1.1.2 Năng lực cạnh tranh sản phẩm……… 3

1.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh ………. 7

1.2.1 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ……… 7

1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm ……… 11

1.2.3 Các yếu tố môi trường tác động đến năng lực cạnh tranh ……… 17

1.2.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô………

1.2.3.2 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô……… 20

1.2.3.3 Các yếu tố thuộc mô hình chuỗi giá trị của MiChael Porter……… 23

Tóm tắt chương 1……… … 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRAN H CHO SẢN PHẨM JEAN CỦA CÔNG TY MAY S ÀI GÒN 3 TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 2.1 Tổng quan về Công Ty May S ài Gòn 3……… 28

2.2 Phân tích năng lực cạnh tranh của công ty cho sản phẩm Jean trên thị trường nội địa……… 32

2.2.1 Về thị trường………

2.2.2 Xây dựng thanh đo NLCT của công ty cho sản phẩm jean ……… 34

2.2.3 Mẫu khảo sát và lựa chọn đối thủ cạnh tranh ……… 35

2.2.4 Phương pháp xử lý dữ liệu……… 35

Trang 5

2.2.5.3 Về năng lực công nghệ ……… 39

2.2.5.4 Năng lực nhân sự ……… 40

2.2.5.5 Năng lực sản xuất ……… 41

2.2.5.6 Năng lực tài chính ……… 42

2.2.5.7 Năng lực tiếp thị ……… 43

2.2.5.8 Đặc tính sản phẩm ……… 44

2.2.5.9 Năng lực về giá……… 46

2.2.5.10 Năng lực thương hiệu ……… 47

2.2.5.11 Năng lực dịch vụ khách hàng ……… 49

2.2.5.12 Xác định đối thủ cạnh tranh trực ti êp……… 51

2.2.5.13 Một số dữ liệu thống kê ……… 54

2.2.6 Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của công ty cho sản phẩm jean 58

2.3 Phân tích các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty cho sản phẩm jean ……… 59

2.3.1 Môi trường vĩ mô……… ….

2.3.1.1 Môi trường chính trị, pháp lý………

2.3.1.2 Môi trường kinh tế……… 60

2.3.1.3 Môi trường xã hội-dân cư……… 61

2.3.1.4 Môi trường công nghệ……… 63

2.3.2 Môi trường vi mô……… 64

2.3.2.1 Áp lực từ khách hàng và nhà phân phối………

2.3.2.2 Áp lực từ nhà cung cấp……… 68

2.3.2.3 Áp lực từ sản phẩm thay thế……… 70

2.3.2.4 Cạnh tranh trong nội bộ ng ành……… 71

2.3.2.5 Những đối thủ tiềm năng……… 72

2.3.2.6 Ma trận tổng hợp các yếu tố b ên ngoài……… 73

2.3.3 Các yếu tố thuộc nội bộ doanh nghiệp ……… 75

2.3.3.1 Nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức………

2.3.3.2 Năng lực tài chính……… 79

Trang 6

2.3.3.6 Mối quan hệ với nhà cung cấp……… 86

2.3.3.7 Cơ sở hạ tầng……… ………

Tóm tắt chương 2……… 88

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY MAY S ÀI GÒN 3 CHO SẢN PHẨM JEAN 3.1 Các tiền đề xây dựng giải pháp ……… 89

3.1.1 Mục tiêu của công ty Sài Gòn 3 ………

3.1.2 Quan điểm định hướng giải pháp ………

3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cho sản phẩm jean … 90 3.2.1Nhóm giải pháp 1: Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm………… 91

3.2.2 Nhóm giải pháp 2: Nâng cao quảng bá thương hiệu và chăm sóc khách hàng 93 3.2.3 Nhóm giải pháp 3: Mở rộng mạng lưới phân phối……… 95

3.2.4 Nhóm giải pháp 4: Giải pháp về giá……… 97

3.2.5 Nhóm giải pháp 5 Đào tạo và nâng cao nhận thức của nhân viên bán hàng… 99 3.2.6 Giải pháp nâng cao năng lực t ài chính ……… 99

3.2.7 Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất ……… 100

3.2.8 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ……… 100

Tóm tắt chương 3 ……… 102

KẾT LUẬN……… ……… 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các ảnh hưởng chủ yếu của môi trường đối với tổ chức 18 Hình 1.2 Mô hình 5 tác lực cạnh tranh của Michael Porter 21

Hình 2.2 Vị trí của sản phẩm Jean của SG3 so với các công ty khác 52

Trang 7

Biểu đồ 2.3 Giá người tiêu dùng mua sản phẩm jean. 56

Biểu đồ 2.6 Các địa điểm khách hàng thường mua sản phẩm Jean 58

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Doanh số, lợi nhuận qua các năm của Trung Tâm Thời Trang. 31

Bảng 2.14 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá các th ương hiệu 51

Bảng 2.19 Bảng giá bán các sản phẩm jean của SG3 v à các đối thủ khác 84

Bảng 2.20 Bảng tóm tắt các yếu tố trong chuỗi giá trị của công ty. 87

Bảng 3.1 Bảng tạm tính giá bán các sản phẩm jea n của SG3 98

Trang 8

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA

SẢN PHẨM 1.1 Tổng quan về năng lực cạnh tranh của sản phẩm

- Ở Việt Nam, đề cập đến “cạnh tranh ” một số nhà khoa học cho rằng cạnh tranh là vấn đề dành lợi thế về giá cả hàng hoá- dịch vụ và đó là phương thức để dành lợi nhuận cao nhất cho các chủ thể kinh tế Nói khác đi là dành lợi thế để hạ thấp các yếu tố “đầu vào” của chu trình sản xuất kinh doanh và nâng cao giá của

“đầu ra” sao cho mức chi phí thấp nhất

Nhìn một cách tổng quát, trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là sự ganh đua giữa những người theo đuổi cùng mục đích nhắm đánh bại đối thủ và giành cho mình lợi thế nhiều nhất Theo ý nghĩa kinh tế, cạnh tranh là qúa trình kinh tế

mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp ( cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn kinh doanh ) để đoạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu là chiếm lĩnh thị trường, tối đa hoá lợi nhuận,…Trên phương diện toàn nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển.Cạnh tranh khiến cho các nguồn lực được phân bố một cách hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng tối ưu các nguồn lực, và điều đó cũng góp phần nhằm nâng cao đời sống xã hội Trên phương diện của doanh nghiệp, cạnh tranh chính là áp lực và cũng đồng thời là động lực cho doanh nghiệp phát triển nội lực bản thân nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Nhờ có cạnh tranh ngày càng diễn ra một cách gay

Trang 9

gắt đã buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn tự đổi mới, hoàn thiện bản thân mình về: công nghệ, chiến lược, quản lí,

Theo (Porter, 2009) có nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau như: cạnh tranh giữa các quốc gia, cạnh tranh giữa các ngành (hay còn gọi là cạnh tranh ngành), cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành, hay cạnh tranh sản phẩm Trong nghiên cứu này, tôi chủ yếu đi sâu vào hình thức cạnh tranh sản phẩm

Cạnh tranh quốc gia là sự ganh đua về hiệu quả kinh tế vĩ mô, về năng lực

của một nền kinh tế giữa các quốc gia với nhau nhằm duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối Cạnh tranh quốc gia sẽ dẫn tới sự thay đổi vị thế của các quốc gia trên trường quốc tế đồng thời cũng góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển bền vững của các quốc gia cũng như sự phát triển ổn định của nền kinh tế thế giới

Cạnh tranh giữa các ngành là sự ganh đua về sự phát triển, tốc độ và hiệu

quả phát triển giữa các ngành trong một nền kinh tế Hình thức cạnh tranh này sẽ dẫn tới sự thay đổi về mặt bằng giá của nền kinh tế đó Trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh giữa các ngành khác nhau của các quốc gia khác nhau cũng dẫn đến mặt bằng giá khác nhau theo các thời kỳ căn cứ vào năng suất lao động của thời kỳ đó

Cạnh tranh doanh nghiệp trong ngành là sự ganh đua nhau giữa các doanh nghiệp trong việc thoả mãn tốt nhất nhu cầu và mong muốn của khách hàng Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến lợi nhuận bình quân ngành

Các học thuyết kinh tế thị trường dù ở trường phái nào đều thừa nhận rằng, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung - cầu và giá cả hàng hoá là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của cơ chế thì trường, cạnh tranh là linh hồn của sản phẩm

Cạnh tranh sản phẩm là sự ganh đua về chất lượng, giá cả, hình thức, mẫu

mã… của các sản phẩm cùng loại nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu và thị hiếu của

Trang 10

người tiêu dùng Với quan điểm này, cạnh tranh sản phẩm có nhiều hình thức khác nhau như: cạnh tranh về đặc tính, cạnh tranh về giá cả, cạnh tranh về hình thức, cạnh tranh về thương hiệu, ngoài ra còn cạnh tranh về thị phần Vấn đề cạnh tranh sản phẩm buộc các nhà sản xuất phải làm sao để sản xuất ra những sản phẩm với chất lượng tốt bằng chi phí rẻ nhất với thời gian giao hàng sớm nhất

Cạnh tranh sản phẩm và cạnh tranh doanh nghiệp là hai hình thức cạnh tranh luôn gắn liền với nhau Cạnh tranh sản phẩm là một bộ phận của cạnh tranh doanh nghiệp, có mối liên hệ mật thiết với cạnh tranh doanh nghiệp cũng như các hình thức cạnh tranh khác, góp phần thúc đẩy cho nhau cùng phát triển Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong nền kinh tế thị trường đều hướng tới mục tiêu tối

đa hoá lợi nhuận Mục tiêu đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp mong muốn bán được nhiều sản phẩm hơn đối thủ, thu được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn đối thủ Để đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp cần có năng lực cạnh tranh so với đối thủ

Nhưng nhìn chung, mọi hình thức cạnh tranh đều có vai trò tích cực trong nền sản xuất hàng hoá Thực tế cho thấy ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thường trì trệ, bảo thủ, kém phát triển Nhưng bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng đồng thời để lại nhiều hậu quả tiêu cực Đó là sự phân hoá người sản xuất hàng hoá, làm phá sản những người sản xuất gặp rủi ro, tai nạn hoặc rơi vào những hoàn cảnh, điều kiện không thuận lợi

1.1.2 Năng lực cạnh tranh sản phẩm

Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh Vì vậy cũng giống như cạnh tranh, năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ

Năng lực canh tranh quốc gia , theo Phạm Thị Bích Ngọc (2010, trang 3)

“Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thế giới

Trang 11

(WEF) năm 1997 đã nêu ra: “ năng cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên

cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác.Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững Ở Việt Nam năng lực cạnh tranh cấp quốc gia còn thấp đứng thứ 65 trên 80 nước (năm 2002), tăng 5 bậc so với năm 2001 (là 60/75 nước).”

Nguyễn Minh Tuấn (2010) cho rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp, là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh

trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Thực tế cho thấy không một doanh nghiệp nào có khả năng thoả mãn đầy đủ tất cả các yêu cầu của khách hàng, thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: giá

cả, chất lượng sản phẩm và dịch vụ, kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng, thông tin và xúc tiến thương mại, năng lực nghiên cứu và phát triển, thương hiệu và

uy tín của doanh nghiệp, trình độ lao động, thị phần và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp

Trang 12

Trong nền kinh tế thị trường, nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp chính là năng lực cạnh tranh của sản phẩm Tuy nhiên, cạnh tranh sản phẩm là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau, nên có các quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh sản phẩm Có thể dẫn ra một số quan điểm như sau

Năng lực cạnh tranh sản phẩm là tổng hoà các đặc tính về tiêu dùng và giá trị vượt trội của sản phẩm trên thị trường, có nghĩa là sự vượt trội của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh cùng loại trong điều kiện cung vượt cầu

Theo (Lê Văn Được, 2004) cho rằng năng lực cạnh tranh sản phẩm là sự vượt trội của nó so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường Sự vượt trội đó chính là lợi thế của sản phẩm, nó gồm nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài Đó là yếu tố về chất lượng và giá thành sản phẩm, sự đa dạng về chủng loại và mẫu mã của sản phẩm, dịch vụ chăm sóc khách hàng đi kèm theo sản phẩm, hàm lượng công nghệ của sản phẩm; bên cạnh đó còn có yếu tố về thương hiệu Thường một sản phẩm không thể thoả mãn tốt tất cả các nhu cầu của khách hàng Trong thực tế, sản phẩm thường chỉ có thể thoả mãn ở mức tốt nhất một vài nhu cầu còn các nhu cầu khác thường chỉ được thoả mãn ở mức trên tối thiểu Vì vậy, doanh nghiệp cần nắm vững lợi thế cạnh tranh sản phẩm của mình trên thị trường để tập trung phát huy lợi thế đó đồng thời nâng cao các mặt chưa phải là thế mạnh để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng

Theo Phạm Thị Bích Ngọc (2010, trang 3) cho rằng : “Một sản phẩm hàng hoá được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì… hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hoá cùng loại Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp”

Trang 13

Với cách tiếp cận trên, năng lực cạnh tranh sản phẩm có thể hiểu là sự vượt trội so với các sản phẩm cùng loại về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm tham gia cạnh tranh đều đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng Có nghĩa

là, một sản phẩm đem lại giá trị sử dụng cao nhất trên một đơn vị giá cả là những sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao hơn Trên thực tế, mỗi người tiêu dùng có cách lựa chọn hàng hoá riêng cho mình Tuy nhiên, có những tiêu chí chung cho tất

cả các loại sản phẩm, hàng hoá mà nhà sản xuất phải đáp ứng ở mức tối thiểu thì mới có thể đem sản phẩm của mình ra thị trường Đó là, hàng xuất khẩu phải đáp ứng tối thiểu tiêu chuẩn quốc tế (ISO); còn ở Việt Nam, phải đảm bảo tiêu chuẩn quốc gia (TCVN)

Một doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trước tiên phải nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm mà mình sản xuất kinh doanh Năng lực cạnh tranh sản phẩm là nền tảng cho một doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh của mình trên thị trường Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm sẽ kéo theo việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và từ đó cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải luôn chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm mà doanh nghiệp mình sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp đó mới có thể tồn tại và phát triển ngày càng lớn mạnh Đặc biệt khi Việt Nam vừa trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, chúng ta sẽ phải chịu sức

ép cạnh trạnh tranh mạnh hơn ở cả ba cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, ở

cả thị trường trong nước và quốc tế Biểu hiện trước hết là ngay ở thị trường trong nước, ở sự cạnh tranh của sản phẩm trong nước với sản phẩm nước ngoài do sản phẩm trong nước không còn nhận được sự bảo hộ như trước kia Vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là vấn đề cấp thiết đối với tất cả các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay nếu muốn tồn tại và phát triển

Trang 14

Như vậy, ba cấp độ cạnh tranh: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc lẫn nhau và tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, xét trên cả ba cấp độ này, năng lực cạnh tranh của chúng ta đều yếu kém và tụt hậu Điều này có thể thấy rõ ở bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh của các nước do Diễn đàn Kinh tế Thế giới xếp loại, đồng thời nhiều mặt hàng trong nước đang bị các mặt hàng cùng loại nhập khẩu từ nước ngoài cạnh tranh mạnh mẽ và chiếm lĩnh thị trường Đặc biệt hàng hoá Việt Nam không thể cạnh tranh được với hàng hoá Trung Quốc về giá cả và chủng loại, và phần lớn người tiêu dùng vẫn ưa thích dùng hàng ngoại với tâm lý hàng ngoại chất lượng tốt hơn hàng nội nên dù giá cả hàng ngoại có đắt hơn thì vẫn được ưa chuộng hơn hàng sản xuất trong nước

1.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh

1.2.1 Yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.1.1 Trình độ và năng lực quản lý

Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng [9] Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thể hiện ở các mặt sau:

-Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: được thể hiện qua trình độ học

vấn, kiến thức liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (từ pháp luật, thị trường, ngành hàng,… đến kiến thức về xã hội, nhân văn)

-Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, tổ chức

bộ máy quản lý và phân định chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận Việc hình thành bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ và hiệu quả cao

có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm ra quyết định nhanh chóng, chính xác,

mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý của doanh nghiệp Nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 15

-Năng lực hoạch định (hoạch định chiến lược, kế hoạch, điều hành tác nghiệp): Năng lực này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả

hoạt động, ảnh hưởng lớn tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo M Porter, năng lực quản lý còn thể hiện ở tốc độ thay thế nhân sự trước các biến đổi

1.2.1.2 Trình độ công nghệ

Công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất, đến trình độ tự động hoá của doanh nghiệp Công nghệ thân thiện môi trường là xu thế và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp

1.2.1.3 Trình độ lao động

Lao động vừa là yếu tố năng động nhất, qu yết định hiệu quả sản xuất kinh doanh Lực lượng lao động sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, tham gia cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá quá trình sản xuất Trình độ của lao động tác động rất lớn đến chất lượng và độ tinh xảo của sản phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chi phí của doanh nghiệp Đây là một yếu tố tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần chú trọng bảo đảm cả chất lượng và số lượng lao động, nâng cao tay nghề của người lao động, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý và cải tiến

1.2.1.4 Năng lực tài chính

Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả năng quản lý tài chính Theo M Porter, năng lực tài chính thể hiện ở khả năng quản lý tài chính (hu y động vốn, quản lý vốn, khả năng sử dụng vốn có hiệu quả, đẩy nhanh quay vòng vốn) Việc huy động vốn kịp thời sẽ đáp ứng nhu cầu mua vật tư, nguyên liệu, thuê nhân công, mua sắm

Trang 16

thiết bị, đổi mới công nghệ, phát triển thị trường,… Năng lực tài chính là yếu tố trung tâm phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp trong cạnh tranh Để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải củng cố và phát triển nguồn vốn, tăng vốn tự có, mở rộng vốn vay, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn để tạo u y tín đối với những người cho vay

1.2.1.5 Năng lực marketing

Năng lực marketing của doanh nghiệp trước hết là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường, hoạch định chiến lược marketing và triển khai các chương trình marketing hỗn hợp (4P), là khả năng quảng bá và phát triển thương hiệu Năng lực marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Khảo sát nhu cầu thị trường để lựa chọn thị trường mục tiêu phù hợp, xây dựng chiến lược sản phẩm, định giá và phát triển hệ thống phân phối là những hoạt động sống còn của doanh nghiệp Trong điều kiện bùng

nổ thông tin về hàng hoá sản phẩm, việc xây dựng thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp là một vấn đề tối quan trọng Bên cạnh đó chính sách khuyến mãi, dịch vụ bán hàng và hậu mãi đóng vai trị quan trọng đến việc thu hút

và xây dựng đội ngũ khách hàng trung thành Do đó, có thể nói, năng lực marketing là yếu tố quan trọng của năng lực cạnh tranh

1.2.1.6 Năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D)

Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp được cấu thành từ các yếu tố: nguồn nhân lực nghiên cứu, thiết bị nghiên cứu, tài chính cho hoạt động R&D Yêu cầu của thị trường ngày càng khắt khe, sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt, tốc độ phát triển của công nghệ như vũ bão đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng tầm công tác nghiên cứu phát triển Năng lực nghiên cứu và phát triển

có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, hợp lý hoá sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, tiết giản chi phí,… qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 17

1.2.1.7 Vị thế của doanh nghiệp

Vị thế của doanh nghiệp là chỗ đứng của doanh nghiệp trên thị trường Vị thế của doanh nghiệp được thể hiện qua thị phần, u y tín thương hiệu, sự hoàn hảo của các dịch vụ Người tiêu dùng thường lựa chọn những sản phẩm mà theo

họ là “số 1” (rẻ nhất, đẹp nhất, bền nhất, dịch vụ tốt nhất,…) Những doanh nghiệp đứng đầu các tiêu thức đó sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn Vị thế cạnh tranh được phân chia như sau :

-Vị thế người dẫn đầu: có thể là dẫn đầu về giá, công nghệ, đổi mới,

chất lượng, thị phần,…

-Vị thế người thách thức: tuy tiềm lực nhỏ hơn người dẫn đầu nhưng

doanh nghiệp xác định mục tiêu cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp dẫn đầu nhằm tranh giành thị trường

-Vị thế người theo sau: doanh nghiệp không thách thức doanh nghiệp

dẫn đầu Thường tồn tại trong các ngành có sản phẩm đồng nhất: sắt thép, phân bón, hoá chất (ngành ít có cơ hội khác biệt hoá nhưng nhạy về giá) Doanh nghiệp cố gắng mang cho khách hàng những lợi điểm về dịch vụ, tài chính, chất lượng Tu y nhiên, doanh nghiệp không thụ động làm theo và không là bản sao của người dẫn đầu, mà là xác định con đường riêng

-Vị thế người lấp chỗ trống: thường có được tỷ suất lợi nhuận cao

Doanh nghiệp bám theo các doanh nghiệp đi trước để tận thu thị trường Những doanh nghiệp theo đuổi vị thế này áp dụng chiến lược đại dương xanh, chiếm lấy những khe hở thị trường, giảm thiểu chi phí cạnh tranh

Ngoài các yếu tố trên, M Porter còn đề xuất thêm các yếu tố sau:

1.2.1.8 Năng lực cạnh tranh về giá

Giá sản phẩm được đặc trưng bởi tổng phí tổn tương đối và phí tổn làm chung với các đơn vị khác Ở những môi trường mà đối thủ cạnh tranh đang mở rộng qu y mô hoặc những yếu tố khác có vai trò then chốt đối với vị thế phí tổn Theo Phan Minh Hoạt, đây là năng lực cạnh tranh về giá thành

Trang 18

1.2.1.9 Năng lực quan hệ với chính quyền

Hoạt động của doanh nghiệp luôn nằm trong sự điều tiết và quản lý của chính qu yền Những doanh nghiệp được lòng chính quyền sẽ có nhiều thuận lợi về

tổ chức sản xuất kinh doanh, cũng như sự hỗ trợ của chính quyền cho các chương trình phát triển Những doanh nghiệp có quan hệ tốt với chính quyền sẽ có nhiều

ưu thế, đặc biệt là trong các dự án chỉ định thầu, vay vốn ưu đãi Những doanh nghiệp không được lòng chính quyền, bị chính qu yền “điểm mặt” sẽ thường xuyên phải đối diện với những đợt kiểm tra “có tính hạch sách” (về an toàn vệ sinh, phòng cháy, môi trường,…)

1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Theo ý kiến tổng hợp của các chuyên gia, do mối quan hệ mật thiết giữa NLCT sản phẩm và NLCT của doanh nghiệp nên các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của sản phẩm sẽ bao gồm :

- Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp ( yếu tố thuộc môi trường vi mô, vĩ

mô )

- Các yếu tố bên trong doanh nghiệp ( sử dụng các yếu tố thuộc mô hình

chuỗi giá trị của Michael Porter )

- Yếu tố thuộc về bản thân sản phẩm: như chất lượng, giá cả sản phẩm,

mẫu mă thương hiệu của sản phẩm, tính độc đáo

Theo ý kiến của Phạm Ngọc Kiểm (2012) viết : “ Trên bình diện sản phẩm cạnh tranh, để thể hiện năng lực cạnh tranh vấn đề cần quan tâm lại có những điểm không tương đồng hoàn toàn với hệ thống chỉ tiêu của doanh nghiệp Khi xem xét khả năng cạnh tranh của sản phẩm theo chúng tôi nó bị chi phối bởi hàng loạt nhân

tố có tính chất lịch sử, kinh tế - xã hội nhất định Tuỳ theo bản sắc dân tộc, thói quen tiêu dùng, cơ chế quản lý, mức thu nhập của dân cư để có cách xác định chỉ tiêu biểu hiện khả năng cạnh tranh sản phẩm khác nhau Nếu như mức thu nhập

Trang 19

thấp, khi mua hàng, vấn đề người mua hàng quan tâm đầu tiên là giá cả, chất lượng

mà doanh nghiệp sản xuất trên thị trường

Một doanh nghiệp có thương hiệu càng nổi tiếng thì càng tạo cho sản phẩm của mình lợi thế trong cạnh tranh Bởi người tiêu dùng thường chỉ tin cậy vào những sản phẩm mang thương hiệu nổi tiếng, những sản phẩm đã có mặt trên thị trường lâu năm nên những sản phẩm mới dù có chất lượng tốt so với các sản phẩm cùng loại đã có mặt trên thị trường vẫn phải mất rất nhiều công sức và thời gian để kiến tạo thị phần và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình Do đó, cùng với quá trình hình thành và phát triển, doanh nghiệp phải từng bước xây dựng và phát triển thương hiệu của mình bằng việc xây dựng hệ thống phân phối, chăm sóc khách hàng, mở đại lý phủ rộng khắp cả nước, bằng chính việc tao dựng uy tín và hình ảnh của công ty trong mắt khách hàng

Thương hiệu của một doanh nghiệp sẽ dần dần được khẳng định bởi chất lượng, giá cả sản phẩm, bởi chính chữ tín của doanh nghiệp khi thực hiện các hợp đồng kinh tế, bởi chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng và được bảo vệ bởi pháp luật khi đã đăng ký bảo hộ thương hiệu

1.2.2.2 Chất lượng sản phẩm

Chất lượng luôn là một trong những yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường Chất lượng là toàn thể những đặc

Trang 20

tính của một thực thể đáp ứng được những nhu cầu đã định và nhu cầu phát sinh (Theo ISO 8402:1994)

Trong đó nhu cầu đã định là những yêu cầu đã được nêu trong hợp đồng và được thể hiện thành những đặc điểm cụ thể với những tiêu chuẩn rõ ràng Những nhu cầu phát sinh được công ty xác định trên cơ sở hiểu biết của mình về thị trường

Hay chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu (nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc) (Theo ISO 9000:2000)

Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức thoả mãn những nhu cầu trong điều kiện tiêu dùng xác định Việc nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp như:

- Hình ảnh của doanh nghiệp tốt đẹp hơn

- Gia tăng thị phần của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp dù đã xây dựng được thương hiệu mạnh, chiếm được một thị phần lớn nhưng nếu không đảm bảo chất lượng sản phẩm, không có biện pháp

Trang 21

nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ bị các đối thủ cạnh tranh qua mặt chiếm lĩnh mất thị trường vốn có và xấu hơn nữa là bị đào thải khỏi thị trường

Mặt khác, khi xã hội phát triển, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao thì họ sẵn sàng trả giá cao để được tiêu dùng những sản phẩm có thương hiệu và

có chất lượng tốt

1.2.2.3 Chủng loại và giá cả sản phẩm

Một sản phẩm dù tốt đến đâu cũng không thể đáp ứng được tốt nhất tất cả các nhu cầu, mong muốn của các khách hàng Vì vậy, doanh nghiệp phải sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm nhằm đáp ứng tốt nhất từng nhu cầu nhỏ nhất của khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty so với đối thủ

Thực tế cho thấy rằng, bất cứ doanh nghiệp nào dù chỉ tập trung sản xuất kinh doanh ở một lĩnh vực thì cũng luôn có rất nhiều chủng loại và mẫu mã sản phẩm để khách hàng lựa chọn, đáp ứng được nhu cầu của nhiều kiểu khách hàng

Theo quan điểm Marketing, khách hàng thường có xu hướng quyết định mua những sản phẩm có chất lượng tốt và giá cả phải chăng Như vậy, giá sản phẩm cũng chính là một công cụ có thể tạo lợi thế cạnh tranh cho mỗi doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có thể cung cấp sản phẩm với chất lượng tương đương với các sản phẩm khác trên thị trường nhưng lại có mức giá thấp hơn thì đó chính là một trong những chìa khoá mà doanh nghiệp cần phải tận dùng để tạo lợi thế cho mình trong cạnh tranh Do đó, trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn phải tìm cách giảm chi phí sản xuất để giảm giá thành sản phẩm, giảm giá bán Chi phí và giá cả sản phẩm có thể được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau:

- Năng suất lao động: cho chúng ta biết hiệu quả sản xuất của một lao động hoặc 1 giờ lao động của toàn bộ công nhân của doanh nghiệp

W = Q/T

Trang 22

Với Q là khối lượng sản phẩm (hiện vật hoặc giá trị) và T là lượng lao động bình quân hoặc thời gian lao động bình quân trong kỳ

- Hệ số chi phí nguồn lực trong nước: được tính bằng tỷ lệ giữa chi phí các nhân tố tính theo giá quốc tế so với giá trị gia tăng của sản phẩm Hệ số này sẽ phản ánh cho chúng ta chi phí thực sự mà xã hội phải trả để sản xuất ra một sản phẩm

i

i VA

DC DRC 

i

DC : chi phí trong nước cho các yếu tố sản xuất theo chi phí cơ hội để sản xuất ra sản phẩm i

i

VA: giá trị gia tăng của sản phẩm i theo giá thế giới

Dựa vào hệ số chi phí nguồn lực DRC chúng ta có thể đánh giá được năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cụ thể là:

Xuất phất từ việc các doanh nghiệp Việt Nam có trình độ công nghệ tương đương nhau nên chất lượng sản phẩm cũng không có sự khác biệt đáng kể có thể tạo nên lợi thế; trong khi đó, quy mô của các doanh nghiệp nước ta chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguồn vốn hạn hẹp nên không thể tạo ra sự khác biệt, tạo loại thế về giảm giá thành nhờ tăng quy mô sản xuất Do đó, các doanh nghiệp thường tạo ra sự khác biệt và giành lợi thế cho mình nhờ chất lượng dịch vụ chăm sóc

Trang 23

khách hàng và các dịch vụ khác như hỗ trợ kinh doanh cho các đại lý Đối với nhãn hiệu mới và chưa có tên tuổi thì dịch vụ hỗ trợ kinh doanh là một thách thức lớn bởi

nó liên quan đến khả năng tài chính, khả năng cho mượn

Dịch vụ chăm sóc khách hàng của mỗi doanh nghiệp ngoài việc xử lý các sự

cố liên quan đến sản phẩm, thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng theo đúng cam kết của doanh nghiệp đối với khách hàng, dịch vụ chăm sóc khách hàng còn giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng phát hiện sai sót, nhược điểm của sản phẩm và những đòi hỏi mới của khách hàng để từ đó đưa ra những biện pháp cải tiến sản phẩm cho sản phẩm cũ, phát triển thêm những sản phẩm mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu và mong muốn của khách hàng

Như vậy, bên cạnh chất lượng tốt, thương hiệu mạnh, chủng loại, mẫu mã phong phú, giá cả phải chăng thì dịch vụ chăm sóc khách hàng của một doanh nghiệp càng tốt thì năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp đó càng cao Chúng ta có thể đánh giá chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng bởi các tiêu chí như: sự phong phú của dịch vụ hỗ trợ bán hàng, khả năng giải quyết nhanh nhạy các vấn đề liên quan đến sản phẩm mà khách hàng yêu cầu, thái độ phục vụ và trình độ, khả năng giải quyết công việc của các nhân viên trong bộ phận chăm sóc khách hàng

1.2.2.5 Khả năng thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường mới

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải tự quyết định sự sống còn của mình và tự trả lời các câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất bằng cách nào? Sản xuất cho ai? Vì vậy, muốn tồn tại và phát triển, muốn trả lời được ba câu hỏi trên, doanh nghiệp phải tìm hiểu và nắm vững nhu cầu của khách hàng Một khi đã nắm

rõ nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của khách hàng, doanh nghiệp sẽ trả lời được câu hỏi sản xuất cái gì, sản xuất bằng cách nào và khách hàng mục tiêu mà họ hướng tới

là ai Và cùng với việc lựa chọn đúng sản phẩm sản xuất, cách thức sản xuất và khách hàng mục tiêu, doanh nghiệp phải lựa chọn cách thức phân phối sản phẩm Lựa chọn cách thức phân phối hợp lý, xây dựng được hệ thống phân phối rộng khắp

Trang 24

sẽ giúp sản phẩm của công ty dễ dàng thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường một cách hiệu quả và vững chắc từ đó dần mở rộng thị phần cho sản phẩm của mình

1.2.2.6 Mức hấp dẫn của sản phẩm về mẫu mã, kiểu dáng…so với đối thủ cạnh tranh

Được đánh giá thông qua kiểu dáng, màu sắc, bao bì sản phẩm Trong cuộc sống hiện đại thì tiêu chí này ngày càng có vai trò quan trọng Một sản phẩm có mẫu mã, màu sắc, kiểu dáng đẹp sẽ có sức hấp dẫn lớn đối với khách hàng Mặc dù đây chỉ là chi tiêu định tính nhưng là yếu tố không thể thiếu tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm

1.2.3 Các yếu tố môi trường tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm

1.2.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô

Dựa theo (Phạm Xuân Lan, 2007), các yếu tố của môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mà cụ thể là năng lực cạnh tranh

của sản phẩm là :

Trang 25

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các ảnh hưởng chủ yếu của môi trường đối với tổ

Lãi suất ngân hàng: lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm Tỷ lệ lãi suất là rất quan trọng khi người sản xuất cũng như người tiêu dùng thường xuyên vay tiền để thanh toán các khoản mua bán hàng hóa của mình Đồng thời, lãi suất còn quyết định mức chi phí về vốn và do đó quyết định mức đầu tư Nếu lãi suất ngân hàng cho vay cao sẽ dẫn đến chi phí đầu vào tăng lên, giá thành sản phẩm cũng vì thế tăng lên Do đó năng lực cạnh tranh của hàng hóa sẽ giảm đi nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh về vốn Và ngược lại, nếu lãi suất ngân hàng thấp sẽ làm giảm chi phí đầu vào, giá thành sản

Ảnh hưởng của

- Kinh tế

- Xã hôi, nhân khẩu

- Văn hóa, địa lý

- Chính trị, luật pháp

và chính phủ

- Công nghệ

- Các đối thủ cạnh tranh

- Sản phẩm

- Dịch vụ

- Thị trường

Các CƠ HỘI và NGUY CƠ của tố chức

Trang 26

phẩm hạ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất và cạnh tranh với các đối thủ khỏc trờn thị trường bằng công cụ giá

Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị của đồng tiền trong nước với đồng tiền của quốc gia khác Thay đổi tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm đặc biệt đối với các sản phẩm phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào hay các sản phẩm có lợi thế về xuất khẩu Nếu đồng nội

tệ lên giá, sẽ khuyến khích nhập khẩu vì hàng nhập khẩu sẽ giảm và như vậy khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước; đồng thời xuất khẩu sẽ giảm do sản phẩm trong nước tăng giá Và ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá thì khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu cũng sẽ tăng lên

Tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người: nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao dẫn đến khả năng tiêu thụ hàng hóa cao Nền kinh tế phát triển cùng với các yếu tố như lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoỏi,… ổn định sẽ tạo cơ hội tốt cho các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài Từ đó dẫn tới nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm

 Các yếu tố chính trị, pháp luật

Yếu tố chính trị, pháp luật được thể hiện ở mức độ ổn định chính trị của quốc gia, cơ sở hành lang pháp lý… Các sản phẩm muốn được đưa ra tiêu thụ trên thị trường phải tuân theo các quy định của Chính phủ về chất lượng, mẫu mó…Những quy định này có thể là cơ hội hoặc mối đe dọa với các sản phẩm Đây cũng là yếu

tố ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mức đầu tư vốn của nước ngoài vào việc phát triển sản phẩm đồng thời ảnh hưởng đến mức độ chi mua hàng hóa của người tiêu dùng

 Các yếu tố về văn hóa xã hội

Tất cả các doanh nghiệp đều phải phân tích các yếu tố xã hội để nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra đối với sản phẩm của mình Khi một hay nhiều

Trang 27

yếu tố thay đổi chúng có thể tác động đến các sản phẩm như trình độ dân trí, tập quán thị hiếu của người tiêu dùng, truyền thống văn hóa dân tộc… Các yếu tố văn hóa xã hội thường biến đổi hoặc tiến triển chậm nên đôi khi thường khó nhận biết Cùng với sự phát triển kinh tế, sự biến động về các yếu tố văn hóa xã hội ngày càng có tác động mạnh hơn đến sự ra đời và tiêu thụ của các sản phẩm

Đây là yếu tố không những có tác động đáng kể tới sự lựa chọn và tiêu dùng hàng hóa của người tiêu dùng mà còn tác động lớn đến các quyết định của doanh nghiệp khi lựa chọn biểu tượng logo, mẫu mã, kiểu dáng cho sản phẩm…

 Yếu tố về môi trường kinh doanh quốc tế

Mỗi doanh nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, mỗi nền kinh tế lại là một bộ phận cấu thành nền kinh tế thế giới Những thay đổi về môi trường quốc tế có thể xuất hiện cả những cơ hội cũng như nguy cơ về việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và ngoài nước Hiện nay, trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế khi Việt Nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như ASEAN, WTO…thì các doanh nghiệp mà đặc biệt là sản phẩm của ta sẽ chịu tác động lớn của hệ thống luật pháp thế giới Môi trường kinh doanh quốc tế là

cơ hội để sản phẩm Việt Nam có thể vươn ra thị trường rộng lớn nhưng cũng là những thách thức khó khăn buộc các doanh nghiệp phải nâng cao được năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của mình

1.2.3.2 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô ( Môi trường ngành)

Môi trường ngành là môi trường bao gồm các doanh nghiệp cùng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh Môi trường ngành còn được hiểu là môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp, sự tác động của môi trường ngành ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là điều không thể phủ nhận

Môi trường ngành bao gồm năm nhân tố cơ bản là : đối thủ cạnh tranh, người mua, người cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn và các đối thủ thay thế Đó là nhân tố thuộc mô hình 5 sức mạnh của Michael Porter Sự am hiểu các nguồn sức ép cạnh

Trang 28

tranh giữa các doanh nghiệp nhân ra mặt mạnh mặt yếu cũng như các cơ hội và thách thức mà doanh nghiệp ngành đó đã và đang và sẽ gặp phải

Michael Porter đã đưa ra mô hình năm tác lực cạnh tranh gồm (1) Cường độ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong ngành, (2) Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ tiềm năng, (3) Mối đe dọa từ các sản phẩm có khả năng thay thế, (4) Quyền lực thương lượng của người mua, và (5) Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng

Hình 1.2 Mô hình 5 tác lực cạnh tranh của Michael Porter

(Nguồn: Michael Porter, 2010 Chiến lược cạnh tranh Nhà xuất bản Tuổi Trẻ,

trang37)

Trang 29

 Áp lực từ phía khách hàng:

Khách hàng được xem như là sự đe dọa mang tính cạnh tranh khi họ đẩy giá

cả xuống hoặc khi họ yêu cầu chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt hơn làm cho chi phí sản phẩm tăng lên Ngược lại, nếu người mua có những yếu thế sẽ tạo cơ hội để tăng giá sản phẩm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Đây là yếu tố quyết định trực tiếp việc sản phẩm có năng lực cạnh tranh lớn hay không

 Áp lực từ sản phẩm cạnh tranh:

Sản phẩm cạnh tranh là những sản phẩm cùng loại, có cùng tính năng tác dụng của các đối thủ cạnh tranh và cùng được tiêu thụ trên một thị trường Nếu trên thị trường có càng nhiều sản phẩm cạnh tranh và các sản phẩm có sức cạnh tranh thực sự thì càng gây sức ép cho sản phẩm của doanh nghiệp Sản phẩm có thể cạnh tranh bằng giá hoặc bằng các yếu tố như chất lượng, mẫu mã, thương hiệu… Mà hiện nay khi đời sống ngày càng được nâng cao thì sự cạnh tranh bằng các yếu tố chất lượng, mẫu mã, thương hiệu càng mạnh mẽ hơn so với cạnh tranh bằng giá Vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thỡ cỏc doanh nghiệp phải thường xuyên đầu tư đổi mới công nghệ

 Áp lực từ đối thủ tiềm ẩn:

Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện không ở trong ngành nhưng sản xuất cùng một loại sản phẩm và có khả năng tham gia hoạt động kinh doanh trong

Trang 30

ngành đó Khi có đối thủ mới tham gia trong ngành có thể là yếu tố làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm hiện đang trong ngành từ đó làm giảm lợi nhuận của của doanh nghiệp do họ dựa vào khai thác các năng lực sản xuất mới với mong muốn giành được một phần thị phần.Do đó, để bảo vệ cho vị trí cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp thường quan tâm đến việc duy trì hàng rào hợp pháp ngăn sự xâm nhập từ bên ngoài

Theo nhà kinh tế học Joe Bain, ông xác định ba yếu tố trở ngại chủ yếu đối với việc nhảy vào một ngành kinh doanh: sự ưa chuộng sản phẩm, ưu thế về chi phí thấp, tính hiệu quả của sản xuất lớn Nếu các doanh nghiệp có được những lợi thế này sẽ giữ được vị trí cạnh tranh cho sản phẩm của mình và buộc sản phẩm của các doanh nghiệp mới thâm nhập vào đương đầu với những khó khăn lớn

 Áp lực từ các doanh nghiệp trong nội bộ ngành:

Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là yếu tố quan trọng tạo

ra cơ hội hoặc đe dọa cho các doanh nghiệp Nếu sự cạnh tranh là yếu thì sẽ là cơ hội để nâng giá sản phẩm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp còn ngược lại, nếu sự cạnh tranh là gay gắt thì các doanh nghiệp sẽ hạ giá sản phẩm để cạnh tranh về giá

do đó có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp

1.2.3.3 Các yếu tố thuộc mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp sức mạnh từ các nguồn lực hiện có và có thể huy động được với doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu qua nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính tổ chức, kinh nghiệm… Dựa vào mô hình chuỗi giá trị của M.Porter

để đánh giá các yếu tố thuộc nội bộ doanh nghiệp tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mà cụ thể là năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Theo M Porter, doanh nghiệp có thể được xem như một chuỗi các hoạt động chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành đầu ra (chuỗi giá trị-value chain) Các sản phẩm (đầu ra) của doanh nghiệp sẽ được khách hàng nhìn nhận, đánh

Trang 31

giá giá trị theo quan điểm của họ Nếu khách hàng đánh giá cao, họ sẽ sẵn sàng trả mức cao hơn cho sản phẩm của doanh nghiệp; ngược lại, nếu họ đánh giá thấp, thì doanh nghiệp hạ giá xuống Các hoạt động chuyển hóa đó làm gia tăng giá trị cho sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp M Porter gọi đó là các hoạt động tạo ra giá trị và khái quát thành chín nhóm hoạt động và phân ra thành hai loại:

- Các hoạt động chính là những hoạt động liên quan trực tiếp đến việc tạo

ra những hình thái vật chất của sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ Các hoạt động này bao gồm hoạt động hậu cần đầu vào, chế tạo sản phẩm, hầu cần đầu ra, marketing và thực hiện các dịch vụ sau bán hàng

- Các hoạt động hỗ trợ là những hoạt động tạo ra các cơ sở và điều kiện

cần thiết kế để tiến hành các hoạt động chính.Các hoạt động này bao gồm những yếu tố, quá trình thuộc nền tảng chung của doanh nghiệp, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực và hoạt động thu mua đầu vào

Theo M Porter, thực hiện mỗi hoạt động trong chuỗi giá trị đều làm phát

sinh chi phí Diện tích ABCDE trong hình 1.3 thể hiện tổng chi phí thực hiện các

hoạt động tạo ra giá trị, còn diện tích ABFGH thể hiện giá trị do các hoạt động đó tạo ra Giá trị ở đây được hiểu là mức giá tối đa mà khách hàng sẵn sàng trả cho sản phẩm của doanh nghiệp Theo quan điểm kinh tế học, mức giá này được xác định trên đường cầu về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp

Muốn có lợi thế cạnh tranh và thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn trung bình, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động tạo ra giá trị với chi phí thấp hơn so với đối thủ hoặc tạo sự khác biệt để có thể đặt giá bán cao hơn cho hàng hóa, dịch

vụ của mình.Từ đấy có thể thấy rõ hai phương cách cơ bản tạo ra lợi thế cạnh tranh

của doanh nghiệp và thu lợi nhuận cao: thứ nhất, giảm chi phí ( đẩy đường CDE sang trái, làm giảm diện tích ABCDE); thứ hai, tạo sự khác biệt trong sản phẩm

để tăng giá trị cho khách hàng và do đó họ sẵn sàng trả giá cao hơn ( kéo đường FGH sang phải, làm tăng diện tích ABEGH)

Chênh lệch giữa giá trị mà doanh nghiệp tạo ra cho khách hàng với chi phí

để tạo ra giá trị đó (diện tích CGFHED) được coi là biên lợi nhuận Biên lợi

Trang 32

nhuận càng lớn, doanh nghiệp càng có khả năng cạnh tranh cao vì doanh nghiệp đặt giá sản phẩm ngang với giá của đối thủ cạnh tranh, họ sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn Ngay cả khi doanh nghiệp đặt giá thấp hơn thì vẫn có thể thu được tỷ suất lợi nhuận ngang bằng và khi đó sản phẩm của doanh nghiệp còn có lợi thế về giá thấp nên thu hút được nhiều khách hàng, gia tăng thị phần

Hình 1.3 Mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter

(Nguồn: Michael Porter, 2009 Lợi Thế cạnh tranh Nhà xuất bản Tuổi Trẻ,

Trang 33

mang tính chiến lược mà ông gọi là “ định vị chiến lược” Định vị chiến lược có

nghĩa là thực hiện các hoạt động trong chuỗi giá trị theo một cách khác hoặc thực hiện những hành động khác so với các đối thủ cạnh tranh Chính sự khác biệt đó sẽ

tạo nên cho khách hàng nhiều giá trị hơn, họ sẵn sàng trả giá các hơn cho sản phẩm của doanh nghiệp; nói cách khác, doanh nghiệp có thể đặt giá bán cao hơn cho hàng hóa, dịch vụ của mình và tỷ suất lợi nhuận cao hơn trung bình.Ông cũng cho rằng, lợi thế cạnh tranhkhông xuất phát từ một vài hoạt động đơn lẻ mà phụ thuộc vào kết quả của sự tương tác phối hợp của các hoạt động trong chuỗi giá trị Như vậy, M Porter coi lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp có nguồn gốc từ chính các hoạt động và các quá trình trong nội bộ doanh nghiệp Lợi thế đó có thể xuất phát

từ việc doanh nghiệp thực hiện các hoạt động và quá trình một cách hiệu quả hơn,

ít lãng phí hơn và chi phí thấp hơn, hoặc có được những sự khác biệt so với đối thủ và thu được mức giá bán sản phẩm cao hơn Cả hai điều này đều dẫn đến một kết quả chung là làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Trang 34

Tóm tắt chương 1

Nội dung của chương 1 đã nêu lên cơ sở lý luận về cạnh tranh , khả năng cạnh tranh của sản phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng quan điểm của Michael Porter về lý thuyết chuỗi giá trị để xác định các giá trị cỗt lõi của doanh nghiệp Việc xác định các giá trị cỗt lõi của doanh nghiệp sẽ là cơ sở để tác giả đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (DN) cũng như NLCT cho sản phẩm của DN

Theo lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của sản phẩm, cũng như thông qua việc tham khảo ý kiến của chuyên gia, tác giả tổng hợp được 11 yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của sản phẩm Jean như sau : Năng lực về quản trị, năng lực thiết kế, năng lực công nghệ, năng lực nhân sự, năng lực sản xuất, năng lực tài chính, năng lực tiếp thị, đặc tính của sản phẩm, năng lực về giá, năng lực về thương hiệu và năng lực dịch vụ khách hàng

Để đánh giá NLCT của sản phẩm Jean của DN, ngoài việc sử dụng các yếu tố tổng hợp để khảo sát ý kiến của các chuyên gia và nguời tiêu dùng, tác giả kiểm định lại một lần nữa các yếu tố này thông qua mô hình chuỗi giá trị của M.Porter Đây là các bước mà tác giả sẽ thực hiện trong chương 2 để đánh giá khả năng cạnh tranh cho sản phẩm jean của SG3

Trang 35

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM JEAN CỦA CÔNG TY TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 2.1 Tổng quan về công ty Cổ Phần May Sài Gòn 3 và trung tâm thời trang 2.1.1 Sơ lược về công ty

Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÀI GÒN 3

Tên giao dịch : SAIGON 3 GARMENT JOINT –STOCK COMPANY

Tên viết tắt : GATEXIM

Địa chỉ : 86 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh, Việt nam

Văn phòng : 40/32 Quốc lộ 13, Phường Hiệp Bình Phước , Thủ Đức, Tp HCM, Việt Nam

Được thành lập vào năm 1986 với tên gọi là Xí Nghiệp May Sài Gòn 3 trực thuộc Liên Hiệp Xí Nghiệp May Thành Phố

Tháng 3 năm 1993, Xí Nghiệp May Sài Gòn 3 chuyển thành Công Ty May Sài

Gòn 3 trực thuộc Sở Công Nghiệp TP HCM

Từ tháng 10 năm 2001, Công Ty chuyển thể từ Doanh nghiệp Nhà Nước thành Công Ty Cổ Phần May Sài Gòn 3 theo quyết định số 785/QD-TTG - Thủ Tướng Chính Phủ ký ngày 27/06/2001

Công ty Cổ Phần May Sài Gòn 3 hiện bao gồm 2800 lao động với đội ngũ cán

bộ quản lý, nhân viên nghiệp vụ năng động ở các phòng ban và 6 Xí Nghiệp chuyên sản xuất hàng may mặc: Thịnh Phước, Bình Phước, Hiệp Phước, Minako1, Minako2, Minako3; Trung tâm thời trang Evenna; Cao ốc văn phòng cho thuê và các hoạt động đầu tư tài chính khác.Ngành nghề kinh doanh :

- Sản xuất kinh doanh xuất- khẩu hàng may mặc

- Nhập khẩu nguyên phụ liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ và phụ tùng phục vụ cho sản xuất ngành hàng dệt may

Trang 36

- Mua bán nguyên phụ liệu, thiết bị ngành may, quần áo

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của công ty May Sài Gòn 3

(Nguồn: Phòng Tổ Chức- Công Ty Cổ Phần May Sài Gòn 3)

2.1.3 Kinh doanh thời trang

Chúng tôi có nhãn hiệu: EVENNA, KAP’S với các sản phẩm chính:

- Sản phẩm casual cho Nam: quần Jean/kaki, short

- Sản phẩm casual cho Nữ: Quần Jean/ Kaki/ Nhung

- Sản phẩm cho Nữ Trung Niên: Quần co giãn 4 chiều

Với ưu thế là đơn vị sản xuất lâu năm cho những thuơng hiệu nổi tiếng trên thế giới

như: Uniqlo, Levi’s, L&Beautiful, Itoyokado, Tommy Hilfiger, Perry Ellis,

Topvalu, DKNY, A&F,Talbots, Lucky,…công ty đã mang đến cho quý khách

hàng sản phẩm với những ưu thế nổi bật sau đây:

- Chất lượng vải, phụ liệu theo tiêu chuẩn quốc tế và luôn cập nhật cùng với xu hướng thời trang thế giới

Trang 37

- Kiếu dáng đơn giản nhưng năng động, lịch sự và thoải mái cho người sử dụng

- Trang phục phù hợp với cả hoạt động công sở cũng như các hoạt động du lịch dã ngoại

Cửa hàng:

* 86 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TPHCM

* 524 Lê Quang Định, Q Gò Vấp, TPHCM

* Hệ thống đại lý:

 Các trung tâm của VinaTex

 Các siêu thị trên TP Hồ Chí Minh

2.1.4 Vài nét về Trung Tâm Thời Trang

Năm 1998, với nhu cầu thanh lý hàng xuất khẩu tồn kho, nên công ty đã thành lập cửa hàng đầu tiên tại 105 Lê Quang Định, Phường 14, Quận Bình Thạnh

Đến 18/10/2002, công ty đăng ký giấy phép kinh doanh trung tâm thời trang

với tên đầy đủ “ Trung Tâm Senna”, thời điểm này ngoài bán hàng tồn công ty

cũng bắt đầu thiết kế sản xuất một số mặt hàng với nhãn hiệu “ SENNA” để bán trên thị trường nội địa

Trong khoảng thời gian từ năm 2003-2006 công ty đã đăng ký thêm ba nhãn hiệu hàng hóa với cục sở hữu trí tuệ : EVENNA, KAP’S và Joint Stock SÀI GÒN

3

( với hình ảnh con cò)

Sologan : “ Thời trang của mọi lứa tuổi” và “ Luôn tạo sự khác biệt”

Logo :

Trang 38

Hiện tại công ty có hai hệ thống cửa hàng chính :

 86 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TPHCM

* 524 Lê Quang Định, Q Gò Vấp, TPHCM

Giới thiệu một số sản phẩm chất liệu jean của công ty

Hiệu quả hoạt động qua các năm của Trung Tâm Thời Trang SG3 ( Nơi quản

lý, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm jean trên thị trường nội địa của công ty SG3)

Bảng 2.1 Doanh số, lợi nhuận qua các năm của Trung Tâm Thời Trang

STT ĐVT CHỈ TIÊU NĂM 2009 NĂM 2010 NĂM 2011

6 Lợi nhuận sau thuế 3,267,891,140 4,763,533,883 7,475,425,393

(Giá vốn hàng bán chỉ tính tiền trả tiền công cho công nhân Nguyên phụ liệu sử dụng tồn kho) (Nguồn : Phòng Kế Toán- Công Ty Cố Phần May Sài Gòn 3)

Trang 39

2.2 Phân tích NLCT của sản phẩm Jean của công ty trên thị trường nội địa 2.2.1 Về thị trường

Theo số liệu nghiên cứu và dự báo của công ty nghiên cứu & tư vấn thương hiệu the Pathfinder : tốc độ tăng trưởng tiêu dùng hàng may mặc của thị trường trong nước khoảng 15%/năm Quy mô thị trường năm 2010 đạt khoảng 44.000 tỷ đồng/năm và dự kiến sẽ tăng lên 88.000 tỷ đồng vào năm 2015, với mức tiêu thụ trên đầu người đạt 420.000 đồng/năm/người và 950.000đồng/năm/người Với quy

mô thị trường trên đây Việt Nam hiện được xem như một thị trường đầy tiềm năng trong lĩnh vực thời trang, mang đến cơ hội hấp dẫn cho cả các thương hiệu quốc tế

và trong nội địa

Năm 2011, mặc dù nền kinh tế có nhiều khó khăn nhưng doanh thu từ thị trường nội địa của các doanh nghiệp dệt may vẫn tăng trưởng khá.Theo báo cáo của Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) tại hội nghị Hội nghị sơ kết cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", do Bộ Công Thương tổ chức ngày 28/12, năm ngoái doanh thu từ thị trường nội địa của Vinatex đạt 14.960 tỷ đồng Kết thúc năm 2011, doanh thu từ thị trường nội địa của các doanh nghiệp thuộc Vinatex ước đạt 17.200 tỷ đồng, tăng trưởng 15%

Năm 2011, sản phẩm dệt may “Made in Vietnam” tiếp tục được người tiêu dùng sản lựa chọn Nghiên cứu mới đây của Niesel - công ty chuyên cung cấp thông tin về đo lường các chỉ số truyền thông và thị trường còn cho thấy, có đến 90% người được hỏi ở Tp.HCM và 83% ở Hà Nội cho biết họ có thể hoặc chắc chắn sẽ mua hàng Việt Nam nhiều hơn

Lý do khiến người tiêu dùng quay trở lại với các sản phẩm tiêu dùng trong nước được đưa ra gồm: giá cả hợp lý, tính đa dạng, dịch vụ khuyến mại, bảo hành tốt, và quan trọng nhất là sản phẩm đảm bảo cho sức khỏe người sử dụng hơn so với hàng Trung Quốc

Trang 40

Năm 2012, kế hoạch tăng trưởng doanh thu từ thị trường nội địa được Vinatex đặt ra ở mức 18 – 20% Hiện hệ thống phân phối của Tập đoàn và các đơn

vị thành viên đã được mở rộng về các tỉnh, thành phố với hơn 3.445 điểm bán tại các đại lý, cửa hàng; 60 siêu thị Vinatex – mart, Trung tâm thương mại

Song song với chiến lược phát triển thị trường nội địa, các doanh nghiệp thuộc tập đoàn đã tích cực tham gia các hoạt động như đưa hàng về nông thôn, hội chợ quảng bá sản phẩm dệt may…

Bảng 2.2 Dự báo quy mô thị trường dệt may nội địa

( gỉa thiết ) Thu nhập bình quân đầu

người thực tế (USD)

( kết quả sơ cấp ) Tiêu dùng dệt trong

nước tính theo đầu người (kg)

( giả thiết về dân số) Tốc độ tăng hàng

năm 1,2% (triệu dân)

( kết quả cuối cùng ) Quy mô thị trường

dệt may nội địa (tỷ USD)

1,0 1,3 1,6 3,1

Nguồn Viện Nomura tổng hợp 11/2000

Sự tin tưởng của người tiêu dùng về sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp Việt và sự gia tăng về dân số sẽ là điều kiện giúp việc tìm kiếm giải pháp

Ngày đăng: 17/09/2020, 16:21

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w