1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với việc xây dựng thành phố hồ chí minh trở thành đô thị thông minh đến năm 2025

154 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã đi đúng định hướng mà Đảng và Nhà nước đề ra, đồng thời đạt được một số tích cực, là

Trang 1

HỒ THỊ THANH HUYỀN

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH GẮN VỚI VIỆC XÂY DỰNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRỞ THÀNH

ĐÔ THỊ THÔNG MINH ĐẾN NĂM 2025

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn dẫn rõ ràng, không sao chép từ các công

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 4

2.3 Các công trình nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh 7

2.4 Những khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận văn 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10

6 Kết quả, đóng góp của Luận văn 10

7 Kết cấu nội dung của luận văn 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH GẮN VỚI XÂY DỰNG ĐÔ THỊ THÔNG MINH Ở VIỆT NAM 1.1 Những khái niệm lý luận cơ bản 12

1.1.1 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành 12

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 13

1.1.3 Những chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 21

Trang 5

cấu kinh tế ngành 28

1.2.1 Một số mô hình, lý thuyết hiện đại 28

1.2.2 Quan điểm của Đảng – Nhà nước về “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với xây dựng Đô thị thông minh” 30

1.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với xây dựng đô thị thông minh ở một số địa phương 38

1.3.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hà Nội 38

1.3.2 Kinh nghiệm của Tp.Đà Nẵng 39

1.3.3 Một số bài học rút ra 41

Kết luận chương 1 44

Chương 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐÔ THỊ THÔNG MINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 2.1 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở TP HCM 46

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 46

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 47

2.2 Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo định hướng đô thị thông minh 49

2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu ba khu vực kinh tế 49

2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế 52

2.2.3 Quá trình triển khai xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh 66

2.3 Đánh giá chung 71

2.3.1 Những kết quả đạt được 73

Trang 6

Kết luận chương 2 87

Chương 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH GẮN VỚI VIỆC XÂY DỰNG TP.HCM TRỞ THÀNH ĐÔ THỊ THÔNG MINH ĐẾN NĂM 2025 3.1 Những quan điểm cơ bản 89

3.1.1 Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 89

3.1.2 Quan điểm về xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh 93

3.2 Phương hướng, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với việc xây dựng Tp.HCM trở thành đô thị thông minh 96

3.2.1 Những định hướng cơ bản 96

3.2.2 Mục tiêu đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 98

3.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với việc xây dựng Tp.HCM trở thành đô thị thông minh đến năm 2025 101

3.3.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, thể chế 101

3.3.2 Nhóm giải pháp về qui hoạch và cơ sở hạ tầng 107

3.3.3 Nhóm giải pháp về huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực 112

3.3.4 Nhóm giải pháp về hợp tác - hội nhập 121

Kết luận chương 3 124

KẾT LUẬN 126

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

CCKT Cơ cấu kinh tế

( viết tắt của Gross Regional Domestic Product)

( viết tắt của Index - Industry Products)

KT-XH

ODA

Kinh tế - Xã hội Vốn vay ưu đãi từ nước ngoài

(viết tắt của Official Development Assistance)

( viết tắt của Total Factor Productivity)

(viết tắt của World Bank)

Trang 8

Bảng 2.1: GDP trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh chia theo khu vực kinh tế giai đoạn 2011-2017 (tính theo giá so sánh 2010) 51

Trang 9

Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng các ngành Dịch vụ, Công nghiệp, Nông nghiệp qua các năm 52

Biểu đồ 2.4: Biểu đồ so sánh tốc độ phát triển các ngành công nghiệp 62

Trang 10

MỞ ĐẦU

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những vấn đề trung tâm của nền kinh tế đang phát triển Thực tế cho thấy những thành công hay thất bại trong việc phát triển kinh tế đều bắt nguồn từ việc xác định cơ cấu kinh tế có hợp lí hay không Việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và tiến tới ngày càng nâng cao đời sống người dân

Trong thời gian qua, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã đi đúng định hướng mà Đảng và Nhà nước đề ra, đồng thời đạt được một số tích cực, là động lực cho tăng trưởng kinh tế: Trong giai đoạn 2015-2017, tổng sản phẩm nội địa (GRDP) trên địa bàn thành phố tăng 8,2%/năm, đạt kế hoạch đề ra, trong đó khu vực dịch vụ tăng 8,1%/năm, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 7,8%/năm, khu vực nông nghiệp tăng 5,8%/năm,

tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và đúng hướng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, TP.HCM phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức Đó là: mô hình tăng trưởng kinh tế của thành phố còn tồn tại nhiều vấn đề về tốc độ tăng trưởng, tính bền vững; hiệu quả và cạnh tranh nhất là năng lực cạnh tranh của kinh tế thành phố có phần giảm sút so với một số địa phương trong nước và khu vực; các chính sách và giải pháp hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện vẫn chưa đủ mạnh, còn chưa tạo được sự đột phá; Sự chuyển dịch các ngành kinh tế diễn ra tương đối chậm; Tỷ trọng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ

1 Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh

Trang 11

có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, giá trị gia tăng cao còn thấp, tính cạnh tranh của nhiều sản phẩm còn khá yếu so với khu vực và quốc tế.

Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025” đã được Ủy ban nhân dân Tp.HCM công bố ngày 26 tháng 11 năm 2017 Đề án tập trung vào bốn mục tiêu tổng quát là đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế, hướng đến kinh tế tri thức, kinh tế số; quản trị

đô thị hiệu quả trên cơ sở dự báo; nâng cao chất lượng môi trường sống và làm việc; tăng cường sự tham gia quản lý của người dân Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất của Đề án là phát triển kinh tế bền vững, phải dự báo, thấy trước khó khăn, giải pháp phòng ngừa và liên kết tốt; phải làm sao kết hợp các nguồn lực để đạt hiệu quả cao hơn trong khi từng nguồn lực không thay đổi, cùng với đó tạo môi trường sống của người dân phải tốt trong các vấn đề như hạ tầng, chất lượng không khí, thúc đẩy dịch

vụ y tế…

Vì vậy, để kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh phát triển bền vững, đạt được những mục tiêu đề ra đòi hỏi phải xây dựng cơ cấu kinh tế ngành phù hợp với những

dự báo chính xác và giải pháp hiệu quả Đây sẽ là vấn đề có tính chất quyết định

Xuất phát từ lý do đó, học viên lựa chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

gắn với việc xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh đến năm 2025” làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị của

mình

Trang 12

Cơ cấu kinh tế (CCKT), chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) là những vấn đề được rất nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và là chủ đề được đưa bàn luận trong nhiều hội thảo, hội nghị trong nước và quốc tế

Vấn đề về CDCCKT được C.Mác đề cập đến trong học thuyết về phân công lao động xã hội và học thuyết về tái sản xuất xã hội Kinh tế học thuộc trào lưu chính đã đi sâu phân tích các điều kiện bảo đảm sự hoạt động hữu hiệu của thị trường, coi đây là động lực phát triển kinh tế, nhưng cũng đã đề cao vai trò can thiệp của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm bảo đảm hoạt động bình thường của thị trường, duy trì sự ổn định vĩ mô

Lý luận về giai đoạn phát triển kinh tế với đại biểu nổi bật W.Rostow đã chia quá trình phát triển kinh tế của một nước thành 5 giai đoạn, gồm có: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, tăng trưởng và mức tiêu dùng cao Cùng quan điểm với nhà kinh tế học D.Bell, mới đây, học giả Tatyana P.Soubbotina đã làm rõ thêm quá trình phát triển kinh tế qua các giai đoạn nông nghiệp, công nghiệp hóa, hậu công nghiệp Học giả Tatyana cũng rất quan tâm đến cuộc cách mạng tri thức, trong đó đề cao vai trò của cách mạng khoa học, công nghệ và chất xám trong quá trình phát triển của các quốc gia

Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, quá trình phát triển kinh tế bao gồm các giai đoạn nghèo đói, công nghiệp hóa, phát triển tiêu thụ Đằng sau sự phát triển kinh tế là mối quan hệ khăng khít giữa tăng trưởng kinh tế với chuyển dịch CCKT

Ngân hàng Thế giới có hai công trình nghiên cứu lớn về CDCCKT: “Sự thần kỳ của Đông Á” và “Suy ngẫm lại sự thần kỳ của Đông Á” Hai công trình này

Singapore) Trong cuốn “Sự thần kỳ của Đông Á”, WB cho rằng CCKT là một trong những nhân tố quyết định đến sự thần kỳ Đông Á Điều này muốn nói rằng, vai trò của Nhà Nước là rất lớn quyết định đến sự phát triển thần kỳ của khu vực này Tuy

Trang 13

nhiên, trong cuốn “Suy ngẫm lại sự thần kỳ của Đông Á”, các tác giả, trong đó có

có tác động, mà sự CDCCKT chủ yếu do thị trường chi phối, quyết định

Dowring (1959) cho rằng quy mô lớn của khu vực nông nghiệp làm khó khăn cho quá trình chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp Trong khi Johnton và Kilby (1975) thì cho rằng sự chuyển dịch cơ cấu lao động chậm là do nhu cầu của khu vực công nghiệp còn nhỏ và lương của người lao động còn thấp

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã có nhiều công trình được công bố trên các góc độ tiếp cận khác nhau:

Luận án Tiến sỹ của nghiên cứu sinh Phạm Thị Nga (2016): “Chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Thái Nguyên theo hướng phát triển bền vững”, Viện Hàn

Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Tác giả đã hệ thống hóa được cơ cở lý luận và thực tiễn về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về CDCCKT và quan điểm về phát triển bền vững Luận văn đã phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tại tỉnh Thái Nguyên theo hướng phát triển bền vững Làm rõ được những kết quả đạt được trong quá trình CDCCKT ngành tại Thái Nguyên thời gian qua, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình CDCCKT ngành tại Thái Nguyên theo hướng phát triển bền vững

Luận án Tiến sỹ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Cẩm Vân (2015): “Các

mô hình phân tích sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân Đề tài đã rút ra được

những kết luận rất quan trọng, cụ thể: (1) Cơ cấu ngành của khu vực sơ cấp chuyển

Trang 14

dịch từ nông nghiệp sang khai khoáng rồi đến thủy sản So với các nền kinh tế khác, Việt Nam là một trong số rất ít các quốc gia mà khu vực sơ cấp đi theo định hướng xuất khẩu Đặc điểm này chứng tỏ công nghiệp hóa ở Việt Nam vẫn ở giai đoạn thấp (2) Mặc dù đã có tín hiệu chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành của khu vực chế biến chế tạo nhưng sự chuyển dịch này diễn ra chậm Các ngành thâm dụng tài nguyên và lao động vẫn chiếm ưu thế hơn so với các ngành thâm dụng vốn và công nghệ (3) Quá trình chuyển dịch chậm chạp đã tạo ra một cơ cấu ngành có hiệu quả

và năng lực cạnh tranh thấp Xu hướng giảm giá trị gia tăng, tăng chi phí trung gian

ở cả ba nhóm ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ là một đặc điểm quan trọng của quá trình Công nghiệp hóa (CNH) ở Việt Nam (4) Các kết quả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng tỷ trọng vốn, đặc biệt là tỷ trọng lao động công nghiệp đối với tăng trưởng của các ngành phi nông nghiệp và của nền kinh tế Đây là kết quả chưa được trả lời rõ ràng trong các nghiên cứu trước (5) Các phát hiện của luận án sẽ giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách nhận diện được những đặc trưng trong chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, và giúp gợi ý một số khuyến nghị về cơ cấu ngành hợp lý để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và CNH thành công Tuy nhiên, đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành của thành phố Hồ Chí Minh có khác với mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế của cả nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh, đây chính là nội dung chưa được đề cập tới trong luận

án tiến sỹ này

Một nghiên cứu khác về “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội

nhập với khu vực và thế giới” của GS.TSKH.Lê Du Phong và PGS.TS Nguyễn

Thành Độ đã đề cập tới luận cứ khoa học của CDCCKT theo hướng hội nhập, thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta từ những năm 1991 – 1997, thực trạng CDCCKT ở một số vùng, phương hướng và giải pháp CDCCKT ở nước ta theo

Trang 15

hướng hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới Trong tài liệu này, phân tích CDCCKT nói chung và CDCCKT ngành nói riêng chưa được đề cập đến

“Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam - Thông tin chung” của

PGS.TS Bùi Tất Thắng, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2009 Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, những tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, đề tài đánh giá quá trình chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới kinh tế Trong đó, bao gồm cả quá trình chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành và trong nội bộ các ngành Phân tích, khái quát tác động của những nhân tố mới cả trên thế giới và trong nước đối với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới

“Bàn về cải tiến cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam” của PGS.TS Ngô

Doãn Vịnh - Viện Chiến lược phát triển, đăng trên tạp chí Kinh tế và Dự báo số tháng 1 – 2010 Bài báo đưa ra quan niệm về cải tiến cơ cấu kinh tế, theo đó cải tiến

cơ cấu kinh tế là một quá trình nhằm phát huy được lợi thế so sánh của đất nước, tạo

ra khả năng cạnh tranh cao, đem lại hiệu quả lớn và đảm bảo yêu cầu bền vững cho toàn bộ quá trình phát triển Chủ thể chủ yếu và trực tiếp của việc cải tiến cơ cấu kinh tế là nhà nước và doanh nghiệp Muốn cải tiến thành công thì nhà nước và doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị chu đáo Tác giả cũng chỉ rõ tình trạng cơ cấu kinh

tế của Việt Nam trong hệ thống kinh tế thế giới Đồng thời, khái quát những lợi thế

Đề tài "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thủ đô Hà Nội đến năm 2020”, Luận

án Tiến Sĩ của tác giả Nguyễn Đình Dương Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong xu thế hội nhập quốc tế Đánh giá thực trạng những thành tựu và hạn

Trang 16

chế cơ bản trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới; đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thủ đô đến năm 2020

2.3 Các công trình nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh:

“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam theo hướng cạnh tranh đến năm 2020”, của đồng chủ biên

PGS.TS Lương Minh Cừ - PGS.TS Đào Duy Huân - ThS Phạm Đức Hải, nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012 Nội dung tập trung nghiên cứu

về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế của Thành phố

Hồ Chí Minh và Việt Nam trong thời gian qua Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm thay đổi mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng kinh tế theo hướng cạnh tranh để phát huy tiềm năng và thế mạnh của kinh tế thành phố theo hướng nâng cao tính bền vững, hiệu quả, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, hài hòa với mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển an sinh xã hội

Nghiên cứu của tác giả Vương Đức Hoàng Quân (2014): Nhìn lại quá

trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” Nội dung

bài viết xoay quanh các vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tế; mà trước hết là định hướng và các chính sách được đề xuất bởi các cấp chính quyền TP.HCM Xuất phát

từ thực trạng của quá trình chuyển dịch, nghiên cứu cho thấy được những thành tựu

và hạn chế, cũng như nguyên nhân của vấn đề Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững

Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá là một trung tâm kinh tế lớn và năng động của Việt Nam Vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo, bài viết về kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh Các công trình nghiên cứu nói trên đều

Trang 17

đã đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo nhiều góc độ, phạm vi khác nhau Tuy nhiên, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với giải pháp để xây dựng Thành phố trở thành Đô thị thông minh là vấn đề mới, chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến

Mặt khác, trong tình hình thực tế hiện nay của Thành phố Hồ Chí Minh xuất hiện nhiều thời cơ, thách thức mới (sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; Nghị quyết 54 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh,…) đòi hỏi hướng giải pháp phải phù hợp hơn, phải có tính đột phá mới có thể giúp tháo gỡ những khó khăn còn tồn tại, thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, góp phần thực hiện được mục tiêu Xây

dựng Thành phố trở thành Đô thị thông minh Luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu,

hệ thống hóa các vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh dưới góc nhìn kinh tế chính trị gắn với tình hình thực tế cấp bách hiện nay của thành phố như: yêu cầu thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; tận dụng những lợi thế từ ưu đãi về cơ chế chính sách đặc thù dành cho Thành phố theo tinh thần Nghị quyết 54 của Chính phủ; thực hiện Đề án xây dựng Thành phố trở thành Đô thị thông minh đến năm 2025 Trên cơ sở đó, khuyến nghị một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng định hướng, đảm bảo nền kinh

tế phát triển bền vững góp phần thực hiện được mục tiêu đặt ra của Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Trang 18

Phân tích, luận giải về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với

Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn

2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025”

Nhiệm vụ

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ngành gắn với việc xây dựng đô thị thông minh ở Việt Nam

Khảo sát, đánh giá thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh những năm qua, chỉ ra kết quả, hạn chế và những vấn đề đặt ra

Đề xuất một số quan điểm, định hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành hướng tới mục tiêu xây dựng Thành phố

Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh đến năm 2025

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề cơ cấu kinh tế ngành và quá

địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ kinh tế chính trị học

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Luận văn khảo sát trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 19

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2000, tầm nhìn đến năm 2025

Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng – Nhà nước, và các văn kiện, nghị quyết của Đảng bộ - Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu:

chứng và duy vật lịch sử, được sử dụng trong việc nghiên cứu về các vấn đề về

trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam

chính trị và kinh tế học hiện đại như phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương

tả, phương pháp so sánh – đối chiếu Các phương pháp này được sử dụng để khảo sát, đánh giá thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, những lợi thế đặc thù của thành phố từ đó đưa ra những định hướng, mục tiêu và giải pháp phù hợp, xác đáng

Trang 20

Về lý luận: Góp phần hệ thống hóa, làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản

về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với xây dựng đô thị thông minh ở Việt Nam

V ề thực tiễn: Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình thực tế, luận văn đề

xuất một số định hướng, giải pháp và khuyến nghị nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng tới mục tiêu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành

Đô thị thông minh vào năm 2025

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với đô thị thông minh

địa bàn Tp Hồ Chí Minh và những vấn đề đặt ra

Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành góp phần xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh đến năm 2025

Trang 21

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH GẮN VỚI XÂY DỰNG

ĐÔ THỊ THÔNG MINH Ở VIỆT NAM

-

Cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ

hữu cơ tương đối ổn định hợp thành Cơ cấu kinh tế là một tổng thể kinh tế bao gồm

nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một

khoảng không gian và thời gian nhất định và được thể hiện ở mặt định tính và định

lượng, chất lượng và số lượng phù hợp với mục tiêu xác định của nền kinh tế

Cơ cấu kinh tế có nhiều loại, mỗi một loại cơ cấu phản ánh những nét đặc

trưng của các bộ phận và các cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát

triển nền kinh tế (PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà và PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền,

2007, trang 273) Có các loại cơ cấu kinh tế như sau: Cơ cấu thành phần kinh tế; Cơ

cấu vùng – lãnh thổ; Cơ cấu ngành kinh tế… Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế – tổ

hợp các ngành trong nền kinh tế theo một quan hệ tỷ lệ về lượng, thể hiện mối quan

hệ giữa các ngành – giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình và phản ánh trình độ

phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tế tăng trưởng đòi hỏi tất yếu phải có

chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế ngành:

Trang 22

Cơ cấu ngành của nền kinh tế là quan hệ tỷ lệ của tập hợp tất cả các ngành hình thành nên nền kinh tế và các mối quan hệ tương đối ổn định giữa chúng Cơ cấu ngành là một chỉnh thể liên kết các ngành kinh tế theo một kiểu cấu trúc nhất định, tạo ra những thuộc tính mới, chất lượng mới của hệ thống mà những thuộc tính này không thể có ở từng bộ phận riêng rẽ hợp thành hệ thống; Là tổng thể những mối quan hệ về số lượng (số lượng ngành, tỷ trọng) và chất lượng giữa các ngành trong nền kinh tế (Phạm Thị Khanh, 2010, trang 12) Việt Nam phân loại ngành kinh tế theo hướng dẫn phân loại ngành do Liên hiệp quốc ban hành, có thể khái quát thành

ba nhóm ngành lớn: 1 Nông – Lâm – Ngư nghiệp; 2 Công nghiệp, xây dựng; 3 Thương mại và dịch vụ

ngành

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối quan hệ của một nền kinh

tế theo một chủ đích và một phương hướng nhất định Đó là quá trình tăng tốc độ

và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế gắn liền với đổi mới căn bản

về công nghệ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và từng bước phát triển nền kinh tế dịch vụ

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ có mối quan hệ qua lại chặt chẽ Tiến bộ khoa học công nghệ làm cho cơ cấu kinh tế

có sự thay đổi phù hợp, những thay đổi cơ cấu kinh tế lại có tác dụng mở đường cho việc thực hiện tiến bộ khoa học công nghệ

Quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nước tuân thủ những tính quy luật chung Song do những đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế

Trang 23

- xã hội… của mỗi nước, những xu thế thay đổi cơ cấu chung sẽ được biểu hiện qua hình thái đặc thù của từng giai đoạn phát triển Vì vậy nói đến vấn đề vận dụng những tính quy luật chung vào việc xác định chính sách cơ cấu kinh tế của đất nước cần phân tích những nhân tố ảnh hưởng đối với quá trình hình thành cơ cấu, có nhiều nhân tố quy định cơ cấu kinh tế Từng nhân tố riêng sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, ít hoặc nhiều tới sự hình thành cơ cấu kinh tế (trước hết tới cơ cấu sản xuất), đồng thời chúng cũng gắn bó với nhau chặt chẽ tạo thành một hệ thống

và tác động tới cơ cấu kinh tế như là kết quả của một sức mạnh tổng hợp

Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm:

(1) Nhu cầu của thị trường: Thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội quy định chất lượng và số lượng của hàng hóa – dịch vụ; đồng thời có tác động đến quy mô, trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế, xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội

lượng sản xuất sẽ tác động hình thành một cơ cấu kinh tế với vị trí, tỉ trọng các ngành và lĩnh vực phù hợp hơn, không những thích ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, mà còn đáp ứng nhu cầu của xã hội

nước: Các cơ quan quản lý nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt, quy định tỷ lệ

thông qua các định hướng, chiến lược và các chính sách khuyến khích ưu đãi hỗ trợ

Trang 24

(4) Yếu tố tiến bộ khoa học – kỹ thuật: Trên cơ sở ứng dụng khoa học –

kỹ thuật và công nghệ, năng suất lao động sẽ gia tăng; sản phẩm – dịch vụ có giá trị gia tăng cao được phát triển, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế các ngành nghề nhanh chóng và hiệu quả

hóa kinh tế sẽ tạo ra sự dịch chuyển các luồng vốn, lao động và công nghệ Sự gia nhập của các quốc gia vào các tổ chức và hiệp hội thương mại quốc tế giúp xóa bỏ các rào cản thương mại giữa các nước Từ đó, các chuỗi sản xuất liên kết giữa các quốc gia sẽ được hình thành

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành:

Khi lực lượng sản xuất phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, tính chuyên môn hoá trong lao động ngày càng cao, sẽ làm xuất hiện hoặc biến mất một số ngành kinh tế Nói cách khác, sự phát triển của phân công lao động

xã hội và lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành nghề Như vậy, cơ cấu kinh tế ngành luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế luôn vận động, phát triển Sự thay đổi đó bao gồm cả về

số lượng và về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành Từ đó, có thể hiểu: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự thay đổi về số lượng, vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ tương tác giữa các ngành trong nền kinh tế cho phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành không chỉ là thay đổi về số lượng, vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ giữa các ngành mà còn là sự thay đổi về lượng và chất trong nội bộ các ngành Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu, chưa phù hợp thành cơ cấu mới hoàn thiện và phù hợp hơn Như vậy, thực

Trang 25

chất chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự điều chỉnh mối quan hệ, tỷ trọng giữa các ngành cho phù hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho từng thời

đó, khi vị trí, tỷ trọng của nhóm ngành này tăng lên sẽ đồng nghĩa với việc vị trí và

tỷ trọng nhóm ngành khác giảm xuống tương ứng trong tổng giá trị sản phẩm xã hội Quá trình chuyển dịch giữa các ngành được xác định thông qua các chỉ số về tổng giá trị sản phẩm xã hội làm ra Đây cũng là tiêu chí đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành một cách chính xác

Song song với quá trình chuyển dịch giữa các ngành luôn có sự chuyển dịch trong nội bộ ngành Theo đó, cùng với sự thay đổi vị trí, vai trò và tỷ trọng của từng ngành trong tổng giá trị xã hội thì ngay trong một ngành cũng có sự thay đổi

về mặt cơ cấu giữa các phân ngành Chuyển dịch trong nội bộ ngành là sự chuyển dịch vị trí, vai trò và tỷ trọng của các phân ngành trong nội bộ ngành đó Đối với

nghiệp là công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác; đối với dịch vụ và du lịch là thương mại, du lịch và dịch vụ Sự dịch chuyển trong nội bộ ngành thể hiện rõ nét quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế ngành thể hiện rõ nét bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế, quá trình thay đổi của cơ cấu kinh tế ngành luôn chịu sự tác động của những nhân

Trang 26

tố ảnh hưởng đến nền kinh tế, bao gồm cả nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong;

cả nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan

Nhân tố bên ngoài:

Trước hết, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phụ thuộc và chịu ảnh hưởng lớn từ xu thế chính trị - xã hội trong khu vực và thế giới

Xét đến cùng chính trị là biểu hiện tập trung của nền kinh tế Sự biến động về chính trị - xã hội của một nước hay một số nước, nhất là nước lớn, sẽ tác động mạnh mẽ đến các hoạt động ngoại thương, thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, tiếp thu khoa học kỹ thuật… của các nước khác trên thế giới và khu vực Do đó, khi thị trường và nguồn lực từ nước ngoài thay đổi, buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành cho phù hợp

Hai là, xu thế toàn cầu hoá kinh tế và quốc tế hoá lực lượng sản xuất

Xu thế này tạo ra sự phát triển đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, hợp tác với nhau một cách toàn diện cả trong sản xuất và trao đổi hàng hoá, dịch vụ Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế cho phép hình thành mạng lưới sản xuất quốc tế, đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ mới và sự phát triển mạnh mẽ của các công ty đa quốc gia, đã thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội vượt xa hơn biên giới của một vùng lãnh thổ Ngày nay, một sản phẩm hàng hoá không chỉ là sản phẩm của một quốc gia, mà có thể có sự tham gia của nhiều công ty, xí nghiệp thuộc nhiều nước trong khu vực và thế giới cùng sản xuất Đối với các quốc gia hướng về xuất khẩu thì yếu tố này trở thành nhân tố không thể thiếu trong quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Xu thế này tạo ra sự đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, thúc đẩy hợp tác với nhau một cách toàn diện

Trang 27

cả trong sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ Tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế tăng lên, các mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước và các khu vực ngày càng trở lên sâu rộng và mật thiết hơn

Ba là, các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ

Thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ thông tin là những yếu tố bên ngoài tác động và ảnh hưởng lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Các yếu tố này tạo điều kiện cho các nhà sản xuất kinh doanh nắm bắt thông tin, hiểu thị trường và hiểu đối tác mình muốn hợp tác Từ đó, giúp họ định hướng sản xuất kinh doanh, thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh phù hợp với xu thế hợp tác đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, cùng nhau phân chia lợi nhuận Khoa học kỹ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến được coi là nhân tố quyết định đối với quá trình sản xuất, làm tăng mạnh giá trị kinh tế các ngành, lĩnh vực, tạo ra những bước đột phá lớn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Các nhân tố bên ngoài có vai trò rất quan trọng và là nhân tố tác động đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Song nhân tố bên trong mới là những yếu tố quyết định

Nhân tố bên trong

Một là, nhân tố thị trường và tiêu dùng của xã hội: Thị trường và nhu cầu

xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành kinh tế Nếu như xã hội không có nhu cầu thì không thể có bất kỳ một quá trình sản xuất nào diễn ra cả Cũng như vậy không có thị trường thì không có kinh tế hàng hoá Thị trường và nhu cầu xã hội không chỉ quy định về số lượng mà cả về chất lượng các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ Vì vậy, nó có tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các cơ

Trang 28

sở kinh tế; đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội; đến vị trí và tỷ trọng giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân

Hai là, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động và con người có khả năng sử dụng tư liệu lao động để tác động vào điều kiện tự nhiên, tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu

xã hội Lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, là động lực phát triển của xã hội Nhu cầu của xã hội là vô tận và ngày càng đòi hỏi khắt khe Muốn đáp ứng đầy đủ những nhu cầu xã hội đòi hỏi trước hết là phải phát triển lực lượng sản xuất Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghệ, thiết bị, hình thành các ngành nghề mới, biến đổi lao động giản đơn thành lao động phức tạp, tạo ra sự phát triển của ngành này hoặc ngành khác

Sự phát triển đó phá vỡ cân đối cũ, hình thành một cơ cấu kinh tế ngành mới với vị trí, tỷ trọng của các ngành phù hợp hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội Quá trình phát triển đó diễn ra một cách khách quan và từng bước tạo ra một sự cân đối hợp lý hơn, có khả năng khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài Như vậy,

sự phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế ngành Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng khiến cho cơ cấu kinh tế ngành cũng luôn luôn thay đổi Mặt khác, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Những yếu tố tự nhiên tạo điều kiện cho phép phát triển một ngành sản xuất nào đó một cách thuận lợi hoặc khó khăn Lợi thế tự nhiên tác động đến tăng trưởng kinh tế không những theo chiều rộng mà còn đảm bảo cho tăng trưởng theo chiều sâu nếu có chính sách khai thác, sử dụng hiệu quả Lợi thế tự nhiên tạo

ra những lợi thế cho nền kinh tế, là cơ sở hình thành và phát triển các ngành kinh tế khác nhau Tuy nhiên, những yếu tố, điều kiện tự nhiên chỉ là nền tảng để có thể phát triển kinh tế, tích luỹ đầy đủ các yếu tố để phát triển theo chiều sâu

Trang 29

Ba là, quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cơ chế quản lý: Cơ chế quản lý của Nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế ngành nói riêng Nếu cơ chế chính sách khoa học, phù hợp với quy luật khách quan và tình hình thực tiễn thì sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế diễn ra nhanh và hiệu quả Ngược lại, nếu cơ chế chính sách thiếu căn cứ khoa học, không xuất phát từ quy luật khách quan sẽ kìm hãm, làm chậm lại quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trên thực tế, thể chế chính trị - xã hội - kinh tế tác động đến quá trình phát triển trên khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý

và môi trường xã hội Vì vậy, mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính khách quan và tính lịch sử xã hội, nhưng nó lại chịu sự tác động, chi phối của Nhà nước Nhà nước tác động gián tiếp thông qua định hướng chiến lược, đặt ra các mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội và khuyến khích mọi ngành kinh tế phát triển nhằm đạt các mục tiêu đề

cơ cấu kinh tế song thông qua hệ thống pháp luật, các quy định, thể chế, chiến lược phát triển, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước có sự điều tiết vĩ mô, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực kinh tế phát triển theo định hướng chung, đảm bảo tính cân đối và đồng bộ của nền kinh tế

Bốn là, đặc điểm văn hoá - xã hội: Nhân tố văn hoá - xã hội bao trùm nhiều mặt từ các tri thức phổ thông đến các tích luỹ tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ, văn học, lối sống và các ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những phong tục tập quán,… Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao Những đặc điểm văn hoá - xã hội có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 30

Năm là, dân số: Dân số được xem là nguồn lực quan trọng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự tác động của nhân tố này lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành được xem xét trên các mặt chủ yếu sau:

Kết cấu dân cư và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới… Trình độ dân trí và kết cấu dân cư ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn nhân lực Các ngành nghề chỉ có thể phát triển mạnh mẽ và bền vững trên cơ sở nguồn nhân lực của nền kinh tế dồi dào Không thể phát triển khoa học kỹ thuật trên cơ sở dân trí thấp, khả năng tiếp thu hạn chế

Quy mô dân số, kết cấu dân cư và thu nhập dân cư có ảnh hưởng đến quy

mô và tính chất của thị trường Dân số đông là tiền đề cho một thị trường rộng lớn, thu nhập dân cư ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành các ngành sản xuất và các loại thị trường Đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ

Đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, những chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự chuyển dịch bao gồm:

(1) Mức độ thay đổi của cơ cấu GDP

Phân tích sự thay đổi tỷ lệ phần trăm GDP của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, và dịch vụ là một trong những tiêu chí đầu tiên thường được dùng để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành

(2) Mức độ thay đổi của cơ cấu lao động

Trang 31

Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế còn được đánh giá qua một chỉ tiêu

thế nào vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau

(3) Mức độ thay đổi của cơ cấu hàng xuất khẩu

Mức độ thay đổi này thường trải qua một quá trình là: từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩu các loại sản phẩm sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp như lắp ráp, sản phẩm dệt may, chế biến nông lâm thủy sản… chuyển dần sang các loại sản phẩm sử dụng nhiều lao động trình độ cao, công nghệ kỹ thuật hiện đại như sản phẩm cơ khí chế tạo, hóa chất, điện tử,… Chính vì vậy, sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, từ những mặt hàng sơ chế sang những loại sản phẩm chế biến dựa trên cơ

sở công nghệ - kỹ thuật cao luôn được xem như một trong những thước đo rất quan trọng đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Bên cạnh ba chỉ tiêu chủ yếu trên, một nhóm các chỉ tiêu khác cũng thường được sử dụng để đánh giá tính hiệu quả của cơ cấu kinh tế Đó là các chỉ số

về tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động xã hội, chỉ số ICOR, mức độ tiêu hao năng lượng trên mỗi đơn vị GDP được tạo ra, số lượng việc làm mới được tạo

ra, tỷ lệ thất nghiệp, tốc độ giảm nghèo…

1.1.4 Đô thị thông minh

Quá trình hình thành khái niệm “Đô thị thông minh”

Nếu như khái niệm "Cách mạng công nghiệp 4.0" đang là xu thế tất yếu của sự phát triển trên toàn thế giới thì "Đô thị thông minh" hay “Thành phố thông minh" cũng là một hệ quả tất yếu của "Cách mạng 4.0"

Trang 32

Mặc dù việc xây dựng thành phố thông minh đã có từ trước nhưng phải đến khi cách mạng 4.0 có được những thành quả nhất định thì việc triển khai thành phố thông minh mới thật sự bùng nổ Những công nghệ chủ đạo của nền công nghiệp 4.0 giờ đây cũng trở thành các công cụ đắc lực để xây dựng thành phố thông minh

Những quốc gia đang triển khai xây dựng thành phố thông minh, có thể kể đến như:

Singapore với Chiến lược "người dân tay nghề cao, nền kinh tế sáng tạo, Thành phố toàn cầu riêng biệt" hay Chiến lược Intelligent Nation 2015 (iN2015) được thực hiện bởi Infocomm Development Authority (IDA)

"CityOS" để xây dựng thành phố thông minh thông qua công nghệ cảm biến và được coi là thành phố thông minh nhất thế giới trong năm 2015 (theo một nghiên cứu của Juniper Research)

Thành phố thông minh Amsterdam (Hà Lan) đã bắt đầu khởi động từ năm

2009 với hơn 170 dự án để ứng dụng công nghệ thiết bị không dây vào đời sống nhằm giảm các vấn đề giao thông, ô nhiễm môi trường hay lãng phí năng lượng

Malaysia: Chiến lược “Chính phủ số” - Digital Govement (đến năm 2020

Smart Government (Social-Mobile-BigDataAnalytics, Radical openess, Trust)

Hàn Quốc: Chiến lược U-Korea và Kế hoạch “Seoul thông minh đến 2015”

Trung Quốc: Thành phố Urban Smart 4.0

Trang 33

Liên minh Châu Âu (EU): Các thành phố thông minh tiêu biểu như

Hoa Kỳ: Các thành phố thông minh tiêu biểu là Dubuque (bang Iowa),

Canada: Thành phố Vancouver (Greenest Vancouver city by 2020)

Khái niệm “Đô thị thông minh”

Trên thế giới, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “Đô thị thông minh” Qua nhiều hội thảo trong và ngoài nước, các chuyên gia chỉ ra rằng: “Một thành phố

vững; và (3) Môi trường sống thân thiện”2

Có thể định nghĩa khái quát như sau: Thành phố thông minh là thành phố

sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để thu thập, truyền, lưu trữ và xử lý dữ liệu (lớn) hướng tới phục vụ người dân (nâng cao chất lượng cuộc sống đô thị) và quản lý đô thị thông minh (chủ động trong các tình huống hiện tại và có dự báo cho tương lai)

Mục tiêu cơ bản của thành phố thông minh là nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho người dân và quản lý hiệu quả đô thị (tiết kiệm năng lượng, giảm ô nhiễm, tăng cường an ninh, với tính dự báo cao) Từ đó làm nền tảng cho phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường

Những vấn đề "trụ cột" để xây dựng một "thành phố thông minh": Nghiên cứu của Giffinger và cộng sự (2007) đã đưa ra 4 vấn đề về đô thị thông minh, bao

2 Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025

Trang 34

gồm: (1) Sự biến đổi của các ngành sản xuất công nghiệp; (2) Sự phát triển của

công dân đô thị; (3) Sự hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đô thị; (4) Sự phát triển của chính quyền đô thị

Để có thể xây dựng các "trụ cột" này, nền tảng cốt lõi của nó chính là IOT (hay Vạn vật kết nối - Internet of Things) cùng sự tích hợp công nghệ truyền đạt và thông tin (ICT) như: Những tòa nhà thông minh, thân thiện môi trường, hệ thống giao thông thông minh, quản lý thông minh, hệ thống chăm sóc sức khỏe thông minh, cơ sở hạ tầng thông minh, bảng thông tin tương tác thông minh, đèn giao thông thông minh, ứng dụng thông minh

Tiêu chí đánh giá “Đô thị thông minh”

Trên thế giới chưa có các tiêu chuẩn chính thức về thành phố thông minh Tuy nhiên, một số tiêu chí chính sau cũng được các tổ chức, các nước lựa chọn

để đánh giá và làm tiêu chí cho một thành phố thông minh là: (1) Nền kinh tế thông

minh; (2) Di ch uyển thông minh; (3) Môi trường thông minh; (4) Quản lý đô thị hiện đại; (5) Cư dân thông minh; (6) Cuộc sống thông minh Trong một thành phố thông

minh, hoạt động quản lý nhà nước của bộ máy chính quyền hay “Chính quyền điện tử”, “Chính quyền thông minh” đóng vai trò chủ đạo

ngay cả trên thế giới, mỗi thành phố cũng lại xác định một hướng trọng tâm, chẳng hạn như các nước Châu Âu thường hướng tới môi trường xanh, tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là các ứng dụng trong lĩnh vực giao thông thông minh Các nước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hướng nhiều hơn đến việc ứng dụng Công nghệ

Trang 35

Ở nước ta, việc tiếp cận và thực hiện thành phố thông minh chủ yếu lấy

“Chính quyền điện tử” làm trọng tâm và phát triển hơn một số các tiêu chí, phù hợp với nhu cầu, điều kiện và nguồn lực có thể có của từng thành phố và từng giai đoạn,

cụ thể như:

Năm 2012, Đà Nẵng là đô thị đầu tiên của nước ta được Tập đoàn công nghệ IBM chọn là 1 trong 33 thành phố trên thế giới triển khai thành phố thông minh Đà Nẵng khi đó được nhận tài trợ từ chương trình thành phố thông minh hơn với tổng giá trị tài trợ trên 50 triệu USD, sử dụng giải pháp điều hành trung tâm thông minh để đảm bảo chất lượng nguồn nước phục vụ người dân, cung cấp giao thông công cộng tốt nhất và giảm thiểu ách tắc giao thông, song song với đó là hoàn thiện mô hình Chính quyền điện tử

Năm 2015, Hà Nội đã thực hiện đề án xây dựng thành phố thông minh hơn với trọng tâm là Chính quyền điện tử, hiệu quả trong quản lý điều hành, phát triển giáo dục y tế, văn hóa, giao thông, hướng đến hình thành và phát triển kinh tế tri thức đưa Thủ đô tham gia vào các diễn đàn thành phố thông minh trên thế giới

Ngày 23 tháng 11 năm 2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 6179/QĐ-UNBD về việc phê duyệt Đề án

“Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017 -

2020, tầm nhìn đến năm 2025” với tầm nhìn đến năm 2025 là: “Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phát triển kinh tế tương đối cao, bền vững, trên nền tảng khai thác tốt nhất các nguồn lực, với người dân là trung tâm của đô thị” Những tiêu chí cơ bản cần đạt

được là: Xây dựng TP HCM trở thành nơi có chất lượng sống và môi trường làm

việc tốt; đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hướng đến kinh tế tri thức; Xây dựng chính quyền điện tử, ứng dụng các mô hình dự báo kinh tế; Đối với người dân, phải

Trang 36

tạo ra các kênh tương tác giữa chính quyền và người dân cũng như các tiện ích thông minh để tương tác; Kiến tạo môi trường hoạt động minh bạch…

Có 4 nguyên tắc định hướng trong việc triển khai xây dưng Đô thị thông minh

Thứ nhất, Tầm nhìn chính xác, xuyên suốt và được sự đồng thuận cao

Tầm nhìn phải đạt độ chính xác cao, bao hàm được khả năng dự báo phát triển của

đô thị thông minh Tầm nhìn cho từng lĩnh vực phải gắn kết với tầm nhìn chung của địa phương, được sự đồng thuận cao của người dân Lãnh đạo các cấp cần phải cam kết với tầm nhìn tổng quát của địa phương thông qua những hoạt động, chỉ đạo, định hướng cụ thể và xuyên suốt Tận dụng được tầm ảnh hưởng của nhiều đơn vị, tổ chức, hiệp hội, cộng đồng

Thứ hai, Luôn lắng nghe, nắm bắt và phục vụ kịp thời các nguyện vọng và

n hu cầu của người dân Chính quyền luôn luôn lắng nghe, nắm bắt và phục vụ kịp

thời các nguyện vọng và nhu cầu của người dân, đảm bảo cung cấp các tiện ích, cung cấp các dữ liệu hỗ trợ người dân ra quyết định Sự đổi mới luôn phải được xuất phát

từ nhu cầu của người dân và doanh nghiệp Người dân được tích cực tham gia trong quá trình giám sát quản lý và xây dựng thành phố

Thứ ba, Công nghệ là công cụ hỗ trợ phát triển Tận dụng tối đa các cơ

hội để phát triển không gian mạng, số hóa, kết nối và tích hợp các hệ thống, quy trình, dịch vụ phục vụ công tác dự báo và điều hành một cách tổng thể Phải đảm bảo

4 chủ thể (chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và mọi tầng lớp nhân dân) đều được hưởng lợi từ việc ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu quá trình ra quyết định

Thứ tư, Huy động mọi nguồn lực Chia sẻ và tái sử dụng các nguồn lực:

Tuân thủ các tiêu chuẩn mở và kiến trúc hướng dịch vụ để đảm bảo tính đồng vận

Trang 37

hành, tránh đầu tư trùng lắp Tất cả các dự án mới phải nghiên cứu khả năng chia sẻ

và mở rộng nền tảng hạ tầng, cơ sở dữ liệu, ứng dụng hiện hữu Luôn tạo cơ hội để khuyến khích hợp tác sáng tạo Khuyến khích tinh thần sáng tạo thông qua giáo dục

và hình thành một nếp văn hóa xã hội sẵn sàng tiếp nhận đổi mới Đồng thời xây dựng cơ chế chính sách và hành lang pháp lý để triển khai các mô hình cộng tác, kinh doanh mới và có các chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp sáng tạo, khởi nghiệp Đảm bảo tính linh hoạt và thích ứng cao: Tuân thủ phương châm tư duy tổng thể, triển khai linh hoạt Triển khai theo từng giai đoạn để đảm bảo người dân, doanh nghiệp và chính quyền có thời gian thích ứng với thay đổi

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

1.2.1 Một số mô hình, lý thuyết hiện đại

Mô h ình hai khu vực của Arthus Lewis

Một trong những lý thuyết nổi tiếng ra đời sớm trong lĩnh vực phát triển

về sự thay đổi cơ cấu do W.Arthur Lewis (1915-1991, là nhà kinh tế học Jamaica được giải thưởng Nobel kinh tế năm 1979) đưa ra vào vào giữa thập niên 1950, sau

đó được John Fei và Gustav Ranis bổ sung, khai triển thêm Trong mô hình Lewis, nền kinh tế chậm phát triển luôn có hai khu vực cơ bản:

Thứ nhất, khu vực nông thôn truyền thống (traditional sector) Khu vực này tập trung phần lớn dân số và đang trong tình trạng dư thừa lao động Do đó, Lewis xếp lao động này như là “dư thừa”, tức là lượng lao động này mà có rút ra khỏi khu vực nông nghiệp thì vẫn không làm giảm sản lượng của nông nghiệp

Trang 38

Thứ hai, khu vực thành thị công nghiệp hiện đại (modern sector) với đặc trưng là năng suất cao Trong khu vực này, nếu có lao động tăng thêm sẽ làm tăng sản lượng Do vậy, mô hình này gợi ý về sự di chuyển lao động trong khu vực nông thôn sang khu vực thành thị công nghiệp hiện đại Sản lượng trong khu vực công

từ khu vực nông nghiệp chuyển đến ngày càng nhiều Sự phát triển của khu vực công nghiệp quyết định quá trình tăng trưởng của nền kinh tế

Như vậy, để phát triển thì các quốc gia đang phát triển cần phải mở rộng khu vực công nghiệp hiện đại và không cần quan tâm đến khu vực nông nghiệp truyền thống Khu vực công nghiệp phát triển sẽ thu hút hết lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp chuyển sang và từ trạng thái nhị nguyên nền kinh tế sẽ chuyển sang một nền kinh tế công nghiệp phát triển

Mặc dù mô hình phát triển của Lewis vừa đơn giản và cung cấp một ý nghĩa thực tế trong ý tưởng chính sách về chuyển dịch cơ cấu ở các nước đang phát triển Thế nhưng, chính sự đơn giản hóa, bằng các giả định của mô hình, tự nó đã kéo mô hình ra quá xa với thực tế Đó là: Điều gì sẽ xảy ra nếu lợi nhuận tăng thêm của các nhà tư bản được tái đầu tư vào các loại thiết bị hiện đại có tính chất tiết kiệm lao động; Trong thực tế quan sát ở nhiều nước đang phát triển cho thấy có thất nghiệp đồng thời ở cả thành thị và nông thôn; Một điều quan trọng khác mà mô hình cũng đã đơn giản hóa, đó là lao động là đồng nhất Nghĩa là lao động ở nông thôn có thể di chuyển lên thành thị và hòa nhập một cách nhanh chóng Điều này trên thực tế rất khó có thể xảy ra Mọi sự dịch chuyển lao động từ khu vực này sang khu vực khác, từ ngành này sang ngành khác đều phải cần thời gian thích nghi, đào tạo

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á gió mùa của Harry Toshima

Trang 39

Lý thuyết này do nhà kinh tế học Nhật Bản là Harry Toshima đưa ra Ông phê phán lý thuyết tăng trưởng của Athur Lewis là không thực tế đối với các nước Châu Á gió mùa Theo H Toshima, “vẫn giữ lại số lao động trong nông nghiệp, chỉ tạo thêm nhiều hoạt động sản xuất ở những tháng nhàn rỗi bằng cách tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, chăn nuôi gia súc và gia cầm, mở thêm ngành sản xuất cần nhiều lao động, nhờ đó thu nhập của nông dân tăng lên và mở rộng thị trường cho các ngành dịch vụ và công nghiệp Như vậy lực lượng lao động sẽ được sử dụng hết Khi

đó, tổng sản phẩm quốc gia và GNP tính theo đầu người cũng tăng nhanh Từ phân tích trên, ông cho rằng: “nông nghiệp hóa” là con đường tốt nhất để phát triển kinh tế

ở các nước Châu Á gió mùa, tiến tới một xã hội có cơ cấu kinh tế công nông nghiệp

Lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu của Moise Syrquin

Có thể tóm tắt lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M Syrquin gồm

ba giai đoạn: (1) sản xuất nông nghiệp, (2) công nghiệp hóa, và (3) nền kinh tế phát triển

Giai đoạn 1: có đặc trưng chính là các hoạt động của khu vực khai thác chiếm ưu thế, đặc biệt là nông nghiệp, trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng kinh tế chung khá chậm do tỷ trọng tương đối cao của khu vực nông nghiệp trong tổng giá trị gia tăng (hay GDP)

Giai đoạn 2 hay là giai đoạn công nghiệp hóa: có đặc điểm nổi bật là tầm quan trọng trong nền kinh tế đã được dịch chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chế biến và chỉ tiêu chính để đo lường sự dịch chuyển này là tầm quan trọng của khu vực chế biến trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung ngày càng tăng lên

3 TS Nguyễn Minh Tuấn và TS Nguyễn Hữu Thảo (2009, trang 200)

Trang 40

Giai đoạn 3: là giai đoạn của một nền kinh tế phát triển Giai đoạn này được thể hiện qua việc giảm sút tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơ cấu GDP hay trong cơ cấu lực lượng lao động Khu vực dịch vụ trở thành khu vực quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như cơ cấu lao động Trong giai đoạn này, nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tố năng suất tổng

Nhìn chung, lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của M Syrquin thể hiện khá chính xác về sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới, có thể tóm

lược qua 4 giai đoạn phát triển chính như sau: Giai đoạn 1: Nông nghiệp – Công

nghiệp – Dịch vụ; Giai đoạn 2: Công nghiệp – Nông nghiệp – Dịch vụ; Giai đoạn 3: Công nghiệp – Dịch vụ – Nông nghiệp; Giai đoạn 4: Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp

tế ngành gắn với xây dựng Đô thị thông minh”

của quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn

trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản

và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ), cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.”

Ngày đăng: 17/09/2020, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w