L ỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn: “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM” là kết quả của quá trình nghiê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử
dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM” là
kết quả của quá trình nghiên cứu của riêng tôi Ngoại trừ các nội dung tham khảo từ các công trình nghiên cứu khác được đưa ra trong phần tài liệu tham khảo của luận văn, các số liệu điều ra, kết quả nghiên cứu đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đó
Tp HCM, ngày 30 tháng 9 năm 2013
Tác giả
Đoàn Minh Quang
Trang 3MỤC LỤC
Trang bìa phụ i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng biểu vii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị ix
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 2
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.5 Bố cục luận văn 6
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Tổng quan 8
2.2 Một số vấn đề cơ bản về Outsourcing – Thuê ngoài 10
2.2.1 Khái niệm và đặc điểm 10
2.2.2 Vai trò của Outsourcing 11
2.3 Quyết định mua của tổ chức 14
2.3.1 Tổng quan quyết định mua của tổ chức 14
2.3.2 Các đặc điểm của thị trường tổ chức 19
2.3.3 Trung tâm mua hàng của tổ chức 22
2.3.4 Tiến trình mua hàng của tổ chức 24
2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua của tổ chức 24
2.4 Các nghiên cứu liên quan 26
2.5 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 30
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Thiết kế nghiên cứu 32
Trang 43.2 Xây dựng thang đo 32
3.3 Nghiên cứu định tính 35
3.3.1 Thực hiện nghiên cứu định tính 35
3.3.2 Kết quả hiệu chỉnh thang đo trong nghiên cứu định tính 36
3.3.3 Tóm tắt kết quả nghiên cứu định tính 38
3.4 Nghiên cứu định lượng 38
3.4.1 Thiết kế mẫu 39
3.4.2 Thu thập dữ liệu 40
3.4.3 Phân tích dữ liệu 40
3.4.3.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 40
3.4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 41
3.4.4 Phân tích tương quan 42
3.4.5 Phân tích hồi quy 42
3.4.6 Kiểm định trung bình tổng thể 43
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
4.1 Đặc điểm mẫu khảo sát 44
4.2 Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu 44
4.2.1 Giới tính mẫu quan sát 44
4.2.2 Trình độ học vấn mẫu quan sát 44
4.2.3 Chức vụ mẫu quan sát 45
4.2.4 Thu nhập mẫu quan sát 45
4.3 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 46
4.3.1 Phân tích Cronbach Alpha 46
4.3.2 Phân tích khám phá yếu tố (EFA) 48
4.3.2.1 Phân tích yếu tố quyết định sử dụng (lần 1) 48
4.3.2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng (lần 1) 48 4.3.2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng (lần 2) 50
4.3.2.4 Phân tích yếu tố quyết định sử dụng (lần 2) 52
4.3.3 Điều chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 53
Trang 54.4 Phân tích hồi quy 53
4.4.1 Phân tích tương quan 53
4.4.2 Phương trình hồi quy 54
4.4.3 Kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy 56
4.4.4 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 58
4.5 Phân tích cảm nhận về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM 58
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
5.1 Giới thiệu 61
5.2 Tóm tắt các kết quả chính 61
5.3 Kiến nghị một số hàm ý nhằm tăng ý định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM 62
5.3.1 Đối với môi trường bên trong 62
5.3.2 Đối với quan hệ cá nhân 63
5.3.3 Đối với Marketing 64
5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 66 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Phụ lục 1: Dàn bài thỏa luận tay đôi
Phụ lục 2: Đối tượng tham gia nghiên cứu định tính
Phụ lục 3: Bảng câu hỏi khảo sát
Phụ lục 4: Kết quả nghiên cứu
Trang 6DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
B2B : Business to Business
BN : Yếu tố môi trường bên ngoài
BPO : Dịch vụ thuộc quá trình sản xuất kinh doanh
BT : Yếu tố môi trường bên trong
DVVSCN : Dịch vụ vệ sinh công nghiệp
EFA : Exploratory Factor Analysis
QD : Yếu tố quyết định sử dụng
ITO : Dịch vụ gia công công nghệ thông tin
KPO : Dịch vụ nghiên cứu thiết kế
THPT : Trung học phổ thông
Tp.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7DANH M ỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 3.1: Bảng phát biểu thang đo ảnh hưởng của môi trường bên ngoài 36
Bảng 3.2: Bảng phát biểu thang đo ảnh hưởng của môi trường bên trong 37
Bảng 3.3: Bảng phát biểu thang đo các yếu tố quan hệ cá nhân 37
Bảng 3.4: Bảng phát biểu thang đo các yếu tố Marketing 38
Bảng 3.5: Bảng phát biểu thang đo các yếu tố quyết định sử dụng DVVSCN 38
Bảng 4.1: Hình thức thu thập dữ liệu 44
Bảng 4.2: Thống kê mẫu theo giới tính 44
Bảng 4.3: Thống kê mẫu theo trình độ học vấn 45
Bảng 4.4: Thống kê mẫu theo chức vụ 45
Bảng 4.5: Thống kê mẫu theo thu nhập 45
Bảng 4.6: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo quyết định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM (lần 1) 46
Bảng 4.7: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM (lần 1) 47
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett yếu tố quyết định sử dụng (lần 1) 48
Bảng 4.9: Kết quả phân tích yếu tố khám phá EFA yếu tố quyết định sử dụng (lần 1) 48
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett của các yếu tố ảnh hưởng quyết định sử dụng DVVSCN (lần 1) 49
Bảng 4.11: Kết quả phân tích yếu tố khám phá EFA yếu tố quyết định sử dụng (lần 1) 49
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng (lần 2) 50
Bảng 4.13: Kết quả phân tích yếu tố khám phá EFA yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng (lần 2) 51
Bảng 4.14: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett của các yếu tố quyết định sử dụng DVVSCN (lần 2) 52
Trang 8Bảng 4.15: Kết quả phân tích yếu tố khám phá EFA yếu tố quyết định sử dụng (lần
2) 52
Bảng 4.16: Thang đo các yếu tố trong mô hình nghiên cứu đã hiệu chỉnh 53
Bảng 4.17: Bảng hệ số tương quan 54
Bảng 4.18: Bảng tóm tắt mô hìnhb 54
Bảng 4.19: Bảng tóm tắt kết quả hồi quy 55
Bảng 4.20: Anovab 57
Bảng 4.21: Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 58
Bảng 4.22: Bảng tóm tắt mức độ ảnh hưởng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM 58
Bảng 4.23: Kết quả kiểm định T-Test với các yếu tố thành phần ảnh hưởng đến quyết định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM 59
Bảng 4.24: Bảng kết quả kiểm định T-test với yếu tố quyết định sử dụng 60
Trang 9DANH M ỤC HÌNH CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 2.1: Mô hình quyết định mua của tổ chức (Webster và Wind,1972) 15
Hình 2.2: Mô hình quyết định mua của tổ chức (Tune, 1992) 16
Hình 2.3: Mô hình quyết định mua của tổ chức (Kotler và Armstrong, 2010) 17
Hình 2.4: Mô hình quyết định mua của tổ chức (Wind và Thomas, 1980) 19
Hình 2.5: Mô hình tiến trình mua hàng của tổ chức (Dwyer & Tanner, 2010, p.73) 24
Hình 2.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua tổ chức (Philip Kotler, 2001, p.115) 25
Hình 2.7: Mô hình các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng quần áo thời trang nữ - khu vực Tp.HCM (Nguyễn Ngọc Thanh, 2008) 27
Hình 2.8: Mô hình các nhân tố tác động đến lựa chọn kênh siêu thị khi mua thực phẩm tươi sống của người tiêu dùng Tp.HCM (Chu Nguyễn Mộng Ngọc, Phạm Tấn Nhật, 2013) 27
Hình 2.9: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của người tiêu dùng tại cửa hàng Toimoi (Ayu Karbala, Harimukti và Wandebori, 2013) 28
Hình 2.10: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn sản phẩm chăm sóc da mặt cho nữ tại Phần Lan (Isa Kokoi, 2011) 29
Hình 2.11: Mô hình nghiên cứu đề nghị 30
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 32
Hình 4.1: Biểu đồ tầng số Histogram 56
Hình 4.2: Đồ thị phân tán Scatterplot 57
Trang 10TÓM T ẮT
Nghiên cứu này có ba mục tiêu cơ bản là: (1) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM, (2) Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM, (3) Đưa ra những kiến nghị, đề xuất cho các nhà cung cấp DVVSCB trong việc thiết kế các tính năng, gói dịch vụ nhằm đáp ứng những yêu cầu của các trường học trên địa bàn Tp.HCM Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai giai đoạn là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính xác định được bốn yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM gồm: (1) Các yếu tố bên ngoài, (2) Các yếu tố bên trong, (3) Các yếu tố quan hệ cá nhân, (4) Các yếu tố Marketing
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua bảng câu hỏi khảo sát Nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy thông qua phần mềm SPSS 16.0 với số lượng mẫu là
Các kết quả nghiên cứu giúp các nhà cung cấp dịch vụ hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM Từ đó, có thể định hướng việc thiết kế và phát triển các chức năng, gói dịch vụ đáp ứng nhu cầu của các trường học trên địa bàn Tp.HCM
Trang 11CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới hiện nay, mô hình dịch vụ vệ sinh công nghiệp không còn là khái niệm xa lạ với người tiêu dùng hiện đại, mà nó đã có những bước phát triển nhanh chóng để hoà nhập cùng với các mô hình dịch vụ khác Mô hình này được hiểu như
là sự kết hợp giữa việc lau chùi dọn dẹp vệ sinh thông thường với vệ sinh bằng máy móc, thiết bị, dụng cụ hiện đại Công việc dọn dẹp đơn thuần hằng ngày nay đã được chuyên nghiệp hoá với máy móc, thiết bị, dụng cụ, hóa chất chuyên dụng cùng phương pháp xử lý tối ưu nhằm đem lại sự hài lòng cho khách hàng, đặc biệt là khi nhu cầu của con người ngày càng tăng cao
Theo như báo cáo của Perry Byers về ngành vệ sinh công nghiệp tại Mỹ thì ngành vệ sinh công nghiệp tại Mỹ có hai thị trường chính đó là khu dân cư và khu trung tâm thương mại Trong đó thị trường nhà ở bao gồm các dịch vụ như giúp
việc nhà, giặt thảm, lau chùi cửa sổ và một số các dịch vụ khác Những trung tâm thương mại tập trung chủ yếu vào dịch vụ dọn dẹp vệ sinh nhưng ở phạm vi rộng hơn bao gồm vệ sinh bảo dưỡng sàn nhà, vệ sinh cửa, hút bụi, giặt thảm,…
Ngành vệ sinh công nghiệp là một ngành công nghiệp với doanh số 46 triệu USD Và dự kiến sẽ tăng 5,5% mỗi năm cho đến năm 2009 với xu hướng là người
sử dụng thuê dịch vụ bên ngoài hoặc đối với những gia đình muốn có thời gian rảnh rỗi nhiều hơn (Theo The MaidBrigade Franchise)
Đối với những công ty tìm cách cắt giảm chi phí bằng cách thuê bên ngoài cho các công ty vệ sinh công nghiệp làm sạch và bảo dưỡng tòa nhà của họ, phân khúc của ngành công nghiệp vệ sinh dự kiến sẽ tạo ra nhiều việc làm Theo Cục thống kê Lao động Mỹ dự kiến lao động trong ngành dịch vụ vệ sinh tại Mỹ sẽ gia tăng ít nhất là đến năm 2014 Ngành công nghiệp này cũng bị tác động nhiều của ngành công nghiệp xây dựng và thuê dịch vụ bên ngoài là một giải pháp nhằm cắt giảm chi phí (Theo The MaidBrigade Franchise)
Trang 12Ngành dịch vụ dọn dẹp nhà cửa, văn phòng sẽ vượt qua ngành giặt thảm, vì dùng thảm lót nhà ngày trở nên không phổ biến trong thị trường nhà ở Ngành dịch
vụ dọn dẹp nhà cửa, văn phòng đóng góp vào khoảng 80% tổng doanh thu
Chính vì những lợi ích đó, dịch vụ vệ sinh công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ không chỉ ở nước ngoài mà còn phát triển ở Việt Nam
Tuy chỉ mới du nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây nhưng mô hình dịch
vụ vệ sinh công nghiệp ngày đã dần khẳng định tầm quan trọng của mình trong việc chuyên nghiệp hoá trong các hoạt động vệ sinh thông thường Hiện nay, hầu như ở các thành phố lớn như Hà Nội, Tp.HCM, Đà Nẵng… đều xuất hiện nhiều công ty chuyên về cung cấp dịch vụ vệ sinh công nghiệp
Tp.HCM là một điển hình tiêu biểu cho sự phát triển ngành dịch vụ mới này Không chỉ cung cấp dịch vụ ở các toà nhà, cao ốc văn phòng, ngân hàng, bệnh viện
mà còn cung cấp dịch vụ cho cả môi trường trường học
Trên thực tế, trường học là nơi hội tụ đông các em học sinh, sinh viên ở các độ tuổi và nơi ở khác nhau Vì vậy, môi trường tập trung đông người thường xuất hiện những tác động tiêu cực đến sức khoẻ của học sinh, sinh viên như lây lan các bệnh truyền nhiễm về hô hấp, các loại virus,… Do đó, nhu cầu được hưởng và sử dụng môi trường vệ sinh trong lành, thoáng mát và sạch sẽ ngay trong trường học là rất cần thiết Việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ là một việc hết sức quan trọng Nó ảnh hưởng và tác động đến hiệu quả học tập và làm việc của học sinh, sinh viên trong môi trường đó Chăm sóc sức khỏe ban đầu để đạt hiệu quả tốt chính là mục tiêu quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện học sinh trong trường học
Ngày 30 tháng 08 năm 2013, Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM vừa có văn bản
số 2888/GDĐT-HSSV yêu cầu các trường học và cơ sở đào tạo trên địa bàn tăng cường công tác vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh trong trường học và vệ sinh môi trường đầu năm học 2013-2014
Theo đó, các phòng Giáo dục và Đào tạo phải phối hợp với ngành y tế địa phương tổ chức tập huấn, truyền thông các biện pháp phòng chống dịch bệnh trong
Trang 13học đường, (nhất là với các bệnh nguy hiểm như: tay chân miệng, sốt xuất huyết, và cúm gia cầm,…) cho ban giám hiệu, cán bộ y tế các trường, giáo viên, bảo mẫu tại các trường mầm non và nhóm trẻ gia đình trên địa bàn
Về phía các trường, phải tổ chức tổng vệ sinh toàn trường, đặc biệt là các cơ sở nội trú, bán trú ngay đầu năm học Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ trường lớp, bếp
ăn, căn-tin, khu vệ sinh,… Các khu vực vệ sinh phải có vòi nước rửa tay, đủ nước sạch, xà phòng Mở cửa thông thoáng lớp học, hội trường, phòng làm việc, bếp ăn Thường xuyên kiểm tra bảo đảm trong khuôn viên trường học không có nước tù đọng, thả cá bảy màu ở hồ, chậu thủy cảnh để diệt lăng quăng Bếp ăn, căn-tin nhà trường không sử dụng thịt và các sản phẩm gia cầm từ những điểm kinh doanh không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Được biết, Sở lãnh đạo Giáo dục và Đào tạo Tp.HCM sẽ phối hợp với Sở Y tế đi kiểm tra giám sát việc thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh tại các đơn vị ngay từ đầu năm học,
Theo số liệu thống kê của Viện Pasteur TP.HCM vừa công bố gần đây cho thấy,
từ đầu năm 2013 đến nay tại khu vực phía Nam, bệnh tay chân miệng vẫn là bệnh
có tỷ lệ tử vong cao nhất đối với trẻ em: 14 ca Trong đó, số ca mắc bệnh tay chân miệng từ đầu năm đến nay là gần 25 nghìn ca
Bệnh cúm xếp hàng thứ hai với 13 ca tử vong Trong đó, bao gồm gần 94 nghìn
ca mắc cúm mùa (tử vong 12 ca) và 2 ca cúm A/H5N1 (tử vong 1 ca)
Tiếp theo, sốt xuất huyết cũng có gần 12 nghìn ca mắc (10 ca tử vong) Các bệnh khác có số tử vong cao là viêm não do vi rút (7 ca) và bệnh dại (5 ca)
Các chuyên gia y tế của Viện Pasteur Tp.HCM cũng khuyến cáo: trẻ em trong
độ tuổi đến trường là những đối tượng có nguy cơ cao nhất trước những dịch bệnh trên
Nắm bắt được nhu cầu này, các Công ty dịch vụ vệ sinh luôn mong muốn được cung cấp cho các trường học một dịch vụ vệ sinh chuyên nghiệp với mục đích đảm
bảo cho trường học một môi trường học tập khang trang, sạch sẽ và đủ tiêu chuẩn
Trang 14Mặc dù hiện nay trên thế giới đã xuất hiện nhiều lý thuyết, mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi và sự chấp nhận của tổ chức sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp, nhưng dựa trên cơ sở dữ liệu được tìm kiếm bởi tác giả thì đến nay, trong nước vẫn chưa có nghiên cứu nào giúp trả lời các câu hỏi liên quan đến các yếu tố chính tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp của các tổ chức nói chung và trường học nói riêng Ngoài ra việc áp dụng một mô hình
lý thuyết trên thế giới vào hoàn cảnh của Việt Nam có thể không phù hợp do các điều kiện đặc thù riêng về kinh tế, văn hóa, xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu các mô hình hiện đại trên thế giới , dựa trên những nghiên cứu trong nước trong thời gian qua, để xây dựng một mô hình phù hợp với điều kiện của Việt Nam đã trở thành vấn đề cấp thiết
Nói tóm lại, mô hình dịch vụ vệ sinh công nghiệp đang từng bước phát triển nhanh chóng để hoà nhập với các mô hình khác tại Việt Nam Bên cạnh đó các trường học là nơi hội tụ đông các em học sinh, sinh viên với các độ tuổi và nơi ở khác nhau Nhu cầu được hưởng và sử dụng môi trường vệ sinh trong lành, thoáng mát và sạch sẽ trong trường học là rất cần thiết
Vì những lý do nêu trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM”
1.2 M ục tiêu nghiên cứu
Xác định các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học
Đưa ra những kiến nghị, đề xuất cho các nhà cung cấp dịch vụ vệ sinh công nghiệp trong việc thiết kế các tính năng, dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của các tổ chức sử dụng
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được thực hiện qua hai bước chính là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính thông qua
kỹ thuật thảo luận tay đôi giữa người nghiên cứu và đối tượng tham gia nghiên cứu
Trang 15Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua phỏng vấn bằng bảng câu hỏi
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM
- Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài, qua đó nêu lên mục tiêu mà
đề tài hướng đến, phạm vi nghiên cứu và giới thiệu bố cục của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
- Giới thiệu cơ sở lý thuyết, mô hình tham khảo và các nghiên cứu đã thực hiện trước đây Từ đó, đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Trình bày phương pháp nghiên cứu và thực hiện xây dựng thang đo, các đánh giá và kiểm định thang đo cho các khái niệm trong mô hình, kiểm định
sự phù hợp của mô hình và kiểm định các giả thuyết đề ra
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương này nêu lên các kết quả thực hiện nghiên cứu bao gồm: mô tả dữ liệu thu thập được, tiến hành đánh giá và kiểm định thang đo, kiểm định sự
Trang 16phù hợp của mô hình nghiên cứu, kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
- Tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, từ đó đưa ra các đề xuất quản lý trong lĩnh vực vệ sinh công nghiệp Bên cạnh đó, luận văn cũng nêu lên những đóng góp của đề tài, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan
Cho đến hôm nay chưa ai biết ngành vệ sinh công nghiệp có mặt tại Việt Nam từ năm nào? Theo truyền miệng của cha, anh đi trước cho rằng ngành vệ sinh công nghiệp xuất phát từ nhu cầu khách hàng ở các nhà hàng, khách sạn tại Tp.HCM, đặc biệt từ nhu cầu của các du khách nước ngoài đến làm ăn và sinh sống tại Việt Nam Nhận thấy được nhu cầu và tầm quan trọng vô cùng to lớn đó một số người đã mạnh dạng đứng ra thành lập đội vệ sinh (dịch vụ vệ sinh, công ty vệ sinh) để đáp ứng cho nhu cầu của các du khách và nhu cầu ngày càng cao của các đơn vị trong nước Theo anh Phạm Tự Lực, giám đốc Công ty TNHH TM DV Quang Minh Phúc cho rằng: “Ngành vệ sinh công nghiệp khởi điểm từ các nhà hàng nổi tại Bến Bạch Đằng (gần khu vực Cảng Sài Gòn) Điểm nhấn về thời gian là vào năm 1989 khi nền kinh tế đã mở cửa nhu cầu vui chơi giải trí ngày càng cao của người dân trong nước và các du khách đến từ nước ngoài Để tăng thêm hưng phấn và không gian lịch sự, sang trọng thì việc giữ gìn vệ sinh chung rất quan trọng ở thời điểm lúc bấy giờ Chính vì các yếu tố này ngành vệ sinh công nghiệp đã len lỏi ra đời và tồn tại cho đến ngày hôm nay”
Ngành vệ sinh công nghiệp nở rộ vào khoảng thời gian 2007 – 2010 với hàng loạt các công ty vệ sinh ra đời, tích cực tuyên truyền, giới thiệu, quảng cáo đến người tiêu dung Địa điểm phát triển mạnh nhất là ở Tp.HCM, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng, Long An,…
Ngày nay, hiện vẫn còn một số lượng lớn dân số Việt Nam chưa biết vệ sinh công nghiệp là gì, nó gồm những gì, nó làm được gì cho xã hội, nó hoạt động như thế nào,…
Theo Công ty Cổ phần Nhà Sạch Việt Nam “vệ sinh công nghiệp là sự kết hợp giữa vệ sinh thông thường và vệ sinh hiện đại”, “vệ sinh công nghiệp là sự kết hợp giữa bàn tay con người và trí thức con người”
Theo ông Trần Thiện Hữu, một trong ba người sáng lập Công ty vệ sinh công nghiệp Thành Phát thì “vệ sinh công nghiệp là sự kết hợp nhịp nhàng giữa máy
Trang 18móc, dụng cụ, hoá chất và các quy trình xử lý thông qua sự điều khiển của con người, đem lại không gian sạch sẽ, gia tăng tuổi thọ cho đồ dùng và con người” Bên cạnh đó Công ty TNHH Suluck lại cho rằng “vệ sinh công nghiệp là sự kết hợp giữa việc lau chùi dọn dẹp vệ sinh thông thường và vệ sinh bằng máy móc, dụng cụ, thiết bị hiện đại”
Theo Công ty vệ sinh công nghiệp Thành Phát thì “vệ sinh công nghiệp có thể được trình bày theo những cách khác nhau, tuy nhiên, tất cả đều có cơ bản là ý nghĩa và mục tiêu tại cùng một mục tiêu cơ bản của bảo vệ và thúc đẩy sức khỏe và hạnh phúc của người lao động, cũng như bảo vệ môi trường chung, thông qua phòng ngừa hành động tại nơi làm việc”
Các lĩnh vực hoạt động của ngành vệ sinh công nghiệp:
- Cung cấp nhân viên tạp vụ
Ngày nay, vấn đề về môi trường trong cuộc sống hàng ngày được đặt lên hàng đầu, bên cạnh đó ngày càng có nhiều Công ty chuyên cung cấp dịch vụ vệ sinh được thành lập Các cá nhân, tổ chức với mong muốn có một môi trường sống trong lành sạch sẽ và không tốn nhiều thời gian cũng như công sức cho việc quản lý và tổ chức
Trang 19vệ sinh Chính vì vậy, các các nhân, tổ chức thường lựa chọn cho mình một đơn vị cung cấp dịch vụ vệ sinh chuyên nghiệp phục vụ cho việc vệ sinh tại gia đình và văn phòng làm việc của họ Theo quan điểm của người viết đó chính là sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp
2.2 Một số vấn đề cơ bản về Outsourcing – Thuê ngoài
Trước đây, tại các trường học đa phần là tự tổ chức dịch vụ vệ sinh dọn dẹp cho các lớp học, các văn phòng và những khu vực công cộng trong trường Việc tự tổ chức thực hiện vệ sinh như vậy tố kém rất nhiều về chi phí, bộ máy tổ chức quản lý nhưng không đạt hiệu quả cao vì trường học hầu như không đầu tư trang thiết bị hiện đại cho việc thực hiện vệ sinh tại trường học Chính vì điều đó, hiện tại các trường học đều thực hiện việc thuê ngoài cho việc dọn dẹp vệ sinh tại trường Tác giả sẽ giới thiệu sơ qua về dịch vụ Outsourcing hay còn gọi là thuê ngoài
2.2.1 Khái niệm và đặc điểm
Mặc dù ngành công nghiệp outsourcing đã ra đời cách đây khoảng 20 năm (từ những năm 1989) nhưng cho đến hiện nay, các chuyên gia kinh tế của Việt Nam vẫn chưa thống nhất để đưa ra một định nghĩa chính thức nào về outsourcing, cũng như việc tìm được một cụm từ tiếng Việt chính thức thay thế cho thuật ngữ outsourcing thật không dễ dàng Tuy nhiên, hiện tại khi đề cập đến outsourcing, các thuật ngữ phổ biến thường được dùng để thay thế hay sử dụng trong sách báo là
“thuê ngoài” hoặc “thuê làm bên ngoài” Trong bài viết này, tác giả xin phép được giữ nguyên thuật ngữ outsourcing để đảm bảo tính chính xác bởi bản thân outsourcing đã là một khái niệm rất rộng bao hàm nhiều mảng khác nhau của nền kinh tế
Trong một bài viết trên tạp chí CIO Asia và MIS Financial Review, Stephanie Overby, một chuyên gia nghiên cứu về outsourcing, đã đưa ra một định nghĩa vể outsourcing như sau: “Tùy theo từng cách tiếp cận với vấn đề thì có một cách định nghĩa khác nhau về outsourcing, tuy nhiên xét một cách căn bản, outsourcing chính
là việc chuyển một phần các dịch vụ cho bên thứ ba”
Trang 20Nói một cách khác, outsourcing về bản chất là một giao dịch, thông qua đó một công ty mua các dịch vụ từ một công ty khác trong khi vẫn giữ quyền sở hữu và chịu trách nhiệm cơ bản đối với các hoạt động đó Có hai đặc điểm cần lưu ý trong định nghĩa về outsourcing của Stephanie Overby:
Thứ nhất, outsourcing là chuyển một phần các dịch vụ bao gồm dịch vụ công nghệ thông tin (ITO), dịch vụ thuộc quá trình sản xuất kinh doanh (BPO), và dịch
vụ nghiên cứu thiết kế (KPO) Với mục đích chính là cắt giảm chi phí hoạt động cho doanh nghiệp, nên phần dịch vụ được outsource thường cụ thể, không quá phức tạp, đòi hỏi sự tỉ mỉ với chi phí dịch vụ ở mức trung bình hoặc thấp
Thứ hai, bên thứ ba được nhắc đến không chỉ là các doanh nghiệp trong nước
mà cả doanh nghiệp nước ngoài được thuê outsource, thường được gọi là thuê ngoài nội biên (inshore outsourcing) và thuê ngoài ngoại biên (offshore outsourcing) Ngoài ra, theo Wikipedia tổng kết các công việc thường được outsource bao
gồm: CNTT, quản lý nguồn nhân lực, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng, và kế toán Nhiều công ty cũng thực hiện outsourcing việc hỗ trợ khách hàng và trung tâm cuộc gọi (call center), sản xuất và kĩ thuật
2.2.2 Vai trò c ủa Outsourcing
Ngay từ những ngày đầu phát triển, mô hình outsourcing đã tỏ ra có ưu thế và được các công ty đánh giá cao.Theo các nguồn tài liệu khác nhau, ở Mỹ có gần 60%, còn ở châu Âu có 45% tổng số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của các công ty chuyên nghiệp trong lĩnh vực cung cấp nguồn nhân lực bên ngoài
Dự tính trong những năm tới thị trường outsourcing vẫn sẽ tăng trưởng nhanh chóng với sự gia tăng các công ty có nhu cầu outsource các công việc từ cấp thấp đến cấp cao ra bên ngoài, đồng thời số công ty cung cấp dịch vụ outsourcing cũng tăng lên Trên thực tế càng nhiều công ty outsource thì rủi ro càng nhỏ vì các doanh nghiệp có kinh nghiệm hơn và có mục tiêu rõ ràng hơn
Trong kinh doanh hiện đại, outsourcing cho phép một doanh nghiệp sử dụng
những dịch vụ truyền thống dựa trên những điều kiện linh hoạt, với ý tưởng chủ đạo là: đảm bảo sự mềm dẻo nhưng năng động, chi phí thấp và có khả năng phát triển
Trang 21Trong phần này tác giả sẽ cố gắng hệ thống lại một cách đầy đủ nhất những ưu điểm cũng như vai trò của outsourcing trong hoạt động của doanh nghiệp Có thể kể đến một số những điểm nổi bật như:
- Chuyên môn hóa công việc
- Tiết kiệm và tái cơ cấu chi phí
- Tiếp cận công nghệ hiện đại
- Tận dụng nguồn nhân lực dồi dào và lựa chọn đối tác có năng lực tốt nhất
- Góp phần tăng năng suất lao động
- Giúp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp
Chuyên môn hóa công việc
Mỗi công ty đều có thế mạnh riêng của mình, vì thế vai trò đầu tiên của outsourcing là giúp cho doanh nghiệp tập trung vào chuyên môn, và nâng cao hiệu quả của các hoạt động khác bằng cách sử dụng nguồn nhân lực bên ngoài
Trong công ty có một số hoạt động tuy không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng
(back office) nhưng hầu hết chúng rất quan trọng đối với các công việc hàng ngày của tổ chức Thông qua outsource các hoạt động back office cho một bên chuyên môn thứ ba quản lý, công ty có thể tập trung vào công việc kinh doanh chính của
mình Riêng đối với BPO, như đã tìm hiểu, trong trường hợp này BPO sẽ hỗ trợ
doanh nghiệp bằng việc đảm nhận trách nhiệm quản lý các hoạt động back office
hàng ngày
Tiết kiệm và tái cơ cấu chi phí
Xuất phát từ việc outsource các lĩnh vực vốn không phải là thế mạnh của mình, nên công ty sẽ ít phải quan tâm hơn tới những lĩnh vực này, không phải lo về việc lãng phí nguồn nhân lực hay chi phí quản lý cho bộ máy hoạt động kém hiệu quả
Đối với doanh nghiệp, việc sử dụng những nhân viên hợp đồng có trình độ cao từ
các nhà cung cấp chuyên nghiệp giúp họ tiết kiệm chi phí đáng kể so với việc tái thiết một hệ thống vận hành riêng trong công ty
Ngoài ra, bằng việc chọn các công ty nhận outsource thích hợp, doanh nghiệp có
thể tiết kiệm chi phí về thuế Không những tiết kiệm chi phí, outsource còn giúp
Trang 22nguồn lực được phân bổ và chi phí được tái cơ cấu một cách hiệu quả hơn, theo đó,
sẽ đầu tư nhiều vào các lĩnh vực trọng yếu và chiếm ưu thế, từ đó nâng cao hiệu suất kinh doanh
Ti ếp cận công nghệ hiện đại
Một công ty muốn đầu tư vào các công nghệ mới đòi hỏi phải có vốn lớn, chấp nhận rủi ro Trong khi đó, thị trường công nghệ luôn thay đổi từng ngày từng giờ nên sẽ rất khó để các công ty theo kịp được những tiến bộ và giải pháp công nghệ mới nhất Trong trường hợp này, ITO là một giải pháp tốt cho các doanh nghiệp, nó giúp tiếp cận với một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, có trình độ công nghệ cao; đồng thời sẽ mang lại cho khách hàng khả năng linh động trong việc lựa chọn Một bài toán khó đối với bộ phận IT nội bộ là đối mặt với sự thay đổi liên tục của công nghệ, lượng vốn đầu tư lớn cho các thiết bị IT nội bộ đôi khi buộc công ty phải tái sử dụng những công nghệ đã lỗi thời do chưa kịp khấu hao hết
Chính vì thế, khi thực hiện ITO, công ty sẽ giảm thiểu được những hạn chế về mặt công nghệ này, do bên nhận outsource sẽ có trách nhiệm giải quyết chúng
Tận dụng nguồn nhân lực dồi dào và lựa chọn đối tác có năng lực tốt nhất
v ới chí phí hợp lý nhất
Hầu hết các hoạt động outsourcing đều được chuyển ra bên ngoài biên giới, mà chủ yếu là tới các quốc gia đang phát triển hoặc có nền kinh tế chuyển đổi, cũng vì thế nên doanh nghiệp đứng trước cơ hội tiếp cận với một thị trường nhân lực dồi dào, đội ngũ lao động lành nghề và với chi phí hợp lý nhất; đồng thời có thể tiết kiệm chi phí tuyển dụng, đào tạo và một số chi phí khác để duy trì đội ngũ lao động trong công ty Ngoài ra, doanh nghiệp có khả năng tận dụng các kiến thức chuyên môn mà vốn bản thân nó không có được
Vì vậy, theo như một số nghiên cứu thị trường cho thấy, công ty sẽ tiết kiệm 40% chi phí khi outsource việc quản lý nguồn nhân lực
20-Góp phần tăng năng suất lao động
Bằng việc thuê lực lượng lao động lớn có kĩ năng với chi phí thấp, các công ty
có thể tăng năng suất lao động Lấy một ví dụ với BPO, hoạt động này có khả năng
Trang 23giải phóng công ty khỏi trách nhiệm quản lý các quy trình kéo dài từ ngày này qua ngày khác Thông thường các nhà quản lý sẽ cần tới 80% thời gian để quản lý chi tiết và chỉ còn 20% thời gian để xây dựng các chiến lược Tuy nhiên, khi hoạt động kinh doanh được outsource thành công, tỉ lệ này sẽ thay đổi, các nhà quản lý có thể cân đối dành nhiều thời gian hơn để xây dựng chiến lược Bên cạnh đó, công ty có điều kiện tốt hơn để phân bổ lại các nguồn lực cho các dự án quan trọng, giúp tiết kiệm thời gian khám phá các khu vực lợi nhuận mới, tăng số dự án và tập trung vào chăm sóc khách hàng
Giúp nâng cao kh ả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Lãnh đạo doanh nghiệp tìm đến mô hình dịch vụ outsourcing khi họ phải đối diện với yêu cầu đảm bảo năng lực cạnh tranh của mình Một công ty muốn đứng vững trên thị trường, cần cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao, và chi phí hợp lý tương ứng Khi sử dụng nguồn lực bên ngoài, công ty chỉ quan tâm đến giá cả và
chất lượng dịch vụ nhận được, còn các rủi ro tài chính sẽ nhường lại cho các nhà cung cấp, vì thế, chất lượng dịch vụ mà công ty quyết định outsource cũng ngày càng tăng lên và hiệu quả cao hơn
2.3 Quy ết định mua của tổ chức
2.3.1 T ổng quan quyết định mua của tổ chức
Các khái niệm cơ bản cũng như các mô hình về quyết định mua của tổ chức đã được đưa ra khoảng vài chục năm trước đây, đi tiên phong có thể kể đến Faris và Wind (1967), Webster và Wind (1972), Pride và Ferrel (1977), Wind và Thomas (1980), Tune (1992) Các mô hình cũng như ý tưởng đưa ra khá phổ biến và được
sử dụng bởi nhiều người để hiểu thêm về quyết định mua tổ chức
Webster và Wind (1972) nhấn mạnh sự hiểu biết về cơ cấu quyền lực của một
tổ chức để chấp hành tốt các quy trình ra quyết định Webster và Wind định nghĩa
“hành vi mua của tổ chức là một quá trình ra quyết định được các cá nhân thực hiện trong mối quan hệ tương tác với các cá nhân khác, trong khung cảnh của một tổ
chức hoạt động chính thức, và tổ chức lại chịu ảnh hưởng của một loạt các nhân tố
Trang 24Môi trường
Tổ chức
Trung tâm mua hàng
Các cá nhân tham gia
Quá trình ra quyết định mua
và các nhà cung cấp khác nhau”
Nguồn: Webster và Wind - 1972
Hình 2.1: Mô hình quyết định mua của tổ chức (Webster và Wind - 1972)
Theo Tune (1992): “Quyết định mua của tổ chức là quá trình quyết định theo đó các tổ chức hình thành nhu cầu đối với những sản phẩm, dịch vụ, nhận biết, đánh giá và lựa chọn mua trong số những nhãn hiệu và nhà cung cấp thế vị đang được chào hàng trên thị trường nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của mình”
Trang 25thu thập và
xử lý thông tin
Quyết định nhà cung cấp và quyết định sản phẩm
Sử dụng
và đánh giá sản phẩm
Các bước của quá trình
ra quyết định Tình huống mua
Nguồn: Tunes - 1992
Hình 2.2: Mô hình quyết định mua của tổ chức
Theo Pride và Ferrel (1977): “Quyết định mua của khách hàng tổ chức là quyết định mua của nhà sản xuất, người bán lại, các cơ quan nhà nước, hoặc các hiệp hội
Trang 26Ở mức độ cơ bản nhất, những người làm marketing đều muốn biết những khách hàng tổ chức sẽ đáp ứng ra sao trước những tác nhân marketing khác nhau Mô hình đơn giản về quyết định mua của tổ chức được trình bày trong hình
Nguồn: Kotler và Armstrong, 2010
Hình 2.3: Mô hình quy ết định mua của tổ chức
Mô hình quyết định mua của tổ chức cho thấy rằng các tác nhân marketing và các tác nhân khác ảnh hưởng đến tổ chức và tạo ra những đáp ứng của người mua Những tác nhân marketing bao gồm 4P: sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị
- Sản phẩm (Product): Quản lý các yếu tố của sản phẩm bao gồm lập kế hoạch
và phát triển đúng những mặt hàng/dịch vụ mà công ty sẽ đưa ra thị trường
o Sản phẩm là bất kỳ một thứ gì đó có thể được đưa ra thị trường để tạo ra
sự chú ý, sự đón nhận, sự sử dụng, hoặc sự tiêu thụ để thỏa mãn được một nhu cầu hoặc ham muốn nào đó Nó bao gồm: vật thể, dịch vụ, địa điểm,
tổ chức, các ý tưởng
o Sản phẩm là một yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của marketing-mix
Nó là một phần của chiến lược marketing
- Giá (Pricing): Xác định đúng cơ sở giá cho các sản phẩm
o Giá hớt váng thị trường: là mức giá cao cho một sản phẩm mới để thu được lợi nhuận tối đa từng lớp một từ những phân đoạn thị trường sẵn sàng chịu giá cao; công ty làm ít nhưng thu lợi nhiều
o Giá thâm nhập thị trường: là mức giá thấp cho một sản phẩm mới để thu hút một số lượng khách hàng lớn và một thị phần lớn
C ạnh tranh
CÁC ĐÁP ỨNG
C ỦA NGƯỜI MUA Chọn sản phẩm hay dịch vụ
Chọn nhà cung cấp Khối lượng đặt hàng Điều kiện và thời hạn giao hàng
Điều kiện dịch vụ Điều kiện thanh toán
Trang 27o Giá tâm lý: là giá tác động vào tâm lý của khách hàng để họ không có cảm giác là sản phẩm có giá cao hoặc là mức giá đó cũng hợp lý
- Phân phối (Place): Chọn lựa và quản lý các kênh thương mại để sản phẩm chiếm lĩnh được thị trường mục tiêu đúng thời điểm và phát triển hệ thống logistic và vận chuyển sản phẩm
o Kênh trực tiếp
o Kênh qua trung gian bán lẻ
o Kênh qua trung gian bán buôn và bán lẻ
o Kênh qua trung gian đại lý, nhà bán buôn và bán lẻ
o Kênh trực tiếp cho khách hàng công nghiệp
o Kênh qua trung gian bán buôn cho khách hàng công nghiệp
- Chiêu thị (Promotion): Giới thiệu và thuyết phục thị trường dùng sản phẩm của doanh nghiệp
Để thiết kế được những phối thức marketing hiệu quả, những người làm marketing phải tìm hiểu những gì xảy ra bên trong tổ chức trong việc chuyển các tác nhân kích thích thành những phản ứng đáp lại của tổ chức mua
Góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu về quyết định mua hàng tổ chức là khi Wind và Thomas (1980) có thể chia khách hàng tổ chức thành ba khái niệm chính là tiến trình mua hàng, trung tâm mua hàng và các yếu tố ảnh hưởng hai yếu
tố trên
Trang 28Nguồn: Wind và Thomas, 1980
Hình 2.4: Mô hình quyết định mua của tổ chức (Wind và Thomas – 1980) 2.3.2 Các đặc điểm của thị trường tổ chức
Thị trường tổ chức bao gồm tất cả các tổ chức mua các hàng hóa và dịch vụ sử dụng cho việc sản xuất các hàng hóa và dịch vụ khác để bán ra, cho thuê hoặc cung ứng cho người khác Các ngành chủ yếu tạo thành thị trường tổ chức bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khai thác mỏ, sản xuất, xây dựng, vận tải, viễn thông, lợi ích công, ngân hàng, tài chính và bảo hiểm, phân phối và dịch vụ
Thị trường tổ chức bao gồm:
- Các doanh nghiệp sản xuất: bao gồm những người mua hàng hóa và dịch vụ nhằm sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ khác để bán, cho thuê hoặc cung cấp cho những người khác
- Các doanh nghiệp thương mại: bao gồm tất cả những người mua sản phẩm
và dịch vụ nhằm mục đích bán lại hoặc cho những người khác thuê để kiếm lời, hay để phục vụ cho các nghiệp vụ của họ
- Các tổ chức chính quyền: bao gồm các tổ chức chính quyền cấp trung ương
và địa phương mua hàng hóa dịch vụ để thực hiện những chức năng chính của chính quyền
- Các tổ chức khác: bao gồm các tổ chức không thuộc 3 loại tổ chức trên như các thư viện, trường học, tổ chức phi chính phủ,… thuộc công nhân hay tư nhân
Thị trường tổ chức có một số đặc điểm khác biệt so với thị trường tiêu dùng:
Quyết định mua của tổ chức
Tiến trình
mua hàng
Trung tâm mua hàng
Các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình mua hàng và trung tâm mua hàng
Trang 29- Ít người mua hơn: người làm marketing cho thị trường tổ chức thường làm việc với ít khách hàng hơn so với người làm marketing cho thị trường tiêu dùng
- Người mua lớn hơn: số ít khách hàng tổ chức nhưng lại là những khách hàng lớn Chẳng hạn trong ngành công nghiệp sản xuất máy bay
- Mối quan hệ khách hàng – nhà cung cấp chặt chẽ: vì có ít khách hàng và mỗi khách hàng đều quan trọng và sức mạnh của khách hàng lớn nên các nhà cung ứng thường mong muốn đáp ứng theo nhu cầu của khách hàng bằng những cung ứng được thiết kế theo nhu cầu của họ Đôi khi khách hàng đòi hỏi người bán thay đổi năng lực và cách làm Trong những năm vừa qua, mối quan hệ giữa khách hàng và nhà cung ứng đang thay đổi từ quan hệ đối đầu thẳng thắn sang mối quan hệ gần gũi và thân thiết
- Khách hàng tập trung về mặt địa lý: vì đặc thù của một số vùng địa lý ở đó
tập trung sự phát triển về kinh tế hoặc nguồn tài nguyên nên khách hàng tổ chức thường tập trung về mặt địa lý hơn so với khách hàng tiêu dùng Sự tập trung này giúp các nhà cung ứng giảm được chi phí Đồng thời các nhà làm marketing nên điều chỉnh để dịch chuyển đến gần một số địa bàn tập trung các ngành kinh doanh quan trọng
- Nhu cầu phát sinh: nhu cầu đối với sản phẩm công nghiệp thật ra phát sinh từ nhu cầu đối với sản phẩm tiêu dùng Vì lý do này, các nhà làm marketing thị trường tổ chức cũng cổ động sản phẩm của mình trực tiếp đến khách hàng tiêu dùng nhằm kích nhu cầu của thị trường tổ chức Ví dụ như Intel đã có những chương trình quảng cáo về con chip của Intel và thông qua đó nhu cầu của khách hàng tiêu dùng đối với máy tính sử dụng con chip của Intel gia tăng và như vậy cả Intel và các khách hàng tổ chức của nó là các công ty sản xuất máy tính đều có lợi vì đã kích thích được nhu cầu đối với máy tính sử dụng con chip Intel trong thị trường tiêu dùng là cái đích phục vụ cuối cùng
của cả Intel và các khách hàng tổ chức
Trang 30- Nhu cầu ít co dãn: Nhiều thị trường tổ chức có nhu cầu không nhạy cảm với giá, tổng nhu cầu đối với nhiều sản phẩm tổ chức không bị tác động nhiều vì
sự thay đổi giá, đặc biệt là trong ngắn hạn Sự giảm giá da không khiến cho các nhà sản xuất giày mua nhiều da hơn cho đến khi nó có thể tạo ra sự giảm giá giày, tiếp đó, sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng đối với giày Hoặc người sản xuất giày sẽ không mua ít da đi khi giá da tăng cho đến khi họ tìm ra được nguyên liệu thay thế phù hợp Nhu cầu đặc biệt ít co dãn trong ngắn hạn vì các nhà sản xuất không thể nhanh chóng thay đổi phương phức sản xuất của mình Nhu cầu cong ít co dãn đối với những hàng hóa chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng chi phí sản xuất ra sản phẩm
- Nhu cầu biến động: nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ công nghiệp có xu hướng biến động nhiều hơn so với nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng Một % thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng có thể dẫn đến % thay đổi
lớn hơn rất nhiều đối với các yếu tố đầu vào Các nhà kinh tế học gọi đây là hiệu ứng gia tốc Đôi khi thị trường tiêu dùng chỉ biến động 10% (tăng lên)
có thể tạo ra sự gia tăng đến hơn 200% nhu cầu của thị trường tổ chức trong
kỳ kinh doanh tiếp theo
- Mua hàng chuyên nghiệp: hàng hóa công nghiệp được mua bởi những tổ chức mua hàng được đào tạo, họ làm việc theo chính sách, qui định và yêu cầu mua hàng của tổ chức Nhiều công cụ mua hàng - chẳng hạn, yêu cầu về hạn ngạch, các hợp đồng mua hàng thường được sử dụng Người mua chuyên nghiệp bỏ ra thời gian làm việc của mình để học hỏi làm thế nào để mua hàng tốt hơn Các nhà làm marketing phải cung cấp những dữ liệu kỹ thuật tốt hơn về sản phẩm và lợi thế của nó so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Các nhà làm marketing cho khách hàng tổ chức đưa thông tin về sản phẩm, giá và các thông tin khác lên Internet Các tổ chức mua hàng và các nhà môi giới có thể truy cập vào nhiều thông tin hơn, dễ dàng hơn so với trước đây
Trang 31- Một số tác động mua hàng: nhiều người có tác động lên quyết định mua hàng
tổ chức Hội đồng mua hàng bao gồm các chuyên gia kỹ thuật và thậm chí là ban quản trị cấp cao thường khá phổ biến trong việc mua một số đầu vào quan trọng của các tổ chức Các nhà làm marketing phải cử những đại diện bán hàng được đào tạo tốt và các đội bán hàng thường xuyên đến tiếp xúc với những người mua được đào tạo tốt
- Mời gọi nhiều nhà cung ứng: vì nhiều người liên quan đến quá trình mua, nên các tổ chức thường kêu gọi nhiều cung ứng bán hàng để đạt được những đơn đặt hàng tốt nhất và chu kỳ mua hàng có thể diễn ra nhiều năm Theo nghiên cứu của McGraw-Hill thì mất khoảng 4 đến 4,5 lần gọi nhà cung ứng
để có được một trao đổi mua bán cho khách hàng tổ chức Người làm marketing cũng cần phải nhớ rằng phụ nữ hiện này chiến một phần quan trọng trong những người ra quyết định mua hàng
- Mua hàng trực tiếp: khách hàng tổ chức thường mua trực tiếp từ các nhà sản xuất thay vì thông qua các trung gian, đặc biệt là những hàng hóa có tính năng kỹ thuật phức tạp hoặc đắt tiền
- Tương hỗ: khách hàng tổ chức thường lựa chọn những nhà cung ứng mua hàng của họ Một ví dụ đó là các nhà sản xuất giấy mua hóa chất từ những công ty hóa chất mua số lượng lớn giấy của họ
- Thuê mua: nhiều khách hàng công nghiệp thuê thay vì mua những thiết bị nặng như máy móc và xe tải Người đi thuê có một số lợi thế: bảo tồn vốn, có được những sản phẩm mới nhất, nhận được dịch vụ tốt hơn và đạt được một
số lợi thế về thuế Người cho thuê thường kết thúc với thu nhập ròng lớn hơn
và cơ hội bán cho những khách hàng không đủ khả năng mua mới
2.3.3 Trung tâm mua hàng của tổ chức
Có thể gọi đơn vị mua của một tổ chức là trung tâm mua (buying center), bao gồm các cá nhân và các nhóm có tham dự vào tiến trình quyết định mua, cùng chia
sẻ một số mục tiêu chung và những rủi ro phát sinh từ các quyết định mua
Trung tâm mua bao gồm các thành viên của tổ chức giữ những vai trò sau:
Trang 32Người sử dụng: những người sử dụng là những thành viên của tổ chức sẽ sử
dụng sản phẩm hay dịch vụ được mua về Trong nhiều trường hợp, những người sử dụng đề nghị mua và giúp xác định các chi tiết kỹ thuật của sản phẩm
Người ảnh hưởng: những người ảnh hưởng là những người tác động đến
quyết định mua Họ thường giúp xác định các chi tiết kỹ thuật và cung cấp thông tin
để đánh giá, lựa chọn các phương án: những nhân viên kỹ thuật là những người ảnh hưởng đặc biệt quan trọng
Người mua: những người mua là những người có thẩm quyền chính thức
trong việc lựa chọn nhà cung cấp và dàn xếp các điều kiện mua bán Những người mua có thể giúp định hình các chi tiết kỹ thuật, nhưng vai trò chính của họ là lựa chọn những người bán và tiến hành thương lượng Trong những quyết định mua phức tạp hơn, có thể gồm cả những nhà quản trị cấp cao tham gia thương lượng
Người quyết định: những người quyết định là những người có quyền hành
chính thức hoặc bán chính thức để chọn hoặc chấp thuận chọn các nhà cung cấp Trong việc mua theo lệ thường, họ thường là những người quyết định, hoặc ít ra cũng là những người chấp thuận
Người gác cổng (gatekeeper): những người bảo vệ là những người kiểm soát
dòng thông tin đi đến những người khác Chẳng hạn các nhân viên kỹ thuật, nhân viên cung ứng và thư ký thường có thể ngăn không cho các nhân viên bán được gặp những người sử dụng hoặc những người quyết định
Trung tâm mua không phải là một đơn vị cố định và chính thức bên trong tổ chức mua; đó là tập hợp các vai trò mua do những người khác nhau đảm nhận cho những công việc mua khác nhau Trong tổ chức, quy mô và thành phần của trung tâm mua sẽ thay đổi theo những loại sản phẩm khác nhau và tình huống mua khác nhau Đối với một số trường hợp mua theo thường lệ, một người (một nhân viên cung ứng chẳng hạn) có thể đảm nhiệm tất cả các vai trò của trung tâm mua và là người duy nhất có liên quan đến quyết định mua Đối với một số trường hợp mua
phức tạp, trung tâm mua có thể bao gồm những người từ các cấp và các phòng ban khác nhau của tổ chức
Trang 332.3.4 Ti ến trình mua hàng của tổ chức
Việc mua tư liệu sản xuất của các doanh nghiệp thường phải trải qua một số giai đoạn cần thiết Có thể phân chia ước lệ tiến trình quyết định mua để thực hiện yêu cầu mới của doanh nghiệp sản xuất thành tám giai đoạn Một số giai đoạn trong đó
có thể bỏ qua khi mua sắm trong những tình huống mua khác
Mô hình tình huống mua tám giai đoạn thể hiện những bước chủ yếu trong quá trình mua sắm tư liệu sản xuất Người hoạt động trên thị trường các doanh nghiệp cần vẽ sơ đồ dòng công việc, vì sơ đồ này có thể cung cấp nhiều gợi ý cho người làm Marketing
Ngu ồn: Dwyer & Tanner, 2010, P.73
Hình 2.5: Mô hình ti ến trình mua hàng của tổ chức 2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua của tổ chức
Có nhiều yếu tố khác nhau có thể tác động tới người mua là tổ chức khi họ đưa
ra quyết định mua hàng Một số người cho rằng các yếu tố cá nhân như quà tặng hay các loại quan tâm đặc biệt khác sẽ ảnh hưởng tới quyết định mua hàng của tổ chức Một số khác thì cho rằng những người mua chuyên nghiệp, các tổ chức thường quan tâm về tính hợp lý và kinh tế Tuy mỗi người mua một khác, đa số họ đều dựa vào sự cân nhắc hợp lý và tiết kiệm khi họ phải chọn một trong các chào hàng khác nhau khá nhiều Và hơn hết, họ phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình Trong trường hợp không có sự khác biệt đáng kể giữa các bảng chào hàng, người mua sẽ có thể đưa ra quyết định dựa trên những yếu tố cá nhân Tuy nhiên, những yếu tố ảnh hưởng đến khách hàng là tổ chức được phân thành 4 nhóm chủ yếu như sau:
Nhận thức
vấn đề
Phác họa tổng quát nhu cầu
Xác định quy cách sản phẩm
Tìm kiếm nhà cung cấp
Yêu cầu
chào hàng
Lựa chọn nhà cung cấp
Làm thủ tục đặt hàng
Đánh giá kết quả thực hiện
Trang 34Địa vị
Sự thông cảm
Sự thuyết phục
Cá nhân Tuổi tác
Thu nhập
Học vấn
Vị trí công tác
Nhân cách
Thái độ với rủi ro
Người mua
Nguồn: Philip Kotler, 2001, pp.115
Hình 2.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua tổ chức
- Y ếu tố môi trường: Khách hàng tổ chức chịu ảnh hưởng rất nhiều của các
yếu tố môi trường kinh tế hiện tại và tường lai, như mức cầu đối với sản phẩm của họ, triển vọng kinh tế, nguồn vốn và chi phí về tài chính Các doanh nghiệp mua nhiều hơn khi dự báo kinh tế là ổn định hay phát triển Họ cũng mua nhiều hơn nếu họ lo ngại thiếu nguyên liệu Tuy nhiên, khi sự bất
ổn định của nền kinh tế gia tăng, họ sẽ cắt giảm đầu tư và dự trữ
Những tác động khác của môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khách hàng tổ chức bao gồm sự phát triển về công nghệ, những thay đổi trong môi trường chính trị và pháp luật, những thay đổi trong tình hình cạnh tranh của họ Các khách hàng tổ chức cần theo dõi tất cả các tác động này và cần xác định làm sao để biến khó khăn thành cơ hội Ví dụ, mối quan tâm đang tăng về môi trường sẽ tác động tới khách hàng trong việc lựa chọn các sản phẩm không gây hại cho môi trường
- Y ếu tố tổ chức: Khách hàng cần phải biết đến các mục tiêu, chính sách, quy
định, cơ cấu tổ chức và các hệ thống của công ty mình Những yếu tố bên
Trang 35trong này (cũng được biết đến là các yếu tố tổ chức) bao gồm các vấn đề về
số lượng người tham gia vào trung tâm mua, họ là ai, ai giữ vai trò nào trong quá trình mua, và kết quả thực hiện sẽ được đánh giá như thế nào Những người mua cũng cần biết đến mọi thay đổi được hoạch định trong bộ phận mua sắm của Công ty mình
- Y ếu tố quan hệ cá nhân: Trung tâm mua thường bao gồm vài thành viên
với những mối quan tâm, thẩm quyền, địa vị và sức thuyết phục khác nhau Những người khác nhau sẽ đảm nhận các vai trò này trong những tình huống khác nhau Không phải lúc nào cũng rõ ràng ai đóng vai trò gì và ai đang có ảnh hưởng lớn nhất đối với một quyết định được đưa ra Hiểu được những yếu tố này và nỗ lực tìm hiểu các động thái quan hệ cá nhân trong các Công
ty khách hàng sẽ giúp xây dựng những chiến lược có tính toán đến các yếu tố
đó
- Nh ững yếu tố cá nhân: Bất kỳ ai tham gia vào quá trình mua cũng đều có
động cơ, nhận thức và sở thích của mình Chính những yếu tố cá nhân cũng
sẽ ảnh hưởng tới quyết định mua của khách hàng Những người mua khác nhau sẽ thể hiện các cách mua khác nhau
2.4 Các nghiên c ứu liên quan
(1) Một số yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng quần áo thời trang
nữ - khu vực Tp.HCM của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh, Luận Văn Thạc
Sĩ 2008
Tác giả Nguyễn Ngọc Thanh đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hành
vi tiêu dung quần áo thời trang nữ - khu vực Tp.HCM, dựa theo mô hình hành vi của người mua của Philip Kotler gồm: nhóm yếu tố môi trường bao gồm yếu tố văn hoá và yếu tố xã hội, nhóm yếu tố cá nhân và nhóm yếu tố tâm lý
Trang 36Ngu ồn: Nguyễn Ngọc Thanh, 2008
Hình 2.7: Mô hình các y ếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng quần áo
th ời trang nữ - khu vực Tp.HCM
(2) Phân tích các nhân tố tác động đến lựa chọn kênh siêu thị khi mua thực phẩm tươi sống của người tiêu dùng Tp.HCM của tác giả Chu Nguyễn
M ộng Ngọc và Phạm Tấn Nhật, Tạp chí phát triển và hội nhập 2013
Nghiên cứu trên 120 mẫu quan sát, với giả thuyết nghiên cứu các yếu tố tác động đến lựa chọn kênh siêu thị khi mua thực phẩm tươi sống của người tiêu dùng Tp.HCM bao gồm các yếu tố: Sản phẩm, giá cả, địa điểm và chiêu thị Kết quả của nghiên cứu cho thấy yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định chọn kênh mua thực phẩm tươi sống, đồng thời yếu tố chiêu thị không có ảnh hưởng đến quyết định này
Nguồn: Chu Nguyễn Mộng Ngọc, Phạm Tấn Nhật, 2013
Hình 2.8: Mô hình các nhân t ố tác động đến lựa chọn kênh siêu thị khi mua
thực phẩm tươi sống của người tiêu dùng Tp.HCM
thực phẩm tươi sống
Trang 37(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của người tiêu dùng t ại cửa hàng Toimoi, Indonesia của tác giả Ayu Karbala, Harimukti
và Wandebori, 2013
Nghiên cứu được khảo sát trên 160 khách hàng của cửa hàng Toimoi (cửa hàng chuyên kinh doanh các sản phẩm đồ gỗ trang trí nội thất) Mô hình nghiên cứu xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn khách hàng tại cửa hàng là: sản phẩm, giá
cả, phân phối và chiêu thị
Kết quả nghiên cứu cho thấy tính đa dạng của sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của người tiêu dùng tại cửa hàng Toimoi, Indonesia
Nguồn: Ayu Karbala, Harimukti và Wandebori, 2013
Hình 2.9: Mô hình các y ếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của
người tiêu dùng tại cửa hàng Toimoi
(4) Các yếu tố tác động đến việc lựa chọn sản phẩm chăm sóc da mặt cho nữ
t ại Phần Lan của tác giả Isa Kokoi, 2011
Kết quả khảo sát được thực hiện bằng bảng câu hỏi được gởi đến 505 khách hàng, sau khi sàn lọc chọn được 138 bảng trả lời đạt yêu cầu và phân chia thành 2 nhóm khách hàng với độ tuổi từ 20-35 và 40-60 Mô hình nghiên cứu xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng của khách hàng bao gồm các yếu tố: văn hoá, xã hội, cá nhân, giá trị và mục tiêu, thái độ, marketing
Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng đối với từng nhóm tuổi khác nhau thì có những quyết định khác nhau Phụ nữ lớn tuổi cho rằng ý kiến của bạn bè là quan trọng hơn so với phụ nữ nhỏ tuổi Phụ nữ trẻ tuổi quan tâm đến quảng cáo và màu sắc của sản phẩm trong khi phụ nữ lớn tuổi lại quan tâm đến chất lượng sản phẩm
Sản phẩm
Giá cả
Quyết định lựa chọn mua sắm tại của hàng
Toimoi
Phân phối
Chiêu thị
Trang 38Về giá cả thì phụ nữ lớn tuổi lại nghĩ rằng sản phẩm càng đắt tiền thì càng tốt trong khi phụ nữ trẻ tuổi thì lại không nghĩ vậy
Nguồn: Isa Kokoi, 2011
Hình 2.10: Mô hình các y ếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn sản phẩm
chăm sóc da mặt cho nữ tại Phần Lan
Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng đối với từng nhóm tuổi khác nhau thì có những quyết định khác nhau Phụ nữ lớn tuổi cho rằng ý kiến của bạn bè là quan trọng hơn so với phụ nữ nhỏ tuổi Phụ nữ trẻ tuổi quan tâm đến quảng cáo và màu sắc của sản phẩm trong khi phụ nữ lớn tuổi lại quan tâm đến chất lượng sản phẩm
Về giá cả thì phụ nữ lớn tuổi lại nghĩ rằng sản phẩm càng đắt tiền thì càng tốt trong khi phụ nữ trẻ tuổi thì lại không nghĩ vậy
Sự khác biệt cũng được tìm thấy trong quá trình ra quyết định Phụ nữ trẻ tuổi tìm thông tin từ bạn bè và internet nhiều hơn so với phụ nữ lớn tuổi, họ thường tìm thông tin từ các nguồn thương mại Phụ nữ lớn tuổi chuộng các sản phẩm nội địa hơn Bên cạnh đó phụ nữ trẻ tuổi thường mua sản phẩm chăm sóc da mặt tại các cửa hàng tạp hoá, cửa hàng làm đẹp hoặc các cửa hàng mỹ phẩm hơn phụ nữ lớn tuổi
Hiện nay, trong các trường học người đưa ra quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp là do một cá nhân quyết định dưới sự tác động giữa các yếu tố Do vậy
Trang 39tác giả dựa vào những mô hình hành vi mua hàng cá nhân của những nghiên cứu trước kia và thêm vào đó là những mô hình lý thuyết về hành vi mua của tổ chức để
đề xuất ra mô hình nghiên cứu cho tác giả
Theo những mô hình nghiên cứu trước đây ta có thể thấy rằng yếu tố Marketing bao gồm sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị thường được đưa vào xem xét trong mối quan hệ giữa chúng với quyết định sử dụng của khách hàng cá nhân Bên cạnh đó yếu tố cá nhân và nhóm yếu tố môi trường bao gồm văn hoá và xã hội cũng
ít nhiều có tác động đến quyết định sử dụng của khách hàng cá nhân Thêm vào đó trong mô hình lý thuyết quyết định mua của Kotler và Armstrong (2010) và các yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định mua tổ chức của Philip Kotler (2001) có yếu tố bên trong của tổ chức cũng tác động đến quyết định sử dụng của tổ chức Đây là cơ sở quan trọng để tác giả đề xuất các yếu tố này vào mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học trên
địa bàn Tp.HCM
2.5 Mô hình nghiên c ứu và các giả thuyết
Hình 2.11: Mô hình nghiên cứu đề nghị
Từ việc tổng hợp các mô hình nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua tại mục 2.4 và các mô hình lý thuyết về quyết định mua cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua của tổ chức tại mục 2.3 tác giả nhận
Môi trường bên trong
Môi trường bên ngoài
Trang 40thấy các yếu tố môi trường bên ngoài, môi trường bên trong, quan hệ cá nhân và Marketing xuất hiện hầu hết trong các mô hình nghiên cứu và được đề cập trong các
lý thuyết về quyết định mua Nên tác giả quyết định đưa các yếu tố trên vào trong
mô hình nghiên cứu của mình Từ đó tác giả đưa ra các giả thuyết như sau:
Giả thuyết H1: Môi trường bên ngoài có tác động cùng chiều lên quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM
Giả thuyết H2: Môi trường bên trong có tác động cùng chiều lên quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM
Giả thuyết H3: Quan hệ cá nhân có tác động cùng chiều lên quyết định sử dụng dịch vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM
Giả thuyết H4: Marketing có tác động cùng chiều lên quyết định sử dụng dịch
vụ vệ sinh công nghiệp tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM
Tóm tắt chương 2
Chương 2 giới thiệu các định nghĩa về DVVSCN, lý thuyết về Outsourcing Để xây dựng mô hình nghiên cứu tác giả đã tham khảo những lý thuyết nghiên cứu liên quan đến quyết định mua hàng của tổ chức, các mô hình nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng Dựa vào những lý thuyết trên, tác giả
đã đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng DVVSCN tại các trường học trên địa bàn Tp.HCM Mô hình có 4 yếu tố bao gồm: môi trường bên ngoài, môi trường bên trong, quan hệ cá nhân và yếu tố Marketing