1.2 M ục tiêu nghiên cứu 1.2.1 M ục tiêu tổng quát: Bài phân tích hiện trạng trạng sức khỏe của người bệnh Đái tháo đường ở bệnh viện nhân dân 115, TP.HCM thông qua các nhân tố có khả
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
LƯƠNG THỊ BÍCH NHI
TÁC ĐỘNG CỦA LỐI SỐNG CHỮA BỆNH VÀ TRẠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP H ồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
LƯƠNG THỊ BÍCH NHI
TÁC ĐỘNG CỦA LỐI SỐNG CHỮA BỆNH VÀ TRẠNG
Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển
(Kinh tế và Quản trị lĩnh vực sức khỏe)
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là bài nghiên cứu của riêng tôi có sự hỗ trợ
t ừ thầy hướng dẫn Võ Tất Thắng, cùng các bạn học chuyên ngành Quản
Trang 4M ỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT: 2
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát: 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.6 Ý NGHĨA VÀ GIỚI HẠN ĐỀ TÀI 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT: 7
2.1.1 Các khái niệm Đái tháo đường 7
2.1.1.1 Định nghĩa bệnh Đái tháo đường 7
2.1.1.2 Phân loại bệnh ĐTĐ 8
2.1.1.3 Hậu quả của bệnh ĐTĐ 9
2.1.1.4 Điều trị bệnh ĐTĐ 10
2.1.2 Lý thuyết đo lường tình trạng sức khỏe và tình trạng sức khỏe người bệnh ĐTĐ 10
2.1.3 Các yêu tố cá nhân ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ 12
Trang 52.1.4 Mối quan hệ giữa lối sống chữa bệnh và tình trạng sức khỏe người bệnh
ĐTĐ 17
2.1.5 Mối quan hệ giữa trạng thái tinh thần và tình trạng sức khỏe người bệnh ĐTĐ 20
2.2 KHẢO LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN 20
2.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 MÔ HÌNH ĐỊNH LƯỢNG 24
3.1.1 Các biến trong mô hình 24
3.1.2 Hồi quy Binary Logistic 27
3.2 XÂY DỰNG THANG ĐO 29
3.2.1 Xây dựng bảng câu hỏi 29
3.2.2 Thang đo lối sống chữa bệnh (LSCB) và trạng thái tinh thần (TTTT) 31 3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 32
3.3.1 Quy mô mẫu nghiên cứu 32
3.3.2 Phương pháp chọn mẫu 33
3.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 33
3.3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 33
3.4 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 34
3.5 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 35
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 TỔNG QUAN BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115 36
4.2 CÁC THỐNG KÊ MÔ TẢ 37
4.3 TINH HINH SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI BỆNH 42
4.4 PHAN TICH CHỈ SỐ CRONBACH’S ALPHA- NHAN TỐ KHAM PHA EFA CỦA BIẾN LỐI SỐNG CHỮA BỆNH (LSCB) VA TRẠNG THAI TINH THẦN (TTTT) 44
4.4.1 Tính chỉ số Cronbach’s Alpha 44
Trang 64.4.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA của biến lối sống chữa bệnh và trạng
thái tinh thần 45
4.5 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY BINARY LOGISTIC 47
4.6 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 57
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 58
5.1 KẾT LUẬN 58
5.2 HÀM Ý, CHÍNH SÁCH 58
5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 60
5.3.1 HẠN CHẾ 60
5.3.2 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 61
Trang 7DANH M ỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADA Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ (American
diabetes Association) BMI Chỉ số khối lượng cơ thế (Body Mass
Chỉ số mức độ nghiêm trọng của biến
chứng tiểu đường (The Diabetes Complications Severity Index)
DV CSSK Dịch vụ chăm sóc sức khỏe EFA Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory
Factor Analysis) IDF Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế
(International Diabetes Federation)
Trang 8DANH M ỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chỉ số đường huyết của người bệnh ĐTĐ 12
Bảng 2.2 Chỉ số BMI 14
Bảng 2.3 Ví dụ về giá điều trị trung bình cho người bệnh đái tháo đường 16
Bảng 2.4 Tỷ lệ các thành phần dinh dưỡng trong chế độ ăn của bệnh nhân đái tháo đường 18
Bảng 3.1 Định nghĩa tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình 25
Bảng 3.2 Tổng hợp phỏng vấn 5 bác sĩ 30
Bảng 3.3 Thang đo các yếu tố tác động đến lối sống chữa bệnh và trạng thái tinh thần của người bệnh ĐTĐ 31
Bảng 4.1 Mục tiêu kiểm soát bệnh ĐTĐ loại 2 ở bệnh viện Nhân Dân 115 năm 2017 36
Bảng 4.2 Thống kê dữ liệu quan sát đối với các biến liên tục 37
Bảng 4.3 Thống kê dữ liệu quan sát đối với các biến nhị phân 38
Bảng 4.4 Đặc điểm lâm sàng của người bệnh ĐTĐ của nghiên cứu 39
Bảng 4.5 Thống kê mô tả của biến đo lường lối sống chữa bệnh với tình trạng sức khỏe 40
Bảng 4.6 Thống kê mô tả của biến đo lường Trạng thái tinh thần với tình trạng sức khỏe 41
Bảng 4.7 Thống kê mô tả mức độ triệu chứng của người bệnh 42
Bảng 4.8 Thống kê mô tả mức độ tác động của bệnh ĐTĐ đến cuộc sống hàng ngày của người bệnh 43
Bảng 4.9 Đặc điểm lâm sàng của người bệnh ĐTĐ trong nghiên cứu 44
Bảng 4.10 Các biến đặc trưng và thang đo chất lượng tốt 45
Trang 9Bảng 4.11 Bảng phân tích nhân tố khám phá của biến LSCB và TTTT 46
Bảng 4.12 Mô hình điều chỉnh qua kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá 47
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định Binary Logistic 48
Bảng 4.14 Phân loại dự báo 50
Hình 4.15 Kiểm định Omnibus đối với các hệ số của mô hình 51
Hình 4.16 Tóm tắt mô hình 51
Bảng 4.17 Mô phỏng xác xuất sức khỏe TỐT khi biến độc lập thay đổi một đơn vị 52
Bảng 4.18 Vị trí quan trọng của các yếu tố 54
Bảng 4.19 Kết quả hồi quy Binary Logistic của mô hình dự báo 55
Bảng 4.20 Mô hình dự báo 56
Trang 11Hiện nay, trung bình mỗi năm có khoảng 7 triệu người mắc bệnh Đái tháo đường trên thế giới trong đó 90% là Đái tháo đường loại 2 (Theo thống kê của liên đoàn Đái tháo đường quốc tế) Mỗi năm có khoảng 3,2 triệu người chết vì Đái tháo đường, chi phí điều trị mỗi năm khoảng 1.030 tỉ USD Nguyên nhân là do phát hiện trễ dẫn đến biến chứng về tim mạch, thận Có trường hợp khi phát hiện bệnh không được quản lý, điều trị đúng cách dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Việt Nam thì số lượng người mắc bệnh ĐTĐ ngày càng tăng và ngày càng trẻ hóa, gây nhiều hậu
quả nghiêm trọng cho người bệnh và là gánh nặng cho đất nước Bệnh ĐTĐ đang là
vấn đề cấp bách của sức khỏe cộng đồng Trước tình hình đó, vấn đề được đặt ra là
“Làm thế nào để quản lý, điều trị có hiệu quả người bệnh Đái Tháo Đường?” Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình trạng bệnh Đái Tháo Đường tại bệnh Viện Nhân Dân 115 ở TP Hồ Chí Minh và tìm hiểu tác động của các yếu tố lối sống
chữa bệnh và trạng thái tinh thần tới tình trạng sức khỏe của người bệnh Đái Tháo Đường
Đối tượng tham gia khảo sát là những người mắc bệnh Đái tháo đường và hầu như đã mắc bệnh trên 1 năm (60,5%) Những người bệnh này chủ yếu là những người trên 50 tuổi (65%), và chỉ tốt nghiệp tiểu học, THPT (62,7%), hầu hết người
bệnh ở thể trạng chấp nhận được, với chỉ số BMI trung bình là 23kg/m2 và 42% người bệnh có tình trạng tăng huyết áp Dữ liệu được sử dụng là nguồn dữ liệu được xây dựng từ bảng câu hỏi phỏng vấn người bệnh Đái tháo đường tại bệnh viện nhân dân 115 từ tháng 1 đến tháng 5/2018 Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic
Kết quả hồi quy cho thấy tuổi tác, giới tính, công việc, thu nhập, chỉ số BMI, sống cùng người thân, lối sống chữa bệnh và trạng thái tinh thần là có tác động đến tình trạng sức khỏe của người bệnh Đái tháo đường Trong đó, sống cùng người thân là yếu tố tác động nhiều nhất đến sức khỏe của người bệnh Thực hiện lối sống
Trang 12chữa bệnh và giữ tinh thần không lo lắng, phiền muộn là điều có thể giúp ổn định đường huyết, giúp cải thiện sức khỏe cho người bệnh Đái tháo đường
Trang 13ABSTRACT
Currently, an average of 7 million people with diabetes worldwide each year,
of which 90% are Type 2 Diabetes (According to statistics of the International Diabetes Federation) Each year about 3,2 million people die from diabetes, its annual treatment cost is about 1.030 billion USD The cause is due to late detection leading to cardiovascular and kidney complications In some cases, when the disease is not managed and treated properly, it has serious consequences Vietnam, the number of people with diabetes is increasing and rejuvenating, causing serious consequences for patients and a burden for the country The disease is an urgent issue of public health In the face of this situation, the problem is "How to effectively manage and treat diabetes patients?" This study aims to evaluate the status of Diabetes in the People's Hospital 115 in TP Ho Chi Minh then explores the impact of lifestyle treatments and mental status on the health status of diabetic patients
Participants were people with diabetes and almost 1 year (60,5%) These people are mainly people over 50 years old (65%), and only graduated from primary and high schools (62,7%), most patients are in acceptable condition, with average BMI of 23kg/m2 and 42% of patients have hypertension.The data used is a data source built from a questionnaire interviewing diabetes patients at 115 people's hospital from January to May 2018 Research using Binary Logistic regression model
The regression results show that age, work, income, BMI, living with
relatives, lifestyle and mental status have an impact on the health status of diabetes patients In particular, living with relatives is the most influential factor on the health of patients Implementing a healing lifestyle and keeping the spirit of not worrying, depression is something that can help stabilize blood sugar, improve the health of people with diabetes
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) (Theo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là “kẻ giết người” thầm lặng Trong năm 2015, khoảng 1,6 triệu ca tử vong và khoảng một
nửa số ca tử vong xảy ra trước 70 tuổi do đường huyết cao gây ra Dễ gây ra nhiều
biến chứng nguy hiểm, đặc biệt là ĐTĐ loại 2, là một trong mười nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế ở cả hai giới, gây ra các biến chứng nặng nề về tim
doạ bởi các biến chứng cấp và mạn tính
Tuy nhiên, người bệnh có thể chấp nhận và đối mặt với nó như một đặc điểm
của bản thân mình, có thể cải thiện sức khỏe thông qua các hoạt động chăm sóc sức
khỏe Grossman (1972) đã nhận định sức khỏe sẽ không sụt giảm đều đặn nếu chúng ta thực hiện chăm sóc sức khỏe và khi biết chăm sóc sức khỏe đúng cách, hay Zweifel (2009) nhận định con người có thể khiến sức khỏe tốt hơn Đối với bệnh ĐTĐ, xây dựng cuộc sống với lối sống chữa bệnh tuân thủ phác đồ điều trị và giữ tinh thần vui tươi thoải mái là những lời khuyên của bác sĩ nhằm ổn định mức đường huyết của người bệnh Khi mức đường trong máu (glucoze) ở gần với mức bình thường thì bạn có thể: có nhiều sinh lực hơn, ít mệt và khát nước hơn, đi tiểu ít thường xuyên hơn, lành vết thương tốt hơn, ít bị nhiễm trùng da hay bàng quang hơn Bạn cũng sẽ có ít nguy cơ hơn gặp phải những vấn đề sức khỏe do bệnh tiểu đường gây ra như: đau tim và đột quỵ, vấn đề về mắt có thể dẫn đến giảm về thị lực
hoặc mù,đau, đau nhói dây thần kinh, hay tê ở bàn tay và bàn chân (hư dây thần kinh), vấn đề về thận, vấn đề về răng và nướu (Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh ĐTĐ)
Trang 15Vây nhân tố nào có tác động đến tình trạng sức khỏe của người ĐTĐ khiến
sức khỏe họ được kiểm soát tốt hơn? Đây là một vấn đề vần được quan tâm và mang tính thiết thực để tìm hiểu, nghiên cứu
1.1 Tính c ấp thiết:
Trong 10 năm gần đây, cùng sự phát triển nhanh chóng thần kỳ của xã hội, các nghiên cứu về sức khỏe tăng lên nhanh chóng, nguyên nhân là do kinh tế phát triển nhưng lại mang theo những tác động bất lợi tới sức khỏe cá nhân Một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến sức khỏe con người giảm sút trầm trọng và nhanh chóng là bệnh tật Số lượng mắc bệnh mãn tính tăng lên nhanh chóng điển hình là bệnh đái tháo đường, WHO dự đoán rằng bệnh ĐTĐ sẽ là nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu vào năm 2030 (Báo cáo hạnh phúc thế giới, 2012)
Gần 6% dân số trưởng thành (20-79 tuổi) của thế giới hiện đang sống với
bệnh Đái tháo đường (Sicree và cộng sự, 2003; Liên đoàn Quốc tế về Bệnh tiểu đường, 2006) trong đó một trong hai người trưởng thành (20-79 tuổi) bị ĐTĐ không được chẩn đoán (trên 212 triệu người) Một trong sáu trẻ sinh ra (16,2%) bị ảnh hưởng bởi ĐTĐ thai kỳ Ba phần tư (79%) số người bị ĐTĐ sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình và 1.106.500 trẻ em và trẻ vị thành niên bị đái tháo đường loại 1 Người ta dự đoán rằng tổng số người mắc bệnh ĐTĐ sẽ tăng lên 366 triệu trong vòng chưa đầy 30 năm nếu hành động phòng ngừa không được thực hiện (Shaw và cộng sự, 2010)
Số liệu thực tế cho thấy, năm 2000, toàn thế giới có khoảng 151 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, đến năm 2013, con số đó tăng lên khoảng 382 triệu người (+60%),
và chỉ 4 năm sau đó (2017), cả thế giới đã ghi nhận khoảng 425 triệu người (+65%) (Tổ chức Y tế thế giới-2017)
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ toàn cầu trong số người lớn trên 18 tuổi đã tăng từ 4,7% năm 1980 lên 8,5% vào năm 2014 (WHO-2016) Ước tính năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu) Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170% (số liệu
thống kê bệnh ĐTĐ-2016) Nước ta được xếp vào hàng những nước có tốc độ bệnh
Trang 16đái tháo đường phát triển nhanh Theo nghiên cứu điều tra quốc gia năm 2002-2003
tỷ lệ mắc đái tháo đường toàn quốc là 2,7% Một số nghiên cứu tại các tỉnh cho thấy
tỷ lệ mắc bệnh khác nhau, nghiên cứu của Vũ Thị Mùi và Nguyễn Quang Chùy (2004) tại Yên Bái là 2,68%, nghiên cứu của Tạ Văn Bình và Hoàng Kim Ước (2004) tại Cao Bằng là 6,8%, nghiên cứu của Vũ Hữu Chiến và cộng sự tại Thái Bình là 8,4%, nghiên cứu của Trần Hữu Dàng và Huỳnh Văn Đôm tại thành phố Quy Nhơn là 8,6% Ở Việt Nam, Bệnh ĐTĐ phát triển nhanh, năm 1990 ở Hà Nội
có tỉ lệ chỉ 1,2%, Huế 0,96%, TP Hồ Chí Minh có tỉ lệ 2,52% Theo điều tra năm
2001, tỉ lệ bệnh ĐTĐ loại 2 ở các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh là 4,9%, tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose là 5,9% Tỉ lệ người có yếu tố nguy cơ phát triển đến ĐTĐ chiếm tới 38,5% (lứa tuổi 30-60) Năm 2014 theo ước tính của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế, Việt Nam là quốc gia có số người mắc ĐTĐ nhiều nhất trong số các quốc gia Đông Nam Á với 3.299 triệu người mắc ĐTĐ chiếm khoảng 5,8% người trưởng thành từ 20-79 tuổi Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn, hệ thống dự phòng, phát hiện bệnh sớm nhưng chưa hoàn thiện Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều
trị
ĐTĐ là căn bệnh mãn tính và số lượng người bệnh mắc bệnh tăng lên nhanh chóng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh Việc nghiên cứu về tình trạng bệnh ĐTĐ, lối sống và trạng thái tinh thần của người bệnh sẽ góp phần đưa ra những gợi
ý, giải pháp giúp người bệnh cải thiện, duy trì mức sức khỏe tốt hơn cho người bệnh
1.2 M ục tiêu nghiên cứu
1.2.1 M ục tiêu tổng quát:
Bài phân tích hiện trạng trạng sức khỏe của người bệnh Đái tháo đường ở
bệnh viện nhân dân 115, TP.HCM thông qua các nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của người bệnh như: tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, chỉ
số BMI, mắc bệnh cao huyết áp, lối sống chữa bệnh bao gồm tuân thủ thời gian
uống thuốc, chế độ ăn uống, tập thể dục và tự kiểm tra đường huyết và trạng thái
Trang 17tinh thần của người bệnh Qua đó tìm hiểu xem yếu tố quan trọng nào có thể giúp tình trạng sức khỏe của người bệnh tốt hơn Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những gợi ý nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ
1.2.2 M ục tiêu cụ thể
Phân tích, đánh giá tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ
Xác định yếu tố tác động đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ
Đề xuất giải pháp nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe của người bệnh
1.3 Câu h ỏi nghiên cứu
Những yếu tố cá nhân nào tác động đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ?
Lối sống chữa bệnh có tác động như thế nào đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ?
Trạng thái tinh thần có tác động như thế nào đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ?
1.4 Ph ạm vi nghiên cứu
Thực hiện phỏng vấn người được chuẩn đoán ĐTĐ tại Bệnh viện nhân dân
115 trong khoảng thời gian từ tháng 01/2018-5/2018 Sau 5 tháng tiến hành phỏng
vấn có 210 người tham gia trả lời các câu hỏi Họ sẽ trả lời bảng câu hỏi nhằm phân tích, đánh giá, thu thập các yếu tố liên quan đến các biến trong bài nghiên cứu “Tác động của lối sống chữa bệnh và trạng thái tinh thần đến tình trạng sức khỏe người
bệnh ĐTĐ” Những bảng trả lời hợp lệ là phiếu trả lời tự nguyện, đầy đủ các câu
hỏi trong bảng phỏng vấn và loại bỏ các bài không có câu trả lời, những người mắc bệnh ĐTĐ loại 1 và ĐTĐ thai kỳ
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tính toán tỷ lệ những người mắc bệnh ĐTĐ theo các yếu tố cá nhân như tuổi tác, học vấn, chỉ số BMI, sống cùng người thân trong mẫu nghiên cứu, tính toán các giá trị thống kê cơ bản như giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám
Trang 18phá để xác định thang đo cho biến lối sống chữa bệnh và trạng thái tinh thần của người bệnh
Bài sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic do biến phụ thuộc Y có 2 trạng thái: 1 là “Tốt” (Những người đánh giá sức khỏe ở mức từ trung bình trở lên trong thang đo liker 5 mức độ cho câu hỏi tình trạng sức khỏe chung ở phiếu phỏng vấn)
và 0 là “Không tốt” (Những người đánh giá sức khỏe ở mức từ rất kém đến kém trong thang đo liker 5 mức độ cho câu hỏi tình trạng sức khỏe chung ở phiếu phỏng vấn) để xác định tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ ở TP.HCM
1.6 Ý nghĩa và giới hạn đề tài
Về lý thuyết, bài nghiên cứu góp phần thêm mới đề tài về yếu tố tác động đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ ở Bệnh viện nhân dân 115 cũng như người
bệnh ĐTĐ ở TP.HCM tuy nhiên chỉ giới hạn ở khu vực TP.HCM chưa đại diện cho
tổng thể cả nước
Về thực tiễn, bài đã đề xuất các giải pháp giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ
Bố cục bài nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan
Trình bày tổng quan bệnh Đái Tháo Đường, bao gồm các khái niệm: phân loại ĐTĐ, nguyên nhân, hậu quả biến chứng và cách điều trị ĐTĐ của từng loại Chương 2 cũng trình bày về các lý thuyết thể hiện mối quan hệ giữa sức khỏe, tình
trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ, mối quan hệ giữa lối sống chữa bệnh và tình
trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ, mối quan hệ giữa trạng thái tinh thần và tình
trạng sức khỏe cũa người bệnh ĐTĐ Bên cạnh đó, đưa ra các nghiên cứu có liên quan để làm cơ sở xây dựng khung phân tích cho đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trang 19Chương này chủ yếu xoay quanh các vấn đề như quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, xác định thang đo, phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu, phương pháp ước lượng và các kiểm định được sử dụng trong đề tài
Chương 4: Kết quả thực nghiệm sau khi chạy hồi qui và giải thích kết quả
Trình bày tổng quan bệnh viện nhân dân 115 Trình bày các thống kê mô tả
về đặc điểm của người bệnh ĐTĐ trong nghiên cứu
Tập trung vào phân tích kết quả ước lượng được từ mô hình nghiên cứu để xác định các yếu tố của cá nhân, yếu tố nào của lối sống chữa bệnh, trạng thái tinh
thần tác động đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ
Chương 5: Kết luận
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp, hàm ý chính sách có tác động tích cực đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ Bên cạnh đó cũng nêu ra những hạn chế của đề tài cùng định hướng cho nghiên cứu tiếp theo
Trang 20CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Cơ sở lý thuyết:
2.1.1 Các khái ni ệm Đái tháo đường
2.1.1.1 Định nghĩa bệnh Đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ là bệnh không lây nhiễm, không do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng hoặc nấm gây nên Cơ thể khỏe mạnh khi được cung cấp glucose ổn định mỗi ngày
để cung cấp năng lượng cho cơ thể Insulin, một loại hocmon do tuyến tụy tạo ra, giúp glucose chuyển từ máu vào các tế bào trong cơ thể Bệnh ĐTĐ (Diabetesmellitus hay còn gọi Diabetes) xảy ra khi tuyến tụy không thể tạo đủ insulin hoặc insulin mà nó tạo ra không hoạt động đúng cách dẫn đến glucose tích lũy trong máu (Wells C.E-1978) Theo thời gian, mức đường huyết cao có thể làm
tổn thương các mạch máu và dây thần kinh của cơ thể, dẫn đến hậu quả lâu dài như
bệnh tim, thận và mắt, và tổn thương dây thần kinh ở bàn chân
Theo Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA-1997) được WHO công nhận năm
1998 và được áp dụng năm 1999, tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây:
a) Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7mmol/L) Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc:
b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1
mmol/L) Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần
có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày
c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế
Trang 21d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán a, b, d ở trên cần được
thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày
bệnh ĐTĐ thuộc loại này, phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi (dưới 20 tuổi)
Mẹ bị ĐTĐ loại 1 nguy cơ con bị là 3%, nguy cơ tăng đến 6% nếu cha bị ĐTĐ Tỷ
lệ cùng mắc ĐTĐ loại 1 ở hai trẻ sinh đôi cùng trứng là 25-50% Yếu tố môi trường
của ĐTĐ loại 1: virus quai bị, rubella bẩm sinh, thuốc diệt chuột Vacor, hydrogen cyanide ở rễ cây sắn có liên quan đến ĐTĐ loại 1 Các triệu chứng thường khởi phát đột ngột và tiến triển nhanh nếu không điều trị Những triệu chứng điển hình của
Bệnh ĐTĐ loại 1 là: ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhiều (4 nhiều), mờ mắt,
dị cảm và sụt cân, trẻ em chậm phát triển và dễ bị nhiễm trùng
Bệnh ĐTĐ loại 2 (không phụ thuộc insulin) xuất hiện khi cơ thể không sản sinh ra đủ insulin hoặc không hoạt động đúng với chức năng của insulin, thậm chí kháng lại hocmon này dẫn đến mức đường trong máu không thể kiểm soát Người
bệnh phải dùng thuốc viên hoặc insulin để kiểm soát bệnh tiểu đường Bệnh đái tháo đường loại 2 là loại tiểu đường phổ biến nhất, ĐTĐ loại 2 có thể bị ảnh hưởng bởi trọng lượng, độ tuổi (trên 40) chiếm khoảng 90-95% trong tổng số bệnh nhân
bệnh ĐTĐ, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên Bệnh nhân thường ít có triệu chứng và thường chỉ được phát
hiện bởi các triệu chứng của biến chứng, hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi đi xét nghiệm máu trước khi mổ hoặc khi có biến chứng như nhồi máu cơ tim, tai biến
Trang 22mạch máu não, khi bị nhiễm trùng da kéo dài, bệnh nhân nữ hay bị ngứa vùng
do nhiễm nấm âm hộ, bệnh nhân nam bị liệt dương Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn
trở lại bình thường Bệnh nhân ĐTĐ loại 2 tử vong nhiều nhất do các biến chứng tim mạch và ĐTĐ loại 1 tử vong là do các biến chứng về thận
ĐTĐ thai kỳ xuất hiện ở những người phụ nữ mang thai, tỷ lệ bệnh ĐTĐ trong thai kỳ chiếm 3-5% số thai nghén Trong hầu hết các trường hợp, bệnh này sẽ khỏi sau khi sinh con Nhưng ngay cả khi khỏi bệnh thì những phụ nữ này và con
của họ cũng có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao hơn sau này Tuy nhiên, là căn
bệnh tiểu đường tạm thời và liên quan đến sự đề kháng insulin do đó nó không được
đề cập đến như một dạng riêng biệt của bệnh ĐTĐ
Bài nghiên cứu loại bỏ dữ liệu của bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ loại 1 và ĐTĐ thai kỳ do loại này hiếm gặp và ít phổ biến
2.1.1.3 Hậu quả của bệnh ĐTĐ
ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu gây ra mù lòa, suy thận, gây cụt chi chỉ sau tai nạn giao thông, gây ra các biến chứng nặng nề về tim mạch, đột quỵ, bệnh về
thần kinh, suy thận…giảm tuổi thọ và chất lượng cuộc sống Đặc biệt là ĐTĐ loại
2, là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu ở cả hai giới
Bệnh ĐTĐ ở trẻ em ngày càng tăng cao nhưng đối với các em, điều trị ĐTĐ
rất khó bởi các em đang cần nhiều dinh dưỡng để phát triển Bên cạnh đó, việc điều
trị bệnh ĐTĐ không đúng sẽ gây ra những biến chứng nhất định, trong đó có hạ đường huyết, sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến não, làm giảm sự phát triển của não
Kết quả giảm trí thông minh và giảm thị lực nếu tình trạng hạ đường huyết kéo dài
hoặc xảy ra thường xuyên
Thanh thiếu niên có thể bị ĐTĐ nếu họ có tiền sử gia đình mắc bệnh này Bên cạnh đó, lối sống không lành mạnh có thể làm vấn đề trầm trọng hơn Trong trường hợp của những người trẻ tuổi, nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ là rất lớn Trong độ
tuổi vị thành niên, rất khó để giữ họ trong kiểm soát, họ thường sử dụng thức ăn
Trang 23nhanh trong các bữa ăn thay vì thực phẩm tươi dẫn đến khó kiểm soát lượng đường,
và họ cũng thiếu năng lượng do ít tập thể dục hàng ngày
Ở người già các biến chứng bệnh ĐTĐ là một mối đe dọa thường xuyên làm
họ có thể bị tàn phế khi mức độ biến chứng thần kinh ngoại vi và mạch máu não trở nên nghiêm trọng hay biến chứng võng mạc, xuất huyết đáy mắt, đục thủy tinh thể
là nguyên nhân làm cho người già bị mù lòa
Nếu tính theo giới và tuổi thì tỷ lệ mất sức lao động ở nam giới bị ĐTĐ trên
40 tuổi tăng gấp 3 lần, ở bệnh nhân nữ trên 50 tuổi tăng gấp 2 lần so với các đối tượng nam nữ cùng độ tuổi không bị ĐTĐ
2.1.1.4 Điều trị bệnh ĐTĐ
Điều trị đái tháo đường liên quan đến chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể
lực cùng với việc giảm glucose máu và mức độ các yếu tố nguy cơ khác gây tổn thương mạch máu Việc ngừng sử dụng thuốc lá cũng rất quan trọng để tránh các
biến chứng Các can thiệp vừa tiết kiệm chi phí vừa có tính khả thi ở các nước đang phát triển bao gồm:
Kiểm soát đường máu, đặc biệt là ở đái tháo đường loại 1 Những người bị đái tháo đường loại 1 cần insulin, những người đái tháo đường loại 2 có thể được điều trị bằng thuốc uống, nhưng cũng có thể cần insulin
Kiểm soát huyết áp
Chăm sóc bàn chân
Sàng lọc và điều trị bệnh võng mạc (đây là nguyên nhân gây mù lòa)
Kiểm soát lipid máu
Sàng lọc phát hiện các dấu hiệu sớm của bệnh thận liên quan đến đái tháo
đường và điều trị
2.1.2 Lý thuy ết đo lường tình trạng sức khỏe và tình trạng sức khỏe người bệnh ĐTĐ
Theo Tổ chức Y tế thế giới, Sức khỏe là tình trạng thoải mái về thể chất, tinh
thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật
Trang 24Từ năm 1991, bộ câu hỏi khảo sát sức khoẻ rút gọn gồm 36 câu hỏi (Short Form-36) đã được dự án đánh giá chất lượng quốc tế xếp hạng (Brazier, 1993) Theo Maruish (2011), đây là bộ công cụ phù hợp nhất cho việc đo lường sức khỏe
cộng đồng dân cư, bao gồm 8 khía cạnh:
Hạn chế trong các hoạt động thể chất vì các vấn đề về sức khỏe
Hạn chế trong các hoạt động xã hội vì các vấn đề về thể chất hoặc tình cảm
Hạn chế trong các hoạt động vai trò bình thường vì các vấn đề sức khỏe thể
chất
Đau cơ thể
Sức khỏe tâm thần nói chung (tâm lý đau khổ và hạnh phúc)
Hạn chế trong hoạt động vai trò thông thường vì các vấn đề về cảm xúc;
Sức sống (năng lượng và mệt mỏi)
Nhận thức về sức khỏe nói chung
Seligman và cộng sự (2012) đã áp dụng bộ câu hỏi SF-36 để phân tích tác động
của mất an toàn thực phẩm và kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân có thu nhập thấp
ra như: đau tim và đột quỵ, vấn đề về mắt có thể dẫn đến giảm về thị lực hoặc mù,đau, đau nhói dây thần kinh, hay tê ở bàn tay và bàn chân (hư dây thần kinh),
vấn đề về thận, vấn đề về răng và nướu (Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh ĐTĐ)
Vì vậy tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ được đo lường thông qua việc người bệnh có kiểm soát được lượng đường huyết so với thời gian trước hay không? Hai chỉ số liên quan đến đường huyết bao gồm:
Trang 25Chỉ số hàm lượng đường (Glucose) trong máu, được tính bằng đơn vị là mg/dL
hoặc mmol/L Vì các chỉ số này thay đổi liên tục trong ngày nên cần phải kiểm tra đường huyết nhiều lần trong ngày như lúc đói, trước khi ăn, sau khi ăn, trước khi
ngủ….và người bệnh có thể tự tiến hành đo chỉ số này tại nhà thông qua máy đo đường huyết cá nhân Đối với người bệnh ĐTĐ, chỉ số đường huyết có thể như sau:
Bảng 2.1 Chỉ số đường huyết của người bệnh ĐTĐ
2 Sau bữa ăn <9 mmol/L (162 mg/dL) 8.5 mmol/L (153 mg/dL)
Ngu ồn: Hiệp hội Đái Tháo Đường Hoa kỳ
Tuy nhiên, tùy theo độ tuổi, giai đoạn của bệnh, mức độ biến chứng mà chỉ
số đường huyết của mỗi người sẽ khác nhau
Năm 2011, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng xét nghiệm HbA1c làm tiêu chuẩn để chẩn đoán và kiểm soát bệnh đái tháo đường HbA1c là xét nghiệm máu đo lường mức đường huyết trung bình trong 2- 3 tháng qua Giá trị bình thường của HbA1c là khoảng 4-6,5% đồng nghĩa với khi chỉ số HbA1c < 6,5% lượng đường huyết được kiểm soát tốt ngược lại khi chỉ số này tăng lên >10% có nghĩa là thời gian qua lượng đường huyết được kiểm soát kém Phương pháp này có
ưu điểm hơn xét nghiệm chỉ số đường huyết do được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế, ít sai số và có thể đánh giá được khả năng
kiểm soát đường huyết trong vòng 2 – 3 tháng
Bài nghiên cứu này sử dụng thang đo 5 mức cho tình trạng sức khỏe biểu thị
trạng thái từ rất kém đến rất tốt Trong đó những người có câu trả lời từ bình thường đến rất tốt sẽ vào nhóm có tình trạng sức khỏe “Tốt” và những phiếu trả lời trạng thái từ rất kém đến kém sẽ vào nhóm có tình trạng sức khỏe “ Không tốt”
2.1.3 Các yêu t ố cá nhân ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của người
b ệnh ĐTĐ
Trang 26- Tu ổi (Tuoi): Tình trạng sức khỏe có xu hướng theo đường cong chữ U với độ
tuổi Grossman (1972) đã nói sức khỏe tối ưu sẽ sụt giảm khi chúng ta già đi Khi trẻ, sức khỏe tốt dần lên nhất là khi ở độ tuổi thanh thiếu niên từ 17-35 tuổi, nhưng
cuối cùng sẽ giảm dần đi khi về già Tác giả Nguyễn Văn Lành (2013) cho biết, tuổi càng cao thì thực hành đúng về điều trị đái tháo đường càng thấp dẫn đến tình trạng
sức khỏe không tốt cho người bệnh
- Gi ới tính (Gioi_tinh): nữ giới thường có xu hướng chăm sóc sức khỏe tốt hơn
nam giới
- S ống cùng người than (SCNT): người thân trong gia đình có thể tác động mạnh
mẽ lên hành vi của người bệnh Gia đình hình thành cho người bệnh định hướng về giá trị bản thân, tư tưởng tình cảm đồng thời ảnh hưởng trực tiếp hành vi lối sống
hằng ngày của người bệnh Sự quan tâm, chăm sóc của vợ, chồng, con cháu là nguồn động viên tinh thần rất lớn cho người bệnh
- Trình độ học vấn (Hoc_van): Graham và cộng sự (2001) nhận thấy rằng số năm
được đi học có tác động tích cực đến sức khỏe và ngược lại sức khỏe tốt hơn có thể làm cho con người hoàn thành việc học nhiều hơn Nguyên nhân là do giáo dục có thể cải thiện khả năng làm theo hướng dẫn sử dụng thuốc, tăng hiểu biết về tác hại
của hút thuốc, uống rượu bia, sử dụng chất gây nghiện….Người có học sẽ nhìn thấy
lợi ích của việc chăm sóc sức khỏe Họ sẽ dùng thức ăn có chất dinh dưỡng tốt và tự xây dựng thói quen sống có lợi cho sức khỏe của mình và gia đình Nghiên cứu của
Trần Văn Hải (2013) cũng phát hiện có sự liên quan giữa kiến thức đúng và thực hành đúng về ĐTĐ Những người có kiến thức tốt thường quan tâm đến việc giữ gìn
sức khỏe, từ đó sẽ chọn cho mình hành vi lối sống tích cực trong phòng tránh, điều
trị bệnh tật nói chung và bệnh đái tháo đường nói riêng
- Công vi ệc (Cong_viec): Marmot (2004), Clark và Oswald (1994) nhận thấy công
việc có tác động đáng kể đến tình trạng sức khỏe của người bệnh Folland (2007) cho rằng tăng thời gian cho chăm sóc sức khỏe, giảm thời gian làm việc, giải trí sẽ giúp cải thiên sức khỏe Nghiên cứu của Nguyễn Bá Tri và cộng sự (2016) cho thấy tình trạng sức khỏe của nhóm người có tính chất công việc nhẹ ảnh hưởng ít hơn so
Trang 27với nhóm người có tính chất công việc nặng Theo Võ Thị Bổn (Tạp chí nghiên cứu
y học-2015), cho thấy có sự khác biệt kiến thức chung về ĐTĐ ở các nhóm nghề nghiệp khác nhau Ví như những người làm nghề nông, có học vấn thấp, khả năng
tiếp cận kiến thức về ĐTĐ kém hơn nghề khác Làm việc quá nhiều, thiếu thời gian nghỉ ngơi và chăm sóc sức khỏe là một trong những cơ chế dẫn tới biến cố sức khỏe
-Th ời gian mắc bệnh (TGMB): thời gian mắc bệnh càng dài càng ảnh hưởng đến
tình trạng sức khỏe của người bệnh, thiếu thời gian nghỉ ngơi và chăm sóc sức khỏe
là một trong những cơ chế dẫn tới biến cố sức khỏe
-Ch ỉ số BMI: Chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index) là tỷ lệ của trọng lượng
cơ thể, tính bằng kilogam trên chiều cao tính bằng mét bình phương, là một chỉ số
Nguồn: (Tiêu chuẩn người châu Á – Liên đoàn tiểu đường thế giới (IDF)- 2005)
Thừa cân, béo phì một trong những bệnh ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người Nghiên cứu của Stutzer (2007) cho thấy có sự suy giảm về sức khỏe, lòng tự trọng,
hoặc chấp nhận xã hội khi chỉ số BMI của một người quá lớn Béo bụng có liên quan chặt chẽ đến hiện tượng kháng insulin và thiếu hụt insulin Kiểm soát cân nặng
có vai trò quan trọng khi điều trị và xây dựng cuộc sống mới cùng bệnh ĐTĐ vì nếu không kiểm soát cân nặng thì khả năng xảy ra biến chứng nghiêm trọng càng hiển
hiện rõ hơn
Trang 28- Tăng Huyết Áp: ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu gây ra mù lòa, suy thận, gây cụt
chi chỉ sau tai nạn giao thông, gây ra các biến chứng nặng nề về tim mạch, đột quỵ, bệnh về thần kinh, suy thận…ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của những cá nhân ốm yếu và làm giảm tuổi thọ và chất lượng cuộc sống con người- Shields & Wheatley Price (2005) Theo số liệu của Liên đoàn Đái tháo đường (IDF), 12%
bệnh nhân tiểu đường là được phân loại là nghiêm trọng vì sự hiện diện của một trong các bệnh lý sau: bệnh tim mạch, bệnh thận, bệnh mạch máu ngoại biên, đột quỵ, bệnh thần kinh và thiếu kiểm soát lượng đường trong máu hoặc các vấn đề về
thị lực nghiêm trọng Bệnh nhân có nhiều bệnh liên quan cho thấy sự sụt giảm lớn hơn trong hoạt động so với những người chỉ có một bệnh Thông qua chỉ số mức độ nghiêm trọng của biến chứng tiểu đường (DCSI) so sánh với những người không có
biến chứng để xác định xem số lượng và mức độ nghiêm trọng của biến chứng bệnh
tiểu đường có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong và nhập viện hay không So với
những bệnh nhân không có biến chứng, những người có 1 biến chứng không có nguy cơ tử vong cao hơn, tuy nhiên, những người có từ 2 biến chứng trở lên có nguy cơ tử vong cao hơn Trong bài nghiên cứu, chỉ nghiên cứu người bệnh với tình
trạng có bị cao huyết áp hay không và loại bỏ những bệnh liên quan khác do những
biến chứng khác có tác động lớn đến sức khỏe của người bệnh mà thước đo lối sống
chữa bệnh và trạng thái tinh thần này không thay đổi được Tỷ lệ tăng huyết áp ở
bệnh nhân ĐTĐ là do tình trạng tăng glucose máu làm thay đổi chức năng mạch máu và thúc đẩy tính nhạy cảm của mạch máu với huyết áp động mạch và ngược lại, đối với bệnh nhân tăng huyết áp tình trạng đề kháng insulin rất hay gặp và nguy
cơ xuất hiện ĐTĐ sau 5 năm gấp 2,5 lần
-Thu nh ập (TN): Chang (1996) nhận định sức khỏe tốt thì con người sẽ có nhiều
thời gian để làm việc hơn dẫn đến thu nhập cao, và có khả năng chi trả cho các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe Theo Folland (2007), khi về hưu, không có thu nhập đầu tư vào sức khỏe, tình trạng sức khỏe sẽ suy giảm nghiêm trọng
-Chi phí ch ữa bệnh (CPCB): được ước lượng từ dữ liệu về chẩn đoán, điều trị đang diễn ra Đó là các chi phí có liên quan đến việc sử dụng các can thiệp về y
Trang 29khoa như thuốc, xét nghiệm cho chăm sóc sức khoẻ trong điều trị nội trú và ngoại trú, chăm sóc khẩn cấp, cũng như phục hồi chức năng và vật lý trị liệu (Smith, 2009)
Chi phí cho quản lý sức khoẻ của người mắc ĐTĐ gấp 2-4 lần người không
bị ĐTĐ Chi phí này bao gồm cả thuốc, trang thiết bị, xét nghiệm cận lâm sàng, chi phí thường xuyên đi khám bệnh Mức độ chi phí này còn phụ thuộc vào thời gian
mắc bệnh, vào tình trạng biến chứng của bệnh Đa số chi phí cho điều trị của người đái tháo đường gắn liền với giải quyết biến chứng của bệnh, đặc biệt là những người
phải nằm viện, thường các biến chứng chiếm tới 2/3 tổng chi phí điều trị Rubin RJ
và cộng sự (1992) cho thấy chi phí y tế cho người mắc bệnh tiểu đường cao gấp 2-3 lần so với những người không bị bệnh tiểu đường Liaquat A Khowaja và cộng sự (2002) nghiên cứu chi phí cho Bệnh tiểu đường ở Châu Âu thì kết luận chi phí thuốc cho việc kiểm soát bệnh đái tháo đường loại 2 là tương đối thấp, với thuốc hạ huyết áp và insulin chỉ chiếm 7% tổng chi phí chăm sóc sức khoẻ cho bệnh đái tháo đường loại 2 Olivera EM1, Duhalde EP, Gagliardino JJ (1991) đánh giá các chi phí gián tiếp của bệnh tiểu đường và cho thấy mối quan hệ của họ với các biến chứng
mạn tính của bệnh tiểu đường
Bảng 2.3 Ví dụ về giá điều trị trung bình cho người bệnh đái tháo đường
-Mắt và hoặc thận 0.28 0.13 0.42 0.51 0.36 0.87
Trang 30dấu hiệu bất thường của cơ thể Grossman (1972) đã xem sức khỏe như một hàng hóa, và vì thế có thể tạo ra sức khỏe bằng cách đầu tư vào nó
Ruhm (2000) đã nhận định sự thay đổi trong các hành vi ăn uống, hút thuốc
lá và tập luyện thể chất dẫn đến sự thay đổi tình trạng sức khỏe Tập luyện thể dục
thể thao là việc thực hành các động tác nhằm phát triển và duy trì sức khỏe thể
chất và sức khỏe toàn diện Theo nghiên cứu của Belloc và Breslow (1972) đã chỉ ra
một nhóm các hành vi (mà họ gọi là hành vi Alameda) gồm: ăn sáng đều đặn, không ăn vặt, không hút thuốc, hạn chế uống rượu bia, giữ cân nặng chuẩn, thường xuyên tập thể dục và ngủ đủ 7-8 tiếng một ngày là những hành vi ảnh hưởng tích
cực đến sức khỏe Sarah Hortman, chuyên gia dinh dưỡng tại Trung tâm y khoa Jefferson Health (Mỹ) cho biết, sử dụng các loại trái cây ít đường là lựa chọn sáng suốt cho người bệnh ĐTĐ, đó là những loại quả chứa nhiều chất xơ, nước và có khả năng kiểm soát lượng carbohydrate Theo nghiên cứu tới từ Hiệp hội Thực phẩm và Dinh dưỡng (FNB) trực thuộc Viện Y học Hoa Kỳ, tăng cường tiêu thụ trái cây và
Trang 31rau quả có thể giảm nguy cơ ung thư dẫn tới tử vong Theo đó, tự xây dựng lối sống
chữa bệnh tại nhà, như ăn uống lành mạnh, tập thể dục và tuân thủ thuốc là lối sống cần thiết để duy trì sức khỏe ổn định cho người bệnh ĐTĐ
Theo Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ, tổ chức y tế thế giới cũng như khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, trong điều trị Đái tháo đường, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát glucose máu: đó là chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực, thuốc điều trị đái tháo đường và hành vi tự chăm sóc
Ch ế độ dinh dưỡng là một phần rất quan trọng trong điều trị bệnh Đái tháo
đường Chế độ ăn hợp lý cần cung cấp đầy đủ các thành phần thức ăn và lượng calori đảm bảo cho cân nặng ổn định hướng tới mục tiêu:
Kiểm soát glucose máu sau ăn và lipid máu
Đạt và duy trì cân nặng lý tưởng
Giảm nguy cơ tim mạch và làm chậm các biến chứng
Bảng 2.4 Tỷ lệ các thành phần dinh dưỡng trong chế độ ăn của người bệnh
1 Chất bột đường (Catbonhydrat) 45- 65% nhưng không dưới 130g/ngày
-Khoai ( khoai lang, khoai sọ…) 200-400g/ngày
-Hạn chế ăn khoai tây, miến dong, bánh mì, đồ ngọt, kẹo
3 Chất đạm (Protein) (*Biến chứng thận: 0.8g/kg/ngày) 15-20%
-Không nên ăn các loại quả sấy khô, các loại quả ngọt (mít, chuối, xoài)
<200g/ngày
Nguồn: Theo khuyến cáo ADA-2006
Trang 32Chế độ ăn của người bệnh ĐTĐ còn phụ thuộc vào độ tuổi, cân nặng của người bệnh:
+ Tuổi trẻ: dưới 40 tuổi: 42 Kcalo/ngày
+ Trên 40 tuổi: 32 Kcalo/ngày
Ho ạt động thể lực làm tăng độ nhạy cảm của insulin từ đó cải thiện kiểm soát mức
glucose đồng thời giúp giảm cân
Thu ốc điều trị Đái tháo đường: Điều trị bằng thuốc nhằm điều chỉnh tình trạng
kháng insulin và giảm tiết insulin Có thể phối hợp đa trị liệu hay điều trị bằng
insulin đơn thuần để đạt mục tiêu kiểm soát glucose máu
Thu ốc lá và rượu bia là những chất gây hại cho cơ thể, làm nặng thêm các rối loạn
chuyển hóa Người bệnh ĐTĐ nếu uống rượu thì mức độ biến chứng nặng hơn người không uống rượu
T ự chăm sóc
Theo nghiên cứu của Brod (2012) cho rằng giấc ngủ bị quấy nhiễu dẫn đến khó ngủ, ngủ không ngon giấc hoặc ngủ quá nhiều. Nguyên nhân là do mức glucose dao động vào ban đêm sẽ khiến người bệnh khó ngủ Nếu lượng glucose trong máu quá cao sẽ dẫn đến chứng tiểu đêm nhiều lần, làm gián đoạn và giảm chất lượng giấc
ngủ Ngược lại, khi glucose hạ đột ngột, bạn sẽ đổ mồ hôi, run người vào ban đêm
do đó người bệnh cần có lối sinh hoạt lành mạnh, quan tâm, cải thiện giấc ngủ của mình giúp ổn định mức glucose ổn định
Vệ sinh hàng ngày: Người bệnh ĐTĐ luôn bị đe dọa bởi những biến chứng như lở loét, viêm nhiễm dễ bị nhiễm trùng nên việc giữ vệ sinh chính bản thân người bệnh, vệ sinh nơi ở người bệnh là hết sức quan trọng
Tăng huyết áp thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ, tỷ lệ mắc bệnh chung của THA
ờ bệnh nhân ĐTĐ gấp đôi so với người bình thường Trong ĐTĐ loại 2, 50% người
bệnh ĐTĐ được chuẩn đoán có THA Theo dõi huyết áp thường xuyên cũng là hành động có lợi cho việc theo dõi tình trạng bệnh ĐTĐ Hành vi tự đo lường đường huyết tại nhà trước khi ngủ cũng là một hành vi giúp kiểm tra lượng đường huyết hàng ngày
Trang 332.1.5 M ối quan hệ giữa trạng thái tinh thần và tình trạng sức khỏe
n gười bệnh ĐTĐ
Trạng thái tinh thần đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe, các biến cố bất ngờ tác động lên sức khỏe của những cá nhân ốm yếu có thể làm họ chết sớm hơn trong khi không có nhiều ảnh hưởng lên tình trạng của tổng thể
Theo nghiên cứu của Colleen và cộng sự (2011), khi so sánh giữa hai nhóm bệnh mãn tính (có biến chứng) và nhóm bệnh mãn tính (không biến chứng) thì nhóm bệnh mãn tính (có biến chứng) có hiện tượng trầm cảm (22%) hơn so với
nhóm bệnh mãn tính (Không biến chứng)
Katon và cộng sự (1991), đã so sánh sự khác biệt về tâm thần giữa những bệnh nhân mắc bệnh mãn tính thường xuyên mệt mỏi (nhóm 1) và những người không có bệnh nhưng mệt mỏi (nhóm 2) Tác giả sử dụng nghiên cứu cắt ngang so sánh 98 bệnh nhân nhóm 1 với 31 bệnh nhân nhóm 2 dựa trên các cuộc phỏng vấn tâm thần và bảng câu hỏi bệnh nhân Những bệnh nhân nhóm 1 có tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm cao hơn đáng kể so với những bệnh nhân nhóm 2 Tỷ lệ mệt mỏi suy nhược mãn tính trong thực hành chăm sóc ban đầu có thể cao tới 27% đến từ việc như phải tuân thủ nghiêm ngặc phác đồ điều trị, không tham gia được các hoạt động gia đình, xã hội
Theo Moghissi và cộng sự (2013), hạ đường huyết có liên quan đến chất lượng cuộc sống, khiến người bệnh lo âu, trầm cảm
2.2 Khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Nghiên cứu của Kenkel (1995), sử dụng mô hình kinh tế lượng để ước lượng hàm sản xuất sức khỏe nhằm phân tích tác động của lối sống đến sức khỏe của người trưởng thành
Biến tình trạng sức khỏe được đo bằng mức sức khỏe tự đánh giá (gồm 5 mức: kém, tạm, tốt, rất tốt và tuyệt vời ) Mô hình nghiên cứu:
H=H(L,S,X) H: Sức khỏe, L: Hành vi, S: giáo dục, X: yếu tố ngoại sinh tác động đến mức
độ khỏe mạnh của con người trong quá khứ hoặc đại diện cho sự sa sút sức khỏe
Trang 34theo thời gian (tuổi, giới tính) Một số các yếu tố tác động lên hành vi như giáo dục,
tuổi, nghề nghiệp được đưa vào hàm cầu sức khỏe
Kết quả chỉ có tác dụng của ăn sáng là tương đối không rõ ràng còn các yếu tố
giữ một cân nặng chuẩn, không ăn vặt giữa các bữa, không hút thuốc, thể dục thường xuyên, hạn chế hoặc không uống rượu bia và ngủ 7-8 giờ mỗi ngày là các yếu tố tác động tốt đến sức khỏe Cùng những nghiên cứu khác (Kenkel (1995)), Contoyannis và cộng sự (2004) và Ruhm (2005), ta có được những chứng cứ rất thuyết phục về vai trò của “bảy hành vi Alameda” và ảnh hưởng của chúng lớn đến nỗi cuộc Điều tra Sức khỏe bằng Phỏng vấn toàn Hoa Kỳ đã phải thu thập số liệu về bảy hành vi này một cách định kỳ nhằm phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe người dân Tuy nhiên, một số giới hạn trong lý thuyết tác động đến hành vi của người được điều tra như giá cả, thu nhập và sở thích được đưa vào hàm cầu cho các đầu tư sức khỏe và không nằm trong hàm sản xuất sức khỏe
Belloc và Breslow (1972) đã phân tích kết quả điều tra của 7.000 công dân hạt Alameda, bang California vào năm 1965 và chỉ ra rằng một nhóm hành vi (mà họ
gọi là “bảy hành vi Alameda”) bao gồm: ăn sáng đều đặn, giữ một cân nặng chuẩn, không ăn vặt giữa các bữa, không hút thuốc, thể dục thường xuyên, hạn chế hoặc không uống rượu bia và ngủ 7-8 giờ mỗi ngày là những hành vi có tác động đến tình trạng sức khỏe
Theo Stewart và cộng sự (1989) tăng cường hoạt động hàng ngày và giữ tâm
trạng thoải mái là một mục tiêu ngày càng được ủng hộ trong điều trị bệnh nhân mắc bệnh mãn tính Họ đánh giá hoạt động và tâm trạng của 9.385 người lớn khi đến khám chữa bệnh với 362 bác sĩ ở ba thành phố của Hoa Kỳ, sử dụng các cuộc điều tra ngắn gọn được hoàn thành bởi cả bệnh nhân và bác sĩ Kết quả cho thấy có 8/9 người bệnh bệnh mãn tính có hoạt động thể chất, sức khỏe tâm thần, nhận thức
về sức khỏe tốt hơn so với bệnh nhân không có bệnh mãn tính
Trong nghiên cứu của Lin và cộng sự (2004) có 3/4 số bệnh nhân ĐTĐ được
uống thuốc hạ đường huyết (tiêm insulin) và tự giác kiểm soát glucose hàng tuần và 47,8% bệnh nhân tập thể dục mỗi tuần một lần Tuy nhiên có 19,5% không tuân thủ
Trang 35thời gian và liều lượng đối với thuốc hạ đường huyết (trung bình 67,4 +/- 74,1 ngày) Tình trạng bệnh nặng hơn có liên quan đến hoạt động thể chất ít hơn, chế độ
ăn uống không lành mạnh và tuân thủ thấp hơn các thuốc hạ đường huyết, hạ huyết
áp và hạ lipid đường uống
Unger.J (2012) thiết kế chương trình điều trị bệnh tiểu đường bằng thiết kế mô hình lối sống có sự can thiệp của dược lý bằng cách thúc đẩy giảm cân vừa phải (7–10% trọng lượng cơ thể ban đầu hoặc tăng chiều cao tương đương với thanh niên vẫn tăng trưởng chiều cao) cùng việc sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ điều đặn Thực hiện cân bằng năng lượng thông qua chế độ ăn uống và hoạt động thể chất, mục tiêu tiêu thụ calo trong khoảng 1.200–1.500 kcal /ngày Có 699 bệnh nhân bị tiểu đường loại 2, tuổi từ 10–17 tham gia Kết quả, có 75,2% tuân thủ phác đồ thuốc và tham gia chương trình lối sống trong 24 tháng đầu năm và 53,6% người tham gia đã đạt được mục tiêu ban đầu kiểm soát được lượng đường huyết
Dilek và cộng sự (2016) nghiên cứu mức độ nghiêm trọng của hạ đường huyết đối với bệnh nhân ĐTĐ loại 2 cho thấy có mối quan hệ đáng kể có ý nghĩa thống kê giữa liều lượng insulin sử dụng và số lượng đồ ăn vặt với số lần các đợt hạ đường huyết của người bệnh
Qua quá trình tham khảo các lý thuyết và các bài nghiên cứu của tác giả về các vấn đề yếu tố tác động đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ, bài nghiên
cứu sử dụng các biến như tuổi tác, giới tính, công việc, chỉ số BMI, thời gian làm
việc, thu nhập, chi phí chữa bệnh và tình trạng mắc bệnh liên quan, lối sống chữa bệnh và trạng thái tinh thần vào mô hình để đại diện đặc điểm người bệnh trong
việc giải thích nguyên nhân tình trạng sức khỏe khác biệt khi người bệnh có các đặc điểm khác biệt
Trang 36Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả:
Hình 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ Trên cơ sở mô hình đề xuất, tác giả đưa ra các giả thuyết:
Giả thuyết H1: Đặc điểm cá nhân có thể có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ
Giả thuyết H2: Lối sống chữa bệnh có thể có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ
Giả thuyết H3: Trạng thái tinh thần có thể có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến tình trạng sức khỏe của người bệnh ĐTĐ
2.3 Tóm tắt chương 2
Kết quả tổng quan tài liệu về đái tháo đường đã giúp đề tài tiếp cận được khái niệm về đái tháo đường, phân loại các loại đái tháo đường, biết được nguyên nhân và các biến chứng của bệnh đái tháo đường Bên cạnh đó, dựa trên
mô hình Kenkel (1995), Belloc và Breslow (1972) làm cơ sở, đề tài xây dựng khung phân tích và mô hình nghiên cứu gồm biến số có tác động đến tình trạng
sức khỏe của người bệnh
Tr ạng thái tinh th ần
L ối sống chữa
b ệnh
Trang 37CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình định lượng
3.1.1 Các bi ến trong mô hình
Biến đầu ra tình trạng sức khỏe được đo lường bằng tỷ lệ người bệnh đánh giá
sức khỏe là “Tốt” hay “Không tốt” Vì biến phụ thuộc là biến nhị phân, nghiên cứu
sử dụng mô hình Binary Logistic để đánh giá tác động của việc thực hiện lối sống
chữa bệnh và trạng thái tinh thần lên tình trạng sức khỏe người bệnh
Biến giải thích chính là các yếu tố cá nhân như tuổi tác, giới tinh, học vấn, sống cùng người thân, chỉ số BMI, thu nhập, chi phí, lối sống chữa bệnh và trạng thái tinh thần của người bệnh ĐTĐ Lối sống chữa bệnh ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của người bệnh bao gồm các vấn đề: chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực, sử
dụng thuốc và tự chăm sóc Trạng thái tinh thần tác động đến tình trạng sức khỏe thông qua trạng thái lo lắng (về thuốc, thời gian KCB, chế độ dinh dưỡng )
Những yếu tố này trong nhiều thập kỷ đã được mở rộng nghiên cứu bởi Kenkel (1995), Ruhm.(2000), Contoyannis (2004) và Ruhm (2005) Lin E.H (2004) và Unger (2012)
Trang 38Bảng 3.1 Định nghĩa tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình
Dấu
kỳ vọng
2 Giới tính Gioi_tinh Giới tính của người bệnh ĐTĐ
1: Nam 0: Nữ
±
5 Công việc Cong_viec
Tình trạng công việc của người bệnh ĐTĐ
1: Đang làm việc 0: Không làm việc
Trang 398 Tăng huyết
Có mắc bệnh tăng huyết áp?
1: Có 0: Không
-
9 Thu nhập
TN (đồng/tháng)
Thu nhập một tháng của người bệnh
10 Chi phí chữa
bệnh
CPCB (đồng/
thường xuyên) của các hành vi liên quan tới chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực,
sử dụng thuốc và hành vi tự chăm sóc
(Bảng 3.3) Thực hiện phân tích nhân tố khám phá để kiểm tra sự phù hợp của các nhân tố
Thực hiện phân tích nhân tố khám phá để kiểm tra sự phù hợp của các nhân tố
Trang 40tương quan với các biến X
Kỳ vọng của các biến được tác giả kế thừa từ các công trình nghiên cứu của Kenkel (1995) , Ruhm, C J (2000), Contoyannis, P và Jones, A.M (2004).và Ruhm, C J (2005) Lin E.H, Katon W, Von Korff M (2004), Unger (2012) và một số công trình khác
Để định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến lối sống chữa bệnh và trạng thái tinh th ần, ta cần tiến hành:
(i) Phân tích Cronbach’s Alpha:
Thang đo có chất lượng tốt khi Hệ số Cronbach’s Alpha của tổng thể lớn hơn 0,6 và
Hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát lớn hơn 0,3
(ii) Phân tích nhân t ố khám phá (EFA)
Kiểm định tính thích hợp của EFA
Sử dụng hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) Khi hệ số KMO thỏa điều kiện 0,5 < KMO < 1 thì phân tích nhân tố khám phá là thích hợp cho dữ liệu thực tế
Kiểm định tương quan của các biến quan sát trong thước đo đại diện
Sử dụng kiểm định Bartlett, khi mức ý nghĩa Sig của kiểm định Bartlett nhỏ hơn 0,05 thì các biến quan sát có tương quan tuyến tính với nhân tố đại diện
Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với nhân tố
Sử dụng phương sai trích (% Cumulative variance) để đánh giá mức độ giải thích của các biến quan sát đối với nhân tố Trị số phương sai trích phải lớn hơn 50%
3.1.2 H ồi quy Binary Logistic
Dạng tổng quát của mô hình: