HỒ CHÍ MINH NGÔ QUỲNH PHƯƠNG NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG THÔNG MINH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KIN
Trang 1TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGÔ QUỲNH PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG THÔNG MINH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGÔ QUỲNH PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG THÔNG MINH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kinh doanh Quốc tế
(hướng ứng dụng)
Mã số: 8340121
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN MAI ĐÔNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến
ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh” là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn tận
tình của TS Trần Mai Đông Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực
và chưa từng công bố trong nghiên cứu khoa học nào khác Các tài liệu tham khảo được ghi rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo, được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
TP Hồ Chí Minh, Ngày 18 Tháng 06 Năm 2019
Tác giả
Ngô Quỳnh Phương
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1
1.1 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Tổng quan và điểm mới của luận văn 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Kết cấu luận văn nghiên cứu: 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
2.1 Lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng và Hệ thống chiếu sáng thông minh 7 2.1.1 Lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng 7
2.1.2 Khái niệm về Hệ thống chiếu sáng thông minh 15
2.1.3 Vai trò của chiếu sáng thông minh trong cuộc sống hiện đại 17
2.2 Các nghiên cứu về giữa Hệ thống chiếu sáng thông minh và Ý định sử dụng 19
2.2.1 Các nghiên cứu giữa hệ thống chiếu sáng và ý định sử dụng 19
2.2.2 Nghiên cứu giữa công nghệ thông minh và ý định sử dụng 20
2.2.3 Nghiên cứu giữa tiết kiệm điện năng với ý định sử dụng 21
Trang 52.3 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu 22
2.4 Kết luận chương 2 28
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Qui trình nghiên cứu 29
3.2 Thang đo 30
3.3 Nghiên cứu sơ bộ (định tính) 33
3.3.1 Thảo luận tay đôi 33
3.3.2 Kết quả thảo luận tay đôi 33
3.3.3 Điều chỉnh giả thuyết và mô hình nghiên cứu 37
3.4 Nghiên cứu chính thức (định lượng) 43
3.4.1 Thiết kế bảng câu hỏi 43
3.4.2 Phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu 43
3.4.3 Phân tích dữ liệu 44
3.5 Kết luận chương 3 47
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
4.1 Kết quả mô tả mẫu nghiên cứu 48
4.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo 49
4.2.1 Thang đo “Hiệu quả mong đợi” 49
4.2.2 Thang đo “Nỗ lực mong đợi” 50
4.2.3 Thang đo “Ảnh hưởng xã hội” 50
4.2.4 Thang đo “Các điều kiện thuận lợi” 51
4.2.5 Thang đo “Động lực hưởng thụ” 51
4.2.6 Thang đo “Giá trị cảm nhận” 51
4.2.7 Thang đo “Nhận thức chi phí” 52
4.2.8 Thang đo “Ý định sử dụng” 52
4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 53
Trang 64.3.1 Phân tích các biến độc lập 53
4.3.2 Phân tích các biến phụ thuộc 58
4.4 Mô hình hiệu chỉnh sau khi phân tích nhân tố khám phá 59
4.5 Phân tích tương quan và hồi qui bội 59
4.5.1 Phân tích hệ số tương quan 59
4.5.2 Phân tích hồi qui đa biến 60
4.6 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 62
4.7 Phân tích sự khác biệt 64
4.9 Kết luận chương 4 71
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
5.1 Kết luận 72
5.2 Một số kiến nghị 74
5.3 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo 76
5.3.1 Hạn chế của đề tài 76
5.3.2 Gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo 77
5.4 Kết luận chương 5 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI THẢO LUẬN TAY ĐÔI
PHỤ LỤC 2: MÔ TẢ MẪU THAM GIA THẢO LUẬN
PHỤ LỤC 3: TRÍCH DẪN BÀI THẢO LUẬN TAY ĐÔI CỦA PV3
PHỤ LỤC 4: CHI TIẾT THẢO LUẬN TAY ĐÔI
PHỤ LỤC 5: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT CHÍNH THỨC
PHỤ LỤC 6: THỐNG KÊ MÔ TẢ
PHỤ LỤC 7: PHÂN TÍCH CRONBACH’S ALPHA
PHỤ LỤC 8: PHÂN TÍCH NHÂN TỐ EFA
PHỤ LỤC 9: PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN VÀ HỒI QUI
PHỤ LỤC 10: PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AEC : ASEAN Economic Community – Cộng đồng kinh tế ASEAN
ANOVA : Analysis of Variance – Phân tích phương sai
APAC : Asia Pacific – Châu Á Thái Bình Dương
ASEAN : Association of South East Asian Nations - Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
B2B : Business to Business – Doanh nghiệp vơi Doanh nghiệp
B2C : Business to Customer – Doanh nghiệp với Khách hàng
CAGR : Compounded Annual Growth Rate – Tốc độ tăng trưởng hàng năm kép CRI : Color Rendering Index - Chỉ số thể hiện màu
DALI : Digital Adressable Lighting Interface – tiêu chuẩn giao tiếp dùng trong
chiếu sáng tự động
EFA : Exploratory Factor Analysis - Phân tích nhân tố khám phá
HTCSTM : Hệ thống chiếu sáng thông minh
IoT : Internet of Things – Internet vạn vật
ISM : Industrial, Scientific and Medical band – Băng tần không cần cấp phép
(công nghiệp, khoa học và y tế)
LED : Lighting Emitting Diode – Đi ốt phát quang
TAM : Technology Acceptance Model – Mô hình chấp nhận công nghệ
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TPB : Theory of Planned Behavior – Thuyết hành vi có hoạch định
TRA : Theory of Reasoned Action – Thuyết hành động hợp lý
UTAUT : Unified theory of acceptance and use of technology - Thuyết chấp nhận
sử dụng công nghệ hợp nhất
UTAUT2 : Unified theory of acceptance and use of technology 2 - Thuyết chấp nhận
sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng
VCCI : Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VIF : Variance Inflation Factor – Hệ số phóng đại phương sai
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2-1 : Bảng tổng hợp một số mô hình ý thuyết về ý định sử dụng
Bảng 2-2 : Một số nghiên cứu liên quan đến ý định sử dụng công nghệ mới Bảng 3-1 : Các biến quan sát thuộc yếu tố Hiệu quả mong đợi
Bảng 3-2 : Các biến quan sát thuộc Nỗ lực mong đợi
Bảng 3-3 : Các biến quan sát thuộc Ảnh hưởng xã hội
Bảng 3-4 : Các biến quan sát của yếu tố Các điều kiện thuận lợi
Bảng 3-5 : Các biến quan sát của yếu tố Động lực hưởng thụ
Bảng 3-6 : Các biến quan sát của yếu tố Giá trị cảm nhận
Bảng 3-7 : Các biến quan sát của yếu tố Thói quen
Bảng 3-8 : Các biến quan sát của yếu tố Ý định sử dụng
Bảng 3-9 : Tổng hợp kết quả nội dung thảo luận tay đôi
Bảng 3-10 : Các biến quan sát của yếu tố Nhận thức Chi phí (Perceived Cost) Bảng 3-11 : Các thang đo đã được điều chỉnh
Bảng 4-1 : Tóm tắt mô tả mẫu nghiên cứu
Bảng 4-2 : Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Hiệu quả mong đợi” Bảng 4-3 : Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Nỗ lực mong đợi”
Bảng 4-4 : Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Ảnh hưởng xã hội” Bảng 4-5 : Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Các điều kiện thuận lợi” Bảng 4-6 : Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Động lực hưởng thụ” Bảng 4-7 : Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Giá trị cảm nhận”
Bảng 4-8 : Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Nhận thức Chi phí” Bảng 4-9 : Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo “Ý định sử dụng”
Bảng 4-10 : Kiểm định KMO và Barlett’s của các biến độc lập lần 1
Bảng 4-11 : Kết quả phân tích nhân tố các nhóm nhân tố khi xoay lần 1 Bảng 4-12 : Kiểm định KMO và Barlett’s của các biến độc lập lần 2
Trang 9Bảng 4-13 : Kết quả phân tích nhân tố các nhóm nhân tố khi xoay lần 2 Bảng 4-14 : Tổng hợp các biến quan sát sau khi kiểm định
Bảng 4-15 : Kiểm định KMO và Barlett’s của biến phụ thuộc
Bảng 4-16 : Ma trận hệ số tương quan Pearson
Bảng 4-17 : Kết quả mô hình hồi qui
Bảng 4-18 : Tóm tắt mô hình (Model Summary)
Bảng 4-20 : Bảng kết luận các giả thuyết
Bảng 4-21 : Kiểm định sự ảnh hưởng của giới tính đến ý định sử dụng Bảng 4-22 : Kiểm định Levene độ tuổi
Bảng 4-23 : Kiểm định ANOVA độ tuổi
Bảng 4-24 : Thống kê mô tả độ tuổi khảo sát
Bảng 4-25 : Phân tích sâu Post Hoc Test của ANOVA độ tuổi
Bảng 4-26 : Kiểm định Levene trình độ học vấn
Bảng 4-27 : Kiểm định ANOVA trình độ học vấn
Bảng 4-28 : Thống kê mô tả trình độ học vấn khảo sát
Bảng 4-29 : Phân tích sâu Post Hoc Test của ANOVA trình độ học vấn Bảng 4-30 : Kiểm định Levene nghề nghiệp
Bảng 4-31 : Kiểm định Levene thu nhập
Bảng 4-32 : Kiểm định ANOVA thu nhập
Bảng 4-33 : Thống kê mô tả thu nhập khảo sát
Bảng 4-34 : Phân tích sâu Post Hoc Test của ANOVA thu nhập
Bảng 4-35 : Giá trị trung bình các nhân tố
Bảng 5-1 : Tóm tắt mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 : Thu nhập bình quân GNI/người của Việt Nam giai đoạn 1989 – 2017
(USD/người)
Hình 2.1 : Thuyết hành động hợp lý (TRA, Ajzen và Fishbein, 1980)
Hình 2.2 : Lý thuyết hành vi có hoạch định (TPB, Ajzen, 1991)
Hình 2.3 : Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM, Davis, 1989)
Hình 2.4 : Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT,
Hình 2.8 : Thị phần thế giới chiếu sáng thông minh trong nhà ở khu vực thương
mai và công nghiệp, ngoài trời, công cộng và khu dân cư năm 2017, dự báo năm 2020
Hình 2.9 : Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 3.1 : Qui trình nghiên cứu
Hình 3.2 : Mô hình nghiên cứu chính thức điều chỉnh
Hình 3.3 : Cách đánh giá tự tương quan theo Hệ số Durbin – Watson
Hình 4.1 : Đồ thị scatter về phần dư chuản hóa và giá trị dự đoán chuẩn hóa Hình 4.2 : Biểu đồ phân phối chuẩn phần dư
Trang 11TÓM TẮT
Đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng
thông minh của người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh” được tiến hành nghiên cứu và
thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 02/2019 đến tháng 06/2019 Nghiên cứu nhận định năng lượng dành cho chiếu sáng hiện không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà của toàn thế giới Làm thế nào để vừa tiết kiệm điện năng, vừa tiết kiệm chi phí tài chính lại bảo vệ môi trường? Hệ thống chiếu sáng thông minh vừa là giải pháp cho các vấn đề trên vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó tới ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, góp phần nâng cao việc sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh trên thị trường chiếu sáng
Phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Trong phân tích nghiên cứu định lượng thực hiện thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố EFA, phân tích hồi quy đa biến … Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích 226 mẫu thu được qua bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến Google Drive
Nghiên cứu sử dụng và có điều chỉnh mô hình Chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng - UTAUT2 (Venkatesh và cộng sự, 2012) Kết quả nghiên cứu đã xác định được 7 yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh bao gồm: Hiệu quả mong đợi, Nỗ lực mong đợi, Ảnh hưởng xã hội, Các điều kiện thuận lợi, Động lực hưởng thụ, Giá trị kỳ vọng và Nhận thức Chi phí Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét sự ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học: giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và thu nhập tới ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh
Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa với các nhà quản trị, nhà sản xuất và phân phối
Hệ thống chiếu sáng thông minh Từ đó có thể mở rộng nghiên cứu trên phạm vi cả nước với nhiều đối tượng và phân khúc người tiêu dùng để có thể xác định phân khúc thị trường và có các chiến lược marketing, thúc đẩy bán hàng Hệ thống chiếu sáng thông minh hợp lý
Từ khóa: Chiếu sáng thông minh, UTAUT2, công nghệ mới, chấp nhận và sử dụng
công nghệ, tiết kiệm năng lượng
Trang 12ABSTRACT
Master’s Thesis topic “Factors influencing consumer’s behavioral intention of the
Smart Lighting in Ho Chi Minh city” was studied and conducted in Ho Chi Minh city
from Feb 2019 to June 2019
The research has identified that lighting energy is not only a problem in Vietnam but also in the whole world How can we saving energy, saving financial cost and protect our environment? The Smart Lighting system is a solution which solves these above problems and meets the higher and higher needs of the customer
The objective of the study determines the factors and the levels of these factors influencing consumer’s behavioral intention of Smart lighting in Ho Chi Minh city Based on this, the author suggests suitable solutions with the needs of the customer and increase users of Smart lighting in the lighting market
The research methods are the qualitative research method and the quantitative research method In the quantitative research analysis, the author uses descriptive statistics, Cronbach’s Alpha, Exploratory Factor Analysis (EFA), multivariate multiple regression analysis … This research uses SPSS 20.0 software to analyze 226 samples which had been collected by online Google Drive form
The study used and adjusted The Unified Theory of Acceptance and Use of Technology
2 – UTAUT2 (Venkatesh et al, 2012) The result of this research confirmed 7 factors that influenced to Consumer’s Behavioral Intention of Smart lighting in Ho Chi Minh city There are Performace Expectancy, Effort Expectancy, Social Influence, Facilitating Conditions, Hedonic Motivation, Price Value, and Perceived Cost Moreover, the study also examines the influence of demographic factors: gender, age group, educational level, occupation and income on the behavioral intention of the Smart Lighting System
The results of this research are meaningful to the business managers, the manufacturers and the distributors of Smart Lighting System Then, it is possible to expand the research around the country with more objects and consumer segments to be able to identify the market segments, the marketing strategies, and suitable sales promotion of the Smart Lighting System
Keywords: Smart lighting, UTAUT2, new technology, acceptance and use of
technology, energy saving
Trang 13(1) ke-hoach-20815.htm) [truy cập 23h08 ngày 27/02/2019
http://thuonggiaonline.vn/nam-2018-toc-do-tang-truong-nganh-xay-dung-vuot-CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt ba thập kỉ qua, tiến trình toàn cầu hóa đã và đang diễn ra ngày càng lớn mạnh và sâu rộng Toàn cầu hóa giúp chúng ta chuyển sang một thế giới mà trong đó các rào cản thương mại và đầu tư xuyên quốc gia được dỡ bỏ; khoảng cách nhận thức được thu hẹp lại nhờ tiến bộ viễn thông và giao thông vận tải; văn hóa hữu hình trở nên đồng nhất hơn trên toàn thế giới; các nền kinh tế quốc gia đang hội nhập vào một hệ thống kinh tế toàn cầu phụ thuộc lẫn nhau
Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoay đó của thế giới Việt Nam đã và đang hội nhập vào tiến trình đó Điều này có thể dễ dàng nhận thấy qua tốc độ đô thị hóa, tốc
độ xây dựng cũng như tỷ lệ gia tăng thu nhập của người dân Việt Nam
“Theo Bộ Xây dựng (2018), tính đến hết tháng 5/2018, Việt Nam có 813 đô thị các loại, bao gồm cả các đô thị, khu công nghiệp… Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á về tốc
độ đô thị hóa đạt khoảng 37,5% (năm 2017) Dự báo sẽ có 50% dân số Việt Nam sẽ sống tại đô thị vào những năm 40 của thế kỷ XXI
Cùng với tốc độ đô thị hóa là tốc độ tăng trưởng ngành xây dựng Năm 2018, ngành xây dựng tăng trưởng vượt kế hoạch đạt 9,2% Qua đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam luôn đứng thứ 3 trong các nước ASEAN về Chỉ tiêu cấp phép xây dựng (bao gồm cấp giấy phép xây dựng và các thủ tục liên quan); đứng thứ 20/190 nền kinh tế trên thế giới” (1)
Cùng với đó là tốc độ tăng thu nhập của người Việt Nam tăng dần qua các năm từ năm 1989 đến năm 2017 qua hình 1.1:
Trang 14(2) cao/17986.html truy cập 22h56 ngày 14/03/2019
https://bnews.vn/su-dung-dien-nang-cho-chieu-sang-cua-viet-nam-van-o-muc-Hình 1.1: Thu nhập bình quân GNI/người của Việt Nam giai đoạn 1989 – 2017
(ĐVT: USD/người) (Nguồn: World Bank), https://data.worldbank.org/indicator/NY.GNP.PCAP.CD?contextual=default&end=201
7&locations=VN&start=1989&view=chart)
Năng lượng dành cho chiếu sáng hiện không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà của toàn thế giới Làm thế nào để vừa tiết kiệm điện năng, vừa tiết kiệm chi phí tài chính lại bảo vệ môi trường? Nếu như trước kia, thị trường Việt Nam chỉ có sản phẩm bóng đèn truyền thống chỉ có Rạng Đông, Điện Quang, Philips và một vài công ty tư nhân khác, thì hiện nay có vô số doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào thị trường khiến cho sự ngày càng khốc liệt Sản phẩm chiếu sáng đa dạng, phong phú ngày nay không chỉ để là “chiếu sáng” mà còn để thỏa mãn nhiều nhu cầu khác của người tiêu dùng Tại
hội thảo “Chiếu sáng thông minh vì sự phát triển bền vững của Cộng đồng kinh tế
ASEAN- AEC” Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) năm 2016 nhận
định: “25% tổng nhu cầu sử dụng điện năng nhằm phục vụ mục đích chiếu sáng của Việt Nam vẫn cao hơn nhiều so với mức trung bình 20% trên thế giới Đây là lý do vì sao các doanh nghiệp Việt Nam, các cơ quan, đơn vị quản lý Nhà nước thuộc lĩnh vực này cần tiếp cận thêm nhiều giải pháp mới; công nghệ mới để sử dụng hiệu quả hơn nữa nguồn năng lượng điện Nhờ đó, tối đa hóa hiệu suất sử dụng và tăng cường khả năng kinh doanh Ý tưởng về các thiết bị chiếu sáng thông minh kết hợp với các giải pháp thông minh sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của Việt Nam trong bối cảnh mới” (2)
Trang 15(3) www.saigon-electric.com.vn
“Được thành lập trong giai đoạn đất nước Việt Nam đang trong quá trình hội nhập
và phát triển sâu rộng với thế giới, Công ty TNHH Điện Sài Gòn đã phát triển cùng với phát triển không ngừng của đất nước và góp phần trong hàng loạt các dự án được xây dựng với những yêu cầu về chất lượng, an toàn và thẩm mỹ cao Với mục tiêu lựa chọn, chắt lọc công nghệ, thiết bị tiên tiến, chất lượng tốt đưa đến người sử dụng cuối cùng (end-user), Công ty TNHH Điện Sài Gòn không ngừng nghiên cứu và cung ứng cho khách hàng các sản phẩm thiết bị công nghệ cao” (3)
Qua thực tế kinh doanh năm 2018, phòng kinh doanh của Công ty TNHH Điện Sài Gòn đã nhận thấy tiềm năng rất lớn của sản phẩm hệ thống chiếu sáng thông minh (smart lighting system) và dự đoán hệ thống này không chỉ được áp dụng cho các tòa nhà lớn (building) và các khách hàng doanh nghiệp (B2B) mà còn tiến tới với các khách
hàng cá nhân (B2C) Với nhận định “Sản phẩm chiếu sáng thông minh cũng sẽ dần trở
nên phổ biến, dễ sử dụng và trở thành mặt hàng không thể thiếu cho mỗi gia đình”,
Giám đốc kinh doanh của Công ty TNHH Điện Sài Gòn đã mạnh dạn đặt mục tiêu phấn đấu trong năm 2019, phát triển Hệ thống chiếu sáng thông minh (HTCSTM) cùng thương hiệu mới Bastech Controls
Bastech Controls (Building Automation System Technology) là một thương hiệu thuộc Công ty TNHH Điện Sài Gòn, cung cấp cho khách hàng giải pháp, sản phẩm và dịch vụ chuyên nghiệp trong lĩnh vực tự động hóa tòa nhà và tích hợp hệ thống Với kinh nghiệm và nỗ lực của mình, Bastech Controls luôn tận tâm cung cấp cho khách hàng giải pháp, sản phẩm và dịch vụ tối ưu nhất về hiệu quả kinh tế và đáp ứng các yêu cầu khắc khe nhất về mặt kỹ thuật Đồng hành cùng Bastech Controls là thương hiệu nổi tiếng đến từ Canada – Distech Controls chuyên về lĩnh vực tự động hóa tòa nhà, đạt
nhiều chứng nhận khắc khe nhất về kỹ thuật với thông điệp “Innovative Solution for
Greener Building” Và một trong những nhiệm vụ của thương hiệu Bastech Controls là
phát triển HTCSTM
Xuất phát từ mục tiêu đó, với mong muốn tìm hiểu nhiều hơn các yếu tố tác động đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh và có các khuyến nghị giúp cho doanh nghiệp như Công ty TNHH Điện Sài Gòn có căn cứ đầu tư
vào nghiên cứu phát triển HTCSTM, tác giả đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các yếu
tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 161.2 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu
sáng thông minh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả đi vào các
mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu và xác định phân khúc thị trường của đối tượng khách hàng có nhu cầu sử dụng HTCSTM
- Nghiên cứu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
Trên cơ sở là các mục tiêu nghiên cứu nói trên, các câu hỏi nghiên cứu được tác giả đặt ra là:
- Các yếu tố nào ảnh hưởng tới ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại
TP Hồ Chí Minh?
- Mức độ tác động của từng yếu tố đến ý định sử dụng HTCSTM? Yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất/ ít nhất đến ý định sử dụng của người tiêu dùng?
- Có tồn tại sự khác nhau về ý định sử dụng HTCSTM giữa nhóm người tiêu dùng
ở TP Hồ Chí Minh theo yếu tố về nhân khẩu học?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố tác động đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng biết và có ý định sử dụng về HTCSTM tại thành phố Hồ Chí Minh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tại thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi thời gian: Bài khảo sát được thực hiện trong thời gian tháng 3 đến tháng 5 năm 2019
1.4 Tổng quan và điểm mới của luận văn
Các nghiên cứu về ý định sử dụng hệ thống chiếu sáng mới như chiếu sáng LED đã được nghiên cứu trong những năm gần đây như nghiên cứu của Kelly Cowan và Tugrul Daim (2013); Orose Leelakulthanit (2014) hay của Hasti và cộng sự (2016) Hay nghiên
Trang 17cứu về ý định hành vi tiêu dùng về Hệ thống lớn bao gồm cả HTCSTM như Công nghệ nhà thông minh cũng có các nghiên cứu của Shuhaiber, A., và Mashal, I (2019) hay Moinul Islam (2018) Tuy nhiên nghiên cứu về HTCSTM còn hạn chế, đa phần là các nghiên cứu về đặc tính kĩ thuật hoặc tính ứng dụng của Hệ thống chiếu sáng thông minh chứ chưa nghiên cứu về ý định hành vi và thị hiếu tiêu dùng
Do vậy, nghiên cứu về ý định sử dụng của HTCSTM góp phần giúp các nhà sản xuất, nhà phân phối tiếp cận phân khúc thị trường phù hợp và có các hoạt động xúc tiến thương mại, marketing để quảng bá sản phẩm Nhằm đưa sản phẩm gần gũi hơn với người tiêu dùng, khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm hiện đại, tiết kiệm năng lượng
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu
Nguồn dữ liệu được sử dụng trong luận văn gồn các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu từ các nguồn sau: các bài báo/ tạp chí nghiên cứu trong và ngoài nước trên trang scholar.google.com, emeralinsight.com, sciendirect.com, các tạp chí của Việt Nam, các nghiên cứu thị trường của Hiệp hội chiếu sáng Việt Nam, nghiên cứu Smart Home của BKAV và Bastech Controls, nghiên cứu Smart Lighting của Rạng Đông, các tạp chí trên mạng Internet về nghiên cứu chiếu sáng như LEDinsight.com và Thư viện điện tử Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh
Dữ liệu sơ cấp được tác giả chủ động thực hiện tiến hành thu thập từ khảo sát nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng
Đề tài nghiên cứu kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Phương pháp nghiên cứu định tính thực hiện thông qua các đối tượng tham gia phỏng vấn tay đôi để tìm hiểu, chỉnh sửa và điều chỉnh thang đo, từ đó có các thang đo chính thức phù hợp và bảng khảo sát phù hợp với nhu cầu thực tế Các đối tượng tham gia thảo luận là những người trong ngành cung cấp Hệ thống chiếu sáng thông minh, chuyên gia nghiên cứu và khách hàng đã từng sử dụng Hệ thống này
Nghiên cứu định lượng được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu chính thức với kĩ thuật thu thập thông tin qua hình thức bảng câu hỏi khảo sát online qua công cụ trực tuyến Google Drive Dữ liệu thu thập được kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố EFA, xây dựng hàm hồi qui tuyến tính và thực hiện các kiểm định sự khác biệt T-test hoặc ANOVA
Trang 18Trong luận văn này, tác giả chọn kích thước mẫu 226 mẫu đủ để đáp ứng cả hai điều kiện về phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi qui bội
1.6 Kết cấu luận văn nghiên cứu:
Ngoài phần tóm tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài: Trình bày ý nghĩa và tính cấp thiết của đề
tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, tính mới của đề tài, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của luận văn
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Lý thuyết về ý định hành
vi của người tiêu dùng, hệ thống chiếu sáng thông minh, vai trò HTCSTM; các nghiên cứu có liên quan, xây dựng mô hình nghiên cứu và đặt ra các giả thiết nghiên cứu
Chương 3: Thiết kế qui trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu: Trình bày
qui trình nghiên cứu Lý thuyết phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Mô tả đối tượng thảo luận tay đôi và tổng hợp kết quả thảo luận tay đôi, hiệu chỉnh giả thuyết
và mô hình nghiên cứu
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Mô tả mẫu nghiên cứu, các kiểm định
thang đo, kiểm định giả thiết, xây dựng phương trình hồi quy và kiểm định sự khác biệt của các biến nhân khẩu học tới ý định sử dụng
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Từ kết luận chương 4, nêu lên một số đề xuất
cho các doanh nghiệp Việt Nam (các nhà sản xuất và các nhà phân phối) HTCSTM
Trang 19CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng và Hệ thống chiếu sáng thông minh
2.1.1 Lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng
Theo Ajzen (1991) “ý định được xem là bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân Các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi đó Ý định là một yếu tố dùng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi nào đó trong tương lai”
Các thành phần cấu thành Ý định hành vi theo Ajzen (1991) ba nhân tố “niềm tin vào hành vi”, “niềm tin vào chuẩn mực” và “niềm tin vào sự kiểm soát” Các niềm tin này càng mạnh thì ý định hành vi của con người càng lớn
Từ thập niên 70 của thế kỷ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu về ý định sử dụng công nghệ của con người, các lý thuyết này đã được thực nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới, nghiên cứu chủ yếu xoay quanh nhóm khái niệm là:
- Ý định hành vi (tiêu biểu là thuyết TRA, TPB)
- Thuyết chấp nhận công nghệ (tiêu biểu là TAM và UTAUT)
Mô hình nghiên cứu đầu tiên là “thuyết hành động hợp lý (TRA)” của Fishbein và Ajzen lần đầu được công bố năm 1975 Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định hành vi của TRA là “Thái độ đối với hành vi” và “Chuẩn mực chủ quan” Tiếp sau đó năm 1991, Ajzen phát triển “lý thuyết hành vi có hoạch định (TPB)” dựa trên cơ sở nền tảng của TRA “Lý thuyết hành vi có hoạch định” được bổ sung thêm nhân tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” vào TRA Dựa trên mô hình TRA – “mô hình chấp nhận công nghệ TAM” được Davis, D Fred và Arbor Ann xây dựng năm 1989 gồm bốn nhân tố ảnh hưởng đến “Ý định sử dụng” là: “Biến bên ngoài”, “Nhận thức sự hữu ích”, “Nhận thức tính dễ sử dụng” và “Thái độ” Mô hình TAM được nhiều nhà nghiên cứu công nhận là
mô hình tin cậy và được sử dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu chấp nhận công nghệ thông tin Gần đây nhất là các mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT) và mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng (UTAUT2) được Venkatesh và cộng sự nghiên cứu và phát triển trong những năm đầu thế kỉ XXI (2003 và 2012) Mô hình UTAUT được phát triển qua 8 mô hình về ý định hành vi và chấp nhận công nghệ nhưng có ảnh hưởng lớn nhất tới “mô hình UTAUT” là “Thuyết
Trang 20hành động hợp lý TRA”, “Thuyết hành vi dự định TPB” và “mô hình chấp nhận công nghệ TAM” Mô hình UTAUT-2 được mở rộng so với mô hình UTAUT thêm ba nhân
tố mới Mô hình UTAUT-2 được coi là mô hình mới nhất trong các mô hình nghiên cứu
về ý định sử dụng và chấp nhận công nghệ mới hiện nay
Bảng 2-1 tổng hợp một số mô hình lý thuyết về ý định sử dụng và chấp nhận công nghệ trong nghiên cứu
Bảng 2-1: Bảng tổng hợp một số mô hình lý thuyết về ý định sử dụng và
chấp nhận công nghệ Tác giả Mô hình lý thuyết Cơ sở nền tảng
Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định hành vi
“Thái độ đối với hành
vi Chuẩn mực chủ quan”
Ajzen
(1991)
“Thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior – TPB)”
“Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)”
“Thái độ Chuẩn mực chủ quan Nhận thức kiểm soát hành vi”
“Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)”
“Biến bên ngoài Nhận thức sự hữu ích Nhận thức tính dễ sử dụng
Thái độ hướng tới sử dụng”
8 mô hình về ý định hành vi và chấp nhận công nghệ nhưng có ảnh hưởng lớn nhất tới mô hình UTAUT
là “Thuyết hành động
“Hiệu quả mong đợi
Nỗ lực mong đợi Ảnh hưởng xã hội Các điều kiện thuận lợi”
Trang 21hợp lý TRA, Thuyết hành vi dự định TPB
và mô hình chấp nhận công nghệ TAM”
“Mô hình chấp nhận
và sử dụng công nghệ hợp nhất (Unified theory of acceptance and use of technology – UTAUT)”
“Hiệu quả mong đợi
Nỗ lực mong đợi Ảnh hưởng xã hội Các điều kiện thuận lợi
Động lực hưởng thụ Giá trị cảm nhận Thói quen sử dụng”
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Fishbein và Ajzen (1975) nghiên cứu Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) cho rằng “ý định hành vi (Behavioral Intention)” là yếu tố quan trọng nhất trong dự đoán hành vi tiêu dùng Họ đặt ra giả định rằng “hành vi thực tế chính là kết quả của ý định hành vi” Con người luôn có trước ý định cho những hành vi thực sự
Hình 2.1: Thuyết hành động hợp lý (TRA, Ajzen và Fishbein, 1980)
Theo TRA, ý định hành vi chịu sự tác động của hai yếu tố là “thái độ cá nhân (Attitude)” và “chuẩn mực chủ quan (Subjective Norm)” Hai nhân tố này tác động gián tiếp đến hành vi thực tế qua ý định hành vi “Thái độ của cá nhân” được đo lường bằng niềm tin của khách hàng và sự đánh giá của họ đối với các đặc tính của sản phẩm Trong khi “chuẩn mực chủ quan” lại chịu ảnh hưởng của nhóm tham khảo liên quan đến người tiêu dùng như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp … (Fishbein và Ajzen, 1975) Tuy nhiên, hạn chế của thuyết TRA là bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được bởi vì mô hình này bỏ qua tầm quan
“Thái độ đối với hành vi”
“Ý định hành vi” “Hành vi thực
tế”
“Chuẩn mực chủ quan”
Trang 22trọng của yếu tố xã hội mà trong mà trong thực tế có thể là một yếu tố quyết định đối với hành vi cá nhân (Grandon và Peter P Mykytyn 2004)
Trên cơ sở nền tảng của TRA, Ajzen (1991) phát triển và nghiên cứu Thuyết hành vi
có hoạch định (Theory of Planned Behavior – TPB) Thuyết TPB bổ sung nhân tố
“Nhận thức kiểm soát hành vi” vào TRA (Ajzen, 1991) Theo TPB, “ý định hành vi” bị tác động bởi 3 nhân tố là “thái độ”, “chuẩn mực chủ quan” và “nhận thức kiểm soát hành vi”
Hình 2.2: Lý thuyết hành vi có hoạch định (TPB, Ajzen, 1991)
Nhân tố “nhận thức kiểm soát hành vi” phản ánh đánh giá của chính người dùng về mức độ khó khăn hay dễ dàng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991) Điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực cần thiết và cơ hội để thực hiện hành vi
Mô hình TPB được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu với mục đích đoán ý định sử dụng của các cá nhân và cho thấy tối ưu trong giải thích hành vi của khách hàng tốt hơn mô hình TRA Tương quan so sánh với thuyết TRA, lý thuyết và mô hình TPB được cho là có mức độ phù hợp cao hơn và có thể giải thích tốt hơn về ảnh hưởng của việc thay đổi từng yếu tố đến ý định hành vi (Werner, P 2004) Điều này được giải thích là do bổ sung thêm nhân tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” ảnh hưởng đến “ý định hành vi”
Dựa trên mô hình TRA – “mô hình TAM (Technology Acceptance Model)” được Davis, D Fred và Arbor, Ann (1989) xây dựng gồm 5 nhân tố: “Biến bên ngoài”,
Trang 23Hình 2.3: Mô hình chấp nhận công nghệ - TAM (Davis và cộng sự, 1989)
Nhân tố “Biến bên ngoài” là các biến ảnh hưởng đến “nhận thức sự hữu ích” và
“nhận thức tính dễ sử dụng” như thái độ, tần suất sử dụng trong một hệ thống …
Nhân tố “Nhận thức sự hữu ích” là mức độ mà cá nhân cho rằng việc sử dụng một sản phẩm đặc thù sẽ nâng cao hiệu quả thực hiện công việc của họ (Davis, 1989)
Nhân tố “Nhận thức tính dễ sử dụng” là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một
(2014) nghiên cứu về “Sự chấp nhận của người tiêu dùng đối với thương mại điện tử:
Tích hợp niềm tin và rủi ro với mô hình chấp nhận công nghệ”; Luarn, P., & Lin, H
(2005) nghiên cứu “Hướng tới sự hiểu biết về ý định hành vi sử dụng ngân hàng di
động (Internet Banking)” tại Đài Loan hay nghiên cứu của Verma, S., Bhattacharyya,
S., & Kumar, S (2018) về mở rộng của mô hình chấp nhận công nghệ trong môi trường triển khai hệ thống phân tích dữ liệu lớn
Tuy nhiên TAM có một số hạn chế chẳng hạn như các biến nhân khẩu học không được đề cập trong mô hình này
Thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (Unified theory of acceptance and use of technology - UTAUT) của Venkatesh và cộng sự (2003)
Mô hình UTAUT được phát triển qua tám mô hình là: “lý thuyết hành động hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Action)” của Fishbein và Ajzen, “lý thuyết hành vi dự định (TPB – Theory Planned Behavior)” của Ajzen, “mô hình chấp nhận công nghệ (TAM –
“Biến bên
ngoài”
“Nhận thức sự hữu ích”
“Nhận thức tính
dễ sử dụng”
(PEOU)
“Thái độ hướng đến
sử dụng”
“Ý định
sử dụng”
“Hành vi thực sự”
Trang 24Technology Acceptance Model)” của Davis và Arbor Ann (1989), tích hợp “lý thuyết hành vi dự định (TPB)” và “mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Combine TPB and TAM)” của Taylor và Todd (1995), “lý thuyết phổ biến sự đổi mới (IDT – Innovation Diffusion Theory)” của Moore and Benkasat (1991), “mô hình động lực thúc đẩy (MM – Motivational Model)” của Davis và các cộng sự (1992), “mô hình sử dụng máy tính (MPCU – Model of PC Utilization)” của Thompson và các cộng sự (1991) và “lý thuyết nhận thức xã hội (SCT – Social Cognitive Theory)” của Compeau và Higgins (1999) (Venkatesh và cộng sự, 2003) Trong đó các mô hình có ảnh hưởng lớn nhất đến mô hình UTAUT là “Thuyết hành động hợp lý TRA”, “Thuyết hành vi dự định TPB” và
“mô hình chấp nhận công nghệ TAM”
UTAUT nhằm mục đích giải thích ý định của người tiêu dùng để sử dụng một hệ thống thông tin và hành vi sử dụng tiếp theo Lý thuyết cho rằng có bốn cấu trúc chính: 1) “Hiệu quả mong đợi”, 2) “Nỗ lực mong đợi”, 3) “Ảnh hưởng xã hội” và 4) “Các điều kiện thuận lợi” ảnh hưởng tới “Ý định hành vi”, qua đó gián tiếp ảnh hưởng tới “Hành
“Hiệu quả mong
“Hành vi sử dụng”
“Giới tính” “Độ tuổi” “Kinh nghiệm”
“Tự nguyện sử dụng”
Trang 25Còn mức độ mà cá nhân tin rằng họ sẽ dễ dàng trong việc sử dụng hệ thống hay sản phẩm công nghệ - “Nỗ lực mong đợi (Effort Expectancy)” (Venkatesh và cộng sự, 2003)
“Ảnh hưởng xã hội (Social Influence)” – Mức độ cá nhân nhận thấy rằng “quan trọng là những người khác tin rằng họ nên sử dụng hệ thống mới” (Venkatesh và cộng
sự, 2003) Đây được xem là nhân tố quan trọng, có tác động đến ý định sử dụng được thể hiện qua nhân tố “Chuẩn chủ quan” trong “mô hình TRA” (Ajzen và Fishbein, 1975) và “mô hình chấp nhận công nghệ TAM mở rộng” (Venkatesh và Davis, 2000)
“Điều kiện thuận lợi (Facilitating Conditions)” – Mức độ mà một cá nhân tin rằng cơ
sở hạ tầng tổ chức và kỹ thuật tồn tại để hỗ trợ việc sử dụng hệ thống (Venkatesh và cộng sự, 2003)
Một số nghiên cứu ứng dụng “mô hình UTAUT” có thể kể đến như
Boonsiritomachai, W., & Pitchayadejanant, K (2017) nghiên cứu về “Các yếu tố quyết
định ảnh hưởng đến việc áp dụng ngân hàng di động theo thế hệ Y dựa trên Lý thuyết chấp nhận và sử dụng mô hình công nghệ thống nhất được sửa đổi (UTAUT) bởi khái niệm Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)” Rahi, S., Abd.Ghani, M., & Hafaz Ngah,
A (2019) nghiên cứu “Tích hợp lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công
nghệ trong cài đặt ứng dụng Internet Banking: Bằng chứng thực nghiệm từ Pakistan”
Hay như nghiên cứu của Chopdar, P K., Korfiatis, N., Sivakumar, V J., & Lytras, M
D (2018) về “Nghiên cứu yếu tố chấp nhận rủi ro và nhận thức của Ứng dụng mua
sắm trên thiết bị di động: Một viễn cảnh xuyên quốc gia sử dụng Lý thuyết thống nhất
về chấp nhận và sử dụng công nghệ”
Mô hình UTAUT đã bổ sung thêm các biến quan sát về nhân khẩu học như: “giới tính”, “kinh nghiệm”, “độ tuổi” và “tự nguyện sử dụng” Theo Venkatesh (2003) mô hình UTAUT có thể giải thích được 70% các trường hợp liên quan đến ý định sử dụng trong khi các mô hình trước đây chỉ giải thích được từ 30% đến 45% Nhưng thuyết UTAUT phù hợp với bối cảnh tổ chức áp dụng công nghệ và có thể không phù hợp để phân tích việc áp dụng công nghệ trong bối cảnh cá nhân sử dụng (Tak và Panwar, 2017
và Venkatesh và cộng sự, 2012)
Từ động lực này, “mô hình UTAUT” đã được mở rộng bằng cách thêm ba yếu tố mới, đó là động lực hưởng thụ, giá trị và thói quen Đây chính là mô hình phát triển UTAUT-2 (The Unified Theory of Acceptance and Use of Technology 2) – “Thuyết
Trang 26chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng” Lý thuyết này cũng được áp dụng
rộng rãi trong bối cảnh nghiên cứu công nghệ thông tin bao gồm ứng dụng du lịch cho
ứng dụng điện thoại thông minh (Gupta và cộng sự, 2017), ứng dụng mua sắm trực
tuyến dựa trên ứng dụng di động (Tak và Panwar, 2017), áp dụng phương pháp học điện
tử (Tarhini và cộng sự 2017) Hình 2.5 biểu thị các mối quan hệ của các yếu tố với các
cấu trúc chính của “mô hình UTAUT-2”
Hình 2.5: Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng UTAUT-2
(Venkatesh và cộng sự, 2012)
Ba nhân tố được bổ sung vào mô hình UTAUT2 bao gồm:
“Động lực hưởng thụ (Hedonic Motivation)” được giải thích là “niềm vui bắt nguồn
từ việc sử dụng công nghệ và bản thân nó đã được chứng minh là đóng vai trò quan
“Hành vi sử dụng”
5: Các mối quan hệ mới được thể hiện nằng đường nét đậm.”
Trang 27trọng trong việc xác định sự chấp nhận và sử dụng công nghệ” (Brown và Venkatesh 2005)
“Giá trị cảm nhận (Price Value)” được định nghĩa là “giá trị cảm nhận khi người tiêu dùng đánh đổi nhận thức giữa lợi ích nhận thức của các ứng dụng công nghệ và chi phí tiền tệ để sử dụng chúng” (Dodds và cộng sự 1991) “Giá trị giá là dương khi lợi ích của việc sử dụng công nghệ được coi là lớn hơn chi phí tiền tệ và giá trị giá đó có tác động tích cực đến ý định” (Venkatesh và cộng sự, 2012)
“Thói quen (Habit)” được định nghĩa là “mức độ mà mọi người có xu hướng thực hiện các hành vi tự động qua học hỏi” (Limayem và cộng sự 2007), trong khi Kim và Malhotra (2005) đánh đồng thói quen với hành động tự nhiên Mặc dù khái niệm khá giống nhau, thói quen đã được vận hành theo hai cách riêng biệt: Thứ nhất, thói quen được xem là lặp lại hành vi trước đó (Kim và Malhotra, 2005); và thứ hai, thói quen được đo bằng mức độ mà một cá nhân tin rằng hành vi đó là hành động tự nhiên (Limayem và cộng sự 2007)
“Mô hình UTAUT-2” được ứng dụng như là mô hình mới nhất trong các nghiên cứu
về áp dụng công nghệ mới trong những năm gần đây Vì vậy tác giả áp dụng mô hình UTAUT2 cho nghiên cứu về ý định sử dụng HTCSTM vì hệ thống này là công nghệ mới, đặc thù trong công nghệ chiếu sáng hiện nay
2.1.2 Khái niệm về Hệ thống chiếu sáng thông minh
Hệ thống chiếu sáng thông minh - HTCSTM (Smart Lighting System hoặc Intelligent Lighting System) là hệ thống được kết hợp giữa nguồn sáng, cảm biến, mạng lưới truyền thông và thông tin nhằm mục đích đáp ứng ngày càng cao của người sử dụng (Boscarino, G., và Moallem, M 2016)) Thông qua việc sử dụng phần mềm và giải pháp phần cứng cho phép giám sát và kiểm soát việc sử dụng các nguồn sáng thích ứng với điều kiện môi trường, chiếu sáng thông minh tối đa hóa hiệu quả và năng lượng chiếu sáng (Petritoli, E và cộng sự., 2018)
Có nhiều giải pháp cho HTCSTM như:
- Đèn hành lang, cầu thang sẽ tự động bật bằng cảm ứng nhiệt khi có người di chuyển và tắt khi không có người
- Ngoài ra, hệ thống có thể cho phép bật/tắt chiếu sáng bằng giọng nói
- Hệ thống chiếu sáng trong ngôi nhà sẽ tự động bật tắt theo giờ cài đặt
Trang 28- Hoặc đèn sẽ tự động sáng khi cửa được mở ra và tắt khi cửa đóng nhờ hệ thống cảm ứng
…
Giải pháp mang tính ứng dụng công nghệ cao ngày càng được phổ biến và nhân rộng, mang đến cuộc sống nhiều tiện nghi cho gia đình
Giải pháp chiếu sáng thông minh có thể được mô hình hóa bằng các sản phẩm trong
Hệ thống chiếu sáng theo mô hình sau:
Hình 2.6: Giải pháp ánh sáng thông minh trong công nghệ nhà thông minh của HDL
Automation Co., Ltd (Nguồn: https://www.hdlautomation.com/)
“Hiện nay, công nghệ chiếu sáng thông minh sử dụng chủ yếu các cảm biến phát hiện người sử dụng trong vùng cần chiếu sáng Các công nghệ chủ yếu cho cảm biến loại này là: Cảm biến hồng ngoại thụ động, Cảm biến Radar và Cảm biến quang
Một phần tử quan trọng trong hệ thống chiếu sáng thông minh là công nghệ kết nối giữa các phần tử trong hệ thống Các công nghệ kết nối được phân thành hai loại chính
Trang 29(4) http://vecea.vn/tin-tuc/t286/chieu-sang-thong-minh-trong-do-thi-thong-minh.html
- Kết nối có dây bao gồm các công nghệ sau: DALI (Digital Addressable Lighting Interface); Ethernet; BACnet (Building Automation and Control networks); Lonworks Trong đó DALI được sử dụng phổ biến trong các hệ thống chiếu sáng
- Kết nối không dây bao gồm các công nghệ: ZigBee; Wifi; Bluetooth
Hình 2.7: Công nghệ chiếu sáng thông minh và IoT
(Nguồn:
http://vecea.vn/tin-tuc/t286/chieu-sang-thong-minh-trong-do-thi-thong-minh.html)
Xu hướng các hệ thống chiếu sáng thông minh được giám sát và điều khiển từ xa thông qua các thiết bị di động đang ngày càng được phát triển Hình 2.7 trình bày kiến trúc mạng HTCSTM trong nhà Các đèn kết nối có dây hoặc không dây với một Gateway Thiết bị điều khiển, thường sử dụng là các smartphone hoặc máy tính, kết nối với Gateway thông qua bộ Router để điều khiển các đèn trong hệ thống” (4)
2.1.3 Vai trò của chiếu sáng thông minh trong cuộc sống hiện đại
Theo Chew I và cộng sự (2017) Những lợi ích tiềm năng của HTCSTM là rất đa dạng, dễ thấy nhất là tăng tiết kiệm năng lượng Trên thực tế, các hệ thống có điều khiển chiếu sáng tiết kiệm năng lượng tích hợp thường thể hiện mức tiết kiệm năng lượng từ 17% - 60% so với điều khiển chiếu sáng truyền thống tùy thuộc vào việc sử dụng của người sử dụng Các hệ thống chiếu sáng thông minh tiết kiệm năng lượng này thường được lắp đặt trong các tòa nhà vì chúng có tiềm năng giảm tiêu thụ năng lượng cao nhất
và tương đối đơn giản để trang bị thêm các tính năng khác
Ngoài ra, chiếu sáng thông minh có thể được sử dụng để tăng chất lượng ánh sáng, điều chỉnh nhịp sinh học, tăng năng suất và thúc đẩy tăng trưởng thực vật, thực hiện chiếu sáng lấy con người làm trung tâm và một số những lợi ích khác Do đó, có thể lập
Trang 30luận rằng sự tiến bộ khoa học công nghệ của HTCSTM sẽ có tác động tích cực đến các ứng dụng và nghiên cứu công nghiệp về làm vườn, kiến trúc, quản lý tòa nhà, kiểm soát chất lượng ánh sáng và hoạt động sinh hoạt của con người
Rõ ràng là tương lai của ánh sáng thông minh là tươi sáng; tuy nhiên, các rào cản đối với việc áp dụng rộng rãi của nó bao gồm tiết kiệm chi phí do tiết kiệm năng lượng chưa chứng minh được ngay so với chi phí đầu tư ban đầu
Mặc dù vậy Tạp chí Phố Wall nhận định các thiết bị nhà thông minh bao gồm các sản phẩm chiếu sáng thông minh sẽ ngày một phát triển trên thị trường thương mại
Hình 2.11 dưới đây thể hiện sự phân chia thị trường chiếu sáng thông minh thế giới trong khu vực thương mại – công nghiệp, công cộng và khu dân cư năm 2017 và dự báo năm 2020 Qua đồ thị, có thể thấy thị phần dành cho khu dân cư đang có xu hướng được
mỏ rộng và chiếm tỷ trọng lớn vào năm 2020
Thương mại
và công nghiệp Ngoài trời Khu dân cư Công cộng
Hình 2.8: Thị phần thế giới chiếu sáng thông minh trong nhà ở khu vực thương mai
và công nghiệp, ngoài trời, công cộng và khu dân cư năm 2017, dự báo năm 2020
(Nguồn:
https://www.ledinside.com/news/2018/2/smart_lighting_most_widely_adopted_in_indu
strial_market_yet_grows_at_fastest_pace_in_residential_space)
Chiếu sáng thông minh trong khu vực dân dụng
Theo nghiên cứu của tạp chí LEDinside, chiếu sáng dân dụng chiếm 23% thị trường chiếu sáng thông minh toàn cầu năm 2017 và thị phần sẽ tăng lên 31% vào năm 2020 Các nhà nghiên cứu thị trường tin rằng nhà thông minh và chiếu sáng thông minh sẽ
Trang 31thúc đẩy và tạo điều kiện cho nhau, vì vậy chiếu sáng thông minh trong khu dân cư các lĩnh vực sẽ có sự tăng trưởng nhanh nhất trong vài năm tới
Trong bối cảnh nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung nghiên cứu ý định sử dụng của người tiêu dùng trong khu vực dân dụng này
2.2 Các nghiên cứu về giữa Hệ thống chiếu sáng thông minh và Ý định sử dụng
Do chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào về hành vi hoặc ý định sử dụng của người tiêu dùng sản phẩm HTCSTM mà mới chỉ dừng ở nghiên cứu thiết kế hoặc tính ứng dụng HTCSTM trong nhà thông minh hay đô thị thông minh HTCSTM cũng là một sản phẩm hoàn toàn mới mẻ và mang tính ứng dụng công nghệ cao Vì vậy tác giả đã lựa chọn nghiên cứu mối liên hệ giữa ý định sử dụng và HTCSTM dựa trên các thành phần
cơ bản của HTCSTM như: Hệ thống chiếu sáng, công nghệ thông minh và tiết kiệm điện năng với Ý định sử dụng
2.2.1 Các nghiên cứu giữa hệ thống chiếu sáng và ý định sử dụng
Theo tác giả tìm hiểu hiện nay có một số nghiên cứu về tính ứng dụng của HTCSTM
trên thế giới như: Petritoli, E và cộng sự (2018) “Chiếu sáng thông minh trong xây
dựng cơ bản của thành phố thông minh: Một nghiên cứu trường hợp so sánh hiệu suất năng lượng” Hay Chew I và cộng sự (2017) nghiên cứu đề tài: “Chiếu sáng thông minh: Con đường phía trước? Xem lại quá khứ để định hình tương lai” Bài nghiên cứu
xem xét hiện trạng của công nghệ chiếu sáng thông minh, tập trung vào hệ thống chiếu sáng thông minh tiết kiệm năng lượng, chi phí thương mại và tiện ích Từ đó đánh giá
xu hướng công nghệ chiếu sáng thông minh trong tương lai De Paz, J F và cộng sự
(2016) nghiên cứu “Hệ thống thông minh để điều khiển ánh sáng trong thành phố thông
minh” ứng dụng hệ thống điều khiển ánh sáng thông minh không những ở trong các tòa
nhà mà còn cả với chiếu sáng công cộng
Bùi Lê Tuyên Dương (2017) “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng
đèn chiếu sáng công nghệ LED tại các công trình xây dựng dân dụng” xác định các yếu
tố tác động đến việc sử dụng đèn chiếu sáng công nghệ LED tại các công trình xây dựng dân dụng Đèn chiếu sáng công nghệ LED là một bộ phận của HTCSTM Công nghệ chiếu sáng LED giúp tiết kiệm điện năng, hiệu suất cao, ít phát thải chất cacbon và bảo
vệ môi trường Bài nghiên cứu mới chỉ khảo sát hạn chế đối tượng là các chủ đầu tư, công ty phát triển dự án, công ty quản lý dự án trong công trình xây dựng dân dụng tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy được 7 yếu tố tác động
Trang 32đến ý định sử dụng đèn LED ở các công trình xây dựng dân dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh: “Kỳ vọng kết quả thực hiện”, “Kỳ vọng nỗ lực”, “Ảnh hưởng xã hội”, “Các điều kiện thuận lợi”, “Ý kiến tư vấn”, “Giá cả” và “Bảo hành” Bài nghiên cứu kế thừa từ các
mô hình nghiên cứu đặc biệt là mô hình UTAUT điều chỉnh trong nghiên cứu của Hasti Khorasanizadeh và cộng sự (2016) Kết quả nghiên cứu khẳng định đề xuất từ các công
ty tư vấn chiếu sáng, nội thất và cơ điện có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định sử dụng của các chủ đầu tư, những lợi ích về kinh tế, thẩm mỹ được đề xuất, những lời tư vấn đúng đắn từ các chuyên gia này khi sử dụng các công nghệ mới sẽ xây nên một công trình hoàn hảo và nổi bật, sẽ góp phần thành công trong việc thuyết phục các chủ đầu tư
sử dụng đèn công nghệ chiếu sáng LED
R Gomathi Bhavani, M.A Khan (2008), “Sự phổ biến và thâm nhập của các hệ
thống điều khiển chiếu sáng trong các tòa nhà ở Dubai: Một điểm mới của các biện pháp trong tương lai” Bài nghiên cứu sự phổ biến và sử dụng các hệ thống điều khiển
chiếu sáng thông minh tại các tòa nhà Dubai Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4/2006 đến tháng 10/2007 với cỡ mẫu là 207 dự án mới tại Dubai Dữ liệu được thu thập qua website ghi nhận 94 dự án (45.9%) sử dụng hệ thống điều khiển chiếu sáng thông minh Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng của người tiêu dùng cho căn hộ là: Chi phí ban đầu, Hướng dẫn vận hành, Hoạt động của hệ thống, Nhận thức của khách hàng và Đặc điểm kĩ thuật của hệ thống Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ chú ý xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu chí lựa chọn sử dụng hệ thống chiếu sáng giữa
ba môi trường là: căn hộ tư nhân, tòa nhà thương mại và bệnh viện chứ chưa xác định hay đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến ý định sử dụng hệ thống điều khiển chiếu sáng tại Dubai
2.2.2 Nghiên cứu giữa công nghệ thông minh và ý định sử dụng
Moinul Islam (2018), “Đánh giá về việc áp dụng công nghệ nhà thông minh: Quan
điểm của người dùng” Nghiên cứu đánh giá áp dụng Công nghệ Nhà Thông minh dựa
trên mô hình UTAUT-2 Nghiên cứu được tiến hành với cỡ mẫu là 175 mẫu ngẫu nhiên
và xử lý bằng phần mềm SmartPLS 3.0 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Công nghệ nhà thông minh bao gồm: “Hiệu quả mong đợi”, “Nỗ lực mong đợi”, “Ảnh hưởng xã hội”, “Các điều kiện thuận lợi”, “Thói quen”, “Rủi ro bảo mật”, “Động lực hưởng thụ” và “Giá trị cảm nhận” Tuy nhiên, nghiên cứu được tiến hành tại nước phát triển là Phần Lan nên chi phí không được xem là một nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử
Trang 33dụng hơn là tại những nước đang phát triển Mẫu của bài nghiên cứu phân bổ hầu hết ở lứa tuổi 25-44 nên có thể còn nhiều hạn chế để so sánh ý định sử dụng của sản phẩm tại các lứa tuổi khác nhau
2.2.3 Nghiên cứu giữa tiết kiệm điện năng với ý định sử dụng
Nguyễn Trọng Hoài, Đặng Quan Vinh (2014), “Sử dụng năng lượng của người dân
theo hướng tiêu dùng xanh: Khung phân tích và bằng chứng thực nghiệm tại khu vực đô thị Việt Nam” Nghiên cứu đã nghiên cứu hành vi tiêu dùng xanh của hộ gia đình về sử
dụng năng lượng tái tạo Nghiên cứu được xây dựng bằng phương pháp khảo sát định tính và định lượng Khảo sát định tính được thực hiện bằng phỏng vấn chuyên sâu bởi
ba chuyên gia liên quan đến lĩnh vực năng lượng tái tạo trước khi được khảo sát định lượng với 179 mẫu khảo sát đạt yêu cầu Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh gồm bảy yếu
tố tác động đến ý định sử dụng năng lượng tái tạo: “Lợi ích tương đối”, “Tính tương thích”, “Tính phức tạp”, “Khả năng quan sát”, “Tính trải nghiệm”, “Hỗ trợ của Chính phủ” và “Chi phí”
Một số nghiên cứu khác được tổng hợp trong bảng 2-2:
Bảng 2-2: Một số nghiên cứu liên quan đến ý định sử dụng công nghệ mới Tác giả Tên đề tài nghiên cứu Mô hình
áp dụng
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ mới
ở Malaysia
UTAUT “Hiệu quả mong đợi
Nỗ lực mong đợi Ảnh hưởng xã hội Các điều kiện thuận lợi”
Shin, J., Park,
Y., & Lee, D
(2018)
Ai sẽ là người dùng nhà thông minh? Một phân tích về việc áp dụng và phổ biến của nhà thông minh
TAM mở rộng
“Thái độ Khả năng tương thích Riêng tư
UTAUT “Hiệu quả mong đợi
Nỗ lực mong đợi Ảnh hưởng xã hội
Trang 34dụng các lý thuyết hành vi về chấp nhận
và sử dụng công nghệ
để hiểu trường hợp chiếu sáng LED cho người dùng cuối thương mại, dân cư và công nghiệp
Các điều kiện thuận lợi”
Khung phân tích và bằng chứng thực nghiệm tại khu vực đô thị Việt Nam
DOI “Lợi ích tương đối
Tính tương thích Tính phức tạp Khả năng quan sát Tính trải nghiệm
Hỗ trợ của Chính phủ Chi phí”
vi có kế hoạch: Bằng chứng từ Trường Xuân, Trung Quốc
Chuẩn mực chủ quan Nhận thức kiểm soát hành vi”
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
2.3 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Tác giả đã tham khảo các giả thuyết và mô hình nghiên cứu trước đây, đặc biệt dựa trên “Thuyết chấp nhận sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng (UTAUT2)” làm cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu này
Dưới đây là các giả thuyết được sử dụng cho mô hình nghiên cứu:
“Hiệu quả mong đợi (Performance Expectancy) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”
Trang 35“Hiệu quả mong đợi” là “mức độ mà các cá nhân cảm thấy sử dụng một công nghệ hoặc hệ thống mới sẽ giúp họ đạt được các mục tiêu cá nhân hoặc tổ chức hiệu quả hơn” (Kelly Cowan và Tugrul Daim, 2013) Các thuật ngữ tương tự được sử dụng trong mô hình chấp nhận công nghệ khác bao gồm tính hữu dụng nhận thức (TAM) và lợi thế tương đối (The Diffusion of Innovation Theory) Zhou và cộng sự (2010) nhận thấy rằng “hiệu quả mong, ảnh hưởng xã hội và các điều kiện thuận lợi có tác động đáng kể đến việc chấp nhận của người dùng” Mansoori và cộng sự (2018) đã xác nhận tác động mạnh mẽ của “Hiệu quả mong đợi” đối với ý định hành vi sử dụng các dịch vụ của chính phủ điện tử tại Abu Dhabi Tak P và Panwar S (2017) cũng phát hiện ra rằng
“Hiệu quả mong đợi” có “ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi chấp nhận mua sắm dựa trên ứng dụng di động ở Ấn Độ”
Trong trường hợp của HTCSTM: Tiết kiệm chi phí sử dụng năng lượng, thời gian hoàn vốn, độ sáng, màu sáng và tốc độ khởi động có thể liên quan đến danh mục hiệu suất (điều chỉnh từ Kelly Cowan and Tugrul Daim, 2013) Tiện ích về độ sáng và màu sắc ánh sáng cũng có thể góp phần vào việc sẵn sàng sử dụng HTCSTM (Hasti và cộng
sự, 2015) Từ những nghiên cứu trước, áp dụng cho HTCSTM ở thành phố Hồ Chí Minh, giả thuyết đặt ra:
Giả thuyết H1: Hiệu quả mong đợi (PE) ảnh hưởng cùng chiều đến ý định sử dụng
Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng
“Nỗ lực mong đợi (Effort Expectancy) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”
“Nỗ lực mong đợi” là mức độ dễ dàng liên quan đến việc sử dụng một công nghệ hoặc hệ thống mới Các mô hình lý thuyết xây dựng điển hình đến yếu tố này là các nghiên cứu về ứng dụng trong công nghệ thông tin (mobile banking; internet banking…) bao gồm sự dễ sử dụng và độ phức tạp Trong UTAUT, Venkatesh và cộng
sự (2003) xác định mức độ “Nỗ lực mong đợi” là mức độ dễ dàng liên quan đến việc sử dụng hệ thống Trong một phân tích tổng hợp, ảnh hưởng của nỗ lực mong đợi đối với việc ý định hành vi là rất đáng kể (Faaeq và cộng sự, 2013) Nếu một công nghệ đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn để sử dụng thì nó sẽ ít hữu ích hơn cho người dùng của nó (Venkatesh
và Davis, 2000) Tan và Lau (2016) cũng xác nhận” tác động đáng kể của nỗ lực mong đợi đến ý định hành vi áp dụng ngân hàng di động”
Trang 36Áp dụng đối với HTCSTM thì việc dễ vận hành hệ thống có thể được dễ dàng tìm thấy trong tài liệu hướng dẫn sử dụng Do đó, tác giả cho rằng “Nỗ lực mong đợi” có ảnh hưởng tới ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng (điều chỉnh từ Kelly Cowan and Tugrul Daim, 2013)
Vì vậy, giả thuyết H2 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H2: Nỗ lực mong đợi (EE) cùng chiều đến ý định sử dụng Hệ thống
chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng
“Ảnh hưởng xã hội (Social Influence) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”
“Ảnh hưởng xã hội” là mức độ mà các cá nhân nhận thấy rằng những người quan trọng khác đối với họ tin rằng họ nên sử dụng công nghệ hoặc hệ thống mới (Chiu và Wang, 2008) Theo Ajzen và Fishbein (1975) Ảnh hưởng xã hội là “áp lực xã hội nhận thức để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi Ảnh hưởng xã hội đề cập đến những ảnh hưởng và tác động của những người quan trọng và gần gũi có thể tác động đến cá nhân thực hiện hành vi” “Ảnh hưởng xã hội” là yếu tố quyết định trực tiếp đến ý định hành vi được thể hiện bằng ba cấu trúc, đó là chuẩn mực chủ quan (TRA, TPB), biến bên ngoài (TAM) và ảnh hưởng xã hội (UTAUT, UTAUT-2) Mỗi cấu trúc này chứa khái niệm rõ ràng rằng hành vi cá nhân bị ảnh hưởng bởi họ tin rằng những người khác
sẽ xem chúng là kết quả của việc sử dụng công nghệ Ở giai đoạn đầu, người dùng tiềm năng của công nghệ không có đủ thông tin liên quan đến công nghệ mới Trong trường hợp này, họ có thể được thông báo hoặc bị ảnh hưởng bởi các gia đình, bạn bè, người quen hay đồng nghiệp của họ, những người nghĩ rằng họ nên sử dụng công nghệ đặc biệt của họ (Venkatesh và cộng sự, 2012) Hu và cộng sự (2003) nói rằng “các ý kiến hoặc khuyến nghị của những người có liên quan đến một công nghệ mới có thể ảnh hưởng đến quyết định sử dụng của người dùng” Còn Islam Moinul (2018) cũng nghiên cứu và cho rằng “Ảnh hưởng xã hội” có tác động cùng chiều đến ý định sử dụng Hệ thống nhà thông minh ở Phần Lan” Do vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
Giả thuyết H3: Ảnh hưởng xã hội (SI) ảnh hưởng cùng chiều đến ý định sử dụng Hệ
thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng
“Các điều kiện thuận lợi (Facilitating Conditions) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”
Trang 37“Điệu kiện thuận lợi” đề cập đến “sự sẵn có của các nguồn lực để hỗ trợ việc áp dụng công nghệ” (Isaac, O và cộng sự, 2019) Nếu người dùng không có điều kiện sẵn
có cần thiết cho việc áp dụng HTCSTM, điều đó có thể ảnh hưởng đến ý định của người dùng áp dụng công nghệ vào thực tế Các nghiên cứu trước đây cũng đã xác nhận những điều kiện đó và tác động của chúng đối với ý định hành vi và áp dụng công nghệ thực tế (Keong và cộng sự, 2012; Kijsanayotin, 2009) Người dùng phải được giới thiệu đúng
về hệ thống và cũng phải cung cấp đầy đủ thông tin phù hợp trước khi các doanh nghiệp mong đợi rằng khách hàng của họ sử dụng bất kỳ công nghệ tiên tiến nào và có nhân viên hỗ trợ để đảm bảo hệ thống được sử dụng tốt Một nghiên cứu tương tự trước đó cho thấy “các điều kiện thuận lợi như vậy ảnh hưởng tích cực đến hành vi của người dùng trong phần mềm quản lý học tập, được sử dụng ở Malaysia” (Raman và Don, 2013)
Do đó, tác giả cho rằng “Các điều kiện thuận lợi” ảnh hưởng đến ý định hành vi chấp nhận và sử dụng HTCSTM Giả thuyết sau được đặt ra:
Giả thuyết H4: Các điều kiện thuận lợi (FC) ảnh hưởng cùng chiều tới ý định sử
dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng
“Động lực hưởng thụ (Hedonic Motivation) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”
“Động lực hưởng thụ được định nghĩa là niềm vui hoặc niềm vui bắt nguồn từ việc
sử dụng công nghệ và nó đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sự chấp nhận và sử dụng công nghệ” (Brown và Venkatesh, 2005) Trong bối cảnh người tiêu dùng, động lực hưởng thụ cũng đã được tìm thấy là một yếu tố quan trọng quyết định sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (Brown và Venkatesh, 2005) Yang (2010) nhận thấy rằng “động lực hưởng thụ”, “ảnh hưởng xã hội” và “các điều kiện thuận lợi” là những yếu tố quyết định quan trọng đối với ý định của người tiêu dùng Mỹ
sử dụng dịch vụ mua sắm di động
Người dùng công nghệ mong đợi được hưởng thụ trong khi sử dụng công nghệ Động lực hưởng thụ này ảnh hưởng đến ý định của người dùng về việc có nên áp dụng công nghệ hay không Theo một nghiên cứu của Kim và Venkatesh (2002), khách hàng
sử dụng mua sắm trực tuyến cho mục đích hưởng thụ bên cạnh mục đích thực tế Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng động lực hưởng thụ ảnh hưởng đến ý định hành vi của
Trang 38người tiêu dùng để áp dụng công nghệ chiếu sáng thông minh và giả thuyết sau đây được đề xuất
Giả thuyết H5: Động lực hưởng thụ (HM) ảnh hưởng cùng chiều tới ý định sử dụng
Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng
“Giá trị cảm nhận (Price Value) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”
“Giá trị cảm nhận” đề cập đến sự đánh đổi giữa chi phí phải có khi áp dụng công nghệ và giá trị mà người dùng sẽ nhận được khi sử dụng công nghệ đó Phân tích chi phí và lợi ích khi áp dụng công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp đến người dùng Ý định hành vi của họ để áp dụng công nghệ Peek và cộng sự (2014) đã xác nhận rằng chi phí quá cao của công nghệ thông minh ảnh hưởng đến giai đoạn tiền triển khai của công nghệ nhà thông minh Trong nghiên cứu tiếp thị, “chi phí / giá tiền tệ thường được khái niệm hóa cùng với chất lượng sản phẩm/ dịch vụ để xác định giá trị cảm nhận của sản phẩm/ dịch vụ đó” (Zeithaml 1988) Dodds và cộng sự (1991) định nghĩa “giá trị cảm nhận khi người tiêu dùng đánh đổi nhận thức giữa lợi ích nhận thức được của các ứng dụng và chi phí tiền tệ để sử dụng chúng” Vì vậy, tác giả cho rằng giá trị cảm nhận của người tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến ý định sử dụng HTCSTM Do đó, giả thuyết sau đây đã được đề xuất
Giả thuyết H6: Giá trị cảm nhận (PV) ảnh hưởng cùng chiều tới ý định sử dụng Hệ
thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng
“Thói quen sử dụng (Habit) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”
Người dùng của một công nghệ nhất định bắt đầu sử dụng công nghệ đó trong phạm
vi hẹp mà sau này, họ trở thành thói quen sử dụng công nghệ đó thường xuyên Chen và cộng sự (2015) đã xác nhận thói quen ảnh hưởng đến ý định hành vi chấp nhận và áp dụng thực tế các blog giảng dạy “Thói quen sử dụng” được định nghĩa bởi Limayem và cộng sự (2007) là “mức độ mà mọi người có xu hướng thực hiện các hành vi tự động vì học tập”, trong khi Kim và Malhotra (2005) cho rằng “thói quen là tự động” Trong một nghiên cứu về thương mại điện tử, Liao, Palvia và Lin, (2006) đã thêm thói quen vào TAM và nhận thấy rằng khi người tiêu dùng phát triển các hành vi theo thói quen đối với một trang web cụ thể, họ có xu hướng tiếp tục truy cập cùng trang web đó Venkatesh và cộng sự (2012) thêm thói quen trong UTAUT-2 vì cho rằng “ý định hành
vi bị ảnh hưởng bởi hành động vô thức” Mặc dù những nghiên cứu này có liên quan đến việc sử dụng điện thoại thông minh nói chung, nhưng chúng cũng có thể áp dụng
Trang 39cho các ứng dụng khác bao gồm cả HTCSTM vì HTCSTM cũng tương thích trên các thiết bị thông minh như smartphone/ laptop/ máy tính bảng …
Trong bối cảnh nghiên cứu HTCSTM, giả thuyết sau đây được đề xuất:
Giả thuyết H7: Thói quen sử dụng (HT) ảnh hưởng cùng chiều đến ý định sử dụng
Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng
Mô hình nghiên cứu đề xuất:
Tác giả đã trích dẫn từ các mô hình nghiên cứu trước đây, đặc biệt dựa trên UTAUT-2 làm cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu này Do việc sử dụng HTCSTM mang tính đổi mới, nên các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng sản phẩm này được kế thừa
từ các nghiên cứu trước liên quan đến ứng dụng công nghệ mới
Moinul Islam (2018) nghiên cứu hành vi sử dụng Hệ thống nhà thông minh cũng sử dụng “thuyết chấp nhận sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng (UTAUT-2)” thì ngoài các nhân tố “Hiệu quả mong đợi”, “Nỗ lực mong đợi”, “Ảnh hưởng xã hội” và “Các điều kiện thuận lợi” thì còn có các nhân tố như: “Thói quen”, “Rủi ro bảo mật”, “Động lực” và “Giá cả” Hay nghiên cứu của Hasti và cộng sự (2016) về hành vi sử dụng đèn LED của người tiêu dùng Malaysia cũng sử dụng mô hình UTAUT với bốn yếu tố như
mô hình UTAUT ban đầu là: “Hiệu quả mong đợi”; “Nỗ lực mong đợi”; “Ảnh hưởng xã hội” và “Các điều kiện thuận lợi”
Kế thừa kiến thức từ các nghiên cứu trước, tác giả đề xuất mô hình như hình 2.9 Trong đó, tác giả sử dụng mô hình UTAUT-2 với 7 nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh là: “Hiệu quả mong đợi”; “Nỗ lực mong đợi”;
“Ảnh hưởng xã hội”; “Các điều kiện thuận lợi”; “Động lực hưởng thụ”; “Giá trị cảm nhận” và “Thói quen sử dụng”
Trang 40Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu đề xuất (Nguồn: Venkatesh và cộng sự, 2012)
Trong đó:
Biến phụ thuộc là: “Ý định sử dụng”
Biến độc lập gồm 7 biến là: “Hiệu quả mong đợi”; “Nỗ lực mong đợi”, “Ảnh hưởng
xã hội”, “Các điều kiện thuận lợi”, “Động lực hưởng thụ”, “Giá trị cảm nhận” và “Thói quen sử dụng”
2.4 Kết luận chương 2
Chương 2 đã giới thiệu tổng quan lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng và HTCSTM Tác giả lựa chọn mô hình nghiên cứu UTAUT2 – “Thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng” làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
Qua nghiên cứu các mô hình nghiên cứu trước, tác giả đề xuất lựa chọn 7 nhân tố
của “mô hình UTAUT-2” có ảnh hưởng đến ý định sử dụng HTCSTM là: “Hiệu quả
mong đợi”; “Nỗ lực mong đợi”; “Ảnh hưởng xã hội”; “Các điều kiện thuận lợi”;
“Động lực hưởng thụ”; “Giá trị cảm nhận” và “Thói quen sử dụng” Các nhân tố này
sẽ được dùng làm cơ sở phân tích cho phương pháp nghiên cứu ở chương 3