Đồng thời hoạt động đầu tư này đã thay đổi cơ cấu SXKD của toàn Công ty, tạo bước chuyển mạnh từ một doanh nghiệp có ngành nghề truyền thống kinh doanh sang sản xuất công nghiệp với tỷ t
Trang 1THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA CTCP SÔNG ĐÀ 12 GIAI ĐOẠN
2005 2008 2.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Sông Đà 12
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Sông Đà 12
- Tên tiếng Việt : Công ty Cổ phần Sông Đà 12
- Tên tiếng Anh : Song Da No 12 Joint Stock Company
- Tên viết tắt : SONG DA No 12., JSC
- Trụ sở : Lô 1, khu G, đường Nguyễn Tuân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội
- Vốn điều lệ : 50.000.000.000 đồng (Năm mươi tỷ đồng)
Tiền thân của CTCP Sông Đà 12 là Công ty cung ứng vật tư trực thuộc TCT Xây dựng Sông Đà (nay là TCT Sông Đà) được thành lập theo quyết định số 217 BXD-TCCB ngày 1 tháng 2 năm 1980 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng trên cơ sở sáp
SONG DA N o 12 JSC
Trang 2nhập các đơn vị Xí nghiệp cung ứng vận tải, Ban tiếp nhận thiết bị, Xí nghiệp gỗ, Xí nghiệp khai thác đá, Xí nghiệp gạch Yên Mông và Công trường sản xuất vật liệu xây dựng thuỷ điện Sông Đà.
Ngày 26 tháng 3 năm 1993, Công ty Sông Đà 12 được thành lập theo quyết định số 135A/BXD-TCLĐ của Bộ Xây dựng theo nghị định số 388/HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991 và nghị định 156/HĐBT ngày 7/5/1993 của Hội đồng bộ trưởng
Trong giai đoạn từ năm 1996 đến nay, Công ty liên tục có những bước chuyển biến đăng ký bổ sung và tham gia SXKD các ngành nghề mới
Đặc biệt năm 2003 Công ty đã triển khai đầu tư thành công nhà máy sản xuất thép xây dựng chất lượng cao (nay là Nhà máy thép Việt Ý) Đây là bước đột phá mạnh mẽ của Công ty, đưa tổng giá trị SXKD năm 2003 tăng hơn 2 lần so với năm trước đó Đồng thời hoạt động đầu tư này đã thay đổi cơ cấu SXKD của toàn Công
ty, tạo bước chuyển mạnh từ một doanh nghiệp có ngành nghề truyền thống kinh doanh sang sản xuất công nghiệp với tỷ trọng sản xuất công nghiệp đạt 66% tổng giá trị SXKD toàn Công ty
CTCP Sông Đà 12 được thành lập theo quyết định số 2098/QĐ-BXD ngày 30 tháng 12 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, trên cơ sở chuyển đổi DNNN thành CTCP
Ngày 22 tháng 4 năm 2005, Công ty chính thức đi vào hoạt động dưới hình thức CTCP theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103007524 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp
Sau 26 năm xây dựng và trưởng thành, duy trì và phát triển những ngành nghề truyền thống Công ty Cổ phần Sông Đà 12 đã có những bước ngoặt chiến lược khẳng định tính đúng đắn của chủ trương đa dạng hoá ngành nghề, đa dạng hoá sản phẩm Đến nay, Công ty với 7 đơn vị trực thuộc đã và đang phát triển sâu rộng trên các lĩnh vực: Đầu tư, SXKD các sản phẩm công nghiệp, xây dựng công nghiệp và dân dụng, kinh doanh vật tư thiết bị và các dịch vụ vận tải…
Trang 3Định hướng phát triển của Công ty là luôn luôn đổi mới phương thức quản lý điều hành, đầu tư các thiết bị, công nghệ tiên tiến, đào tạo con người nhằm đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi cao nhất của khách hàng.
Bên cạnh đó, Công ty luôn chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện tốt chế độ chính sách đối với người lao động Với những nỗ lực hết mình, tập thể cán bộ công nhân viên Công ty đã đạt được nhiều danh hiệu đáng tự hào:
Huân chương Lao động Hạng ba năm 1985
Huân chương Lao động Hạng hai năm 1995
Huân chương Lao động Hạng nhất năm 2001
Huân chương độc lập hạng ba năm 2004
2.1.2 Lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính
a Lĩnh vực xây lắp
Các sản phẩm xây dựng công nghiệp :
- Các hạng mục xây lắp phục vụ thủy điện:
Công ty chủ yếu cung cấp các gói thầu như thi công xây dựng các bể áp lực, nhà che van, đường ống áp lực, hệ thống cơ khí thủy công, hệ thống cấp thoát nước, trạm biến áp, đường điện đến 500KV, hệ thống cấp điện phục vụ thi công thủy điện, nhà điều hành, khu nhà ở phục vụ thi công, sinh hoạt, các hệ thống kè, kênh, mương
Công ty đã và đang tham gia vào nhiều công trình thủy điện lớn, trọng điểm như Thủy điện Hòa Bình, thủy điện Vĩnh Sơn Sông Hinh, thủy điện Suối Sập – Sơn
La, thủy điện Hương Sơn – Hà Tĩnh, thủy điện Huội Quảng, thủy điện Tuyên Quang, thủy điện Sơn La, thủy điện Sử Pán, đường dây 500KV Quảng Ninh – Thường Tín, đường dây 500KV Thường Tín – Hà Tây
- Các hạng mục phục vụ các nhà máy sản xuất công nghiệp
Công ty được giao các gói thầu như xây dựng các nhà kho chứa, trạm đập đá vôi, đất sét, các băng tải vận chuyển, nhà nghiền than, nghiền liệu, cấp liệu, hầm cáp, mương cáp, các trạm cấp điện, hệ thống cấp thoát nước, làm mát Câc gói thầu thi công tiêu biểu là các Nhà máy Xi măng Thăng Long, Xi măng Bút Sơn, Nhiệt điện
Trang 4Uông Bí mở rộng, Nhà máy Xi măng Hạ Long, Nhà máy Xi măng Hải Phòng, Nhà máy Xi măng Yaly…
Các sản phẩm xây dựng dân dụng
Sản phẩm xây dựng dân dụng của Công ty cũng rất đa dạng như xây dựng khu
đô thị, nhà chung cư, bệnh viện, nhà thi đấu thể thao, trụ sở Ngân hàng, trụ sở các đơn vị nhà nước Những công trình lớn Công ty đã thi công gồm có khu đô thị Việt Hưng (Hà Nội), Chung cư CT9 Khu đô thị Mỹ Đình, Khu đô thị liền kề Xí nghiệp 12-3 (Hòa Bình), nhà thi đấu thể thao Nam Định, Tòa nhà Hội Sở Ngân hàng TMCP Hàng Hải (Nguyễn Du – Hà Nội)…Những công trình Công ty đã và đang thi công đã khẳng định chất lượng, uy tín của Công ty Năm 2006, lĩnh vực xây lắp đã đóng góp 58% trong tổng lợi nhuận toàn Công ty
b Kinh doanh vật tư
Kinh doanh vật tư là ngành nghề truyền thống và là thế mạnh của Công ty Công ty cung cấp cát, xăng dầu, xi măng, phụ gia bê tông, bê tông thương phẩm cho các hạng mục xây lắp trong đó chủ yếu là cung cấp cho các công trình thủy điện Hiện tại, thị trường phụ gia bê tông Puzơlan và tro bay đang có nhu cầu rất lớn, sản xuất trong nước chưa đáp ứng kịp nhu cầu Trong nước mới chỉ có CTCP Khoáng Sản Minh Tiến tại Thành phố Hồ Chí Minh là nhà sản xuất chính CTCP Sông Đà 12 cũng đã thử nghiệm và tiến hành sản xuất phụ gia tro bay tuy nhiên sản lượng còn khiêm tốn Chính vì vậy, Công ty đã ký kết hợp đồng mua bán Puzơlan với CTCP Khoáng Sản Minh Tiến Hiện tại, Công ty đang cung cấp phụ gia cho các công trình thuỷ điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam như Thuỷ điện Bản Vẽ, Thuỷ điện Sơn La theo hợp đồng tới năm 2008 trị giá 77,8 tỷ Ngoài ra, Công ty còn cung cấp phụ gia cho một số nhà máy thủy điện khác như: thủy điện SêSan 4, thủy điện Sêsan 3, thuỷ điện Plêikrông
c Vận tải
Trang 5Công ty chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực vận tải các thiết bị siêu trường siêu trọng cho các nhà máy lớn Công ty có đầy đủ các phương tiện vận tải thủy, bộ, các thiết bị vận tải đặc chủng như xà lan, tàu đẩy sông, tàu kéo sông, xe ben, xe tắc phoóc, xe trailer, xe trộn bê tông… Lĩnh vực vận tải được Công ty đầu tư các thiết bị mới nên năng lực vận tải của Công ty được đánh giá cao Công ty đã có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực vận tải thiết bị cho các công trình như nhà máy thủy điện Hòa Bình, Vĩnh Sơn, Yaly, vật tư thiết bị Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, nhà máy Xi măng Sông Đà, nhà máy Xi măng Kiện Khê, nhà máy Đường Sơn La, nhà máy đường Hòa Bình, nhà máy Xi măng Hoàng Thạch, Bút Sơn… Hiện tại, Công ty đang vận chuyển thiết bị cho nhà máy Thủy Điện Tuyên Quang và nhà máy Xi măng Hạ Long
d Sản xuất công nghiệp
Các sản phẩm chính của Công ty là sản xuất cột điện, bê tông tươi, phụ gia xi măng và vỏ bao xi măng Nhận thấy thị trường phụ gia xi măng là một mảng thị trường tiềm năng nên Công ty đã tập trung nghiên cứu sản xuất từ năm 2004 Tuy nhiên, hiện tại dây truyền sản xuất phụ gia tro bay (tuyển khô) cho công suất thấp, sản lượng ít nên chưa đáp ứng được nhu cầu Chính vì vậy, Công ty đã xúc tiến thành lập 2 liên doanh CTCP Sông Đà 12 Nguyên lộc và CTCP Sông Đà 12 Cao Cường để sản xuất phụ gia Puzơlan và tro bay (tuyển ướt)
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý và điều hành
CTCP Sông Đà 12 được tổ chức và hoạt động tuân thủ theo: Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 và Điều lệ Công ty đã được Đại hội đồng cổ đông nhất trí thông qua ngày
27 tháng 3 năm 2005
Cơ cấu bộ máy quản lý Công ty được tổ chức theo mô hình công ty cổ phần như sau:
Trang 6Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Sông Đà 12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ĐHĐ CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM SOÁT
PHÓ TGĐ PHÓ TGĐ
Trang 7 Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ)
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty gồm tất cả các
cổ đông có quyền biểu quyết, họp ít nhất mỗi năm một lần ĐHĐCĐ quyết định những vấn đề được Luật pháp và Điều lệ Công ty quy định ĐHĐCĐ thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của Công ty và ngân sách tài chính cho năm tiếp theo, bầu miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của Công ty
Hội đồng quản trị (HĐQT)
Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty
để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công ty không thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ HĐQT của Công ty có 05 thành viên, mỗi nhiệm kỳ tối đa của từng thành viên là 05 năm Chủ tịch HĐQT do HĐQT bầu ra
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát là cơ quan có chức năng hoạt động độc lập với HĐQT và Ban Giám đốc, Ban kiểm soát do ĐHĐCĐ bầu ra và thay mặt ĐHĐCĐ giám sát mọi mặt hoạt động SXKD của Công ty, báo cáo trực tiếp ĐHĐCĐ Ban kiểm soát của Công ty
có 03 thành viên
Ban Giám đốc
Tổng Giám đốc là người điều hành và có quyền quyết định cao nhất về tất cả những vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của Công ty Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ, HĐQT về việc tổ chức SXKD, thực hiện các biện pháp để đạt được các mục tiêu phát triển Công ty do ĐHĐCĐ và HĐQT đề ra
Công ty có 03 Phó tổng giám đốc là người giúp việc cho Tổng Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc về các công việc được phân công, chủ động giải quyết những vấn đề mà Tổng Giám đốc đã uỷ quyền và phân công theo đúng chế độ của Nhà nước và điều lệ Công ty
Trang 8- Thực hiện công tác tuyển dụng, quản lý và sử dụng lao động;
- Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nội dung kỷ luật lao động của CBCNV khối cơ quan Công ty
Phòng Tài chính- Kế toán: là bộ phận chức năng giúp việc cho HĐQT và Tổng Giám
đốc trong các lĩnh vực cụ thể sau:
- Hạch toán kế toán; quản lý hoạt động tài chính toàn Công ty;
- Hướng dẫn và kiểm tra công tác hạch toán kế toán của các đơn vị
Phòng Quản lý Kỹ thuật: là bộ phận chức năng trợ giúp Tổng Giám đốc trong lĩnh
vực xây dựng cụ thể sau:
- Kiểm duyệt hồ sơ thiết kế, hồ sơ dự thầu xây lắp;
- Nghiệm thu sản phẩm, kiểm tra chất lượng kỹ thuật;
- Nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới;
- Xây dựng các quy định về quản lý kỹ thuật
Phòng Cơ khí- Cơ giới: là bộ phận chức năng trợ giúp Tổng Giám đốc trong các lĩnh
vực cụ thể sau:
- Phụ trách công tác duy tu, bảo dưỡng thiết bị sản xuất;
- Điều động, quản lý xe, máy trong toàn Công ty;
- Quyết định đầu tư mới, tái đầu tư thiết bị
Phòng Kinh tế- Kế hoạch: là bộ phận chức năng tham mưu giúp Tổng Giám đốc
Trang 9- Công tác đầu tư các dự án thuộc các lĩnh vực xây lắp, sản xuất công nghiệp, đầu tư trang thiết bị máy móc tái đầu tư của Công ty và các đơn vị trực thuộc;
- Công tác thiết lập các chiến lược tiếp thị, marketing
Phòng Kinh doanh: là bộ phận chức năng tham mưu giúp Tổng Giám đốc hoạch định
chiến lược kinh doanh toàn Công ty, trong nội bộ cũng như ngoài Công ty; phối hợp với phòng Kinh tế - kế hoạch chủ trì các phòng liên quan tổ chức lập hồ sơ mời thầu, tổ chức đấu thầu theo quy định đối với vật tư, phụ tùng kinh doanh, phục vụ các công trường, tham gia đấu thầu các hợp đồng cung cấp vật tư, phụ tùng thiết bị ngoài Công ty; giúp Tổng Giám đốc Công ty chỉ đạo công tác kinh doanh và định kỳ báo cáo, tổng hợp kinh doanh toàn Công ty theo quy định
Nhìn chung mô hình tổ chức hiện tại của Công ty đã đáp ứng được với yêu cầu của nhiệm vụ SXKD doanh của Công ty Với việc phân cấp mạnh của Công ty đối với các đơn vị trực thuộc đã tạo điều kiện cho các đơn vị phát huy tính chủ động sáng tạo trong công tác quản lý và điều hành sản xuất, trong việc phát triển thị trường cũng như trong việc thực thi định hướng phát triển chung của Công ty Công ty vẫn giữ được vai trò trung tâm điều phối hoạt động của các đơn vị thông qua quy chế quản lý chung
2.1.4 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2005 - 2008
Với sự phấn đấu không mệt mỏi của tập thể cán bộ công nhân viên CTCP Sông
Đà 12, trong thời gian qua, việc thực hiện các kế hoạch hàng năm của Công ty đã luôn đạt và vượt, hoạt động SXKD rất khả quan, đời sống của cán bộ công nhân viên ngày càng được nâng cao, thu nhập bình quân/người hàng tháng đã tăng từ 1,4 năm 2005 lên 2,4 triệu năm 2008
Nhìn chung các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh kết quả hoạt động SXKD của Doanh nghiệp đều có xu hướng tăng, có thể nói năm 2007 là năm Công ty có sự tăng trưởng nhảy vọt, tuy nhiên đến năm 2008 Công ty lại có sự sụt giảm đáng kể, nguyên nhân là
do cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu và Công ty không phải là ngoại lệ Lãi suất ngân hàng cao, thị trường chứng khoán chững lại, thắt chặt chi tiêu, bão giá nguyên vật liệu khiến cho Công ty phải thu hẹp lại hoạt động SXKD, làm cho các chỉ tiêu đều
Trang 10tăng trưởng cho đến năm 2007 nhưng giảm mạnh vào năm 2008 Ta có thể thấy rõ điều này qua biểu đồ quy mô tổng nguồn vốn, doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế của Công ty qua các năm dưới đây:
Biểu đồ: Quy mô nguồn vốn, doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế của Công ty
(Nguồn: CTCP Sông Đà 12)
Về chỉ tiêu tổng nguồn vốn ta thấy chỉ tiêu này nhìn chung có sự tăng lên qua các năm, thể hiện sự mở rộng về SXKD của Công ty, riêng năm 2006 có sự giảm nhẹ Đây không phải là điều đáng lo lắng khi ta xem xét cụ thể nguyên nhân, đó là do quy
mô nợ phải trả được thu hẹp đáng kể cả về nợ ngắn hạn và dài hạn, trong khi vốn chủ
sở hữu tăng lên
Các về chỉ tiêu doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế cùng có xu hướng biến động chung, đó là tăng dần từ năm 2005 đến năm 2007 nhưng giảm mạnh vào năm
2008 Nguyên nhân của hiện tượng này như đã nêu ở trên Riêng chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế có sự giảm nhẹ vào năm 2006 là do các khoản mục chi phí của doanh nghiệp tăng lên
2.1.5 Đặc điểm của quá trình SXKD
Không chỉ riêng với CTCP Sông Đà 12 mà hầu như các doanh nghiệp tham gia trong lĩnh vực xây dựng đều có sản phẩm rất đặc thù, đó là: những công trình xây dựng, nhà máy sản xuất… Đặc điểm của những công trình là phân bố không tập trung, nằm rải rác khăp nơi tùy vào quy hoạch của từng vùng, từng địa phương Do đó, việc thi công xây dựng có tính chất lưu động và phân tán, theo đó, lao động và công cụ lao động phục vụ cho sản xuất cũng phải di chuyển theo, dẫn đến phát sinh nhiều chi phí Đặc điểm này khiến cho việc huy động vốn và quản lý vốn phải diễn ra trên một phạm vi rộng, thông qua nhiều tổ chức tài chính trung gian, do đó chi phí giao dịch cao Điều này làm giảm tính hiệu quả trong huy động và gây khó khăn cho công tác quản lý vốn
Sản phẩm xây dựng thường có thời gian sử dụng dài và giá trị sản phẩm lớn nên
có nhu cầu lớn về sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên, cải tạo hoặc mở rộng… Chi
Trang 11phí sản xuất cho sản phẩm xây dựng rất đa dạng Ngay cùng một sản phẩm có kết cấu, kiến trúc giống nhau cũng có sự khác nhau về chi phí sản xuất Vì vậy, việc xác định chi phí sản xuất cũng như giá cả sản phẩm có nhiều khó khăn phức tạp hơn so với sản phẩm công nghiệp Khả năng xây dựng các định mức chi phí cho sản phẩm xây dựng bị hạn chế rất nhiều Ngoài ra, các sản phẩm mà Công ty đã, đang và sẽ thi công thường xuyên yêu cầu một lượng vốn lớn, thời gian hoàn thành tương đối dài Trong khi đó, khi tham gia các công trình này Công ty chỉ được ứng trước số vốn bằng 10% tổng giá trị của công trình mà số vốn tự có không đủ nên Công ty phải vay ngân hàng để thi công làm phát sinh nhiều khoản chi phí giao dịch.
Do tính chất về sản phẩm cũng như quá trình sản xuất sản phẩm nên nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất cần một khối lượng lớn, nhiều chủng loại, có loại được đáp ứng bằng cách tự sản xuất, nhưng cũng có loại phải nhập mua và được vận chuyển đến Vì vậy, một vấn đề đặt ra là trước khi huy động và sử dụng vốn cần dự toán nhu cầu nguyên vật liệu chính xác, tối ưu không những giảm được chi phí lưu kho
mà còn tiết kiệm được chi phí vận chuyển Trên cơ sở đó, xác định cơ cấu vốn tối ưu
Cụ thể là nguồn VLĐ sẽ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của Công ty
Chu kỳ SXKD dài, sản phẩm xây dựng dở dang lớn làm cho vốn SXKD của Công ty bị ứ đọng nhiều và kéo dài, khả năng thanh toán các khoản nợ thường gặp khó khăn và rủi ro do biến động về giá cả và tiền tệ xảy ra là rất lớn Vì vậy, trong quá trình thi công, Công ty cần có những biện pháp tích cực đẩy nhanh tiến độ thi công, rút ngắn thời gian ứ đọng, tăng vòng quay của VLĐ, tăng hiệu quả sử dụng VLĐ, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn SXKD nói chung
Quá trình sản xuất sản phẩm thường diễn ra ngoài trời, dễ bị ảnh hưởng bởi yếu
tố khí hậu thời tiết, sản phẩm xây dựng dễ bị hao mòn ngay cả trong quá trình sản xuất, gây lãng phí cho nguồn vốn Vì vậy, khi dự toán về chi phí, Công ty cần tính toán chính xác về tiến độ thực hiện, thời gian hoàn thành cũng như nhu cầu thực tế về vốn cho quá trình sản xuất để có phương án huy động cho phù hợp
Trang 122.2 Thực trạng vốn kinh doanh của CTCP Sông Đà 12
2.2.1 Cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản của Công ty
2.2.1.1 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty
Tổng vốn kinh doanh của Công ty được huy động chủ yếu từ hai nguồn là vốn huy động từ bên ngoài (bao gồm: vốn vay ngắn hạn, dài hạn từ ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác) và vốn huy động từ bên trong đơn vị (bao gồm phần lớn vốn được
bổ sung từ nguồn vốn kinh doanh, vốn được bổ sung từ lợi nhuận của đơn vị, các quỹ
dự trữ tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng để tham gia vào quá trình SXKD) Để xem xét một cách toàn diện về tình hình huy động vốn của Công ty, chúng ta nghiên cứu thông qua bảng cơ cấu nguồn vốn, xét nguồn hình thành là cơ cấu VCSH và cơ cấu vốn nợ phải trả
Trang 13Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của CTCP Sông Đà 12 giai đoạn 2005 – 2008
Chỉ tiêu
Giá trị(ngàn đồng)
Tỷ trọng
%
Giá trị(ngàn đồng)
Tỷ trọng
%
Giá trị(ngàn đồng)
Tỷ trọng
%
Giá trị(ngàn đồng)
- Vốn đầu tư của chủ sở hữu
- Quỹ thuộc vốn chủ sở hữu
- Lợi nhuận chưa phân phối
- Nguồn kinh phí, quỹ khác
50.000.000
4.565.010698.335
-90,48%
8,26%
-1,26%
50.000.0002.140.2204.167.423512.232
76,54% 11,18% 11,89% 0,39%
Trang 14Trước hết, ta thấy tổng nguồn vốn của Công ty tăng nhanh qua các năm Năm
2005, khi Công ty bắt đầu cổ phần hóa, tổng nguồn vốn lúc bấy giờ là 308 tỷ đồng Sang năm 2006, giá trị tổng nguồn vốn giảm còn 276 tỷ đồng, tức là đã giảm 10,6%, nguyên nhân là nợ phải trả giảm cả trong nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Bước sang năm
2007 giá trị của tổng nguồn vốn đã tăng lên đáng kể, đạt 330 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng là 19,56% Đến năm 2008 giá trị này là 348 tỷ đồng, tăng 5,45% so với năm trước, nhưng tốc độ tăng đã chậm lại Như vậy bình quân trong 4 năm, nguồn vốn đã tăng 4,8%
Xét theo nguồn hình thành, nguồn vốn của Công ty bao gồm hai bộ phận là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Trong đó, nguồn vốn chủ sở hữu mặc dù có tăng dần qua các năm nhưng chỉ chiếm khoảng 1/4 trong tổng nguồn vốn, còn nguồn chủ yếu vẫn là vay từ bên ngoài và trong nội bộ doanh nghiệp Do vậy, nguồn vốn đi vay không chỉ đơn thuần mang tính chất bổ sung cho SXKD mà nó còn có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của Công ty
Nguồn vốn chủ sở hữu
Nhìn chung bộ phận VCSH trong tổng nguồn vốn qua các năm có sự tăng nhẹ Năm 2006, nguồn VCSH là 56,819 tỷ đồng, so với năm 2005 là 55,263 tỷ đồng đã tăng 2,8% Năm 2007 nguồn vốn này vẫn tiếp tục tăng trưởng đạt 68,082 tỷ đồng với tốc độ tăng 19,82% so với năm trước Đến năm 2008, nguồn vốn có sự giảm nhẹ, 4,05% so với năm 2007 nhưng giá trị tuyệt đối vẫn cao hơn các năm trước đó Đây là một tín hiệu tốt, tuy nhiên, tỷ trọng của nguồn vốn này trong tổng nguồn vốn vẫn chưa được cải thiện là điều đáng quan tâm ở Doanh nghiệp Xét chung trong 4 năm,
tỷ trọng của nguồn VCSH chỉ dao động quanh mức 20% trong tổng nguồn vốn: 17,89% (năm 2005), 20,57% (năm 2006), 20,58% (năm 2007) và năm 2008 là 19,31% Một cơ cấu vốn hợp lý với VCSH chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng nguồn vốn không những đáp ứng một phần nhu cầu về vốn cho SXKD mà còn khẳng định khả năng tự chủ về tài chính, hạn chế tác động tiêu cực của biến động về lãi suất
và lạm phát trên thị trường Nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty bao gồm các bộ phận sau:
Trang 15- Vốn đầu tư của chủ sở hữu.
Đi vào hoạt động dưới hình thức Công ty Cổ phần từ năm 2005, với số vốn điều lệ là: 50.000.000.000 đồng (Năm mươi tỷ đồng), trong đó, Công ty có tới 49%
là vốn của Nhà nước Ngoài ra, Công ty còn huy động được vốn từ cán bộ công nhân viên trong Công ty và các doanh nghiệp khác trên thị trường Điều này có thể thấy rõ trong bảng dưới đây:
Cơ cấu vốn điều lệ tại thời điểm 30/11/2007
ST
Giá trị vốn góp (đồng)
Công ty cổ phần Đầu tư phát
triển Đô thị và Khu công
nghiệp Sông Đà (SJS)
(Nguồn: Công ty Cổ phần Sông Đà 12)
- Lợi nhuận chưa phân phối
Đây là một nguồn quan trọng góp phần làm tăng VCSH Nó không những góp phần tăng quy mô nguồn vốn của Công ty mà còn là cơ sở chứng minh hoạt động kinh doanh là có lãi của Doanh nghiệp Với Công ty, đây là bộ phận vốn có tỷ trọng lớn thứ hai trong nguồn vốn chủ sở hữu sau bộ phận vốn của chủ sở hữu Thực tế trong 4 năm qua, nguồn vốn từ lợi nhuận chưa phân phối có xu hướng tăng cả về giá trị lẫn tỷ trọng trong nguồn vốn chủ sở hữu Năm 2005, 2006 giá trị của lợi nhuận chưa phân phối lần lượt là 4,565 và 4,167 tỷ đồng, có sự giảm nhẹ năm sau so với năm trước nhưng không đáng kể Năm 2007, con số này có thể nói là tăng vọt lên mức 17,458 tỷ đồng tức là tăng hơn 4 lần so với năm 2006, tuy nhiên về tỷ trọng thì
Trang 16vẫn xấp xỉ năm 2006 (20,58%) Năm 2008, tỷ trọng này đã giảm đi hơn một nửa chỉ còn 11,89%, tương ứng 7,761 tỷ đồng Phần lợi nhuận để lại của Công ty phụ thuộc vào chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp vào từng năm, và tình hình tài chính cụ thể của doanh nghiệp.
- Nguồn các quỹ thuộc VCSH và nguồn kinh phí, quỹ khác
Chiếm một tỷ trọng đáng kể trong VCSH của Công ty và đang có xu hướng giảm dần về tỷ trọng, nguồn vốn này bao gồm: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, phúc lợi, nguồn kinh phí sự phiệp, kinh phí quản lý cấp trên và các quỹ khác Đây là những loại quỹ phổ biến mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải trích lập Nguồn vốn này là cơ sở để tái đầu tư, tái sản xuất mở rộng, tăng quy mô hoạt động SXKD, mặt khác, giúp Công ty khắc phục được những rủi ro
về giá cả và tiền tệ Việc trích lập và quản lý các quỹ này được thực hiện theo quy định của chế độ tài chính hiện hành và linh hoạt theo chính sách của Công ty
Nợ phải trả
Nợ phải trả là nguồn vốn chủ yếu và có vai trò quan trọng đối với Công ty, đáp ứng hầu hết nhu cầu về vốn cho hoạt động SXKD Nợ phải trả được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn đi vay từ ngân hàng, tổ chức tín dụng, chiếm dụng từ khách hàng, nhà cung cấp và từ cán bộ công nhân viên
Dựa vào bảng số liệu ta thấy giá trị của bộ phận nợ phải trả nói chung có xu hướng tăng, song tỷ trọng trong tổng nguồn vốn luôn chiếm khoảng 80% Năm 2005,
nợ phải trả chiếm tới 82,11%, điều này cho thấy tình hình hoạt động của Công ty phụ thuộc nhiều vào bên ngoài, từ năm 2006 đến nay, tỷ trọng này có xu hướng giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức cao (chiếm 3/4 tổng nguồn vốn), đồng nghĩa với tỷ trọng VCSH còn rất khiếm tốn, khả năng tự trả nợ cho các khoản vay chưa cao, do đó, khả năng rủi ro về tài chính khi giá cả và lãi suất biến động là rất lớn Vì vậy, trong thời gian tới Công ty cần có chiến lược huy động vốn rõ ràng, từ đó xác định cơ cấu vốn tối
ưu, phù hợp với tình hình biến động trên thị trường cũng như điều kiện thực tế của Doanh nghiệp
Trang 17Trong cơ cấu nguồn vốn nợ phải trả thì nợ ngắn hạn luôn có tỷ trọng cao, là bộ phận chiếm ưu thế so với nợ dài hạn và nợ phải trả khác Tuy nhiên, nợ ngắn hạn có
xu hướng giảm dần, đồng nghĩa các khoản nợ dài hạn có xu hướng tăng lên Nếu như, thời điểm cuối năm 2005, 2006, các khoản nợ ngắn hạn luôn ở mức trên 90%
trong nợ phải trả, thì trong 2 năm gần đây, tỷ trọng nợ ngắn hạn đã giảm còn 81,16%
(2007) và 76,53% (năm 2008) với tốc độ giảm tương ứng là 11,85% và 5,7% Đây là
xu hướng hợp lý, phù hợp với doanh nghiệp xây dựng, có chu kỳ sản xuất dài cần nhiều hơn các nguồn vốn dài hạn, như Công ty
Như vậy, cơ cấu nguồn vốn của Công ty nghiêng về phía nợ phải trả với tỷ trọng 80% trong tổng nguồn vốn Nếu như các chủ nợ thông thường thích tỷ số nợ trên tổng tài sản là vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích tỷ số này càng cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp Xét cho cùng thì đây vẫn là một tỷ lệ cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
2.2.1.2 Cơ cấu tài sản của Công ty giai đoạn 2005 – 2008
Bên cạnh việc tìm và lựa chọn cho đơn vị những hình thức huy động vốn hiệu quả nhất thì làm thế nào để quản lý và sử dụng vốn tiết kiệm, đúng mục đích và đem lại hiệu quả cao là một trong những nội dung quan trọng trong quản trị tài chính doanh nghiệp Để tìm hiểu thực trạng sử dụng vốn cũng như hiệu quả sử dụng như thế nào, ta đi nghiên cứu bảng cơ cấu tài sản của Công ty trong 4 năm qua
Bảng 2: Cơ cấu tài sản của Công ty qua giai đoạn 2005 - 2008
Chỉ tiêu
Giá trị(ngàn đồng)
Tỷ trọng (%)
Giá trị(ngàn đồng)
Tỷ trọng (%)
Giá trị(ngàn đồng)
Tỷ trọng (%) (ngàn đồng)
Trang 18-76,99%
72,28%
3,65%
-24,07%
65.987.83944.667.817136.0442.676.55718.507.420
944.55010.100.172
-53,3%
77,27%
1,94%
-20,79%
42.498.870 31.384.542
Trang 19Tài sản của doanh nghiệp gồm hai thành phần chính là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Nhìn một cách tổng thể ta thấy về mặt giá trị, cả TSNH và TSDH đều tăng qua các năm, nhưng về tỷ trọng lại có sự thay đổi giữa hai loại tài sản này.
tỷ trọng của TSNH trong tổng tài sản ở hai năm này lại giảm, còn 72,45% (năm 2007) và 72,86% (năm 2008) Tỷ trọng này tương đối ổn định, dao động rất nhỏ, chứng tỏ trong hai năm qua hoạt động SXKD của Công ty không có biến động lớn, lượng VLĐ phát sinh không nhiều
Cơ cấu TSNH chủ yếu bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, đầu tư tài chính ngắn hạn và TSNH khác Trong đó, khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và đầu tư tài chính ngắn hạn chiếm
đa số trong TSNH và là những bộ phận có biến động nhiều nhất
- Tiền và các khoản tương đương tiền: bao gồm tiền mặt trong két, tiền mặt đang chuyển và những khoản tương đương tiền Tiền phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp và lượng tiền dự trữ trong két còn phản ánh công tác huy động các nguồn vốn vào sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Lượng tiền mặt phụ thuộc vào hoạt động SXKD và tình hình tài chính của Công ty Qua bảng số liệu
ta thấy, lượng tiền mặt cả về giá trị và tỷ trọng đều tăng dần qua các năm Năm 2005, lượng tiền mặt của Công ty mới là 4,283 tỷ đồng chiếm 2,01% trong TSNH Đến năm 2006 lượng tiền mặt đã tăng lên gần gấp đôi, đạt 7,916 tỷ đồng, chiếm 3,81% trong tài sản ngắn hạn Sang năm 2007, lượng tiền mặt đã giảm nhẹ về tỷ trọng còn
Trang 203,33 trong TSNH nhưng về giá trị tuyệt đối thì vẫn tăng so với năm 2006 là 57,902 triệu đồng Tuy nhiên, hết năm 2008, giá trị của lượng tiền mặt đã tăng lên gấp 2,04 lần năm 2007, đạt 16,230 tỷ đồng, tương ứng chiếm 6,4% trong TSNH Tuy vậy, trong xu thế phát triển như hiện nay, đặc biệt là sự tăng giá hàng hóa dịch vụ một cách nhanh chóng cùng với một tỷ lệ lạm phát cao trong năm 2008 thì việc cất giữ tiền trong két không còn là tối ưu nữa Tiền lúc này nên được dùng để đầu tư vào các loại giấy tờ có giá, tiến hành liên doanh, liên kết để làm tăng mức sinh lời của đồng vốn Song việc dự trữ tiền mặt trong Doanh nghiệp vẫn là vô cùng quan trọng vì nó đảm bảo khả năng thanh toán của Doanh nghiệp trước những khoản nợ đến hạn cũng như việc sử dụng vốn vào hoạt động kinh doanh Do đó, doanh nghiệp cần phải xác định một cơ cấu tài sản hợp lý, trong đó duy trì một tỷ lệ tiền mặt tối ưu là cực kỳ quan trọng
- Các khoản phải thu ngắn hạn: là một trong những tài sản chiếm tỷ trọng cao nhất trong TSNH cũng như trong tổng tài sản của Công ty Khoản phải thu bao gồm phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, các khoản phải thu khác, trong đó phải thu của khách hàng là lớn nhất Giá trị của các khoản phải thu cho biết tình hình vốn SXKD của Công ty bị chiếm dụng Qua bảng số liệu ta thấy, về giá trị cũng như tỷ trọng trong TSNH, biến động của các khoản phải thu qua các năm nhìn chung có xu hướng giảm, từ 143,505 tỷ đồng (chiếm 67,28%) năm 2005; 111,247 tỷ đồng (chiếm 53,56%)năm 2006; 132,172 tỷ đồng (chiếm 55,14%) năm 2007, còn 95,360 tỷ đồng (chiếm 37,59%) năm 2008 Như vậy, trong năm 2008, Công ty đã giải quyết tương đối tốt các khoản nợ cảu khách hàng Mặc dù vậy, khối lượng vốn của Công ty bị chiếm dụng là khá lớn và khả năng không thu hồi được những khoản nợ vẫn có thể xảy ra Dù việc bán chịu hiện nay là khá phổ biến, đôi khi đó lại là chính sách bán hàng của Công ty nhằm tăng doanh thu nhưng rủi ro do không thể thu hồi nợ là rất cao, đặc biệt đây là công ty trong ngành xây dựng Do đó việc xác định một tỷ lệ hợp
lý các khoản phải thu trong tài sản ngắn hạn là vấn đề Công ty cần lưu tâm và tính toán chính xác để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, đồng thời cần có biện