44 Bảng 4.9: Kết quả hồi quy mô hình khả năng sinh lời của ngân hàng từ lãi suất và các yếu tố quyết định lợi nhuận khác ..... Tác giả đã nghiên cứu và phân tích về các yếu tố nội tại cũ
Trang 1
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT
NAM
:
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 2
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT
Trang 3thông tin và nội dung trong luận văn đều dựa trên nghiên cứu thực tế và hoàn toàn đúng với nguồn trích dẫn
Những quan điểm được trình bày trong luận văn là quan điểm cá nhân Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn
Tác gi ả đề tài
Nguy ễn Ngọc Mỹ Hồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT - ABSTRACT
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa của đề tài 3
1.7 Bố cục của đề tài 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC…… 5
2.1 Cơ sở lý thuyết 5
2.1.1 Khái niệm về khả năng sinh lời 5
2.1.2 Khái niệm về rủi ro ngân hàng 7
2.2 Khái quát về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro ……… 9
2.2.1 Các yếu tố nội tại 10
2.2.2 Yếu tố vĩ mô 12 2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước về các yếu tố tác động đến khả sinh lời và
Trang 53.1 Mô hình lý thuyết 22
3.2 Mô hình thực nghiệm 23
3.2.1 Hàm hồi quy 24
3.2.2 Biến phụ thuộc của mô hình I 24
3.2.3 Biến phụ thuộc của mô hình II 25
3.3 Mô tả dữ liệu nghiên cứu và cỡ mẫu 27
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 27
3.4.1 Các bước phân tích để lựa chọn mô hình phù hợp cụ thể như sau 28
3.4.2 Kiểm định các trường hợp khuyết tật của mô hình do vi phạm các giả định…… 28
3.5 Thảo luận kỳ vọng dấu của các biến 29
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU – THẢO LUẬN 33
4.1 Kết quả nghiên cứu 33
4.1.1 Phân tích thống kê mô tả 33
4.1.2 Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến 38
4.1.3 Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled và mô hình dữ liệu bảng FEM 41
4.1.4 Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled và mô hình dữ liệu bảng REM 41
4.1.6 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư trên dữ liệu bảng - Greene (2000) 43
4.1.7 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư trên dữ liệu bảng - Wooldridge (2002) và Drukker (2003) 44
4.2 Phân tích kết quả hồi quy 45
4.2.1 Phân tích kết quả mô hình 46
4.2.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 48
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC ĐỊNH LƢỢNG
DANH MỤC NGÂN HÀNG
PHỤ LỤC DỮ LIỆU
Trang 7NHTM - Ngân hàng thương mại
NHTMCP - Ngân hàng thương mại cổ phần
NIM - Thu nhập lãi cận biên
PCL - Các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ
PROFIT - Lợi nhuận chưa phân phối
ROA - Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE - Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
TCTD - Tổ chức tín dụng
Trang 8Bảng 3.2: Bảng kỳ vọng dấu 26
Bảng 4.1: Thống kê mô tả 33
Bảng 4.2: Kết quả ma trận tương quan 39
Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai 40
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và FEM 41
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và REM 42
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định lựa chọn FEM và REM 42
Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình 43
Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình 44
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy mô hình khả năng sinh lời của ngân hàng từ lãi suất và các yếu tố quyết định lợi nhuận khác 45
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro ngân hàng từ lãi suất và các yếu tố quyết định khác 45
Trang 9hàng thương mại cổ phần Việt Nam”
Bài nghiên cứu dựa trên các bài học kinh nghiệm thực tiễn tại Việt Nam, cũng như các nghiên cứu trước về khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro của ngân hàng Tác giả đã nghiên cứu và phân tích về các yếu tố nội tại cũng như vĩ mô ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro bằng cách thu thập dữ liệu của 20 NHTM tại Việt Nam từ các báo cáo tài chính, cùng các dữ liệu vĩ mô Tác giả sử dụng phần
mềm STATA 12 kết hợp với dữ liệu bảng Panel data, mô hình Pooled OLS, FEM, REM nhằm tìm ra mô hình phù hợp nhất
Mục đích của bài viết này là để điều tra tác động của môi trường lãi suất thấp bất thường có ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận và rủi ro, nhằm đánh giá về sự lành mạnh của ngành ngân hàng trong giai đoạn lãi suất thấp Sử dụng cả mô hình động và mô hình tĩnh phương pháp tiếp cận và các kỹ thuật ước tính khác nhau, tác giả thấy rằng môi trường lãi suất thấp thực sự làm suy yếu hiệu suất ngân hàng và giảm thiểu lãi ròng Tuy nhiên, các ngân hàng đã có thể duy trì mức độ chung của
họ về lợi nhuận, do trích lập dự phòng thấp hơn, nhưng có thể gây nguy hiểm cho
sự ổn định tài chính Các ngân hàng đã không bù đắp cho thu nhập lãi thấp hơn bằng cách mở rộng hoạt động để bao gồm các hoạt động giao dịch với rủi ro cao hơn
Thực nghiệm tại NHTM Việt Nam giai đoạn 2010-2017, sau kết quả phân tích tác giả đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm mối quan hệ cùng chiều của lãi suất ngắn hạn ảnh hưởng đến lợi nhuận thuần của hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Trong khi đối với lợi nhuận chung thì mối quan hệ này ngược chiều hình chữ U Có nghĩa là trong thời điểm lãi suất thấp, khi lãi suất tăng thì sẽ làm cho lợi nhuận chung giảm, tuy nhiên khi đến một giai đoạn nhất định, lãi suất tăng thì làm lợi nhuận chung tăng lên
Trang 10lãi suất tăng cao lên thì có tác động ngược chiều
Từ khóa: Ngân hàng, lợi nhuận, chấp nhận rủi ro, mô hình dữ liệu bảng, môi trường lãi suất thấp
Trang 11at Vietnamese joint stock commercial banks"
This research is based on the practical experience lessons in Vietnam, as well
as many preivous research papers about profitability and risk-taking of banks The writer has researched and analyzed the internal as well as macro that affect the profitability and risk-taking by collecting data of 20 commercial banks in Vietnam from financial statements, and macro-economic data The writer used the program STATA 12 together with Panel data, model Pooled OLS, FEM, REM models to find the most suitable model
The aim of this paper is to investigate how the impact of unusually low interest rate environment affects on the profit and and risk, to evaluate the soundness of banks in the period of low interest rate Using both dynamic and static modellingapproaches and various estimation techniques, we find that the low interest rate environment indeed impairs bank performance and compresses net interest margins Nonetheless, banks have been able to maintain their overall level
of profits, due to lower provisioning, which in turn may endanger financial stability Banks did not compensate for their lower interest income by expanding operations
to include trading activities with a higher risk exposure
From the data of the experiments at commercial banks in Vietnam from 2010
to 2017, the writer find the empirical evidence of the same-way relationship between the short term interest rate and the profit of banks However for the net interest profit, this relationship will be opposite This means that in the time of low interest rate, the increase of interest will lower the net profit, untill one specific time, the increase of interest rate will increase the net profit
Trang 12Keywords: Banking, profitability, risk‐taking, panel data models, low interest rate environment
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang phát triển lên một cấp độ mới, nền kinh tế hội nhập trên trường quốc tế, hội nhập trong khu vực ASEAN (AEC), điều đó sẽ mang lại những cơ hội và những thử thách Với bối cảnh như vậy, ngành ngân hàng đóng vai trò là một trung gian tài chính, thông qua ngân hàng các nguồn lực được
sử dụng, phân bổ một cách hợp lý và hiệu quả Một hệ thống ngân hàng hoạt động
ổn định và hiệu quả sẽ có khả năng ứng phó được với các cú sốc tiêu cực Do đó, việc phân tích một cách cụ thể cũng như tìm ra những yếu tố tác động đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro của các NHTM ở Việt Nam là một việc cấp thiết
Như vậy, việc xem xét một cách tổng thể và xác định những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các NHTM ở Việt Nam là hết sức quan trọng và có giá trị Bởi vì, nó sẽ hỗ trợ cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản trị ngân hàng và các nhà đầu tư trong việc ra quyết định Qua đó nó cũng
là cơ sở để hoàn thiện được một khung chính sách hợp lý trong quá trình quản lý
hoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam thời kỳ hội nhập
Bắt nguồn từ những nhu cầu có tính thiết thực, ngày càng có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đề tài khả năng sinh lời và rủi ro của NHTM dưới nhiều góc
độ như: Nghiên cứu Bikker & Hu ( 2002), Demirgüç‐Kunt & Huizinga (1999) “Về khả năng sinh lời của ngân hàng và mối quan hệ của nó với chu kỳ kinh doanh” Các nghiên cứu của Alessandri & Nelson (2015), Genay & Podjasek (2014) về
“Mối quan hệ giữa lãi suất thấp và sự khan hiếm về lợi nhuận của ngân hàng” Nghiên cứu của Borio, Gambacorta và Hofmann (2015) tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiểu biết mối quan hệ này cho việc đánh giá chính sách tiền tệ vì điều này được cho là có tác dụng phụ nghiêm trọng Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, như nghiên cứu của Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Công Tâm (2012) “Hiệu quả hoạt động của 5 ngân hàng tại các nước Đông Nam Á và bài
Trang 14học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp Chí Kinh tế và Chính trị Thế Giới, số 11 Nghiên cứu Nguyễn Thị Loan (2015) “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động tại ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp Chí Khoa Học Và Đào Tạo Ngân Hàng, số 161
Các nghiên cứu trên cho thấy lợi nhuận đóng vai trò quan trọng cũng như
việc kiểm soát được rủi ro đối với hệ thống NHTM Việt Nam nói riêng và ở các nước khác nói chung Tuy nhiên, mỗi một bài nghiên cứu được phân tích ở từng quốc gia khác nhau, đánh giá ở các giai đoạn và điều kiện kinh tế xã hội ở từng thời
kỳ khác nhau nên sẽ cho ra những kết quảs khác nhau Do đó, việc áp dụng kết quả nghiên đó cho Việt Nam là chưa phù hợp, mặc dù ở nước ta cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này
Vì vậy ở bài nghiên cứu này, tác giả cố gắng hệ thống tổng quát và hợp lý nhất các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi nhuận và chấp nhận rủi ro của NHTM, cũng như bổ sung thêm trong thời kỳ lãi suất biến động giảm mà các bài trước đây khi tìm hiểu phân tích về lợi nhuận cũng như rủi ro của NHTM Việt Nam chưa kiểm chứng Qua tìm hiểu tác giả thấy từ 30/12/2014 lãi suất chính sách không thay đổi duy trì ở mức thấp so với các thời kỳ trước chính vì vậy tác giả quyết định chọn
đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro tại các
ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” để làm đề tài luận văn của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu chủ yếu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng sinh lời và chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam,
từ đó đưa ra kiến nghị phù hợp
- Mục tiêu cụ thể: Mục tiêu của luận văn là xác định các yếu tố ảnh hưởng và
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến khả năng sinh lời và khả năng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong thời kỳ lãi suất thấp
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đã được đề cập, luận văn hình thành 2 câu
Trang 15 Các yếu tố nào ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro tại các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn lãi suất thấp?
Chiều hướng tác động của các yếu tố đó đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro tại các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn lãi suất thấp như thế nào?
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: 20 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam từ năm
2010 đến năm 2017
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, dữ liệu bảng (Panel Data) với
mô hình hồi quy đa biến dạng gộp (Pooled OLS), mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model – REM), mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model - FEM) và hồi quy mô-men tổng quát (GMM) nhằm so sánh kết quả giữa các mô hình Bên cạnh đó tác giả sử dụng phần mền Stata 12
Luận văn tiến hành nghiên cứu các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, nguồn dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên và Tổng cục thống kê
1.6 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro của ngân hàng, củng cố các lý thuyết đồng thời đưa ra những bằng chứng thực nghiệm
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Cung cấp nhiều thông tin có giá trị, là căn cứ cho các nhà đầu tư, quản trị ra quyết định Giúp cho các nhà quản trị ngân hàng thương mại đánh giá được khả năng tăng trưởng của lợi nhuận nhằm tìm ra những nhân tố tích cực để phát huy và những nhân tố tiêu cực để khắc phục hay loại bỏ, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn phát triển ngân hàng ngày một bền vững
Trang 161.7 Bố cục của đề tài
Đề tài nghiên cứu gồm có 5 chương
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu: Giới thiệu tổng quan về vấn đề được nghiên cứu bao gồm các nội dung: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm
vi, dữ liệu nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan các nghiên cứu trước: Chương này trình bày về khái niệm, các chỉ tiêu đo lường, yếu tố nội tại ngân hàng và yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro của ngân hàng thương mại trong giai đoạn lãi suất thấp Ngoài ra, luận văn cũng lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm đã công bố trước đây để xác định các yếu tố định lượng Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày dữ liệu, phương pháp phân tích, mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu – thảo luận: Phân tích thống kê mô tả, phân tích mối quan hệ giữa các biến và phân tích kết quả hồi quy
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Tóm tắt các kết quả của nghiên cứu, nêu ra những hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã giới thiệu một cách khái quát về nội dung chính của bài nghiên cứu Thông qua những câu hỏi và mục tiêu đề ra đã thực hiện thu thập và phân tích
số liệu về tình trạng hoạt động thực tiễn của các NHTMCP ở Việt Nam để từ đó tìm
ra các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro của các NHTMCP
ở Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC
NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Chương 1 đã giới thiệu khái quát về tính cấp thiết của nội dung đề tài, mục tiêu nghiên c ứu của đề tài Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng các câu hỏi nghiên cứu
và thông qua các phương pháp kỹ thuật định lượng để tìm ra kết quả nghiên cứu
N ội dung chương 2 gồm hai phần: phần đầu nêu ra cơ sở lý thuyết về hiệu quả
ho ạt động của ngân hàng, phần hai của đề tài trích dẫn một số nghiên cứu thực nghi ệm trước, đồng thời cũng làm cơ sở để xác định các biến nghiên cứu trong đề tài
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Khái ni ệm về khả năng sinh lời
Theo Ehow (2012) khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện Khả năng sinh lời có thể
áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản
“Khả năng sinh lợi là mục tiêu chính của tất cả các hoạt động kinh doanh Nếu không có khả năng sinh lợi, các hoạt động kinh doanh không thể tồn tại trong thời gian dài Vì vậy, việc đo lường khả năng sinh lợi trong quá khứ, hiện tại và dự đoán khả năng sinh lợi trong tương lai đóng vai trò rất quan trọng” (Don Hofstrand, 2009)
NHTM cũng là một doanh nghiệp, do đó, khả năng sinh lời NHTM có thể được hiểu là khả năng kinh doanh, sử dụng một cách hiệu quả tài sản của ngân hàng
để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp cho những chi phí của ngân hàng Khả năng sinh
Trang 18lời của ngân hàng chính là lợi nhuận sau thuế hay lợi nhuận ròng của ngân hàng (Rose, 2002)
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời -phản ánh tính hiệu quả của một
đồng vốn kinh doanh - theo thông lệ quốc tế thường được phản ánh thông qua các
chỉ tiêu sau: thu lãi biên ròng (NIM), thu nhập ròng trên tổng tài sản (ROA) và thu
nhập ròng trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE)
từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu
là chi trả lãi tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên
và phúc lợi) Tỷ lệ thu nhập lãi biên ròng đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi
và chi trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp
ROA là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm Công thức tính như sau:
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản có ROA là một chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả quản lý Nó chỉ ra rằng khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng, nếu mức ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc
Trang 19có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả của hoạt động hiệu quả, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế
Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình)
Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng
Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức
là chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý) Chỉ tiêu này cũng được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Ngoài ra, trong đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng còn xem xét mối quan hệ giữa chỉ tiêu ROA và ROE vì trên thực tế hai chỉ tiêu này phản ảnh sự đánh đổi cơ bản giữa rủi ro và thu nhập Chính điều này cho thấy một ngân hàng có thể có ROA thấp nhưng vẫn có thể đạt được ROE khá cao do họ sử dụng đòn bẩy tài chính lớn
2.1.2 Khái ni ệm về rủi ro ngân hàng
AllanWillett cho rằng: "Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi" Trong một nghiên cứu của JohnHaynes, và được nhắc lại một lần nữa trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế của IrvingPfeffer thì rủi ro là : “ Khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”
Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng nó cùng đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: “Rủi ro là sự không chắc chắn và là
Trang 20khả năng xảy ra kết quả không mong muốn Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn Và kết quả này có thể đem lại tổn
thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro.”
Rủi ro tồn tại trong hoạt động kinh doanh dưới các hình thức khác nhau Do đặc điểm đặc thù của hoạt động Ngân hàng làm cho hoạt động này có độ rủi ro lớn
Có các loại rủi ro chủ yếu sau trong hoạt động của NHTM: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro nguồn vốn, rủi ro do thừa vốn, rủi do do thiếu vốn, rủi ro hối đoái, rủi
ro trong thanh toán, rủi ro thuần tuý, rủi ro mất khả năng thanh toán
Altunbas, Gambacorta và Marques ‐ Ibanez (2010) tìm thấy một môi trường lãi suất thấp đột ngột và xảy ra trong một thời kỳ dài sẽ làm rủi ro ngân hàng tăng lên Có lẽ, các ngân hàng có xu hướng giả định rằng rủi ro của ngân hàng lớn hơn chủ yếu thông qua hai kênh Thứ nhất, họ có thể tạo thêm thu nhập từ các hoạt động khác, bằng cách tăng phí và thu nhập kinh doanh thông qua sự thay đổi trong mô hình, do Rajan xây dựng (2005) Ở Nhật Bản, ví dụ điển hình của một thời gian dài
‐ môi trường lãi suất siêu thấp kéo dài, các ngân hàng thực sự đã cố gắng thay đổi
mô hình kinh doanh của họ và phát triển các nguồn thu nhập mới để duy trì khả năng sinh lời Họ mở rộng ở các khu vực bên ngoài thị trường cốt lõi của họ, mở
rộng phạm vi dịch vụ của họ, chiến lược đầu tư thay đổi và thành lập các ngành nghề kinh doanh mới (xem Weistroffer, 2013) Roengpitya et al (2014) mô tả ba ngân hàng có mô hình kinh doanh khác nhau và thấy rằng sau cuộc khủng hoảng tài chính nhiều ngân hàng đã điều chỉnh chiến lược của họ phù hợp với hiệu suất tương đối của mô hình kinh doanh Tuy nhiên, họ cũng thấy rằng một sự thay đổi trong
mô hình kinh doanh thường làm giảm lợi nhuận hơn là tăng cường nó, những ngân hàng đã có những rắc rối trong việc thay đổi chiến lược của họ Sự tìm kiếm năng suất và tăng khả năng sinh lời có thể có rủi ro cũng được giải thích bằng phát hiện của Manganelli và Wolswijk (2009) rằng trong quá trình tăng trưởng kinh tế bị bóp méo, lãi suất thấp hơn có thể phản ánh ít rủi ro hơn Các sự tồn tại của kênh gây rủi
Trang 21ro, đó là, tác động các thay đổi về tỷ lệ chính sách đối với nhận thức rủi ro hoặc rủi
ro khoan dung, được xác định bởi Borio và Zhu (2008)
Kênh nguy cơ thứ hai và chiếm ưu thế liên quan đến rủi ro tín dụng đó là môi trường lãi suất thấp có thể ảnh hưởng đến rủi ro trong danh mục cho vay Thứ nhất, lãi suất thấp có thể làm giảm xác suất xác định về các khoản vay và do đó, giảm các khoản dự phòng về các khoản vay Mặt khác, có thể dẫn đến tình trạng giảm các tiêu chí cho vay của ngân hàng và làm giảm chất lượng danh mục cho vay, trong trung hạn dẫn đến tổn thất tín dụng cao hơn Jiménez, Ongena, Peydró và Saurina (2014), Ongena và Peydró (2009), Bolivia, Maddaloni và Peydró (2011) thấy rằng, trong trường hợp của Châu Âu và Hoa Kỳ, làm mềm tiêu chuẩn cho vay đối với các công ty và hộ gia đình Dell'Ariccia và Marquez (2006) thấy rằng lãi suất thấp làm giảm khả năng loại bỏ những vấn đề bất lợi và do đó có thể làm giảm sàng lọc ngân hàng, tăng khả năng cho vay nhiều rủi ro hơn Delis và Kouretas (2011) bổ sung cho các tài liệu bằng cách xem xét các năm 2001-2008 và lưu ý rằng lãi suất thấp làm tăng rủi ro của khoản vay danh mục đầu tư Một mối tương quan trong hai kênh trên
có nguy cơ có thể được xem xét, như Delis và Kouretas (2011) được tìm thấy rằng các ngân hàng tham gia vào nhiều hoạt động phi truyền thống, có nghĩa là, tiếp xúc với rủi ro cao hơn, cũng có xu hướng tiếp tục với các rủi ro cao hơn trong các hoạt động truyền thống của họ
2.2 Khái quát v ề các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi
ro
Các NHTM muốn giữ vững ổn định và phát triển lành mạnh cần nhờ vào điều kiện tiên quyết đó là hoạt động có kết quả tốt, do đó việc tăng cường khả năng sinh lời sẽ đóng góp tích cực việc mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực tài chính, tăng khả năng cạnh tranh, xây dựng danh hiệu Bên cạnh đó cũng cần phát hiện những rủi ro cho ngân hàng để phòng tránh những tổn thất có thể xảy ra, để có thể bảo toàn vốn Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần phải tìm được chính xác các nhân tố tác động nhằm đánh giá chính xác tình hình tài chính, đánh giá rủi ro, phán
Trang 22đoán, dự báo, đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp với mục tiêu của các NHTM Có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng: yếu tố nội tại và yếu tố vĩ
mô, mà hai nhóm nhân tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến khả năng sinh lời cũng như khả năng chấp nhận rủi ro của các NHTM qua từng thời kỳ và từng ngân hàng khác nhau
2.2.1 Các y ếu tố nội tại
Đầu tiên, nhiều yếu tố cụ thể của ngân hàng có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của một ngân hàng Các biến thường được sử dụng là quy mô ngân hàng, vốn ngân hàng, dư nợ cho vay, mức độ rủi ro tín dụng, đa dạng hóa doanh thu, mô hình kinh doanh hoặc loại hình ngân hàng Dựa trên các tài liệu hiện có, bài viết này minh họa cách các yếu tố cụ thể:
Quy mô ngân hàng: Theo Trần Việt Dũng (2014), các thuyết kinh tế cho rằng các tổ chức lớn sẽ hiệu quả hơn và có thể cung cấp được dịch vụ tại mức giá thấp hơn nhờ vào lợi thế kinh tế quy mô qua đó thu về lợi nhuận lớn hơn Tuy nhiên, cũng không ít các quan điểm cho rằng việc mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng không hợp lý sẽ gây rất nhiều khó khăn trong việc quản trị, đồng thời lại có thể khiến các nhà quản trị đưa ra các quyết định sai lầm làm suy giảm khả năng sinh lời của ngân hàng
Bằng chứng thực nghiệm về tác động của kích thước ngân hàng đến khả năng sinh lời là không thuyết phục Trong khi đó Demirgüç ‐ Kunt và Huizinga (1999), Goddard, Molyneux và Wilson (2004), Borio et al (2015), tìm thấy một hiệu ứng tích cực, ECB (2015) kết luận quy mô ngân hàng và khả năng sinh lời có tác động tiêu cực đáng kể, được giải thích bởi cấu trúc phức tạp và tốn kém hơn của các ngân hàng lớn hơn Mặt khác, Athanasoglou et al (2008) và Trujillo ‐ Ponce (2013) tìm thấy một hiệu ứng không đáng kể và gợi ý một mối quan hệ phi tuyến tính như vậy
mà lợi nhuận ban đầu tăng kích thước và sau đó giảm
Trang 23Những người khác như Shehzad, De Haan và Scholtens (2013) thấy rằng các ngân hàng lớn hơn có nhiều lợi nhuận hơn so với các ngân hàng nhỏ nhưng tốc độ tăng trưởng chậm hơn Ngân hàng lớn hơn có thể hưởng lợi từ các nền kinh tế có quy mô trong khi những ngân hàng nhỏ hơn có thể cố gắng phát triển nhanh hơn với chi phí lợi nhuận
V ốn ngân hàng: là một yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của
ngân hàng Dựa vào các tác động của Hiệp định Basel yêu cầu các ngân hàng có mức vốn tối thiểu theo tỷ lệ phần trăm tài sản có trọng số rủi ro (RWA), Iannotta, Nocera và Sironi (2007) nói rằng mức vốn cao hơn có thể biểu thị các ngân hàng có tài sản rủi ro hơn Điều này ít nhất giữ cho một Tỷ lệ đòn bẩy RWA, tức là tỷ lệ vốn đối với RWA
Thông qua lợi nhuận cao hơn, tỷ lệ vốn cao hơn có thể mang lại lợi nhuận cao hơn Athanasoglou et al (2008) tìm thấy một mối quan hệ tích cực như vốn ngân hàng hoạt động như một mạng lưới an toàn trong trường hợp của những phát triển bất lợi, để họ có thể duy trì lợi nhuận trong thời kỳ kinh tế khó khăn Nói chung là, bằng chứng thực nghiệm thấy rằng vốn và lợi nhuận có tương quan cùng chiều (xem thêm Borio và cộng sự, 2015; Demirgüç ‐ Kunt & Huizinga, 1999; ECB, 2015)
Dƣ nợ cho vay: Tỷ lệ tổng số khoản vay trên tổng tài sản là biến đại diện cho
kích thước cho vay tương đối của ngân hàng Danh mục cho vay càng lớn thì sẽ tạo
ra thu nhập lãi ròng càng cao, nhưng cũng sẽ phải chịu rủi ro tín dụng cao hơn Dựa trên bằng chứng thực nghiệm, Dietrich và Wanzenried (2011), ECB (2015) và Trujillo ‐ Ponce (2013) thấy rằng, về sự cân bằng, cho vay có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận Bikker và Hu (2002) thấy rằng cho vay là theo chu kỳ và các ngân hàng có lợi nhuận cao hơn sẽ cho vay hào phóng hơn
R ủi ro tín dụng: Bikker và Hu's (2002) phát hiện rủi ro tín dụng cao hơn
thông qua các khoản vay được kết hợp với tỷ suất lợi nhuận thấp hơn và được xác
Trang 24nhận rộng rãi Rủi ro tín dụng cao hơn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận là số tiền trích lập dự phòng cho các khoản lỗ dự kiến sẽ được trừ vào lợi nhuận ròng Trong trung hạn, chất lượng danh mục cho vay thấp hơn cũng làm giảm lợi nhuận do thua
lỗ thực sự phát sinh
Rủi ro tín dụng được phát hiện là có tính chu kỳ (Bikker & Hu, 2002) và bất đối xứng (Marcucci & Quagliariello, 2009): Trong thời kỳ suy thoái kinh tế, hiệu ứng tuần hoàn này thậm chí là rõ ràng hơn Do đó, rủi ro tín dụng và có mức dự phòng càng cao thì có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lợi của ngân hàng (xem Athanasoglou et al., 2008; ECB, 2015 là tốt)
Đa dạng hóa: mô tả tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập Thu nhập
ngoài lãi là được tạo ra thông qua thu nhập từ các hoạt động khác như phí hoa hồng
và phí dịch vụ giao dịch hoạt động Demirgüç ‐ Kunt và Huizinga (1999), Stiroh (2004) và ECB (2015) nhận thấy rằng sự phụ thuộc vào thu nhập ngoài lãi liên quan đến lợi nhuận ngân hàng một cách rõ rệt thông qua việc giảm thiểu được rủi ro thị trường Theo Dietrich và Wanzenried (2011) trong trường hợp của các ngân hàng
Thụy Sĩ và bởi Elsas, Hackethal và Holzhäuser (2010), tranh luận rằng thu nhập ngoài lãi của các doanh nghiệp mang lại lợi nhuận cao hơn và do đó tăng cường tạo
ra lợi nhuận thông qua việc đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh khác ngoài những hoạt động kinh doanh truyền thống Liên quan đến việc cho vay và đa dạng hóa, Roengpitya, Tarashev và Tsatsaronis (2014) xác định ba mô hình kinh doanh khác nhau bằng cách phân loại thành phần bảng cân đối và thấy rằng khả năng sinh
lời và hiệu quả khác nhau rõ rệt giữa các mô hình kinh doanh
Trang 25Hệ số Lạm phát CPI phản ánh rằng một phần lợi nhuận do lạm phát kỳ vọng thông qua thu nhập từ phao ngân hàng và có ưu tiên là một hiệu ứng tích cực
T ốc độ tăng trưởng kinh tế: Năm 2010 đã xảy ra một cuộc khủng hoảng
ngân hàng, góp phần dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới Từ đó ta thấy được khả năng sinh lời của ngân hàng có độ nhạy cảm rất lớn đối với sự biến đổi của chu kỳ kinh tế Và từ đó chúng ta có thể đánh giá được sự tồn tại và phát triển của hệ thống ngân hàng thông qua mối quan hệ tương quan thuận giữa một nền kinh tế với chu kỳ tăng trưởng hiệu quả, thì sẽ tạo ra nhiều cơ hội lợi thế hơn cho khả năng sinh lời của NHTM và ngược lại Và đối với nền kinh tế Việt Nam khi mà
hệ thống NHTM là một trung gian tài chính nên ảnh hưởng của Ngân hàng đến nền kinh tế thông qua khả năng sinh lời là cực kỳ nhạy cảm
L ạm phát: Lạm phát cũng phản ánh các khía cạnh của chu kỳ kinh doanh
Nói chung, bằng chứng thực nghiệm khẳng định lạm phát có tác động tích cực đến
lợi nhuận của ngân hàng, nhưng hệ số này rất khó để giải thích Demirgüç ‐ Kunt và Huizinga (1999), ví dụ, tìm một mối quan hệ tích cực giữa lạm phát và lãi ròng, đưa
ra cách giải thích nếu lạm phát cao sẽ làm thu nhập cao hơn cho ngân hàng Bên cạnh đó, vì các nhà hoạch định chính sách chỉ có lãi suất danh nghĩa trong tay, lạm phát là yếu tố quyết định lãi suất thực thu được Thực tế, lạm phát có tác động trực tiếp và gián tiếp đến khả năng sinh lời
Các lý thuyết xung đột tồn tại và cho một cuộc thảo luận đầy đủ Perry (1992), mục đích của bài báo này là để lại giả thuyết cho các bài báo trong tương lai về ảnh hưởng của lạm phát đến doanh thu, chi phí ngoài lãi và về khả năng sinh lợi thực sự của các ngân hàng Giả thiết sau này cho thấy quan điểm hợp lý nhưng có thể tranh luận rằng thực tế khi điều chỉnh theo lạm phát thì doanh thu và chi phí ngoài lãi không liên quan đến thay đổi giá Các cuộc thảo luận tập trung vào tác động của lạm phát đối với các ngân hàng, thay vì những gì đã ảnh hưởng đến các ngân hàng trong các đợt tăng cụ thể Vì vậy, bài viết tóm tắt từ các sự kiện như tăng cạnh tranh
Trang 26giữa các ngân hàng và thay đổi quy định mà làm ảnh hưởng đến kết quả của ngân hàng, vì các sự kiện như vậy chứ không nhất thiết phải do lạm phát mà ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Từ đó họ bắt đầu với việc xem xét các tài liệu kinh tế
và các lý thuyết tổng quan chính của nó Sau đó chỉ ra những lý thuyết này là trường hợp đặc biệt của một cách tiếp cận phong phú hơn mà các yếu tố chính là tỷ lệ thay đổi kỳ vọng và tốc độ điều chỉnh danh mục đầu tư Lý thuyết phong phú hơn là nền tảng cho nghiên cứu trong tương lai Ảnh hưởng của lạm phát đến lợi nhuận ngân hàng thực sự đã được thảo luận rộng rãi trong các tài liệu kinh tế và tài chính Alchian và Kessel (A-K) (1992) cho rằng các ngân hàng là chủ nợ tiền tệ thuần (nghĩa là tài sản danh nghĩa của ngân hàng lớn hơn các khoản nợ danh nghĩa) Giá tăng sau đó sẽ làm giảm giá trị tài sản danh nghĩa của họ nhiều hơn giảm giá trị của các khoản nợ danh nghĩa của họ Do đó, các ngân hàng sẽ mất lợi nhuận trong giai đoạn lạm phát
Môi trường lãi suất: Là lãi suất ngắn hạn, chúng tôi lấy lãi suất tiền gửi 3
tháng liên tục trên thị trường Dự kiến lãi suất giảm thì sẽ làm lợi nhuận của ngân hàng suy giảm và tăng rủi ro
Người ta cho rằng tác động của lãi suất đối với khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro của ngân hàng sẽ cao hơn khi tỷ lệ lãi suất thấp Những mối quan hệ này là kết quả nghiên cứu bằng cách lấy căn bậc hai của lãi suất ngắn hạn, do đó dự kiến
sẽ có một hệ số âm Với lãi suất dài hạn, tác giả lấy lãi suất trái phiếu chính phủ 10 năm Bằng cách này, chúng ta có thể đánh giá độ dốc đường cong lợi suất, như xấp
xỉ bởi sự khác biệt giữa lãi suất dài hạn và ngắn hạn
Tương tự, theo Alessandri và Nelson (2015), chúng tôi mong đợi một hiệu ứng tích cực về lợi nhuận và tác động tiêu cực đến rủi ro Các biến lãi suất được xem xét theo các thuật ngữ danh nghĩa, bởi vì chỉ số này được kiểm soát bởi các ngân hàng trung ương
Trang 272.3 T ổng quan các nghiên cứu trước về các yếu tố tác động đến khả sinh lời và
ch ấp nhận rủi ro của ngân hàng
2.3.1 Nghiên c ứu trên thế giới
(1) Altunbas, Y., Gambacorta, L., & Marques ‐Ibanez, D (2010) Bài viết
này điều tra sự tương tác giữa rủi ro ngân hàng và lãi suất ngắn hạn Dữ liệu của bài được lấy từ bảng cân đối hàng quý của các ngân hàng trong giai đoạn 10 năm tại Hoa Kỳ và khu vực Liên minh châu Âu, tìm thấy bằng chứng cho thấy trong một thời kỳ lãi suất thấp bất thường và kéo dài sẽ làm rủi ro của các ngân hàng tăng lên
(2) Bolt, W., de Haan, L., Hoeberichts, M., Van Oordt, M R C., & Swank, J (2012) Nghiên cứu về khả năng sinh lời của ngân hàng trong giai đoạn suy thoái Bài viết này ước tính mối quan hệ giữa suy thoái kinh tế và lợi nhuận của ngân hàng bằng cách sử dụng mô hình lý thuyết có tính đến lịch sử cho vay của ngân hàng cũng như khấu hao và lỗ trên dư nợ Bài viết tập trung vào tổng lợi nhuận ngân hàng và các thành phần của nó: thu nhập lãi ròng, thu nhập khác, và trích lập dự phòng cộng với các chi phí khác Sử dụng dữ liệu tổng thể cũng như riêng lẻ của từng ngân hàng, kết quả nhận định rằng lợi nhuận của ngân hàng theo chu kỳ kinh doanh là mạnh mẽ hơn cho các cuộc suy thoái sâu hơn trong những ngày nhẹ Và tìm thấy bằng chứng rằng cứ mỗi phần trăm thu hẹp GDP thực trong thời gian suy thoái nghiêm trọng sẽ dẫn đến giảm 0,24% lợi nhuận trên tài sản ngân hàng
(3) Nghiên cứu của Shehzad, C T., De Haan, J., & Scholtens, B (2013) sử
dụng mô hình bảng điều khiển cho hơn 15.000 ngân hàng từ 148 quốc gia từ năm
1988 đến năm 2010, điều tra sự tương tác giữa kích thước, tăng trưởng và khả năng tạo ra lợi nhuận của các ngân hàng Và kết luận rằng sự thay đổi về khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng độc lập với mức độ biến thiên của tăng trưởng quy mô ngân hàng Tuy nhiên, ở các nước có thu nhập cao của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) các ngân hàng có quy mô lớn hơn phát triển chậm hơn nhưng
có nhiều lợi nhuận cao hơn so với các ngân hàng có quy mô nhỏ Trong khi tăng
Trang 28trưởng ngân hàng không liên tục xảy ra, nhưng khả năng sinh lời của ngân hàng là dai dẳng Cuối cùng, bài nghiên cứu khẳng định rằng tăng trưởng quy mô ngân hàng không có tác động tới khả năng sinh lời của ngân hàng
(4) James Ayodele Owoputi, (2014) nhằm tìm ra các nhân tố tác động đến khả năng tạo ra lợi nhuận của các ngân hàng Nigeria trong suốt giai đoạn 1998-
2012, sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên Các phát hiện cho thấy sự tồn tại tác động tích cực đáng kể của an toàn vốn, quy mô ngân hàng, tăng trưởng năng suất và lợi nhuận tiền gửi Rủi ro tín dụng và tỷ lệ thanh khoản có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận ngân hàng Tuy nhiên, không có bằng chứng nào chứng minh được sự hỗ trợ của các biến số cụ thể về hiệu quả của công nghiệp Nói chung, như mong đợi, lạm phát và lãi suất có ảnh hưởng ngược chiều một cách đáng kể đến khả năng sinh lời
cực đến sự tăng trưởng và tồn tại
(6) Alessandri, P., & Nelson, B D (2015) Bài viết này góp phần cung cấp tài liệu về sự tương tác giữa lợi nhuận của ngân hàng và hoạt động kinh tế Khi nghiên cứu về lợi nhuận ngân hàng với hoạt động kinh tế trong thời gian suy thoái sâu, nhận thấy có tác động lớn hơn so với giai đoạn kinh tế ổn định Trong số các
Trang 29thành phần khác nhau của lợi nhuận ngân hàng, khoản lỗ cho vay là động lực chính của kết quả này Bài nghiên cứu cũng tìm thấy lãi suất dài hạn trong những năm trước là nhân tố quan trọng tạo ra lợi nhuận trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao
(7) Borio, C., Gambacorta, L., & Hofmann, B (2015) Bài viết này điều tra chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng, sử dụng dữ liệu cho 109 ngân hàng quốc tế lớn có trụ sở tại 14 nền kinh tế tiên tiến lớn trong giai đoạn 1995–2012 Nhìn chung, tác giả đã tìm thấy một mối quan hệ tương quan cùng chiều giữa các cấp lãi suất ngắn hạn và độ dốc của đường cong lợi suất, một mặt khác là về lợi nhuận của ngân hàng Từ đó thấy được chiều hướng tích cực đến thu nhập nhưng lại tiêu cực về các khoản thu nhập lãi và cho vay khi có sự tác động của lãi suất Chúng tôi cũng thấy rằng khi mức lãi suất thấp hơn thì hiệu quả sẽ cao hơn
và độ dốc ít dốc, tức là không có tuyến tính
(8) Narwal and Pathneja (2016), Mục đích của bài báo này là để phân tích ảnh hưởng của các biến liên quan đến ngân hàng và các biến liên quan đến quản trị doanh nghiệp về năng suất và thu nhập tại các ngân hàng tư nhân và nhà nước ở Ấn
Độ Phân tích hồi quy được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các biến liên quan đến quản lý và hiệu suất của các ngân hàng khác nhau Hai biến quản trị và thù lao giải thích khả năng sinh lời của các ngân hàng nhà nước và chỉ tính nhị nguyên mới giải thích cho các ngân hàng tư nhân Không có ý nghĩa nào giữa các biến năng suất và quản trị Sự độc đáo của bài viết là chưa có bài viết nào đánh giá sự hiệu quả của các biến này lên năng suất và khả năng tạo ra lợi nhuận của các ngân hàng cùng một lúc
(9) Mehmet Sabri Topak và Nimet Hulya Talu (2017) nghiên cứu sử dụng
dữ liệu bảng từ tháng 01/2005 đến tháng 9/2015 của 10 ngân hàng thương mại trên BIST Banks Index Turkey Theo kết quả thực nghiệm, các yếu tố cụ thể của ngân hàng, như tỷ lệ lãi cho vay so với lãi tiền gửi (ILID), được sử dụng như là biên lãi ròng, tỷ lệ phí ròng và doanh thu hoa hồng trên tổng chi phí hoạt động (FCE) và
Trang 30quy mô (SIZE) có ảnh hưởng tích cực lợi nhuận được thể hiện bằng ROA và ROE Mặt khác, tỷ lệ cho vay không phù hợp với tổng dư nợ (NPL) được coi là rủi ro tín
dụng và an toàn vốn (ESA) và tỷ lệ chi phí hoạt động khác trên tổng doanh thu hoạt động (OEI), có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận Kết quả nổi bật nhất là trong số tất cả các biến số cụ thể, OEI có tác động mạnh nhất đến lợi nhuận Phát hiện này phù hợp với thực tế là do các ngân hàng bị hạn chế trong việc xác định lãi suất, họ không kiểm soát được mức doanh thu lãi ròng Do đó, tiết kiệm chi phí hoạt động là một lựa chọn khả thi hơn trong việc tăng lợi nhuận Đối với các biến số kinh tế vĩ
mô, GDP thực tế và lãi suất có chiều hướng ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận trong khi tỷ giá hối đoái có tác động tiêu cực
(10) Eissa A Al-Homaidi, Mosab I Tabash, Najib H S Farhanand Faozi
A Almaqtari (2018), đánh giá các nhân tố tác động tới lợi nhuận của các NHTM tại Ấn Độ Khả năng sinh lời của các ngân hàng Ấn Độ được đo lường bằng ba biến quan trọng là Lợi nhuận trên tài sản (ROA), Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
và Tỷ lệ lãi ròng (NIM) Nghiên cứu cũng sử dụng các biến độc lập bao gồm quy
mô ngân hàng, chất lượng tài sản, an toàn vốn, thanh khoản, năng suất hoạt động, tiền gửi, đòn bẩy tài chính, quản lý tài sản và số lượng chi nhánh Nghiên cứu sử dụng phương pháp (GMM) được xây dựng trên bảng dữ liệu của 10 năm cho hơn
60 ngân hàng thương mại của Ấn Độ Nghiên cứu cũng tính đến Tổng sản phẩm
quốc nội (GDP), tỷ lệ lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái là yếu tố vĩ mô Kết quả thấy rằng tất cả các yếu tố đặc thù của ngân hàng, ngoại trừ số lượng chi nhánh, tác động đáng kể đến lợi nhuận được đo bằng NIM Các yếu tố vĩ mô được sử dụng trong nghiên cứu đều có ý nghĩa với tác động tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Ấn Độ Hơn nữa, quy mô ngân hàng, số lượng chi nhánh, tỷ lệ quản lý tài sản và đòn bẩy tài chính là các biến có khả năng tạo ra lợi nhuận cao trong bối cảnh các NHTM Ấn Độ được đo bằng ROA Các kết quả cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn về ngành ngân hàng Ấn Độ và các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của nó
Trang 31(11) Fakhri J Hasanov, Nigar Bayramliand Nayef Al-Musehel (2018) xem
xét các nhân tố tác động tới lợi nhuận ngân hàng tại Azerbaijan, một nền kinh tế
phụ thuộc vào dầu trong quá trình chuyển đổi Tác giả kết luận quy mô ngân hàng, vốn và các khoản vay, cũng như chu kỳ kinh tế, lạm phát kỳ vọng và giá dầu có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến lợi nhuận Trong khi tiền gửi, rủi ro thanh khoản và mất giá tỷ giá có tác động tiêu cực đến lợi nhuận Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lợi nhuận ngân hàng chịu sự tác động của đặc thù của quốc gia, việc bỏ qua các đặc tính quốc gia có thể dẫn đến sai lệch trong ước tính
2.3.1 Nghiên c ứu trong nước
(1) Trịnh Quốc Trung, Nguyễn Văn Sang (2013), tác giả bài viết dựa trên số
liệu của 39 NHTM Việt Nam từ 2005-2012 và sử dụng mô hình hồi quy Tobit để chỉ ra rằng, ROE và ROA chịu ảnh hưởng tiêu cực từ tỷ lệ nợ xấu, tổng chi phí hoạt động trên doanh thu Tỷ lệ cho vay so với tổng tài sản càng cao thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản tăng thì làm ROA tăng nhưng làm ROE giảm
(2) Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), nghiên cứu mối quan
hệ giữa đa dạng hoá thu nhập nói riêng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam nói chung Bài viết sử dụng số liệu của 22 NHTM Việt Nam từ 2007-2013 cùng với phương pháp nghiên cứu dữ liệu bảng ước lượng SGMM đã cho thấy mối quan hệ tương quan cùng chiều là lạm phát, tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tài sản,chỉ số đa dạng hoá thu nhập, tỷ lệ tiền gửi khách hàng Trong khi
đó, các yếu tố có tác động ngược chiều đến lợi nhuận là tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản,tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập Bên cạnh đó, quy mô tổng tài sản và GDP không tìm thấy mối quan hệ tương quan đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam
(3) Nguyễn Thị Mỹ Linh, Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015), tác giả sử dụng
hồi quy bảng kết hợp với số liệu lấy từ báo cáo kiểm toán của 27 NHTMCP Việt
Trang 32Nam từ 2008- 2013 để chỉ ra rằng quy mô ngân hàng, cho vay, rủi ro tín dụng, vốn chủ sở hữu có mối quan hệ thuận chiều với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng
Còn hiệu quả quản lý và GDP có ảnh hưởng tiêu cực đến NIM
(4) Nguyễn Phạm Nhã Trúc & Nguyễn Phạm Thiên Thanh (2016), bài viết
sử dụng dữ liệu của 28 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2002 đến 2013 và bằng
mô hình hồi quy tuyến tính Kết quả nghiên cứu cho thấy cả ROA và ROE chịu tác động của chỉ số quy mô ngân hàng và chi phí hoạt động mang chiều hướng tích cực, nhưng vốn chủ sở hữu thì cùng chiều đến ROA, nhưng ngược chiều với ROE Quy
mô cho vay không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ với lợi nhuận của ngân hàng Các yếu tố vĩ mô (lạm phát, tăng trưởng GDP) đều có ảnh hưởng tích cực đến ROA và ROE
(5) Nguyễn Thị Thu Hiền (2017), để xác định khả năng phát triển và hoạt
động ổn định của ngân hàng, tác giả dựa vào một chỉ số quan trọng đó là khả năng sinh lời của ngân hàng Tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số ROA, ROE của các NHTM Việt Nam từ 2006-2015 Nghiên cứu đã tìm thấy kết quả các yếu tố có quan hệ tương quan thuận với khả năng sinh lời của ngân hàng là chỉ số cho vay trên tổng tài sản, chi phí lãi vay và dự phòng rủi ro tín dụng, đa dạng hóa Còn nợ xấu, chi phí hoạt động và quy mô ngân hàng có mối quan hệ nghịch với lợi nhuận Kết quả không tìm thấy mối tương quan giữa cơ cấu vốn, quản lý rủi ro thanh khoản, kiểm soát chi phí có tác động đến lợi nhuận của ngân hàng
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Tóm lại, ở chương 2, luận văn đã trình bày những vấn đề về cơ sở lý thuyết
hiệu quả hoạt động cũng như rủi ro của ngân hàng Ngoài ra, luận văn đã đưa ra các yếu tố ảnh hưởng như: quy mô, vốn ngân hàng, dư nợ cho vay, rủi ro tín dụng, lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế tác động như thế nào đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng từ các lý thuyết đã nghiên cứu trước nhằm xây dựng khung lý thuyết Toàn bộ nội dung này được dùng làm cơ sở cho việc phân tích chi tiết ở các chương tiếp theo Ở chương 3 sẽ đi chi tiết phương pháp nghiên cứu bao gồm: mô hình nghiên cứu, nguồn dữ liệu và mẫu
Trang 34CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 đã trình bày cơ sở lý thuyết, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác gi ả trên thế giới và Việt Nam Để thực hiện việc phân tích và kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro trong giai đoạn lãi
su ất thấp, trong chương 3 tiếp theo sẽ trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu,
mô t ả cách chọn mẫu và thu thập dữ liệu, giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên
c ứu, phương pháp phân tích dữ liệu
3.1 Mô hình lý thuy ết
Dựa vào một số nghiên cứu trước đây của Jacob A Bikker và Tobias M Vervliet (2017), sử dụng hai mô hình như sau:
Mô hình I gi ải thích khả năng sinh lời của ngân hàng từ lãi suất và các
y ếu tố quyết định lợi nhuận khác:
là thước đo lợi nhuận của ngân hàng i trong năm t Như trong nhiều nghiên cứu khác, một mô hình động được áp dụng, lợi nhuận ngân hàng có xu hướng tồn tại theo thời gian (xem Bergeret al., 2000)
Mức độ kiên trì được nắm bắt bởi hệ số biến phụ thuộc trễ Đối với giá trị của
α từ 0 đến 1, lợi nhuận cho thấy sự kiên trì nhưng họ sẽ trở lại mức bình thường của
họ Đối với giá trị gần bằng 0, kiên trì là thấp và ngành công nghiệp khá cạnh tranh khi tốc độ điều chỉnh cao Nếu α gần bằng 1, kiên trì là mạnh mẽ chỉ ra sự vắng mặt của cạnh tranh (xem Athanasoglou et al., 2008)
Các yếu tố quyết định cụ thể được nắm bắt bởi , nền kinh tế vĩ mô là đại
diện trong nhiệm kỳ và lãi suất môi trường được thể hiện bởi Lỗi tổng
Trang 35hợp được cho bởi , trong đó ηi là ngân hàng không quan sát được hiệu ứng cụ thể, đó là thời gian bất biến
Mô hình II mô t ả rủi ro ngân hàng từ lãi suất và các yếu tố quyết định khác:
là thước đo rủi ro cho ngân hàng i trong năm t Mô hình này và cấu trúc động của nó dựa trên Delis và Kouretas (2011), người cung cấp lập luận cho bản chất năng động về rủi ro ngân hàng: Có thể giả định rằng rủi ro tiếp xúc, hoặc từ các hoạt động giao dịch hoặc từ chất lượng của danh mục cho vay, được thực hiện trong giai đoạn tiếp theo và do đó chịu đựng Mức độ kiên trì rủi ro được nắm bắt theo hệ
số α Các biến hồi quy khác và lỗi thuật ngữ tương tự như trong mô hình I
Xem xét độ dài của thời gian nghiên cứu và những diễn biến đã diễn ra, hiệu ứng thời gian có thể có mặt trong thành phần lỗi của cả hai mô hình Do đó, các hình nộm năm được bao gồm trong ước tính của các mô hình thực nghiệm Trong các mô hình lý thuyết, một thuật ngữ không đổi được bao gồm, nhưng hằng số này
có thể Tất nhiên không được xác định trong các mô hình hiệu ứng cố định
Trang 36NIM, PROFIT, ROE, ROA, PCL từ phân tích, đánh giá các nhân tố nội tại bên trong ngân hàng và các nhân tố vĩ mô
3.2.2 Bi ến phụ thuộc của mô hình I
Thu nh ập lãi cận biên (NIM) là một chỉ số thể hiện sự chênh lệch giữa thu
nhập lãi và chi phí lãi vay mà ngân hàng dùng để kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời
và lựa chọn các nguồn vốn có chi phí thấp, theo tỷ lệ tổng tài sản
Tỷ lệ NIM cao có nghĩa là ngân hàng đang quản lý tài sản và nợ hiệu quả Ngược lại, NIM thấp phản ánh việc tạo lợi nhuận của ngân hàng đang gặp khó khăn
T ỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Là một thước đo hiệu suất sinh
lời, được xác định bởi tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản bình quân của từng thời kỳ ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để
Trang 37kiếm lời ROA phản ánh khả năng quản trị và sử dụng tài sản của ngân hàng một cách hiệu quả để tạo ra lợi nhuận hợp lý Tuy nhiên, ROA quá cao cũng không phải
là dấu hiệu cho ngân hàng vì phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao hơn Các yếu tố như lãi suất, luật pháp, quốc gia cũng ảnh hưởng đến chỉ số ROA Nhược điểm của ROA là không phản ánh các hoạt động ngoại bảng, đôi khi chiếm một tỷ trọng rất lớn trong hoạt động ngân hàng
T ỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng
trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình), được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế trên tổng vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ số này là thước
đo để đánh giá khả năng quản trị và sử dụng vốn chủ sở hữu để tạo ra thu nhập cho các cổ đông ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông có được từ nguồn vốn đầu tư vào ngân hàng Do đó, ROE là chỉ tiêu quan trọng mà các cổ đông quan tâm khi đầu tư
L ợi nhuận chƣa phân phối trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng
3.2.3 Bi ến phụ thuộc của mô hình II
Các kho ản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dƣ nợ (PCL) mô
tả mức độ rủi ro tín dụng Khoản dự phòng rủi ro tín dụng (PCL) là ước tính các khoản lỗ tiềm ẩn mà công ty có thể gặp phải do rủi ro tín dụng Khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được coi là chi phí trên báo cáo tài chính của công ty như dự kiến lỗ từ nợ quá hạn và nợ xấu hoặc tín dụng khác có khả năng bị mất hoặc không thể phục hồi
Ví dụ, nếu công ty tính toán rằng các tài khoản quá 90 ngày qua có tỷ lệ thu hồi là 40%, nó có thể trích lập dự phòng rủi ro tín dụng dựa trên 40% số dư của các tài khoản này
Trang 38Bảng 3.1: Bảng tính toán biến
Biến phụ thuộc
1 NIM Chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi
2 PROFIT Lợi nhuận chưa phân phối Báo cáo tài chính
3 ROA Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản Báo cáo tài chính
4 ROE Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu Báo cáo tài chính
5 PCL Dự phòng rủi ro tín dụng/Tổng dư nợ Báo cáo tài chính
Biến độc lập
1 SIZE Logarit của tổng tài sản Báo cáo tài chính
2 CAP Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản Báo cáo tài chính
3 LOANTA Tổng dư nợ/ Tổng tài sản Báo cáo tài chính
4 NITA Thu nhập ngoài lãi/Tổng tài sản Báo cáo tài chính
Trang 39(Ngu ồn: Tổng hợp của tác giả)
3.3 Mô tả dữ liệu nghiên cứu và cỡ mẫu
Tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp để nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro trong giai đoạn lãi suất thấp của các ngân hàng thương mại cổ phần Nguồn dữ liệu được lấy từ các báo cáo tài chính hợp nhất của 20 ngân hàng được chọn làm từ năm 2010 đến 2017, đề tài có tổng cộng 160 (8
x 20) quan sát Các biến kinh tế vĩ mô được lấy từ dữ liệu thống kê của trang web www.vietstock.vn, www.worldbank.org, các chỉ số khác được tác giả tự tính toán theo công thức của từng chỉ số Đặc điểm của mẫu là nguồn dữ liệu thứ cấp của các ngân hàng đã được kiểm toán
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng cho phép kết hợp chuỗi thời gian và dữ liệu không gian Các khác biệt đối tượng và thay đổi theo thời gian được quan sát thông qua dữ liệu bảng thuận lợi trong quá trình phân tích
Trong bài luận văn này, tác giả sử dụng dữ liệu bảng cân bằng, ưu điểm được viết trong nghiên cứu Baltagi (2008)
Đầu tiên, tăng số lượng quan sát cỡ mẫu, ít đa cộng tuyến hơn, sự biến thiên
dữ liệu có nhiều quan sát hơn
Thứ 2, các kỹ thuật trên dữ liệu bảng loại bỏ các khác biệt không đồng nhất giữa các đối tượng nghiên cứu, đó là các đối tượng không gian như ngân hàng trong bài nghiên cứu
Trang 403.4.1 Các bước phân tích để lựa chọn mô hình phù hợp cụ thể như sau Bước 1: Lựa chọn mô hình Pooled OLS và FEM, kiểm định giả thuyết Ho:
mô hình Pooled OLS phù hợp hơn FEM, với giả thuyết H0: α1 = α2 = … αN = α Nếu kết quả chấp nhận giả thuyết H0, lựa chọn Pooled
Bước 2: Tác giả lựa chọn REM và Pooled OLS qua kiểm định Lagrange
(LM), chấp nhận giả thuyết H0, cho thấy sai số trong mô hình không có sự sai lệch giữa các nhóm, và phù hợp với mô hình Pooled OLS
Bước 3: Tiếp theo kiểm định Hausman với giả thiết Cov(Xit, Ui) = 0 Nếu kết quả kiểm định bác bỏ giả thuyết H0, tác giả chọn FEM, ngược lại sẽ chọn REM
3.4.2 Ki ểm định các trường hợp khuyết tật của mô hình do vi phạm các
gi ả định
(1) Giả định phương sai của sai số không đổi:
Tác giả sử dụng kiểm định phương sai thay đổi với nghiên cứu Greene (2000) trên dữ liệu bảng Lý do kiểm định phương sai thay đổi là do khi mô hình vi phạm phương sai thay đổi sẽ dẫn đến vấn đề: nếu các phương sai không bằng nhau thì độ tin cậy tương đối của mỗi quan sát (dữ liệu) sẽ không bằng nhau
Phương sai thay đổi nghĩa là phương sai của các phần dư là không phải hằng
số, nghĩa là chúng khác nhau ở các quan sát khác nhau
(2) Giả định không có sự tương quan giữa các phần dư:
Tác giả sử dụng kiểm định Durk và Woodrige (2003) nhằm kiểm tra tự tương quan phần dư Lý do kiểm định tự tương quan phần dư là hiện tượng tự tương quan
sẽ dẫn đến một số hậu quả như: phương sai các ước lượng OLS là bị chệch, đôi khi quá thấp so với phương sai thực và sai số tiêu chuẩn, dẫn đến phóng đại tỷ số t, ước