1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu mối tương quan giữa cạnh tranh và ổn định của các ngân hàng thương mại tại 10 quốc gia đông nam á giai đoạn 2011 2018

90 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm nước đang phát triển như khu vực Đông Nam Á, cạnh tranh tác động tiêu cực đến độ ổn định ngân hàng ở các quốc gia.. Vì vậy, việc chọn đề tài “Nghiên cứ

Trang 1

z



ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI 10

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP H ồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 2



ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI 10

Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng (Hướng nghiên cứu)

Mã số: 8340201

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUY ỄN THỊ LIÊN HOA

TP H ồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 3

quan gi ữa cạnh tranh và ổn định của các ngân hàng thương mại tại 10 quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2011-2018” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của

riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguy ễn Thị Liên Hoa

Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công

bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan, chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về luận văn nếu có bất kỳ sự gian dối nào

TP.Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 05 năm 2020

Nguy ễn Thị Minh Hòa

Trang 4

M ỤC LỤC TRANG PH Ụ BÌA

L ỜI CAM ĐOAN

M ỤC LỤC

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH M ỤC CÁC BẢNG

TÓM T ẮT – ABSTRACT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do ch ọn đề tài 1

1.2 M ục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 D ữ liệu nghiên cứu 2

1.5 Ph ạm vi nghiên cứu 2

1.6 Phương pháp nghiên cứu 2

1.7 C ấu trúc bài nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐỀ TÀI 3

2.1 Khái ni ệm 3

2.1.1 Khái niệm cạnh tranh 3

2.1.2 Đo lường cạnh tranh 4

2.1.3 Khái ni ệm sự ổn định 10

2.1.4 Đo lường sự ổn định 12

2.2 Khung lý thuy ết 14

2.2.1 Lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter 14

2.2.2 Lý thuyết về cấu trúc thị trường, mô hình SCP hay mô hình Bain Mason 15

Trang 5

2.2.3 Lý thuy ết theo hướng phi cấu trúc mô hình của tổ chức NEIO (New Empirical

Industrial Organization) 16

2.3 Các nghiên c ứu liên quan 16

2.3.1 Các quan điểm nghiên cứu 16

2.3.2 Các nghiên c ứu thực nghiệm 19

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Mô t ả biến 28

3.2 K ỳ vọng dấu của các biến 31

3.3 D ữ liệu 34

3.4 Mô hình th ực nghiệm và dữ liệu 37

3.5 P hương pháp phân tích mô hình hồi quy 38

3.5.1 Mô hình h ồi quy tuyến tính bình phương nhỏ nhất tổng quát (Pooled OLS) 39

3.5.2 Mô hình Fixed Effects (FEM) 39

3.5.3 Mô hình Random Effects (REM) 39

3.5.4 Phương pháp ước lượng moment tổng quát (GMM) 40

3.6 Ki ểm định mô hình 41

3.6.1 Kiểm định tự tương quan 41

3.6.2 Ki ểm định phương sai thay đổi 41

3.6.3 Ki ểm định Hausman 42

3.6.4 Ki ểm định tính hợp lý của biến công cụ 42

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ KẾT QUẢ 43

4.1 Phân tích th ống kê mô tả 43

4.2 L ựa chọn phương pháp ước lượng mô hình 46

4.2.1 Lượng hóa mức độ cạnh tranh bằng chỉ số Lerner 46

4.2.2 Ki ểm định Robust Hausman 47

Trang 6

4.3 Phân tích k ết quả nghiên cứu 48

4.3.1 K ết quả hồi quy biến Z-score theo phương pháp Pooled OLS 48

4.3.2 K ết quả hồi quy biến Z-score theo phương pháp GMM 50

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 54

5.1 T ổng kết các kết quả của bài nghiên cứu 54

5.2 Khuy ến nghị chính sách cho Việt Nam 54

5.3 H ạn chế của luận văn 57

5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 58 TÀI LI ỆU THAM KHẢO

PH Ụ LỤC

Trang 7

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT

T ừ viết tắt Tên đầy đủ tiếng Anh Tên đầy đủ tiếng Việt

Southeast Asian Nations

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

FEM Fixed Effects Model Mô hình tác động cố định GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa

M&A Merger and Acquisition Mua bán và sáp nhập

2SLS Two stage least squares Hồi quy bình phương tối thiểu

hai giai đoạn 3SLS Three stage least squares Hồi quy bình phương tối thiểu

ba giai đoạn REM Random Effects Model Mô hình tác động ngẫu nhiên

Trang 8

DANH M ỤC CÁC BẢNG

B ảng 2.1:Tóm tắt ưu nhược điểm các biện pháp đo lường cạnh tranh ………9

B ảng 2.2: Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm ……….24

B ảng 3.1: Các biến và kỳ vọng tương quan giữa các biến trong mô hình ….…….32

B ảng 3.2: Tăng trưởng GDP thực ở khu vực Đông Nam Á từ 2014-2019…… ….34

B ảng 4.1: Bảng thống kê mô tả các biến ……… …….43

B ảng 4.2: Chỉ số Lerner theo quốc gia và theo năm giai đoạn từ 2011 đến 2018 45

B ảng 4.3: So sánh hệ số tương quan và dấu kỳ vọng giữa các biến ……… 45

B ảng 4.4: Kết quả hồi quy theo mô hình FEM và mô hình REM ……… 46

B ảng 4.5: Kết quả kiểm định Robust Hausman……… 48

B ảng 4.6: Kết quả hồi quy bằng phương pháp Pooled OLS, FEM, REM ……… 48

B ảng 4.7: Kết quả các mô hình hồi quy với phương pháp GMM ……… 50

Trang 9

TÓM T ẮT

Bài nghiên cứu tìm hiểu tác động của cạnh tranh tới sự ổn định ngân hàng với

dữ liệu từ 10 nền kinh tế khu vực Đông Nam Á từ năm 2011 đến năm 2018 Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng moment tổng quát (GMM) để kiểm định mối quan hệ này Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm nước đang phát triển như khu vực Đông Nam Á, cạnh tranh tác động tiêu cực đến độ ổn định ngân hàng ở các quốc gia Quy mô ngân hàng, tỷ lệ tài sản cố định/Tổng tài sản, chỉ số quyền pháp lý có tác động tích cực tới ổn định ngân hàng Chỉ số giám sát tác động ngược chiều với mức ổn định, trái với kỳ vọng biến ban đầu Chỉ số nợ vay/Tổng tài sản, tỷ lệ tăng trưởng GDP không có ý nghĩa thống kê

Từ khóa: Cạnh tranh, Ổn định, Chỉ số Lerner, Chỉ số Z-score, System GMM

Trang 10

ABSTRACT

The paper explores the relationship between competition and bank stability in

10 Southeast Asian economies between 2011 and 2018 Using a panel GMM with instrumental variables, our contribution involves testing how competition affect to bank stability in emerging countries such as Southeast Asian nations The result show that competition (proxy by Lerner index) has a negative effect on bank stability (proxy by Z-score) support for “competition-fragility” hypothesis We find that banksize, fixed assets to total asset index and legal rights of borrowers and lenders have a significant, positive impact on bank stability While stronger supervisory power of the regulator is associated with greater bank fragility, other factors such as loan to assets index, GDP growth contrary to expectation and have no statistical significance

Key words: Competition, Stability, Lerner Index, Z-score Index, Systems GMM

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu trong tất cả lĩnh vực kinh tế, đời sống

xã hội trong đó ngành ngân hàng không phải là ngoại lệ Cạnh tranh là yếu tố động lực thúc đẩy sự phát triển Tuy nhiên, ngân hàng là lĩnh vực đặc thù, đổ vỡ ngân hàng mang tính chất hệ thống gây khủng hoảng lan truyền trên diện rộng, đe dọa tính ổn định của nền kinh tế Bên cạnh những tác động tích cực, cạnh tranh quá mức, không lành mạnh đem lại nhiều hệ quả gây bất ổn cho hệ thống ngân hàng Ảnh hưởng của cạnh tranh đến ổn định hệ thống ngân hàng là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách trong gần ba thập kỷ gần đây Nhiều học giả đã kiểm định mối liên hệ này tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tuy nhiên, kết quả thu được lại rất khác nhau

Đông Nam Á (sau đây gọi tắt là ASEAN) là một trong những khu vực phát triển mạnh mẽ trên thế giới, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 5,1% Tuy nhiên, mức độ thâm nhập của các ngân hàng tại các quốc gia này hiện tại vẫn là một con số khiêm tốn Liệu rằng cạnh tranh ở các nền kinh tế khu vực ASEAN

sẽ tác động tới sự ổn định theo chiều hướng nào? Trong điều kiện hệ thống luật pháp còn manh mún, chưa hoàn thiện, cạnh tranh sẽ góp phần thúc đẩy hay gây suy giảm

sự ổn định hệ thống ngân hàng

Vì vậy, việc chọn đề tài “Nghiên cứu mối tương quan giữa cạnh tranh và ổn định của các ngân hàng thương mại tại 10 quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2011-2018” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ có tính cấp thiết và mang tính thực tiễn trong bối cảnh thương mại hóa toàn cầu như hiện nay

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định và đánh giá ảnh hưởng của cạnh tranh đến ổn định tại các ngân hàng thương mại các quốc gia ASEAN

Kiến nghị một số gợi ý chính sách để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh góp phần ổn định hệ thống ngân hàng, hướng tới mục tiêu phát triển an toàn bền vững

hệ thống tài chính các quốc gia ASEAN nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Trang 12

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Mối tương quan giữa cạnh tranh và ổn định các ngân hàng thương mại các nền kinh tế khu vực ASEAN giai đoạn 2011-2018

1.4 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu các quan sát được thu thập từ cơ sở dữ liệu Bankscope giai đoạn

2011-2018 của 140 ngân hàng từ 10 quốc gia khu vực ASEAN Dữ liệu có cấu trúc dữ liệu bảng không cân bằng Dữ liệu gồm báo cáo tài chính đã kiểm toán được chuyển đổi sang USD với năm 2011 là năm cơ sở

1.5 Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng khảo sát: gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác, ngân hàng phát triển (không bao gồm ngân hàng trung ương, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại quốc gia sở tại, ngân hàng liên doanh, ngân hàng hồi giáo) của 10 quốc gia ASEAN (bao gồm Brunei, Cambodian, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thailand, Viet Nam)

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu số liệu giai đoạn từ 2011 đến 2018

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài xem xét dữ liệu 140 ngân hàng của 10 quốc gia khu vực ASEAN với khoảng thời gian là 8 năm, sử dụng hồi quy dữ liệu bảng để phân tích tác động của cạnh tranh đến ổn định của ngân hàng thông qua kỹ thuật ước lượng GMM 2 bước dựa trên nghiên cứu của Arellano-Bover/Blundell-Bond (Arellano and Bover, 1995; Blundell and Bond, 1998) để khắc phục vấn đề phương sai thay đổi và nội sinh

1.7 Cấu trúc bài nghiên cứu

 Chương 1: Giới thiệu

 Chương 2: Khái niệm cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đề tài

 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

 Chương 4: Phân tích và kết quả nghiên cứu

 Chương 5: Kết luận, gợi ý chính sách, hạn chế còn tồn tại và hướng phát triển

đề tài

Trang 13

CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ

LIÊN QUAN ĐỀ TÀI 2.1 Khái ni ệm

2.1.1 Khái ni ệm cạnh tranh

C ạnh tranh theo Karl Marx (1978) định nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh

gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu hút được lợi nhuận siêu ngạch Theo Từ điển tiếng Việt

“Cạnh tranh được hiểu là cố giành phần hơn, phần thắng về phía mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm vào những lợi ích như nhau”

Thị trường cạnh tranh là thị trường có nhiều người bán, người mua, mỗi người không có khả năng làm thay đổi giá của thị trường Cạnh tranh gắn liền với kinh tế thị trường Cạnh tranh tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, điều tiết

hệ thống thị trường Các nhà kinh doanh hoạt động trong môi trường cạnh tranh phải luôn đổi mới không ngừng, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật trong sản xuất để tăng năng suất lao động, tìm cách thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Cạnh tranh có thể biểu hiện bằng các hình thức với những tính chất khác nhau như cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh tự do, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

Lý thuyết về cạnh tranh luôn là trọng tâm của tư duy kinh tế Quan niệm về cạnh tranh bắt nguồn từ tác phẩm The Wealth of Nations (Sự giàu có của các quốc gia) tác giả Adam Smith (1776) Theo nghiên cứu của ông, cạnh tranh tự do hướng tới trạng thái cân bằng Về lâu dài, cạnh tranh tự do hướng tới trạng thái giá bằng với chi phí sản xuất Clark, J.M (1940), định nghĩa cạnh tranh là hành động nỗ lực để đạt được những gì những người khác cùng nỗ lực giành lấy tại cùng một thời điểm Theo Stigler (1957), cạnh tranh được định nghĩa xảy ra giữa các cá nhân, tập thể khi hai hoặc nhiều bên muốn đạt được một thứ mà tất cả các bên không thể cùng có được

Trang 14

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có các giả định sau: (1) các sản phẩm được bán phải giống nhau hoàn toàn, và (2) số lượng người mua và người bán

là quá lớn và do đó không một cá nhân đơn lẻ nào có khả năng tác động đến mức giá thị trường (3) không gặp rào cản khi gia nhập thị trường, không gặp hạn chế về sự di chuyển của giá cả và tài nguyên, (4) tất cả những người tham gia thị trường phải có kiến thức am hiểu về thị trường

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (thị trường độc quyền) là thị trường chỉ

có một người bán Họ sẽ quyết định giá bán và được gọi là nhà độc quyền

Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam “Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên

thị trường tiêu thụ” Theo Michael Porter (1990), trong tác phẩm The Competitive Advantage of Nation (Lợi thế cạnh tranh của quốc gia) tác giả đề cập “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hoá sản phẩm

để đạt được mức giá cao hơn trung bình Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp càng ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”

Cạnh tranh là một vấn đề đáng lưu ý khi nghiên cứu phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Mức độ cạnh tranh phụ thuộc khả năng định giá sản phẩm của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có sức mạnh định giá cao, doanh nghiệp có thể chuyển giá tăng đầu vào qua khách hàng, bảo vệ lợi nhuận Ngược lại, doanh nghiệp

sẽ chịu áp lực trong thời gian giá đầu vào tăng dẫn đến lợi nhuận sụt giảm Do đó, nghiên cứu về cạnh tranh hỗ trợ doanh nghiệp đưa ra các quyết định đầu tư

2.1.2 Đo lường cạnh tranh

Cạnh tranh là một khái niệm phức tạp nên không thể quan sát trực tiếp Có 2 cách tiếp cận để lượng hóa cạnh tranh: tiếp cận theo hướng cấu trúc và phi cấu trúc

Trang 15

Tiếp cận theo hướng cấu trúc nghiên cứu mức độ cạnh tranh dựa vào cấu trúc của thị trường.Tiếp cận theo hướng phi cấu trúc là đánh giá mức độ cạnh tranh trực tiếp bằng cách quan sát hành vi của các doanh nghiệp trên thị trường

D ựa vào cấu trúc thị trường, ba biện pháp đo lường độ tập trung hiệu quả

được sử dụng phổ biến là số lượng các doanh nghiệp, chỉ số tập trung và chỉ số Herfindahl-Hirschman (chỉ số HHI) Bikker and Haaf (2002) đưa ra các biện pháp đo lường độ tập trung khác như Hall-Tideman Index, Rosenbluth Index, CCI, Hannah-Kay Index, U-Index, Hause Index, Entropy Index

Đo lường bằng số lượng các doanh nghiệp

Số lượng các doanh nghiệp là chỉ số đơn giản nhất để tính toán độ cạnh tranh trong chừng mực dữ liệu yêu cầu rất hạn chế Điểm yếu của chỉ số này đó là không tính đến độ phân tán các doanh nghiệp Độ tập trung giữa hai ngành có thể khác nhau rất nhiều nếu một ngành chỉ bị chi phối bởi một doanh nghiệp còn ngành còn lại bao gồm nhiều doanh nghiệp với tổng về quy mô như nhau

Đo lường bằng chỉ số tập trung

Đây là phương pháp đo lường đơn giản, yêu cầu về dữ liệu rất ít Đo lường bằng chỉ số tập trung đòi hỏi nhiểu thông tin hơn so với phương pháp đo lường bằng

số lượng các doanh nghiệp, đặc biệt là thông tin về thị phần trong ngành của các doanh nghiệp Chỉ số tập trung đo lường thị phần của k doanh nghiệp thuộc hàng đầu trong ngành:

CRk= ∑ 𝑺𝒊𝒌

𝒊=𝟏 trong đó S 1 ≥….S k ≥S n ∀ 𝒏 ≥ 𝒌

Trong đó Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i, các doanh nghiệp được xếp theo thị phần giảm dần, n là tổng số doanh nghiệp Chỉ số tiến gần tới 0 khi có một lượng hữu hạn các doanh nghiệp có cùng quy mô và tiến gần tới 1 nếu doanh nghiệp chiếm toàn

bộ thị phần ngành Tuy nhiên, chỉ số chỉ đo lường thị phần của k doanh nghiệp hàng đầu dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp nhỏ hợp nhất với nhau có thể không được phản ánh trong chỉ số này mặc dù mức độ tập trung của thị trường tăng lên

Trang 16

Đo lường cạnh tranh bằng chỉ số HHI

Chỉ số Herfindahl-Hirschman (Hirschman, 1964) là thước đo phổ biến về sự tập trung của thị trường và được sử dụng để xác định khả năng cạnh tranh thị trường

Ưu điểm của chỉ số HHI giải quyết vấn đề thị phần và cạnh tranh giữa các công ty quy mô lớn Tuy nhiên, chỉ số HHI cũng có hạn chế như không giải quyết vấn đề rào cản gia nhập vì mức độ cạnh tranh có thể thấp nhưng nếu rào cản gia nhập thấp cạnh tranh có thể tăng lên, vấn đề xác định thị phần cụ thể liên quan yếu tố địa lý

Chỉ số HHI yêu cầu thông tin về thị phần của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường HHI được tính bằng tổng các bình phương thị phần của mỗi doanh nghiệp cạnh tranh trong một thị trường

HHI= ∑ (𝑺𝒊)𝒌

𝒊=𝟏 ^𝟐 ∀𝒊 = 𝟏 𝒏 với n là tổng số doanh nghiệp trên thị trường

Thị trường càng gần độc quyền càng tập trung và cạnh tranh càng thấp Chỉ số

nằm trong khoảng từ 1/n đối với các doanh nghiệp có cùng quy mô đến 1 biểu thị độc quyền Theo Cetorelli (1999) ở Mỹ, ngành ngân hàng được xem là cạnh tranh nếu chỉ

số HHI nhỏ hơn 0.1, là thị trường hơi tập trung nếu chỉ số ở trong khoảng từ 0.1 đến 0.18 và thị trường độc quyền nếu chỉ số lớn hơn 0.18

Chỉ số HHI có ưu điểm dễ tính toán, tuy nhiên, chỉ số không tính được độ phức tạp của các thị trường khác nhau

D ựa vào hướng phi cấu trúc thị trường:

Đo lường cạnh tranh bằng chỉ số Lerner

Nhà kinh tế học Abba Lerner (1934) trong tác phẩm “ Khái niệm về độc quyền

và đo lường sức mạnh độc quyền”- bài báo lớn đầu tiên của tác giả về kinh tế học

phúc lợi, đưa ra ý tưởng độc quyền là vấn đề về mức độ, sức mạnh độc quyền phụ thuộc vào phần chênh lệch của giá so với chi phí cận biên Chỉ số Lerner luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1: càng gần giá trị 0 tức là càng gần với cạnh tranh hoàn hảo; càng gần giá trị 1, sức mạnh thị trường của người bán càng cao nên càng gần với độc

Trang 17

quyền Một nhà độc quyền tìm cách tối đa hóa lợi nhuận sẽ không thuộc phần không

co giãn của đường cầu E<1, giải thích lý do vì sao độ co giãn luôn nằm trong khoảng

∞ ≥ E ≥ 1

Độ lệch giữa giá cả và chi phí biên càng lớn cho thấy sức mạnh độc quyền càng cao Do giá cả hay thông tin chính xác về cấu trúc chi phí của doanh nghiệp khó thu thập chính xác, chỉ số Lerner sử dụng độ co giãn của cầu theo giá: chỉ số Lerner tương đương với giá trị tuyệt đối của độ co giãn của cầu khi giá được thiết lập nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận

Mặc dù chỉ số Lerner được phát triển từ những năm 1930 nhưng chỉ được ứng dụng thực sự hiệu quả từ ba thập kỷ trở lại đây do khó khăn trong việc đánh giá chi phí biên Chi phí biên được ước tính từ hàm chi phí theo phương pháp kinh tế lượng

Ưu điểm của chỉ số Lerner là định lượng từng ngân hàng cụ thể, thay đổi theo thời gian nên dễ dàng so sánh giữa các ngân hàng và/hoặc trong các giai đoạn, là một thước đo tốt để lượng hóa sức mạnh thị trường

Mô hình Panzar-Rosse

(Rosse và Panzar, 1977; Panzar và Rosse, 1982, 1987) được áp dụng rộng rãi

để lượng hóa cạnh tranh trong ngành ngân hàng Chỉ số này cho thấy giá đầu vào được truyền dẫn vào doanh thu của doanh nghiệp Thị trường càng cạnh tranh khi giá trị chỉ số càng tăng Đối với một nhà độc quyền, chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên ở mức cân bằng Sau khi giá đầu vào tăng, chi phí cận biên tăng Để duy trì trạng thái cân bằng giữa chi phí biên và doanh thu biên, nhà độc quyền tăng doanh thu biên bằng cách giảm số lượng (trong trường hợp doanh thu biên là hàm giảm của số lượng) Rosse và Panzar (1977) cho thấy tổng doanh thu bị giảm nếu độ co giãn của cầu vượt quá 1 Trong trường hợp này, mức tăng do tăng giá không bù đắp tổn thất do giảm số lượng Việc gia tăng giá đầu vào dẫn đến gia tăng trong tổng doanh thu trong môi

Trang 18

trường cạnh tranh Bởi vì chi phí biến đổi đồng nhất một mức độ với giá đầu vào, bất

kỳ sự tăng giá đầu vào nào tạo ra một sự gia tăng phần trăm bằng nhau về chi phí Doanh thu và tổng chi phí cùng thay đổi tương ứng và bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của giá đầu vào để đảm bảo điều kiện không lợi nhuận (tổng chi phí bằng tổng doanh thu) Trong cân bằng dài hạn, tổng số lượng được điều chỉnh bằng cách giảm số lượng doanh nghiệp Kết quả trong môi trường cạnh tranh, giá đầu vào tăng 1% làm tăng 1

% tổng doanh thu

Mô hình Panzar-Rosse xác định được các điều kiện cạnh tranh bằng cách tính

tổng độ co giãn của doanh thu đối với tất cả giá đầu vào Tổng độ co giãn, thường được gọi là thống kê H, nhận các giá trị từ 1 đến +1 Chi phí thay đổi càng được truyền dẫn vào doanh thu cho thấy thị trường càng cạnh tranh

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, chi phí đầu vào và tổng doanh thu tăng theo cùng một tỷ lệ phần trăm và thống kê H bằng 1

Chỉ số thống kê H được tính toán như sau: H= ∑ 𝛽1𝐿

𝑙=1

Thống kê H là tổng độ co giãn của tổng doanh thu lãi của các ngân hàng trên

cơ sở các yếu tố giá đầu vào

Lượng hóa cạnh tranh bằng chỉ số Boone

Theo giả thuyết hiệu quả của Demsetz (1973), doanh nghiệp hiệu quả hơn đạt

tỷ suất lợi nhuận vượt trội hơn, thu hút thị phần cao hơn Boone (2008) cho thấy mức chênh lệch lợi nhuận tương đối có thể lượng hóa mức độ cạnh tranh trong thực tế Trong thực tế, các nhà kinh tế thường đánh giá sức mạnh của mối tương quan giữa hiệu quả và hiệu suất Theo Boone et al., (2007), cạnh tranh được ước tính từ phương trình lợi nhuận sau đây:

Ln π i =α+βlnc i +ε i

Trong đó π i làlợi nhuận, ci đolường chi phí (đại diện cho hiệu quả), hệ số β là

độ co dãn của lợi nhuận (PE) (% lợi nhuận giảm tương ứng % chi phí tăng) Van

Trang 19

Leuvensteijn (2011), Delis (2012); Tabak et al., (2012) ước tính trực tiếp chi phí biên Trường hợp dữ liệu không đủ để ước tính trực tiếp, sử dụng biến chi phí trung bình (Schaeck and Cihak, 2014):

B ảng 2.1: Tóm tắt ưu nhược điểm các biện pháp đo lường cạnh tranh

Ti ếp cận theo hướng cấu trúc

Đo lường theo độ

Tiếp cận theo hướng phi cấu trúc

thông tin về giá cả

Trang 20

Chỉ số giải thích đơn giản, dễ hiểu

Mô hình

Panzar-Rosse

Có thể tính toán bằng phương pháp đơn giản, phương trình đơn, tuyến tính

Yêu cầu số lượng quan sát hạn chế

Yêu cầu thông tin về giá cả và sức

quyền lực độc quyền

Có thể ước tính bằng phương pháp đơn giản, phương trình đơn, tuyến tính

Yêu cầu số lượng quan sát hạn chế

quả

Tính hiệu quả chỉ nên xem xét một chiều

Các hình thức cạnh tranh khác nhau khó phân biệt

Yêu cầu các biến cấp độ công ty

và thông tin về giá

2.1.3 Khái ni ệm sự ổn định

Ổn định là trạng thái được cố định chắc chắn hoặc không có khả năng di

chuyển hoặc thay đổi Trên thị trường tài chính, ổn định là việc thực hiện những hành động phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng mất cân đối tài chính phát sinh trên thị trường tài chính Trong lĩnh vực ngân hàng, sự ổn định hướng đến mục tiêu xây dựng

bộ máy ngân hàng an toàn lành mạnh, đảm bảo phân bổ vốn tối ưu nhằm mục đích ngăn chặn khủng hoảng hệ thống

Giả thuyết bất ổn về tài chính (Financial instability hypothesis) được nhà kinh

tế học người Nga Hyman Minsky (1919-1996) đưa ra vào đầu những năm 1990 nhưng không được đón nhận rộng rãi tại thời điểm đó Ông là một nhà kinh tế học được biết đến như một người tương đối bi quan trong suốt cuộc đời của mình vì cho rằng thị

Trang 21

trường vốn không ổn định, chỉ kéo dài thời gian phát triển một thời gian rồi kết thúc bằng suy thoái Trọng tâm của giả thuyết này lý giải tác động của nợ, giải thích nguyên nhân gây ra suy thoái không phải do tác động của các yếu tố ngoại sinh gây nên các cú sốc từ bên ngoài Khi nền kinh tế đạt mức hưng thịnh, nội tại đã hàm chứa các yếu tố nội sinh bất ổn gây nên tình trạng suy thoái

Có năm thời kỳ trong chu kỳ của Minsky đó là dịch chuyển, bùng nổ, hưng phấn, chốt lời và hoảng loạn Sự dịch chuyển xảy ra khi các nhà đầu tư hào hứng về

sự kiện xảy ra như một phát minh, cuộc chiến tranh hoặc sự thay đổi về chính sách kinh tế Chu kỳ bao gồm chuỗi các khoảnh khắc Minsky (Minsky moment) lặp đi lặp lại: giai đoạn ổn định khuyến khích chấp nhận rủi ro, giai đoạn bất ổn khi rủi ro trở thành thua lỗ, giai đoạn nhà đầu tư e ngại rủi ro (giảm đòn bẩy tài chính), giai đoạn khôi phục sự ổn định và lặp lại các chu kỳ tiếp theo Hiện nay, thuật ngữ

“Minsky moment“ xuất hiện rất nhiều trong các tin tức tài chính về tình trạng hỗn loạn thị trường tài chính toàn cầu Thuật ngữ này được đưa ra bởi Paul Mcculley 1998

để mô tả cuộc khủng hoảng tài chính Nga 1998 Trong lúc nền kinh tế tăng trưởng mạnh, lượng tín dụng bơm ra nhiều, các nhà đầu tư ưa thích rủi ro thường tăng sử dụng đòn bẩy tài chính, đầu cơ quá mức nhằm đạt được tỷ suất sinh lợi cao Đòn bẩy

nợ được sử dụng quá mức gây ra nhiều rủi ro Do thị trường quá hồ hởi nên không

dự báo được rủi ro cho dù trên thị trường đã có dấu hiệu cho thấy suy thoái sắp xảy

ra Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp phải đi vay mới để trả

nợ vay cũ Hình thức tài trợ này gọi là tài chính Ponzi (đặt theo tên Charles Ponzi) có xác suất vỡ nợ rất cao Chính vì vây, việc đưa ra các cảnh báo sớm dự đoán khả năng phá sản của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng nhằm định hướng kinh doanh theo mục tiêu nhất định

Richard Koo (2008) trình bày khái niệm về “suy thoái bảng cân đối kế toán“ (thuật ngữ tiếng Anh Balance sheet Recession) Đây là loại suy thoái kinh tế xảy ra khi nợ khu vực tư nhân cao khiến các công ty và cá nhân tập trung tiết kiệm bằng cách trả nợ thay vì chi tiêu hoặc đầu tư khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại và suy

Trang 22

thoái Suy thoái kinh tế tại Nhật Bản những năm 1990, suy thoái kinh tế Hoa Kỳ giai đoạn 2007-2008 là ví dụ điển hình của suy thoái bảng cân đối kế toán Trong thời kỳ xảy ra bong bóng bất động sản ở Nhật Bản năm 1990, người dân sử dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo vay nợ rồi dùng tiền vay để đầu tư dự án khác kiếm lời Giá bất động sản lao dốc khi bong bóng vỡ nên khoản lỗ lớn hình thành trên bảng cân đối

kế toán Lúc này, người dân ưu tiên trả nợ thay vì tái đầu tư Do đó, tổng cầu giảm, giảm phát xảy ra, giá trị thật của nợ càng bị bơm lên, suy thoái kinh tế càng trầm trọng

2.1.4 Đo lường sự ổn định

Z-score là thước đo sự ổn định được sử dụng rộng rãi, đại diện cho tỷ lệ vốn đệm ngân hàng và lợi nhuận với rủi ro biến động của lợi nhuận ( Berger et al., 2009; Turk-Ariss, 2010; Foos et al., 2010) Tỷ số Z-score cho biết lợi nhuận của một ngân hàng sẽ giảm nhanh như thế nào trước khi nguồn vốn của ngân hàng cạn kiệt (Boyd

et al., 2006) Đây cũng là thước đo rủi ro tổng thể hoặc rủi ro vỡ nợ của một ngân hàng (Boyd và Runkle, 1993) Tỷ số Z-score càng cao, xác suất vỡ nợ càng thấp.Tỷ

số Z-score được lấy logarit để tính toán độ lệch trong dữ liệu Altman’s (1968), Zavgren (1985) tập trung vào các các doanh nghiệp sản xuất lớn còn Mcgurr (1996) and Rance (1999) chỉ sử dụng dữ liệu các doanh nghiệp bán lẻ…

Trong bài robust test, sử dụng tỷ lệ nợ xấu (Non-performing loan) là một cách

đo lường sự ổn định phổ biến khác (Jimenez and Saurina, 2006) Tỷ lệ nợ xấu có ý nghĩa trong việc đánh giá tác động của cạnh tranh đến rủi ro hệ thống Chỉ số có giá trị càng cao biểu thị danh mục đầu tư của ngân hàng càng rủi ro

Tỷ số Z-score dự báo khả năng phá sản của doanh nghiệp hữu ích cho nhiều đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt là các chủ nợ và nhà đầu tư Altman Edward (1968) đưa ra năm tỷ số tài chính có thể được sử dụng để dự đoán nguy cơ phá sản của doanh nghiệp, được gọi là Z-score Mô hình của Altman cho phép dự đoán phá sản của doanh nghiệp 2 năm trước khi xảy ra

Trang 23

Công th ức tính Z-score:

Z-score = 0.012X 1 + 0.014X 2 + 0.033X 3 + 0.006X 4 + 0.999X 5

X1 = Vốn lưu động / tổng tài sản; X2= Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản; X3= Lợi nhuận trước lãi vay và thuế/Tổng tài sản; X4= Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu/ Giá trị

sổ sách của tổng nợ phải trả; X5=Doanh thu/Tổng tài sản

Mô hình của Altman tồn tại một số hạn chế (1) tính chủ quan trong các trọng

số, (2) yếu tố mang tính mơ hồ trong mô hình, (3) cách tiếp cận đơn biến, (4) tỷ lệ sai lệch (Schaeffer, 2000), (5) tỷ lệ X5 chưa thể hiện sự thay đổi giữa các ngành Ngoài

ra, mô hình không thể dự đoán chính xác khó khăn về tình hình tài chính của doanh nghiệp phi sản xuất và doanh nghiệp có hình thức hoạt động không công khai vì giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu dựa trên giá cổ phiếu nên tỷ lệ X4 khó tính toán đối với doanh nghiệp không công khai

Grice và Ingram (2001) kiểm chứng lại mô hình Altman Z-score trong dự báo nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Nghiên cứu này phát hiện độ chính xác mô hình Altman giảm Altman sử dụng mẫu giai đoạn 1958-1961, độ chính xác tổng thể là 83.5% Grice và Ingram sử dụng mẫu giai đoạn 1988-1991, độ chính xác chỉ còn 57.8% Mô hình của Altman nhạy cảm với việc phân loại ngành nhưng không phản ứng trước các loại khủng hoảng tài chính Độ chính xác tổng thể của mô hình cao hơn đáng kể cho các doanh nghiệp sản xuất (69.1%) so với toàn bộ mẫu (57.8%) bao gồm các doanh nghiệp phi sản xuất Vì vậy, mô hình Altman Z-score được điều chỉnh như sau:

Z’’=6.56X 1 +3.26X 2 +6.72X 3 +1.05X 4 (Altman 2000)

Với X1=Vốn lưu động/Tổng tài sản; X2= Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản; X3=Lợi nhuận trước lãi vay và thuế/Tổng tài sản; X4=Vốn chủ sở hữu/ Tổng nợ phải trả Nếu Z’’>2.6: Ngân hàng nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản

Nếu 1.2 <Z’’<2.6 : Ngân hàng nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản

Trang 24

Nếu Z’’<1.2 : Ngân hàng nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao

Đối với lĩnh vực ngân hàng, nghiên cứu của Boyd & Graham(1986) đánh giá rủi ro phá sản của tập đoàn tài chính ngân hàng khi đầu tư ra các lĩnh vực phi ngân hàng bằng công thức Z-score = [E(ROA) + Ebq/Abq]/ σROA Hannan& Hanweck (1988) kiểm tra mối quan hệ giữa lãi suất tiền gửi không được bảo hiểm của ngân hàng và mức độ chấp nhận rủi ro và kết luận rằng thị trường tiền gửi không được bảo hiểm tạo ra mức giá rủi ro cho ngân hàng Đồng thời, tác giả phát triển chỉ số Z-score= [ROAbq + E/A]/σROA biểu thị tương quan giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu /tài sản

và rủi ro Chỉ số Z-score hàm ý giảm thu nhập sẽ dẫn đến thâm hụt vốn khiến ngân hàng dễ gặp rủi ro thanh khoản Các nhà nghiên cứu Cihak & Hess (2008), Foos và cộng sự (2010) tiếp tục phát triển bổ sung chỉ số Z-score để làm thước đo hữu hiệu lượng hóa sự ổn định của ngân hàng

2.2 Khung lý thuy ết

2.2.1 Lý thuy ết cạnh tranh của Michael Porter

Chiến lược cạnh tranh (Competitive Strategy) là kế hoạch hành động dài hạn

mà một doanh nghiệp đề ra để đạt được lợi thế cạnh tranh sau khi so sánh điểm điểm yếu so với các đối thủ khác Chiến lược này có thể kết hợp với các hành động

mạnh-để chống lại áp lực cạnh tranh, mở rộng thị phần và hỗ trợ củng cố vị thế trên thị trường của doanh nghiệp

Michael E Porter được xem là cha đẻ về lý thuyết chiến lược cạnh tranh, sự phát triển kinh tế, khả năng cạnh tranh của các khu vực, tiểu bang và quốc gia Tác giả phân loại chiến lược cạnh tranh chung bao gồm (1) khác biệt hóa, (2) chi phí thấp, (3) phân biệt tập trung (4) chi phí tập trung

(1) Chiến lược khác biệt hóa có liên quan đến khác biệt hóa sản phẩm so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh khác

(2) Chiến lược chi phí thấp làm công ty trở thành nhà cung cấp có chi phí thấp trong ngành Các nguồn lợi thế chi phí rất đa dạng và phụ thuộc vào cấu trúc ngành Chiến lược này có thể bao gồm việc theo đuổi nền kinh

Trang 25

tế theo quy mô, công nghệ độc quyền, tiếp cận ưu đãi với nguồn nguyên liệu thô và các yếu tố khác Doanh nghiệp sản xuất chi phí thấp phải tìm

và khai thác tất cả các nguồn lợi thế từ chi phí Nếu một công ty có thể đạt được và duy trì sự dẫn đầu về chi phí tổng thể thì công ty có mức trung bình cao hơn trong ngành của mình miễn là có thể giữ giá ở mức hoặc gần mức trung bình của ngành

Chiến lược tập trung dựa vào việc lựa chọn phạm vi hẹp cạnh tranh trong ngành, trọng tâm lựa chọn một phân khúc hoặc một nhóm phân khúc và điều chỉnh chiến lược để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh khác

(3) Phân biệt tập trung là công ty tìm kiếm sự khác biệt trong phân khúc mục tiêu

(4) Chi phí tập trung là công ty tìm kiếm lợi thế chi phí trong phân khúc mục tiêu của mình

Cả hai biến thể của chiến lược tập trung đều dựa trên sự khác biệt giữa phân khúc mục tiêu của người tập trung và các phân khúc khác trong ngành Các phân khúc mục tiêu phải có người mua có nhu cầu bất thường hoặc hệ thống sản xuất và phân phối phục vụ tốt nhất cho phân khúc mục tiêu phải khác với các phân khúc ngành khác Tập trung chi phí khai thác

sự khác biệt trong hành vi chi phí ở một số phân khúc, trong khi tập trung phân biệt khai thác nhu cầu đặc biệt của người mua ở một số phân khúc nhất định

Ngoài ra, công ty còn có thể sử dụng các chiến lược khác khi cần thiết như chiến lược liên minh, hợp tác, sáp nhập, mua lại, chiến lược gia công

2.2.2 Lý thuy ết về cấu trúc thị trường, mô hình SCP hay mô hình Bain Mason

Mô hình SCP (Structure-Conduct-Performance) hay mô hình Bain Mason hay

mô hình cạnh tranh trong kinh tế học (IO- Industrial Organization) đưa ra bởi Mason (1939) và Bain (1956) là mô hình đề cập đến vấn đề cấu trúc thị trường quyết định hành vi của doanh nghiệp và hành vi quyết định kết quả trên thị trường Mô hình chỉ

Trang 26

ra rằng cấu trúc ngành đặc thù sẽ hình thành hành vi nhất định dẫn đến kết quả nhất định

Mô hình SCP cung cấp lý thuyết về tương quan giữa cấu trúc thị trường (tập trung) và hành vi (cạnh tranh) Theo mô hình SCP, mức độ tập trung cao ngụ ý cạnh tranh thấp Nếu việc thay đổi cấu trúc thị trường của ngành ngân hàng gây ra kém hiệu quả sẽ tác động trực tiếp và/hoặc gián tiếp chuyển sang nền kinh tế Cấu trúc thị trường bao gồm quy mô, số lượng các doanh nghiệp, điều kiện gia nhập ngành và mức độ khác biệt của sản phẩm Hành vi của doanh nghiệp bao gồm chiến lược giá

cả, các chiến lược quyết định chất lượng sản phẩm, chi phí quảng cáo…Bain (1956) cho rằng bên cạnh yếu tố thị phần, cấu trúc thị trường còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố khác như rào cản gia nhập thị trường… Tuy nhiên, Stigler (1968) cho thấy lý thuyết của Bain (1956) không chính xác chẳng hạn các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả chiếm thị phần lớn không phải là yếu tố tiêu cực làm lũng đoạn thị trường

2.2.3 Lý thuy ết theo hướng phi cấu trúc mô hình của tổ chức NEIO (New

Empirical Industrial Organization)

Từ những thiếu sót trong cách tiếp cận theo hướng cấu trúc thị trường, các nhà kinh tế học đã thay đổi phương pháp nghiên cứu bản chất của cạnh tranh bằng cách quan sát trực tiếp các hành vi Tiếp cận theo hướng phi cấu trúc thị trường áp dụng

mô hình để ước tính các thông số cho hành vi cạnh tranh của các tổ chức NEIO sử dụng nhiều phương pháp yêu cầu dữ liệu và giả định khác nhau Các nghiên cứu đầu tiên của mô hình dựa trên lý thuyết độc quyền nhóm và một mô hình tĩnh của cạnh tranh (quan niệm tân cổ điển) Những mô hình này bao gồm chỉ số Lerner, các mô hình của Iwata (1974), mô hình Panzar- Rosse (1987) Sau đó, các biện pháp phi cấu trúc khác, đặc biệt là chỉ báo Boone được phát triển với mục tiêu nhằm nắm bắt được

sự năng động của thị trường hơn là tập trung phân tích thị trường tĩnh

2.3 Các nghiên c ứu liên quan

2.3.1 Các quan điểm nghiên cứu

Nghiên c ứu về tương quan giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng tồn tại hai trường phái ủng hộ hai quan điểm như sau

Trang 27

Quan điểm “Cạnh tranh- ổn định”:

Trường phái ủng hộ thuyết cạnh tranh-ổn định Đầu tiên là thuật ngữ “quá lớn để sụp đổ”, tập trung vào mô hình Cấu trúc-Hành vi-Kết quả (SCP) Lập luận này xảy ra khi cấu trúc thị trường quá tập trung nên các ngân hàng lớn chi phối nền kinh

tế Sự thất bại của các ngân hàng lớn mang tính dây chuyền ảnh hưởng toàn hệ thống Các ngân hàng tin tưởng sẽ được chính phủ hỗ trợ trong trường hợp mất khả năng thanh toán nên chấp nhận nhiều rủi ro hơn làm hệ thống ngân hàng trở nên bất ổn hơn (Mishkin, 1999; Beck et al., 2006b; Levy Yeyati & Micco, 2007; Beck, 2008; Schaeck et al., 2009) Hiệu ứng này càng nhân lên bởi vì suy nghĩ “quá lớn để sụp đổ” còn khiến người gửi tiền trở nên lơ là trong việc giám sát ngân hàng bởi họ cũng tin rằng sẽ được chính phủ cứu trợ trong trường hợp ngân hàng phá sản

Lập luận thứ hai được phát triển dựa trên lý thuyết “chuyển dịch rủi ro”, xem xét cả thị trường tiền gửi và thị trường cho vay, các ngân hàng có sức mạnh thị trường lớn có xu hướng tính lãi suất cao làm khả năng trả nợ của người vay giảm, các khoản

nợ xấu trong danh mục đầu tư của ngân hàng tăng khiến hệ thống tài chính càng bất

ổn Với lãi suất tăng lên, người vay chọn lựa nhiều cơ hội đầu tư mang tính rủi ro cao hơn Khi cạnh tranh tăng, các ngân hàng chạy đua giảm lãi suất cho vay để giữ thị phần, từ đó làm giảm rủi ro đạo đức dẫn đến giảm rủi ro các dự án tài chính, tăng khả năng trả nợ của khách hàng, loại bỏ dần rủi ro sụp đổ ngân hàng

Ngày càng nhiều các kết quả nghiên cứu ủng hộ quan điểm cạnh tranh-ổn định Boyd et al., (2006) kết luận rằng mức độ tập trung của ngân hàng càng tăng xác suất sụp đổ càng lớn Nghiên cứu của Schaeck and Cihak (2014) cho thấy cạnh tranh cao dẫn đến ngân hàng ổn định hơn Caminal and Matutes (2002) kết luận cạnh tranh

là cần thiết để tăng cường ổn định tài chính do khắc phục được những hạn chế của thị trường độc quyền Các nghiên cứu khác cùng quan điểm cạnh tranh-ổn định như Allen & Gale (2004), Beck et al., (2004, 2013)

Quan điểm “Cạnh tranh- bất ổn”:

Các nghiên cứu lý thuyết truyền thống theo quan điểm cạnh tranh-bất ổn chỉ

ra tác động tiêu cực của cạnh tranh đối với sự lành mạnh của ngân hàng, sức mạnh

Trang 28

thị trường tăng làm giảm khả năng sụp đổ ngân hàng (Carletti and Hartmann, 2002; Beck, 2008)

Lý thuyết cạnh tranh-bất ổn phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hành vi chấp nhận rủi ro ngân hàng Yếu tố cạnh tranh và cấu trúc thị trường gián tiếp gia tăng khẩu vị rủi ro của các ngân hàng Mô hình tìm hiểu tác động truyền dẫn của giá trị thương hiệu (franchise values) đối với hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng (Carletti and Hartmann, 2002; Boyd et al., 2006; Martinez-Miera and Repullo, 2008) Giả thuyết giá trị thương hiệu này cho rằng cạnh tranh làm giảm giá trị thương hiệu

và tỷ suất lợi nhuận làm gia tăng khả năng sụp đổ toàn hệ thống Giá trị thương hiệu cao nên ngân hàng hạn chế mạo hiểm chấp nhận rủi ro bằng cách giảm các ưu đãi cho các rủi ro tổn thất Điều này là do giá trị thương hiệu chỉ tồn tại khi các ngân hàng lo ngại về rủi ro dẫn đến việc hạn chế chấp nhận rủi ro để bảo toàn giá trị thương hiệu, tránh nguy cơ phá sản Hơn nữa, ngân hàng còn kiếm được nguồn thu nhập từ đặc lợi độc quyền giúp ngân hàng giảm bớt hành vi chấp nhận rủi ro vì lợi nhuận, giá trị điều lệ và vốn hóa cao (Allen and Gale, 2004; Carletti, 2008) cũng như sàng lọc khách hàng tốt hơn làm giảm rủi ro tiềm tàng (Cetorelli and Peretto, 2000) Do đó, với giá trị thương hiệu thương mại cao hơn, các ngân hàng tư nhân có xu hướng nắm giữ nhiều vốn hơn và danh mục đầu tư ít rủi ro hơn Từ đó làm cho hệ thống tài chính

ổn định hơn (Keeley, 1990; Levy Yeyati and Micco, 2007; Schaeck et al., 2009)

Mặt khác, cạnh tranh gia tăng làm giảm đặc lợi độc quyền (monopoly rent) dẫn đến các ngân hàng chấp nhận mạo hiểm nhiều hơn như xem xét danh mục đầu tư kém chất lượng, mức vốn thấp hơn và chấp nhận rủi ro tín dụng cao hơn Nguyên nhân là do ngân hàng phải cạnh tranh để bù lỗ lãi cho người vay vì thất thoát lợi nhuận và cho người có điểm tín dụng thấp vay dẫn đến suy thoái danh mục cho vay, gia tăng nợ xấu, tăng nguy cơ sụp đổ của ngân hàng Vì vậy, cạnh tranh khiến hệ thống tài chính mất tính bền vững (Carletti and Hartmann, 2002; Beck, 2008; Berger

et al., 2009)

Allen và Gale (2004) cho rằng các ngân hàng trên thị trường cạnh tranh sẽ có nhiều rủi ro hơn so với các thị trường tập trung do một khi xảy ra cú sốc bất lợi có

Trang 29

thể dẫn đến phản ứng dây chuyền Bởi vì ngân hàng đóng vai trò là người chấp nhận giá trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, ngân hàng không có khả năng chi phối so với toàn ngành, sẽ không có ngân hàng nào có động lực để hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng khác đang gặp khó khăn Do đó, nguy cơ sụp đổ càng lan rộng

Cần lưu ý rằng hai quan điểm trên không nhất thiết phải đưa ra kết luận đối nghịch về quan điểm cạnh tranh-ổn định Nghiên cứu của Martinez-Miera & Repullo, (2010) cho thấy mối quan hệ giữa hai yếu tố này phi tuyến tính Thị trường cạnh tranh

ít làm giảm rủi ro, thị trường cạnh tranh nhiều gây thiệt hại giá trị thương hiệu tổng thể của ngân hàng

2.3.2 Các nghiên c ứu thực nghiệm

Keely (1990) sử dụng mẫu quan sát ngân hàng ở Mỹ giai đoạn 1970-1986

kiểm tra tác động của cạnh tranh và giá trị điều lệ, cạnh tranh tăng làm giá trị điều lệ giảm, các ngân hàng tăng rủi ro vỡ nợ thông qua việc tăng rủi ro tài sản và giảm vốn Nghiên cứu của Keely (1990) cho thấy mức độ tập trung tỷ lệ thuận với mức độ ổn định, cạnh tranh làm suy yếu ổn định của hệ thống ngân hàng

De Nicolo (2004) xây dựng chỉ số lượng hóa rủi ro dựa trên năm ngân hàng lớn nhất trong một quốc gia gọi là chỉ số rủi ro hệ thống Thước đo lượng hóa mức

độ cạnh tranh là độ tập trung của năm ngân hàng lớn, các biến kiểm soát gồm lạm phát, khu vực địa lý trên thế giới, tỷ lệ tăng trưởng GDP thực và can thiệp chính sách của chính phủ Nghiên cứu của De Nicolo (2004) và Boyd & De Nicolo (2005) cho thấy ngân hàng rủi ro hơn khi thị trường tập trung hơn Khi cạnh tranh giảm, ngân hàng tăng thu nhập trên thị trường cho vay bằng cách tăng lãi suất cho vay Người vay phải đối mặt với chi phí lãi suất cao nên phải chọn các dự án có rủi ro cao nhằm đạt lợi nhuận cao hơn, dễ phát sinh rủi ro nợ xấu Vì vậy, ngân hàng tiềm ẩn rủi ro bất ổn cao hơn

Schaeck & Cihak (2007) sử dụng mẫu gồm hơn 2600 ngân hàng từ 10 quốc gia châu Âu giai đoạn 1999-2004 kiểm tra giả thuyết cạnh tranh gia tăng gắn liền với các ngân hàng có tỷ lệ vốn hóa cao hơn Tác giả sử dụng ước lượng 2SLS với các

Trang 30

biến công cụ gồm biến hạn chế gia nhập ngành, hạn chế hoạt động và chỉ số tự do ngân hàng nhằm kiểm soát nội sinh cho biến thống kê H- H Statistic đại diện cạnh tranh ngân hàng Nghiên cứu cho thấy tăng 1% trong chỉ số H-Statistic làm tăng tỷ lệ vốn trung bình trong mẫu từ 5.6% đến 5.9% nghĩa là khi hoạt động trong môi trường cạnh tranh hơn, ngân hàng giữ bộ đệm vốn cao hơn

Berger (2009) sử dụng mẫu dữ liệu gồm 8,235 ngân hàng tại 23 quốc gia phát triển Tác giả kiểm tra hai quan điểm này bằng cách hồi quy vốn chủ sở hữu ngân hàng, rủi ro cho vay, rủi ro tổng thể với vài cách khác nhau đo lường sức mạnh thị trường và các chỉ số môi trường kinh doanh Tác giả sử dụng 3 biến đại diện cho ổn định của ngân hàng bao gồm: thước đo rủi ro tổng thể của ngân hàng (Z-score), thước

đo rủi ro cho vay (tỷ lệ nợ xấu NPL) và tỷ lệ vốn (tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản) Tác giả sử dụng chỉ số Lerner, chỉ số HHI tiền gửi và tiền vay để lượng hóa mức độ cạnh tranh Kết quả cho thấy, phù hợp với quan điểm truyển thống ‘cạnh tranh-bất ổn”, mức độ cạnh tranh tăng, giá trị thương hiệu và sức mạnh thị trường càng giảm dẫn đến bất ổn tăng

Martinez-Miera and Repullo (2010) phân tích tác động khi gia tăng cạnh tranh đối với rủi ro về nguy cơ sụp đổ của ngân hàng trong điều kiện (i) ngân hàng đầu tư vào các khoản vay doanh nhân (entrepreneurial loans); (ii) xác suất vỡ nợ của các khoản vay này nội sinh; (iii) xác suất vỡ nợ các khoản vay có mối tương quan không hoàn hảo Bài nghiên cứu đưa ra hai hiệu ứng đối nghịch Hiệu ứng dịch chuyển rủi ro đưa ra bởi Boyd& De Nicolo (2005) theo (i) và (ii): Cạnh tranh càng nhiều lãi suất cho vay càng thấp dẫn đến xác suất vỡ nợ càng thấp Do đó, các ngân hàng càng phát triển an toàn và bền vững hơn Hiệu ứng ảnh hưởng biên theo (iii): Cạnh tranh nhiều hơn dẫn đến lãi suất cho vay thấp Do đó, doanh thu từ các khoản vay đạt chuẩn thấp Ngân hàng có đệm bảo toàn chống lại tổn thất cho vay, vì vậy các ngân hàng trở nên rủi ro hơn Kết luận bài nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu ứng dịch chuyển rủi ro có xu hướng chiếm ưu thế trong thị trường độc quyền trong khi hiệu

Trang 31

ứng ảnh hưởng biên chiếm ưu thế trong thị trường cạnh tranh nên xuất hiện mối quan

hệ phi tuyến hình chữ U

Soedarmono và c ộng sự (2011) nghiên cứu các ngân hàng ở 12 quốc gia

châu Á giai đoạn 2001-2007 có nguy cơ rủi ro đạo đức sau hậu quả cuộc khủng hoảng năm 1997 Bài nghiên cứu cho thấy ngành ngân hàng có sức mạnh thị trường cao có liên quan đến an toàn vốn Các ngân hàng có mức độ vốn hóa cao trong thị trường ít cạnh tranh không đủ khả năng đối phó với vấn đề rủi ro đạo đức dẫn đến rủi ro vỡ nợ càng trầm trọng Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ làm giảm bớt khẩu vị rủi

ro và bất ổn tăng cao trong điều kiện thị trường ít cạnh tranh hơn

Liu và c ộng sự (2013) kiểm tra tính ổn định của hệ thống ngân hàng bằng

cách sử dụng dữ liệu của 10 quốc gia châu Âu giai đoạn 2000-2008 Nghiên cứu chỉ

ra rằng tồn tại mối quan hệ phi tuyến hình chữ U ngược giữa cạnh tranh giữa các khu vực và ổn định nghĩa là mức độ cạnh tranh vừa phải dẫn đến ngân hàng lành mạnh hiệu quả hơn, cạnh tranh quá nhiều hoặc quá ít có thể tác động tiêu cực đến độ ổn định Nghiên cứu còn cho thấy các khu vực kinh tế khác nhau là nhân tố ảnh hưởng đến độ ổn định, cụ thể là sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực EU cả về phát triển kinh tế và cạnh tranh trong các lĩnh vực đóng vai trò xương sống ảnh hưởng đến sự

ổn định của hệ thống tài chính

Mohammed Amidu, Simon Wolfe (2013) tập trung kiểm tra xem liệu đa dạng hóa doanh thu có ảnh hưởng đến tương quan giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng Mẫu nghiên cứu gồm 978 ngân hàng ở 55 quốc gia mới nổi và đang phát triển giai đoạn 2000-2007 Tác giả lượng hóa ổn định ngân hàng bằng chỉ số Z-score đo lường rủi ro tổng thể, lợi nhuận điều chỉnh theo rủi ro đo lường khả năng sinh lời, chỉ

số nợ xấu đo lưởng rủi ro danh mục cho vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản để

đo lường mức độ vốn hóa Hồi quy 3SLS được sử dụng nhằm kiểm soát tính đồng thời, hiện tượng nội sinh và các tham số được ước lượng chính xác và nhất quán Bài nghiên cứu cho thấy cạnh tranh không những làm tăng sự ổn định do ngân hàng đưa

ra các quyết định đa dạng hóa danh mục đầu tư mà còn tăng cường hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Trang 32

Fu và c ộng sự (2013) phân tích sự đánh đổi giữa cạnh tranh và ổn định tài

chính từ 14 nền kinh tế châu Á Thái Bình Dương từ 2003-2010 bằng kỹ thuật ước lượng GMM với dữ liệu bảng không cân bằng gồm 4069 quan sát Chỉ số Z-score đại diện cho ổn định ngân hàng, tương quan dương của chỉ số Lerner cho thấy gia tăng cạnh tranh liên quan tiêu cực đến ổn định Điều này là do các ngân hàng lớn được bảo vệ tập trung cho vay trong các lĩnh vực ưu tiên Do người vay có quy mô “quá lớn để gặp thất bại” nên ngân hàng không xây dựng văn hóa tín dụng phù hợp hoặc xảy ra rủi ro đạo đức dẫn đến rủi ro nợ xấu gia tăng Quy mô ảnh hưởng tiêu cực đến

ổn định cho thấy ngân hàng lớn phải đối mặt rủi ro lớn hơn Trường hợp sử dụng xác suất phá sản làm biến phụ thuộc, chỉ số Lerner có tương quan âm cho thấy gia tăng cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng càng ổn định hơn Kết quả thực nghiệm của bài nghiên cứu hỗ trợ cho quan điểm trung lập về cạnh tranh nghĩa là cả hai quan điểm “cạnh tranh-ổn định” và “cạnh tranh-bất ổn” đồng thời áp dụng cho các nền kinh tế đang xem xét ở khu vực châu Á Thái Bình Dương

Otero L., và c ộng sự (2017) kiểm tra tác động của cạnh tranh đến rủi ro ở các

ngân hàng khu vực Trung Đông và một số quốc gia châu Phi (gọi tắt là MENA) Phần lớn các nghiên cứu trước đây đều tiến hành ở các nước phát triển nơi có mức độ cạnh tranh cao và đồng nhất Vì vậy, quan điểm cạnh tranh- ổn định thường chiếm ưu thế giải thích các thị trường này Tuy nhiên, qua bài nghiên cứu, tác giả rút ra kết luận hai quan điểm có thể tương thích tùy thuộc vào loại thị trường, tồn tại mối liên hệ hình chữ U giữa cạnh tranh và mức độ rủi ro ở các ngân hàng MENA Trong thị trường ít cạnh tranh, cạnh tranh gia tăng hỗ trợ hiệu ứng dịch chuyển rủi ro giúp cải thiện hiệu quả hoạt động và ổn định ngân hàng Ngược lại, tại các thị trường có mức

độ cạnh tranh cao cạnh tranh gia tăng tác động giá trị biên của lãi, không đủ bù đắp hiệu ứng dịch chuyển rủi ro làm rủi ro của ngân hàng tăng lên Vì vậy, đúng như dự đoán của tác giả, hai quan điểm cạnh tranh-ổn định và cạnh tranh-bất ổn có thể áp dụng đồng thời tại các ngân hàng MENA Ở các nước thuộc khu vực vùng Vịnh có mức độ cạnh tranh cao, gia tăng cạnh tranh làm gia tăng xác suất vỡ nợ nhưng đối với những vùng không thuộc vùng Vịnh có mức độ cạnh tranh thấp, khi gia tăng cạnh

Trang 33

tranh ảnh hưởng tích cực hiệu ứng dịch chuyển rủi ro, làm gia tăng hiệu quả và ổn định ngân hàng Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách tiền tệ nên sử dụng các biện pháp phù hợp tùy thuộc mức độ cạnh tranh trên thị trường để cải thiện ổn định tài chính Tăng cạnh tranh trong thị trường cạnh tranh cao có thể làm tăng rủi ro trong khi gia tăng cạnh tranh trong thị trường ít cạnh tranh lại là biện pháp hiệu quả

Noman và c ộng sự (2018) nghiên cứu đưa ra bằng chứng về mối quan hệ

của quy định ngân hàng, cạnh tranh và ổn định tài chính khu vực ASEAN-5 gồm 5 quốc gia Indonesia, Malaysia, the Philippines, Singapore và Thailand trong bối cảnh

thị trường mới nổi Dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn từ 1990-2014 nắm bắt việc bãi bỏ quy định và nỗ lực tái cấu trúc ở các quốc gia ASEAN-5 Để nắm bắt khung pháp lý, tác giả xây dựng các chỉ số yêu cầu về vốn, hạn chế hoạt động và giám sát chính thức Tác giả đo lường cạnh tranh bằng phương pháp Panzar Rosse (1987),

đo lường độ ổn định bằng chỉ số Z-score và tỷ lệ nợ xấu NPL Kỹ thuật ước lượng System GMM với các biến công cụ tự do tài chính và quyền sở hữu được áp dụng

để kiểm soát hiện tượng nội sinh Kết quả thu được cạnh tranh tác động tích cực đến

ổn định tài chính, yêu cầu về vốn và chỉ số giám sát chính thức tương quan cùng chiều với ổn định tài chính Chỉ số hạn chế hoạt động tác động tiêu cực ổn định tài

chính

Hien Thu Phan và c ộng sự (2019) nghiên cứu tác động qua lại giữa cạnh

tranh, hiệu quả và sự ổn định trong hệ thống ngân hàng của bốn quốc gia khu vực Đông Á (Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông và Việt Nam) trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến năm 2014 Kết quả hỗ trợ quan điểm cạnh tranh-bất ổn, tăng cạnh tranh

có thể dẫn đến giảm sự ổn định Tương tự, rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng và tập trung thị trường ảnh hưởng tích cực đến sự ổn định Ngược lại, các ngân hàng có rủi

ro thanh khoản cao và đa dạng hóa doanh thu có thể trở nên kém ổn định Phân tích cho thấy sự ổn định của ngành ngân hàng bị ảnh hưởng xấu bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu Chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng GDP đại diện các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng tác động đến sự ổn định ngân hàng

Trang 34

B ảng 2.2: Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm

Tác gi ả Phương pháp và mẫu nghiên

Nghiên cứu sử dụng mẫu quan

sát ngân hàng ở Mỹ giai đoạn

1970-1986 kiểm tra tác động của

cạnh tranh và ổn định thông qua

phương pháp ước lượng Pooled

OLS

(-) Phù hợp với quan điểm truyển thống ‘cạnh tranh-bất ổn” cạnh tranh làm suy yếu ổn định của hệ thống ngân hàng

của cạnh tranh đến ổn định trong

ngân hàng Xây dựng thước đo

lượng hóa mức độ cạnh tranh là

độ tập trung của năm ngân hàng

lớn, các biến kiểm soát gồm lạm

phát, khu vực địa lý trên thế giới,

Khi cạnh tranh tăng, các ngân hàng

có xu hướng nắm giữ tỷ lệ vốn cao hơn

(+) Kết quả chỉ ra rằng cho quan điểm cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng ổn định

Trang 35

Nghiên

c ứu của

Berger

(2009)

Phân tích tương quan giữa cạnh

tranh và ổn định của ngân hàng

trong mẫu 8235 ngân hàng ở 23

quốc gia phát triển bằng cách sử

dụng kỹ thuật ước lượng GMM

(-) Chỉ số Lerner tương quan cùng chiều với chỉ số Z-score, hỗ trợ quan điểm truyển thống ‘cạnh tranh-bất ổn”, ngân hàng càng có sức mạnh thị trường rủi ro tổng thể càng giảm (-) Quy mô ngân hàng, chỉ số Nợ vay/Tổng tài sản tương quan nghịch với chỉ số Z-score

tranh tới ổn định tại chính trong

mẫu 12 quốc gia châu Á giai

đoạn 2001-2007 thông qua

phương pháp ước lượng GMM

hiệu ứng cố định

(+) Ngân hàng có sức mạnh thị trường lớn dẫn đến bất ổn cao hơn

Phân tích tác động qua lại giữa

cạnh tranh và ổn định trong mẫu

gồm 21,899 quan sát của 2322

ngân hàng thuộc khu vực châu

Âu từ năm 2000 đến năm 2008

bằng ước lượng System GMM

(+) GDP bình quân đầu người và tỷ

lệ thất nghiệp đại diện các khu vực kinh tế khác nhau tương quan dương với ổn định các ngân hàng ở châu

Bài nghiên cứu phân tích tương

quan giữa cạnh tranh và ổn định

tài chính trong mẫu gồm 4069

quan sát từ 14 nền kinh tế châu

Á Thái Bình Dương từ

2003-(-) Hệ số Lerner dương khi biến phụ thuộc là chỉ số Z-score, âm khi biến phụ thuộc là xác suất phá sản hàm ý cạnh tranh có vị trí trung lập nghĩa là

cả hai quan điểm “cạnh tranh-ổn

Trang 36

2010 bằng kỹ thuật ước lượng

GMM

định” và “cạnh tranh-bất ổn” đồng thời áp dụng

(-) Quy mô tác động tiêu cực đến ổn định cho thấy ngân hàng lớn phải đối mặt rủi ro lớn hơn

(+) Quy định về rào cản gia nhập càng nghiêm ngặt càng tăng cường

978 ngân hàng ở 55 quốc gia mới

nổi và đang phát triển giai đoạn

2000-2007 bằng phương pháp

ước lượng 3SLS

(+) Cạnh tranh gia tăng tính ổn định khi đa dạng hóa trong hoạt động thu nhập lãi và phi lãi đều tăng

(+) Hệ số Lerner âm hàm ý gia tăng tác động của cạnh tranh mang xu hướng tích cực đến ổn định

(+) Chỉ số nợ vay/Tổng tài sản tác động cùng chiều với sự ổn định

Nghiên cứu dữ liệu của 356 ngân

hàng từ các quốc gia Trung

Đông Bắc Phi (MENA từ năm

định tài chính khu vực

ASEAN-5 gồm ASEAN-5 quốc khu vực Đông

Nam Á từ 1990-2014 thông qua

ước lượng Systems GMM

(+) Kết quả cạnh tranh tác động tích cực đến ổn định tài chính

(+) Yêu cầu về vốn và chỉ số giám sát chính thức tương quan cùng chiều với ổn định tài chính Chỉ số

Trang 37

Nghiên cứu ảnh hưởng qua lại

giữa cạnh tranh, hiệu quả và sự

ổn định trong hệ thống ngân

hàng của bốn quốc gia khu vực

Đông Á (Trung Quốc, Hồng

Kông, Malaysia và Việt Nam) từ

2004 đến 2014 bằng ước lượng

GMM 2 bước

(-) Hệ số Lerner dương hàm ý gia tăng cạnh tranh tác động tiêu cực làm giảm sự ổn định ngân hàng (+) Quy mô ngân hàng tác động tích cực đến độ ổn định

(+) Lạm phát là yếu tố tích cực quyết định sự ổn định ngân hàng Tăng trưởng GDP không có ý nghĩa thống kê

(Ngu ồn: Tổng hợp từ tác giả)

Trang 38

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô tả biến

 Bi ến phụ thuộc :

Zscoreit là chỉ số đo lường khả năng phá sản, phản ánh mức độ mà các

ngân hàng có thể hấp thụ khoản lỗ

Cách thức đo lường theo nghiên cứu của Boyd & Graham (1986),

Hannan & Hanweck (1988):

Z-score =𝑅𝑂𝐴+𝐸/𝑇𝐴

𝜎𝑅𝑂𝐴Trong đó ROA là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản; E/TA là tỷ lệ vốn chủ

sở hữu trên giá trị tổng tài sản; σ ROA là độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi

trên tổng tài sản

Chỉ số Z-score càng cao có nghĩa là ngân hàng càng ổn định và ít rủi ro

tổng thể hơn Chỉ số Z-score tăng khi khả năng sinh lời và mức độ vốn hóa

tăng, giảm khi lợi nhuận biến động nhiều (σROA tăng)

 Các bi ến giải thích bao gồm:

 Ch ỉ số cạnh tranh Lerner Index (Lerner): đại diện đo lường sức cạnh tranh

của các ngân hàng trong khoảng thời gian từ 2011 đến 2018 ở các quốc gia

Đông Nam Á, là chỉ số đại diện cho sức mạnh thị trường

Cách thức đo lường theo nghiên cứu của Abba Lerner (1934):

Trong đó Priceit là giá trị đầu ra được đo bằng tổng doanh thu trên tổng tài sản, và MCit là chi phí biên của ngân hàng

Chi phí biên MCit được tính dựa theo nghiên cứu của Berger và cộng

sự (2009) và Beck và cộng sự (2013) như sau:

+ Ước lượng hàm tổng chi phí:

Trang 39

lnCost it= β 0 + β 1 lnQit+𝜷𝟐

𝟐 ln Q

2 it+∑𝟑 𝜸𝒌𝒕𝒌=𝟏 ln Wk,it +∑𝟑 𝝓𝒌

 Quy mô ngân hàng (banksize): được đo bằng cách lấy logarit tự nhiên

 Quy ền pháp lý (Legalright): chỉ số Legal Rights có giá trị nằm trong

khoảng từ 1 đến 6, giá trị càng cao cho thấy mức độ sẵn có của các thông tin tín dụng, các quy tắc và thông lệ của các giao dịch đảm bảo tạo điều kiện cho các quyết định cho vay Chỉ số quyền pháp lý bao gồm 10 khía cạnh liên quan đến quyền pháp lý trong tài sản và 2 khía cạnh trong luật phá sản Dữ liệu thu thập trong khoảng thời gian từ 2011 tới 2018 ở các nước

Đông Nam Á

Trang 40

 Ch ỉ số giám sát (spvision): chỉ số Supervision là chỉ số giám sát cho thấy

các cơ quan giám sát có thẩm quyền thực thi các hành động, biện pháp để ngăn chặn, khắc phục các sự kiện hoặc nguy cơ xảy ra rủi ro Chỉ số rơi vào khoảng từ 0 đến 14, chỉ số càng cao biểu thị quyền lực giám sát càng lớn

 T ỷ lệ tăng trường kinh tế hàng năm (LogGDP): giá trị logarit của tỷ lệ tăng

trưởng kinh tế hàng năm được sử dụng làm biến kiểm soát môi trường kinh tế cho từng quốc gia Tỷ lệ GDP được lấy logarit nhằm kiểm soát sự khác biệt trong phát triển kinh tế ở các quốc gia

 Các bi ến công cụ bao gồm:

 H ạn chế hoạt động (Restr) là giới hạn mà chính quyền quốc gia cho

phép ngân hàng tham gia các hoạt động tạo ra thu nhập ngoài lãi như thị trường chứng khoán, bảo hiểm, hoạt động bất động sản Chỉ số này nằm trong khoảng từ 3 đến 12 Các hoạt động được phân nhóm gồm hoạt động không hạn chế, được phép, hạn chế và hoạt động bị cấm Giá trị chỉ số càng

cao cho thấy hạn chế đối với các hoạt động ngân hàng càng lớn

 T ự do ngân hàng (Freedom) là chỉ số mô tả môi trường tài chính của quốc

gia thể hiện độ mở của hệ thống ngân hàng, thường nằm trong khoảng từ 1 đến 10 Chỉ số càng cao hàm ý mức độ hoạt động tự do của các ngân hàng nước ngoài càng lớn Chỉ số cung cấp thông tin về việc các ngân hàng nước ngoài có được hoạt động tự do hay không, những khó khăn đối mặt khi thành lập ngân hàng trong

nước và ảnh hưởng của chính phủ trong việc phân bổ tín dụng

 T ỷ lệ sở hữu ngân hàng của chính phủ (Gov) ngân hàng thuộc sở hữu của

chính phủ khi nhà nước kiểm soát trên 50% cổ phần Tỷ lệ sở hữu ngân hàng thể hiện bởi biến giả, nhận giá trị 1 nếu ngân hàng thuộc sở hữu của chính phủ và bằng

0 nếu ngược lại

Các biến được sử dụng làm biến công cụ theo nghiên cứu của Schaeck and Cihak (2007) vì có tác động ngay lập tức đến cạnh tranh ngân hàng

Ngày đăng: 17/09/2020, 15:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w