Riêng ở Việt Nam, chủ đề về nghiên cứu mối liên hệ giữa giá trị tài sản cố định và đòn bẩy tài chính cũng như tác động của tài sản cố định đến kỳ hạn nợ chưa được các nhà nghiên cứu tiếp
Trang 1VƯƠNG THÀNH TÍN
Chuyên Ngành: Tài Chính – Ngân Hàng (Hướng Ứng Dụng)
Mã S ố: 8340201
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Người Cam Đoan
VƯƠNG THÀNH TÍN
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
M ỤC LỤC
M ỤC LỤC CÁC BẢNG
TÓM T ẮT
ABSTRACT
PH ẦN 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU 3
1.5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 4
PH ẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN 5
2.1 LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN 5
2.1.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (Mô hình MM) 5
2.1.2 Lý thuyết trật tự phân hạng 7
2.1.3 Lý thuyết đánh đổi 8
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN 10
2.3 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH XÂY DỰNG VIỆT NAM 16
2.3.1 Lịch sử phát triển ngành 16
2.3.2 Thị trường đầu vào của ngành xây dựng 17
2.3.3 Tình hình tài chính các doanh nghiệp lớn trong ngành xây dựng 19
2.3.4 Đặc điểm ngành xây dựng Việt Nam và đánh giá triển vọng 20
PH ẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 24
3.2 CÁC BIẾN SỐ VÀ MÔ HÌNH 24
3.3 DỮ LIỆU VÀ THỐNG KÊ MÔ TẢ 27
3.4 LỰA CHỌN MẪU PHỤ 32
Trang 44.2.1 Kết quả mô hình hồi quy Pooled OLS, Fixed Effect và Random Effect 39
4.2.2 Lựa chọn mô hình phù hợp và giải thích 41
4.2.3 Kiểm định mô hình 43
4.2.4 Kết quả nghiên cứu đối với các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng tại Việt Nam 46
PH ẦN 5: KẾT LUẬN 48
5.1 KẾT LUẬN 48
5.2 KHUYẾN NGHỊ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 49
5.3 HẠN CHẾ ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỞ RỘNG 49
TÀI LI ỆU THAM KHẢO
PH Ụ LỤC
Trang 5Bảng 3.1: Tóm tắt về các biến sử dụng và sự kỳ vọng về dấu 24 Bảng 3.2: Kết quả thống kê mô tả tổng quát dữ liệu trong bài nghiên cứu 29 Bảng 3.3: Số lượng công ty và số lượng ngành của dữ liệu thống kê 30
Bảng 3.3: Kết quả thống kê mô tả tổng quát dữ liệu ngành xây dựng 34
Bảng 4.2: Kết quả hồi quy theo mô hình Pooled OLS 39
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy theo mô hình Fixed Effect và Random Effect 40
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 43
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy Fixed Effect kèm sai số chuẩn White 45 Bảng 4.8: So sánh kết quả nghiên cứu giữa ngành xây dựng và toàn thị trường 46
Trang 6PGS.TS NGUY ỄN THỊ LIÊN HOA – HV VƯƠNG THÀNH TÍN
TÓM T ẮT
Bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị tài sản cố định và đòn bẩy tài chính, kỳ hạn nợ của 722 doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2013 đến 2018 Phân tích thực nghiệm bằng mô hình hồi quy Fixed Effect chỉ ra rằng có một mối tương quan cùng chiều giữa giá trị tài sản cố định
và hệ số đòn bẩy tài chính (được đo lường bằng nợ dài hạn trên tổng tài sản) Nghiên cứu còn khẳng định tồn tại mối quan hệ giữa giá trị tài sản cố định và kỳ hạn nợ (được
đo bằng nợ dài hạn trên tổng nợ phải trả) Kết quả cũng chỉ ra rằng, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của doanh nghiệp sẽ sụt giảm khi doanh nghiệp gia tăng nợ vay Những công ty thuộc ngành xây dựng có mối quan hệ giữa giá trị tài sản cố định và hệ số đòn bẩy tài chính cao hơn khi so sánh với trung bình toàn thị trường Việt Nam
Từ khóa: giá trị tài sản cố định, cơ cấu nợ, kỳ hạn nợ, đòn bẩy tài chính, tỷ suất lợi
nhu ận trên tài sản
Trang 7NGUY ỄN THỊ LIÊN HOA – VƯƠNG THÀNH TÍN
ABSTRACT
This study was conducted to examine the relationship between leverage, debt maturity structure and asset tangibility in the envidence from Vietnam market By using companies' data listed on the Vietnam Stock Exchange with the time used from
2013 to 2018 and the research method was implemented through Fixed Effect regression model Our empirical analysis in Viet Nam shows that there is a positive linkage between fixed asset and financial leverage (fixed assets as a portion of total assets) This also applies to the relationship between tangibility and debt maturity structure (measured as long-term debt on total debt) Furthermore, the results also show that the company's return on total asset decreases as businesses increase debt
In addition, the research confirms the relationship between fixed asset and financial leverage ratio in Construction & Engineering industry is stronger than the whole VietNam market
Keywords: Asset tangibility, debt maturity, debt structure, leverage, return on total
asset
Trang 8PH ẦN 1: GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu bị lệ thuộc nguồn cung tín dụng
từ các Ngân hàng thương mại cổ phần thì việc có một tài sản thế chấp tốt là một trong nhưng phương pháp để có thể dễ dàng tiếp cận nguồn cung vốn này do hầu hết các Ngân hàng đều không ưa thích việc cho vay không bảo đảm bằng tài sản đảm bảo
Sử dụng đòn bẩy tài chính là con dao hai lưỡi đã được nhắc đến rất nhiều trong các
lý thuyết về tài chính Nếu được sử dụng đúng đắn và hiệu quả, đòn bẩy tài chính sẽ thúc đẩy quá trình sinh lợi tài sản mạnh mẽ
Dựa trên cơ sở thông qua quá trình làm việc thực tế tại Ngân hàng, tác giả đưa ra nhận định như sau: Khi các tài sản thế chấp có tính an toàn cao thì Ngân hàng thương mại dễ chấp nhận cung ứng tín dụng hơn và do đó việc tiếp cận vốn vay của doanh nghiệp được thuận lợi hơn Cùng với việc dễ dàng gia tăng nợ vay, các công ty sẽ gia tăng chi đầu tư vào các dự án, tài sản cố định và bổ sung vốn lưu động thông qua đầu
tư vào các loại tài sản Khi giá trị tài sản cố định của một doanh nghiệp càng lớn thì
việc dùng các tài sản cố định này để thế chấp tại các Ngân hàng nhằm tăng vốn vay càng thuận lợi hơn Hay nói một cách khác, trong một môi trường có thông tin bất cân xứng cao, sự sẵn sàng cung ứng vốn của các tổ chức tín dụng phụ thuộc vào khả năng “xử lý tài sản thế chấp” và do đó cũng ảnh hưởng đến nguồn cung ứng tín dụng cho việc đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp Việc này dễ dàng được nhận ra bằng trực giác, tuy nhiên chưa có một kiểm chứng nào cụ thể tại thị trường Việt Nam
về mối liên hệ này
Các nghiên cứu trước đây tập trung nghiên cứu đến nhiều khía cạnh về cấu trúc vốn, đòn bẩy tài chính và kết quả nghiên cứu tồn tại nhiều bằng chứng trái chiều về chủ
đề này Riêng ở Việt Nam, chủ đề về nghiên cứu mối liên hệ giữa giá trị tài sản cố định và đòn bẩy tài chính cũng như tác động của tài sản cố định đến kỳ hạn nợ chưa được các nhà nghiên cứu tiếp cận khai thác
Trang 9Ngoài ra, trong thời gian gần đây thị trường ngành xây dựng, bất động sản là một trong những ngành đóng góp lớn vào GDP và cũng là điểm được dư luận quan tâm nổi bật tại Việt Nam Trong bối cảnh trên, bài viết được thực hiện nhằm mục tiêu
nghiên c ứu mối quan hệ giữa giá trị tài sản cố định và đòn bẩy tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam, sau đó tìm hiểu chuyên sâu của mối quan hệ nêu trên đối
với các công ty thuộc ngành xây dựng ở Việt Nam
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này, bài viết tập trung chủ yếu tìm ra sự ảnh hưởng của giá trị tài sản cố định đến đòn bẩy tài chính của các Công ty Việt Nam Kết quả của nghiên cứu
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà quản trị công ty trong việc hoạch định chính sách tài chính phù hợp cũng như cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm tại thị trường Việt Nam Ngoài ra, bài nghiên cứu tìm hiểu chi tiết hơn về sự tác động này trong các công ty thuộc ngành xây dựng và một số yếu tố tài chính liên quan khác như tỷ suất sinh lợi trên tài sản, kỳ hạn nợ Kết quả của bài nghiên cứu có thể được dùng để giải thích cho một số câu hỏi còn tồn đọng của các nhà nghiên cứu và trong việc hoạch định chính sách nợ vay của công ty Bài nghiên cứu tập trung vào hai câu hỏi nghiên cứu chính yếu như sau:
Câu h ỏi nghiên cứu 01: Tồn tại sự ảnh hưởng của giá trị tài sản cố định đến đòn bẩy
tài chính trong các doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam hay không? Sự tác động này
về chiều và độ lớn như thế nào?
Câu h ỏi nghiên cứu 02: Điểm khác biệt trong sự tác động của giá trị tài sản cố định
đến đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng Việt Nam so với toàn thị trường?
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy Pooled OLS, Fixed Effect và Random Effect để đánh giá sự ảnh hưởng trong mối liên hệ giữa đòn bẩy tài chính, kỳ hạn nợ và giá trị tài sản cố định Phạm vi nghiên cứu của đề tài nằm
Trang 10trong giới hạn là 722 công ty đã được niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE, HNX
và UPCOM thuộc giai đoạn nghiên cứu từ năm 2013 – 2018 Ngoài ra, dữ liệu nghiên cứu được lọc ra 125 doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng đã được niêm yết trên sàn chứng khoán với thời gian nghiên cứu tương tự như đối với toàn bộ thị trường Việt Nam để xem xét, đánh giá và tìm hiểu chi tiết ngành này trong mối liên hệ giữa giá trị tài sản cố định và đòn bẩy tài chính
1.4 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU
Quyết định tài trợ của một doanh nghiệp luôn là chủ đề được các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng như trên toàn thế giới tìm hiểu và quan tâm đến Ở Việt Nam, tín dụng từ ngân hàng thương mại là nguồn được tài trợ phổ biến và rộng rãi nhất Quyết định cấp tín dụng của ngân hàng thương mại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có tài sản bảo đảm Bài nghiên cứu cung cấp một số ý nghĩa thực tiễn để áp dụng trong thực
tế hoạch định chính sách nợ vay của doanh nghiệp và đồng thời có ý nghĩa khoa học ứng dụng trong nghiên cứu:
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp hiểu rõ sự tác động giữa giá trị tài sản
cố định đến cấu trúc vốn, đòn bẩy tài chính trong một doanh nghiệp Từ đó giúp các nhà quản trị công ty sẽ có những lựa chọn cấu trúc vốn phù hợp nhất và tối ưu nhất trong doanh nghiệp mình đang quản lý
Kết quả nghiên cứu còn quan tâm đến các doanh nghiệp ngành xây dựng, tìm hiểu và
so sánh ngành xây dựng với toàn thị trường để đưa ra các nhận xét cần thiết cho ngành xây dựng Việt Nam khi lựa chọn về đòn bẩy tài chính hay cấu trúc vốn
Ý nghĩa khoa học: Đề xuất phương pháp đánh giá và đo lường sự tác động của giá
trị tải sản cố định và đòn bẩy tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam
Cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ này tại ngành xây dựng và của toàn bộ thị trường Việt Nam
Trang 11Ph ần 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Phần này, bài luận văn trình bày về khung lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu, các mô hình và kết quả nghiên cứu liên quan đến tài sản cố định, đòn bẩy tài chính; Trình bày tổng quan về ngành xây dựng tại thị trường Việt Nam
Ph ần 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày về phương pháp nghiên cứu, tiến trình nghiên cứu bài luận văn, trình bày tổng quát về dữ liệu được sử dụng, các mô hình và phương pháp hồi quy được áp
dụng trong bài viết
Ph ần 4: Kết quả nghiên cứu
Phân tích, lựa chọn và bàn luận kết quả của mô hình hồi quy được sử dụng trong bài nghiên cứu
Ph ần 5: Kết Luận
Trong phần này, bài nghiên cứu đưa ra các kết luận về kết quả nghiên cứu tại phần 4, nêu một số hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu mở rộng cũng như đưa ra các hàm
ý chính sách
Trang 12PH ẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN
2.1 LÝ THUY ẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN
Trên thế giới, có rất nhiều lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn trong đó nỗi bật nhất
từ lý thuyết của MM và một số lý thuyết được phát triển sau này Để có thể nắm rõ một số lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn và nợ vay, bài viết tóm tắt lại ba lý thuyết nổi bật như sau:
2.1.1 Lý thuy ết về cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (Mô hình MM)
Cấu trúc vốn đã trở thành một đề tài nghiên cứu thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà kinh tế kể từ khi Modigliani và Miller (1958) giới thiệu về lý thuyết cấu trúc vốn không tác động đến giá trị doanh nghiệp Lý thuyết tài chính hiện đại ngày nay khởi đầu từ lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (1958) Trước đó, chưa một lý thuyết về cấu trúc vốn nào được công nhận rộng rãi như vậy MM bắt đầu lý thuyết của mình với giả định rằng dòng tiền dự kiến của doanh nghiệp được xác định trước Khi doanh nghiệp lựa chọn một tỷ lệ nợ và vốn cổ phần nào đó có nghĩa là doanh nghiệp sẽ phân chia dòng tiền của mình cho các nhà đầu tư theo phương án tài trợ đã chọn Các nhà đầu tư và doanh nghiệp được giả định có thể tiếp cận với các nguồn tài trợ dễ dàng như nhau, từ đó cho phép nhà đầu tư cá nhân tự tạo đòn bẩy tài chính cho mình Khi nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đòn bẩy nhưng không tìm được nguồn cung, họ có thể tự tạo đòn bẩy; ngược lại, nhà đầu tư có thể tự loại
bỏ đòn bẩy tài chính trong trường hợp họ không muốn sử dụng đòn bẩy nhưng cấu trúc vốn của doanh nghiệp lại có nợ vay Từ đó đưa đến kết quả là đòn bẩy tài chính không tác động đến giá trị thị trường của doanh nghiệp
Trong “Định đề I” của MM chỉ ra rằng giá trị thị trường của bất cứ một doanh nghiệp nào điều độc lập với cấu trúc vốn của doanh nghiệp với các giả định về thị trường tài chính hoàn hảo và các điều kiện lý tưởng khác như việc mua bán chứng khoán song hành, không có thuế và chi phí giao dịch, tồn tại quy luật bảo tồn giá trị Một doanh
Trang 13nghiệp không thể thay đổi tổng giá trị các chứng khoán của mình bằng cách phân chia các dòng tiền thành các dòng khác nhau: giá trị của doanh nghiệp được xác định bằng các tài sản thực, chứ không phải bằng các chứng khoán mà doanh nghiệp phát hành Như vậy, cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp khi các quyết định đầu tư hoàn toàn tách rời với các quyết định tài trợ
Trong “Định đề II” của MM chỉ ra Nợ có tác động đến thu nhập của chủ sở hữu và tác động này có tính hai mặt thuận lợi và bất lợi Nếu công ty hoạt động có lãi và thừa khả năng thanh toán lãi vay thì việc sử dụng nợ sẽ có lợi Nợ sẽ đóng vai trò đòn bẩy tài chính làm khuếch đại thu nhập cho chủ sở hữu Nhưng nếu doanh nghiệp không bảo đảm được điều kiện trên thì việc sử dụng nợ sẽ bất lợi Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nhà đầu tư cá nhân có thể cho vay và đi vay với cùng các điều kiện, cùng lãi suất với doanh nghiệp nên nhà đầu tư cá nhân có thể sử dụng đòn bẩy tài chính tự tạo để tạo ra thu nhập đúng bằng với thu nhập mà nhà đầu tư nhận được khi đầu tư vào doanh nghiệp có sử dụng đòn bẩy tài chính Tức là nhà đầu tư cá nhân
có thể làm được điều mà các doanh nghiệp vay nợ làm nên nhà đầu tư sẽ không có bất cứ tác động tính hiệu nào đến việc doanh nghiệp sử dụng nợ hay không sử dụng
nợ Như vậy, trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tồn tại quy luật bảo tồn giá trị và mua bán chứng khoán dưới hình thức mua bán song hành, Nợ không tác động đến giá trị doanh nghiệp nhưng có tác động đến thu nhập của chủ sở hữu và tác động này là có tính rủi ro
“Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp Theo MM, với thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp
lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển được chuyển cho các nhà đầu tư theo phương trình: Vg = Vu + T.D: giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ (Vg) bằng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ (Vg) cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ
Trang 14Trong đó, D là tổng số nợ sử dụng, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, T.D là khoản lợi từ việc sử dụng nợ” (tấm chắn thuế)
Để bảo vệ lý thuyết này, một lập luận phổ biến thường được nêu lên rằng: “Lý thuyết của MM không mô tả được cách các doanh nghiệp lựa chọn phương án tài trợ trong thực tế, tuy nhiên lý thuyết này chỉ cho chúng ta cách để tìm ra nguyên nhân vì sao chính sách tài trợ có tác động lên giá trị doanh nghiệp.” Lập luận này là một sự diễn giải hợp lý cho hầu hết các lý thuyết về tài chính doanh nghiệp Điều này đã tác động lên giai đoạn phát triển đầu của lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đánh đổi Trong thực tế, đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp tác động và ảnh hưởng rất lớn đối với thu nhập cho công ty Lựa chọn một cấu trúc vốn tối ưu là một trong những công việc của các nhà quản trị công ty Tuy nhiên, để có một đòn bẩy tài chính phù hợp thì khả năng tiếp cận được nguồn cung tín dụng là một điều hết sức quan trọng đối với các nhà quản trị Đề tài nghiên cứu sự tác động của giá trị tài sản cố định lên đòn bẩy tài chính, kỳ hạn nợ của doanh nghiệp là một trong những yếu tố tác động đến nguồn cung tín dụng cho doanh nghiệp
2.1.2 Lý thuy ết trật tự phân hạng
Theo trường phái này thì cấu trúc vốn có tác động đến giá trị của doanh nghiệp Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng không có một cấu trúc vốn tối ưu cụ thể, nhưng thay vào đó lý thuyết này khẳng định rằng doanh nghiệp ưu tiên tài trợ nội bộ (từ thu nhập giữ lại hoặc tài sản dễ hoán chuyển) hơn tài trợ từ bên ngoài Nếu các nguồn nội bộ không đủ tài trợ cho các cơ hội đầu tư, doanh nghiệp có thể xem xét tài trợ từ bên ngoài, nếu vậy sẽ lựa chọn giữa các nguồn tài trợ bên ngoài khác nhau nhằm tối thiểu hóa các chi phí phát sinh thêm do bất cân xứng thông tin
Lý thuyết này ưu tiên khi ra các quyết định tài trợ lần lượt như sau:
Lợi nhuận giữ lại
Vay nợ
Phát hành cổ phần mới
Trang 15Mục tiêu của việc sử dụng các nguồn tài trợ theo thứ tự này là để tối thiểu hóa chi phí bất cân xứng thông tin và các chi phí khác (chi phí giao dịch, chi phí phát hành, chi phí đại diện…) Do ảnh hưởng của tình trạng bất cân xứng thông tin của các cổ đông bên trong và các cổ đông bên ngoài doanh nghiệp, giữa cổ đông với các nhà quản lý nên các Nhà đầu tư sẽ có đánh giá khác nhau về các thông tin từ nhà quản lý doanh nghiệp truyền ra bên ngoài Từ đó, doanh nghiệp phải tốn thêm chi phí để thu hút nguồn tài trợ từ các nhà đầu tư bên ngoài Theo trường phái trật tự phân hạng khi ra quyết định tài trợ nên được ưu tiên số một là nguồn tài trợ nội bộ đến từ lợi nhuận giữ lại và chi phí sử dụng vốn từ nguồn nội bộ nhỏ hơn chi phí sử dụng vốn bên ngoài, đồng thời chi phí sử dụng vốn từ nợ vay nhỏ hơn từ chi phí bằng phát hành vốn cổ phần mới
2.1.3 Lý thuy ết đánh đổi
Cụm từ lý thuyết đánh đổi được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu khác nhau để mô tả một nhóm lý thuyết có liên quan Trong các lý thuyết này, người ra quyết định phải đánh giá nhiều khoản chi phí và lợi ích từ các phương án vay nợ Thông thường, quyết định được đưa ra sao cho chi phí biên bằng với lợi ích biên
Phiên bản gốc của lý thuyết đánh đổi phát sinh từ tranh luận dựa trên lý thuyết của
MM Khi yếu tố thuế thu nhập doanh nghiệp được đưa thêm vào lý thuyết gốc của
MM, việc vay nợ sẽ đem đến cho doanh nghiệp một lợi ích đó là giá trị từ tấm chắn thuế Do hàm mục tiêu của doanh nghiệp là tuyến tính và không có phần bù cho chi phí sử dụng nợ, việc xuất hiện yếu tố thuế ngụ ý rằng doanh nghiệp nên tài trợ toàn
bộ bằng nợ vay
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh xác nhận rằng doanh nghiệp có thể đạt cấu trúc vốn tối ưu thông qua việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích từ việc sử dụng nợ và vốn
cổ phần Một trong những lợi ích của sử dụng nợ là tấm chắn thuế Một trong những
bất lợi của nợ là chi phí kiệt quệ tài chính, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp sử
Trang 16dụng quá nhiều nợ Điều này đưa đến sự đánh đổi giữa lợi ích từ tấm chắn thuế và sự bất lợi từ rủi ro kiệt quệ tài chính Nhưng còn có nhiều khoản chi phí và lợi ích khác liên quan đến vấn đề sử dụng nợ và vốn cổ phần Một trong những khoản chi phí quan trọng là chi phí đại diện Chi phí đại diện xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích giữa các nhà đầu tư của doanh nghiệp và cũng từ sự bất cân xứng thông tin Do đó, việc đưa chi phí đại diện vào lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh có nghĩa rằng doanh nghiệp sẽ quyết định cấu trúc vốn qua việc đánh đổi lợi ích từ tấm chắn thuế với chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí đại diện Nhiều yếu tố khác đã được xem xét trong lý thuyết đánh đổi, nhưng để bàn luận về tất cả thì cần phải có một phạm vi nghiên cứu rộng hơn Do đó chỉ dừng lại với khẳng định rằng lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh đưa
ra một dự báo quan trọng, đó là doanh nghiệp sẽ hướng cấu trúc vốn của mình về cấu trúc mục tiêu, nghĩa là khi tỷ lệ nợ chệch khỏi mức tối ưu, doanh nghiệp sẽ điều chỉnh hành vi tài trợ của mình để đưa tỷ lệ nợ trở lại mức tối ưu
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn động
Việc xây dựng các mô hình có tính toán đến vai trò của thời gian đòi hỏi chúng ta phải làm rõ một số khía cạnh thường bị bỏ qua trong mô hình đơn thời kỳ, trong đó
những yếu tố quan trọng điển hình là vai trò của sự kỳ vọng và chi phí điều chỉnh Trong mô hình động, một quyết định tài trợ đúng đắn phụ thuộc vào mức tài trợ biên
mà doanh nghiệp dự đoán trong giai đoạn kế tiếp Một số doanh nghiệp dự kiến sẽ chi tiêu trong giai đoạn kế tiếp, một số khác lại dự kiến sẽ gia tăng quỹ Nếu các quỹ của doanh nghiệp được dự kiến sẽ tăng, chúng có thể được tài trợ từ nợ hoặc vốn cổ phần Thông thường thì một doanh nghiệp sẽ chấp nhận một kết hợp của các loại hành vi trên
Như vậy, qua ba lý thuyết về cấu trúc vốn nêu trên, có nhiều sự tranh luận liên quan đến cấu trúc vốn, đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Như MM (1958) cho rằng nợ vay không tác động đến giá trị công ty, sau đó thì đưa yếu tố thuế vào thì ông lại cho rằng nợ có ảnh hưởng đến lợi ích cho chủ sở hữu Các lý thuyết đánh đổi và lý thuyết
trật tự phân hạng đều cho rằng nợ có tác động, sự tác động này là hai chiều đến giá
Trang 17trị doanh nghiệp Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến về cấu trúc vốn và đòn bẩy tài chính luôn được quan tâm bởi các nhà nghiên cứu từ sau kết luận của MM Trong bài viết này, tác giả nghiên cứu sự tác động giữa giá trị tài sản cố định và đòn bẩy tài chính nhằm mở rộng và cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về các lý thuyết được giả định trong các điều kiện hoàn hảo nêu trên
2.2 CÁC NGHIÊN C ỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN
Các công ty trách nhiệm hữu hạn thường phải đối mặt với nhiều ràng buộc hơn trong quan hệ vay mượn tại các tổ chức tín dụng hơn là so với các công ty đã phát hành cổ phần ra công chúng Như chúng ta được biết, có rất ít các nghiên cứu về quy tắc, quy định của tài sản thế chấp (như khả năng chuyển nhượng đất và tài sản gắn liền trên đất) ảnh hưởng như thế nào đến mối liên kết giữa đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
và giá trị của tài sản cố định Các nội dung phân tích trong bài viết này liên quan đến một số tài liệu hiện có về tài sản thế chấp, tài sản cố định, đòn bẩy tài chính, giới hạn tài chính và yếu tố pháp lý khác liên quan
B ảng 2.1: Tóm tắt kết quả của một số tác giả nghiên cứu liên quan
Tác gi ả N ội dung
nghiên c ứu
Qu ốc gia
và th ời gian
Phương pháp K ết quả liên quan
Shleifer và
Vishny
(1992)
Nghiên cứu về tính thanh khoản của tài sản và khả năng vay mượn
Giai đoạn
1980 ở các Công ty
Mỹ
Dựa trên
mô hình của Stulz và Hart và tác giả tự xây dựng
Các tài sản cố định mang tính chất ít đặc thù của Công ty hơn cho phép doanh nghiệp có khả năng vay mượn cao hơn
Trang 18sự đầu tư
Tác giả tự xây và dựa trên mô hình của Hart và Moore (1994)
Sử dụng các
hệ số tài chính để xác định, OLS, GLM
Đầu tư và sự nhảy cảm của dòng tiền tăng lên khi gia tăng tài sản cố định ở các công ty bị giới hạn về tài chính và công ty
có nhiều tài sản cố định thì ít có khả năng
bị hạn chế về tài chính
Hall và
Joergensen
(2008)
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền của chủ nợ và đòn bẩy tài chính
Các công
ty vừa và nhỏ (SME) tại 14 quốc gia chuyển đổi
Pooled OLS, TOBIT và GLM
Nợ dài hạn (được sử dụng làm thước đo cho đòn bẩy tài chính) có liên quan tích cực đến giá trị các tài sản cố định của doanh nghiệp Valeriy
Sibilkov
(2009)
Tính thanh khoản của tài sản và cấu trúc vốn trong doanh nghiệp
Các công
ty đại chúng của
Mỹ giai đoạn 1982
- 2005
OLS, Fixed Effect
Tồn tại mối liên hệ giữa tính thanh khoản của tài sản và các khoản vay của doanh nghiệp có tài sản bảo đảm, đồng thời mối quan hệ này trở nên
rõ ràng hơn đối với các khoản vay không tài sản bảo đảm
Trang 19Sự kiện năm 1990 tới năm
1991, 1992
OLS, Fixed Effect
Tồn tại có một mối liên quan giữa tài sản
cố định và cấu trúc vốn của doanh nghiệp
và tính thanh khoản của tài sản là yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung tín dụng
Thomas Hall
(2012)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và tài sản
cố định trong điều kiện giới hạn về tài chính
Doanh nghiệp thuộc 11 quốc gia trung và đông Châu
Âu
OLS, Fixed Effect, Random Effect, GMM
Tồn tại mối quan hệ giữa tài sản cố định
và đòn bẩy tài chính của các công ty thuộc
dữ liệu nghiên cứu và mối quan hệ này càng trở nên mạnh hơn ở nhóm công ty ở quốc gia không bị giới hạn
về khả năng chuyển nhượng đất
Tại sao tài sản thế chấp được tồn tại? Tài sản thế chấp giúp chủ nợ xác định được rủi
ro thực sự của người đi vay Ở khía cạnh khác, khi sự phá sản của người đi vay xảy
ra hay việc không tuân thủ các điều kiện tín dụng trong các hợp đồng tín dụng thì chủ
nợ có thể thu hồi nợ bằng cách xử lý các tài sản thế chấp Các tài sản cố định mang tính chất ít đặc thù của Công ty hơn cho phép doanh nghiệp có khả năng vay mượn cao hơn vì chúng dễ chuyển nhượng hơn trong bài viết nghiên cứu về tính thanh khoản của tài sản và khả năng vay mượn của Shleifer và Vishny (1992)
Trang 20Almeida, H and M Campello (2007) đã tìm ra mối liên hệ giữa sự giới hạn tài chính, tài sản cố định và đầu tư của doanh nghiệp Bài nghiên cứu này đã tìm ra mối tương quan giữa quyết định đầu tư của doanh nghiệp với các giới hạn tài chính thông qua hệ số tín dụng để xác định Các hệ số tín dụng này chỉ ra rằng mối quan hệ giữa đầu tư và sự nhảy cảm của dòng tiền tăng lên khi gia tăng tài sản cố định ở các công
ty bị giới hạn về tài chính Hơn nữa, công ty có nhiều tài sản cố định thì ít có khả năng bị hạn chế về tài chính
Trong nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ các công ty vừa và nhỏ (SME) tại 14 quốc gia chuyển đổi, Hall và Joergensen (2008) nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền của
chủ nợ và đòn bẩy tài chính của các công ty với mô hình thực nghiệm nêu trên Kết quả hồi quy trong nghiên cứu chỉ ra rằng nợ dài hạn (được sử dụng làm thước đo cho đòn bẩy tài chính) có liên quan tích cực đến giá trị các tài sản cố định của doanh nghiệp Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Pooled OLS, TOBIT và GLM đều chỉ ra kết quả các doanh nghiệp chưa được niêm yết ở các thị trường mới nổi có mối tương quan dương giữa quyền của chủ nợ và đòn bẩy tài chính cũng như kỳ hạn nợ
Valeriy Sibilkov (2009) nghiên cứu tính thanh khoản của tài sản và cấu trúc vốn trong doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ giữa tính thanh khoản của tài sản và các khoản vay của doanh nghiệp có tài sản bảo đảm, đồng thời mối quan
hệ này trở nên rõ ràng hơn đối với các khoản vay không tài sản bảo đảm Ngoài ra, nghiên cứu này còn chỉ ra kết quả phù hợp đối với giả thuyết cho rằng chi phí quản
lý doanh nghiệp tăng lên theo tính thanh khoản của các tài sản
Campello, M and Giambona, E (2012) cũng nghiên cứu về tài sản và cấu trúc vốn của doanh nghiệp bằng cách khai thác trong khía cạnh của giá trị các tài sản cố định Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có một mối liên quan giữa tài sản cố định và cấu trúc vốn của doanh nghiệp Bằng cách phân biệt các tài sản khác nhau trong danh mục tài sản ở bảng cân đối kế toán (như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, đất đai…) Campello, M and Giambona, E (2012) chỉ ra tính thanh khoản của tài sản
Trang 21là yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung tín dụng và đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế bị thắt chặt
Bài viết tham khảo chủ yếu ba mô hình hồi quy để đưa ra mô hình riêng biệt áp dụng cho thị trường Việt Nam, chi tiết như sau:
Mô hình c ủa Hall và Joergensen (2008)
Nghiên cứu này đo lường tác động của quyền chủ nợ và nợ vay doanh nghiệp thông qua mô hình sau:
(LTD/TA)i,j,t = +β1TANGi,j,t+ β2ROAi,j,t + β3EFFTAXi,j,t + β4LNTAi,j,t + β5LNPCGDPi,t + β6M2/GDPi,t + β7GROWTHi,t + β8ASSETSPECi,j,t + β9RULELAWi + β10DELTAEMCREDi,t-1 + ε
Trong đó, thước đo nợ dài hạn (LTD) được sử dụng để phản ánh cho đòn bẩy tài chính, các thước đo cho quyền của chủ nợ phản ánh qua biến độc lập RULELAW được dựa trên nghiên cứu của chuyên gia trong cuộc khảo sát đăng trên tạp chí
“Central and Eastern Europe Economic Review” năm 1998
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Pooled OLS, TOBIT và GLM, kết quả nghiên cứu đều chỉ ra các doanh nghiệp chưa được niêm yết ở các thị trường mới nổi
có mối tương quan dương giữa quyền của chủ nợ và đòn bẩy tài chính cũng như kỳ hạn nợ Hầu hết biến độc lập về giá trị tài sản cố định (TANG) điều xuất hiện trong các nghiên cứu tiên phong của của tác giả Thomas Hall
Mô hình c ủa Thomas Hall (2012)
Trong bài viết nghiên cứu giữa mối quan hệ giữa tài sản cố định và đòn bẩy tài chính trong hai nhóm quốc gia bị giới hạn về khả năng chuyển nhượng đất và quốc gia không bị giới hạn về khả năng chuyển nhượng đất, Thomas Hall (2012) đã sử dụng
mô hình nghiên cứu sau:
(LTD/TA)j,i,t = +β1TANG j,i,t + β2ROAj,i,t + β3EFFTAXj,i,t + β4LNTAj,i,t + β5LNPCGDPj,i,t + β6M2/GDPj,i,t + β7GROWTHj,i,t + ε
Trang 22Bài viết đã sử dụng mô hình trên áp dụng cho hơn mười nghìn công ty từ các thị trường khác nhau thuộc 11 quốc gia Kết quả thực nghiệm chỉ ra tồn tại mối quan hệ giữa tài sản cố định và đòn bẩy tài chính của các công ty thuộc dữ liệu nghiên cứu và mối quan hệ này càng trở nên mạnh hơn ở nhóm công ty ở quốc gia không bị giới hạn về khả năng chuyển nhượng đất
Mô hình c ủa Campello, M and Giambona, E (2012)
Trong nghiên cứu về tài sản thực và cấu trúc vốn, Campello, M and Giambona, E (2012) đã phát triển kết quả từ các nghiên cứu trong giai đoạn năm 1984 -1996 và giai đoạn rộng hơn năm 1971 – 2006 như sau:
Leveragei,t = c +Overalltangibility +βXi,t + ∑ FirmI + ∑ Yeart + εi,t
Từ mô hình trên, tác giả đã mở rộng phân tích chi tiết các loại tài sản cố định như bất động sản, máy móc thiết bị và tài sản cố định khác trong bài nghiên cứu thông qua
mô hình hồi quy Pooled OLS:
Leveragei,t = c +1Land&Buildingi,t 2Machinery&Equipmenti,t + 1OtherTangiblei,t+ βXi,t + ∑ FirmI + ∑ Yeart + εi,t
Trong đó, đòn bẩy tài chính được đo lường lấy tổng nợ chia tổng tài sản, biến X nêu trên được mô tả là các biến điều khiển như tổng tài sản, sản lượng và lợi nhuận Bài Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa đòn bẩy tài chính
và giá trị tài sản cố định Với tài sản cố định là đất và tài sản gắn liền trên đất thì mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập có mối tương quan mật thiết nhất Như vậy, tham khảo từ các mô hình trên bài viết sử dụng biến đòn bẩy tài chính làm
biến phụ thuộc và được đo lường thông qua giá trị của nợ dài hạn chia cho tổng tài sản Biến độc về giá trị tài sản cố định được lầy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Xét thấy, mô hình của Thomas Hall (2012) là phù hợp và các biến sẽ dễ dàng thu thập được dữ liệu tại Việt Nam nên bài viết giữ nguyên mô hình này của tác giả
để áp dụng cho thị trường Việt Nam
Trang 232.3 T ỔNG QUAN VỀ NGÀNH XÂY DỰNG VIỆT NAM
Như đã nêu ở phần lý do lựa chọn đề tài, bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị tài sản cố định và đòn bẩy tài chính của các công ty ở Việt Nam Nghiên cứu đánh giá riêng mối quan hệ nêu trên đối với ngành xây dựng do đây là ngành có số lượng công ty nhiều nhất (125 công ty) trong dữ liệu 722 công ty được nghiên cứu Ngành xây dựng có mối quan hệ mật thiết đến thị trường bất động sản ở Việt Nam – Thị trường đang được quan tâm với các luồng dư luận khác nhau hiện nay Lĩnh vực kinh doanh bất động sản thường gắn liền với tốc độ phát triển của ngành xây dựng Các công ty trong ngành xây dựng thường phải đầu tư khá lớn về giá trị tài sản cố định nhằm phục vụ nhu cầu hoạt động chuyên biệt của mình, mà việc đầu tư này thường sử dụng nguồn cung ứng vốn từ Ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp đến đòn bẩy tài chính của các công ty này
2.3.1 L ịch sử phát triển ngành
Ngày 29-4-1958, theo Nghị quyết của kì họp thứ VIII Quốc hội khoá I do Chủ tịch
Hồ Chí Minh chủ tọa đã quyết định thành lập Bộ Kiến trúc - nay là Bộ Xây dựng Từ
đó đến nay, ngày 29-4 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống của ngành Xây dựng Việt Nam
Ngành xây dựng trước năm 1975: Từ năm 1954 hoà bình lập lại trên miền Bắc, lực
lượng xây dựng đã tích cực tham gia vào việc thực hiện các kế hoạch 03 năm nhằm khôi phục kinh tế Đồng thời, đây cũng là thời kỳ vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đối với miền Bắc, và vừa dồn sức chi viện cho chiến trường ở miền Nam
Giai đoạn 1976-1985:Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh và xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn trong thời kỳ bao cấp, trì trệ
Giai đoạn 1986-1990: Chính phủ bắt đầu thực hiện những chủ trương và chính sách
“đổi mới”, ngành Xây Dựng đã có những chuyển biến tích cực Từ việc thiết kế quy
Trang 24hoạch, thiết kế nhà ở chuyển sang cơ chế mới là quy hoạch xây dựng đô thị Bên cạnh
đó, bước đầu thực hiện phương thức đấu thầu đã có tác dụng tích cực thúc đẩy các đơn vị chú ý sắp xếp lại lực lượng lao động, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thi công để nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả xây lắp
Giai đoạn 1991-2000: Trong giai đoạn này thị trường BĐS đã trải qua đợt sốt nhà
đất đầu tiên vào giai đoạn 1993-1994, và đây cũng là thời kỳ tăng trưởng vượt bật của ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,5%/năm Bên cạnh đó, đây là giai đoạn có nhiều chuyển biến về chất trong sự phát triển của ngành Nhiều cơ chế chính sách được hình thành tạo nên khung pháp lý khá đồng bộ Các công ty mạnh tiếp tục đầu tư chiều sâu để đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, và khả năng cạnh tranh Tốc độ thi công các công trình lớn về hạ tầng, công nghiệp, dân dụng nhanh gấp 2-3 lần so với thời kỳ trước
Giai đoạn 2001- đến nay:Kinh tế cả nước trong giai đoạn này đã bắt đầu hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới với điểm nhấn là việc gia nhập WTO (2006) Các đợt sốt nhà đất vào 2000-2001 và 2007-2008 cũng đã tạo ra sự tác động mạnh tới tốc độ tăng trưởng ngành Luật Xây dựng, Luật Nhà Ở và Luật Kinh Doanh
Bất Động Sản, Luật Quy Hoạch Đô Thị đã được ban hành tạo khung pháp lý hoàn thiện cho các công tác quản lý quy hoạch, phát triển đô thị, nhà ở và thị trường bất động sản Chất lượng và trình độ xây dựng cũng đã được cải thiện đáng kể Đến nay, các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đã làm chủ công nghệ thiết kế, thi công các công trình cao tầng, công trình nhịp lớn, công trình ngầm, công trình trên nền địa chất phức tạp có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
2.3.2 Th ị trường đầu vào của ngành xây dựng
Giá thành của một công trình Xây Dựng thông thường bao gồm 60-70% chi phí Vật Liệu, 10-20% chi phí Nhân Công, và 10-20% chi phí máy xây dựng, trong đó thép chiếm 60-70% và Xi măng chiếm 10-15% trong cơ cấu Vật Liệu Xây Dựng
Trang 25V ật liệu xây dựng: Do đặc điểm ngành nên giá thép trong nước bị tác động nhiều
bởi giá thế giới Và theo dự báo mới nhất của một số tổ chức uy tín thì giá thép xây dựng trong thời gian sắp tới đang có xu hướng giảm do các nguyên liệu đầu vào như quặng sắt, HRC, và thép phế có giá giảm trong thời gian gần đây Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh trong nước là khá lớn, cùng với rủi ro thép nhập khẩu Do đó, tình hình ngành thép sẽ rất khó khăn trong những năm tới Xi măng được dự đoán là giữ mức
ổn định trong thời gian sắp tới
Nhân công: Cơ cấu lao động của ngành xây dựng có xu hướng tăng trong giai 2005-
2013, từ ở mức 5,4% tổng cơ cấu lao động năm 2005 lên 6,2% trong năm 2013 Hiện tại, lượng nhân công trong ngành xây dựng đạt 3,2 triệu lao động, là ngành có lượng lao động cao thứ 4 cả nước Hiệp hội Nhà thầu Việt Nam (VACC), khoảng 80% công nhân xây dựng hiện nay làm việc có tính thời vụ, chưa được đào tạo bài bản, thiếu chuyên môn và chưa đáp ứng được những yêu cầu về tính chuyên nghiệp trên công trường So với các nước trong khu vực, năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng một nửa mức trung bình của các nước Đông Nam Á Còn khi so sánh với các ngành khác, năng xuất lao động của ngành Xây dựng chỉ đứng thứ 16, vì vậy thu nhập của nhân công trong ngành cũng ở mức thấp hơn so với nhiều ngành kinh tế khác và so với các nước trong khu vực
Máy xây d ựng:Hàng năm, nước ta nhập khoảng 15.000 máy xây dựng trong đó 95%
là máy cũ với kim ngạch nhập khẩu trung bình 300-400 triệu USD Với lợi thế là giá chỉ bằng 25% máy mới, đồng thời phù hợp với điều kiện xây dựng ở Việt Nam, nên các dòng máy xây dựng cũ được khá nhiều các nhà thầu vừa và nhỏ ưu tiên sử dụng Tuy nhiên, việc sử dụng máy cũ cũng có những nhược điểm, như thủ tục rườm ra, thường xảy ra hỏng hóc, và hiệu suất làm việc không bằng những thiết bị mới Ngoài
ra, thông tư 20, áp dụng vào tháng 9/2014, đưa ra những quy định kiểm soát chặt chẽ hơn về chất lượng của máy cũ nhập khẩu, cũng có thể sẽ gây ra tác động không nhỏ tới thị trường này
Trang 262.3.3 Tình hình tài chính các doanh nghi ệp lớn trong ngành xây dựng
Do đặc thù của ngành, các công ty xây dựng thông thường sẽ sử dụng nợ vay để thực hiện dự án Do đó, các công ty xây dựng thường sẽ có 1 khoản nợ vay nhất định trong tổng tài sản, tỷ lệ nợ bình quân các công ty trong ngành dao động ở mức từ 2 đến 4 Trong đó, VCG và CII là 2 doanh nghiệp có giá trị nợ vay lớn nhất trong các doanh nghiệp niêm yết Tuy nhiên, khi xét về tỷ lệ đòn bẩy tài chính, LM8, SC5, và HBC
có tỷ lệ sử dụng nợ cao nhất trong ngành với hệ số đòn bẩy gần chậm đến mức 07
Tỷ lệ nợ cao sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả kinh doanh các công ty trong ngành, đặc biệt là lĩnh vực xây dựng Dân Dụng và Công Nghiệp, vì biên lợi nhuận của 2 lĩnh vực này tương đối thấp Do đó, điều tiết nợ vay hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng đối với các công ty Xây dựng, vì với mức chi phí lãi vay thấp các doanh nghiệp có thể
bỏ mức giá thầu hấp dẫn hơn so với đối thủ cạnh tranh
Trang 27Về quy mô tài sản, VCG CII và HUT là 3 doanh nghiệp có khối lượng tài sản lớn nhất trong ngành, trong đó VCG nổi bật hơn cả với tổng tài sản đạt 23.000 tỷ vào năm 2014 Tuy nhiên, khi xét về hiệu quả sử dụng vốn, CTD có vòng quay tài sản đạt 1,6 vòng cao hơn rất nhiều so với trung bình các công ty so sánh là khoảng 0,7 vòng, điều này cho thấy vị thế và hiệu quả hoạt động vượt trội của CTD trong ngành Xây Dựng Ngoài ra, vòng quay tài sản bình quân của ngành sẽ rơi vào khoảng 0,5-1 vòng
2.3.4 Đặc điểm ngành xây dựng Việt Nam và đánh giá triển vọng
Thị trường xây dựng Việt Nam phân hóa mạnh và cạnh tranh gay gắt với số lượng doanh nghiệp lớn, rào cản gia nhập thấp, công nghệ khá tương đồng giữa các nhà thầu Đến năm 2017, tại Việt Nam có khoảng 67.000 doanh nghiệp xây dựng, chiếm 13% tổng số doanh nghiệp cả nước Quy mô sản phẩm xây dựng năm 2016 đạt 1.089 nghìn tỷ đồng, tương đương 25% giá trị GDP
Ngành xây dựng có hai đặc tính cơ bản là mang tính chu kỳ và mang tính mùa vụ Tính chu kỳ ngành xây dựng ngắn và bị ảnh hưởng bởi thị trường bất động sản Tính chu kỳ của ngành xây dựng Việt Nam một phần đến từ thị trường bất động sản: tăng trưởng chạm đáy trong thời kỳ thị trường đóng băng sau bong bóng năm 1995, 2008
và 2011
Trang 28Đối với tính mùa vụ, thi công xây dựng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thời tiết và thói quen của người Việt Nam Quý 3 và 4 là cao điểm của ngành xây dựng do các công trình thường được khởi công sau Tết âm lịch và hoàn thành trước Tết
Giai đoạn 2007-2009, tín dụng cho ngành tín dụng tăng cao kỷ lục, ước đạt 12% tổng
dư nợ trong nền kinh tế Đây cũng là giai đoạn giá Bất động sản tại Việt Nam tăng mạnh vượt quá giá trị thực, gây nên bong bóng và giá giảm mạnh từ năm 2010 Ngay sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nhằm ổn định nền kinh tế, việc cắt giảm tín dụng đặc biệt là cơ cấu cho vay với nhóm BĐS được giảm mạnh từ trên 11% xuống 5,4% trong năm 2012 Điều này đã khiến giá BĐS giảm mạnh và rơi vào tình trạng đóng băng Sau khi nền kinh tế đã có những dấu hiệu dần ổn định, tín dụng BĐS dần được
Trang 29gia tăng, cùng với đó là tình hình giao dịch BĐS cũng được cải thiện từ cuối năm
2014, đầu 2015 Đến hết năm 2018, tín dụng cho lĩnh vực Bất Động Sản ước tính chiếm 7,5% dư nợ cho vay Tuy nhiên tổng tín dụng dành cho BĐS không chỉ bao gồm những con số thống kê đơn thuần về tỷ lệ cho vay BĐS Trên thực tế rất nhiều ngân hàng đã lách hạn mức cho vay lĩnh vực BĐS bằng cách giải ngân qua các gói cho vay tiêu dùng, dưới hình thức và mục đích sửa chữa/mua BĐS Đây là mức tín dụng không bao gồm các khoản cho vay tiêu dùng mục đích sửa nhà/mua BĐS Trường hợp tính cả các khoản vay này, ước tính dư nợ cho vay BĐS chiếm tỷ trọng
~ 16% toàn hệ thống
Dự báo đối với triển vọng trong các lĩnh vực xây dựng trong năm 2019 như sau: (1) Mảng xây dựng cơ sở hạ tầng: tăng trưởng chậm lại trong năm 2019 do thách thức từ cấu trúc Nhu cầu đầu tư cở sở hạ tầng của Việt Nam là rất lớn, tuy nhiên mức chi đầu tư chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu do hệ quả của các vấn đề cấu trúc kinh
tế Việt Nam Việc thâm hụt ngân sách quá nhiều do bội chi và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA trở nên khó khăn hơn Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư hạ tầng, Việt Nam sẽ phải huy động nguồn vốn tư nhân để đáp ứng
(2) Triển vọng xây dựng nhà ở/nhà không để ở: tăng trưởng chậm lại do các chính sách của Chính phủ nhằm kiềm chế hiện tượng bong bóng bất động sản Lĩnh vực kinh doanh bất động sản trải qua hai lần suy thoái năm 2007 và 2010 thì liên tục có chu kỳ tăng trưởng mạnh từ năm 2013 tới nay, cùng một số dấu hiệu bất ổn trong thị trường tài chính và chu kỳ suy thoái kinh tế 10 năm gây ra lo ngại hiện tượng bong bóng bất động sản sẽ trở lại trong năm 2018 và 2019 dẫn tới động thái kiềm chế của
cơ quan quản lý Những động thái này đã giảm đà phát triển của ngành kinh doanh bất động sản trong năm 2018 và do đó kỳ vọng của nhiều nhà nghiên cứu năm 2019 thị trường bất động sản sẽ chậm lại
(3) Triển vọng xây dựng công nghiệp được dự báo khả quan hơn trong năm 2019
do Việt Nam có nhiều tiềm năng trở thành trung tâm công nghiệp mới tại Đông Nam
Á Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung leo thang trong năm 2019 làm cho các công
Trang 30ty nước ngoài có cơ sở sản xuất tại Trung Quốc có xu hướng dịch chuyển sang các nước lân cận Việt Nam được dự báo là quốc gia có tiềm năng lớn do nguồn lực lao động dồi dào, chi phí nhân công cạnh tranh khi Trung Quốc không còn là công xưởng giá rẻ của thế giới Chủ trương cải cách hành chính, mở cửa thu hút đầu tư của Việt Nam, tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với các đối tác lớn, đồng thời với vị trí nằm gần các tuyến đường vận tải của thế giới, Việt Nam được dự báo là điểm thu hút đầu tư hấp dẫn trong năm 2019 Do đó triển vọng ngành công nghiệp được kỳ vọng là lĩnh vực duy nhất có triển vọng khả quan
Theo đánh giá của FPT Securities, năm 2019 tăng trưởng xây dựng sẽ tiếp tục giảm tốc, chủ yếu do xây dựng nhà ở, nhà không để ở và cơ sở hạ tầng đều kém khả quan
so với 2018, duy nhất xây dựng công nghiệp sẽ tăng tốc (tuy nhiên, lĩnh vực này chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong xây dựng, chỉ ở 12% trong 2016) Theo dự phóng của BMI, ngành xây dựng sẽ tăng trưởng 7,23% trong năm 2019
Trang 31PH ẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 TI ẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU
Quy trình tiến hành nghiên cứu của bài nghiên cứu được tóm tắt ngắn gọn như sau: Bước 1: Phân tích dữ liệu thu thập thông qua phân tích tính dừng của dữ liệu, phân tích ma trận tương quan Pearson để có thể hiểu một cách tổng quát dữ liệu được sử dụng và sự tương quan của các biến quan sát trong bài nghiên cứu
Bước 2: Hồi quy giữa các biến phụ thuộc, độc lập và biến kiểm soát để tìm hiểu và giải thích sự tương quan về chiều và độ lớn của các biến được dùng Các mô hình hồi quy bội được sử dụng là Pooled OLS, Fixed Effect, Random Effect
Bước 3: Lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp sau đó kiểm định các sai sót của mô hình hồi quy này (nếu có)
Bước 4: Đưa ra kết luận, kiến nghị và hướng nghiên cứu mở rộng cho bài nghiên cứu
3.2 CÁC BI ẾN SỐ VÀ MÔ HÌNH
Bài nghiên cứu này được sử dụng dựa trên một số kết quả nghiên cứu trước đây đã tìm thấy về sự liên quan giữa đòn bẩy tài chính và giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp Mô hình dưới đây được sử dụng dựa trên nghiên cứu tiên phong của tác giải
Thomas Hall (2012) về mối quan hệ giữa giá trị tài sản cố định và đòn bẩy tài chính của dữ liệu hơn mười nghìn doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau:
Mô hình 01:
(LTD/TA)i,t = +β1TANGi,t + β2CAPXi,t + β3ROAi,t + β4EFFTAXi,t + β5LNTAi,t + β6LNPCGDPi,t + β7M2/GDPi,t + β8GROWTHi,t + ε
B ảng 3.1: Tóm tắt về các biến sử dụng và sự kỳ vọng về dấu
Trang 32Bảng cân đối kế toán các công ty niêm yết
có dám đầu tư hay không còn phụ thuộc xem mức nợ của tổ chức có bền vững hay không Để đánh giá điều này, các hệ số đòn bẩy tài chính là yếu tố nên được xem xét Dựa vào các nghiên cứu trước đây về hệ số đòn bẩy tài chính, trong bài viết này tiêu chí nợ dài hạn được sử dụng làm tiêu chí đo lường hệ số đòn bẩy vì nợ dài hạn có tính ổn định, lâu dài hơn nợ ngắn hạn, các khoản nợ ngắn hạn hay thay đổi nên không
phản ánh chính xác tình hình nợ của doanh nghiệp
Kỳ hạn nợ của doanh nghiệp cũng là một trong yếu tố để đánh giá hiệu quả và sự phù hợp trong việc sử dụng nợ của doanh nghiệp, mô hình đo lường thông qua biến phụ thuộc LTD/TD Hệ số này cho biết cấu trúc nợ của doanh nghiệp thiên về sử dụng nợ dài hạn để tài trợ cho các chi phí hoạt động, đầu tư hay thiên về sử dụng nợ ngắn hạn Bảng B: Biến độc lập và biến kiểm soát
Trang 33Giá trị tài sản
cố định/tổng tài sản
Bảng cân đối kế toán các công ty niêm yết
+
CAPX Capital
Expenditure/total assets
Chi đầu tư tài
định/tổng tài sản
Bảng cân đối kế toán và lưu chuyển tiền tệ các công ty niêm yết
+
ROA Return on assets Lợi nhuận sau
thuế/tổng tài sản
Bảng kết quả hoạt động kinh doanh
và bảng cân đối
kế toán công ty niêm yết
+
EFFTAX Effective tax rate:
taxes/(Earning after taxes)
Thuế TNDN/lợi nhuận sau thuế
Bảng kết quả hoạt động kinh doanh các công ty niêm yết
-
LNTA Natural log of total
assets
Logarit tổng tài sản Bảng cân đối kế toán các công ty
M2/GPD Broad money as a
portion of GDP
Logarit Cung tiền M2/GDP của Việt Nam
GROWTH Annual GDP growth
rate
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Công ty i trong khoảng thời gian t với biến phụ thuộc là LTD/TA (nợ dài hạn chia tổng tài sản) đại diện cho đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Trong mô hình có 06
biến điều khiển bao gồm EFFTAX được đo lường bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho thuế thu nhập của doanh nghiệp; tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ROA được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản; LNTA được tính bằng
Trang 34cách lấy logarit tự nhiên của số liệu tổng tài sản; 03 biến về kinh tế vĩ mô còn lại là LNPCGDP được lấy bằng cách logarit của GDP, số liệu cung tiền chia GDP và tốc
độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2013 đến 2018 Bài viết nghiên cứu hai biến độc lập đại diện cho giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp là TANG (giá trị tài sản cố định trong bảng cân đối kế toán chia tổng tài sản) và CAPX (chi đầu tư TSCĐ tương quan với tổng tài sản) Dựa trên mô hình chính trong nghiên cứu nguyên bản của Thomas W.Hall* (2012), bài viết thêm vào mô hình biến độc lập CAPX để quan sát thêm về việc chi đầu tư TSCĐ của doanh nghiệp so với việc vay
nợ dài hạn hay đòn bẩy tài chính được thể hiện mối quan hệ tương quan như thế nào qua biến phụ thuộc LTD/TA
Một nghiên cứu thực nghiệm khác là kiểm tra mối quan hệ giữa kỳ hạn nợ và giá trị TSCĐ thông qua nghiên cứu của Ratan và Zingales (1995), Wald (1999), và Aggarwal và Jamdee (2003) đối với một số nước G-7 cũng như Boot và cộng sự (2001), Fan và cộng sự (2008) đã đánh giá đối với các nước đã phát triển và các nước đang phát triển trên toàn thế giới Bài nghiên cứu thông qua mô hình sau:
Mô hình 02:
(LTD/TD)i,t = +β1TANGi,t + β2CAPXi,t + β3ROAi,t + β4EFFTAXi,t + β5LNTAi,t + β6LNPCGDPi,t + β7M2/GDPi,t + β8GROWTHi,t + ε
Mô hình trên tương tự mô hình 01 nhưng thay thế biến phụ thuộc là LTD/TD được
đo lường bằng cách lấy nợ dài hạn chia cho tổng nợ phải trả
3.3 D Ữ LIỆU VÀ THỐNG KÊ MÔ TẢ
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 722 công ty thuộc các ngành khác nhau trên sàn
chứng khoán Việt Nam, giai đoạn lấy dữ liệu từ năm 2013 đến 2018 Khoảng thời trên 05 năm và dữ liệu cập nhật mới nhất đến năm 2018 là đủ quan sát để nghiên cứu
sự tác động của tài sản cố định đến đòn bẩy tài chính của các công ty trên thị trường
chứng khoán tại Việt Nam Ngoài ra, để nghiên cứu chi tiết hơn đối với ngành xây
Trang 35dựng (Construction & Engineering), tác giả bóc tách riêng cho dữ liệu hồi quy của
125 công ty thuộc ngành xây dựng trong giai đoạn 2013 đến 2018
Trang 36B ảng 3.2: Kết quả thống kê mô tả tổng quát dữ liệu trong bài nghiên cứu
LTD/TA LTD/TD TANG CAPX ROA EFFTAX LNTA LNPCGDP M2/GDP GROWTH
Trang 37Trong bài nghiên cứu có tổng cộng 10 biến được sử dụng, mỗi biến tương ứng với với 4332 số liệu quan sát Trong các biến trên, độ lệch chuẩn nhỏ nhất đối với biến CAPX là 0,0011 Dữ liệu ROA lớn nhất là 0,7837 và nhỏ nhất là -1.7787 Số liệu trung bình của Nợ dài hạn chiếm so với Tổng tài sản là 9,39% và Nợ dài hạn so với
Nợ phải trả là 17,40%, tương ứng với giá trị lớn nhất của hai biến này là 95,74% và 97,34%, giá trị nhỏ nhất là 0 Trong các số liệu thống kê trên có một số quan sát theo năm là dữ liệu rỗng, biến với số quan sát thấp nhất là biến TANG với 3502 quan sát Một nhược điểm tiềm tàng của bộ dữ liệu lớn chứa hàng nghìn quan sát theo năm của các công ty là về chất lượng dữ liệu đôi khi không nhất quán và bị sót quan sát
B ảng 3.3: Số lượng công ty và số lượng ngành của dữ liệu thống kê
STT Industry (GICS) Ngành (GICS) S ố lượng
12 Construction & Engineering Xây dựng 125
13 Construction Materials Vật liệu Xây dựng 47
14 Containers & Packaging Bao bì và đóng gói 14
16 Diversified Consumer Services Dịch vụ tiêu dùng 1
17 Diversified Financial Services Dịch vụ tài chính 3
Trang 3821 Electronic Equipment, Instruments
& Components
Thiết bị điện tử, dụng cụ và linh kiện
26 Hotels, Restaurants & Leisure Khách sạn, nhà hàng
Năng lượng tái tạo 22
37 Oil, Gas & Consumable Fuels Dầu, khí đốt và
nhiên liệu tiêu hao
57
Trang 3943 Road & Rail Đường bộ và đường
48 Transportation Infrastructure Hạ tầng giao thông 17
T ổng
c ộng
Phân loại ngành theo chuẩn GICS, dữ liệu nghiên cứu gồm 49 ngành khác nhau với
722 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013 đến 2018, trong đó số lượng công ty nhiều nhất đối với ngành kỹ thuật và xây dựng (Construction & Engineering) với 125 công ty và thấp nhất là 01 công ty như ngành dịch vụ tiêu dùng đa dạng (Diversified Consumer Services), Hàng không (Airline),
sản phẩm cá nhân (Personal Products), dịch vụ viễn thông đa dạng (Diversified Telecommunication Services), ô tô (Automobiles) Nguồn trích xuất dữ liệu được bài viết lấy từ các trang công khai thông tin báo cáo tài chính, báo cáo thường niên hàng năm của các doanh nghiệp Việt Nam như cophieu68.com, cafef.com… và được sự
hỗ trợ từ Trung tâm Dữ liệu – Phân tích Kinh tế - UEH
Trang 40và tài sản cố định trong các công ty thuộc ngành xây dựng được dự đoán sẽ khăng khít hơn các doanh nghiệp thuộc ngành khác